1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Bài tam ly nguoi benh SVY2 2020 2021 (10 8 2020) s2 1 LEC1

11 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 623,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Con người không chỉ là một cơ thể với những đặc điểm sinh học của mình mà còn là một nhân cách với các đặc điểm tâm lý nhận thức, cảm xúc…Sống trong xã hội, con người còn là một cá nhâ

Trang 1

TÂM LÝ NGƯỜI BỆNH (cho module S2.1 Lec1 NGƯỜI BỆNH CỦA TÔI)

PGS.TS.Nguyễn Sinh Phúc

MỤC TIÊU HỌC TẬP

1 Phân tích được mối quan hệ giữa tâm lý và bệnh tật

2 Trình bày được tâm lý và một số yếu tố chung của bệnh

3 Phân tích được ảnh hưởng của yếu tố môi trường đến tâm lý người bệnh

NỘI DUNG HỌC TẬP

1 MỐI QUAN HỆ GIỮA TÂM LÝ VÀ BỆNH TẬT

1.1 Khái niệm về bệnh

- Bệnh là những tổn thương thực thể hay cơ năng ở một hay nhiều bộ phận cơ thể ảnh hưởng đến sinh hoạt bình thường của con người làm cho họ khó chịu, đau đớn, mệt mỏi

- Bệnh có thể là một bệnh thực thể, một bệnh cơ năng, có những bệnh hoàn toàn do căn nguyên tâm lý (như hysteria )

- Con người không chỉ là một cơ thể với những đặc điểm sinh học của mình mà còn là một nhân cách với các đặc điểm tâm lý nhận thức, cảm xúc…Sống trong xã hội, con người còn là một cá nhân, thực hiện các chức năng, vai trò xã hội: vai trò người con, người chồng, vai trò của một giám đốc hoặc một nhân viên văn phòng, trợ lý giúp việc

Xã hội

Sinh học Tâm lý

Mô hình 3 yếu tố trong con người

Trang 2

Như vậy, trong mỗi con người, ba thành tố: sinh học - tâm lý - xã hội hòa quyện, liên hệ mật thiết với nhau Khi con người bị bệnh, lẽ đương nhiên bệnh ảnh hưởng đến các yếu

tố tâm lý và xã hội của người bệnh Do đó bệnh tật có thể được xem xét trên 3 cấp độ:

• Cấp độ sinh học:

Theo quan niệm chung, bệnh là quá trình hoạt động không bình thường của cơ thể Nếu

cụ thể hơn, chúng ta có thể nhận thấy những hoạt động không bình thường này thể hiện

ở các mặt như:

- Không bình thường về sinh lý, ví dụ, bệnh huyết áp cao

- Không bình thường về giải phẫu, ví dụ, gãy xương do tai nạn giao thông

- Không bình thường về tổ chức, ví dụ như bệnh ung thư

- Không bình thường về di truyền, ví dụ, bệnh Down

- v.v…

• Cấp độ tâm lý:

Khi bị bệnh, tâm lý của người bệnh có các thay đổi nhất định Những biến đổi tâm lý của người bệnh có thể xuất phát trực tiếp từ bệnh Như đã biết, cơ thể là một hệ thống có cấu trúc phức tạp, trong đó có nhiều hệ thống nhỏ khác Khi bị bệnh, ví dụ bệnh tim, không chỉ hoạt động của hệ tim mạch bị thay đổi mà với tư cách là cơ quan chỉ huy tối cao, hệ thần kinh cũng phải có những điều chỉnh, thay đổi Sự thay đổi hoạt động của hệ thần kinh kéo theo sự thay đổi tâm lý, ví dụ như giảm tập trung chú ý, giảm trí nhớ tức thời, thay đổi cảm xúc…

Các biến đổi tâm lý còn có thể xuất hiện theo cơ chế tâm lý (từ nhận thức cảm xúc, thái độ Phản ứng, hành vi) Những hiểu biết về bệnh (nặng/nhẹ/nguy hiểm/bình thường …) thường làm cho người bệnh lo lắng Tùy theo đặc điểm nhân cách của cá nhân, phản ứng lo lắng của người bệnh là khác nhau ở những người khác nhau, cho dù

có thể cùng mắc một loại bệnh Đó có thể là thờ ơ coi thường bệnh tật hoặc ngược lại, quá lo sợ Có những trường hợp thậm chí tâm lý người bệnh còn rơi vào trạng thái rối loạn mặc dù có thể bệnh không nặng

