LỜI MỞ ĐẦU Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế, cơ chế quản lý của nhà nước được đổi mới với chính sách mở cửa đã mang lại không chỉ những cơ hội mà cả những thách thức cho sự phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, đòi hỏi các doanh nghiệp phải nghiên cứu các biện pháp tăng cường công tác quản lý trên các phương diện kinh tế. Với chức năng quản lý hoạt động công tác kế toán liên quan đến việc hoạch định các chiến lược phát triển và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Do vậy việc hoàn thiện các nội dung của công tác kế toán, trong đó có công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành thành phẩm là một trong những nội dung rất quan trọng gắn liền với việc đánh giá và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Qua thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu Lam Sơn – Thái Bình em đã tìm tòi học hỏi và nắm được những kiến thức thực tế về chuyên ngành kế toán. Em cũng đi sâu tìm hiểu nghiên cứu thực trạng công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành thành phẩm, em thấy còn một vài hạn chế. Xuất phát từ thực tế đó em đã chọn đề tài: “Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu Lam Sơn – Thái Bình” làm luận văn tốt nghiệp. Ngoài lời mở đầu và kết luận, luận văn tốt nghiệp gồm ba chương: Chương 1: Lý luận chung về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính gía thành tại Công ty CP sản xuất kinh doanh XNKLam Sơn – Thái Bình. Chương 2: Thực tế kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại CTCP sản xuất kinh doanh XNK Lam Sơn – Thái Bình Chương 3: Một số ý kiến góp phần nâng cao chất lượng công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính gia thành sản phẩm tại Công ty cổ phần sản xuất kinh doanh XNK Lam Sơn – Thái Bình.
Lý luận chung về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Chi phí sản xuất
1.1.1 Khái niệm về chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất thể hiện bằng tiền tổng hợp các hao phí lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã đầu tư để thực hiện hoạt động sản xuất trong một khoảng thời gian nhất định.
1.1.2 Phân loại chi phí sản xuât
Phân loại chi phí theo hoạt động và công dụng kinh tế.
Chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh thôn g thường.
-Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: gồm toàn bộ chi phí nguyên vật liệu, được sử dụng trực tiếp cho quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm
Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm tiền lương và các khoản phải trả cho công nhân sản xuất, cũng như các khoản trích theo lương như bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) và kinh phí công đoàn (KPCĐ).
Chi phí sản xuất chung là các khoản chi phí liên quan đến việc phục vụ và quản lý hoạt động sản xuất trong các phân xưởng và đội sản xuất Những chi phí này đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo quy trình sản xuất diễn ra suôn sẻ và hiệu quả.
Chi phí ngoài sản xuất:
-Chi phí bán hàng: là chi phí lưu thông và chi phí trực tiếp phát sinh trong quá trình tiêu thụ, sản phẩm hàng hóa, dịch vụ.
Chi phí quản lý doanh nghiệp là các khoản chi phí cần thiết cho việc phục vụ và quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh, mang tính chất chung cho toàn bộ doanh nghiệp Những chi phí này đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì hiệu quả hoạt động và đảm bảo sự phát triển bền vững cho doanh nghiệp.
Chi phí hoạt động tài chính bao gồm các khoản chi phí và lỗ liên quan đến các hoạt động về vốn, chẳng hạn như chi phí liên doanh và chi phí đầu tư tài chính.
Chi phí hoạt động khác là những khoản chi phí phát sinh từ các sự kiện hoặc nghiệp vụ bất thường mà doanh nghiệp không thể dự đoán trước Những khoản lỗ này có thể ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, do đó việc quản lý và ghi nhận chúng là rất quan trọng.
Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh
-Chi phí nguyên vật liệu: gồm chi phí về nguyên vật liệu chính ,vật liệu phụ ,nhiên liệu sử dụng vào mục đích trực tiếp sản xuất sản phẩm.
-Chi phí nhân công:gồm chi phí về tiền công, tiền trích BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ, của công nhân trực tiếp sản xuất.
-Chi phí khấu hao TSCĐ: gồm khấu hao của tất cả TSCĐ dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: phản ánh chi phí về điện nước, chi phí điện thoại, fax, chi phí sửa chữa TSCĐ thu ngoài.
-Chi phí khác bằng tiền:là các khoản chi phí bằng tiền phát sinhtrong quá trình sản xuất kinh doanh
Phân loại chi phí theo mối quan hệ của chi phí với khối lượng sản phẩm.
Chi phí biến đổi, hay còn gọi là biến phí, là những chi phí thay đổi theo khối lượng sản phẩm sản xuất trong một kỳ nhất định Những chi phí này tỷ lệ thuận với sự thay đổi của sản lượng, bao gồm chi phí vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp.
Chi phí cố định, hay còn gọi là định phí, là những khoản chi không thay đổi tổng số bất kể mức độ hoạt động sản xuất hoặc khối lượng sản phẩm có biến động.
Giá thành sản phẩm
1.2.1 Khái niệm giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm thể hiện giá trị tiền tệ của tất cả các chi phí liên quan đến lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã đầu tư cho mỗi đơn vị sản phẩm hoặc công việc sản xuất đã hoàn thành.
1.2.2 Phân loại giá thành sản phẩm
Phân loại giá thành sản phẩm theo cơ sở số liệu và thời điểm tính giá thành.
Theo cách này, giá thành sản phẩm được chia thành 3 loại:
Giá thành sản phẩm kế hoạch: là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở chi phí kế hoạch và số lượng sản phẩm sản xuất kế hoạch.
Giá thành sản phẩm định mức: là giá thành sản phẩm được tính trên định mức chi phí hiện hành.
Giá thành sản phẩm thực tế là mức giá được xác định sau khi quá trình sản xuất hoàn tất, dựa trên số liệu chi phí thực tế đã phát sinh hoặc được tổng hợp trong kỳ sản xuất.
Phân loại giá thành căn cứ vào phạm vi các chi phí cấu thành.
Giá thành sản phẩm sản xuất bao gồm các chi phí liên quan đến quá trình chế tạo, như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung cho sản phẩm hoàn thành.
Giá thành toàn bộ sản phẩm tiêu thụ bao gồm giá thành sản xuất cho số lượng sản phẩm tiêu thụ, cộng với chi phí bán hàng (CPBH) và chi phí quản lý doanh nghiệp (CPQLDN) phát sinh trong kỳ tính cho số sản phẩm này.
Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai khía cạnh liên kết chặt chẽ trong quá trình sản xuất, thể hiện mối quan hệ biện chứng Chi phí sản xuất phản ánh hao phí, trong khi giá thành sản phẩm thể hiện kết quả cuối cùng Về bản chất, cả hai đều là biểu hiện của quá trình sản xuất kinh doanh, giống nhau ở chỗ đều được tính bằng tiền cho các hao phí lao động sống và lao động vật hóa Tuy nhiên, chúng khác nhau về mặt lượng: chi phí sản xuất được xác định trong một khoảng thời gian nhất định mà không phân biệt loại sản phẩm, trong khi giá thành sản phẩm cụ thể hóa một lượng chi phí cho kết quả sản xuất đã hoàn thành.
Chi phí sản xuất trong kỳ bao gồm chi phí liên quan đến sản phẩm dở dang cuối kỳ và các chi phí chưa phát sinh nhưng đã được trích từ tháng trước Giá thành sản phẩm không phụ thuộc vào chi phí sản xuất của sản phẩm dở dang cuối kỳ, mà liên quan đến chi phí sản xuất của sản phẩm dở dang từ kỳ trước Do đó, chi phí sản xuất trong kỳ là cơ sở để tính giá thành cho các sản phẩm và công việc đã hoàn thành.
Kế toán tập hợp các khoản mục chi phí sản xuất trong công ty
Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp liên quan đến từng đối tượng tập hợp chi phí và có thể được ghi nhận theo phương pháp trực tiếp Cuối kỳ kế toán, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp sẽ được phân bổ cho từng đối tượng chịu chi phí.
Kế toán chi phí nguyên vậ liệu trực tiếp
Chứng từ sử dụng: Các phiếu nhập kho, phiếu xuất kho, hóa đơn
Tài khoản sử dụng: TK 621: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp là những khoản tiền phải thanh toán cho công nhân trực sản xuất.
Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
Chứng từ sử dụng: Bảng chấm công, bảng phân bổ tiền lương.
Tài khoản TK622 được sử dụng để hạch toán chi phí nhân công trực tiếp, nhằm ghi nhận chi phí tiền lương cho lao động sản xuất Đây là tài khoản không có số dư, được thiết lập để tập hợp các chi phí nhân công trực tiếp thực tế phát sinh trong kỳ của toàn bộ công ty.
Công ty áp dụng tiểu khoản của TK 622 để theo dõi chi phí nhân công trực tiếp cho từng sản phẩm, nhằm quản lý hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
TK 622.1 : Chi phí nhân công trực tiếp phân xưởng sản gạo V5
TK 622.2 : Chi phí nhân công trực tiếp phân xưởng sản xuất gạo Q10
TK 622.3: Chi phí nhân công trực tiếp phân xưởng sản xuất gạo Xi
Ngoài ra, Công ty còn sử dụng các tài khoản để hạch toán chi phí nhân công trực tiếp là:
TK 334: Phải trả người lao động
TK 338: Phải trả phải nộp khác
+ TK 338.2:Kinh phí công đoàn
-TK 338.2.1:Kinh phí công đoàn công nhân khối sản xuất trực tiếp
-TK 338.2.2: Kinh phí công đoàn công nhân khối sản xuất chung
-TK 338.2.3: Kinh phí công đoàn công nhân khối bán hàng
-TK 338.2.4: Kinh phí công đoàn công nhân khối quản lý doanh nghiệp + TK 338.3: BHXH
-TK 338.3.1: BHXH công nhân khối sản xuất trực tiếp
-TK 338.3.2: BHXH công nhân khối sản xuất chung
-TK 338.3.3: BHXH công nhân khối bán hàng
-TK 338.3.4: BHXH công nhân khối quản lý doanh nghiệp
-TK 338.4.1: BHYT công nhân khối sản xuất trực tiếp
-TK 338.4.2: BHYT công nhân khối sản xuất chung
-TK 338.4.3: BHYT công nhân khối bán hàng
-TK 338.4.4: BHYT công nhân khối quản lý doanh nghiệp
-TK 338.9.1: BHYT công nhân khối sản xuất trực tiếp
-TK 338.9.2: BHYT công nhân khối sản xuất chung
-TK 338.9.3: BHYT công nhân khối bán hàng
-TK 338.9.4: BHYT công nhân khối sản xuất chung
Kế toán chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung là tổng hợp các chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm tại các phân xưởng và tổ đội Tại Công ty Cổ phần Sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu Lam Sơn – Thái Bình, chi phí này bao gồm tất cả các khoản chi phí liên quan tại phân xưởng chế biến.
- Chi phí nhân viên phân xưởng: là các chi phí trả lương cho nhân viên quản lý phân xưởng, thủ kho.
- Chi phí vật liệu phụ tùng là các loại vật liệu, phụ tùng phục vụ phân xưởng.
- Chi phí KHTSCĐ là chi phí hao mòn do sử dụng máy móc thiết bị, phương tiện vận tải…
- Chi phí dịch vụ mua ngoài là các chi phí điện, nước, điện thoại…
- Chi phí khác bằng tiền: chi phí tiếp khách, hội nghị, đào tạo nghiệp vụ…
Chi phí sản xuất chung được tập hợp cho toàn công ty và theo các yếu tố.
Tài khoản sử dụng:TK 627: Chi phí sản xuất chung
+ Chi tiết bao gồm các tiểu khoản sau:
Chi phí nhân viên quản lý phân xưởng TK 6271 bao gồm tiền lương cùng các khoản trích theo lương của bộ phận phục vụ và phụ trợ cho sản xuất, đảm bảo quản lý hiệu quả tại phân xưởng.
Chi phí vật liệu phát sinh tại phân xưởng TK 6272 bao gồm các nguyên vật liệu được xuất dùng cho bộ phận phục vụ và phụ trợ sản xuất.
Chi phí công cụ, dụng cụ cho sản xuất trong TK 6273 bao gồm các khoản chi phí liên quan đến công cụ và dụng cụ mà công ty sử dụng trong tháng để hỗ trợ công tác quản lý phân xưởng.
- TK 6274: Chi phí khấu hao TSCĐ: bao gồm 2 tài khoản cấp 3 là
TK62741: chi phí khấu hao TSCĐ
TK 62742: chi phí khấu hao sửa chữa lớn TSCĐ
TK 6277 phản ánh chi phí dịch vụ mua ngoài liên quan đến sản xuất tại phân xưởng, bao gồm nhiều tiểu khoản khác nhau.
TK 62771: chi phí trang phục bảo hộ lao động
TK 62772: chi phí tiền điện
TK 62773: chi phí tiền nước
TK 62774: chi phí sửa chữa thường xuyên
TK 62775: chi phí vận chuyển bốc xếp
TK 62776: chi phí dịch vụ mua ngoài khác
-TK 6278 : Chi phí bằng tiền: được công ty chi tiết thành các tài khoản cấp 3 sau
TK 62781: chi phí kiểm tra chất lượng sản phẩm
TK 62782: chi phí bảo vệ phân xưởng
TK 62783 : chi phí bằng tiền khác
Mọi chi phí sản xuất chung phát sinh trong kỳ được tập hợp vào bên Nợ
Cuối tháng, kế toán sẽ chuyển số phát sinh từ TK 627 vào bên Có TK 154, phân loại theo từng loại thành phẩm, nhằm hỗ trợ cho việc tính giá thành sản phẩm.
