1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MACLENIN CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ

45 1,7K 18

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 212,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC: A. PHẦN MỞ ĐẦU 4 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: 4 2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 4 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 5 4. CƠ CẤU TIỂU LUẬN: 5 B. PHẦN NỘI DUNG 6 CHƯƠNG 1: CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP VÀ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ NỀN KINH TẾ. 6 1.1. Khái niệm công nghiệp hóa hiện đại hóa 6 1.2. Tính tất yếu của công nghiệp hóa hiện đại hóa 6 1.3. Cách mạng CNH,HĐH 7 CHƯƠNG 2: CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở VIỆT NAM : THỰC TRẠNG VÀ SO SÁNH VỚI CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI. 8 2.1. Khái quát chung: 8 2.2. Thực trạng và so sánh với các nước trên thế giới 8 CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM, MÔ HÌNH VÀ MỤC TIÊU CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ NỀN KINH TẾ TRONG BỐI CẢNH CÁC MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2025, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2050. 12 3.1. Công nghiệp hóa là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình phát triển vì nó đưa cả nền sản xuất vật chất và đời sống văn hóa xã hội của đất nước lên trình độ mới 13 CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ NỀN KINH TẾ BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ 15 Chương 5 : Phát huy truyền thống, lòng tự hào dân tộc thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư 21 C. PHẦN KẾT LUẬN 26 TÀI LIỆU THAM KHẢO 27 A. PHẦN MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã tạo ra bước nhảy vọt liên tục về chất lượng sản xuất xã hội, làm thay đổi tổ chức sản xuất theo phong cách công nghiệp, thay đổi nguồn nhân lực vận hành kỹ thuật sản xuất, thay đổi quy mô, cơ cấu và chất lượng sản phẩm. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đưa tới nền kinh tế thông minh. Đây sẽ là bước ngoặt, bước tiến lớn trong lịch sử phát triển của nhân loại. Tuy nhiên, nó cũng tạo ra những thách thức lớn đối với nhiều quốc gia, nhiều đối tượng xã hội, trên nhiều lĩnh vực. Các thành tựu khoa học công nghệ trong cách mạng công nghiệp lần thứ tư làm cho tài nguyên thiên nhiên, lao động phổ thông giá rẻ ngày càng mất lợi thế. Kể từ khi Đảng ta đề ra đường lối tiến hanh Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và lãnh đạo tiến hành công cuộc Công nghiệp hóa nhằm đưa nước ta thoát khỏi tình trạng là một nước nghèo nàn và lạc hậu. Tuy đã được đề ra khá lâu nhưng công cuộc ấy vẫn chưa được hoàn thiện do các cuộc chiến tranh đã không chỉ làm gián đoạn mà còn làm phá hoại rất nhiều những thành tích mà nhân dân ta đã xây dựng nên. Nhưng sau khi chiến tranh, do có nhiều yếu tố chủ quan và khách quan mà nước ta đã rơi vào thời kì khủng hoảng KTXH. Và chính vì thế, quan điểm về công nghiệp hoá đã phần nào bị thay đổi, trở nên quá lạc hậu so với sự phát triển của nền kinh tế. Những thành tựu mà ta đúc kết được về mọi mặt là những giá trị rất lớn để tiếp tục công cuộc phát triển đất nước. Công nghiệp hóa theo hướng hiện đại được coi như là 1 nhiệm vụ hàng đầu để đưa nước ta thành một nước công nghiệp. Hiện nay cuộc cách mạng công nghiệp đang diễn ra rất mạnh mẽ, tạo tiềm năng phát triển ở mọi quốc gia, nhất là các nước phát triển. Với nước ta, để “ đón đầu”, đẩy mạnh và rút gọn quá trình công nghiệp hóa, hiện đaị hóa đất nước, và mặt trái là có thể làm cho chúng ta trở nên tụt hậu nếu không tận dụng tốt cơ hội này. Vì vậy em chọn đề tài công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư và liên hệ thực tiễn làm đề tài nghiên cứu có ý nghĩa về lí luận và thực tiễn 2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU: Mục tiêu của đề tài tiểu luận này là nghiên cứu, tìm hiểu về công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hóa ở Việt Nam trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Và liên hệ thực tiễn. 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: Phương pháp thu thập, nghiên cứu tài liệu. Phương pháp thống kê, tích hợp. Phương pháp phân tích, đánh giá. 4. CƠ CẤU TIỂU LUẬN: Tiểu luận gồm 5 chương: Chương 1: Cách mạng công nghiệp và công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế Chương 2: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam: Thực trạng và so sánh với các nước trên thế giới. Chương 3: Quan điểm, mô hình và mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư ở Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050. Chương 4: Giải pháp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Chương 5: Phát huy truyền thống, lòng tự hào dân tộc thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư. B. PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP VÀ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ NỀN KINH TẾ. 1.1. Khái niệm công nghiệp hóa hiện đại hóa. Khái niệm công nghiệp hóa xuất hiện từ cuối thế kỷ thứ XVIII. Cho đến hôm nay, thế giới đã chứng kiến rất nhiều công cuộc công nghiệp hóa khác nhau, từ công nghiệp hóa tư bản chủ nghĩa đến xã hội chủ nghĩa. Nhìn chung hai hình thức công nghiệp hóa này có sự giống nhau về mặt lực lượng sản xuất, khoa học và công nghệ. Tuy nhiên, xét về mục đích, phương thức tiến hành và sự chi phối trong quan hệ sản xuất thì chúng lại rất khác nhau. Bên cạnh đó, quá trình công nghiệp hóa cũng sẽ có những đặc điểm khác biệt khi đặt vào trong từng thời điểm, hoàn cảnh, điều kiện kinh tế – xã hội của từng quốc gia. Do đó mà với mỗi quốc gia, nội dung công nghiệp hóa mà chính phủ đặt ra cũng sẽ khác nhau. Hiểu một cách đơn giản, công nghiệp hóa là một quá trình thay đổi từ một đất nước có nền kinh tế lạc hậu thành một quốc gia công nghiệp phát triển. Cụ thể, Đảng ta đã đưa ra quan niệm về công nghiệp hóa hiện đại hóa như sau: “Công nghiệp hóa hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế – xã hội, từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao”. Từ đó có thể thấy rằng, công nghiệp hóa và hiện đại hóa là hai khái niệm không thể tách rời nhau, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong quá trình phát triển nền công nghiệp không chỉ đơn thuần là cải tiến kỹ thuật, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sử dụng công nghệ hiện đại mà còn phải biết áp dụng công nghệ hiện đại giúp tăng năng suất, sản lượng cũng như chất lượng. Công nghiệp hóa phải gắn liền với hiện đại hóa cũng là để thực hiện yêu cầu rút ngắn khoảng cách tụt hậu về kinh tế giữa nước ta với các nước trong khu vực và với các nước phát triển trên thế giới. Thêm vào đó, việc trang bị kỹ thuật, công nghệ hiện đại và tự động hóa cũng sẽ là nền tảng để đất nước ta thực hiện mô hình công nghiệp hóa rút ngắn thời gian. 1.2. Tính tất yếu của công nghiệp hóa hiện đại hóa Mỗi phương thức sản xuất trong xã hội đều có cơ sở vật chất và kỹ thuật tương ứng. Trong giai đoạn trước thời kỳ chủ nghĩa tư bản, cơ sở vật chất, kỹ thuật khá lạc hậu và thô sơ. Đến thời kỳ chủ nghĩa tư bản, đặc trưng của cơ sở vật chất đã tiến lên một bước thành nền đại công nghiệp cơ khí hóa. Do đó, đối với phương thức sản xuất của chủ nghĩa xã hội đòi hỏi phải tiến bộ hơn nữa cả về mặt trình độ lẫn cơ cấu kỹ thuật sản xuất. Những thành tựu của cách mạng khoa học công nghệ chính là nền tảng cho những bước tiến này. Vì thế, cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội phải thật sự hiện đại, có tính xã hội hóa cao được xây dựng và hình thành theo kế hoạch. Đặc biệt đối với các nước đang ở trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội như Việt Nam thì việc xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật để phát triển kinh tế, xã hội là rất quan trọng. Trong đó, công nghiệp hóa hiện đại hóa chính là chìa khóa. Mỗi bước tiến của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá sẽ là một bước tăng cường quan trọng cho cơ sở vật chất, kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất và góp phần hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. 