• Cấp độ xã hội:

Trên bình diện xã hội, mỗi con người còn là chủ thể của các mối quan hệ và các hoạt động cá nhân, xã hội Một khi bị bệnh, con người đó có thêm vai trò mới: vai trò người bệnh Với vai trò người bệnh, họ phải thực hiện những công việc theo yêu cầu của thầy thuốc và nhân viên y tế, cho dù những công việc đó không mấy dễ chịu Bệnh cũng còn ảnh hưởng đến những vai trò và vị thế mà người đó đang có Từ một con người năng nổ, giờ họ đã là người có vấn đề về sức khỏe Thêm vào đó còn có thể là các ảnh hưởng đáng kể về kinh tế: tăng chi phí cho các hoạt động khám, chữa bệnh, giảm thu nhập do nghỉ việc Tất cả những điều đó đều có ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý người bệnh Như vậy có thể nhận thấy, khi bị bệnh, đó không chỉ là một cơ thể bị bệnh mà là người bệnh với những đặc điểm tâm lý có ít nhiều biến đổi dưới ảnh hưởng của bệnh Tuy nhiên mỗi cá nhân cũng có những đặc điểm tâm lý riêng và những mối quan hệ và vị thế

Trang 3

xã hội riêng Đến lượt mình, những yếu tố này cũng ảnh hưởng đến sự xuất hiện, diễn biến và kết thúc bệnh

Tâm lý người bệnh ảnh hưởng trở lại bệnh tật đến mức nào là tùy thuộc vào đời sống tâm lý vốn có của người bệnh Mỗi người bệnh có những thái độ khác nhau đối với bệnh tật Có người cho bệnh tật là điều bất hạnh không thể tránh được, đành cam chịu

Có người kiên quyết đấu tranh, khắc phục bệnh tật Có người không sợ bệnh tật, không quan tâm tới bệnh tật Có người sợ hãi, lo lắng vì bệnh tật Đôi khi chúng ta gặp những người thích thú với bệnh tật, dùng bệnh tật để tô vẽ cho thế giới quan của mình

Bên cạnh những người giả vờ mắc bệnh, lại có người giả vờ như không bị bệnh tật Thái độ đối với bệnh tật nói riêng và đời sống tâm lý của người bệnh nói chung ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng huy động sinh lực bản thân trong phòng và chữa bệnh cũng như trong khắc phục hậu quả bệnh tật của người bệnh

Những diễn biến bệnh tật và tâm lý của người bệnh (nhận thức, xúc cảm, hành vi…) tác động lẫn nhau theo vòng tròn khép kín: bệnh ảnh hưởng đến tâm lý của người bệnh và ngược lại, tâm lý cũng ảnh hưởng đến diễn biến và kết cục của bệnh.

Các yếu tố tâm lý có thể đóng vai trò là nguyên nhân (như trong một số trường hợp bệnh

cơ thể tâm sinh), cũng có thể là hậu quả của bệnh (lo âu, trầm cảm…) hoặc là hiện tượng

đi cùng Khi thăm khám người bệnh tại một thời điểm nào đó, các yếu tố tâm lý có thể vừa là hậu quả song chúng lại vừa có thể ảnh hưởng tiếp tới diễn biến của bệnh (có thể làm xấu đi hoặc ngược lại, giúp người bệnh có thêm nghị lực đấu tranh chống lại bệnh tật)

1.2 Nhân cách và bệnh

Tại sao trong cùng một hoàn cảnh, trong cùng một điều kiện môi trường nhưng có người lại dễ mắc bệnh này còn người khác lại không như vây? Tâm lý, nhân cách của con người đóng vai trò gì trong sự xuất hiện bệnh?

