1.Khái niệm về diễn ngôn và phân tích diễn ngôn: 1.1 Khái niệm về diễn ngôn: Một số khái niệm về diễn ngôn đã được các nhà nghiên cứu đưa ra như: “Diễn ngôn là hiện tượng đứng ở hàng trung gian giữa lời nói, giao tiếp, hành vi ngôn ngữ, ở phía này, và văn bản được định hình còn lưu lại trong “mẩu khô khốc” của giao tiếp, ở phía kia”. (Vladimir Karasik) “Diễn ngôn là hoạt động diễn đạt bằng lời nói biểu nghĩa được hiểu như tổng thể của quá trình và kết quả, nó có bình diện ngôn ngữ học thuần tuý, và cả những bình diện ngoài ngôn ngữ học”. (Victoria Krasnyk) Diễn ngôn là sự kiện giao tiếp diễn ra giữa người nói và người nghe (người quan sát…) trong tiến trình hoạt động giao tiếp ở một ngữ cảnh thời gian, không gian, hay những ngữ cảnh khác nào đó. Hoạt động giao tiếp này có thể bằng lời nói, bằng văn viết, những bộ phận hợp thành của nó có thể bằng lời và không lời”. ( Teun Adrianus Van Dijk) Chúng ta thấy rằng có rất nhiều thuật ngữ về diễn ngôn. Tuy nhiên chúng tôi cho rằng một trong những nhận định đó thì nhận định của Patrick Sériot là đầy đủ và đáng lưu tâm nhất: “Thuật ngữ diễn ngôn có vô số ứng dụng. Chí ít, nó có những nét nghĩa như sau: 1 Là cái tương đương với khái niệm “lời nói” theo cách hiểu của Saussure, tức là mọi phát ngôn cụ thể; 2 Là đơn vị lớn hơn câu văn về kích thước, là phát ngôn trong ý nghĩa toàn cầu, là cái được xem là đối tượng của “ngữ pháp văn bản”, loại ngữ pháp nghiên cứu trình tự của các phát ngôn riêng lẻ; 3 Trong khuôn khổ lí thuyết phát ngôn và ngữ dụng, “người ta gọi diễn ngôn là tác động của phát ngôn tới người tiếp nhận và sự chuyển nhập của nó vào “tình huống phát ngôn” (ý muốn nói tới chủ thể phát ngôn, đến người nhận, thời điểm và vị trí nào đó của phát ngôn); 4 Khi chuyên biệt hoá ý nghĩa thứ 3, diễn ngôn có nghĩa là hội thoại được xem là loại hình cơ bản của phát ngôn; 5 Émile Benveniste gọi “diễn ngôn” là lời nói thuộc về người nói, lời nói trái ngược với “trần thuật” như là hoạt động được triển khai không có sự can thiệp rõ ràng của chủ thể phát ngôn; 6 Đôi khi người ta đối lập ngôn ngữ với diễn ngôn (languediscourse) như là hệ thống ít giá trị hàm ẩn nổi bật, bên này, và sự cải biến trên cấp độ bề mặt gắn với sự đa dạng trong sử dụng vốn là đặc tính của các đơn vị ngôn ngữ, ở bên kia. Cho nên, có sự khác biệt giữa việc nghiên cứu một yếu tố “trong ngôn ngữ” và nghiên cứu nó “trong lời nói” như là trong diễn ngôn. 7 Thuật ngữ diễn ngôn còn được sử dụng để chỉ hệ thống giới hạn được áp đặt lên một số lượng không hạn định các phát ngôn từ quan điểm tư tưởng hệ hay xã hội nào đó. Chẳng hạn, nếu lời nói nói về “diễn ngôn nữ quyền”, hoặc “diễn ngôn hành chính”, nó sẽ không phải là toà nhà đơn lẻ, mà được xem là một loại hình phát ngôn nào đó thuộc về các nhà nữ quyền luận và hoạt động hành chính nói chung. 8 Theo truyền thống, Phân tích – Diễn ngôn xác định đối tượng nghiên cứu của mình bằng cách xác định ranh giới giữa phát ngôn và diễn ngôn. Phát ngôn là chuỗi câu văn đặt giữa hai khoảng trống ngữ nghĩa, giữa hai chỗ dừng trong giao tiếp; diễn ngôn là phát ngôn được nhìn từ cơ chế diễn ngôn điều hành nó.
Trang 1Chương 1: Cơ sở lí thuyết
1.Khái niệm về diễn ngôn và phân tích diễn ngôn:
1.1 Khái niệm về diễn ngôn:
Một số khái niệm về diễn ngôn đã được các nhà nghiên cứu đưa ra như:
“Diễn ngôn là hiện tượng đứng ở hàng trung gian giữa lời nói, giao tiếp, hành vi ngôn ngữ, ở phía này, và văn bản được định hình còn lưu lại trong “mẩu khô khốc” của giao tiếp, ở phía kia”.
(Vladimir Karasik)
“Diễn ngôn là hoạt động diễn đạt bằng lời nói biểu nghĩa được hiểu như tổng thể của quá trình và kết quả, nó có bình diện ngôn ngữ học thuần tuý, và cả những bình diện ngoài ngôn ngữ học”.