1.3. Cách mạng CNH,HĐH Ở nhóm vấn đề thứ nhất, tác giả trình bày một số vấn đề chung về CMCN và CNH, HĐH nền kinh tế như: các khái niệm; những chuyển biến của nền kinh tế trong quá trình CNH, HĐH; những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến CNH, HĐH và tác động của CNH, HĐH. Theo nghiên cứu, tổng hợp của tác giả, trong quá trình thực hiện CNH, HĐH, nền kinh tế đã có nhiều chuyển biến tích cực, điển hình là sự thay đổi về công nghệ và phương pháp sản xuất. CNH, HĐH đã tạo ra bước nhảy vọt liên tục về chất của lực lượng sản xuất xã hội, làm thay đổi tổ chức sản xuất theo phong cách công nghiệp, thay đổi nguồn nhân lực vận hành kỹ thuật sản xuất, thay đổi quy mô, cơ cấu và chất lượng sản phẩm. CNH, HĐH không chỉ đòi hỏi vốn, công nghệ, tài nguyên mà còn yêu cầu nguồn nhân lực có trình độ cao, có khả năng thích ứng nhanh và kịp thời với những biến đổi của khoa học công nghệ. Kỹ thuật công nghệ mới đã góp phần giúp sức sản xuất xã hội ngày càng tăng. Nhiều sản phẩm mới làm cho thị trường hàng hóa trở nên phong phú, đa dạng, có sự cạnh tranh về chất lượng và giá thành. Bên cạnh đó, tác giả đề cập các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến quá trình CNH, HĐH của một quốc gia nói chung, đó là: hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách, tổ chức bộ máy điều hành, đội ngũ lao động và quản lý, môi trường quốc tế và những yếu tố khách quan. Thông qua việc liên hệ với quá trình CNH, HĐH tại các nước tư bản Âu, Mỹ, hoặc Nhật Bản, Liên Xô, tác giả đã giúp người đọc có cái nhìn bao quát hơn về vai trò của bộ máy nhà nước nhân tố quyết định thành công của quá trình CNH, HĐH. Ở nhóm vấn đề thứ hai, tác giả trình bày nội dung, đặc điểm và tác động của các cuộc CMCN đã và đang diễn ra trên thế giới. Trong đó, CMCN 4.0 là cuộc cách mạng tập trung chủ yếu vào sản xuất thông minh, dựa trên những thành tựu đột phá của công nghệ số, máy tính và khoa học dữ liệu, tích hợp tất cả các công nghệ như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ Nano, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự động hóa, người máy thông minh… giúp tối ưu hóa quy trình sản xuất. Với đặc trưng đó, CMCN 4.0 đã tác động mạnh mẽ và toàn diện đến thế giới đương đại, trong đó có quá trình CNH, HĐH. Đối với sự phát triển của một đất nước, CMCN 4.0 tạo ra cơ hội để đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa kinh tế xã hội. Bên cạnh những thuận lợi, CMCN 4.0 đặt ra rất nhiều thách thức, đòi hỏi mỗi quốc gia, dân tộc phải có những giải pháp thích ứng, tiếp thu có chọn lọc để không bị tụt hậu so với sự phát triển của thế giới. Ở nhóm vấn đề thứ ba, tác giả đưa ra 8 chiến lược điển hình của Mỹ, Đức, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, một số nước OECD và ASEAN trong việc thích ứng với CMCN 4.0. Với sự tổng hợp ngắn gọn, cụ thể, bảo đảm tính hệ thống và lôgíc, các chiến lược đó không chỉ giúp độc giả có thêm tư liệu mà còn là căn cứ để tác giả đưa ra những bài học kinh nghiệm từ các cuộc CMCN trong lịch sử và trong việc thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nhóm vấn đề thứ tư. CHƯƠNG 2: CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở VIỆT NAM : THỰC TRẠNG VÀ SO SÁNH VỚI CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI. 2.1. Khái quát chung: Tập trung triển khai 3 nội dung lớn, đó là: quan điểm, chủ trương, chính sách công nghiệp hóa ở Việt Nam; thực trạng phát triển các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế Việt Nam trong quá trình CNH, HĐH đất nước từ khi đổi mới đến nay; đánh giá kết quả thực hiện CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay. CNH, HĐH ở nước ta là một trong những mục tiêu to lớn, được kiên trì thực hiện gần 60 năm qua. Từ kỳ Đại hội Đảng diễn ra đầu những năm 60 của thế kỷ XX, Đảng ta xác định công nghiệp hóa là một nhiệm vụ trọng tâm với sự điều chỉnh nhất định: “Việc chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hóa đã cơ bản hoàn thành, cho phép chuyển sang thời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, với mục tiêu “từ nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp”, cho đến nay, Đại hội XII nêu mục tiêu “sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”. Có thể khẳng định, thực hiện mục tiêu CNH, HĐH ở nước ta là không dễ dàng. Thông qua dẫn chứng là các số liệu, bảng biểu, thống kê chính xác, cụ thể, cập nhật, tác giả đã làm rõ thực trạng phát triển các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế Việt Nam trong quá trình CNH, HĐH đất nước từ khi đổi mới đến nay. Quá trình CNH, HĐH đã có những tác động rõ rệt đến tốc độ tăng trưởng và quy mô của nền kinh tế nước ta. Cơ cấu ngành kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng giá trị công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng giá trị nông nghiệp; cơ cấu lao động cũng chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng lao động công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp; quá trình đô thị hóa diễn ra khá nhanh; sự phát triển con người cũng được bảo đảm toàn diện. Bên cạnh những thành tựu đạt được về mặt kinh tế xã hội, quá trình thực hiện CNH, HĐH vẫn còn tồn tại một số hạn chế về tốc độ phát triển và quy mô của nền kinh tế, cơ cấu các ngành kinh tế còn nhiều bất hợp lý, hạn chế trong quá trình đô thị hóa, bất cập của sự phát triển kinh tế tri thức hay sự phát triển của con người… 2.2. Thực trạng và so sánh với các nước trên thế giới Theo tình hình hiện nay có bảy nguyên nhân chính dẫn tới những tồn tại, hạn chế này, có thể kể đến: tư duy nhận thức về CNH, HĐH nền kinh tế chưa xuất phát từ thực trạng đất nước và bối cảnh quốc tế, còn tiếp tục thực hiện mô hình kế hoạch hóa tập trung trong một thời gian dài, thiếu căn cứ khoa học và thực tiễn; thể chế kinh tế thị trường chưa theo kịp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế; sự phát triển, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực cho CNH, HĐH còn thấp; hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông chưa đáp ứng nhu cầu đẩy nhanh CNH, HĐH và phát triển kinh tế xã hội của đất nước; hội nhập quốc tế mặc dù có những đóng góp to lớn cho phát triển kinh tế xã hội, cho CNH, HĐH nhưng vẫn chưa mang lại kết quả như mong đợi… Nhà nước Việt Nam rất chú trọng việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài bằng cách ban hành nhiều chính sách ưu đãi về thuế, đất đai... Họ xem vốn đầu tư nước ngoài là nguồn lực quan trọng để Việt Nam công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Thực tế cho thấy động lực công nghiệp hóa của Việt nam đến từ các công ty nước ngoài chứ không phải từ các công ty trong nước. Tuy nhiên, việc thu hút vốn đầu tư của nước ngoài không thể tạo ra nền tảng công nghiệp quốc gia vì các công ty nước ngoài vào Việt Nam chỉ để tận dụng chi phí nhân công và môi trường thấp của Việt Nam. Khi khai thác hết những lợi thế này thì họ sẽ rút khỏi Việt Nam khiến nền công nghiệp Việt Nam quay về điểm xuất phát. Vốn đầu tư nước ngoài chỉ có tác dụng tích cực với nền công nghiệp bản địa khi công ty có vốn đầu tư nước ngoài chuyển giao công nghệ cho công ty Việt Nam. Tuy nhiên các công ty nước ngoài không sẵn sàng chuyển giao công nghệ cho công ty Việt Nam vì vấn đề bản quyền cũng như họ không muốn tạo ra thêm đối thủ cạnh tranh. Chính vì vậy nhà nước cần có một chính sách quốc gia có thể đem lại lợi ích chung cho cả bên chuyển giao và bên nhận chuyển giao. Việt Nam lại không có chính sách rõ ràng để tận dụng tối đa hiệu ứng chuyển giao công nghệ của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Khả năng tiếp thu công nghệ nước ngoài lại phụ thuộc vào chất lượng nhân lực mà điều này lại phụ thuộc vào chất lượng của nền giáo dục. Việt Nam có lực lượng lao động đông do cơ cấu dân số trẻ nhưng lại thiếu kỹ năng do không được đào tạo tốt nên khả năng hấp thu công nghệ còn yếu. Trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa cái Việt Nam có thể tiếp thu không phải là công nghệ cao, mà là những kiến thức không độc quyền có thể tiếp cận được trên toàn cầu và miễn phí nhưng chưa được triển khai ở trong nước. Các nước Đông Á đều có chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài nhưng chưa bao giờ phụ thuộc vào đầu tư nước ngoài. Đầu tư nước ngoài ở các nước Đông Á tập trung vào các ngành công nghiệp và có vai trò chủ yếu là chuyển giao công nghệ chứ họ không xem đầu tư nước ngoài là nguồn lực chính để phát triển kinh tế. Hàn Quốc tiếp thu công nghệ mới của phương Tây chủ yếu bằng con đường nhập khẩu công nghệ (nhập những phần Hàn Quốc chưa có chứ không nhập toàn bộ), mua máy móc rồi tháo ra để học vì khả năng hấp thu công nghệ của họ khá cao chứ không phải nhờ đầu tư nước ngoài.