Xung quanh vấn đề này có thể tóm tắt 4 dạng mô hình chính mà nhiều tác giả đưa ra

Mô hình Nhân cách - Bệnh

Những tác giả theo mô hình thứ nhất cho rằng mỗi cá nhân có những đặc điểm nhân cách riêng Một đặc điểm nào đó quá nổi trội có thể dẫn đến nguy cơ dễ mắc một bệnh nào đó Ví dụ, một người hay lo lắng thì dễ mắc bệnh viêm dạ dày bởi lo lắng dẫn đến tăng bài tiết HCl và thường xuyên lo lắng kéo theo thường xuyên tăng tiết HCl, làm cho niêm mạc dạ dầy dễ bị tổn thương Hay một ví dụ khác, Friedman, một bác sĩ tim mạch

Trang 4

nổi tiếng Hoa Kì, cùng với cộng sự - bác sĩ Rosenman phát hiện ra rằng những người có kiểu nhân cách A (type A) thì dễ bị bệnh tim mạch vành Người có kiểu nhân cách A là người: nhanh chóng trong hành động; quan tâm rõ rệt tới nghề nghiệp và có tinh thần ganh đua/cạnh tranh cao

Nhân cách

Các nguyên nhân sinh học

Bệnh

Mô hình Nguyên nhân sinh học - Nhân cách - Bệnh

Những người theo quan điểm mô hình thứ hai thì cho rằng nhân cách và bệnh mang tính độc lập một cách tương đối với nhau Sự giống nhau giữa chúng có chăng chỉ là cùng chung cơ sở sinh học Ví dụ, một gen nào đó đứng đằng sau bệnh động mạch vành thì cũng “chịu trách nhiệm” cho nét nhân cách hay bực bội, khó chịu Cơ sở sinh học của tính hay bực bội, khó chịu lại là hệ thần kinh tự chủ Hệ thần kinh tự chủ còn có vai trò trong kiểm soát huyết áp Do vậy, người hay bực bội cũng là người có nguy cơ bị huyết

áp cao nhiều hơn

Nhân cách

Các thói quen, hành vi nguy cơ

Bệnh

Mô hình Nhân cách - Thói quen - Bệnh

Theo quan điểm của những tác giả của mô hình thứ ba, nét nhân cách tạo nên sự khác biệt về hành vi nói chung, hành vi sức khỏe nói riêng giữa các cá nhân Ví dụ, nét nhân cách khác nhau kéo theo sự khác nhau về thói quen hút thuốc lá, uống rượu Những người có thói quen hút thuốc lá thì nguy cơ mắc các bệnh về phổi cũng cao hơn Thói quen uống rượu làm tăng nguy cơ mắc các bệnh về đường tiêu hóa, tim mạch, thần kinh

Nhân cách Bệnh

Trang 5

Mô hình Bệnh - Nhân cách

Nhân cách của người bệnh, đặc biệt là bệnh mạn tính, có thể bị thay đổi dưới ảnh hưởng của bệnh Ví dụ, do bị bệnh mạn tính nên người bệnh trở nên kém tự tin, thu hẹp phạm

vi giao tiếp cũng như hứng thú Cũng do bệnh, những khó khăn cần phải giải quyết trong cuộc sống càng nhiều hơn, người bệnh trở nên dễ bị kích thích, dễ bị tổn thương hơn

Thực ra mô hình thứ 4 không đối lập với các mô hình khác, bởi lẽ nó đưa ra lý giải những biến đổi tâm lý - nhân cách của người bệnh sau khi bị bệnh còn những mô hình đã đề cập trước đó thì đưa ra cách lý giải về vai trò của nhân cách trong nguy cơ mắc một bệnh nào đó

1.3 Phản ứng tâm lý đối với bệnh tật:

1.3 1 Phản ứng tâm lý bình thường:

Bệnh nhân có những phản ứng tâm lý khác nhau đối với bệnh tật mà họ mắc phải, những phản ứng này vừa mang màu sắc cảm xúc (sợ hãi, lo âu, căng thẳng,.) vừa mang tính nhận thức và lý trí (cố gắng chống lại bệnh tật, tìm hiểu các thông tin về bệnh tật và tìm cách chữa trị…) Thường những phản ứng tâm lý đối với bệnh tật khác nhau giữa các bệnh nhân, điều này tùy thuộc vào đặc tính nhân cách, vào trình độ nhận thức, vào tình trạng của căn bệnh và vào thời gian mắc bệnh