(Victoria Krasnyk)
Diễn ngôn là sự kiện giao tiếp diễn ra giữa người nói và người nghe (người quan sát…) trong tiến trình hoạt động giao tiếp ở một ngữ cảnh thời gian, không gian, hay những ngữ cảnh khác nào đó Hoạt động giao tiếp này có thể bằng lời nói, bằng văn viết, những bộ phận hợp thành của nó có thể bằng lời và không lời”.
( Teun Adrianus Van Dijk)
Chúng ta thấy rằng có rất nhiều thuật ngữ về diễn ngôn Tuy nhiên chúng tôi cho rằng một trong những nhận định đó thì nhận định của Patrick Sériot là đầy đủ và đáng lưu tâm nhất:
“Thuật ngữ diễn ngôn có vô số ứng dụng Chí ít, nó có những nét nghĩa như sau: 1* Là cái tương đương với khái niệm “lời nói” theo cách hiểu của Saussure, tức là mọi phát ngôn cụ thể;
Trang 22* Là đơn vị lớn hơn câu văn về kích thước, là phát ngôn trong ý nghĩa toàn cầu,
là cái được xem là đối tượng của “ngữ pháp văn bản”, loại ngữ pháp nghiên cứu trình tự của các phát ngôn riêng lẻ;
3* Trong khuôn khổ lí thuyết phát ngôn và ngữ dụng, “người ta gọi diễn ngôn là tác động của phát ngôn tới người tiếp nhận và sự chuyển nhập của nó vào “tình huống phát ngôn” (ý muốn nói tới chủ thể phát ngôn, đến người nhận, thời điểm
và vị trí nào đó của phát ngôn);
4* Khi chuyên biệt hoá ý nghĩa thứ 3, diễn ngôn có nghĩa là hội thoại được xem là loại hình cơ bản của phát ngôn;
5* Émile Benveniste gọi “diễn ngôn” là lời nói thuộc về người nói, lời nói trái ngược với “trần thuật” như là hoạt động được triển khai không có sự can thiệp rõ ràng của chủ thể phát ngôn;
6* Đôi khi người ta đối lập ngôn ngữ với diễn ngôn (langue/discourse) như là hệ thống ít giá trị hàm ẩn nổi bật, bên này, và sự cải biến trên cấp độ bề mặt gắn với
sự đa dạng trong sử dụng vốn là đặc tính của các đơn vị ngôn ngữ, ở bên kia Cho nên, có sự khác biệt giữa việc nghiên cứu một yếu tố “trong ngôn ngữ” và nghiên cứu nó “trong lời nói” như là trong diễn ngôn.
7* Thuật ngữ diễn ngôn còn được sử dụng để chỉ hệ thống giới hạn được áp đặt lên một số lượng không hạn định các phát ngôn từ quan điểm tư tưởng hệ hay xã hội nào đó Chẳng hạn, nếu lời nói nói về “diễn ngôn nữ quyền”, hoặc “diễn ngôn hành chính”, nó sẽ không phải là toà nhà đơn lẻ, mà được xem là một loại hình phát ngôn nào đó thuộc về các nhà nữ quyền luận và hoạt động hành chính nói chung.
Trang 38* Theo truyền thống, Phân tích – Diễn ngôn xác định đối tượng nghiên cứu của mình bằng cách xác định ranh giới giữa phát ngôn và diễn ngôn.
Phát ngôn là chuỗi câu văn đặt giữa hai khoảng trống ngữ nghĩa, giữa hai chỗ dừng trong giao tiếp; diễn ngôn là phát ngôn được nhìn từ cơ chế diễn ngôn điều hành nó.
( Patrick Sériot)
1.2 Khái niệm về phân tích diễn ngôn:
Theo cuốn “Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản”, Diệp Quang Ban đã đưa rahai ý kiến về hai khái niệm của phân tích diễn ngôn như sau:
“ Trong cách hiểu ngắn gọn nhất ( không phải dễ hiểu nhất), PTDN là “ một cách tiếp cận phương pháp luận đối với việc phân tích ngôn ngữ bên trên bậc câu, gồm các tiêu chuẩn (criteria) như tính kết nối (connectivity), hiện tượng hồi chiếu (anaphora),…v…v”
Hiểu một cách cụ thể hơn thì PTDN là đường hướng tiếp cận tài liệu ngôn ngữ nói và viết bậc trên câu ( diễn ngôn/ văn bản) từ tính đa diện hiện thực của nó, bao gồm các mặt ngôn từ và ngữ cảnh tình huống, với các mặt hữu quan thể hiện trong khái niệm ngôn vực (register) mà nội dung hết sức phong phú và
đa dạng ( gồm các hiện tượng thuộc thể loại và phong cách chức năng, phong cách cá nhân, cho đến cách hiện tượng xã hội, văn hóa, dân tộc).