Trang 1

GVHD: T.S BÙI XUÂN DŨNG

TP Hồ Chí Minh, tháng 6, năm 2021.

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN:

….………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Điểm:……….

KÝ TÊN

Trang 3

M C ỤC L C: ỤC

A PHẦN MỞ ĐẦU 4

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: 4

2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 4

3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 5

4. CƠ CẤU TIỂU LUẬN: 5

B PHẦN NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1: CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP VÀ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ NỀN KINH TẾ 6

1.1 Khái niệm công nghiệp hóa hiện đại hóa 6

1.2 Tính tất yếu của công nghiệp hóa hiện đại hóa 6

1.3 Cách mạng CNH,HĐH 7

CHƯƠNG 2: CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở VIỆT NAM : THỰC TRẠNG VÀ SO SÁNH VỚI CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 8

2.1 Khái quát chung: 8

2.2 Thực trạng và so sánh với các nước trên thế giới 8

CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM, MÔ HÌNH VÀ MỤC TIÊU CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ NỀN KINH TẾ TRONG BỐI CẢNH CÁC MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2025, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2050 12

3.1 Công nghiệp hóa là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình phát triển vì nó đưa cả nền sản xuất vật chất và đời sống văn hóa - xã hội của đất nước lên trình độ mới 13

CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ NỀN KINH TẾ BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ 15

Chương 5 : Phát huy truyền thống, lòng tự hào dân tộc thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư 21

C PHẦN KẾT LUẬN 26

TÀI LIỆU THAM KHẢO 27

Trang 4

A PHẦN MỞ ĐẦU

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã tạo ra bước nhảy vọt liên tục về chấtlượng sản xuất xã hội, làm thay đổi tổ chức sản xuất theo phong cách công nghiệp,thay đổi nguồn nhân lực vận hành kỹ thuật sản xuất, thay đổi quy mô, cơ cấu vàchất lượng sản phẩm Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đưa tới nền kinh tế thôngminh Đây sẽ là bước ngoặt, bước tiến lớn trong lịch sử phát triển của nhân loại Tuynhiên, nó cũng tạo ra những thách thức lớn đối với nhiều quốc gia, nhiều đối tượng

xã hội, trên nhiều lĩnh vực Các thành tựu khoa học - công nghệ trong cách mạngcông nghiệp lần thứ tư làm cho tài nguyên thiên nhiên, lao động phổ thông giá rẻngày càng mất lợi thế

Kể từ khi Đảng ta đề ra đường lối tiến hanh Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

và lãnh đạo tiến hành công cuộc Công nghiệp hóa nhằm đưa nước ta thoát khỏitình trạng là một nước nghèo nàn và lạc hậu Tuy đã được đề ra khá lâu nhưngcông cuộc ấy vẫn chưa được hoàn thiện do các cuộc chiến tranh đã không chỉ làmgián đoạn mà còn làm phá hoại rất nhiều những thành tích mà nhân dân ta đã xâydựng nên Nhưng sau khi chiến tranh, do có nhiều yếu tố chủ quan và khách quan

mà nước ta đã rơi vào thời kì khủng hoảng KT-XH Và chính vì thế, quan điểm vềcông nghiệp hoá đã phần nào bị thay đổi, trở nên quá lạc hậu so với sự phát triểncủa nền kinh tế Những thành tựu mà ta đúc kết được về mọi mặt là những giá trịrất lớn để tiếp tục công cuộc phát triển đất nước Công nghiệp hóa theo hướnghiện đại được coi như là 1 nhiệm vụ hàng đầu để đưa nước ta thành một nướccông nghiệp

Hiện nay cuộc cách mạng công nghiệp đang diễn ra rất mạnh mẽ, tạo tiềmnăng phát triển ở mọi quốc gia, nhất là các nước phát triển Với nước ta, để “ đónđầu”, đẩy mạnh và rút gọn quá trình công nghiệp hóa, hiện đaị hóa đất nước, vàmặt trái là có thể làm cho chúng ta trở nên tụt hậu nếu không tận dụng tốt cơ hộinày

Vì vậy em chọn đề tài công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam trong bốicảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư và liên hệ thực tiễn làm đề tài nghiên cứu

có ý nghĩa về lí luận và thực tiễn

Trang 5

2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:

Trang 6

Mục tiêu của đề tài tiểu luận này là nghiên cứu, tìm hiểu về công cuộccông nghiệp hoá, hiện đại hóa ở Việt Nam trong cuộc cách mạng công nghiệplần thứ tư Và liên hệ thực tiễn.

3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Phương pháp thu thập, nghiên cứu tài liệu

Phương pháp thống kê, tích hợp

Phương pháp phân tích, đánh giá

4. CƠ CẤU TIỂU LUẬN:

Tiểu luận gồm 5 chương:

Chương 1: Cách mạng công nghiệp và công nghiệp hóa, hiện đại

hóa nền kinh tế

Chương 2: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam: Thực trạng

và so sánh với các nước trên thế giới

Chương 3: Quan điểm, mô hình và mục tiêu công nghiệp hóa, hiện

đại hóa nền kinh tế trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư ởViệt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050

Chương 4: Giải pháp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền

kinh tế trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Chương 5: Phát huy truyền thống, lòng tự hào dân tộc thực hiện

mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế Việt Nam trong bốicảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Trang 7

B PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP VÀ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ NỀN KINH TẾ.

1.1 Khái niệm công nghiệp hóa hiện đại hóa.

Khái niệm công nghiệp hóa xuất hiện từ cuối thế kỷ thứ XVIII Cho đếnhôm nay, thế giới đã chứng kiến rất nhiều công cuộc công nghiệp hóa khác nhau,

từ công nghiệp hóa tư bản chủ nghĩa đến xã hội chủ nghĩa Nhìn chung hai hìnhthức công nghiệp hóa này có sự giống nhau về mặt lực lượng sản xuất, khoa học

và công nghệ Tuy nhiên, xét về mục đích, phương thức tiến hành và sự chi phốitrong quan hệ sản xuất thì chúng lại rất khác nhau

Bên cạnh đó, quá trình công nghiệp hóa cũng sẽ có những đặc điểm khácbiệt khi đặt vào trong từng thời điểm, hoàn cảnh, điều kiện kinh tế – xã hội củatừng quốc gia Do đó mà với mỗi quốc gia, nội dung công nghiệp hóa mà chínhphủ đặt ra cũng sẽ khác nhau Hiểu một cách đơn giản, công nghiệp hóa là mộtquá trình thay đổi từ một đất nước có nền kinh tế lạc hậu thành một quốc gia côngnghiệp phát triển

Cụ thể, Đảng ta đã đưa ra quan niệm về công nghiệp hóa hiện đại hóa như sau:

“Công nghiệp hóa hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạtđộng sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế – xã hội, từ sử dụng sức laođộng thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với côngnghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của côngnghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao”

