1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tác động của sắp xếp cuộc sống đến sức khỏe và tình trạng làm việc của người cao tuổi việt nam

153 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác động của sắp xếp cuộc sống đến sức khỏe và tình trạng làm việc của người cao tuổi Việt Nam
Tác giả Trần Thị Thúy Ngọc
Người hướng dẫn PGS.TS. Giang Thanh Long, PGS.TS. Bùi Quang Bình
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Kinh tế phát triển
Thể loại luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 153
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nghiên cứu về tác động của sắp xếp cuộc sống đến sức khỏe của NCT đã chỉ ra những lợi ích của việc sống chung, những người cao tuổi sống chung có sức khỏe tốt hơn so với những người

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

TRẦN THỊ THÚY NGỌC

TÁC ĐỘNG CỦA SẮP XẾP CUỘC SỐNG ĐẾN SỨC KHỎE VÀ TÌNH TRẠNG LÀM VIỆC CỦA

NGƯỜI CAO TUỔI VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Đà Nẵng, năm 2021

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

TÁC ĐỘNG CỦA SẮP XẾP CUỘC SỐNG ĐẾN SỨC KHỎE VÀ TÌNH TRẠNG LÀM VIỆC CỦA

NGƯỜI CAO TUỔI VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Chuyên ngành: Kinh tế Phát triển

Mã số: 62 31 01 05

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC Hướng dẫn 1: PGS.TS Giang Thanh Long Hướng dẫn 2: PGS.TS Bùi Quang Bình

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án “Tác động của sắp xếp cuộc sống đến sức khỏe và tình trạng làm việc của người cao tuổi Việt Nam” là công trình khoa học nghiên cứu của riêng tôi

Các thông tin, số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận án là do tôi tự tìm hiểu, phân tích, có trích dẫn một cách rõ ràng và chưa từng được ai khác công bố tại bất cứ công trình nào

Nghiên cứu sinh

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của luận án 5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

4 Những đóng góp mới của luận án 6

5 Kết cấu của luận án 8

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 10

1.1 Các nghiên cứu về sắp xếp cuộc sống người cao tuổi 10

1.1.1 Các nghiên cứu về sắp xếp cuộc sống người cao tuổi ở nước ngoài 10

1.1.2 Các nghiên cứu về sắp xếp cuộc sống người cao tuổi ở Việt Nam 14

1.2 Các nghiên cứu về tác động của SXCS đến sức khoẻ NCT 16

1.3 Các nghiên cứu về tác động của SXCS đến tình trạng làm việc của NCT 25

1.4 Khoảng trống nghiên cứu 28

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA SẮP XẾP CUỘC SỐNG ĐẾN SỨC KHỎE VÀ TÌNH TRẠNG LÀM VIỆC CỦA NGƯỜI CAO TUỔI 31

2.1 Những vấn đề chung về người cao tuổi và sắp xếp cuộc sống người cao tuổi 31

2.1.1 Một số khái niệm liên quan 31

2.1.2 Khái niệm “sắp xếp cuộc sống” 32

2.2 Phân loại sắp xếp cuộc sống của NCT 33

2.3 Lý thuyết về sắp xếp cuộc sống của người cao tuổi 36

2.4 Sắp xếp cuộc sống và sức khỏe của người cao tuổi 38

2.4.1 Khái niệm và đo lường sức khỏe 38

2.4.2 Tác động của sắp xếp cuộc sống đến sức khỏe người cao tuổi 41

2.5 Sắp xếp cuộc sống và tình trạng làm việc của NCT 44

2.5.1 Khái niệm và phân loại làm việc của NCT 44

Trang 5

CHƯƠNG 3 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 50

3.1 Bối cảnh nghiên cứu 50

3.2 Khung phân tích và mô hình nghiên cứu tác động của sắp xếp cuộc sống đến sức khỏe của người cao tuổi 52

3.2.1 Khung phân tích 52

3.2.2 Mô hình nghiên cứu 53

3.2.3 Mô tả và đo lường các biến nghiên cứu 54

3.3 Khung phân tích và mô hình nghiên cứu tác động của sắp xếp cuộc sống đến tình trạng làm việc của người cao tuổi 63

3.3.1 Khung phân tích 63

3.3.2 Mô hình nghiên cứu 64

3.3.3 Mô tả và đo lường các biến nghiên cứu 64

3.4 Dữ liệu nghiên cứu 68

3.5 Phương pháp nghiên cứu 69

3.5.1 Xử lý số liệu 69

3.5.2 Phương pháp phân tích 69

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 72

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 73

4.1 Thực trạng sắp xếp cuộc sống của người cao tuổi ở Việt Nam 73

4.1.1 Khái quát về dân số cao tuổi ở Việt Nam 73

4.1.2 Cách thức sắp xếp cuộc sống của người cao tuổi ở Việt Nam 77

4.1.3 Sắp xếp cuộc sống của người cao tuổi theo từng độ tuổi 78

4.1.4 Sắp xếp cuộc sống của người cao tuổi theo giới tính 81

4.1.5 Sắp xếp cuộc sống của người cao tuổi theo khu vực sống 82

4.2 Kết quả các kiểm định 84

4.2.1 Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến 84

4.2.2 Kiểm định Chow 84

4.2.3 Kiểm định Hosmes – Lemeschow 85

4.3 Tác động của sắp xếp cuộc sống đến sức khỏe tự đánh giá của NCT 85

4.3.1 Tình trạng sức khỏe do NCT tự đánh giá 85

Trang 6

4.4 Tác động của sắp xếp cuộc sống tới tình trạng tr m cảm của NCT 91

4.4.1 Tình trạng tr m cảm của NCT 91

4.4.2 SXCS và các yếu tố tác động tới tình trạng tr m cảm của NCT 94

4.5 Tác động của sắp xếp cuộc sống đến tình trạng làm việc của NCT 97

4.5.1 Tình trạng làm việc của NCT phân theo giới tính và khu vực 97

4.5.2 SXCS và các yếu tố tác động tới tình trạng làm việc của NCT 103

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 112

CHƯƠNG 5 MỘT SỐ ĐỀ XUẤT CH NH SÁCH 113

5.1 Các kết quả nghiên cứu chính 113

5.2 Một số đề xuất chính sách 114

5.2.1 Chính sách khuyến khích đồng cư trú 115

5.2.2 Chăm sóc sức khỏe NCT 116

5.2.3 Chính sách làm việc cho NCT 117

5.2.4 Chính sách vận động tuyên truyền 119

KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 120

KẾT LUẬN CHUNG 121

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO i

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ xvii

PHỤ LỤC xviii

Trang 7

Điều tra đo lường mức sống của Ngân hàng Thế giới Người cao tuổi

T số chênh lệch odds ratio Sức khỏe tự đánh giá

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Bảng tổng hợp các biến trong mô hình hồi quy logistic cho sức khỏe tự

đánh giá SRH của NCT 57

Bảng 3.2 Bảng tổng hợp các biến trong mô hình hồi quy logistic cho tình trạng tr m cảm của NCT 61

Bảng 3.3 Bảng tổng hợp đo lường các biến trong mô hình hồi quy logistic 67

về tình trạng làm việc của NCT 67

Bảng 4.1 Số lượng người cao tuổi ở Việt Nam qua các năm 73

Bảng 4.2 Đặc trưng của dân số cao tuổi Việt Nam 76

Bảng 4.3 Cách thức sắp xếp cuộc sống của người cao tuổi Việt Nam 77

Bảng 4.4 Sắp xếp cuộc sống của người cao tuổi theo độ tuổi 80

Bảng 4.5 Sự sắp xếp cuộc sống của người cao tuổi theo giới tính 81

Bảng 4.6 Sự sắp xếp cuộc sống của NCT theo khu vực thành thị-nông thôn 82

Bảng 4.7 Kết quả kiểm định Chow 84

Bảng 4.8 T lệ người cao tuổi có sức khỏe tự đánh giá tốt theo các đặc trưng 86

Bảng 4.9 Kết quả hồi quy logistic cho sức khỏe tự đánh giá của NCT 88

Bảng 4.10 T lệ mắc bệnh tr m cảm của người cao tuổi 93

Bảng 4.11 Kết quả hồi quy logistic cho tr m cảm của người cao tuổi 96

Bảng 4.12 T lệ người cao tuổi đang làm việc theo giới 100

Bảng 4.13 T lệ người cao tuổi đang làm việc theo khu vực 102

Bảng 4.14 Kết quả hồi quy tình trạng làm việc của người cao tuổi, theo giới tính 105

Bảng 4.15 Kết quả hồi quy tình trạng làm việc của NCT, theo khu vực sống 108

Trang 9

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 3.1: Khung phân tích tác động của SXCS đến sức khỏe NCT 52 Hình 3.2 Khung phân tích tác động của SXCS đến tình trạng làm việc của NCT 64

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Các quốc gia phát triển và đang phát triển đã và đang bước vào giai đoạn già hoá dân số Trên thế giới hiện nay, cứ mỗi giây có hai người vừa bước vào tuổi 60; trung bình cứ 9 người trên trái đất thì có một người từ 60 tuổi trở lên và t số này sẽ

là 5:1 vào năm 2050 Châu Á là khu vực có số lượng người cao tuổi lớn nhất thế giới chiếm 55,2% dân số cao tuổi trên thế giới bởi các quốc gia có siêu quy mô dân số trên thế giới đều tập trung tại châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia và Nhật Bản Theo dự báo dân số của Liên hợp quốc (United Nations, 2017), cho đến năm 2050, thứ hạng này vẫn thuộc về châu Á Sự lão hoá dân số là kết quả của mức sinh giảm và tuổi thọ tăng Trong khi già hóa dân số được coi là thành tựu của quá trình phát triển thì nó cũng là thách thức lớn với các nước đang phát triển, đặc biệt

là những nước với đặc điểm nổi bật là “già trước khi giàu” (Goli & Pandey, 2016) trong đó có Việt Nam

Một trong vấn đề trọng tâm của già hoá dân số là lựa chọn mô hình sắp xếp cuộc sống gia đình của người cao tuổi NCT Đây là một lĩnh vực mà đòi hỏi c n

có sự quan tâm đ y đủ của xã hội và gia đình (United Nations, 2006) Việc sắp xếp cuộc sống gia đình của NCT – d là ngẫu nhiên mang tính chuyển tiếp từ giai đoạn này sang giai đoạn khác hay là sự lựa chọn có chủ đích của NCT – có ảnh hưởng đến phúc lợi của NCT trong tương lai (Velkoff, 2001)