Dựa vào hai khái niệm đó ta đã hiểu được phần nào về phân tích diễn ngôn Đặcbiệt ở khái niệm thức hai co nội hàm rõ rệt, tiện dụng khi chưa đựng ba yếu tố quantrọng là đối tượng khảo sát ( tài liệu ngôn ngữ nói và viết bậc trên câu ( diễn ngônhay văn bản), đối tượng nghiên cứu (tính đa diện hiện thực của tại liệu ngôn ngữđó) và phương pháp tiếp cận là phân tích (phân tích ngôn ngữ trong sử dụng)
Trang 42 Lí thuyết hội thoại:
2.1.Khái niệm:
Theo GS.TS Đỗ Hữu Châu trong “ Đại cương Ngôn ngữ học” Hội thoại làhình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ
sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác
Đầu tiên, hội thoại được xã hội học, xã hội ngôn ngữ học, dân tộc ngôn ngữhọc Mĩ nghiên cứu Từ năm 1970 nó là đối tượng chính thức của một phân ngànhngôn ngữ học Mĩ, phân ngành phân tích hội thoại Sau đó phân tích hội thoại đượctiếp nhận ở Anh với tên gọi phân tích diễn ngôn (discourse analysis), ở Pháp(khoảng 1980) và ở các nước thuộc cựu thuộc địa Cho đến nay thì ngôn ngữ họccủa hầu hết các quốc gia trên thế giới đều bàn đến với hội thoại
Các cuộc hội thoại khác nhau ở:
- Thứ nhất, đặc điểm của thoại trường (không gian, thời gian) ở đó diễn racuộc hội thoại Thoại trường hội thoại có thể là công cộng (mít tinh, hộinghị, hội thảo, mua bán trong cửa hiệu, ngoài chợ, trong tiệm ăn, quán giảikhát, vũ trường…) hay riêng tư (trong phòng khách giữa chủ và khách, trongphòng ngủ giữa vợ và chồng…)
- Thứ hai, ở số lượng người tham gia Số lượng nhân vật hội thoại – còn gọi làđối tác hội thoại hay đối tác – thay đổi từ hai đến một số lượng lớn.Cónhững cuộc hội thoại tay đôi, tay ba, tay tư hoặc nhiều hơn nữa Những cuộchội thoại như một cuộc hội nghị, một giờ học, một cuộc mít tinh v v thì sốlượng nhân vật không thể cố định được
Trang 5- Thứ ba, cương vị và tư cách của những người tham gia hội thoại Sự thực,tiêu chí số lượng có quan hệ với tiêu chí cương vị và tư cách người tham gia.
Tư cách của người hội thoại rất khác nhau tùy theo các cuộc hội thoại:
+ Tính chủ động hay thụ động của đối tác Trong hội thoại có vai nói và vainghe Cuộc hội thoại chủ động là hội thoại trong đó cả hai vai đều có quyềnchủ động tham dự vào cuộc hội thoại như nhau theo nguyên tắc anh nói tôinghe, tôi nói anh nghe Cuộc hội thoại thụ động là cuộc hội thoại trong đómột người giữ cương vị vai nói, còn người kia chỉ nghe, không tham gia vàohội thoại hoặc có tham gia thì cũng rất là hạn chế
+ Sự có mặt hay vắng mặt của vai nghe trong hội thoại Ví dụ như phátthanh, truyền hình là hình thức hội thoại mà người nghe vắng mặt Tròchuyện tay đôi, tay ba, tay tư hay các cuộc hội họp, mít tinh là những cuộchội thoại trong đó người nghe có mặt
- Thứ tư là các cuộc hội thoại khác nhau ở tính có đích hay không có đích.Những cuộc hội thoại như thương thuyết ngoại giao, hội thảo khoa học cóđích được xác định rõ ràng Những cuộc tán gẫu được xem là không cóđích.Nói đến đích của hội thoại cũng là nói đến đặc tính nội dung của hộithoại: Có những cuộc hội thoại ngẫu hứng tự do và những cuộc hội thoại cónội dung nghiêm túc và những cuộc hội thoại nói về những chuyên “tàolao”, có những cuộc hội thoại nói về nỗi niềm riêng tư và những cuộc thoạibàn về những vấn đề chung của một đơn vị, một xã hội, một quốc gia
- Thứ năm, các cuộc hội thoại có thể khác nhau về tính hình thức hay không
có hình thức Những cuộc thương nghị, hội thảo v v là những cuộc hội thảo
có hình thức tổ chức khá chặt chẽ, trang trọng đến mức thành nghi lễ cònnhững chuyện trò đời thường không cần một hình thức tổ chức nào cả
2.2 Vận động hội thoại
Trong bất kì cuộc hội thoại nào cũng có ba vận động chủ yếu: trao lời, trao đáp và tương tác.
Trang 6Xét Vd: Truyên cười “Đùa dai”
Một sinh viên năm thứ nhất vào thăm bác ở Hà Nội đúng lúc Bác đang ăn cơm
- Cháu chào bác ạ
- À, cháu đấy à? Ăn cơm chưa?
- Dạ cháu chưa ăn ạ
- Cháu cứ đùa, bác là bác hỏi thật đấy
- Dạ cháu chưa ăn thật ạ
- Thằng này, chỉ được cái đùa dai Thế ăn thật chưa?
- Dạ cháu chưa ăn thật mà
- Ừm…bác có lòng thành hỏi thật mà mày cứ đùa với bác hoài Bác hỏi lạilần nữa nhé: ăn thật hay chưa nào?
