1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tác động của sắp xếp cuộc sống đến sức khỏe và tình trạng làm việc của người cao tuổi việt nam TT

27 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 464,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, theo hiểu biết của tác giả thì cho đến nay, vẫn chưa có một nghiên cứu nào ở Việt Nam phân tích tác động của SXCS đến sức khỏe thể chất và tâm thần và tình trạng làm việc c

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

- -

TÁC ĐỘNG CỦA SẮP XẾP CUỘC SỐNG ĐẾN SỨC KHỎE

VÀ TÌNH TRẠNG LÀM VIỆC CỦA NGƯỜI CAO TUỔI

Trang 2

Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng

Vào ngày tháng………năm 2021

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

- Trung tâm thông tin học liệu và truyền thông – Đại học Đà Nẵng

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là một trong những nước có tốc độ già hóa dân số rất cao, đặc biệt là so với các nước có mức thu nhập trung bình Theo kết quả Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2019, tỷ lệ NCT (người

từ 60 tuổi trở lên) là gần 11,9% tổng dân số (tương đương với 11,4 triệu người) Dự báo dân số giai đoạn 2014-2049 của Tổng cục Thống kê (TCTK 2016) cho thấy, tỷ lệ NCT sẽ tăng lên mức 26,1% vào năm 2050 (tương đương với 27 triệu người)

Theo truyền thống, đồng cư trú là hình thức phổ biến ở Việt Nam nên người cao tuổi (NCT) được chăm sóc bởi các thành viên trong gia đình Cho tới nay, gia đình vẫn là nguồn an sinh của NCT –

là nơi cung cấp và hỗ trợ chính cho NCT cả về mặt vật chất và tinh thần Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi nhanh chóng về kinh tế - xã hội và xu hướng di cư đã tác động mạnh mẽ đến hộ gia đình theo hướng thay đổi từ hộ gia đình truyền thống với nhiều thế hệ sang hộ gia đình hạt nhân, đặc biệt là hộ gia đình chỉ có vợ chồng là NCT sống với nhau Sự thay đổi đó cũng làm cho vị thế của NCT trong hộ gia đình cũng thay đổi Bên cạnh đó, sống một mình là điều ít mong muốn về mặt xã hội nhưng lại đang trở thành xu hướng ngày càng phổ biến ở NCT, đặc biệt là phụ nữ ở độ tuổi rất cao (từ 80 trở lên) Những sự biến đổi sắp xếp cuộc sống (SXCS) (hay sắp xếp cư trú) như thế vừa là cơ hội, vừa là thách thức cho việc chăm sóc và phát huy vai trò NCT

Cùng lúc đó, phần lớn NCT Việt Nam sống ở khu vực nông thôn không có lương hưu và không có thu nhập tích lũy khi về già và nhiều NCT không nhận được sự hỗ trợ từ hệ thống an sinh xã hội (UNFPA 2011; Giang Thanh Long và Phí Mạnh Phong 2016) nên thực tế nhiều NCT vẫn ở lại làm việc lâu hơn để hỗ trợ tài chính cho bản thân và gia đình Cho nên, với sự thay đổi trong cách SXCS gia

Trang 4

đình của NCT theo xu hướng sống với con ngày càng giảm sẽ có ảnh hưởng lớn đến an sinh thu nhập cho NCT, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế-xã hội của Việt Nam

Như vậy, trong bối cảnh già hóa dân số, những thay đổi trong SXCS, thị trường lao động… thì việc xem xét tác động của SXCS đến sức khỏe, làm việc của NCT rất cần thiết Tuy nhiên, theo hiểu biết của tác giả thì cho đến nay, vẫn chưa có một nghiên cứu nào ở Việt Nam phân tích tác động của SXCS đến sức khỏe (thể chất và tâm thần) và tình trạng làm việc của NCT Do đó, nghiên cứu này là cần thiết để cung cấp những bằng chứng lý thuyết và thực nghiệm để

từ đó mang lại những giá trị học thuật và chính sách Đây cũng chính

là động lực, lý do chính mà NCS lựa chọn đề tài “Tác động của sắp xếp cuộc sống đến sức khỏe và tình trạng làm việc của người cao tuổi Việt Nam” để nghiên cứu

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.2 Mục tiêu cụ thể

i) Hệ thống hóa các lý luận về sắp xếp cuộc sống của NCT và tác động của SXCS đến sức khỏe và tình trạng làm việc của NCT;

ii) Phân tích thực trạng sắp xếp cuộc sống của người cao tuổi ở Việt Nam;

iii) Phân tích tác động của SXCS đến sức khỏe và tình trạng làm việc của NCT;

iv) Trên cơ sở các kết quả phân tích, đề xuất một số chính sách nhằm cải thiện sức khỏe và tình trạng làm việc của NCT

2.3 Câu hỏi nghiên cứu

Các câu hỏi nghiên cứu đề ra cần giải quyết là:

i) Tác động của SXCS đến sức khỏe và tình trạng làm việc ở NCT được giải thích bằng các lý thuyết nào?

ii) Thực trạng về SXCS của NCT ở Việt Nam hiện nay như thế nào?