Tuy nhiên, chúng ta có thể tổng hợp lại phản ứng tâm lý của người bệnh trong những hình thái sau:

- Phản ứng theo chiều hướng tiêu cực:

+ Lo lắng về các triệu chứng và tiến triển của bệnh tật

+ Lo âu, lo sợ về những điều mơ hồ không may mắn sẽ xẩy ra đối với mình

+ Trầm cảm nhẹ, dẫn đến bi quan về bệnh tật và tương lai

+ Không tin vào chẩn đoán của thầy thuốc

+ Mặc cảm

Những thái độ phản ứng theo chiều hướng tiêu cực này là một trở ngại lớn trong việc tiếp xúc và điều trị, đặc biệt là trong việc tư vấn và điều trị tâm lý

- Phản ứng theo chiều hướng tích cực hơn:

Khi người bệnh có những biểu hiện các dấu hiệu bệnh lý và khi biết mình có bệnh,

có thể lúc đầu họ phản ứng lo lắng, nhưng với những người có tính cách bình thản họ sớm thích nghi và bình tĩnh trở lại Có người chấp nhận bệnh tật như “định mệnh”, và không theo dõi điều trị một cách tích cực Cách phản ứng này cần phải phê phán, vì nếu không điều trị sớm và kịp thời bệnh sẽ diễn biến ngày càng trầm trọng hơn Thái độ phản ứng đúng đắn nhất là luôn bình tĩnh, cùng với thầy thuốc tìm ra những phương thức chữa bệnh tối ưu nhất

1.3.2 Phản ứng tâm lý không bình thường:

- Phủ định bệnh: Đây là dạng phản ứng cũng thường hay gặp Khi có những biểu hiện ban đầu của bệnh, họ thường né tránh sự thật Ví dụ: khi có các triệu chứng như đau bụng, cảm giác khó chịu, người nhanh mệt mỏi… họ có thể tìm ra những lý do khác

Trang 6

nhau (trừ bệnh) để giải thích Khi buộc phải đi khám và đã được chẩn đoán, họ cho rằng

có thể họ không bị bệnh như bác sĩ chẩn đoán bởi “bác sĩ nhìn đâu cũng thấy vi trùng” Trong trường hợp đã có các triệu chứng bệnh không thể bác bỏ được thì họ lại cho rằng mức độ của bệnh không nghiêm trọng như bác sĩ khẳng định

Phủ định bệnh cũng thường gặp ở những bệnh nhân loạn thần nặng Cách phản ứng này thể hiện nhận thức về bệnh tật không chính xác, hoặc họ mất khả năng nhận thức (rối loạn ý thức, như trong sảng rượu), hoặc họ bị lệch lạc về nhận thức (trong bệnh tâm thần phân liệt)

- Nghi bệnh (Hypochondria): bệnh nhân thường có ý nghĩ nghi mình bị mắc một

số bệnh nào đó thường không rõ ràng, ý tưởng nghi bệnh có thể xuất hiện trên cơ sở không có thực hoặc ngẫu nhiên tình cờ có một số triệu chứng nhất định hoặc sau những lần khám sức khỏe định kỳ Người bệnh thường xuyên đi khám bệnh và họ không thỏa mãn về những kết luận của các thầy thuốc, nhiều khi từ ý tưởng nghi bệnh trở thành hoang tưởng nghi bệnh

Ví dụ: người bệnh được chẩn đoán là viêm da song sau đó lại nghi ngờ mình có thể bị tiểu đường Sự nghi ngờ như vậy là do có một người quen của người bệnh bị tiểu đường, lúc đầu cũng được chẩn đoán là viêm da nhưng điều trị mãi mà không khỏi Sau khi được giải thích rằng bệnh tiểu đường còn có một số triệu chứng khác, ví dụ: hay khô miệng, uống nhiều nước, sút cân, người bệnh tự thấy mình có vẻ cũng hay khô miệng, uống nhiều nước và thường xuyên cân để theo dõi sự sút cân

- Chứng sợ mắc bệnh (Nosophobia): Bệnh nhân có những ám ảnh sợ mình bị mắc một số bệnh trầm trọng và thường đó là những bệnh thời sự: như sợ bị nhiễm Mers – Cov, HIV, AIDS, giang mai, ung thư