Để hạch toán chi phí sản xuất chung, các chứng từ cần thiết bao gồm phiếu xuất kho, bảng tính và phân bổ khấu hao tài sản cố định, cùng với các chứng từ khác như phiếu thu và phiếu chi.
Phương pháp phân bổ chi phí sản xuất chung
Tất cả chi phí sản xuất chung của Công ty trong kỳ được phân bổ cho từng loại sản phẩm gạo, dựa trên chi phí nhân công trực tiếp đã sử dụng trong quá trình sản xuất.
Thực tế tính giá thành sản phẩm tại công ty
Đối tượng tính giá thành và kỳ tính giá thành tại Công ty
Đối tượng tính giá thành
Sự khác biệt giữa giới hạn tập hợp chi phí và sản phẩm hoàn thành yêu cầu phải phân biệt rõ ràng giữa đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành Tại Công ty, không có sản phẩm dở dang, do đó, đối tượng tính giá thành được xác định là các thành phẩm như gạo Q5, gạo V10 và gạo Xi.
Đơn vị tính giá thành
Các sản phẩm chế biến từ gạo đều ở dạng rắn, có thể cân và đóng bao, do đó đơn vị tính giá thành của thành phẩm là đồng/kg.
Chế biến gạo đơn giản, không có sản phẩm dở dang, có chu kỳ ngắn,
= Chi phí sxc cần phân bổ x CP NCTT sản xuất sản phẩm i Tổng CP NCTT
Công ty Cổ phần sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu Lam Sơn – Thái Bình đã quyết định kỳ tính giá thành sản phẩm là tháng, do chi phí sản xuất được phân bổ cho sản phẩm theo hình thức khép kín.
Phương pháp tính giá thành sản phẩm
Trong quá trình chế biến gạo, do đặc điểm của mặt hàng này, không có sản phẩm dở dang, nhưng lại phát sinh nhiều phụ phẩm như trấu, cám và tấm Do đó, giá thành sản phẩm gạo cần phải được điều chỉnh để loại trừ giá trị của các phụ phẩm thu hồi.
Giá thành gạo thành phẩm trong kỳ được xác định bằng số dư bên Nợ của tài khoản 154, trừ đi giá trị phụ phẩm như trấu và cám tấm theo giá thị trường Để tính toán chính xác, cần kết hợp số phát sinh bên Nợ về số lượng từ sổ chi tiết vật tư hàng hóa do kế toán thành phẩm và tiêu thụ cung cấp Qua đó, kế toán chi phí sản xuất sẽ xác định số lượng thành phẩm sản xuất và tính giá thành đơn vị bằng thẻ tính giá thành đơn vị sản phẩm.
Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và đánh giá sản phẩm làm dở dang
Chi phí sản xuất của Công ty Cổ phần Sản xuất Kinh doanh Xuất nhập khẩu Lam Sơn – Thái Bình được tổng hợp theo từng khoản mục, bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và các khoản chi phí khác.
Tổng cpsx sản phẩm i phát sinh trong kỳ = CP NVLTT sản phẩm i+ CP NCTT sản phẩm i +
CP SXC phân bổ cho sản phẩm i
Tổng giá thành sx sản phẩm i
Giá thành đơn vị sản phẩm i =
Sản lượng sản phẩm i hoàn thành trong kỳ
Giá thành gạo thành phẩm = Tổng cpsx phát sinh trong kỳ
Giá trị phụ phẩm thu hồi
_ sản xuất chung của từng loại gạo sẽ được kết chuyển sang TK 154 “chi phí sản xuất kinh doanh dở dang”
Thực tế tính giá thành sản phẩm tại công ty
Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là hai giai đoạn quan trọng trong tổ chức hạch toán quá trình sản xuất, phục vụ cho việc quản lý, kiểm tra và phân tích chi phí Tại Công ty Cổ phần sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu Lam Sơn – Thái Bình, công tác tính giá thành sản phẩm có những đặc điểm riêng biệt, phù hợp với quy trình công nghệ và yêu cầu hạch toán kinh doanh nội bộ.
Đối tượng tính giá thành và kỳ tính giá thành tại Công ty
Đối tượng tính giá thành
Sự phân biệt giữa giới hạn tập hợp chi phí và sản phẩm hoàn thành là cần thiết để xác định rõ đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành Tại Công ty, không có sản phẩm dở dang, do đó, đối tượng tính giá thành được xác định là các loại thành phẩm như gạo Q5, gạo V10 và gạo Xi.
Đơn vị tính giá thành
Các sản phẩm chế biến từ gạo có nhiều loại khác nhau và tồn tại dưới dạng rắn, cho phép cân và đóng bao Do đó, đơn vị tính giá thành của các thành phẩm này được xác định là đồng/kg.
Công ty Cổ phần sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu Lam Sơn – Thái Bình đã quyết định chọn tháng làm kỳ tính giá thành sản phẩm do quy trình chế biến gạo đơn giản, không có sản phẩm dở dang, có chu kỳ ngắn và khép kín.
Phương pháp tính giá thành sản phẩm
Do quá trình chế biến gạo không tạo ra sản phẩm dở dang, nhưng lại sinh ra nhiều phụ phẩm như trấu, cám và tấm, nên giá thành sản phẩm gạo cần phải loại trừ giá trị của các phụ phẩm thu hồi.
Giá thành gạo thành phẩm trong kỳ được xác định bằng số dư bên Nợ của tài khoản 154 trừ đi giá trị phụ phẩm như trấu và cám tấm theo giá thị trường, chi tiết theo từng loại sản phẩm Kết hợp với số phát sinh bên Nợ về số lượng từ sổ chi tiết vật tư hàng hóa do kế toán thành phẩm và tiêu thụ cung cấp, kế toán chi phí sản xuất sẽ xác định số lượng thành phẩm sản xuất trong kỳ và tính giá thành đơn vị thông qua thẻ tính giá thành sản phẩm.
Tổng cpsx sản phẩm i phát sinh trong kỳ = CP NVLTT sản phẩm i+ CP NCTT sản phẩm i +
CP SXC phân bổ cho sản phẩm i
Tổng giá thành sx sản phẩm i
Giá thành đơn vị sản phẩm i =
Sản lượng sản phẩm i hoàn thành trong kỳ
Giá thành gạo thành phẩm = Tổng cpsx phát sinh trong kỳ
Giá trị phụ phẩm thu hồi
THỰC TẾ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHÂM TẠI CTCP SẢN XUẤT KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU LAM SƠN – THÁI BÌNH
Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Công ty CP Sản xuất kinh doanh XNK Lam Sơn chuyên hoạt động trong lĩnh vực chế biến lương thực và được hình thành dưới hình thức công ty cổ phần.