Trang 5

iii) Trong điều kiện của Việt Nam, yếu tố SXCS tác động đến sức khỏe và tình trạng làm việc của NCT như thế nào?

iv) Dựa vào các kết quả nghiên cứu thực nghiệm, cần có các chính sách như thế nào để nâng cao sức khỏe cho NCT và cải thiện tình trạng làm việc của NCT?

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: là SXCS của NCT Việt Nam, sức khoẻ

của NCT, tình trạng làm việc của NCT và tác động của SXCS đến sức khỏe và tình trạng làm việc của NCT

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Tác giả sẽ tập trung xây dựng mô hình và phân

tích tác động của sắp xếp cuộc sống đến sức khoẻ (gồm thể chất và

tâm thần) và SXCS đến tình trạng làm việc của NCT

- Về không gian: Luận án nghiên cứu ở Việt Nam

- Về thời gian: + Nghiên cứu sự thay đổi trong cách SXCS của NCT giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2016 trên cơ sở sử dụng dữ liệu Khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) của Tổng cục Thống kê

+ Nghiên cứu tác động của SXCS đến sức khỏe và tình trạng làm việc của NCT trên cơ sở dữ liệu của Điều tra Người cao tuổi Việt Nam năm 2011 (VNAS 2011) vì đến thời điểm hoàn thành Luận

án này, VNAS 2011 là cơ sở dữ liệu đại diện quốc gia cho dân số cao tuổi mà có đầy đủ nhất các thông tin phục vụ nghiên cứu, đặc biệt là thông tin về sức khỏe và làm việc của NCT

4 Đóng góp mới của luận án

- Luận án làm rõ phương pháp nghiên cứu, kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước Từ đó rút ra khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu

- Làm rõ khái niệm và phân loại SXCS cho phù hợp với bối cảnh nghiên cứu

Trang 6

- Làm rõ tác động của SXCS đến sức khỏe và SXCS đến tình trạng làm việc của NCT

- Đây là nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam phân tích về tác động của SXCS đến sức khỏe (thể chất và tâm thần) và tình trạng làm việc ở NCT

- Kết quả phân tích cho thấy thực trạng SXCS của NCT Việt Nam đã thay đổi và ở Việt Nam thì hình thức sống với con vẫn là hình thức tốt nhất cho sức khỏe và đảm bảo phúc lợi cho NCT

- Luận án đã gợi ý chính sách cho nhà quản lý và hoạch định những quyết sách phù hợp trong việc phát huy vai trò của người cao tuổi trong gia đình, cộng đồng và xã hội Cũng như, cần phải có những điều chỉnh về chính sách để thích ứng với dân số già hóa nhanh và nhiều biến động về kinh tế - xã hội và sức khỏe đối với thế

hệ NCT hiện tại và tương lai

5 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu và kết luận Luận án được kết cấu gồm 5 chương như sau:

Chương 1 Tổng quan nghiên cứu

Chương 2 Cơ sở lý thuyết về tác động của SXCS đến sức khỏe

và tình trạng làm việc của NCT

Chương 3 Thiết kế nghiên cứu

Chương 4 Kết quả nghiên cứu

Chương 5 Một số đề xuất chính sách

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Các nghiên cứu về sắp xếp cuộc sống người cao tuổi

1.1.1 Các nghiên cứu về SXCS người cao tuổi ở nước ngoài 1.1.2 Các nghiên cứu về SXCS người cao tuổi ở Việt Nam

Các nghiên cứu của thế giới và Việt Nam về sự SXCS của NCT cho thấy, mô hình SXCS của NCT ở các quốc gia, ở các khu

Trang 7

vực là khác nhau Sống một mình hoặc chỉ sống với vợ/chồng là hình thức SXCS phổ biến nhất được tìm thấy ở các nước phát triển và sống với con cái là hình thức phổ biến ở các nước đang phát triển Tuy nhiên, những bằng chứng thực nghiệm cho thấy, ở các nước đang phát triển như Việt Nam, cùng với những thay đổi kinh tế - xã hội thì mô hình SXCS truyền thống cũng đang có sự thay đổi nhanh chóng Tỷ lệ NCT sống với con giảm, sống một mình hoặc sống chỉ với vợ/chồng tăng

1.2 Các nghiên cứu về tác động của SXCS đến sức khoẻ NCT

- Nhìn chung, các nghiên cứu đều cho rằng sống trong một gia đình đa thế hệ sẽ góp phần tăng cường sức khỏe thể chất và tâm thần

vì những lợi ích vật chất và phi vật chất mang lại (như hỗ trợ chuyển giao trong nội bộ gia đình, sự quan tâm đến sức khỏe, lối sống lành mạnh, sự giúp đỡ trong các hoạt động hàng ngày, cảm giác tự hào,

những hỗ trợ về mặt cảm xúc, tình cảm…)

- Người cao tuổi sống một mình thường có tình trạng sức khỏe kém và có nguy cơ bị trầm cảm cao cũng như ít hài lòng với cuộc sống hơn

- Một số các nghiên cứu lại cho kết quả ngược lại là sống chung

Trang 8

không giúp cải thiện sức khỏe cho NCT mà còn làm cho sức khỏe NCT xấu đi Do sự chia sẻ nguồn lực từ bố mẹ sang con, hay việc sống chung làm cho NCT quá phụ thuộc vào người khác dẫn đến sự suy giảm một số chức năng vận động, và hơn nữa khoảng cách thế hệ dẫn đến những xung đột về giá trị tư tưởng… Đây là các nguyên nhân này làm cho việc sống chung giữa bố mẹ và con dẫn đến sự suy giảm sức khỏe ở NCT

1.3 Các nghiên cứu về tác động của SXCS đến tình trạng làm việc của NCT

Từ việc tổng quan các nghiên cứu ở trên, có thể rút ra một số kết quả quan trọng như sau:

- Thực tế phần lớn NCT vẫn tham gia làm việc, và sự tham gia này là rất khác nhau đối với mỗi loại hình SXCS

- SXCS của NCT là một trong những nhân tố quan trọng quyết định đến làm việc của NCT Ở cả nước phát triển và đang phát triển, có nhiều bằng chứng nghiên cứu cho thấy sự SXCS có thể ảnh hưởng đến tình trạng làm việc của NCT

- Các kết quả nghiên cứu là không đồng nhất, trong đó một số nghiên cứu cho rằng xác suất làm việc của NCT sống với vợ/chồng

và con cao hơn các nhóm NCT khác (ví dụ, Croda & Gonzalez,

2005, Paul & Verma, 2016, Raymo và cộng sự, 2018) Ngược lại, có nghiên cứu lại cho thấy NCT sống chung với con có xác suất làm việc thấp hơn so với các nhóm khác (ví dụ, Tong, Chen và Su, 2018)

1.4 Khoảng trống trong nghiên cứu

- Trong các nghiên cứu về tác động của SXCS đến sức khỏe của NCT và SXCS đến tình trạng làm việc của NCT thì các kết quả nghiên cứu là chưa rõ ràng Như vậy, trong điều kiện Việt Nam thì tác động này như thế nào và rất cần nghiên cứu để trả lời cho câu hỏi này

- Việt Nam là quốc gia đang phát triển nhưng tình trạng già hóa đang diễn ra rất nhanh Những nghiên cứu về già hóa nói chung

Trang 9

khá nhiều, nhưng việc nghiên cứu thực trạng về SXCS, sức khỏe, làm việc cũng như tác động giữa các yếu tố này ở NCT Việt Nam là chưa có nghiên cứu nào

- Nghiên cứu về tác động của SXCS đến sức khỏe và tình trạng làm việc của NCT ở Việt Nam làm cơ sở cho hoạch định các chính sách xã hội

2.1.1 Một số khái niệm liên quan

2.1.1.1 Già hóa dân số

Già hoá dân số hay còn gọi là giai đoạn “dân số đang già”: Khi

tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên chiếm từ 7% tổng dân số trở lên (Theo phân loại của Cowgill và Holmes (1970) theo trích dẫn của Tsuya và Martin 1992)

2.1.1.2 Khái niệm về người cao tuổi

Ở Việt Nam, theo Điều 2, Luật Người cao tuổi năm 2009 quy định: Người cao tuổi là những công dân của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ 60 tuổi trở lên Trong luận án này, NCS sẽ sử dụng thuật ngữ người cao tuổi (NCT) theo quy định này

2.1.2 Khái niệm “sắp xếp cuộc sống”

2.1.2.1 Khái niệm sắp xếp cuộc sống

2.1.2.2 Sắp xếp cuộc sống gia đình của người cao tuổi

Thuật ngữ “sắp xếp cuộc sống” (living arrangements) hoặc

“sắp xếp đồng cư trú” (co-residential arrangements) (Palloni, 2000) được dùng để đề cập đến cấu trúc hộ gia đình của người cao tuổi

Trang 10

2.2 Phân loại sắp xếp cuộc sống của NCT

Từ các phân tích trên để cho phù hợp với đặc trưng cơ bản của Việt Nam về nhân khẩu học, kinh tế- xã hội và sự sẵn có của dữ liệu nghiên cứu cũng như để phù hợp cho việc đánh giá tác động của SXCS với sức khoẻ và làm việc của NCT một cách rõ rệt, luận án này định nghĩa SXCS và phân loại như sau:

Sắp xếp cuộc sống của người cao tuổi là thể hiện việc người cao tuổi sống với ai trong cùng một HGĐ và SXCS có thể chia thành bốn nhóm sau: i) Sống một mình: gồm những HGĐ chỉ có NCT sống một mình; ii) Chỉ sống với vợ/chồng cao tuổi (tức là hộ gia đình chỉ

có vợ chồng cao tuổi sống với nhau); iii) Sống với ít nhất một người con (tức là NCT sống với ít nhất một người con, kể cả con đẻ và/hoặc con nuôi; và iv) Loại khác (gồm những cách SXCS khác của NCT không thuộc ba nhóm trên)

2.4 Sắp xếp cuộc sống và sức khỏe của người cao tuổi

2.4.1 Khái niệm và đo lường sức khỏe

2.4.1.1 Sức khỏe thể chất

2.4.1.2 Sức khỏe tâm thần

2.4.2 Tác động của sắp xếp cuộc sống đến sức khỏe người cao tuổi

Tác động của SXCS lên sức khỏe của NCT được giải thích bởi các lý thuyết đoàn hệ, lý thuyết hỗ trợ xã hội và lý thuyết văn hóa

2.4.2.1 Lý thuyết mô hình đoàn hệ về các mối quan hệ xã hội

SXCS có thể được coi là một kiểu đoàn xe xã hội của các tác động của các thế hệ vì nó cung cấp sự hỗ trợ trong suốt cuộc đời của một cá nhân, bao gồm những hỗ trợ cả về mặt thể chất và vật chất (sự giúp đỡ về mặt thể chất, hỗ trợ tài chính…) và hỗ trợ tinh thần các cá nhân trong đoàn xe xã hội này có mối quan hệ gần gũi trong phạm vi gia đình nên SXCS của các cá nhân và sự thay đổi trong cách SXCS của họ cùng có ảnh hưởng đến sức khỏe và phúc lợi chung của tất cả các cá nhân trong đoàn hệ

Trang 11

2.4.2.2 Lý thuyết hỗ trợ xã hội

SXCS giữa các thế hệ như là một loại hỗ trợ xã hội vì SXCS

hình thành môi trường xã hội trực tiếp và gần gũi nhất trong việc

cung cấp hỗ trợ xã hội về thể chất và tinh thần cho các cá nhân Các

kiểu SXCS khác nhau có liên quan đến mối quan hệ gia đình đa dạng

và mô hình trao đổi khác nhau vì các loại SXCS khác nhau sẽ xác

định vai trò của các cá nhân trong một hộ gia đình và số lượng và

loại tài nguyên khác nhau có sẵn cho các cá nhân Do những khác

biệt này mà việc SXCS có thể có ảnh hưởng quan trọng đến sức khỏe

và tâm lý khi về già

2.4.2.3 Lý thuyết văn hóa

2.5 Sắp xếp cuộc sống và tình trạng làm việc của NCT

2.5.1 Khái niệm và phân loại làm việc của NCT

2.5.1.1 Khái niệm

Cho đến nay, chưa có một định nghĩa nào về làm việc của

NCT ở Việt Nam nên để phù hợp với dữ liệu nghiên cứu, luận án tiếp

cận theo khái niệm về làm việc của TCTK đưa ra: làm việc là hoạt

động lao động từ 1 giờ trở lên trong vòng 7 ngày tính tới thời điểm khảo

sát/điều tra nhằm tạo ra nguồn thu nhập cho bản thân và gia đình mà

không bị pháp luật cấm

2.5.2 Tác động của sắp xếp cuộc sống đến làm việc ở NCT

2.5.2.1 Lý thuyết cung - cầu và sự tham gia thị trường lao động của NCT

2.5.2.2 Sắp xếp cuộc sống và sự tham gia vào thị trường lao động của NCT

Lý thuyết hiện đại hoá cho rằng kết quả sự phát triển kinh tế sẽ

dẫn đến việc phá vỡ các chuẩn mực truyền thống và do đó đã làm

yếu đi các mối quan hệ ràng buộc giữa con cái và bố mẹ (Goode,

1963) Sự thay đổi trong cách SXCS, nhiều hơn gia đình hạt nhân

không chỉ làm khó khăn cho việc cùng chung sống giữa con cái với

bố mẹ mà còn làm yếu đi mối quan hệ tài chính và tình cảm qua các

thế hệ (Thornton, Chang và Sun 1984) với những sự thay đổi trong

cách SXCS sẽ có tác động đến tình trạng làm việc ở NCT

Trang 12

CHƯƠNG 3 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 3.1 Bối cảnh nghiên cứu

3.2 Khung phân tích và mô hình nghiên cứu tác động của sắp xếp cuộc sống đến sức khỏe của người cao tuổi

3.2.1 Khung phân tích

Khung phân tích nghiên cứu bao gồm: Biến sức khỏe đầu ra của NCT được thể hiện: sức khỏe tự đánh giá (đại diện cho sức khỏe thể chất) và trầm cảm (đại diện cho sức khỏe tâm thần) Có ba nhóm biến độc lập tác động đến sức khỏe thể chất và tâm thần của NCT, cụ thể: i) sắp xếp cuộc sống (và đây là biến độc lập chính trong mô hình; ii) nhóm nhân tố liên quan đến đặc điểm cá nhân NCT; iii) nhóm biến đặc điểm hộ gia đình (HGĐ); iv) các nhân tố liên quan đến hành vi sức khỏe

3.2.2 Mô hình nghiên cứu

Dựa trên cách tiếp cận của các nghiên cứu trước đây (ví dụ, Chou, Ho và Chi 2006, Weissman & Russell 2016, Mahapatro, Acharya

và Singh 2017), tác giả xem xét tác động của SXCS đến sức khỏe của NCT dựa trên mô hình hồi quy logistic được thể hiện như sau:

Logit (P) = β i X i + ε i hay Ln( 𝑃

1−𝑃) = β0+ β1X1 + β2X2 + … βkXk + εi Trong đó:

+ Ln[P/(1-P)]: Xác suất xảy ra của biến phụ thuộc, trong đó

biến phụ thuộc sức khỏe NCT được đo lường thông qua hai biến đại diện là i) sức khỏe tự đánh giá của NCT và ii) tình trạng bị trầm cảm của NCT

+ β 0: hệ số chặn (hằng số)

+ X i: tập hợp các biến độc lập trong mô hình phân tích, thể

hiện các đặc trưng cá nhân và hộ gia đình của NCT thứ i;

+ β i : các hệ số hồi quy tương ứng của biến X i

+ ε: sai số ước tính của mô hình

Trang 13

3.2.3 Mô tả và đo lường các biến nghiên cứu

3.2.3.1 Biến phụ thuộc (biến sức khỏe đầu ra của NCT)

- Sức khỏe tự đánh giá (SRH) đại diện cho sức khỏe thể chất

- Tình trạng bị trầm cảm là biến đại diện cho sức khỏe tâm thần

Các biến độc lập khác được chia thành ba nhóm như sau:

- Nhóm các biến dân số- xã hội học được kết hợp trong phân tích bao gồm: tuổi; giới tính; tình trạng hôn nhân; giáo dục; khu vực thành thị/nông thôn; tôn giáo, dân tộc

- Nhóm biến về môi trường sống được đo lường bằng cách tổng hợp ba biến liên quan như sau: nguồn điện thắp sáng; nguồn nước sinh hoạt; nhà vệ sinh

- Nhóm biến liên quan đến hành vi sức khỏe (Health behaviors): Các hành vi sức khỏe được đánh giá bao gồm: hút thuốc, dùng đồ uống có cồn

❖ Các biến độc lập trong mô hình hồi quy logistic về trầm cảm

- Sắp xếp cuộc sống của NCT Đây là biến độc lập chính trong nghiên cứu này, SXCS đã được mô tả ở trên

Các biến độc lập khác được đưa vào phân tích chia thành ba nhóm như sau:

- Các đặc điểm cá nhân, gồm có: tuổi; giới tính; tình trạng hôn nhân; trình độ học vấn; tình trạng làm việc; mức độ khó khăn trong

Ngày đăng: 17/09/2021, 07:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w