- Chứng ái bệnh (Nosophilia): bệnh nhân có cảm giác dễ chịu khi mình bị bệnh (tất nhiên thường bệnh không nguy hiểm) Chứng ái bệnh thường kèm theo chứng lưu viện (Hospitalism), đó là hiện tượng bệnh nhân cảm giác dễ chịu khi nằm viện và rất sợ khi phải xuất viện

- Phản ứng phân ly: Đối với người có dạng phản ứng này, bệnh tật dường như là

“tai hoạ” Người bệnh hay có các phản ứng: kêu, rên, hay phàn nàn rằng số mình khổ…Tuy nhiên những phản ứng như vậy chỉ diễn ra khi có mặt người khác như nhân viên y tế, người nhà hoặc người thân Phản ứng này nhằm thu hút sự chú ý của người khác tới bản thân người bệnh

- Coi thường sức khỏe và thái độ thờ ơ đối với bệnh tật Một nghịch lý vẫn thường xẩy ra khi một số người còn khỏe mạnh họ rất phí phạm về mặt sức khỏe, nhưng khi bị suy sụp họ mới hối tiếc thì khi đó đã quá muộn

1.4 Phản ứng tâm lý do quá trình mắc bệnh gây ra:

Phản ứng tâm lý của người bệnh do quá trình mắc bệnh gây ra được thể hiện rất khác nhau tùy theo bệnh cảnh từng bệnh và thời gian mắc bệnh, đồng thời còn tùy thuộc

Trang 7

vào từng cá thể người bệnh Chúng ta chỉ nêu lên những phản ứng tâm lý chung nhất do quá trình mắc bệnh gây ra, đó là các phản ứng thường gặp sau:

- Nhạy cảm, hay liên tưởng và dễ bị ám thị: Sau thời gian mắc bệnh, người bệnh thường tiếp xúc nhiều thầy thuốc, nhiều người bệnh với các bệnh khác nhau và họ rất nhạy cảm đối với bệnh tật, đôi khi họ hay liên tưởng bệnh của mình gần giống bệnh với người khác Bởi vì một bệnh thường có nhiều triệu chứng và một triệu chứng có thể gặp trong nhiều bệnh Mặt khác quá trình bị bệnh đã làm cho nhân cách người bệnh trở nên yếu đuối hơn, dễ bị ám thị hơn, họ dễ bị mắc các chứng bệnh y sinh (Iatrogenia) hoặc chứng bệnh do người bệnh khác gây ra (Egrotogenia)

- Bất lực và bất toại: Khi mắc các chứng bệnh, đặc biệt là những bệnh nặng, thái

độ phản ứng của nhiều người là thường phản ứng bi quan, bất lực hoặc bất toại Đôi khi

họ còn có cảm giác mình thật bất hạnh so với mọi người, oán trách “số phận”

- Bị động và lệ thuộc: Thời gian mắc bệnh và chữa bệnh càng dài thì người bệnh càng rơi vào trạng thái bị động và lệ thuộc vào thầy thuốc và gia đình họ hay tự ti và mất hết khả năng chủ động trong những tình huống bình thường Đồng thời nhiều bệnh nhân

có hiện tượng lệ thuộc vào các thuốc, hay gặp đó là lệ thuộc thuốc gây ngủ, thuốc giảm đau, thuốc hưng thần

- Suy sụp tinh thần: Người bệnh mất hết nhuệ khí và ý chí thường ngày họ vẫn có,

họ luôn than vãn, nhiều người không còn khả năng làm những việc thông thường, họ rơi vào trạng thái suy sụp hoàn toàn

- Trầm cảm: Đây là phản ứng thường gặp nhất, họ luôn buồn rầu, đau khổ về bệnh tật, họ sống trong trạng thái “không có tương lai”, thường kèm theo mất ngủ, mệt mỏi Nhiều trường hợp bệnh nhân rơi vào trạng thái trầm cảm nặng có thể dẫn tới tự sát

1.5 Phản ứng của người bệnh khi vào viện điều trị

- Đối với nhiều người, nhất là những người đã có một khoảng thời gian dài khỏe mạnh, vào viện điều trị nội trú gây ra những stress đáng kể và đồng thời nó cũng chính là sự báo hiệu cho những thay đổi lớn

- Có rất nhiều thay đổi về mặt xã hội đối với mỗi cá nhân khi phải nhập viện Trước hết

họ “có” thêm một vai trò mới, vai trò hầu như không mấy ai mong muốn: người bệnh

- Nằm viện kéo theo một loạt các hậu quả Tự do bị hạn chế, không còn được ăn, uống, đọc sách, thức đêm tùy ý Mặc dù biết là cần thiết song nhiều người vẫn cảm thấy ngần ngại khi phải cởi bỏ quần áo ngoài của mình để mặc bộ quần áo người bệnh Nhiều người, đặc biệt là phụ nữ, cảm thấy không dễ chịu chút nào khi có tay người lạ đặt lên cơ thể mình

- Ở nhà, nếu buồn người ta có thể đi chơi, gọi điện thoại tán gẫu hay nghe nhạc Trong bệnh viện, họ không được như vậy Mặt khác việc thích nghi với chế độ, các qui định trong bệnh viện với nhiều người không thể diễn ra một cách nhanh chóng

- Có nhiều tác giả đã nghiên cứu những phản ứng tâm lý đối với nằm viện Taylor (1979) nghiên cứu khá tỉ mỉ những phản ứng của người bệnh Bà cảm thấy rằng giảm khả năng

Trang 8

tự chủ và giải thể nhân cách (người bệnh cảm thấy mình không phải là mình nữa) là hai đặc điểm thường gặp ở người bệnh điều trị nội trú Taylor cũng đã mô tả những đặc điểm mà theo nhân viên y tế, là người bệnh “tốt”, họ là những người thụ động, không đòi hỏi và hợp tác Những người này tuyệt đối nghe lời nhân viên, không bao giờ đưa ra câu hỏi hoặc một đề nghị nào Ngược lại, đối với những “người bệnh kém”, đó là những người được Taylor mô tả là “khó bảo”, dạng như đi lại nhiều, hút thuốc hoặc thỉnh thoảng đùa cợt với nhân viên Họ là những người không tuân thủ hoàn toàn nội qui bệnh viện, hay đưa ra câu hỏi hoặc đòi hỏi về điều trị

- Mặc dù nhân viên y tế thường khuyến khích những hành vi “tốt” song Taylor cũng nêu

ra những khả năng “người bệnh tốt” dẫn đến hồi phục kém Điểm chủ yếu là do hạn chế tính tích cực của cá nhân Do vậy những người bệnh “tốt” có thể dẫn đến tình trạng họ trở thành “nô lệ” của các chế độ điều trị (Goffman, 1961)

- Người bệnh “kém” cũng không phải đã hay Những đòi hỏi phải được chú ý, quan tâm, chấp hành nội qui không nghiêm dễ làm cho nhân viên y tế “lẫn lộn” giữa những phàn nàn quan trọng và không quan trọng Tuy nhiên những người này cũng có lợi thế nhất định Do vẫn “giữ lại” ít nhiều quyền tự chủ, khả năng kiểm soát cuộc sống cũng như cảm xúc nên những người bệnh này họ rất vui mừng khi được ra viện và nhanh chóng thích ứng với cuộc sống Karmel (1972) cho thấy ở nhóm người bệnh được coi là “ngang bướng” hay gây nhiều “phiền hà” cho nhân viên y tế lại có tỷ lệ trầm cảm thấp hơn và tinh thần, khí thế cao hơn

- Ngôn ngữ bệnh viện cũng là một trong những thay đổi Ngôn ngữ của nhân viên y tế, đặc biệt là những người có thâm niên trong nghề thường giống với ngôn ngữ của người lớn đối với trẻ nhỏ Người bệnh được “mời” như ra lệnh đến chỗ bác sĩ, bị yêu cầu cởi

áo, lên giường, xuống giường Nhiều người bệnh cao tuổi nghe những lời nói như vậy cứ

có cảm tưởng rằng mình là một đứa bé nghịch ngợm Những cảm nhận khó chịu như vậy càng tăng lên khi họ lại phải nghe ngôn ngữ bất cẩn của các y tá, điều dưỡng viên

II.TÂM LÝ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ CHUNG CỦA BỆNH

1.3 Yếu tố đau

Đau là một cảm giác khó chịu song nó lại cần thiết cho cơ thể nếu chúng ta không có cảm giác đau, cơ thể của chúng ta có nguy cơ bị tổn thương nhiều hơn hoặc thậm chí dẫn đến việc chúng ta tự hủy hoại cơ thể của mình Ví dụ: chẳng may chúng ta bị ngã rạn xương; nếu không có cảm giác đau, cứ đi lại, mang vác, chạy nhảy như bình thường thì nguy cơ chân bị gãy là rất rõ

Dưới góc độ sinh lý học, các tín hiệu đau buộc cơ thể không được hoặc hạn chế huy động vùng bị tổn thương vào các hoạt động thông thường cho đến khi nào vùng tổn thương đó được phục hồi

Đau không chỉ là phản ứng sinh lý mà nó còn là biểu tượng, trải nghiệm tâm lý Lẽ đương nhiên cảm giác đau phụ thuộc vào khu vực cũng như mức độ tổn thương Tuy

Trang 9

nhiên trải nghiệm đau của cá nhân còn phụ thuộc vào những đặc điểm tâm lý - nhân cách của chủ thể Ví dụ, với cũng một bệnh và mức độ nặng như nhau, những biểu hiện của đau đớn thể hiện trên gương mặt của người có kiểu khí chất điềm tĩnh không mạnh mẽ bằng những người có kiểu khí chất ưu tư

Sinh lý học cũng không thể giải thích được mọi khía cạnh của đau Ví dụ: với những trường hợp đau mạn tính, không có vùng cơ thể cụ thể nào bị tổn thương nhưng cảm giác đau cứ dai dẳng, kéo dài triền miên Tuy nhiên cũng không hợp lý nếu quan niệm rằng đau hoàn toàn là do yếu tố tâm lý

Liệu có sự khác biệt về khả năng chịu đau ở 2 giới? Câu trả lời cũng rất khác nhau Có nghiên cứu thì cho rằng không có sự khác biệt, cũng có tác giả lại đưa ra nhận xét rằng phụ nữ chịu đau tốt hơn nam giới, đặc biệt là khả năng chịu đau của phụ nữ tăng lên sau khi họ có con Có lẽ những đau đớn trong khi vượt cạn đã là đỉnh điểm đối với người phụ nữ

Melzack và Wall (1991) khẳng định, có sự khác nhau về khả năng chịu đau ở các nền văn hóa khác nhau Thực ra ngay từ năm 1952, Zborowski đã chỉ ra rằng: thổ dân Mỹ thường ít thể hiện nỗi đau của mình ở chỗ đông người họ chỉ thường gào thét lên (do đau) khi chỉ có một mình Người Do Thái và người Italia thì ngược lại

1.4 Những khía cạnh tâm lý của cái chết

1.4.1 Khái niệm chung

Càng đi về cuối cuộc đời, người ta càng buộc phải chứng kiến nhiều hơn cái chết của những người thân yêu, của bạn bè trước khi phải đối mặt với cái chết của chính mình Trong thực hành y học, nhiều thầy thuốc phải chứng kiến cái chết của người bệnh và sự đau khổ của những người thân của họ Cũng không ít trường hợp có sự bất đồng giữa người nhà với nhân viên y tế, khi những con người đang đau khổ đó cho rằng các thầy thuốc là những người “vô cảm”, chai sạn với cái chết của con người Ở đây không chỉ là đặc thù nghề nghiệp đòi hỏi người thầy thuốc phải bình tĩnh trong mọi tình huống để có thể đưa ra được quyết định tối ưu Sự khác biệt còn là do cảm nhận về cái chết Trong tâm lý học gọi đó là sự khác biệt giữa nghĩa và ý/hàm ý Nghĩa là sự hiểu chung của xã hội Ý/hàm ý là cảm nhận riêng của cá nhân Ai cũng hiểu chết là gì Tuy nhiên đối với mỗi người, hàm ý về cái chết không giống nhau Khi phải chứng kiến cái chết (hoặc nó đang đến gần) của người thân thì cá nhân mới cảm nhận được rõ rệt hơn sự mất mát