- Dạ cháu ăn rồi ạ
- Ừ có thế chứ, phải thật thà vậy chứ
2.2.1 Sự trao lời
Sự trao lời là vận động mà người nói 1 nói lượt lời của mình ra và hướnglượt lời của mình về phía người nói 2 nhằm làm cho người nói 2 nhận biết đượcrằng lượt lời được nói ra đó là dành cho người nói 2
Trang 7muốn ) Không có sự khác biệt này thì giao tiếp thành thừa Trong hội thoại và quahội thoại những khác biệt này giảm đi hoặc mở rộng ra, căng lên có khi thành xungđột.
Trong hội thoại, nhân vật hội thoại cũng là nhân vật liên tương tác Họ
tác động lẫn nhau trên mọi phương diện, đối với ngữ dụng học quan trọng nhất làtác động đến lời nói( và ngôn ngữ) của nhau Liên tương tác trong hội thoại trướchết là liên tương tác giữa các lượt lời của người nói 1 và 2… Như thế, lượt lời vừa
là cái chịu tác động vừa là phương tiện mà người nói 1 và 2 sử dụng để gây ra tácđộng với lời nói và qua lời nói mà tác động đến tâm lí, sinh lí, vật lí của nhau
Hội thoại có thể ở hai cực: điều hòa, nhịp nhàng hoặc hỗn độn, vướng mắc
và tiêu biểu là những cuộc cãi lộn Như vậy có nghĩa là trong các cuộc đối thoạiđều phải có sự hòa phối các hoạt động của đối tác về mọi mặt, trước hết là hòa phốicác lượt lời
Ví dụ:
- Cháu chào bác ạ
- À, cháu đấy à? Ăn cơm chưa?
- Dạ cháu chưa ăn ạ
- Cháu cứ đùa, bác là bác hỏi thật đấy
- Dạ cháu chưa ăn thật ạ
- Thằng này, chỉ được cái đùa dai Thế ăn thật chưa?
- Dạ cháu chưa ăn thật mà
- Ừm…bác có lòng thành hỏi thật mà mày cứ đùa với bác hoài Bác hỏi lại lần nữanhé: ăn thật hay chưa nào?
- Dạ cháu ăn rồi ạ
- Ừ có thế chứ, phải thật thà vậy chứ
2.2.3.1 Các tín hiệu điều hành vận động trao đáp:
Trang 8Không phải hai người cứ thay nhau nói là thành một cuộc hội thoại Trongquá trình nói họ phải có ý thức “dấn thân” vào cuộc hội thoại, có ý thức và tráchnhiệm khởi động và duy trì chính cuộc hội thoại đó.
Người nói để đảm bảo rằng mình đang được nghe, được đảm bảo rằng ngườinghe đang chú ý tới lời nói của mình Muốn được đảm bảo chắc như thế, người nóiphải sử dụng hàng loạt những tín hiệu để gây sự chú ý, kiểm tra sự chú ý của ngườinghe và nhắc nhở người này chú ý vào những điều mình đang nói Những tín hiệu
đó được gọi là tín hiệu đưa đẩy
Khi có những tín hiệu đưa đẩy thì sẽ có những tín hiệu phản hồi Ví dụ nhưcác tín hiệu phản hồi phi lời: gật đầu, lắc đầu, gật gù, nhìn chăm chăm vào ngườinói, chau mày…hoặc tín hiệu kèm lời như: ừ…à vậy à,ghê thế, rồi sao nữa
Các tín hiệu đưa đẩy và phản hồi không tách rời, trái lại chúng phối lợp vớinhau chặt chẽ: một tín hiệu đưa đẩy thì sẽ nhận lại ngay một tín hiệu phản hồi phùhợp
VD: Truyện cười “ Đừng nói nữa tao thèm”
Trên dương thế , có một con lợn bị giết thịt Hồn nó về kêu với DiêmVương Diêm Vương hỏi:
- Nỗi oan nhà ngươi như thế nào? Hãy nói rõ đầu đuôi nghe!
- Dạ! Họ bắt tôi làm thịt!
- Được rồi, hãy khai rõ ràng Họ làm thịt như thế nào?
- Dạ , trước hết họ trói tôi lại, đè ra chọc tiết Xong họ đổ nước sôi lên mìnhtôi, cạo lông
- Rồi sao nữa!
- Cạo sạch rồi họ mổ ra, thịt tôi xé thành từng mảng, chặt nhỏ bỏ vào rổ Thếrồi… họ bắc chảo đổ mỡ vào, phi hành cho thơm, thêm mắm thêm muối,xào lên,…
- Thôi! Thôi…đừng nói nữa mà tao thèm
2.3 Các yếu tố kèm lời và phi lời:
Trang 9Trong những cuộc đối thoại, ngoài những yếu tố ngôn ngữ, ngôn ngữ ở đây đượchiểu hẹp bao gồm các đơn vị từ vựng và các đơn vị cú pháp, chúng ta còn sử dụngnhững yếu tố kèm lười và phi lời.