Thành lập : Ngày 02/ 04/ 1996 Địa chỉ : Cụm công nghiệp Đông La - Đông Hưng –Thái Bình Điện thoại : 036.851.289
Tài khoản : 0211000000333 Ngân hàng Ngoại Thương Thái Bình Email : Latexco6886@yahoo.com
Công ty CP sản xuất kinh doanh XNK Lam Sơn Thái Bình tiền thân là công ty TNHH Lam Sơn được thành lập ngày 2/4/1996 theo quyết định số
Công ty Cổ phần sản xuất kinh doanh XNK Lam Sơn Thái Bình, trước đây là Công ty TNHH Lam Sơn, được thành lập theo giấy phép kinh doanh số 049395 do UBND tỉnh Thái Bình cấp vào ngày 8/4/1996 Đến tháng 4 năm 2006, công ty đã chính thức đổi tên và được cấp giấy phép kinh doanh số 0803000298 với vốn điều lệ 10 tỷ đồng.
Công ty được sở kế hoạch đầu tư Thái Bình cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh với các ngành nghề kinh doanh sau:
Kinh doanh chế biến lương thực Đại lý kinh doanh vật tư nông nghiệp Đại lý kinh doanh thức ăn chăn nuôi
1.2.Đặc điểm tổ chức sản xuất sản phẩm của Công ty:
Công ty chuyên phân phối sản phẩm nông nghiệp đến tay người nông dân và thu mua thóc để chế biến thành các sản phẩm như gạo, cám, và trấu Cơ cấu tổ chức sản xuất chủ yếu tập trung vào bộ phận chế biến lương thực, với mục tiêu cung cấp thành phẩm kịp thời ra thị trường Để đạt được điều này, công ty đã xây dựng một phân xưởng chế biến lương thực, nơi biến nguyên liệu thóc thành các sản phẩm đáp ứng nhu cầu khách hàng Phân xưởng này có 30 nhân viên, bao gồm 2 quản đốc, đảm bảo quy trình sản xuất hiệu quả.
2 tổ trưởng, 26 công nhân chia làm 2 tổ sản xuất ( Sơ đồ 1)
1.3.Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty.( Sơ đồ 2) Đứng đầu Công ty là ban giám đốc gồm 01 giám đốc, 02 phó giám đốc. Dưới ban giám đốc có các phòng ban Mỗi phòng ban có chức năng, nhiệm vụ riêng.
1.4 Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban:
Giám đốc là người đại diện hợp pháp của Công ty và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Trong một số trường hợp, Giám đốc có thể ủy quyền cho thành viên khác đại diện cho Công ty.
- Phó giám đốc điều hành sản xuất: Đôn đốc, kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất của phân xưởng
Phó giám đốc kinh doanh chịu trách nhiệm xây dựng kế hoạch kinh doanh và kế hoạch bán hàng, đồng thời phát triển các chính sách nhằm thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa hiệu quả.
Phòng Tổ chức Hành chính có trách nhiệm quản lý công văn, giấy tờ, và sổ sách hành chính của Công ty, đồng thời quản lý nhân sự toàn công ty Phòng cũng xác định các yêu cầu cần thiết cho từng công việc và thực hiện việc bố trí, sắp xếp nhân sự một cách hợp lý.
Phòng Kế hoạch điều vận có nhiệm vụ lập kế hoạch và điều độ sản xuất trong phân xưởng, đồng thời phối hợp với phòng vận tải để quản lý việc điều độ xe lấy hàng và chuyển hàng đến các đại lý khác.
Phòng Tài chính - Kế toán có trách nhiệm quản lý vốn và tài chính của công ty, bao gồm việc giám sát các khoản thu chi tiền mặt, tiền gửi theo hợp đồng, cũng như xử lý hóa đơn và quyết định của giám đốc công ty khi đã hoàn tất các thủ tục cần thiết.
Phòng Kinh doanh Vận tải chịu trách nhiệm điều độ và quản lý các phương tiện vận tải như xe tải và xe con để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, bao gồm việc chở hàng hóa và lấy hàng Ngoài ra, để tối ưu hóa thời gian rảnh rỗi, công ty còn cung cấp dịch vụ cho thuê xe chở hàng.
Phòng thương mại đóng vai trò quan trọng trong công ty, vừa thực hiện chức năng mua hàng vừa đảm nhiệm việc bán hàng, nhờ vào mô hình hoạt động kết hợp giữa sản xuất và phân phối.
- Phòng Giao nhận: Chức năng của phòng giao nhận là: giao nhận hàng hoá, bốc xếp hàng hoá lên xe chở cho khách hàng.
1.5 Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán Để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được thuận lợi và hiệu quả thì bộ phận kế toán là một phần không thể thiếu và được xem là công cụ quản lý quan trọng, vì đó là nơi thu nhận và xử lý thông tin về tình hình tài chính và sự vận động tài chính của công ty Xuất phát từ đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, sự phân cấp quản lý và trình độ của cán bộ nhân viên kế toán, bộ máy kế toán công ty được tổ chức dưới hình thức tập trung Tất cả mọi công việc kế toán đều được thực hiện ở phòng kế toán, mỗi nhân viên kế toán đảm nhiệm một hoặc một vài phần hành kế toán dưới sự quản lý của kế toán trưởng Để quản lý có hiệu quả phòng kế toán công ty bố trí như sau: ( Sơ đồ 3)
1.6 Chức năng nhiệm vụ phòng kế toán
Kế toán trưởng là vị trí quan trọng trong bộ máy kế toán, chịu trách nhiệm tổ chức và chỉ đạo toàn bộ công tác kế toán trong doanh nghiệp Người đảm nhiệm vai trò này không chỉ phụ trách kế toán tổng hợp mà còn xác định kết quả kinh doanh, theo dõi thanh toán với ngân sách, ghi sổ cái và lập báo cáo tài chính.
Kế toán tiền mặt, tiền gửi và tiền vay đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý tài chính của công ty Họ theo dõi tình hình thu chi, đảm bảo cân đối với thủ quỹ về số tiền hiện có Ngoài ra, họ còn thực hiện thanh toán với ngân hàng liên quan đến các khoản vay và khoản gửi, đồng thời theo dõi các khoản nợ giữa cá nhân và công ty.
Kế toán kho đóng vai trò quan trọng trong việc theo dõi nhập, xuất và tồn kho của thành phẩm, hàng hóa Đặc biệt, giá cả của thóc gạo thường biến động theo thời vụ, vì vậy cần tính giá thành cho từng lô hàng và ghi chép vào sổ chi tiết Điều này sẽ giúp kế toán trưởng tổng hợp chi phí và tính giá thành cuối tháng, tạo nền tảng vững chắc cho hoạt động kinh doanh trong tháng tiếp theo.
Tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Công ty cổ phần sản xuất kinh doanh XNK Lam Sơn - Thái Bình đã công bố kết quả kinh doanh trong hoạt động sản xuất, thể hiện qua bảng thống kê (Biểu số 1) Nhìn vào bảng, có thể nhận thấy những thông tin quan trọng về hiệu quả hoạt động của công ty.
- Quy mô hoạt động của công ty ngày càng được mở rộng làm cho tổng giá trị của công ty từ năm 2011 so với năm 2010 tăng lên 15,92 %.
- Doanh thu bán hàng và doanh thu thuần của năm 2011 và năm 2010 tăng lên 47,42% dẫn đến giá vốn hàng bán cũng tăng lên 23,09 %.
- Chi phí tài chính tăng 39,24 %
- Doanh thu tài chính tăng 28,13 %
- Chi phí quản lý kinh doanh tăng 13,62 %
- Chi phí quản lý doanh nghiệp tăng 1,13 %
Lợi nhuận thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty đã tăng 13,34%, trong khi lợi nhuận trước thuế tăng 17,45% Những con số này cho thấy hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty đang được cải thiện, đồng thời đời sống của công nhân viên cũng được nâng cao với mức thu nhập tăng 59,25%, góp phần ổn định cuộc sống của họ.
2.1.Đặc điểm sản phẩm của Công ty
Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt, các nhà sản xuất không ngừng cải thiện chất lượng sản phẩm và giảm giá thành, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận doanh nghiệp Người tiêu dùng ngày càng có khả năng lựa chọn sản phẩm chất lượng cao với giá cả hợp lý, trở thành yếu tố cạnh tranh quan trọng Đặc biệt, trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, doanh nghiệp Việt Nam sẽ gặp nhiều thách thức khi đối mặt với các đối thủ nước ngoài Để thích ứng, Công ty cổ phần sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu Lam Sơn – Thái Bình đã liên tục đổi mới và đa dạng hóa sản phẩm, thể hiện qua danh mục sản phẩm phong phú của công ty.
Gạo Bắc thơm nổi bật với hạt gạo dài, trong và trắng, mang lại hương thơm đặc trưng Xuất xứ từ tỉnh Thái Bình và Nam Định, đây là loại gạo thơm ngon nhất, thường được cấy vào tháng 10 Việc cấy vào vụ dài ngày giúp hạt gạo trở nên thơm ngon hơn, với năng suất đạt từ 1,5 tạ đến 1,8 tạ trên mỗi sào.
Gạo Xi gồm hai loại chính là Xi 22 và Xi 23, nổi bật với đặc điểm hạt dẻo, ngon miệng nhưng không có hương thơm như gạo Bắc thơm Hạt gạo Xi ngắn hơn và bầu hơn so với gạo Bắc Năng suất trung bình của gạo Xi thường dao động từ 2 đến 2,2 tạ cho mỗi sào.
Vụ chính là tháng 5, có năng suất cao, đạt từ 2,5 tạ 3 tạ/01 sào.
- Thứ 4, Gạo V10: Đặc điểm: Hạt tròn, ngắn, trắng trong, thường cấy vào vụ tháng 10 Năng suất từ 2 tạ 2,5 tạ/01 sào.
Kế toán chi phí sản xuất và phương pháp phân loại chi phí sản xuất
Công ty hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nông sản, chủ yếu chế biến các loại gạo như Q5, V10, xi, bắc thơm từ thóc Chi phí sản xuất bao gồm nguyên vật liệu, nhân công và chi phí sản xuất chung Tuy nhiên, do tính chất thời vụ của gạo, chi phí phát sinh không đồng đều, đặc biệt cao vào các tháng thu mua như tháng 6, 7 và tháng 11, 12 Để phục vụ cho công tác hạch toán kế toán, công ty phân loại chi phí sản xuất theo hai phương pháp.
Công ty cổ phần sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu Lam Sơn – Thái Bình phân loại chi phí sản xuất thành 7 yếu tố dựa trên nội dung kinh tế của chi phí.
- Yếu tố chi phí nguyên vật liệu bao gồm: Chi phí nguyên vật liệu chính là thóc Chi phí phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ.
- Yếu tố chi phí nhiên liệu chủ yếu là mỡ chịu nhiệt
Chi phí tiền lương và các khoản phụ cấp lương bao gồm chi phí cho công nhân trực tiếp sản xuất và quản đốc phân xưởng Yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc xác định tổng chi phí sản xuất của doanh nghiệp.
- Yếu tố chi phí BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN : 22% tổng tiền lương và phụ cấp phải trả cho công nhân trực tiếp và quản đốc phân xưởng.
- Yếu tố chi phí khấu hao tài sản cố định bao gồm toàn bộ khấu hao thiết bị máy móc dùng để chế biến gạo.
- Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài gồm các loại chi phí như chi phí điện, nước, điện thoại…
- Yếu tố chi phí khác bằng tiền gồm các chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất ngoài các chi phí kể trên.
Thứ hai, căn cứ vào ý nghĩa của chi phí trong giá thành thành phẩm, toàn bộ chi phí dùng để chế biến được chia thành 3 loại sau:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm các khoản chi cho nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ và nhiên liệu, tất cả đều tham gia trực tiếp vào quy trình sản xuất của công ty.
- Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm tiền lương, phụ cấp, các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN theo quy định cho công nhân sản xuất.
- Chi phí sản xuất chung bao gồm toàn bộ các chi phí phát sinh trong phạm vi phân xưởng tham gia vào quá trình sản xuất.
Tỷ trọng mỗi loại chi phí trong các loại gạo của Công ty được thống kê theo Biểu số 1.1 dưới đây:
Biểu sổ 1.1: Tỷ trọng mỗi loại chi phí trong tổng chi phí sản xuất
Chi phí NVL trực tiếp 1.397.489.000 99 1.350.461.000 99 1.577.153.000 99 Chi phí NC trực tiếp 4.975.403 0,35 4.293.060 0,31 5.437.615 0,34 Chi phí SX chung 10.105.598 0,65 8.719.684 0,69 11.044.944 0,66 Tổng chi phí sản xuất 1.412.570.001 100 1.363.473.744 100 1.593.635.559 100
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là yếu tố chủ yếu trong cơ cấu chi phí của Công ty, chiếm tới 99%, trong khi chi phí nhân công trực tiếp chỉ chiếm 0,35% Điều này cho thấy Công ty có mức độ tự động hóa cao trong quy trình chế biến sản phẩm.
* Kế toán chi phí sản xuất
Công ty được xác định qua các đặc điểm quy trình công nghệ và sản xuất sản phẩm cụ thể, do đó, đối tượng tập hợp chi phí sản xuất của công ty được phân chia theo từng sản phẩm riêng biệt.
- Gạo Q5 trong đó có gạo lật, gạo trắng, gạo bóng.
Toàn bộ chi phí được tập hợp riêng theo từng loại gạo.
* Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất
Trong quá trình chế biến thóc thành gạo, công ty đã phát sinh nhiều loại chi phí đa dạng, mỗi loại có nội dung, công dụng và mục đích riêng biệt tại các phân xưởng cũng như trong toàn bộ công ty.
3.1 Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp trong sản xuất gạo tập trung vào nguyên liệu chính là thóc, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí Tỉnh Thái Bình, nổi tiếng với nghề trồng lúa, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu mua thóc từ nhiều xã trong huyện Thời điểm thu mua chủ yếu diễn ra vào mùa vụ, khoảng tháng 6, tháng 7 và tháng 11, tháng 12, sau khi nông dân thu hoạch Sau khi thu mua, thóc sẽ được kiểm tra chất lượng và đưa vào kho.
Kế toán sử dụng TK 621 “chi phí NVL trực tiếp
TK 621 – Gạo Q5;TK 621 – Gạo V10;TK 621 – Gạo Xi Đồng thời khi hạch toán còn sử dụng TK 152 thóc nguyên liệu cho từng loại gạo
Công ty sử dụng chứng từ gốc là các phiếu nhập kho, xuất kho…
Quy trình ghi sổ kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
Do giá cả nguyên vật liệu đầu vào là thóc thường xuyên biến động theo nhu cầu và điều kiện tự nhiên, công ty thường dựa vào đơn đặt hàng của khách hàng để lập kế hoạch xuất thóc.
Vào ngày 1 tháng 10 năm 2011, công ty nhận đơn đặt hàng từ TNHH Song Ngọc tại Thành phố Hải Phòng, yêu cầu cung cấp 200 tấn gạo Q với chất lượng và giá cả được ghi rõ trong hợp đồng Sau khi xem xét hợp đồng, phó giám đốc điều hành sản xuất đã phát lệnh sản xuất.
Công ty Cổ phần Sản xuất Kinh doanh Xuất nhập khẩu Lam Sơn, tọa lạc tại Cụm công nghiệp Đông La, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, cam kết cung cấp sản phẩm chất lượng cao và dịch vụ tốt nhất Với phương châm "Độc lập - Tự do - Hạnh phúc", chúng tôi luôn nỗ lực phát triển bền vững và đáp ứng nhu cầu của khách hàng Để biết thêm thông tin, vui lòng liên hệ qua số điện thoại: 0363.851.289.
Vào ngày 1 tháng 10 năm 2011, phó giám đốc sản xuất đã giao nhiệm vụ cho phân xưởng sản xuất hoàn thành đơn hàng của công ty TNHH Song Ngọc tại Thành phố Hải Phòng trong vòng 15 ngày, nhằm đáp ứng tiến độ kế hoạch sản xuất chung và yêu cầu từ khách hàng.
Số lượng: 200 tấn = 4000 bao (mỗi bao 50kg)
Chất lượng: Chất lượng cuối cùng tại nhà máy của người mua
- Không có mùi ẩm mốc, mùi thuốc trừ sâu và các mùi lạ khác
- Không có hóa chất Agonist, Melamine.
Thời gian hoàn thành: 15 ngày Đại diện đơn vị thực hiện Phó giám đốc điều hành sản xuất
(Ký, họ tên) (Ký, họ tên)
Khi nhận lệnh sản xuất từ phó giám đốc điều hành, quản đốc phân xưởng lập kế hoạch xuất thóc để đáp ứng nhu cầu đơn hàng Mỗi lần xuất thóc, quản đốc yêu cầu kế toán lập phiếu xuất kho, được viết bằng giấy than thành 3 liên.
- Liên 2: Chuyển cho thủ kho ghi thẻ kho sau đó giao lại cho kế toán để lưu tại phòng tài chính kế toán.
- Liên 3: Giao cho người nhận thóc ( Biểu đồ 1.3 và biểu đồ 1.4)
Kế toán kho sử dụng phiếu xuất và thẻ kho để theo dõi việc xuất thóc nguyên liệu Cuối tháng, kế toán lập Bảng tổng hợp xuất thóc để dễ dàng theo dõi Vì giá thóc biến động và công ty nhập thóc từ nhiều nguồn với giá và thời điểm khác nhau, đơn giá thóc cũng không đồng nhất Do đó, giá thóc xuất kho được tính theo phương pháp bình quân, trong đó kế toán sẽ tính đơn giá thực tế bình quân mỗi lần xuất thóc đem xay.
Dựa vào bảng kê mua thóc kế toán sẽ biết được đơn giá nhập của từng ngày của từng loại thóc để từ đó xác định ra giá xuất.
Ví dụ: Trong tháng 9 Thóc Xi được nhập mua 6 lần với số lượng và đơn giá như sau:
Lần 1: 25.000 kg đơn giá 5.780 đồng/kg
Lần 2: 42.000 kg đơn giá 5.850 đồng/kg
Lần 3: 38.000 kg đơn giá 5.850 đồng/kg
Lần 4: 50.000 kg đơn giá 5.780 đồng/kg
Lần 5: 46.000 kg đơn giá 5.780 đồng/kg
Lần 6 : 34.000 kg đơn giá 5.800 đồng/kg
Thì giá bình quân đem xuất sẽ được tính = (25.000 * 5.780 + 42.000 * Đơn giá thực tế bình quân thóc xuất
Giá trị thóc i tồn đầu kỳ
Giá trị thóc i nhập thêm
Số lượng thóc i tồn đầu kỳ + Số lượng thóc i nhập thêm
Giá trị thóc i xuất dùng = Số lượng thóc i thực xuất x Đơn giá thực tế bình quân thóc xuất
5.850 + 38.000 *5.850 + 50.000 * 5.780 + 46.000 * 5.780 + 34.000 * 5.800)/ (25.000 + 42.000 + 38.000 + 50.000 +46.000 +34.000) = 5.806 đồng/kg Được thể hiện ở dưới các biểu đồ sau:
Biều số: 1.5 : Bảng kê mua thóc
Biểu số : 1.6: bảng tổng hợp xuất thóc
Biểu số : 1.7: sổ chi tiết cho phí nguyên vật liệu trực tiếp
Biểu số : 1.8 : Sổ cái tài khoản
3.2 Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
Nội dung chi phí nhân công trực tiếp
Theo bảng đơn giá tiền lương, gạo xi có đơn giá cao nhất do phải trải qua ba giai đoạn chế biến Ngược lại, gạo Q5 lật có đơn giá thấp nhất vì thường chỉ cần tách trấu, phục vụ chủ yếu cho chăn nuôi và nấu rượu Nếu gạo Q5 được sử dụng để ăn, nó cần trải qua các giai đoạn trà xát và lọc tấm Hiện tại, công ty chủ yếu sản xuất gạo Q5 lật cho mục đích chăn nuôi và nấu rượu.
+ Các khoản trích theo lương: Theo quy định hiện hành hàng tháng công ty phải tiến hành trích lập quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN theo tỷ lệ quy đinh:
- BHXH: Trích 22% trên tiền lương cơ bản( 6% người lao động chịu)
- BHYT: Trích 4.5% trên tiền lương cơ bản( 1.5% người lao động chịu)
- KPCĐ: Trích 2% trên tiền lương cơ bản
Tính giá thành sản phẩm tại công ty
Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là hai bước quan trọng trong tổ chức hạch toán quá trình sản xuất, nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý, kiểm tra và phân tích chi phí Tại Công ty Cổ phần sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu Lam Sơn – Thái Bình, quy trình tính giá thành sản phẩm có những đặc điểm riêng biệt, phản ánh sự phù hợp với đặc thù công nghệ và yêu cầu hạch toán kinh doanh nội bộ.
4.1 Đối tượng tính giá thành và kỳ tính giá thành tại Công ty
Đối tượng tính giá thành
Sự khác biệt giữa giới hạn tập hợp chi phí và sản phẩm hoàn thành yêu cầu phân định rõ đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành Tại Công ty, không có sản phẩm dở dang, do đó đối tượng tính giá thành được xác định là các thành phẩm như gạo Q5, gạo V10 và gạo Xi.
Đơn vị tính giá thành
Các sản phẩm chế biến từ gạo có dạng rắn, dễ dàng để cân và đóng bao, do đó đơn vị tính giá thành của thành phẩm là đồng/kg.
Công ty đã lựa chọn tính giá thành sản phẩm theo tháng do quy trình chế biến gạo đơn giản, không có sản phẩm dở dang, có chu kỳ ngắn và khép kín.
4.2 Phương pháp tính giá thành sản phẩm
Do đặc điểm của gạo trong chế biến không tạo ra sản phẩm dở dang, nhưng lại sinh ra nhiều phụ phẩm như trấu, cám và tấm, nên giá thành sản phẩm gạo cần được điều chỉnh để loại trừ giá trị của các phụ phẩm thu hồi.
Giá thành gạo thành phẩm trong kỳ được xác định bằng số dư bên Nợ của các tài khoản 154 trừ đi giá trị phụ phẩm như trấu và cám tấm theo giá thị trường Kết hợp với số phát sinh bên Nợ về số lượng trên sổ chi tiết vật tư, kế toán chi phí sản xuất sẽ tính toán số lượng thành phẩm sản xuất và giá thành đơn vị thông qua thẻ tính giá thành đơn vị sản phẩm.
Tổng cpsx sản phẩm i phát sinh trong kỳ = CP NVLTT sản phẩm i+ CP NCTT sản phẩm i +
CP SXC phân bổ cho sản phẩm i
Giá thành gạo thành phẩm = Tổng cpsx phát sinh trong kỳ
Giá trị phụ phẩm thu hồi
Tổng giá thành sx sản phẩm i
Giá thành đơn vị sản phẩm i =
Sản lượng sản phẩm i hoàn thành trong kỳ
CÔNG TY CỔ PHẦN SXKD XNK LAM SƠN
Cụm CN Đông La – Đông Hưng – Thái Bình
THẺ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
Tên sản phẩm: Gạo xi Tháng 10 năm 2011
NCTT CP SXC Tổng chi phí PS
Thái Bình, ngày 31 tháng 10 năm 2011
KẾ TOÁN TRƯỞNG NGƯỜI LẬP THẺ
MỘT SỐ Ý KIẾN GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT
Ưu điểm
Trước khi trình bày những lợi ích trong việc hạch toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại công ty, tôi xin đưa ra một số nhận xét về hoạt động kế toán tổng thể của công ty.
Công ty đã thiết lập một bộ máy kế toán hiệu quả và gọn nhẹ, trong đó mỗi nhân viên kế toán đảm nhận trách nhiệm cho từng mảng công việc riêng biệt.
Việc hạch toán chi tiết và rõ ràng, cùng với các chứng từ được lập đầy đủ theo mẫu của Bộ Tài chính, là rất quan trọng Các chứng từ này cần được sắp xếp và đóng lại thành tập theo từng nội dung, giúp thuận lợi cho quá trình kiểm tra và đối chiếu.
Thứ ba, mặc dù hàng tồn kho trong công ty có nhiều loại khác nhau nhưng được sắp xếp riêng từng kho
Thứ tư, hàng tồn kho được hạch toán theo phương pháp kê khai thường xuyên.
Vào thứ năm, công ty quyết định sử dụng hình thức ghi sổ kế toán “Nhật Ký Chung”, điều này hoàn toàn phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh cũng như cấu trúc bộ máy kế toán của công ty.
Vào thứ sáu, hình thức trả lương được phân chia thành hai loại: nhân viên các phòng ban nhận lương theo thời gian, trong khi công nhân tại các phân xưởng chế biến làm việc theo ca sản xuất và được trả lương dựa trên số lượng gạo đầu ra.
Có thể nói, những ưu điểm trong chính sách kế toán chung đã tạo nền tảng vững chắc cho công tác hạch toán kế toán tại Công ty
Trong đó, công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm cũng có nhiều ưu điểm, đó là:
Để đảm bảo tính chính xác trong hạch toán hàng tồn kho, Công ty đã lựa chọn phương pháp tính giá bình quân sau mỗi lần nhập nhằm tính giá nguyên vật liệu xuất sử dụng Phương pháp này giúp kế toán cập nhật giá nguyên vật liệu theo biến động của thị trường, từ đó cải thiện độ chính xác trong hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
Chính sách quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Công ty đang sử dụng phương pháp kê khai thường xuyên để quản lý hàng tồn kho, giúp theo dõi kịp thời tình hình nhập, xuất và tồn kho của tất cả các loại vật tư và thành phẩm.
Một số tồn tại
Mặc dù có nhiều ưu điểm, công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty vẫn gặp phải một số hạn chế cần được chú ý và khắc phục.
Tồn tại 1: Lựa chọn kỳ tính giá thành theo tháng là chưa hợp lý
Tại Công ty đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là các sản phẩm gạo.
Do tính chất đặc thù của sản phẩm gạo, giá cả thường xuyên thay đổi theo từng thời điểm, do đó việc tính giá thành theo tháng có thể không chính xác.
Tồn tại 2: Về hệ thống tài khoản
Các tài khoản chi phí sản xuất bao gồm CPNVLTT (TK621), CPNCTT (TK622), CPSXC (TK627) và CPSXKDD (TK154) Việc sử dụng các tài khoản này có thể gây khó khăn cho công ty trong việc áp dụng kế toán máy sau này.
Tồn tại 3: Về việc hạch toán chi phí sữa chữa lớn TSCĐ
Do tính thời vụ của sản phẩm gạo, công ty thường nhận nhiều đơn đặt hàng trong mùa vụ và dịp Tết, dẫn đến sản xuất tăng cao Trong thời gian còn lại, công ty tập trung vào bảo dưỡng và sửa chữa máy móc thiết bị Tuy nhiên, kế toán không trích trước chi phí sửa chữa lớn vào chi phí sản xuất chung, khiến chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tăng đột biến khi phát sinh thực tế Ngoài vụ sản xuất, chi phí này lại được hạch toán vào chi phí bán hàng, cho thấy kế toán đã hạch toán sai bản chất nghiệp vụ kinh tế.
Tồn tại 4 :Chính sách quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm còn thiếu và chưa thực sự chặt chẽ
Tháng 6 vừa qua đã xảy ra hiện tượng chấm công khống tại phân xưởng chế biến quản đốc phân xưởng đã chấm công cho công nhân vào cả ngày nghỉ Điều đó cho thấy việc quản lý chi phí nhân công trực tiếp nói riêng và chi phí sản xuất nói chung còn chưa chặt chẽ, không chỉ làm sai lệch chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm mà còn ảnh hưởng tới lợi nhuận cũng như hiệu quả hoạt động của Công ty.
Công ty chưa áp dụng hệ thống kế toán máy, vẫn sử dụng phương pháp hạch toán thủ công, dẫn đến khối lượng công việc lớn Việc này làm cho việc giám sát chi phí phát sinh không được chặt chẽ và chi tiết, từ đó gây ra sự chậm trễ trong việc tính giá thành sản phẩm.
Một số ý kiến góp phần nâng cao chất lượng công tác kế toántập hợp
Khi hạch toán các loại chi phí, hệ thống tài khoản sử dụng đóng vai trò quan trọng Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được ghi nhận vào tài khoản 621, trong khi chi phí nhân công trực tiếp được phản ánh qua tài khoản tương ứng.
622, chi phí sản xuất chung TK 627 công ty nên mã hóa các tài khoản đó như là
TK 6211: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp sản phẩm gạo Q5
TK 6212: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp gạo V10
TK 6213: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp gạo Xi
Việc hạch toán nhanh gọn sẽ trở nên dễ dàng hơn khi sử dụng các tài khoản như TK 622, TK 627 và TK 154 Những tài khoản này không chỉ dễ quản lý mà còn tạo nền tảng thuận lợi cho việc áp dụng kế toán máy trong tương lai.
Thứ hai, Về việc sắp xếp bố trí lại phòng kế toán
Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là nhiệm vụ quan trọng nhưng phức tạp, đòi hỏi trình độ chuyên môn cao của kế toán viên Tại công ty cổ phần sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu Lam Sơn – Thái Bình, khối lượng công việc này rất lớn, nhưng chỉ có một kế toán đảm nhiệm, đồng thời kiêm cả kế toán tổng hợp Điều này dẫn đến việc ghi chép chứng từ và hạch toán không kịp thời, gây gián đoạn trong công việc Hơn nữa, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, công tác kế toán cũng gặp phải sự chậm trễ và sai sót Trong khi đó, bộ phận kế toán nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ lại không có nhiều việc làm Do đó, việc phân công công việc trong phòng kế toán cần được xem xét lại; công ty nên bổ sung thêm nhân viên hoặc điều chỉnh phân công để đảm bảo tính hợp lý và hiệu quả trong công việc.
Thứ ba, Về áp dụng kế toán máy
Sự phát triển của công nghệ thông tin đã dẫn đến sự hoàn thiện của các phần mềm kế toán, mang lại hiệu quả lớn cho công tác hạch toán trong doanh nghiệp Những phần mềm này không chỉ giảm bớt gánh nặng trong việc tính toán mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc cung cấp thông tin một cách nhanh chóng và chính xác.
Công ty hiện có một số máy vi tính và thiết bị phục vụ cho công tác quản lý và kế toán, nhưng việc ứng dụng máy vi tính trong kế toán còn hạn chế Để đảm bảo tính đầy đủ trong công tác chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, Công ty nên sử dụng phần mềm kế toán hoàn chỉnh, giúp kế toán viên thực hiện công việc trên máy vi tính một cách hiệu quả Việc này sẽ phát huy tác dụng của kế toán máy, tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra kế toán và cung cấp thông tin kịp thời, chính xác cho nhà quản lý, từ đó giúp tiết kiệm chi phí sản xuất và giảm giá thành sản phẩm Đồng thời, kế toán vẫn cần duy trì công tác kế toán thủ công để lập các sổ sách quản lý và lưu trữ theo quy định.
- Biện pháp thực hiện của Công ty:
Tổ chức việc đào tạo nâng cao trình độ của nhân viên trong công tác kế toán, tin học, và công tác quản trị
Xây dựng hệ thống sổ kế toán theo đúng chế độ
Tổ chức thực hiện công tác kế toán trên máy
Công ty nên áp dụng phương pháp tính giá thành theo lô sản phẩm thay vì hạch toán theo tháng Hạch toán theo lô có nghĩa là tính giá thành ngay khi có đơn đặt hàng từ khách hàng, giúp phản ánh chính xác giá trị sản phẩm gạo, vốn có sự biến động liên tục theo thời gian Việc này sẽ đảm bảo tính chính xác trong việc xác định giá thành, thay vì tập hợp và tính toán vào cuối tháng như hiện tại.
Để nâng cao hiệu quả quản lý chi phí sản xuất, Công ty cần thiết lập các quy định chặt chẽ hơn Ban lãnh đạo nên thường xuyên kiểm tra thực tế làm việc của công nhân tại phân xưởng và giao nhiệm vụ cho phòng Bảo vệ theo dõi tình hình ra vào của nhân viên trong giờ làm việc Đồng thời, việc tiến hành kiểm kê đột xuất kho vật tư, sản phẩm và hàng hóa sẽ giúp phát hiện và ngăn chặn kịp thời các sai phạm.
Ban lãnh đạo Công ty nên phát động phong trào thi đua tiết kiệm hàng tháng, đặc biệt tại các xưởng sản xuất, bên cạnh việc thắt chặt kỷ luật Chế độ khen thưởng sẽ tập trung vào tập thể, và mặc dù thu nhập của công nhân còn thấp, nhưng mức thưởng không cần quá cao vẫn có thể khích lệ tinh thần làm việc và nâng cao ý thức tự giác của người lao động.