Từ đó có thể thấy rằng, công nghiệp hóa và hiện đại hóa là hai khái niệmkhông thể tách rời nhau, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Trong quá trình pháttriển nền công nghiệp không chỉ đơn thuần là cải tiến kỹ thuật, chuyển dịch cơ cấukinh tế theo hướng sử dụng công nghệ hiện đại mà còn phải biết áp dụng côngnghệ hiện đại giúp tăng năng suất, sản lượng cũng như chất lượng

Công nghiệp hóa phải gắn liền với hiện đại hóa cũng là để thực hiện yêu cầu rútngắn khoảng cách tụt hậu về kinh tế giữa nước ta với các nước trong khu vực vàvới các nước phát triển trên thế giới Thêm vào đó, việc trang bị kỹ thuật, côngnghệ hiện đại và tự động hóa cũng sẽ là nền tảng để đất nước ta thực hiện mô hìnhcông nghiệp hóa rút ngắn thời gian

1.2 Tính tất yếu của công nghiệp hóa hiện đại hóa

Mỗi phương thức sản xuất trong xã hội đều có cơ sở vật chất và kỹ thuậttương ứng Trong giai đoạn trước thời kỳ chủ nghĩa tư bản, cơ sở vật chất, kỹthuật khá lạc hậu và thô sơ Đến thời kỳ chủ nghĩa tư bản, đặc trưng của cơ sở vậtchất đã tiến lên một bước thành nền đại công nghiệp cơ khí hóa

Do đó, đối với phương thức sản xuất của chủ nghĩa xã hội đòi hỏi phải tiến bộ hơnnữa cả về mặt trình độ lẫn cơ cấu kỹ thuật sản xuất Những thành tựu của cáchmạng khoa học công nghệ chính là nền tảng cho những bước tiến này

Vì thế, cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội phải thật sự hiện đại,

có tính xã hội hóa cao được xây dựng và hình thành theo kế hoạch Đặc biệt đốivới

Trang 8

các nước đang ở trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội như Việt Nam thì việcxây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật để phát triển kinh tế, xã hội là rất quan trọng.Trong đó, công nghiệp hóa hiện đại hóa chính là chìa khóa Mỗi bước tiến của quátrình công nghiệp hoá, hiện đại hoá sẽ là một bước tăng cường quan trọng cho cơ

sở vật chất, kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất

và góp phần hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa

1.3 Cách mạng CNH,HĐH

Ở nhóm vấn đề thứ nhất, tác giả trình bày một số vấn đề chung về CMCN

và CNH, HĐH nền kinh tế như: các khái niệm; những chuyển biến của nền kinh tếtrong quá trình CNH, HĐH; những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến CNH, HĐH vàtác động của CNH, HĐH

Theo nghiên cứu, tổng hợp của tác giả, trong quá trình thực hiện CNH, HĐH, nềnkinh tế đã có nhiều chuyển biến tích cực, điển hình là sự thay đổi về công nghệ vàphương pháp sản xuất CNH, HĐH đã tạo ra bước nhảy vọt liên tục về chất củalực lượng sản xuất xã hội, làm thay đổi tổ chức sản xuất theo phong cách côngnghiệp, thay đổi nguồn nhân lực vận hành kỹ thuật sản xuất, thay đổi quy mô, cơcấu và chất lượng sản phẩm CNH, HĐH không chỉ đòi hỏi vốn, công nghệ, tàinguyên mà còn yêu cầu nguồn nhân lực có trình độ cao, có khả năng thích ứngnhanh và kịp thời với những biến đổi của khoa học - công nghệ Kỹ thuật côngnghệ mới đã góp phần giúp sức sản xuất xã hội ngày càng tăng Nhiều sản phẩmmới làm cho thị trường hàng hóa trở nên phong phú, đa dạng, có sự cạnh tranh vềchất lượng và giá thành

Bên cạnh đó, tác giả đề cập các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến quá trìnhCNH, HĐH của một quốc gia nói chung, đó là: hệ thống pháp luật, cơ chế, chínhsách, tổ chức bộ máy điều hành, đội ngũ lao động và quản lý, môi trường quốc tế

và những yếu tố khách quan Thông qua việc liên hệ với quá trình CNH, HĐH tạicác nước tư bản Âu, Mỹ, hoặc Nhật Bản, Liên Xô, tác giả đã giúp người đọc cócái nhìn bao quát hơn về vai trò của bộ máy nhà nước - nhân tố quyết định thànhcông của quá trình CNH, HĐH

Ở nhóm vấn đề thứ hai, tác giả trình bày nội dung, đặc điểm và tác độngcủa các cuộc CMCN đã và đang diễn ra trên thế giới Trong đó, CMCN 4.0 làcuộc cách mạng tập trung chủ yếu vào sản xuất thông minh, dựa trên những thànhtựu đột phá của công nghệ số, máy tính và khoa học dữ liệu, tích hợp tất cả cáccông nghệ như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ Nano, côngnghệ vật liệu mới, công nghệ tự động hóa, người máy thông minh… giúp tối ưuhóa quy trình sản xuất Với đặc trưng đó, CMCN 4.0 đã tác động mạnh mẽ và toàndiện đến thế giới đương đại, trong đó có quá trình CNH, HĐH Đối với sự pháttriển của một đất nước, CMCN 4.0 tạo ra cơ hội để đẩy nhanh quá trình hiện đạihóa kinh tế - xã hội Bên cạnh những thuận lợi, CMCN 4.0 đặt ra rất nhiều tháchthức, đòi hỏi mỗi quốc gia, dân tộc phải có những giải pháp thích ứng, tiếp thu cóchọn lọc để không bị tụt hậu so với sự phát triển của thế giới

Ở nhóm vấn đề thứ ba, tác giả đưa ra 8 chiến lược điển hình của Mỹ, Đức,Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, một số nước OECD và ASEAN trongviệc thích ứng với CMCN 4.0 Với sự tổng hợp ngắn gọn, cụ thể, bảo đảm tính hệ

Trang 9

thống và lôgíc, các chiến lược đó không chỉ giúp độc giả có thêm tư liệu mà còn làcăn cứ để tác giả đưa ra những bài học kinh nghiệm từ các cuộc CMCN trong lịch

sử và trong việc thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nhóm vấn đề thứ tư

CHƯƠNG 2: CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở VIỆT NAM : THỰC TRẠNG VÀ SO SÁNH VỚI CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI.

2.1 Khái quát chung:

Tập trung triển khai 3 nội dung lớn, đó là: quan điểm, chủ trương, chínhsách công nghiệp hóa ở Việt Nam; thực trạng phát triển các ngành, lĩnh vực củanền kinh tế Việt Nam trong quá trình CNH, HĐH đất nước từ khi đổi mới đếnnay; đánh giá kết quả thực hiện CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay

CNH, HĐH ở nước ta là một trong những mục tiêu to lớn, được kiên trìthực hiện gần 60 năm qua Từ kỳ Đại hội Đảng diễn ra đầu những năm 60 của thế

kỷ XX, Đảng ta xác định công nghiệp hóa là một nhiệm vụ trọng tâm với sự điềuchỉnh nhất định: “Việc chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hóa đã cơ bản hoànthành, cho phép chuyển sang thời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước”, với mục tiêu “từ nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơbản trở thành nước công nghiệp”, cho đến nay, Đại hội XII nêu mục tiêu “sớm đưanước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại” Có thể khẳngđịnh, thực hiện mục tiêu CNH, HĐH ở nước ta là không dễ dàng

Thông qua dẫn chứng là các số liệu, bảng biểu, thống kê chính xác, cụ thể,cập nhật, tác giả đã làm rõ thực trạng phát triển các ngành, các lĩnh vực của nềnkinh tế Việt Nam trong quá trình CNH, HĐH đất nước từ khi đổi mới đến nay.Quá trình CNH, HĐH đã có những tác động rõ rệt đến tốc độ tăng trưởng và quy

mô của nền kinh tế nước ta Cơ cấu ngành kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷtrọng giá trị công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng giá trị nông nghiệp; cơ cấu laođộng cũng chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng lao động công nghiệp và dịch vụ,giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp; quá trình đô thị hóa diễn ra khá nhanh; sựphát triển con người cũng được bảo đảm toàn diện