Yếu tố kèm lời là các yếu tố mặc dầu không có đoạn tính như âm vị và âm tiếtnhưng đi kèm với các yếu tố đoạn tính Không một yếu tố đoạn tính nào được phát
âm ra mà không có yếu tố kèm lời đi theo Được kể vào những yếu tố kèm lời lànhững yếu tố như ngữ điệu, trọng âm, cường độ, độ dài
Yếu tố phi lời là những yếu tố không phải là những yếu tố kèm lười được dùngtrong đối thoại mặt đối mặt Thuộc yếu tố phi lời là: cử chỉ, khoảng không gian,tiếp xúc cơ thể, tư thế cơ thể và định hướng cơ thể, vẻ mặt, ánh mắt Cũng đượctính là là tín hiệu phi lời là những tín hiệu âm thanh như tiếng gõ, tiếng kéo bàn, xôghế, tiếng huýt sao, tiếng còi… Các yếu tố phi lời đóng vai trò nhất định trong việc
lí giải nghĩa của lời nói.Chúng ta biết rằng nghĩa trực tiếp, theo câu chữ của phátngôn là do lười diễn đạt Nhưng nhiều khi chính các yếu tố phi lời mới giúp chúng
ta hiểu đúng lười của nhau, thí dụ qua ánh mắt, nụ cười khẩy mà chúng ta biết mộtlời khen thực ra lại là một câu nói mỉa…
2.4 Các quy tắc hội thoại
Hội thoại diễn tiến theo những quy tắc nhất định Nhận đinh này có vẻ trái ngượcvới cái vẻ bề ngoài tưởng chừng như “vô chính phủ” hoàn toàn tùy tiện của cáccuộc đối thoại đời thường Những câu nói đối thoại thường ngày như “để tớ nói đã,đừng chen ngang, đừng nói leo, đừng ngắt lời tớ…”chứng tỏ rằng quy tắc hội thoại
là có thực, đồng thời cũng chứng tỏ các quy tắc đó đã được chúng ta “thuộc nằmlòng” dù không tự giác và chúng ta đều có khả năng nhận biết được khi nào, ở chỗnào quy tắc nào bị vi phạm do đó mới yêu cầu được kẻ” phạm luật” sửa chữa lại lỗihội thoại của mình
Trang 10Cái nguyên lí chi phối các quy tắc hội thoại là nguyên lí cộng tác bởi vì chúng ta
đã nói nhiều lần hội thoại là một hoạt động xã hội Từ các nguyên lí chung này màcác quy tắc hội thoại ràng buộc các đối tác hội thoại trong một hệ thống nhữngquyên lợi và trách nhiệm Các quy tắc hội thoại có những tính chất sau:
- Các quy tắc hội thoại có bản chất hết sức đa dạng
- Có những quy tắc tổ chức hội thoại và quy tắc chuẩn tắc Trong hội thoạiquy tắc tổ chức điều hành tổ chức các đơn vị hội thoại Quy tắc chuẩn tắc chiphối việc nói năng thế nào cho đạt được đích của mình
- Có những quy tắc hội thoại chung cho mọi cuộc hội thoại nhưng có nhữngquy tắc riêng cho mỗi loại hình, cho mỗi kiểu hội thoại
- Các quy tắc hội thoại gắn chặt với ngữ cảnh
- Các quy tắc hội thoại thể hiện rất khác nhau tùy theo từng xã hội và từng nềnvăn hóa
- Nhìn chung, các quy tắc hội thoại khá mềm dẻo, linh hoạt
- Quy tắc hội thoại được thụ đắc một cách tuần tự từ thuở nhỏ nhưng khôngđược truyền thụ một cách hệ thống Cho nên phần lớn chúng được vận dụngmột cách tự phát
Cũng chính C.K Orecchioni đã chia các quy tắc hội thoại thành ba nhóm:
Thứ nhất, các quy tắc điều hành sự luân phiên lượt lời
Thứ hai, các quy tắc chi phối cấu trúc của hội thoại
Thứ ba, những quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân trong hội thoại
2.4.1 Quy tắc điều hành luân phiên lượt lời:
Các quy tắc điều hành sự luân phiên lượt lời gồm một hệ những “điều khoản” màSacks và các đồng tác giả phát biểu như sau
- Thứ nhất, vai trò nói thường xuyên thay đổi trong một cuộc hội thoại
- Thứ hai, mỗi lần chỉ một người nói
- Thứ ba, lượt lời của mỗi người thường thay đổi về độ dài do đó có nhữngbiện pháp để nhận biết khi nào thì một lượt lời chấm dứt
- Thứ tư, vị trí ở đó nhiều người cùng nói một lúc tuy thường gặp nhưngkhông bao giờ kéo dài
Trang 11- Thứ năm, thông thường lượt lời của đối tác này chuyển tiếp cho đối tác kiadiễn ra không bị ngắt quãng quá dài, cũng không bị dẫm đạp lên nhau.
- Thứ sáu, trật tự của những người nói không cố định, trái lại luôn luôn thayđổi, trái lại luôn luôn thay đổi
Vd:
- Nỗi oan nhà ngươi như thế nào? Hãy nói rõ đầu đuôi nghe!
- Dạ! Họ bắt tôi làm thịt!
- Được rồi, hãy khai rõ ràng Họ làm thịt như thế nào?
- Dạ , trước hết họ trói tôi lại, đè ra chọc tiết Xong họ đổ nước sôi lên mìnhtôi, cạo lông
- Rồi sao nữa!