1.4.2 Các giai đoạn chết

Do là một vấn đề nhạy cảm nên không có nhiều nghiên cứu tâm lý học về cái chết Kubler - Ross (1970), một trong số những ít người nghiên cứu tâm lý về cái chết đã bắt tay vào những vấn đề này từ những năm 60 của thế kỉ 20 Nghiên cứu của bà được thực hiện trên nhóm người bệnh ung thư Qua phỏng vấn hơn 200 người bệnh trước khi chết,

bà đã nhận thấy có nhiều điểm tương đồng ở họ Phần lớn trong số đó đều trải qua 5 giai đoạn:

Trang 10

• Giai đoạn I (từ chối): chối bỏ, sốc và không tin Đó là những phản ứng đầu tiên khi người bệnh biết rằng mình đã được chẩn đoán là ung thư và điều này có nghĩa là cái chết đã cận kề với họ Theo Kubler-Ross, một số người có những phản ứng này cho đến những giây phút cuối cùng của cuộc đời

• Giai đoạn II (tức giận/kích động): sau khi chối từ, người bệnh trở nên khó tính, hay đòi hỏi, gây khó khăn Họ hay đưa ra những câu hỏi không có câu trả lời: tại sao lại

là tôi phải chết?

• Giai đoạn III (mặc cả): người bệnh muốn có nhiều thời gian hơn để trì hoãn cái chết

• Giai đoạn IV (trầm cảm): đây là dấu hiệu đầu tiên của sự chấp nhận mất mát, không thể tránh khỏi

• Giai đoạn V (chấp nhận buông xuôi, sẵn sàng cho cái chết): họ cảm nhận rằng cái chết là không thể tránh khỏi Lúc này họ rất muốn có người thân bên cạnh

Tuy nhiên Kubler-Ross cũng đã lưu ý rằng không phải trường hợp nào người bệnh cũng trải qua 5 giai đoạn như vậy Đây chỉ là những giai đoạn thường gặp Ngoài ra diễn biến của quá trình còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố khác như: tuổi, giới, dân tộc, xã hội, các đặc điểm nhân cách… (Butller và Lewis, 1982)

Phát hiện lúc ban đầu của Kubler-Ross là trên bệnh nhân ung thư Tuy nhiên sau đó nhiều tác giả khác cũng nhận thấy ở một số bệnh nan y khác, ví dụ như bệnh AIDS, ở người bệnh cũng có những diễn biến tương tự

1.4.3 Sự đau khổ khi mất người thân

Hầu như bất kì ai cũng cảm thấy đau khổ khi mất người thân Theo Bowlby (1980), sự đau khổ này có thể được chia thành 4 giai đoạn:

• Giai đoạn I (sững sờ): quên hết mọi chuyện, cảm giác ngột ngạt, khó thở

• Giai đoạn II (mong mỏi, khát khao): người còn sống cố gắng tìm kiếm người đã chết Nhiều lúc họ không tin rằng người thân của họ đã chết và thậm chí những hình ảnh trong mơ làm cho họ có cảm giác rằng hình như họ vẫn còn gặp được người thân Họ thường cảm thấy bất an, kích động, cảm giác tội lỗi, buồn rầu, khóc lóc, thương tiếc Mất ngủ, kém ăn cũng là những hiện tượng thường gặp

• Giai đoạn III (tuyệt vọng): mất mát đã là sự thật buộc phải chấp nhận Điều này lại dẫn đến trầm cảm, cảm giác trống trải, vô vọng, suy sụp và mất ngủ nhiều hơn

• Giai đoạn IV (phục hồi): mọi việc dần ổn định trở lại Thỉnh thoảng ý nghĩ về người

đã khuất có xuất hiện trở lại song không kéo dài và không chi phối nhiều đến hành

vi, cảm xúc cá nhân

Bowlby cũng nhấn mạnh đến tính linh hoạt của mô hình Tuy nhiên nhiều nhà nghiên cứu vẫn khẳng định rằng sự đau khổ không hoàn toàn diễn ra theo cách đó

Qua tổng hợp các nghiên cứu, Wortmann và Silver (1990) cho thấy có 4 dạng thể hiện đau khổ khác nhau:

• Đau khổ kéo dài, triền miên

Ngày đăng: 17/09/2021, 00:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w