Bên cạnh những thành tựu đạt được về mặt kinh tế - xã hội, quá trình thựchiện CNH, HĐH vẫn còn tồn tại một số hạn chế về tốc độ phát triển và quy môcủa nền kinh tế, cơ cấu các ngành kinh tế còn nhiều bất hợp lý, hạn chế trong quátrình đô thị hóa, bất cập của sự phát triển kinh tế tri thức hay sự phát triển của conngười…

2.2 Thực trạng và so sánh với các nước trên thế giới

Theo tình hình hiện nay có bảy nguyên nhân chính dẫn tới những tồn tại,hạn chế này, có thể kể đến: tư duy nhận thức về CNH, HĐH nền kinh tế chưa xuấtphát từ thực trạng đất nước và bối cảnh quốc tế, còn tiếp tục thực hiện mô hình kếhoạch hóa tập trung trong một thời gian dài, thiếu căn cứ khoa học và thực tiễn;thể chế kinh tế thị trường chưa theo kịp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội đấtnước và hội nhập kinh tế quốc tế; sự phát triển, ứng dụng tiến bộ khoa học, côngnghệ và chất lượng nguồn nhân lực cho CNH, HĐH còn thấp; hệ thống kết cấu hạtầng giao thông chưa đáp ứng nhu cầu đẩy nhanh CNH, HĐH và phát triển kinh tế

- xã hội của đất nước; hội nhập quốc tế mặc dù có những đóng góp to lớn cho phát

Trang 10

triển kinh tế - xã hội, cho CNH, HĐH nhưng vẫn chưa mang lại kết quả như mongđợi…

Trang 11

Nhà nước Việt Nam rất chú trọng việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài bằngcách ban hành nhiều chính sách ưu đãi về thuế, đất đai Họ xem vốn đầu tư nướcngoài là nguồn lực quan trọng để Việt Nam công nghiệp hóa, hiện đại hóa Thực

tế cho thấy động lực công nghiệp hóa của Việt nam đến từ các công ty nước ngoàichứ không phải từ các công ty trong nước Tuy nhiên, việc thu hút vốn đầu tư củanước ngoài không thể tạo ra nền tảng công nghiệp quốc gia vì các công ty nướcngoài vào Việt Nam chỉ để tận dụng chi phí nhân công và môi trường thấp củaViệt Nam Khi khai thác hết những lợi thế này thì họ sẽ rút khỏi Việt Nam khiếnnền công nghiệp Việt Nam quay về điểm xuất phát Vốn đầu tư nước ngoài chỉ cótác dụng tích cực với nền công nghiệp bản địa khi công ty có vốn đầu tư nướcngoài chuyển giao công nghệ cho công ty Việt Nam Tuy nhiên các công ty nướcngoài không sẵn sàng chuyển giao công nghệ cho công ty Việt Nam vì vấn đề bảnquyền cũng như họ không muốn tạo ra thêm đối thủ cạnh tranh Chính vì vậy nhànước cần có một chính sách quốc gia có thể đem lại lợi ích chung cho cả bênchuyển giao và bên nhận chuyển giao Việt Nam lại không có chính sách rõ ràng

để tận dụng tối đa hiệu ứng chuyển giao công nghệ của khu vực có vốn đầu tưnước ngoài Khả năng tiếp thu công nghệ nước ngoài lại phụ thuộc vào chất lượngnhân lực mà điều này lại phụ thuộc vào chất lượng của nền giáo dục Việt Nam cólực lượng lao động đông do cơ cấu dân số trẻ nhưng lại thiếu kỹ năng do khôngđược đào tạo tốt nên khả năng hấp thu công nghệ còn yếu Trong giai đoạn đầucông nghiệp hóa cái Việt Nam có thể tiếp thu không phải là "công nghệ cao", mà

là những kiến thức không độc quyền có thể tiếp cận được trên toàn cầu và miễnphí nhưng chưa được triển khai ở trong nước Các nước Đông Á đều có chính sáchthu hút vốn đầu tư nước ngoài nhưng chưa bao giờ phụ thuộc vào đầu tư nướcngoài Đầu tư nước ngoài ở các nước Đông Á tập trung vào các ngành côngnghiệp và có vai trò chủ yếu là chuyển giao công nghệ chứ họ không xem đầu tưnước ngoài là nguồn lực chính để phát triển kinh tế Hàn Quốc tiếp thu công nghệmới của phương Tây chủ yếu bằng con đường nhập khẩu công nghệ (nhập nhữngphần Hàn Quốc chưa có chứ không nhập toàn bộ), mua máy móc rồi tháo ra đểhọc vì khả năng hấp thu công nghệ của họ khá cao chứ không phải nhờ đầu tưnước ngoài

Ngoài ra, một nền công nghiệp trưởng thành phải có khả năng phát triển côngnghệ chứ không thể cứ phụ thuộc vào công nghệ nước ngoài Khả năng nghiêncứu phát triển ra công nghệ mới phụ thuộc vào trình độ khoa học - kỹ thuật củaquốc gia mà điều này phụ thuộc vào chất lượng của nền giáo dục, năng lực của các

cơ sở nghiên cứu và mức độ đầu tư cho khoa học Trong khi đó chất lượng củanền giáo dục Việt Nam được xem là chưa đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế,các cơ sở nghiên cứu thiếu năng lực còn đầu tư cho khoa học chỉ ở mức thấp sovới các nước khác Nhìn chung mức độ chuyển giao công nghệ của khu vực cóvốn đầu tư nước ngoài chưa đạt như kỳ vọng trong khi đó Việt Nam lại thiếu khảnăng nghiên cứu phát triển ra công nghệ mới, thiếu khả năng sáng tạo Những lý

do này góp phần làm cho quá trình công nghiệp hóa tại Việt Nam không nhưmong muốn

Quá trình công nghiệp hóa đòi hỏi đầu tư khổng lồ của nhà nước và xã hội

để tạo lập cơ sở hạ tầng, trung tầng và thượng tầng để phục vụ công nghiệp hóa.Trong khi các địa phương lại có xu hướng hiểu một cách đơn giản và máy móc và

cố gắng thành lập nhiều khu công nghiệp để mong rằng mục tiêu công nghiệp hóa

Trang 12

sớm đạt thành Trong khi đó các khu công nghiệp chỉ là một phần nhỏ của cơ sở

hạ tầng, thì các cơ sở trung tầng (giáo dục đào tạo kỹ thuật, thương mại, ngânhàng,

Trang 13

ngoại thương, ngoại hối, tài chính công ) và cơ sở thượng tầng (luật pháp, hệthống tư pháp, chính sách kinh tế, môi trường, chính sách đất đai ) phát triểnkhông đồng bộ Tuy có sự thống nhất về quan điểm phát triển giữa trung ương vàđịa phương, nhưng địa phương đã thi hành các kế hoạch phát triển theo phongcách riêng đặc thù của địa phương, hoặc áp dụng sao chép máy móc mô hình củacác địa phương khác thành công trong việc thu hút vốn nước ngoài để phát triểncông nghiệp như Bình Dương, Đồng Nai, Vĩnh Phúc đã khiến quá trình pháttriển bị phân tán tài nguyên và nhân lực Các địa phương trở thành các đối thủcạnh tranh với nhau trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài dẫn đến sự thiếu liênkết giữa các địa phương ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế quốc gia Tuy nhiên điềunày cũng có mặt tích cực là các địa phương phải tự nâng cao năng lực quản lý nhànước để có thể thu hút được vốn đầu tư nước ngoài trong sự cạnh tranh với các địaphương khác Sự phát triển công nghiệp còn phụ thuộc vào chính sách côngnghiệp quốc gia Nếu khả năng hoạch định chính sách của chính phủ tốt có thểthúc đẩy sự phát triển của công nghiệp và ngược lại nếu khả năng hoạch định kémthì công nghiệp phát triển chậm thậm chí suy thoái Tại Việt Nam, các viện nghiêncứu trong nước chỉ được nhìn nhận như những bông hoa trang trí đẹp đẽ, thay vìđược sử dụng đúng chức năng, vai trò của mình nhưng chính phủ Việt Nam lạidựa vào sự hỗ trợ của các định chế tài chính quốc tế như World Bank, IMF trongviệc hoạch định chính sách kinh tế Trong khi đó các nước Đông Á đều tự hoạchđịnh chính sách kinh tế dựa vào sự tư vấn của các viện nghiên cứu bản địa, có khichính sách của họ đi ngược lại lời khuyên của các đồng minh chính trị và các địnhchế tài chính quốc tế.