- Cạo sạch rồi họ mổ ra, thịt tôi xé thành từng mảng, chặt nhỏ bỏ vào rổ Thếrồi… họ bắc chảo đổ mỡ vào, phi hành cho thơm, thêm mắm thêm muối,xào lên,…
- Thôi! Thôi…đừng nói nữa mà tao thèm
2.4.2 Quy tắc điều hành nội dung hội thoại
Nội dung của một cuộc hội thoại được phân phối thành nội dung của các lượt lời.Quy tắc luân phiên lượt lời có mục đích là phục vụ cho sự phát triển của vấn đề màcuộc hội thoại chấp nhận làm nội dung Bởi vậy, một cuộc hội thoại còn cần đếnnhững quy tắc điều hành nội dung của nó, đúng hơn là điều hành quan hệ nội dunggiữa các lượt lời tạo nên cuộc hội thoại đó
Bởi vì nội dung của diễn ngôn, của hội thoại không chỉ gồm nội dung miêu tả, nộidung thông tin mà còn gồm những liên quan cá nhân, nội dung ngữ dụng cho nêncác quy tắc điều hành nội dung của hội thoại điều hành cả nội dung miêu tả và nộidung liên cá nhân, ngữ dụng của nó
2.4.2.1 Nguyên tắc cộng tác
Nguyên tắc cộng tác hội thoại bao trùm bốn phạm trù mà Grice gọi tên là phạm trùlượng, phạm trù chất, phạm trù quan hệ, phạm trù cách thức theo tinh thần các
Trang 12phạm trù của nhà triết học Kant Mỗi phạm trù đó, tương ứng với một “tiểu nguyêntắc” mà Grice sẽ gọi là phương châm; mỗi phương châm lại gồm “tiểu phươngchâm”.
- Phương châm về lượng: Khi giao tiếp cần có nội dung, nội dung phải đápứng nhu cầu giao tiếp không thừa, không thiếu
Ví dụ:
A: Cậu biết bơi không?
B: Biết chứ, thậm chí còn bơi giỏi nữa
A: Cậu học bơi ở đâu vậy?
B: Dĩ nhiên ở dưới nước chứ còn ở đâu nữa
- Phương châm về chất: Trong giao tiếp không nói những điều mình khônghiểu, không tin là đúng và không có bằng chứng xác thực
Vd: Truyện cười chúa nói phét
Anh nọ được dịp nói khoác:
Tôi được thấy có nhiều cái lạ lắm, nhưng lạ nhất là có một chiếc thuyền, dàikhông lấy gì mà đo cho xiết, có người thuở hai mươi tuổi đứng ở đằng mũibắt đầu đi ra bằng lái, đi ra giữa cột buồm thì đã già, râu toc bạc phơ, cứ thế
đi, đến chết vẫn chưa tới lái
- Phương châm quan hệ: Khi giao tiếp cần nói đúng đề tài giao tiếp tránh nóilạc đề
VD: Thành ngữ “Ông nói gà, bà nói vịt”
- Phương châm cách thức: Khi giao tiếp cần nói ngắn gọn, rành mạch, mơ hồ,khó hiểu
Vd: truyện cười “ nói có đầu có đuôi”
Lão nhà giàu nọ có anh đầy tớ tính rất bộp chộp, thấy gì nói ấy, gặp đâu nói
đó, chẳng có đầu đuôi gì cả Lão mới gọi anh ta bảo:
-Mày ăn nói chẳng có đầu đuôi gì cả, người ta cười cả tao lẫn mày Từ ràynói cái gì thì phải nói cho có đầu đuôi nghe không?
Anh đầy tớ vâng vâng dạ dạ
Một hôm lão mặc quần áo sắp sửa đi chơi, đang ngồi hút thuốc thì thấy anhđầy tớ chắp tay trịnh trọng nói:
Trang 13-Thưa ông, on tằm nó nhả tơ, người ta đem tơ đi bán cho người Tàu, ngườiTàu đem dệt thành the rồi bán sang ta Ông đi mua the về may thành áo.Hôm nay ông mặc áo, ông hút thuốc Tàn thuốc nó rơi vào áo ông, và áo ôngđang cháy…
Lão giật mình nhìn xuống thì áo đã cháy to bằng bàn tay rồi
Các phương châm hội thoại trên đây không phải là những yêu cầu có tính đạo đức.Vấn đề là khi giao tiếp, người ta phải tuân thủ các phương châm hội thoại vì chỉ cóthế, câu chuyện mới tiến triển được
Trên thực tế, không phải lúc nào người ta cũng tuân thủ các phương châm hộithoại Có thể phân biệt những loại không tuân thủ phương châm hội thoại sau đây:
- Bất chấp phương châm: là trường hợp người nói không tuân thủ phươngchâm một cách lộ liễu và chính điều này là lời mời gọi người nghe đi đếnchỗ suy đoán một cái hàm ý đằng sau những gì tường minh
- Vi phạm phương châm: là sự không tuân thủ phương châm một cách không
lộ liễu, do muốn đánh lừa người nghe
- Bỏ qua phương châm: là trường hợp người nói không có ý định tạo hàm ý,cũng không muốn đánh lừa người nghe
- Từ bỏ phương châm: là trường hợp người nói công khai hay ngầm ẩn chongười nghe biết mình không tuân thủ một phương châm nào đó
1.4.3 Quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân – phép lịch sự
Có thể định nghĩa lịch sự như là một phương thức để giảm thiểu sự xung đột trongdiễn ngôn “ phép lịch sự có liên quan tới quan hệ giữa hai người tham gia màchúng ta có thể gọi là ta và người” Cụ thể hơn nó còn có chức năng:
- Giữ gìn sự cân bằng và quan hệ bạn bè, những quan hệ này khiến chúng ta
có thể tin rằng người đối thoại với chúng ta tỏ ra trước hết là cộng tác vớichúng ta
Trang 142.5 Tính thống nhất của cuộc hội thoại
Tính thống nhất của cuộc thoại được quyết định bởi tính liên kết hình thức vàtính mạch lạc về nội dung Trong đó, tính liên kết về hình thức là những biện pháphình thức để liên kết hành vi phụ thuộc với hành vi chủ hướng, liên kết hai thamthoại trong một cặp thoại với nhau, liên kết các cặp thoại thành sự kiện lời nói vàliên kết sự kiện lời nói thành đoạn thoại… Tính mạch lạc về nội dung tùy thuộcvào đích mà mỗi đối tác chủ trì trong cuộc thoại, tùy theo đề tài diễn ngôn và tùytheo chiến lược mà đối tác đó sử dụng để cuộc thoại đạt đến đích mà mình mongmuốn Tính mạch lạc của hội thoại có thể xem xét theo các phương diện sau đây:
- Tính mạch lạc của toàn bộ cuộc thoại chung cho tất cả các đối tác
- Tính mạch lạc của tham thoại của từng đối tác trong toàn bộ cuộc thoại Tínhmạch lạc trong từng đoạn, từng sự kiện lời nói và trong từng cặp thoại
Trong khi xét tính mạch lạc nên chú ý cuộc thoại có đích nhận thức và đíchliên cá nhân, tạo lập quan hệ Có những cuộc hội thoại chẳng mạch lạc gì vềnội dung thông tin nhưng lại rất “mạch lạc” về nội dung tạo lập quan hệ.Như vậy, không thể sử dụng những tri thức về liên kết và mạch lạc của vănbản để xử lí liên kết và mạch lạc trong hội thoại Liên kết và mạch lạc tronghội thoại được nâng cao lên thành liên kết và mạch lạc trong văn bản, chứkhông phải liên kết và mạch lạc trong văn bản quyết định liên kết và mạchlạc trong hội thoại
Trang 153 Tính mạch lạc trong diễn ngôn:
3.1 Khái niệm về tính mạch lạc trong diễn ngôn:
Theo Diệp Quang Ban trong Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo của văn bản, định nghĩa mạch lạc như sau: “Mạch lạc là sự nối tiếp có tính chất hợp lý về mặt nghĩa
và về mặt chức năng, được trình bày trong quá trình triển khai một văn bản (như một truyện kể, một cuộc thoại, một bài nói hay bài viết…), nhằm tạo ra những sự kiện nối kết với nhau hơn là sự liên kết câu với câu” Nói một cách ngắn gọn,
mạch lạc chính là sự liên kết về mặt nội dung (ngữ nghĩa)
Labov chỉ ra rằng việc nhận ra tính mạch lạc và không mạch lạc ở các chuỗi hộithoại không dựa trên cơ sở mối quan hệ giữa các phát ngôn, mà là “giữa các hànhđộng được thực hiện bằng các phát ngôn này”
Một nhà thám hiểm vừa phát hiện ra một vùng đất mới, trên đường thăm dò, ông gặp một cậu bé bản địa.
Nhà thám hiểm đưa cho cậu ta xem chiếc máy chữ và một hộp diêm Nhìn thấy mấy thứ đó, cậu bé tỏ ra rất ngạc nhiên.
- Tại sao ngài đưa tôi mấy thứ này? (1)
Nghe vậy nhà thám hiểm nhảy lên vui sướng:
- Đây đúng là một vùng đất hoang sơ nhất trên thế giới, không còn nghi ngờ gì
nữa (2)
Đến lúc này thì cậu bé lên tiếng:
- Thưa ngài, mặc dù cháu chẳng hiểu ngài định làm gì với mấy thứ đó, nhưng cháu muốn biết cháu đi được chưa ạ Cháu cần phải vào tiệm Internet để chat ngay bây
giờ! (3)
Trang 16- !? (4)
Mới nhìn, ta thấy các lượt lời của nhà thám hiểm không đáp ứng được câu trả lờicủa cậu bé, dường như cả hai không cùng nói về một đề tài Nhưng nếu xét đếnhành động ngôn từ thì có thể chấp nhận chuỗi này là diễn ngôn mạch lạc Ở (2),nhà thám hiểm muốn từ chối trả lời câu hỏi của cậu bé và đồng thời đây là mộthành động có tác dụng biểu cảm, thể hiện niềm vui sướng khi nhà thám hiểm tinrằng điều mình nghĩ là đúng (Câu hỏi của đứa bé làm nhà thám hiểm nghĩ rằng cậulạc hậu và đây là vùng đất hoang sơ nhất) Ở (4) là một hành động có tác dụng biểucảm, thể hiện sự ngạc nhiên và thất vọng vì lượt lời (3) của cậu bé đã làm sụp đổniềm tin của nhà thám hiểm (Cậu bé đã biết sử dụng công nghệ thông tin =>Không lạc hậu, không hoang sơ nữa)
3.2 Biểu hiện của tính mạch lạc trong diễn ngôn:
3.2.1 Mạch lạc trong quan hệ giữa các đề tài – chủ đề của các câu.
Mạch lạc trong quan hệ giữa các đề tài – chủ đề của các câu có thể được thực hiện theo hai cách là duy trì đề tài và triển khai đề tài.