Ở các nước châu Á, một quan niệm được xã hội thừa nhận là NCT được con cái chăm sóc khi về già bởi điều này xuất phát từ quan niệm truyền thống về lòng hiếu thảo, đó là con cái có nghĩa vụ trả ơn cho cha m vì những hy sinh của họ khi nuôi dạy con cái Do đó, người ta mong đợi rằng nhiều NCT ở các nước châu Á dựa vào gia đình để hỗ trợ và chăm sóc khi về già Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế đã dẫn đến những thay đổi trong cơ cấu gia đình của nhiều nước châu Á, trong đó có Việt Nam, từ mô hình gia đình mở rộng sang kiểu gia đình hạt nhân Do đó, kiểu

Trang 11

Cũng như nhiều nước châu Á khác, gia đình là nguồn hỗ trợ chính cho NCT ở Việt Nam, đặc biệt là ở khu vực nông thôn với ph n lớn NCT đang sinh sống Tuy nhiên, trong hai thập k g n đây, số lượng NCT tăng nhanh chóng cả về quy mô và tốc độ, trong khi đó số lượng trẻ em giảm và nền kinh tế-xã hội có những thay đổi nhanh chóng được xem là các yếu tố tác động sâu sắc đến các hộ gia đình, mạng lưới liên kết trong gia đình và do đó sẽ thay đổi hoàn cảnh sống của NCT Những thay đổi trong cách SXCS này tác động rất lớn đến sức khỏe và tình trạng làm việc của NCT cũng như sự chăm sóc và hỗ trợ NCT Vì vậy, c n một nghiên cứu toàn diện với bộ

dữ liệu đ y đủ để có thể đóng góp thêm sự đa dạng cho những bằng chứng thực nghiệm cũng như nghiên cứu học thuật

Về mặt thực nghiệm, trong thời gian qua có nhiều nghiên cứu trên thế giới được thực hiện trên nhiều phạm vi khác nhau để nhằm tìm ra câu trả lời liệu cách SXCS của NCT có thay đổi theo thời gian và có hay không tác động của SXCS đến sức khỏe và tình trạng làm việc ở NCT Ph n lớn các nghiên cứu cho thấy, theo thời gian, cách SXCS của NCT ở các nước đã có sự thay đổi Park, 2001; Sathyanarayana, Kumar và James, 2012; United Nations, 2017 và các nghiên cứu đều đưa ra bằng chứng thống kê rằng cách SXCS có tác động đến sức khỏe và tình trạng làm việc ở NCT Các nghiên cứu về tác động của sắp xếp cuộc sống đến sức khỏe của NCT đã chỉ ra những lợi ích của việc sống chung, những người cao tuổi sống chung có sức khỏe tốt hơn so với những người sống một mình McKinnon, Harper và Moore, 2013; Samanta, Chen và Vanneman, 2015; Paul & Verma, 2016 ) Tuy nhiên, một số các nghiên cứu khác chứng minh rằng việc sống chung gây

ra những bất lợi cho sức khỏe NCT so với sống một mình do những mâu thuẫn giữa các thành viên trong gia đình, do sự phụ thuộc quá mức vào những hỗ trợ từ gia

đình và do thiếu sự riêng tư ví dụ, Chen và cộng sự, 2015; Mahapatro, Acharya và

Singh, 2017) Rõ ràng, với những bằng chứng trái ngược nhau như thế thì việc nghiên cứu tác động của SXCS đến sức khỏe NCT trong bối cảnh xã hội Việt Nam

là hết sức c n thiết để có những chính sách ph hợp

Trang 12

Các nghiên cứu cũng cho thấy thực tế là ph n lớn NCT vẫn tham gia làm việc Hội LHPN Việt Nam, 2012; United Nations, 2019 Một số bằng chứng cho thấy rằng tham gia làm việc ở NCT có liên quan tích cực đến sức khỏe thể chất, tinh th n

và nhận thức của họ WHO 2015 NCT tham gia làm việc sẽ giúp quá trình suy giảm về thể chất và nhận thức chậm hơn so với những người không làm việc do những kích thích tích cực khi làm việc và lợi ích từ sự tham gia vào xã hội mang lại Hơn nữa, do hiện đại hóa, NCT giờ đây được khuyến khích và thậm chí thúc đẩy tìm việc làm trong thị trường lao động để có sự độc lập hơn nếu mạng lưới an sinh

xã hội không đủ đáp ứng Tuy nhiên, động lực tham gia làm việc ở NCT cũng c n phải được xem xét trong bối cảnh văn hóa xã hội (Teerawichitchainan, Pothisiri và Long, 2015) Nghiên cứu của Connelly, Maurer-fazio và Zhang (2014), Tong , Chen và Su (2018) đưa ra kết luận rằng, NCT sống chung với con có thể ít phải làm việc hơn vì ảnh hưởng của giá trị truyền thống liên quan đến sự hỗ trợ giữa các thế

hệ Tuy nhiên, một số các nghiên cứu khác cho kết quả ngược lại là NCT sống chung với con lại có xác suất làm việc cao hơn so với những hình thức SXCS khác

ví dụ, Croda & Gonzalez, 2005; Paul & Verma, 2016; Raymo và cộng sự, 2018

Như vậy, bằng chứng về tác động của SXCS đến sức khỏe và tình trạng làm việc của NCT trong các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới cho đến nay vẫn chưa thống nhất Sự khác biệt này là do không gian nghiên cứu, giai đoạn nghiên cứu và đặc biệt là điều kiện kinh tế-xã hội và đặc điểm văn hóa, lối sống Do đó, nghiên cứu này là thật sự c n thiết để bổ sung thêm một bằng chứng thực nghiệm trong bối cảnh của một nước có mức thu nhập trung bình nhưng lại có tốc độ già hóa dân số nhanh như Việt Nam

Việt Nam là một trong những nước có tốc độ già hóa dân số rất cao, đặc biệt là so với các nước có mức thu nhập trung bình Theo kết quả Tổng điều tra Dân

số và Nhà ở năm 2019, t lệ NCT người từ 60 tuổi trở lên là g n 11,9% tổng dân

số tương đương với 11,4 triệu người Dự báo dân số giai đoạn 2014-2049 của Tổng cục Thống kê TCTK 2016 cho thấy, t lệ NCT sẽ tăng lên mức 26,1% vào

Trang 13

Theo truyền thống, đồng cư trú là hình thức phổ biến ở Việt Nam nên người cao tuổi NCT được chăm sóc bởi các thành viên trong gia đình Cho tới nay, gia đình vẫn là nguồn an sinh của NCT – là nơi cung cấp và hỗ trợ chính cho NCT cả

về mặt vật chất và tinh th n Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi nhanh chóng về kinh

tế - xã hội và xu hướng di cư đã tác động mạnh mẽ đến hộ gia đình theo hướng thay đổi từ hộ gia đình truyền thống với nhiều thế hệ sang hộ gia đình hạt nhân, đặc biệt

là hộ gia đình chỉ có vợ chồng là NCT sống với nhau Sự thay đổi đó cũng làm cho

vị thế của NCT trong hộ gia đình cũng thay đổi Bên cạnh đó, sống một mình là điều ít mong muốn về mặt xã hội nhưng lại đang trở thành xu hướng ngày càng phổ biến ở NCT, đặc biệt là phụ nữ ở độ tuổi rất cao từ 80 trở lên Những sự biến đổi sắp xếp cuộc sống SXCS hay sắp xếp cư trú như thế vừa là cơ hội, vừa là thách thức cho việc chăm sóc và phát huy vai trò NCT

C ng lúc đó, ph n lớn NCT Việt Nam sống ở khu vực nông thôn không có lương hưu và không có thu nhập tích lũy khi về già và nhiều NCT không nhận được

sự hỗ trợ từ hệ thống an sinh xã hội UNFPA 2011; Giang Thanh Long và Phí Mạnh Phong 2016 nên thực tế nhiều NCT vẫn ở lại làm việc lâu hơn để hỗ trợ tài chính cho bản thân và gia đình Cho nên, với sự thay đổi trong cách SXCS gia đình của NCT theo xu hướng sống với con ngày càng giảm sẽ có ảnh hưởng lớn đến an sinh thu nhập cho NCT, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế-xã hội của Việt Nam

Như vậy, trong bối cảnh già hóa dân số, những thay đổi trong SXCS, thị trường lao động thì việc xem xét tác động của SXCS đến sức khỏe, tình trạng làm việc của NCT rất c n thiết Tuy nhiên, theo hiểu biết của tác giả thì cho đến nay, vẫn chưa có một nghiên cứu nào ở Việt Nam phân tích tác động của SXCS đến sức khỏe thể chất và tâm th n và tình trạng làm việc của NCT Do đó, nghiên cứu này

là c n thiết để cung cấp những bằng chứng lý thuyết và thực nghiệm để từ đó mang lại những giá trị học thuật và chính sách Đây cũng chính là động lực, lý do chính

mà NCS lựa chọn đề tài “Tác động của sắp xếp cuộc sống đến sức khỏe và tình

trạng làm việc của người cao tuổi Việt Nam” để nghiên cứu

Trang 14

2 Mục tiêu nghiên cứu của luận án

2.1 Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu nghiên cứu của luận án là xây dựng khung lý thuyết và đƣa ra các bằng chứng thực nghiệm về tác động của SXCS đến sức khoẻ và tình trạng làm việc của NCT ở Việt Nam Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, luận án đề xuất một số chính sách nhằm góp ph n cải thiện sức khỏe và tình trạng làm việc của NCT Việt Nam

iv Trên cơ sở các kết quả phân tích, đề xuất một số chính sách nhằm cải thiện sức khỏe và tình trạng làm việc của NCT

2.3 Câu hỏi nghiên cứu

Mục tiêu của luận án đƣợc làm rõ qua các câu hỏi nghiên cứu sau:

i Tác động của SXCS đến sức khỏe và tình trạng làm việc ở NCT đƣợc giải thích bằng các lý thuyết nào?

(ii) Thực trạng về SXCS của NCT Việt Nam hiện nay nhƣ thế nào?

iii Trong điều kiện của Việt Nam, yếu tố SXCS tác động đến sức khỏe và tình trạng làm việc của NCT nhƣ thế nào?

iv Dựa vào các kết quả nghiên cứu thực nghiệm, c n có các chính sách nhƣ thế nào để nâng cao sức khỏe cho NCT và cải thiện tình trạng làm việc của NCT?

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Trang 15

NCT, tình trạng làm việc của NCT và tác động của SXCS đến sức khỏe và tình trạng làm việc của NCT

trạng làm việc của NCT và tác động của SXCS đến tình trạng làm việc của NCT

- Về không gian: Luận án nghiên cứu ở Việt Nam

- Về thời gian:

Nghiên cứu sự thay đổi trong cách SXCS của NCT giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2016 trên cơ sở sử dụng dữ liệu Khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam VHLSS của Tổng cục Thống kê

Nghiên cứu tác động của SXCS đến sức khỏe và tình trạng làm việc của NCT trên cơ sở dữ liệu của Điều tra Người cao tuổi Việt Nam năm 2011 VNAS

2011 vì đến thời điểm hoàn thành Luận án này, VNAS 2011 là cơ sở dữ liệu đại diện quốc gia cho dân số cao tuổi mà có đ y đủ nhất các thông tin phục vụ nghiên cứu, đặc biệt là thông tin về sức khỏe và tình trạng làm việc của NCT

4 Những đóng góp mới của luận án

4.1 Những đóng góp về mặt khoa học

Đã có nhiều nghiên cứu ở Việt Nam và các nước về các vấn đề kinh tế-xã hội

và chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi NCT , nhưng cho tới nay vẫn còn rất ít nghiên cứu về sức khỏe (cả về thể chất và tâm th n và tình trạng làm việc của NCT, đặc biệt trong mối liên hệ với sắp xếp cuộc sống (hay sắp xếp cư trú của

Trang 16

người cao tuổi Do đó, kết quả nghiên cứu của luận án về tác động của sắp xếp cuộc sống SXCS đến sức khỏe thể chất, sức khỏe tâm th n và tình trạng làm việc của NCT là sự bổ sung c n thiết, đúng lúc cho các nghiên cứu về chủ đề này trong bối cảnh hiện nay Đồng thời, các kết quả nghiên cứu của luận án gắn liền với đặc thù của Việt Nam – một nước có thu nhập trung bình thấp nhưng có tốc độ già hóa dân

số rất nhanh – cũng là sự bổ sung c n thiết Về mặt học thuật, luận án có những đóng góp sau đây:

- Luận án đã thực hiện hệ thống hóa các lý thuyết về SXCS, sức khỏe, làm việc và tác động của SXCS đến sức khỏe và tình trạng làm việc của NCT Trên cơ

sở này, tác giả đã xây dựng được định nghĩa về sắp xếp cuộc sống của NCT và phân loại cách SXCS phù hợp với đặc điểm kinh tế-xã hội và bối cảnh văn hóa của Việt Nam

- Trên cơ sở xây dựng khung phân tích và mô hình hồi quy phù hợp để lượng hóa tác động của SXCS đến sức khỏe thể chất, sức khỏe tâm th n và tình trạng làm việc của NCT, luận án đã góp ph n bổ sung và hoàn thiện phương pháp nghiên cứu tác động của SXCS đến sức khỏe và tình trạng làm việc của NCT Phương pháp này hoàn toàn có thể được áp dụng ở các nước có điều kiện kinh tế-xã hội tương tự như

Việt Nam và có những dữ liệu, thông tin tương ứng

4.2 Những đóng góp về mặt thực tiễn

Việt Nam là nước có mức thu nhập trung bình thấp nhưng dân số đang già hóa rất nhanh Tuy nhiên, thực trạng về SXCS tác động thế nào tới sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh th n và tình trạng làm việc của NCT – những vấn đề rất quan trọng để hướng tới “già hóa thành công”, “già hóa tích cực” – vẫn còn bỏ ngỏ và chưa được phân tích thấu đáo, khoa học Do đó, luận án này đã có những đóng góp về mặt thực

ti n như sau:

- Bằng việc sử dụng dữ liệu có tính đại diện quốc gia về NCT, luận án cung

Trang 17

cấp các kết quả thực ti n về SXCS, sức khỏe thể chất, sức khỏe tâm th n và tình trạng làm việc hiện nay của NCT Việt Nam;

- Luận án làm rõ được cách thức SXCS của NCT đã có tác động đến sức khỏe thể chất, sức khỏe tâm th n và tình trạng làm việc của NCT như thế nào trong bối cảnh của Việt Nam để từ đó bổ sung thêm bằng chứng thực ti n về vấn đề này không chỉ cho các nghiên cứu của Việt Nam mà cả những nghiên cứu về NCT nói chung và vấn đề SXCS, sức khỏe và làm việc của NCT cho thế giới;

- Luận án có thể là nguồn học liệu cho sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh cũng như là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, nhà lập chính sách trong lĩnh vực nghiên cứu này

có thể là đ u vào, là bằng chứng cho việc đề xuất các chính sách ph hợp trong việc chăm sóc cũng như phát huy vai trò của NCT trong gia đình, cộng đồng và xã hội như đã được nhấn mạnh trong “Kế hoạch hành động quốc gia về người cao tuổi giai đoạn 2011-2020, t m nhìn đến 2030” c ng nhiều văn bản chính sách khác của Đảng

và Nhà nước Bên cạnh đó, kết quả của luận án cũng củng cố thêm các bằng chứng cho việc c n phải có những điều chỉnh về chiến lược và chính sách để thích ứng với dân số già hóa nhanh, trong đó chăm sóc sức khỏe và an sinh thu nhập là những mục tiêu quan trọng

Trang 18

5 Kết cấu của luận án

Để đáp ứng được các mục tiêu nghiên cứu, ngoài ph n mở đ u, kết luận, tài

liệu tham khảo, kết cấu của luận án được tổ chức thành năm 05 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết về tác động của SXCS đến sức khỏe và tình trạng

làm việc của NCT

Chương 3: Thiết kế nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 5 Một số đề xuất chính sách

Trang 19

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1 Các nghiên cứu về sắp xếp cuộc sống người cao tuổi

Quá trình già hóa dân số ở các quốc gia trên thế giới đã và đang di n ra nhanh chóng Điều đáng lưu ý là các nước đang phát triển lại là nơi có t lệ NCT đang sống cao nhất Theo phân tích và dự báo của United Nations (2017) thì t lệ NCT sống ở các nước đang phát triển sẽ tăng từ 56% vào năm 1980 lên 79% vào năm

2050 Già hóa dân số ngày càng được quan tâm vì những thay đổi của nó gắn liền với phát triển kinh tế-xã hội, sức khỏe cũng như thay đổi trong quan hệ gia đình, cộng đồng và toàn xã hội

Việt Nam đang chuyển rất nhanh chóng từ một dân số “trẻ” vào những năm

1980 sang “cơ cấu dân số vàng” vào cuối những năm 2000 và cũng bước vào giai đoạn “dân số bắt đ u già” từ năm 2011 (UNFPA, 2011) C ng với dân số già hóa là những thay đổi trong cấu trúc nhân khẩu học, nền kinh tế, văn hóa, xã hội, mô hình thu nhập-tiêu d ng cũng như c n những nỗ lực của chính phủ để đưa ra các chính sách thích ứng với tiến trình này Sự lão hóa của dân số đặt ra nhiều thách thức c n phải giải quyết cho gia đình, cộng đồng và xã hội

Sự lựa chọn SXCS của NCT là một vấn đề phức tạp bởi nó không chỉ được hình thành dựa trên các chuẩn mực xã hội và sở thích cá nhân mà còn được xác định bởi nhiều biến số kinh tế - xã hội, nhân khẩu học và sức khỏe

1.1.1 Các nghiên cứu về sắp xếp cuộc sống người cao tuổi ở nước ngoài

Ở các nước phát triển, hơn 60% NCT người từ 65 tuổi trở lên sống một mình hoặc chỉ sống với vợ/chồng (Palloni, 2000; Tomassini và cộng sự, 2004 Bắt đ u từ những năm 1960 đã có sự thay đổi trong cách SXCS của NCT ở các nước này, trong đó NCT sống độc lập với con cái trở nên phổ biến (United States, 1988; Gaymu và cộng sự, 2006 và con số này không ngừng gia tăng Hiện có khoảng

Trang 20

70% NCT ở khu vực châu Âu và Bắc Mỹ sống độc lập với con cái (United Nations, 2017) Tuy nhiên, một vài nghiên cứu cũng cho thấy rằng, ở các nước này, các kiểu SXCS của NCT lựa chọn không phải cố định trong suốt những năm cuối của cuộc đời mà có thể thay đổi theo từng độ tuổi vì NCT có thể thay đổi từ sự sắp xếp cuộc sống nhất định ban đ u sang một cách sắp xếp cuộc sống khác (Wilmoth, 1998) Wilmoth xem xét mối quan hệ giữa độ tuổi và sự chuyển tiếp từ bốn cách sắp xếp cuộc sống đó là: sống một mình; chỉ sống với vợ/chồng; sống với ít nhất một người con; sống với vợ/chồng và các con Kết quả nghiên cứu cho thấy, sống một mình hoặc sống chỉ với vợ/chồng là cách sắp xếp cuộc sống ổn định nhất trong giai đoạn

đ u của cuộc đời và cách sắp xếp cuộc sống này sẽ giảm d n theo tuổi tác, trong khi sống với con cái là hình thức sắp xếp cuộc sống ổn định nhất đối với nhóm người cao tuổi nhất Như vậy, tuổi tác càng tăng thì sắp xếp cuộc sống không ổn định Cũng c ng quan điểm, Chaudhuri và Roy (2007) cũng có kết luận khi NCT càng lớn tuổi thì khả năng sống một mình giảm Ngược với kết quả nghiên cứu này, Martin (1989) và Park (2001) cho thấy, người càng lớn tuổi thì xác suất sống chung với con càng giảm – một kết quả ngược với suy nghĩ là người càng già thì càng c n nhiều sự hỗ trợ hơn từ con và vì thế mà t lệ sống chung với con sẽ tăng theo tuổi Các nghiên cứu cũng cho thấy, có sự khác biệt lớn trong SXCS giữa nam và

nữ cao tuổi cũng như giữa khu vực thành thị và nông thôn Theo giới tính, t lệ phụ

nữ cao tuổi sống một mình cao gấp đôi nam giới Gaymu và cộng sự, 2006 Sở dĩ

có sự khác biệt lớn này là do phụ nữ sống lâu hơn nam giới (Gjonca, 2005; WHO, 2019) Phụ nữ thường có chồng lớn tuổi hơn nên họ thường chết sau chồng Hơn nữa, ly hôn và ly thân gia tăng cũng dẫn đến sự gia tăng số lượng người sống một mình Theo khu vực sống, các nghiên cứu cho thấy những NCT ở khu vực thành thị

ít có khả năng sống một mình hơn NCT ở khu vực nông thôn (Karagiannaki, 2011) NCT sống c ng với gia đình hay đồng cư trú là mô hình SXCS phổ biến ở các nước châu Á Brown và cộng sự, 2002; Evi & Arifin, 2006; Giang & Pfau, 2007) Tiến hành nghiên cứu với bộ dữ liệu điều tra rộng hơn cho 43 quốc gia châu Á,

Trang 21

ở các nước này đều có xu hướng sống trong các hộ gia đình có quy mô lớn và thường sống chung với một người con trưởng thành, trong đó sống chung với con trai là phổ biến

Nghiên cứu của Martin (1989), Hashimoto (1991), Yi và George (2000), Zimmer và Kim (2001), Pal và Drive (2004) và Jones (2006) cũng cho kết quả tương tự là đa số NCT ở các nước châu Á sống c ng với con cái Điều này có thể được lý giải là, ở các nước châu Á, các giá trị truyền thống dựa trên các chuẩn mực

xã hội liên quan đến nghĩa vụ và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thế hệ (Chen, 2005) Dựa vào các giá trị truyền thống, lòng hiếu thảo, ở các nước châu Á, con cái

có nghĩa vụ chăm sóc bố m già Người ta tin rằng con cái trưởng thành có các khoản nợ suốt đời với bố m lớn tuổi với tư cách là những người đã sinh ra và nuôi dưỡng họ và vì thế mà con cái nên trả nợ này bằng cách hỗ trợ vô hạn Kết quả là, NCT ở các nước châu Á thường sống chung với con trưởng thành để nhận được sự

hỗ trợ từ các thành viên trong gia đình Hơn nữa, ở các nước này, sống riêng biệt với con có thể làm cho bố m già cảm thấy xấu hổ

Nghiên cứu cách SXCS theo giới tính và theo khu vực cho thấy, nam giới cao tuổi thường có t lệ sống c ng với con hơn là phụ nữ cao tuổi, trong khi phụ nữ cao tuổi có t lệ sống một mình cao hơn nam giới cao tuổi Một trong những phát hiện khá thú vị trong cách SXCS của NCT ở các nước châu Á là NCT ở khu vực nông thôn ít có khả năng sống c ng với con cái hơn so với NCT ở khu vực thành thị Lý giải sống chung ở khu vực đô thị cao hơn là do di cư của những người trẻ tuổi từ nông thôn ra thành thị (Karagiannaki, 2011), do chi phí về nhà ở (Hashimoto, 1991; Davanz & Chan, 2007) nên người trưởng thành ở các khu vực đô thị sẽ gặp phải khó khăn trong việc sở hữu một ngôi nhà và vì thế mà họ vẫn tiếp tục sống chung với bố m cao tuổi Hơn nữa, ở khu vực đô thị, cuộc sống của người dân cũng thường bận rộn hơn và kết quả là mọi người có thể lựa chọn kiểu sống chung (Evi

& Arifin, 2006), tức là NCT ở khu vực nông thôn nhiều khả năng sống một mình hơn và thực tế này có thể trái ngược với suy nghĩ của nhiều người đô thị hóa sẽ làm cản trở sự sống chung giữa các thế hệ Phát hiện này cũng ph hợp với nghiên cứu

Trang 22

về các nước châu Á của Chaudhuri và Roy (2007)

Những thay đổi cơ bản trong cách SXCS của người cao tuổi ở châu Á đã và đang di n ra trong thời gian g n đây Như đã đề cập ở trên, truyền thống văn hóa và

sự ưa thích trong SXCS của NCT ở châu Á là bố m già sống chung với con Tuy nhiên, kiểu SXCS đã và sẽ thay đổi theo thời gian c ng với sự thay đổi của đặc điểm nhân khẩu học, điều kiện kinh tế- xã hội Chẳng hạn, nghiên cứu của Chi (1995) cho thấy, NCT Trung Quốc thích sống c ng với con cái, đặc biệt là con trai

và cách SXCS của NCT Trung Quốc là “luân phiên”, tức là NCT Trung Quốc luân phiên nhau ăn-ngủ ở nhà các con trai của họ Tuy nhiên, sự ưa thích này không phải lúc nào cũng được thực hiện ở Hồng Kong do có nhiều thay đổi đã di n ra, sự thay đổi rõ nhất là quy mô gia đình đang giảm d n và sự gia tăng gia đình hạt nhân cho nên sự ưa thích sống kiểu “luân phiên” sẽ khó thực hiện Hơn nữa, Hồng Kong là một nước được Tây hóa nhiều và họ chấp nhận hệ thống giá trị của phương Tây nên

t lệ NCT sống c ng với con cái ở Hồng Kong thấp nhất ở châu Á và xu hướng ưa thích của NCT ở Hồng Kong trong cách SXCS là sống g n con cái hơn là sống

c ng nhà với con cái

Sống g n với con cái trở nên là cách SXCS phổ biến để cung cấp sự hỗ trợ cho NCT, nhưng vẫn duy trì được độc lập/riêng tư của cả NCT và con cái trưởng thành

Sự ưa thích theo mô hình SXCS này cũng được tìm thấy trong nghiên cứu đối với NCT Trung Quốc sống ở khu vực thành thị Meng và cộng sự, 2017 Trên thực tế thì cách SXCS này cũng rất phổ biến ở các nước phương Tây

Như trên đã trình bày, d ph n lớn NCT ở các nước châu Á vẫn sống chung với con cái, nhưng một xu hướng ngày càng tăng lên trong SXCS của NCT là sống một mình T lệ NCT sống độc lập đã tăng từ 18% năm 1990 lên 27% năm 2010, trong khi t lệ sống chung với con cái giảm từ 73% còn 64% (United Nations, 2017) Các nghiên cứu của Park (2001) và Sathyanarayana, Kumar và James (2012) cũng cho kết quả tương tự Có nhiều cách giải thích cho vấn đề này mà một trong những cách giải thích phổ biến nhất là số lượng nhân khẩu trong hộ gia đình mà

Trang 23

2017) Ngoài các yếu tố nhân khẩu học, xu hướng sống độc lập có thể liên quan đến việc thu nhập của NCT được cải thiện vì Chaudhuri và Roy (2007) và Panigrahi (2009) đã chỉ ra rằng những NCT có thu nhập cao thích sống một mình hơn là những người có thu nhập thấp Nghiên cứu của Martin (1989) và Meng và cộng sự (2017) còn phân tích kỹ hơn nguồn thu nhập và cho thấy lương hưu có ảnh hưởng đến việc quyết định sống một mình của NCT nhưng ảnh hưởng này là không đáng

kể, trong khi nhân tố chính lại là chi phí nhà ở

Các kết quả nghiên cứu trên cho thấy, xu hướng sống độc lập của NCT đã tăng lên theo thời gian ở từng nhóm tuổi Điều này hoàn toàn trái ngược với kết luận của Chaudhuri và Roy (2007) khi NCT càng lớn tuổi thì khả năng sống một mình giảm

Dữ liệu điều tra của Tổ chức Y tế Thế giới WHO cũng cho kết quả tương tự, đó là những người càng lớn tuổi thì xác suất sống chung với con cái giảm - điều này trái với mong đợi là những người càng già thì càng c n nhiều sự hỗ trợ hơn nên t lệ sống chung với con cái phải tăng theo tuổi (Chaudhuri & Roy, 2007)

Sự thay đổi trong cách SXCS độc lập cũng có sự khác biệt theo giới tính và theo khu vực Phụ nữ cao tuổi có nhiều khả năng sống một mình hơn so với nam giới và NCT ở khu vực nông thôn cũng có khả năng sống một mình cao hơn so với khu vực đô thị Những phát hiện này cũng hoàn toàn tương đồng với các nước phát triển nói chung

1.1.2 Các nghiên cứu về sắp xếp cuộc sống người cao tuổi ở Việt Nam

Một trong những nghiên cứu ban đ u về SXCS của NCT ở Việt Nam được thực hiện bởi Truong Si Anh và Bui The Cuong (1997) với dữ liệu từ các cuộc khảo sát về NCT ở một số tỉnh thuộc Đồng bằng sông Hồng và các tỉnh thuộc Đông Nam

Bộ vào các năm 1995-1996 Nghiên cứu này đã cho những kết quả tóm tắt về cách SXCS của NCT ở Việt Nam Cũng như NCT ở nhiều nước châu Á khác, h u hết 97% NCT ở Việt Nam sống trong các hộ gia đình c ng với các thành viên trong gia đình Đồng cư trú với vợ/chồng và ít nhất một người con đã lập gia đình là hình mẫu gia đình phổ biến của NCT có con cái trưởng thành trong thời điểm đó Cách SXCS này được coi là truyền thống vì gia đình là một tổ chức kinh tế và xã hội

Trang 24

cung cấp hỗ trợ về tài chính, thể chất và tình cảm và vì thế mà đồng cư trú đem lại đời sống vật chất, tinh th n và sức khỏe cho NCT Các nghiên cứu của Barbieri

(2006), Giang và Pfau (2007) và Thi (2016) cũng cho kết quả tương tự

T lệ sống c ng với con giữa nam giới và phụ nữ cao tuổi không có sự khác biệt rõ rệt d phụ nữ cao tuổi có nhiều khả năng sống c ng với con đã lập gia đình hơn nam giới (Knodel & Truong, 2001) Mức độ đồng cư trú thay đổi đáng kể theo

v ng nông thôn và thành thị (Jed Friedman, John Knodel và Bui The Cuong, 2002)

T lệ đồng cư trú ở thành thị cao hơn so với nông thôn và điều này giống với những phát hiện ở một số nước đang phát triển mà một ph n nó phản ánh chi phí khác biệt

về nhà ở Trong số những NCT đồng cư trú với con cái thì sự SXCS nổi bật nhất là NCT sống với con trai đã lập gia đình hơn là sống với con gái đã lập gia đình (Knodel & Debavalya, 1997; Teerawichitchainan, Knodel, và Pothisir, 2015) điều này h u như không thay đổi theo độ tuổi và giới tính của NCT Ngược lại, với một

số nước như Philippin và Thái Lan, NCT có xu hướng sống với con gái đã kết hôn Knodel và cộng sự, 2015

Phân tích của UNFPA (2011) với dữ liệu từ điều tra mức sống dân cư/hộ gia đình Việt Nam trong giai đoạn 1993-2008 cho thấy, ph n lớn NCT Việt Nam vẫn sống chung với con cái, nhưng t lệ này giảm theo thời gian từ 80% vào năm 1993 xuống 62% vào năm 2008 Theo dữ liệu VHLSS, t lệ này giảm xuống còn hơn 40% vào năm 2016 Tương ứng việc giảm t lệ sống c ng con cái, t lệ NCT sống một mình và chỉ sống với vợ/chồng lại tăng lên giữa hai năm 1993 và 2008 tương ứng từ 3,5% lên 6,4% và từ 9,5% lên 21,5% Trong số những NCT sống một mình thì có tới 80% NCT sống ở nông thôn và 80% là phụ nữ

Mặc d chỉ có một t lệ nhỏ NCT ở Việt Nam sống một mình nhưng t lệ này

có xu hướng tăng, đặc biệt ở những NCT có tuổi rất cao từ 80 trở lên (Giang & Pfau, 2007) Phụ nữ cao tuổi có t lệ sống một mình cao hơn nam giới cao tuổi và

nó được phản ánh bằng sự khác biệt về giới tính trong t lệ tử vong và tái hôn cũng như dẫn tới tình trạng “nữ hóa dân số cao tuổi” tức là tuổi càng cao thì dân số cao

Trang 25

Nhận xét

Sự SXCS của NCT là kết quả của sở thích và những ràng buộc của cá nhân

Và cách SXCS ưa thích có thể khác với cách SXCS thực tế của họ vì những hạn chế

về sức khỏe, khả năng về tài chính thu nhập và tài sản , tình trạng gia đình gồm có vợ/chồng và/hoặc số con mà họ có cũng như những chi phí về nhà ở và nơi sinh sống nông thôn hoặc thành thị Những ưu tiên về SXCS cũng chịu sự ảnh hưởng bởi các chuẩn mực và truyền thống văn hóa Nhìn chung, các nghiên cứu của thế giới và Việt Nam về sự SXCS của NCT cho thấy, mô hình SXCS của NCT ở các quốc gia, ở các khu vực là khác nhau Sống một mình hoặc chỉ sống với vợ/chồng là hình thức SXCS phổ biến nhất được tìm thấy ở các nước phát triển và sống với con

là hình thức phổ biến ở các nước đang phát triển Tuy nhiên, những bằng chứng thực nghiệm cho thấy, ở các nước đang phát triển như Việt Nam, c ng với những thay đổi kinh tế-xã hội thì mô hình SXCS truyền thống cũng đang có sự thay đổi nhanh chóng Do đó, c n có sự nghiên cứu để có những chính sách thích ứng với sự thay đổi này

Về phương pháp nghiên cứu thì h u hết các nghiên cứu của thế giới cũng như Việt Nam khi nghiên cứu về cách thức SXCS của NCT chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích thống kê mô tả để làm rõ vấn đề này

1.2 Các nghiên cứu về tác động của SXCS đến sức khoẻ NCT

Các nghiên cứu về tác động của SXCS đến sức khoẻ NCT được thực hiện chủ yếu ở các nước phát triển như Nhật Bản, các nước Tây Âu và g n đây đã xuất hiện ngày càng nhiều ở một số các nước đang phát triển bởi mối quan tâm về già hoá dân số tăng nhanh ở các nước này Trong ph n tổng quan dưới đây, luận án tập trung vào làm rõ SXCS có tác động như thế nào đến sức khỏe của NCT

Sự SXCS khác nhau có mối quan hệ với sự đa dạng trong các mối quan hệ gia đình và các kiểu trao đổi khác nhau giữa các thành viên trong gia đình (Brown và cộng sự, 2002) cũng như ngay lập tức hình thành môi trường xã hội được tạo ra bởi gia đình (Hughes & Waite, 2002) SXCS đặc biệt quan trọng ở tuổi già vì những

Trang 26

người cao tuổi thường có nguy cơ về các vấn đề sức khỏe thể chất và tinh th n cùng với quá trình lão hóa SXCS có thể ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe thể chất và tinh

th n ở tuổi già bởi vì chúng liên quan đến việc điều chỉnh hành vi cung ứng và tiêu dùng các nguồn lực kinh tế cũng như vai trò của các cá nhân trong gia đình (Li, Song và Feldman, 2009) Hơn nữa, cho dù SXCS hiện tại có phù hợp với sự ưa thích của NCT thì SXCS nó cũng có ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất và tâm lý của NCT (Oladeji, 2011) Do đó, SXCS là yếu tố quan trọng quyết định đến sức khỏe và phúc lợi của NCT trong những năm còn lại của cuộc đời

* SXCS tác động tích cực đến sức khỏe NCT

Một số các nghiên cứu cho thấy rằng NCT sống với các thành viên trong gia đình kết quả là gia tăng phúc lợi kinh tế từ đó làm thúc đẩy sức khỏe tốt hơn Trong một phân tích thực nghiệm xem xét ảnh hưởng của sự SXCS đến tình trạng sức khỏe của NCT tại Ấn Độ, Agrawal (2012) sử dụng số liệu điều tra sức khỏe gia đình và mô hình hồi quy logistic đã cho thấy NCT sống một mình có tình trạng sức khỏe kém và t lệ mắc các loại bệnh nặng, bệnh mạn tính cao hơn so với NCT sống cùng với gia đình Điều đáng lưu ý là t lệ mắc những loại bệnh này đối với NCT nam cao hơn so với NCT nữ và những NCT sống ở khu vực nông thôn cao hơn so với thành thị

Samanta, Chen và Vanneman (2015) đã đặt câu hỏi nghiên cứu liệu cách SXCS theo truyền thống ở Ấn Độ (là NCT sống với con) có lợi cho sức khỏe của họ hay không? Với dữ liệu điều tra khảo sát phát triển con người ở Ấn Độ IHDS năm 2004-2005 và mô hình hồi quy logistic, các tác giả cho thấy sống trong gia đình đa thế hệ mang lại sức khỏe cao nhất cho NCT ở Ấn Độ Mức độ này sẽ giảm theo từng loại hình SXCS Những NCT sống trong các hộ gia đình đa thế hệ có mức độ

bị bệnh tật thấp nhất, trong đó những người sống chung với con trưởng thành và với cháu là có lợi cho sức khỏe nhất Những lợi ích sức khỏe giảm d n khi NCT chỉ sống chung với con và hơn nữa nó cũng giảm khi chỉ sống với vợ/chồng NCT sống một mình có nguy cơ mắc bệnh cao nhất

Trang 27

bệnh tật của NCT nhưng sử dụng bộ dữ liệu điều tra quốc gia về bệnh tật, chăm sóc sức khỏe và tình trạng của NCT “Morbidity, Health Care and the Condition of the Aged” và mô hình logistic, Paul và Verma (2016) đánh giá tác động của SXCS đến tình trạng sức khỏe và bệnh tật của NCT Kết quả cho thấy, SXCS có tác động đến tình trạng sức khỏe của NCT, cụ thể là những NCT sống cùng với con có sức khỏe tốt hơn và được chăm sóc tốt hơn so với những người không sống cùng con cái Weissman và Russell (2016) khi nghiên cứu xem sức khỏe của NCT thay đổi như thế nào qua các cách SXCS khác nhau ở Hoa K đã cho thấy, những NCT người sống một mình hoặc sống với người khác có sức khỏe tự đánh giá kém và hạn chế trong sinh hoạt hàng ngày ADLs cao hơn so với những người đang sống với vợ/chồng Nghiên cứu của Grundy (2000), Hughes và Waite (2002) cũng cho kết quả tương tự rằng những người cao tuổi sống với vợ/chồng và con cái có sức khỏe tốt và t lệ mắc bệnh thấp hơn so với các nhóm khác

Sở dĩ NCT sống cùng con có sức khỏe tốt hơn là do khi sống cùng với con thì NCT được chăm sóc tốt hơn bởi chính con cái hoặc được con cái bảo đảm rằng có một người nào đó sẽ chăm sóc cho bố m (May, 1984) Bên cạnh đó, xét dưới góc

độ kinh tế, sống cùng với các thành viên trong gia đình cho phép chia sẻ các nguồn lực tài chính và xã hội do tính kinh tế của quy mô (nhiều chi phí để duy trì một gia đình được cố định như nhà ở, vận chuyển, sưởi ấm Hơn nữa, sống chung với con góp ph n gia tăng cảm giác tự hào của NCT Do đó, gia đình có thể cung cấp cả

về kinh tế và những hỗ trợ cảm xúc tình cảm, sự đồng hành, sự thoải mái và thân mật sẽ giúp tăng cường sức khỏe cho NCT

Sống chung với con không chỉ tốt cho sức khỏe thể chất của NCT mà ph n lớn các nghiên cứu cũng cho thấy sống chung với con có lợi ích cho sức khỏe tâm

th n của NCT, sự hài lòng với cuộc sống hơn so với các loại hình SXCS còn lại McKinnon, Harper và Moore (2013) nghiên cứu về tác động của SXCS và triệu chứng tr m cảm ở NCT bằng cách sử dụng số liệu từ điều tra sức khỏe thế giới năm 2002-2003 và phương pháp hồi quy meta, nghiên cứu cung cấp bằng chứng cho

Trang 28

thấy NCT sống một mình và sống trong những gia đình khuyết thế hệ có t lệ mắc bệnh tr m cảm cao hơn 2,3 điểm ph n trăm so với những người sống chung ít nhất với một người con ở độ tuổi lao động

Sử dụng dữ liệu thu thập từ một cuộc khảo sát về mối quan hệ xã hội và sức khỏe tâm lý của 1.880 NCT ở Malaysia, Kooshiar và cộng sự 2012 phân tích tác động của SXCS gồm có sống một mình, sống chỉ với vợ/chồng, sống với một người con và sống khác tới sự hài lòng với cuộc sống của NCT Kết quả cho thấy, những NCT sống một mình ít hài lòng về cuộc sống hơn so với các loại hình SXCS khác Phân tích tác động của SXCS đến sức khỏe tâm th n của NCT ở Trung Quốc, Ren và Treiman (2015) cho thấy những NCT sống với vợ/chồng họ hạnh phúc hơn, hài lòng với cuộc sống và ít tr m cảm hơn so với những loại SXCS khác Kết quả cũng tương tự với trường hợp NCT sống trong gia đình ba thế hệ với con và cháu Tuy nhiên, nếu NCT sống trong gia đình hai thế hệ chỉ với con và không có cháu hoặc trong “hộ gia đình khuyết thế hệ” là hộ gia đình mà chỉ có ông bà sống với cháu, chắt thì họ ít hài lòng với cuộc sống và d tr m cảm hơn Điều này có thể do nhiều lý do khác nhau, ví dụ như hộ gia đình hai thế hệ có thể có nhiều xung đột, trong khi NCT sống trong “hộ gia đình khuyết thế hệ” có thể có nhiều gánh nặng hơn Cuối c ng, những NCT sống một mình ít hạnh phúc nhất và bị tr m cảm hơn

so với những người sống với vợ/chồng và những người với con, cháu

Sử dụng dữ liệu từ Tổng điều tra dân số Hong Kong với 2.003 NCT, Chou,

Ho và Chi (2006) xem xét liệu có mối quan hệ giữa sống một mình với tr m cảm của NCT hay không Kết quả từ hồi quy logistic cho thấy, trong số những NCT sống một mình, phụ nữ cao tuổi thường có triệu chứng tr m cảm, trong khi điều này không xảy ra với nam giới cao tuổi Tuy nhiên, khi các biến số nhân khẩu-xã hội học, các chỉ số sức khỏe, hỗ trợ gia đình, khó khăn tài chính được kiểm soát thì việc sống một mình lại không có tác động tới tr m cảm Từ đó, nghiên cứu đưa ra kết luận rằng sống một mình không phải là nguyên nhân duy nhất dẫn đến tr m cảm mà còn do những nhân tố trung gian như sức khỏe, sự hỗ trợ từ gia đình và khó khăn tài

Trang 29

chính Ngược lại, phát hiện của Alfred và cộng sự 1992 lại cho thấy sống một mình có ảnh hưởng rõ rệt tới tr m cảm mà không phụ thuộc vào các yếu tố khác như hỗ trợ và tương tác với bạn b , các l n bị bệnh g n đây, các sự kiện tiêu cực khác trong cuộc sống, khuyết tật, khó khăn tài chính và giới tính Alfred và cộng sự (1992) đã sử dụng mô hình hồi quy bội để xem xét ảnh hưởng của việc sống một mình đến các triệu chứng tr m cảm với ảnh hưởng của các biến số liên quan khác:

hỗ trợ xã hội, căng thẳng, tuổi tác, giới tính và tình trạng hôn nhân Kết quả tìm thấy

là những NCT sống một mình có mức độ triệu chứng tr m cảm cao hơn và mối quan hệ này độc lập với với những ảnh hưởng như: sự hỗ trợ từ bạn b , các sự kiện không mong muốn, bệnh tật và khó khăn tài chính Sống một mình có tác động tới

tr m cảm của đàn ông cao hơn so với phụ nữ

Trên một phạm vi rộng hơn nghiên cứu ở ba nước Việt Nam, Thái Lan, Myanmar về ảnh hưởng sắp xếp cuộc sống đến sức khỏe tâm lý NCT, Teerawichitchainan, Pothisiri và Long (2015) nghiên cứu mối quan hệ này được gắn với các yếu tố văn hóa là sở thích sống với một người con ưa thích với dữ liệu khảo sát về NCT của ba nước vào năm 2011 và 2012 Kết quả nghiên cứu cho thấy

có sự khác biệt giữa ba nước, cụ thể: đối với NCT ở Việt Nam và Thái Lan, sống chung với con có tác động tích cực và cải thiện đáng kể đến sức khỏe tâm lý của NCT, nhưng lợi ích này có sự khác biệt về mặt giới tính của con cái sống c ng ở Việt Nam, sống chung với con trai đã lập gia đình có lợi cho tâm lý của bố m lớn tuổi hơn là sống với những người con khác; ở Thái lan, bất kể giới tính của con cái

bố m cao tuổi sống với con giúp cải thiện tâm lý của NCT nhưng sống với con gái mang lại lợi ích hơn so với chỉ sống với con trai , trong khi đó ở Myanmar, h u như không có sự khác biệt đáng kể về sức khỏe tâm lý của NCT trong các cách SXCS khác nhau Tương tự, nghiên cứu của Yamada và Teerawichitchainan (2015) về tác động của SXCS và phúc lợi tâm lý của NCT ở Việt Nam cũng đã phát hiện ra rằng đồng cư trú giữa các thế hệ có tác động tích cực đến sức khỏe tâm lý của NCT, trong đó nam giới cao tuổi sống với con có sức khỏe tâm lý tốt hơn so với phụ nữ cao tuổi

Trang 30

* SXCS tác động tiêu cực đến sức khỏe NCT

Một số nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng cho rằng sống chung giữa các thế

hệ có ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe thể chất và tinh th n của bố m cao tuổi Ví

dụ, Mahapatro, Acharya và Singh (2017) tiến hành nghiên cứu với bộ dữ liệu điều tra dân số Ấn Độ năm 2011 với giả thiết ban đ u được đặt ra là đồng cư trú mang lại lợi ích cho sức khỏe cho NCT tốt hơn các loại hình SXCS khác Kết quả ước lượng bằng mô hình hồi quy logistic cho thấy, NCT sống trong một gia đình đa thế

hệ (có hoặc không có vợ/chồng hoặc sống với người khác) lại có sức khỏe được đại diện bằng sức khỏe tự đánh giá và tình trạng bệnh tật cao hơn so với những người sống một mình C ng lúc đó, t lệ những người lớn tuổi sống trong tất cả các loại hình SXCS gặp khó khăn về các hoạt động hàng ngày ADLs đều cao hơn so với những người sống một mình Như vậy, so với những NCT sống một mình thì sống chung gây ra bất lợi cho sức khỏe của NCT

Tương tự, trong một nghiên cứu với dữ liệu dọc về tác động của SXCS đến

sức khoẻ NCT ở Hạ Môn (Trung Quốc), Chen và cộng sự (2015) cũng cho thấy

rằng những NCT sống chung với các thành viên trong gia đình có nguy cơ rủi ro về khuyết tật cao hơn gấp ba l n những người sống một mình

Kim (2014) không chỉ xem xét tác động của SXCS đến sức khỏe thể chất của NCT mà còn xem xét SXCS đến cả sức khỏe tâm th n của NCT ở Hàn Quốc với dữ liệu Điều tra về lão hóa ở Hàn Quốc KLoSA giai đoạn 2006-2008 Kết quả cho thấy, đồng cư trú có tác động khác nhau đến sức khỏe tinh th n và thể chất của NCT Cụ thể là những NCT sống c ng với con đã lập gia đình có triệu chứng tr m cảm cao hơn so với những người sống xa con cái, nhưng khi xem xét tình trạng hôn nhân của con cái thì nghiên cứu lại cho thấy NCT sống c ng con đã lập gia đình có chỉ số hài lòng với cuộc sống cao hơn ở những người sống với con chưa lập gia đình Tuy nhiên, những người sống với con thì có sức khỏe thể chất thể hiện bằng chức năng vận động kém hơn so với những người sống xa con Sở dĩ những người sống c ng con lại gặp bất lợi về mặt chức năng vận động hơn là do những người

Trang 31

phụ thuộc vào con và làm tr m trọng hơn các vấn đề về thể chất liên quan đến tuổi Nghiên cứu về NCT Trung Quốc, Li, Zhang và Liang (2009) giả định rằng SXCS có ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe hiện tại của NCT mà không phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe ban đ u và các đặc điểm nhân khẩu học cũng như số con mà NCT có Với k vọng được đặt ra ban đ u là những NCT sống với vợ/chồng và con

sẽ có sức khỏe tốt nhất, tiếp theo là những người sống chỉ với vợ/chồng, sống với con không có vợ/chồng và với người khác, trong khi những người sống một mình

và những người sống trong các trung tâm dưỡng lão sẽ có sức khỏe kém nhất Sử dụng dữ liệu được lấy từ hai đợt đ u tiên của Khảo sát tình hình sức khỏe theo thời gian của Trung Quốc CHLS – China Health Longitudinal Survey và bằng mô hình hồi quy đa thức, các tác giả cho thấy SXCS có liên quan đáng kể đến t lệ tử vong, hạn chế trong các hoạt động hàng ngày ADLs và sức khỏe tự đánh giá Cụ thể, những NCT sống với con và với người khác có t lệ tử vong cao nhất, trong khi những gia đình chỉ có vợ/chồng hoặc cả với vợ/chồng và con cái lại có sức khỏe tốt nhất Những người sống với con và người khác và trong các viện dưỡng lão là những người có nhiều nguy cơ gặp khó khăn về ADLs hơn so với những người sống một mình Đối với sức khỏe tự đánh giá, những người sống với con có sức khỏe tự đánh giá tốt hơn so những người sống một mình và sống trong viện dưỡng lão Điều này có thể được lý giải khi sống chung giữa các thế hệ thì sự đa dạng giữa các thế hệ mang lại cho NCT cảm giác tự hào và vì thế mà có những đánh giá sức khỏe tốt hơn Ngược lại, với ADLs, việc sống chung giữa các thế hệ có thể khuyến khích sự phụ thuộc của NCT và từ đó càng làm tăng mức độ suy giảm khả năng thể chất, làm tăng nguy cơ tử vong

Nghiên cứu g n đây của Zhou và cộng sự 2018 cũng sử dụng dữ liệu từ CHLS để khám phá tác động của SXCS đến sức khỏe NCT Trung Quốc Kết quả cũng chỉ ra rằng SXCS có tác động đến sức khỏe NCT, cụ thể: so với những NCT sống một mình thì đồng cư trú có liên quan đến sức khỏe tự đánh giá tốt hơn nhưng lại gặp khó khăn hơn về ADLs và sự suy giảm nhận thức lại cao hơn NCT sống một mình Tuy nhiên, đối với sức khỏe tâm lý thì nghiên cứu cho thấy những người sống

Trang 32

một mình có sức khỏe tâm lý kém hơn so với những người sống chỉ với vợ/chồng hoặc với vợ/chồng và con Việc sống chung giúp cải thiện sức tâm lý của NCT và điều này sẽ có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sức khỏe tự đánh của một người, nhưng đối với ADLs và sự suy giảm nhận thức thì có thể thuộc khía cạnh thể chất và khách quan của sức khỏe nên có thể không bị ảnh hưởng bởi sức khỏe tâm lý

Việc sống chung với con không phải lúc nào cũng gây ra bất lợi cho sức khỏe của NCT mà bất lợi hay không còn tùy thuộc vào tình trạng hôn nhân của NCT Đối với những NCT hiện tại không có vợ/chồng thì việc sống chung với con cái gặp bất lợi về sức khỏe trên cả hai chức năng ADLs và IADLs so với các loại hình SXCS khác Ngược lại, trong số những người đang có vợ/chồng thì sống chung với con cái lại có sức khỏe tốt hơn (Wang và cộng sự, 2013)

Các nguyên nhân dẫn đến việc sống chung với con có thể gây ra những bất lợi cho sức khỏe của NCT là đồng cư trú sẽ dẫn đến chuyển giao nguồn lực giữa các thế hệ, nhưng trong trường hợp này thì ph n lớn sự chuyển giao nguồn lực là từ bố

m lớn tuổi đến con hơn là từ con cái đến bố m già, gánh nặng của sống chung này không khuyến khích NCT đ u tư vào sức khỏe để kéo dài cuộc sống của họ (Meliyanni Johar, 2011) Do đó, kiểu SXCS này có thể là gánh nặng cho bố m già

và dẫn đến ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe của NCT Hơn nữa, khi sống chung, NCT quá phụ thuộc vào các thành viên trong gia đình nên có thể đẩy nhanh và làm

tr m trọng hơn các vấn đề về sức khỏe của tuổi già (Li, Zhang và Liang, 2009) Ngoài ra, những thay đổi nhanh chóng trong xã hội dẫn đến mở rộng khoảng cách giá trị giữa các thế hệ và việc sống chung giữa bố m già với con cái trưởng thành

có thể gây ra những bất đồng, những xung đột về giá trị tư tưởng và dẫn đến mâu thuẫn trong gia đình và làm cho sức khỏe của NCT xấu đi

Nhận xét

Từ việc tổng quan các nghiên cứu ở trên, có thể rút ra một số kết quả quan trọng như sau:

Trang 33

định đến sức khỏe của NCT Có nhiều bằng chứng, kể cả ở các nước phát triển và các nước đang phát triển, cho thấy sự SXCS có thể ảnh hưởng đến sức khỏe tuổi già – được thể hiện bằng các thước đo khác nhau như sức khỏe tự đánh giá, các khó khăn trong các hoạt động hàng ngày (ADLs), tình trạng tr m cảm, sự suy giảm nhận thức, tình hình bệnh tật và nguy cơ tử vong

- Nhìn chung, các nghiên cứu đều cho rằng sống trong một gia đình đa thế hệ

sẽ góp ph n tăng cường sức khỏe thể chất và tâm th n vì những lợi ích vật chất và phi vật chất mang lại như hỗ trợ chuyển giao trong nội bộ gia đình, sự quan tâm đến sức khỏe, lối sống lành mạnh, sự giúp đỡ trong các hoạt động hàng ngày, cảm

giác tự hào, những hỗ trợ về mặt cảm xúc, tình cảm

- NCT sống một mình thường có tình trạng sức khỏe kém và có nguy cơ bị

tr m cảm cao cũng như ít hài lòng với cuộc sống hơn

- Một số các nghiên cứu lại cho kết quả ngược lại là sống chung không giúp cải thiện sức khỏe cho NCT mà còn làm cho sức khỏe NCT xấu đi Do sự chia sẻ nguồn lực từ bố m cao tuổi sang con cái hoặc việc sống chung làm cho NCT quá phụ thuộc vào người khác dẫn đến sự suy giảm một số chức năng vận động cũng như khoảng cách thế hệ dẫn đến những xung đột về giá trị tư tưởng Đây là các nguyên nhân làm cho việc sống chung giữa bố m và con dẫn đến sự suy giảm sức khỏe ở NCT

Rõ ràng các nghiên cứu trên cung cấp những bằng chứng chưa thống nhất về tác động của các hình thức SXCS đến sức khỏe thể chất và tâm th n của NCT Do

đó, nó vẫn chưa rõ ràng liệu rằng những NCT sống một mình có gặp những bất lợi

về sức khỏe hoặc liệu việc SXCS đồng cư trú có tốt cho sức khỏe hay không? Do thiếu sự nhất quán trong các bằng chứng thực nghiệm nên vấn đề này c n phải tiếp tục được nghiên cứu thêm ở nhiều nước với nhiều bối cảnh khác nhau

Về phương pháp nghiên cứu, thì ph n lớn các nghiên cứu đều sử dụng mô hình hồi quy probit hoặc logistic khi đánh giá tác động của SXCS đến sức khỏe và tình trạng làm việc của NCT Tuy nhiên, hạn chế của các nghiên cứu trên là trong

Trang 34

các mô hình đã bỏ qua sự khác biệt khá phổ biến ở người cao tuổi như: giới tính, khu vực sinh sống)

1.3 Các nghiên cứu về tác động của SXCS đến tình trạng làm việc của NCT

Trong bối cảnh toàn c u hóa về già hóa dân số, những thay đổi trong thị trường lao động, vấn đề làm việc của NCT g n đây đã được quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, trên thực tế rất hiếm công trình nghiên cứu về tác động của SXCS đến tình trạng làm việc của NCT

Dựa vào dữ liệu điều tra SHARE, Croda và Gonzalez (2005) cho thấy NCT rất năng động, tích cực tham gia vào hoạt động khác nhau với khoảng 30% tham gia thị trường lao động, 23% hỗ trợ người thân và bạn b hoặc chăm sóc cho người lớn tuổi bị bệnh hoặc tàn tật Họ cũng tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội như làm công việc tình nguyện hoặc từ thiện, tham gia vào các câu lạc bộ, các tổ chức tôn giáo, chính trị

Nghiên cứu của Gawa (2000) xem xét cấu trúc của hộ gia đình ảnh hưởng như thế nào đến hành vi làm việc của người cao tuổi nam ở Nhật Bản Dựa vào dữ liệu khảo sát vi mô về tình trạng làm việc của NCT các năm 1983, 1988, 1992 và mô hình probit, nghiên cứu chỉ ra rằng, cấu trúc gia đình có tác động đáng kể đến hành

vi việc làm của nam giới cao tuổi Trong giai đoạn 1988-1993, những thay đổi trong

cơ cấu hộ gia đình đã ảnh hưởng đến sự tham gia vào lực lượng lao động của nam giới cao tuổi, cụ thể: nam giới cao tuổi chỉ sống cùng với người vợ hoặc sống cùng với vợ và con cái phụ thuộc có xác suất tham gia vào lực lượng lao động cao hơn so với nam giới trong các cách SXCS còn lại

Croda và Gonzalez (2005) nghiên cứu đặc điểm giới tính, tuổi và SXCS đến tình trạng làm việc của NCT ở các nước châu Âu SXCS được chia làm hai loại, đó là NCT sống cùng con và không sống cùng con Kết quả cho thấy, đồng cư trú với con

có ảnh hưởng đến mức độ tham gia vào các hoạt động bên ngoài gia đình Những NCT sống cùng với con có xác suất làm việc cao hơn những người không sống cùng

Trang 35

Sử dụng dữ liệu từ bốn cuộc điều tra từ năm 1990 đến 1999 và mô hình hồi quy đa thức, Raymo và cộng sự (2018) xem xét mối tương quan giữa sự tham gia vào lực lượng lao động giữa nam và nữ Nhật Bản ở độ tuổi 60–85 tuổi và SXCS, tình trạng kinh tế SXCS được phân ra làm hai loại là NCT sống chung với con đã lập gia đình và NCT sống chung với con chưa lập gia đình Kết quả cho thấy, nam giới cao tuổi sống cùng với con đã kết hôn có xác suất làm việc cao gấp hai l n so với những nam giới cao tuổi khác Ngược lại, đối với phụ nữ cao tuổi sống chung với chồng và con đã kết hôn hoặc chưa kết hôn thì xác suất làm các công việc được trả công giảm đi, nhưng với các công việc tự làm thì lại không giảm Điều này

là hoàn toàn phù hợp với thực tế vì phụ nữ Nhật Bản là người có vai trò chủ yếu trong gia đình Mặc dù, có những kết luận về tác động của SXCS đến tình trạng làm việc của NCT, nhưng nghiên cứu của này lại chưa xem xét các loại hình SXCS một cách đa dạng

Paul và Verma (2016) nghiên cứu tác động của SXCS đến tình trạng làm việc, bệnh tật của NCT Ấn Độ SXCS được chia làm bốn nhóm, gồm có: chỉ sống với vợ/chồng; sống với vợ/chồng và con; sống với con không có vợ/chồng ; và các hình thức khác như sống một mình, sống với người thân, sống với người không có quan hệ họ hàng) Tình trạng làm việc được chia làm ba loại: i) không làm việc; ii) làm việc trả lương và iii làm việc không lương Tác giả đã sử dụng mô hình hồi quy logistic đa thức và dữ liệu điều tra quốc gia về NCT năm 2004 với 7.853 NCT

ở miền nam Ấn Độ Kết quả phân tích cho thấy một t lệ lớn NCT đang làm việc (khoảng 61% lao động trong độ tuổi 75 -79 tuổi và 77% ở nhóm tuổi già nhất) và chủ yếu làm những công việc không được trả lương T lệ phụ nữ làm những công việc được trả lương cao hơn so với t lệ này của nam giới SXCS có ảnh hưởng đáng kể đến tình trạng làm việc của NCT, cụ thể: những NCT sống chung với con (không có vợ/chồng và có hình thức sống khác có t lệ làm việc cao nhất và chủ yếu là công việc không được trả lương Đối với loại hình lao động được trả lương, NCT chỉ sống với vợ/chồng hoặc sống với vợ/chồng và con cái là nhóm có t lệ làm việc cao nhất

Trang 36

Nghiên cứu g n đây nhất của Tong, Chen và Su (2018) đã sử dụng dữ liệu từ Tổng điều tra dân số Hồng Kông giai đoạn 1986-2016 và mô hình phân lớp nhiều

t ng cross-classified multilevel models để phân tích SXCS và sự tham gia vào lực lượng lao động LLLĐ Nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ đáng kể giữa SXCS với sự tham gia vào LLLĐ của NCT, cụ thể: NCT sống chung với con – bất kể tình trạng hôn nhân và giới tính của con là gì – có xác suất tham gia LLLĐ thấp hơn những NCT khác Những NCT sống với con có xác suất tham gia LLLĐ thấp hơn 33% so với những người không sống cùng với con Điều này hàm ý rằng sự hỗ trợ giữa các thế hệ vẫn đóng một vai trò quan trọng đối với phúc lợi tài chính của NCT Tuy nhiên, mức độ tham gia LLLĐ giảm đi phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của con Những NCT sống với con chưa lập gia đình, đặc biệt là con trai, có xác suất tham gia LLLĐ cao hơn 52% NCT sống với con đã lập gia đình Kết quả này cho thấy, sống chung với con đã lập gia đình bảo đảm an sinh tài chính cho bố m hơn

và thực tế đó cũng khẳng định giả thuyết rằng bố m cảm thấy có nghĩa vụ đảm bảo kinh tế cho những đứa trẻ chưa lập gia đình Những NCT sống một mình hoặc chỉ sống với vợ/chồng có xác suất tham gia LLLĐ cao hơn rất nhiều (2,75 l n) so với những NCT sống cùng với con

- Các kết quả nghiên cứu là không thống nhất với nhau, trong đó một số

Trang 37

các nhóm NCT khác ví dụ, Croda và Gonzalez, 2005; Paul & Verma, 2016; Raymo

và cộng sự, 2018 Ngược lại, có nghiên cứu lại cho thấy NCT sống chung với con

có xác suất làm việc thấp hơn nhóm NCT khác ví dụ, Tong, Chen và Su, 2018

Rõ ràng các nghiên cứu trên cung cấp những bằng chứng chưa thống nhất về tác động của các hình thức SXCS đến tình trạng làm việc của NCT Do thiếu sự nhất quán trong các bằng chứng thực nghiệm nên vấn đề này c n phải tiếp tục được nghiên cứu thêm ở nhiều nước với nhiều bối cảnh khác nhau Đồng thời, qua tổng quan có thể rút ra một số gợi ý trong việc lựa chọn các biến độc lập trong mô hình hồi quy đánh giá tác động của SXCS đến tình trạng làm việc của NCT

1.4 Khoảng trống nghiên cứu

Trên cơ sở tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, tác giả nhận thấy rằng, trong bối cảnh dân số ngày càng già hóa ở nhiều nước trên thế giới, các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách trên thế giới rất quan tâm tới mảng

đề tài này Với NCT, tác động của SXCS đến sức khỏe thể chất và sức khỏe tâm

th n ở NCT cũng như tác động của SXCS đến tình trạng làm việc là rất quan trọng Giải quyết tốt được vấn đề này không chỉ giúp NCT sống khỏe, sống vui, đóng góp được những kinh nghiệm cho xã hội mà còn đóng góp cho lý luận của ngành kinh tế phát triển cũng như thực ti n và hoạch định chính sách liên quan Cụ thể:

Khoảng trống về lý luận

D NCT được quan tâm và nghiên cứu về các vấn đề kinh tế-xã hội và sức khỏe, nhưng lại có rất ít nghiên cứu tập trung vào cả sức khỏe thể chất và tâm th n, đặc biệt là tập trung cả vào sức khỏe và tình trạng làm việc của NCT lại càng hạn chế Do

đó, rất c n thiết có một nghiên cứu để bổ sung thêm cho các vấn đề lý luận của chủ đề này

Khoảng trống về thực tiễn

- Trong các nghiên cứu về tác động của SXCS đến sức khỏe của NCT và SXCS đến tình trạng làm việc của NCT thì các kết quả nghiên cứu là chưa rõ ràng

Trang 38

Như vậy, trong điều kiện Việt Nam thì tác động này như thế nào và rất c n nghiên cứu để trả lời cho câu hỏi này

- Về phương pháp nghiên cứu: Trong các nghiên cứu trước, các mô hình ước lượng thống kê sử dụng cũng rất đa dạng, nhưng phổ biến là sử dụng mô hình phân tích hồi quy probit hoặc logistic Tuy nhiên, thực ti n cho thấy NCT ở các nước đang phát triển có một sự khác biệt khá rõ như về giới tính, khu vực sinh sống) nên

c n có sự kiểm định phân tích sự khác biệt này Đây là một khe hổng nghiên cứu

c n khai thác để đánh giá đ y đủ mô hình tác động của SXCS đến sức khỏe và tình trạng làm việc của NCT

- Việt Nam là quốc gia đang phát triển nhưng tình trạng già hóa đang di n ra rất nhanh Những nghiên cứu về già hóa nói chung khá nhiều, nhưng việc nghiên cứu thực trạng về SXCS, sức khỏe, làm việc cũng như tác động giữa các yếu tố này

ở NCT Việt Nam là chưa có nghiên cứu nào

Khoảng trống về chính sách

Một trong các mục tiêu phát triển của Việt Nam đã được khẳng định là

“ phát huy những thành tựu về công bằng và hòa nhập xã hội đòi hỏi phải quan tâm cả đến những đối tượng thiệt thòi cũng như đáp ứng tốt hơn nhu c u của một xã hội trung lưu và dân số đang già đi” (Ngân hàng Thế giới và Bộ Kế hoạch và Đ u

tư, 2016: trang xxii) Do vậy, rất c n một nghiên cứu về tác động của SXCS đến sức khỏe và tình trạng làm việc của NCT Việt Nam làm cơ sở cho hoạch định các chính sách xã hội

Trên cơ sở các khoảng trống nghiên cứu đã nêu trên, luận án tiến hành xem xét tác động của SXCS đến sức khỏe cả thể chất và tâm th n) và tình trạng làm việc của NCT Việt Nam để đưa ra bằng chứng thực nghiệm về tác động này trong bối cảnh của Việt Nam Kết quả nghiên cứu giúp củng cố các lập luận về tác động của SXCS đến sức khỏe và tình trạng làm việc của NCT khi mà các kết quả nghiên cứu trước chưa có sự thống nhất

Trang 39

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trên cơ sở tổng hợp các công trình nghiên cứu thực nghiệm của nhiều tác giả được công bố trong và ngoài nước có liên quan đến tác động của SXCS đến sức khỏe và tình trạng làm việc của NCT với nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau Các kết quả được trình bày tóm tắt qua ba nội dung chính sau:

Thứ nhất, hình thức SXCS của NCT ở các khu vực là khác nhau và ở các nước đang phát triển hình thức này đã có sự thay đổi theo xu hướng t lệ những người lớn tuổi sống với con ngày càng giảm và sống một mình hoặc sống chỉ với vợ/chồng gia tăng

Thứ hai, ph n lớn kết quả của các nghiên cứu đều cho thấy SXCS có tác động đến sức khỏe thể chất và sức khỏe tâm th n của NCT và ảnh hưởng là khác nhau tùy theo từng kiểu SXCS Một số nghiên cứu đưa ra bằng chứng cho rằng NCT sống với con sẽ có lợi nhất cho sức khỏe thể chất và tâm th n và những người sống một mình

là có sức khỏe kém nhất Một vài nghiên cứu lại cho kết quả ngược lại

Thứ ba, các nghiên cứu đều cho thấy rằng thực tế ph n lớn NCT vẫn tiếp tục tham gia làm việc và SXCS là một yếu tố có ảnh hưởng đến quyết định làm việc của NCT Một số nghiên cứu đưa ra bằng chứng cho thấy NCT sống với con có xác suất làm việc thấp hơn so với NCT có hình thức sống khác Tuy nhiên, cũng có những nghiên cứu cho kết quả ngược lại Rõ ràng trong các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của SXCS đến sức khỏe và tình trạng làm việc của NCT vẫn chưa có sự nhất quán là cách SXCS nào là có lợi nhất cho NCT Hơn nữa, cho tới nay, ở Việt Nam vẫn còn thiếu nhiều nghiên cứu về các vấn đề này

Trên cơ sở tổng hợp, phân tích, so sánh và đánh giá các nghiên cứu có liên quan đến luận án, NCS xác định được khoảng trống về lý luận và thực ti n và từ đó xác định được hướng nghiên cứu của luận án

Trang 40

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA SẮP XẾP CUỘC SỐNG ĐẾN SỨC KHỎE VÀ TÌNH TRẠNG LÀM VIỆC

CỦA NGƯỜI CAO TUỔI

2.1 Những vấn đề chung về người cao tuổi và sắp xếp cuộc sống người cao tuổi

2.1.1 Một số khái niệm liên quan

2.1.1.1 Già hóa dân số

Sự già hóa dân số là kết quả của sự sụt giảm liên tục về mức sinh và tuổi thọ tăng Sự thay đổi nhân khẩu học này dẫn đến sự gia tăng số lượng và t lệ của những người trên 60 tuổi WHO, 2010

Dân số được coi là già hóa khi người cao tuổi chiếm t trọng tương đối lớn trong toàn bộ dân số Hai yếu tố dẫn đến già hoá dân số là mức chết và mức sinh đều giảm c ng với tổng t suất sinh giảm d n xuống mức thay thế và tuổi thọ bình quân tăng lên (UNFPA, 2011)

Già hoá dân số hay còn gọi là giai đoạn “dân số đang già”: Khi t lệ người từ

65 tuổi trở lên chiếm từ 7% đến dưới 10% tổng dân số trở lên Theo phân loại của Cowgill và Holmes 1970 được trích dẫn bởi Tsuya & Martin, 1992)

Giai đoạn “dân số già” hay còn gọi là giai đoạn “dân số đã già” Khi dân số từ

65 tuổi trở lên chiếm từ 10% đến dưới 20% tổng dân số trở lên Một khái niệm khác nữa là “dân số rất già” là khi t lệ người từ 65 tuổi trở lên chiếm từ 20 đến dưới 30%, và từ 30% trở lên gọi là “dân số siêu già”

Một số nghiên cứu sử dụng mốc độ tuổi từ 60 tuổi trở lên để phân loại Dân số được coi là “già hoá” khi t lệ người từ 60 tuổi trở lên chiếm từ 10% tổng số dân số trở lên và “dân số già” là từ 20%, tương ứng 30% và 35% là “rất già” và “siêu già”

Ngày đăng: 17/09/2021, 07:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w