Việt Nam không có một lộ trình công nghiệp hoá rõ ràng cũng như các địnhhướng chính sách trong các lĩnh vực như huy động tiết kiệm, phát triển tài chính,

sử dụng nguồn lực nước ngoài, khoảng cách thu nhập, các vấn đề xã hội nảy sinh,

và các ngành chịu nhiều sức ép cạnh tranh từ bên ngoài Quá trình thiết kế và thựchiện các chiến lược và kế hoạch hành động công nghiệp thiếu sự tham gia củacộng đồng kinh doanh và thiếu sự phối hợp liên bộ khiến cho chính sách đượcthông qua kém hiệu quả, thậm chí không thể triển khai thực hiện được Việt Namchưa có một quy hoạch tổng thể về phát triển công nghiệp Các Kế hoạch 5 năm

và Chiến lược 10 năm không đưa ra được một tầm nhìn công nghiệp nhất quánkhiến nhiều câu hỏi chính sách quan trọng vẫn chưa được trả lời như vai trò củacác khu vực kinh tế trong tương lai; về sự lựa chọn giữa định hướng xuất khẩu vàthay thế nhập khẩu và về phạm vi và quy mô của hỗ trợ chính thức dành cho cácngành công nghiệp Quy hoạch phát triển ngành của các ngành công nghiệp không

có các nguyên tắc chung được chỉ đạo từ cấp cao hơn Đầu tư tư nhân và viện trợchính thức đổ vào mà không biết chính xác Việt Nam sẽ ở đâu trong một vài thập

kỷ tới Việt Nam không chỉ ra một cách rõ ràng cách thức mà Việt Nam muốn sửdụng để thúc đẩy các ngành công nghiệp trong khi muốn thúc đẩy những ngànhcông nghiệp này thì phải cân nhắc thận trọng để thấy rằng đâu là những mục tiêukhả thi, cần triển khai những chiến lược và kế hoạch hành động nào để không viphạm các cam kết quốc tế Tỷ lệ các chính sách không được triển khai thực hiện ởViệt Nam đặc biệt cao do sự chậm chễ trong việc chuẩn bị "chi tiết triển khai", dokhông có ngân sách cần thiết, do thiếu nhân lực và trang thiết bị, do thiếu sự ủng

hộ từ cộng đồng doanh nghiệp và do thiếu khả năng cũng như sự quan tâm của các

bộ ngành có trách nhiệm Khả năng hoạch định chính sách cũng bị ảnh hưởng bởi

Trang 14

sự xuống cấp trầm trọng về đạo đức và phẩm chất của các công chức chính phủkhiến cho người tài nhanh chóng

Trang 15

rút lui sang những khu vực kinh tế khác trong khi khu vực công rất khó tuyểndụng hoặc giữ chân những người có phẩm chất và động cơ tốt.

Khả năng tập trung các nguồn lực của nền kinh tế vào khu vực sản xuấtcông nghiệp cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến quá trình công nghiệp hóa Tỷtrọng đầu tư vào công nghiệp trong tổng đầu tư xã hội càng lớn thì công nghiệpphát triển càng nhanh Các nước công nghiệp hóa thành công nhất đều cố gắngđưa ra những chính sách khuyến khích đầu tư vào công nghiệp như các nướcĐông Bắc Á, thậm chí sử dụng biện pháp cưỡng ép tiết kiệm để tập trung đầu tưvào công nghiệp như Liên Xô Trong khi đó tại Việt Nam các nguồn lực trong nềnkinh tế chưa tập trung vào các ngành công nghiệp Thương mại phát triển mạnhhơn công nghiệp Các công ty tư nhân lớn ở Việt Nam là các công ty thương mại

và địa ốc Khu vực quốc doanh chiếm quá nhiều nguồn lực của quốc gia nhưngđầu tư thiếu hiệu quả còn tư nhân ngại đầu tư lớn vào công nghiệp.Việt Nam đãkhông chú ý xây dựng nền tảng công nghiệp gồm công nghiệp chế tạo máy, luyệnkim, công nghiệp hỗ trợ để từ đó phát triển những ngành công nghiệp khác mà chỉ

phát triển những ngành có thể đem lại lợi nhuận trước mắt Sau 30 năm Đổi Mới

công nghiệp chế biến chế tạo của Việt Nam gần như giậm chân tại chỗ (tăng 1,6%trong tỷ trọng GDP) trong khi đây là ngành cốt lõi của nền công nghiệp quyết địnhtrình độ công nghiệp hóa Các hoạt động đầu cơ chiếm ưu thế chứ không phải đầu

tư để tạo ra giá trị gia tăng Năng suất lao động trong các ngành sản xuất côngnghiệp thấp hơn khu vực và thế giới trong khi khả năng sinh lời của các ngành tàichính, địa ốc lại cao hơn mức trung bình của thế giới Nhiều người Việt Nam thíchmua bán bất động sản hơn là đầu tư dài hạn để có được kỹ năng, công nghệ vànăng lực quản trị kinh doanh Khó có thể thúc đẩy công nghiệp hóa hoặc nâng caogiá trị sáng tạo trong nước trong điều kiện như thế Chính vì những lý do này ViệtNam không thể công nghiệp hóa nhanh chóng, nền kinh tế Việt Nam phát triểnkhông tương xứng với lượng vốn mà Việt Nam nhận được Điều này cũng chothấy nền kinh tế Việt Nam không có khả năng hấp thu hết lượng vốn mà nó nhậnđược để tạo ra giá trị gia tăng và việc làm nên vốn chảy vào các thị trường tài sản

và làm tăng tình trạng tham nhũng do các doanh nghiệp nhà nước và đầu tư công

thiếu hiệu quả Hàn Quốc mất hơn 30 năm để công nghiệp hóa trong khi hơn 30 năm Đổi Mới Việt Nam không xây dựng nổi nền tảng công nghiệp dù nhận nhiều

vốn đầu tư nước ngoài, kiều hối và viện trợ hơn Hàn Quốc

Hiệu quả đầu tư nhà nước còn rất kém (thể hiện nơi chỉ số ICOR của ViệtNam khá cao so với quy mô nền kinh tế) do nhiều nguyên nhân: quản lý kém,không minh bạch và tệ nạn tham nhũng còn đang hoành hành Nếu hiệu quả đầu

tư quá kém (nghĩa là nhà nước đổ vốn rất nhiều nhưng thành quả thu được khôngtương xứng) thì quá trình công nghiệp hóa ở Việt Nam sẽ rất tốn kém Theo đó,chi phí để hoạt động, vận hành và duy trì một nền kinh tế công nghiệp hóa củaViệt Nam cũng sẽ rất cao nếu các tồn tại và thách thức trên không được giải quyết.Chi phí cao sẽ khiến sản phẩm của Việt Nam phải bán giá thành cao hơn các nướckhác và vì thế sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thịtrường quốc tế Do không thể giảm chi phí, để giảm giá thành thì không còn cáchnào khác là phải tiếp tục duy trì chi phí nhân công ở mức thấp và dịch vụ chấtlượng kém Điều này góp phần trầm trọng hóa vấn đề "khoảng cách thu nhập"giữa công nhân và giới quản lý, giới chủ và tạo tiền đề bất ổn xã hội Công nghiệpViệt Nam thâm dụng lao động lớn, giá trị gia tăng thấp Việt nam mới chỉ tham

Trang 16

gia vào những khâu giản đơn trong chuỗi sản xuất công nghiệp Năng suất laođộng công nghiệp của Việt Nam

Trang 17

nằm trong nhóm các nước thấp nhất trong khu vực Nền công nghiệp Việt Namhoàn toàn phụ thuộc vào nguyên liệu, nhiên liệu, máy móc, thiết bị nhập khẩu trongkhi đó các công ty nước ngoài chiếm phần lớn kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.

Một thách thức khác mà quá trình công nghiệp hóa ở Việt Nam phải đốimặt là quá trình này kết thúc quá sớm và chuyển sang phát triển dịch vụ do hàngcông nghiệp bản địa không cạnh tranh nổi với hàng công nghiệp nước ngoài cũngnhư tỷ trọng vốn đầu tư vào công nghiệp trong tổng vốn đầu tư xã hội giảm Ngoài

ra còn nhiều nguyên nhân khác như chi phí nhân công tăng khiến đầu tư nướcngoài vào công nghiệp giảm và hàng nội địa ngày càng khó cạnh tranh với hàngnước ngoài, chất lượng lao động không đáp ứng nổi đòi hỏi ngày càng cao của nềncông nghiệp hiện đại Việt Nam vừa mới trở thành nước thu nhập trung bình thấp

đã phải đối diện với nguy cơ này sẽ làm tốc độ phát triển chậm lại vì năng suất laođộng trong dịch vụ thường thấp hơn công nghiệp nhất là với những nước thiếu laođộng có trình độ cao để phát triển các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao nhưViệt Nam Nếu không có một nền công nghiệp hoàn chỉnh có khả năng sáng tạo racông nghệ mới, có thể tạo ra giá trị gia tăng cao, có thể tham gia vào toàn bộ chuỗigiá trị thì Việt Nam sẽ rơi vào bẫy thu nhập trung bình sau khi đã khai thác hếtnhững lợi thế của mình Việt Nam chỉ có thể trở thành nước phát triển khi làm chủđược toàn bộ chuỗi giá trị sản phẩm mà không cần đến đầu tư nước ngoài Nhànước Việt Nam đang mong muốn đưa Việt Nam tham gia vào "cuộc cách mạngcông nghiệp 4.0" trong điều kiện thiếu nền tảng công nghiệp Tuy nhiên làm chủcông nghệ là một quá trình học hỏi, nghiên cứu, thực hành lâu dài chứ không thểnóng vội theo kiểu "đi tắt đón đầu" mà Việt Nam từng chủ trương khi bắt đầu Đổi

Mới đã không mang lại kết quả Nếu xem "cách mạng công nghiệp 4.0 " là sự

nâng cao trình độ tự động hóa lên cấp độ mới thì ít nhất phải có những cơ sở côngnghiệp để có thể tự động hóa chúng Phương Tây mất hai thế kỷ để công nghiệp

hóa còn Hàn Quốc phát triển một cách thần kỳ cũng phải mất 30 năm mới có thể

làm chủ công nghệ phương Tây trong khi đó Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn đầucủa quá trình công nghiệp hóa nên sẽ phải trải qua một thời kỳ học hỏi, thực hànhlâu dài để làm chủ những công nghệ cơ bản làm cơ sở cho việc xây dựng nền tảngcông nghiệp

Nếu không có những chính sách thích hợp Việt Nam sẽ rơi vào bẫy thunhập trung bình khi đầu tư giảm, công nghiệp tăng trưởng chậm và không đa

dạng, thị trường lao động không năng động Sách lược thích hợp để vượt qua bẫy thu nhập trung bình là tăng năng suất, cải tiến công nghệ, tăng cường khả năng

đổi mới - sáng tạo, tăng khả năng sản xuất của nền công nghiệp bằng cách tăngcường đào tạo nhân lực chất lượng cao, điều chỉnh chính sách thu hút đầu tư nướcngoài và xây dựng công nghiệp hỗ trợ.Thực tế cho thấy có nhiều dấu hiệu ViệtNam đã rơi vào bẫy thu nhập trung bình như tăng trưởng ngày càng chậm dần,năng xuất sản xuất tăng chậm hơn tiền lương khiến năng lực cạnh tranh giảm làmcông nghiệp chế tạo tăng chậm lại trong khi các ngành công nghệ cao kém

phát triển, hệ số vốn ICOR ngày càng cao, chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông

nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ chậm, các vấn đề xã hội như ô nhiễm, chênhlệch giàu nghèo ngày càng tăng Việt Nam gần như đã không học hỏi và áp dụng

được kinh nghiệm công nghiệp hóa của những nước xã hội chủ nghĩa như Liên

Xô cũ, Trung Quốc hay những nước Đông Á như Hàn Quốc , Nhật Bản

Trang 18

CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM, MÔ HÌNH VÀ MỤC TIÊU CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ NỀN KINH TẾ TRONG BỐI CẢNH CÁC MẠNG

Trang 19

CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2025, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2050.

3.1 Công nghiệp hóa là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình phát triển vì nó đưa cả nền sản xuất vật chất và đời sống văn hóa -

xã hội của đất nước lên trình độ mới.

Ðối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, công nghiệp hóa có vai trò tạo rađiều kiện, tiền đề vật chất - kỹ thuật cho chế độ xã hội chủ nghĩa Ở mỗi thời kỳlịch sử và trong từng bối cảnh kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa có nội dung vàcon đường thực hiện cụ thể Ðối với Việt Nam trước kia, đó là quá trình côngnghiệp hóa xã hội chủ nghĩa và từ cuối thế kỷ XX đến nay, quá trình này được xácđịnh đầy đủ là công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Ðây là một quá trình kinh tế, kỹ thuật - công nghệ và kinh tế - xã hội toàn diện,sâu rộng nhằm chuyển đổi nền sản xuất và xã hội Việt Nam từ trình độ nôngnghiệp lạc hậu lên trình độ công nghiệp với các trình độ công nghệ ngày càng tiêntiến, hiện đại, văn minh

Trên cơ sở tổng kết công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ đầu thập kỷ 90của thế kỷ XX đến nay và bám sát bối cảnh, yêu cầu, nhiệm vụ mới, Ðại hội XIIIcủa Ðảng đề ra chủ trương: "Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trênnền tảng của tiến bộ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo"

Lịch sử nhân loại đã chứng kiến cho đến nay, bốn cuộc cách mạng công nghiệp,cũng là các cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật nói chung Cuộc thứ nhất, vàocuối thế kỷ XVIII, khai sinh ra nền công nghiệp cơ khí, tạo ra dây chuyền sản xuấthàng loạt, sản xuất hàng hóa, kinh tế thị trường Cuộc thứ hai, vào cuối thế kỷXIX, ra đời nền công nghiệp và xã hội điện khí hóa; tạo tiền đề để chủ nghĩa tưbản chuyển từ tự do cạnh tranh lên độc quyền đế quốc Cuộc thứ ba, vào giữa thập

kỷ 70 của thế kỷ XX, mở ra thời đại điện tử hóa, tin học hóa Cuộc thứ tư, từ đầuthế kỷ XXI, đánh dấu bước ngoặt chuyển đổi số của toàn bộ đời sống vật chất vàtinh thần của con người Mỗi cuộc cách mạng tạo ra một trình độ công nghệ ngàycàng hiện đại cho quá trình công nghiệp hóa lâu dài của nhân loại

Các chuyên gia trên thế giới đã khái quát bốn trình độ công nghiệp hóa từ thấp đếncao Thấp nhất là trình độ lắp ráp (Assemblement) Tiếp đó là trình độ sản xuấtvới kỹ thuật riêng (Own Engineering Manufacturing-OEM) Cao hơn là trình độsản xuất với thiết kế riêng (Own Design Manufacturing - ODM) Cao nhất là trình

độ sản xuất với thương hiệu riêng (Own Brand Manufacturing - OBM)

Ðể tiến lên trình độ công nghiệp hóa ngày càng cao, mỗi quốc gia nhất thiết phải

có một số ngành sản xuất công nghiệp nền tảng, mà thiếu chúng thì không thểtriển khai các ngành công nghiệp khác Các ngành luyện kim, cơ khí, chế tạo,năng lượng, hóa chất… chính là những nền tảng cho các ngành công nghiệp khác

có điều kiện, tiền đề xây dựng, phát triển Trên thực tế, không ít quốc gia đã khôngdành sự quan tâm ở tầm chiến lược cho các ngành công nghiệp này Hệ quả trựctiếp là nền sản xuất công nghiệp quốc gia về cơ bản dừng lại ở trình độ lắp ráp vàcác ngành công nghiệp phụ trợ cũng không thể phát triển, nền công nghiệp quốc

Trang 20

gia ngày càng lép vế trước các cơ sở công nghiệp FDI Trước thực trạng này, vănkiện Ðại hội XIII

Trang 21

xác định: "Xây dựng nền công nghiệp quốc gia vững mạnh… tập trung phát triểnnhững ngành công nghiệp nền tảng, nhất là công nghiệp cơ khí, chế tạo, côngnghiệp hỗ trợ".

Trong thế giới ngày nay, quá trình công nghiệp hóa của mỗi quốc gia không thểtiến hành biệt lập, khép kín mà phải đặt trong chuỗi sản xuất - kinh doanh toàncầu Ðối với Việt Nam, đòi hỏi này trở nên bức thiết gấp bội vì nền kinh tế nước ta

đã hội nhập rất sâu với nền kinh tế thế giới: Giá trị tổng kim ngạch xuất, nhậpkhẩu bằng 160% đến 200% GDP trong những năm vừa qua Trên ý nghĩa rất lớn,quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta cũng là quá trình cơ cấu lại nềnkinh tế theo lợi thế cạnh tranh; bảo đảm tự chủ kinh tế quốc gia thông qua đổi mớicông nghệ, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sản xuất - kinh doanh Ðểđịnh hướng cho quá trình chuyển đổi quan trọng này, văn kiện Ðại hội XIII chỉ rõ:

"Cơ cấu lại công nghiệp, nâng cao trình độ công nghệ, đẩy mạnh chuyển đổi sangcông nghệ số , nâng cao tính tự chủ của nền kinh tế, có khả năng tham gia sâu, cóhiệu quả vào các chuỗi giá trị toàn cầu"

Các quốc gia công nghiệp phát triển và các quốc gia công nghiệp hóa mới đềuthành công trên con đường công nghiệp hóa nhờ biết xác định kịp thời mô hìnhcông nghiệp hóa phù hợp với bối cảnh thế giới và điều kiện cụ thể của đất nước.Chỉ tính từ giữa thế kỷ XX đến nay, đã có hai mô hình công nghiệp hóa rất thànhcông Mô hình thay thế nhập khẩu đã biến các quốc gia Bra-xin, Mê-hi-cô, Ác-hen-ti-na và Chi-lê thành các "con hổ" Mỹ la-tinh Sau đó, môhình hướng xuất khẩu đã đem lại sự phát triển thần kỳ cho các "con hổ" Ðông Á:Xin- ga-po, Hàn Quốc, Hồng Kông (Trung Quốc) và Ðài Loan (Trung Quốc) Ðếnđầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, Việt Nam đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóatheo phương châm hướng xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu ở những lĩnhvực, mặt hàng có lợi thế Quá trình này đã góp phần đem lại cho đất nước nhữngthành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; tuy nhiên, như văn kiện Ðại hội XIII kiểmđiểm: "Việc tạo nền tảng để đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theohướng hiện đại chưa đạt được mục tiêu đề ra"

Xét trên quy mô thương mại toàn cầu, thế giới ngày nay đã bị các hiệp địnhthương mại tự do, nhất là các hiệp định thế hệ mới biến thành một thị trường liênhoàn, thống nhất Ở đó, đã và sẽ nhanh chóng mất đi sự phân biệt giữa thị trườngquốc nội và thị trường quốc tế Trong bối cảnh mới như vậy, các mô hình côngnghiệp hóa nêu trên hiển nhiên là không còn chỗ đứng Việt Nam cũng như cácquốc gia khác, rất cần xác định mới mô hình công nghiệp hóa, vừa thích ứng vớichuỗi giá trị toàn cầu, cách mạng công nghiệp lần thứ tư và phù hợp với điềukiện, mục tiêu, yêu cầu của nước nhà Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10năm (2021 - 2030) được thông qua tại Ðại hội XIII nêu rõ mô hình công nghiệphóa, hiện đại hóa trong thời kỳ mới: "Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đạihóa dựa trên nền tảng của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và những thànhtựu công nghệ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư Ðẩy mạnh phát triển một

số ngành, lĩnh vực kinh tế trọng điểm, có tiềm năng, lợi thế và còn dư địa lớn đểlàm động lực cho tăng trưởng theo tinh thần bắt kịp, tiến cùng và vượt lên ở một

số lĩnh vực so với khu vực, thế giới"

Trang 22

Một số ngành công nghiệp mũi nhọn, công nghệ mới, công nghệ cao được xácđịnh là những ưu tiên phát triển bao gồm: Công nghệ thông tin và truyền thông,công nghiệp điện tử - viễn thông, công nghiệp sản xuất rô-bốt, ô-tô, thiết bị tíchhợp vận hành tự động, điều khiển từ xa, công nghiệp sản xuất phần mềm, sảnphẩm số, công nghiệp an toàn thông tin, công nghiệp dược phẩm, sản xuất chếphẩm sinh học, công nghiệp môi trường, công nghiệp năng lượng sạch, nănglượng tái tạo, năng lượng thông minh, công nghiệp chế biến, chế tạo phục vụ nôngnghiệp và vật liệu mới

Có thể khái quát, với tầm nhìn chiến lược, bám sát nền sản xuất công nghiệp vàkinh tế công nghiệp của thế giới hiện đại, Ðại hội XIII của Ðảng đã kế thừa và bổsung, phát triển đường lối, chủ trương tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước từ nay đến giữa thế kỷ XXI Ðây là cơ sở quan trọng hàng đầu đểChính phủ và các cấp, các ngành xây dựng những chính sách cụ thể, kịp thời vàhiệu quả nhằm hoàn thành mục tiêu đất nước có nền công nghiệp theo hướng hiệnđại vào năm 2025 và có nền công nghiệp hiện đại vào năm 2030

CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ NỀN KINH TẾ BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ.

Giải pháp đẩy mạnh công nghiêp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2020, tầmnhìn 2030 1 Dự báo bối cảnh kinh tế - xã hội trong nước và quốc tế Bối cảnh kinh

tế quốc tế Trong giai đoạn tới, quá trình hội nhập kinh tế, tài chính quốc tế tiếp tụcdiễn ra sâu rộng và tác động lớn đến sự phát triển của hầu hết các quốc gia Toàncầu hóa về thương mại, đầu tư tài chính và tiền tệ sẽ diễn ra mạnh mẽ Cùng với

đó sẽ là quá trình quốc tế hóa hệ thống tài chính - tiền tệ, kéo theo sự phụ thuộclẫn nhau ngày càng gia tăng trên phạm vi toàn cầu Cùng với quá trình toàn cầuhóa được đẩy mạnh, cạnh tranh giữa các quốc gia về vốn, về nguồn lực và côngnghệ cũng sẽ gay gắt hơn Tiến bộ khoa học, kỹ thuật tiếp tục là công cụ thúc đẩyhợp tác quốc tế và định hướng phát triển kinh tế - tài chính thế giới, đồng thời tạo

cơ hội thuận tiện cho các nước đi sau bắt nhịp và tham gia vào chuỗi kinh tế toàncầu Các quan hệ chính trị, kinh tế, tài chính quốc tế ngày càng có vai trò quantrọng và chi phối lẫn nhau, đồng thời toàn cầu hóa cũng sẽ làm giảm tính độc lậptrong việc thực hiện chính sách kinh tế nói chung và tài chính nói riêng của cácquốc gia Kinh tế thế giới dự báo vẫn sẽ có những biến đổi khó lường Khoảngcách giữa các nhóm nước phát triển với các nền kinh tế kém phát triển có xuhướng ngày càng gia tăng Chính sách đối phó và giải quyết khủng hoảng cùngvới quá trình phục hồi của nền kinh tế thế giới sẽ đem đến một số thay đổi trongcấu trúc, cũng như phương thức quản lý vĩ mô của nhiều nền kinh tế Vai trò, sứcmạnh và ảnh hưởng của Trung Quốc đối với kinh tế toàn cầu sẽ ngày một lớnmạnh Đến năm 2014, nền kinh tế Trung Quốc sẽ đạt xấp xỉ 55% nền kinh tế Mỹ 1 Cùng với Trung Quốc, sự trỗi dậy của Ấn Độ cũng sẽ ảnh hưởng đến bối cảnhphát triển của kinh tế toàn cầu Bối cảnh kinh tế trong nước Những thành tựu sau

30 năm đổi mới đã làm cho tiềm lực của đất nước ta không ngừng được mở rộng,trong đó có cả tiềm lực tài chính nhà nước Quá trình tái cơ cấu nền kinh tế gắnvới đổi mới mô hình tăng trưởng đã đạt được các kết quả bước đầu, tạo ra môitrường thuận lợi và tiền đề quan trọng để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa,hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước Cùng với đó, mức sống và chất lượng cuộc

Ngày đăng: 18/09/2021, 01:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w