a Duy trì đề tài:
Duy trì đề tài là trường hợp một vật, việc, hiện tượng nào đó được nhắc lại trongnhững câu khác nhau với tư cách đề tài của các câu đó Các từ ngữ diễn đạt đề tàinày trong các câu khác nhau có thể chỉ là một và được lặp lại, mà cũng có thể lànhững yếu tố có bề ngoài khác nhau, nhưng cùng chỉ về vật, việc, hiện tượng đó
Ví dụ:
Bố sai con ra chợ mua diêm Ðược một lát, cậu bé chạy về, mặt mày rạng rỡ.
Trang 17– Mua được không, con ? – Bố hỏi.
– Ðược ạ.
– Khá lắm! Thế nào, diêm tốt chứ ?
– Hết chê.
– Sao con biết ?
– Thì con đã quẹt thử từng que một, rồi mới trả tìền cơ mà! …
Các câu đều chỉ cùng nói về một vật: diêm Đầu tiên là vấn đề có mua diêm đượchay không, tiếp theo là nói về chất lượng của diêm và cuối cùng là lý do vì sao biếtdiêm tốt
b Triển khai đề tài:
Triển khai đề tài là trường hợp từ một đề tài nào đó trong một câu, liên tưởng đến
đề tài khác thích hợp trong câu khác theo một quan hệ nào đó, nhằm mục đích làmcho sự việc được nói đến phát triển thêm lên Các đề tài được đưa thêm vào phải có
cơ sở nghĩa và cơ sở logic nhất định Cơ sở nghĩa thể hiện ở sự phù hợp về nghĩacủa các đề tài mới thêm vào với đề tài đã có và với tình huống sử dụng nói chung
Cơ sở logic là các kiểu quan hệ logic thích hợp và số lượng đề tài được triển khaithỏa mãn tính cần và đủ (không thừa)
Ví dụ:
Môt bà vợ soi mình trước gương trước khi đi ngủ và nói với chồng:
Trang 18- Mình ơi, trông em thật kinh khủng, béo và xấu nữa… Cho em một lời nhận xét tốt
hơn đi mình.
Anh chồng bỏ quyển vở ra trả lời:
- Ừ, thị lực của em thật tuyệt hảo!
Người vợ muốn chồng cho một lời nhận xét tốt hơn Xét ý “Mình ơi, trông em thật
kinh khủng, béo và xấu nữa” => muốn chồng cho một lời nhận xét tốt hơn về nhan
sắc của mình nhưng người chồng lại nhận xét tốt hơn về một mảng khác “thị lực”.Điều này là phù hợp với tình huống sử dụng, bởi người chồng không muốn nóithẳng ý mình sẽ làm vợ buồn và nó hợp logic bởi người ta ngắm mình, soi gươngbằng mắt
3.2.2 Trật tự giữa các câu (mệnh đề) diễn đạt quan hệ nguyên nhân
Các nhà tâm lý học khẳng định rằng những mối quan hệ thuộc theo kiểu nguyênnhân – hệ quả tạo thành chất xi măng cho mạch lạc của văn bản
Hai sự kiện có quan hệ nguyên nhân – hệ quả phải tuân theo các điều kiện sau đây.Cho E1 là sự kiện nguyên nhân, E2 là sự kiện hệ quả thì:
E1 phải xảy ra trước E2: đây là tính ưu tiên về thời gian
E1 phải còn hiệu lực cho đến khi E2 xuất hiện: đây là tính còn hiệu lực
E1 phải là cần có để cho E2 xuất hiện: đây là tính cần
Hoàn cảnh chung quanh cho thấy rằng E1 là đủ để cho E2 xuất hiện: đây làtính đủ
Trang 19- Như vậy thì đúng anh đau ở ngón tay rồi! (E2)
3.2.3 Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ thích hợp giữa các hành động
nói.
- Có những hành động nói đi đôi với nhau: hành động hỏi kéo theo hành độngtrả lời, hành động mời kéo theo hành động chấp nhận/ từ chối lời mời, hànhđộng chào kéo theo hành động chào đáp,
Ví dụ:
Một bà vợ đòi ly dị chồng vì anh ta suốt ngày uống rượu Quan tòa hỏi:
- Chồng bà bắt đầu uống rượu từ khi nào?
- Từ trước khi chúng tôi cưới nhau.
- Thế sao lúc đó bà vẫn quyết định cưới ông ấy?
- Vì lúc đó tôi nghĩ chắc hẳn anh ta phải có rất nhiều tiền nên mới uống rượu mỗi ngày như thế.
Tạo ra được mạch lạc cho những lời trao đổi hoặc cho chuỗi của những câunối tiếp nhau
- Có những hành động nói nhìn bề ngoài không thể ăn nhập với nhau nhưngchúng vẫn có thể đi được với nhau Phân tích cuộc thoại: