MỞ ĐẦUI.Lý do chọn đề tài Như nhiều quốc gia Đông Nam Á, Việt Nam và Lào là những quốc gia có nền văn hóa lâu đời và có một nền văn học khá phát triển. Và nói đến văn học Việt Nam và Lào, thì trước hết người ta phải nghĩ đến văn học dân gian, vì đây là một trong hai bộ phận lớn cấu thành nền văn học, là bộ phận đạt được nhiều thành tựu hơn cả. Truyện cười là một thể loại chủ lực, có số lượng rất lớn, phong phú và đa dạng trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam và Lào. Truyện cười hiểu một cách đơn giản là những truyện gây cười cho người đọc. Có thể là mỉm cười, hay cười giòn tan, cũng có thể là cái cười mỉa mai, phẫn nộ, đả kích …tùy theo đối tượng và mức độ truyện cười phản ánh. Và ở cả Việt Nam và Lào số lượng truyện cười mang ý thức đấu tranh giai cấp xã hội lớn hơn cả so với những truyện cười mang tiếng cười thuần túy. Đó là những truyện cười vạch rõ sự ngược đời của xã hội phong kiến, bộ mặt giả dối của tầng lớp thống trị từ vua quan ,quý tộc đến địa chủ, chúa đất. Trên thế giới nhiều quốc gia có những truyện kể về người thông minh nghịch ngợm trongn hiều hoàn cảnh sống khácn hau. Nhân vật có thể khác nhau về địa vị, thời đại và hoàn cảnh, trình độ nhưng đều giống nhau về sự thông minh, tài trí, có thể dặt ra nhiều cái bẫy đểđối tượng là những kẻ giàu có, quyền thế nhưng bất tài, kiêu ngạo phải ngậm ngùi nhận lấy phần thất bại trong tiếng cười chế giễu của người đợi. Họ chính là ước mơ về trí tuệ dân gian với tài năng phán đoán, sáng tạo và dung cảm. Và ở Việt Nam và Lào ước mơ đó được thể hiện thông qua các nhân vật Trạng. Tuy tên gọi có khác nhau, nhưng đó đều là những nhân vật tài giỏi được nhân dân sáng tạo nên. Việt Nam và Lào là hai nước láng giềng thân thiện, có mối quan hệ lâu đời. Sự gắn kết hai dân tộc ấy là thể hiện rõ nét trong những nét chung về văn hóa, nhất là trong văn học dân gian. Điều đó làm cho kiểu truyện Trang Việt Nam và Lào có những điểm gặp gỡ, tương đồng.Nhưng có những nét tương đồng chứ không phải là đồng nhất, ở truyện Trạng Việt Nam và Lào có những nét khác nhau, mỗi nền văn học có một nét hay riêng, một nét đặc biệt.
Trang 1BÀI TIỂU LUẬN MÔN: VĂN HỌC ĐÔNG NAM Á
Trang 2MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài
Như nhiều quốc gia Đông Nam Á, Việt Nam và Lào là những quốc gia
có nền văn hóa lâu đời và có một nền văn học khá phát triển Và nói đến văn học Việt Nam và Lào, thì trước hết người ta phải nghĩ đến văn học dân gian, vì đây là một trong hai bộ phận lớn cấu thành nền văn học, là
bộ phận đạt được nhiều thành tựu hơn cả
Truyện cười là một thể loại chủ lực, có số lượng rất lớn, phong phú và đa dạng trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam và Lào Truyện cười hiểu một cách đơn giản là những truyện gây cười cho người đọc Có thể
là mỉm cười, hay cười giòn tan, cũng có thể là cái cười mỉa mai, phẫn nộ,
đả kích …tùy theo đối tượng và mức độ truyện cười phản ánh Và ở cả Việt Nam và Lào số lượng truyện cười mang ý thức đấu tranh giai cấp xã hội lớn hơn cả so với những truyện cười mang tiếng cười thuần túy Đó lànhững truyện cười vạch rõ sự ngược đời của xã hội phong kiến, bộ mặt giả dối của tầng lớp thống trị từ vua quan ,quý tộc đến địa chủ, chúa đất
Trên thế giới nhiều quốc gia có những truyện kể về người thông minh nghịch ngợm trongn hiều hoàn cảnh sống khácn hau Nhân vật có thể khác nhau về địa vị, thời đại và hoàn cảnh, trình độ nhưng đều giống nhau về sự thông minh, tài trí, có thể dặt ra nhiều cái bẫy đểđối tượng là những kẻ giàu có, quyền thế nhưng bất tài, kiêu ngạo phải ngậm ngùi nhận lấy phần thất bại trong tiếng cười chế giễu của người đợi Họ chính
là ước mơ về trí tuệ dân gian với tài năng phán đoán, sáng tạo và dung cảm Và ở Việt Nam và Lào ước mơ đó được thể hiện thông qua các nhânvật Trạng Tuy tên gọi có khác nhau, nhưng đó đều là những nhân vật tài giỏi được nhân dân sáng tạo nên
Việt Nam và Lào là hai nước láng giềng thân thiện, có mối quan hệ lâu đời Sự gắn kết hai dân tộc ấy là thể hiện rõ nét trong những nét chung vềvăn hóa, nhất là trong văn học dân gian Điều đó làm cho kiểu truyện
Trang 3Trang Việt Nam và Lào có những điểm gặp gỡ, tương đồng.Nhưng có những nét tương đồng chứ không phải là đồng nhất, ở truyện Trạng Việt Nam và Lào có những nét khác nhau, mỗi nền văn học có một nét hay riêng, một nét đặc biệt
Bài tiểu luận này , thông qua việc tìm hiểu những nét tương đồng va khácbiệt trong kiểu “truyện Trạng” Việt Nam và Lào phần nào giúp người đọc
có cái nhìn toàn diện về truyện Trạng Việt Nam và Lào đồng thời cũng những nét riêng biệt làm nên đặc sắc của mỗi dân tộc
II Phạm vi nghiêm cứu
Kho tàng truyện Trạng Việt Nam và Lào khá đa dạng va phong phú, với nhiều truyện về các trạng khác nhau như Việt Nam có Trạng Quỳnh, Trạng Lợn, Xiển Bột, Ba Giai – Tú Xuất, Nguyễn Kinh, Ba Phi…Nhưng trong khuôn khổ của một bài tiểu luận, người viết chỉ đi sâu vào truyện Trạng Quỳnh ở Việt Nam và Xiêng Miệng ở Lào Vì đây là hai truyện có
số lượng khá lớn và có nhiều nét đặc sắc về cà nội dung và nghệ thuật
Trang 4NỘI DUNG CHÍNH
I KHÁI QUÁT CHUNG
1.1 Nguồn gốc ra đời của kiểu “truyện Trạng” Việt Nam - Lào
Về nguồn gốc ra đời, nhiều nhà nghiên cứu thừa nhận: “Khởi đầu, chuyện trạng
là những chuyện kể về các ông trạng người thật, việc thật, với những tiểu sử đặcsắc, học hành công phu, ứng xử giỏi trong chính trị, ngoại giao Dần dần được lưu truyền, phát huy tác dụng Phải có người mói có chuyện Nhưng khi đã có chuyện, thì người ta nhớ chuyện, chứ không nhất thiết nhớ đến người…
Chuyện trạng ra đời từ ngày có trạng, song những câu chuyện kể về con người thông minh, tài giỏi, láu lỉnh, khôn ngoan thì đã có trước lâu rồi” Các nhà nghiên cứu đều khẳng định vai trò của nhân dân torng việc hư cấu, sáng tạo và hoàn chỉnh chuyện kể xoay quanh nhân vật trạng thấm nhuần lý tưởng thẩm mỹ
và khoái cảm sáng tạo của dân gian
1.2 Kiểu “truyện trạng” trong văn học dân gian Việt Nam và Lào
Kiểu truyện Trạng theo các nhà nghiên cứu thì có thể hiểu gồm ba mảng lớn: truyện kể về những ông Trạng cóthật (trạng nguyên); truyện kể về các ông Trạng không có thật (trạng dân gian); truyện kể về các làng cười(làng trạng) Truyện kể về những ông trạng có thật (trạng nguyện) là những ông trạng này có
lí lịch, tên tuổi rõ ràng được ghi chép lại trong sử sách Đó là những người đỗ đầu trong kỳ thi đình do nhà nước phong kiến tổ chức và họ đã đạt được học vị cao nhất Truyện kể về các ông trạng không có thật, trạng dân gian (trạng dân phong), đây là những ông trạng được nhân dân phong tặng, họ chỉ có một vài phẩm chất giống trạng và là nhân vật trung tâm của một chuỗi truyện Truyện
kể về các làng cười (làng trạng), trên mọi miền của đất nước Việt Nam và Lào
có nhiều địa phương có truyền thống hài hước, nghịch ngợm, dì dỏm Đặc điểmmang tính tập quán này trở thành một đặc trưng trong phong cách và văn hóa của con người nơi đó Rất có thể, những làng trạng ấy là cái nôi sản sinh ra các nhân vật trạng
Ba mạng truyện đều có những mối dây liên hệ với nhau khá mật thiết, thú vị Cùng chung mục đích vui cười và cả sự phê phán, đấu tranh bằng tiếng cười,
Trang 5truyện trạng thực sự trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu Từ tính cách của những ông trạng có thật đến tính cách của những ông trạng dân phong và từước mơ mong muốn của nhân dân gởi gắm qua ông trạng dân gian đến việc hoàn thiện hình ảnh của một ông trạng có thật là một khoảng cách, khoảng cách
ấy lớn nhỏ tùy thuộc từng trường hợp
Với kiểu “truyện Trạng” này dễ dàng bắt gặp được ở kho tàng truyện cười dân gian ở các nước Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam và Lào Cụ thể, nếu như Việt Nam có Trạng Quỳnh – một ông Trạng giàu có thông minh và trào phúng trong dân gianViệt Nam, có nhiều giai đoạn liên quan đến việc đả kích chế độ phong kiến thời chúa Trịnh, thì ở Lào có giai thoại về cuộc đời đấu trí của chàng trai mồ côi Xiêng Miệng với chúa đất, vua quan
II So sánh truyện Trạng Việt Nam và Lào
2.1 Tóm tắm truyện Trạng Quỳnh và Xiêng Miệng
2.1.1 Trạng Quỳnh – Việt Nam
Trạng Quỳnh là nhân vật trung tâm của một hệ thống truyện trạng đặc sắc nhất cả về nội dung lẫn hình thức của kho tàng truyện trạng Việt Nam Trong dân gian, Trạng Quỳnh được xem như một người thông minh, tài hoa,mưu lược và dung cảm
Trạng Quỳnh gồm 48 mẩu chuyện Mỗi mẩu chuyện là giai thoại trong đời nhân vật nhằm đả kích, châm biếm một ai đó Có thể là bọn trẻ đồng trang lứa trong làng (Đầu to bằng bố), kẻ trên (Trời sinh ông Tú Cát), quan thị (Lỡm quan thị), thành hoàng, bà Banh, chúa Liễu… Tóm lại, các nhân vật trnê đều thuộc tầng lớp thống trị, cả thế quyền lẫn thần quyền, tức bọn phong kiến “sống” và bọn phong kiến “chết”
2.1.2 Xiêng Miệng – Lào
Nhân vật chính trong hệ thống truyện Xiêng Miệng là nhân vật cùng tên, một chàng trai mồ côi và cũng là một chú tiểu Nhờ có trí thông minh, tài ứng biến, lại láu cá, Xiêng Miệng đã liên tục “chơi” cho vua quan, chúa đất, chúa làng những vố đau , buộc chúng phải ngậm bồ hòn làm gnọt Mỗi chiến thắng của Xiêng Miệng với vua quan, chúa đất, chúa làng là một trận cười giòn giã cho người dân lao động
2.2 Một số điểm tương đồng trong truyện Trạng Việt Nam và Lào
2.2.1 Nội dung, kết cấu truyện.
a) Nội dung
Trang 6Trạng là nhân vật hư cấu do nhân dân tạo ra nhằm mục đích phê phán, chế giễu, phản kháng quyết liệt của nhân dân lao động đối với giai cấp thống trị đương thời.
Trạng Quỳnh của Việt Nam và Xiêng Miệng của Lào đều tập trung thể hiện nội dung phản ánh, tố cáo chế độ đương thời đã đàn áp, áp bức nhân dân lao động Thời điểm Trạng xuất hiện cũng là lúc ý thức hệ tư tưởng xã hội phong kiến đã không còn phù hợp với quần chúng nhân dân lao động nữa Lúc này xã hội càng gay gắt mà đỉnh điểm là mâu thuẫn giữa nông dân lao động và bọn thống trị
Bên cạnh sự lên án , tố cáo giai cấp thống trị đương thời thì Trạng xuất hiện còn nói lên tinh thần dân chủ, nói lên ước mơ của nhân dân
Sự bất mãn về cuộc sống thực tại đã sản sinh ra nhân vật Trạng Các Trạng xuất hiện như đại diện cho trí tuệ của người lao động Họ có sự tương đồng trong nguồn gốc xuất thân Họ thường có hoàn cảnh xuất thân đều rất nghèo
và sống ở làng quê Họ là người rất hiếu thảo với cha mẹ và ngay từ nhỏ đã phải đi làm thuê cho bọn quan lại, chúa đất ngu dốt Tuy xuất thân nghèo khó nhưng họ lại có tài thông minh, lém lỉnh và giàu kinh nghiệm thực tiễn,
là đại biểu cho quần chúng nhân dân Bằng tài trí thông minh của mình Trạng liên tục "chơi" cho vua quan, chúa đất những vố đau buộc chúng phải ngậm bồ hòn làm ngọt Và sau mỗi chiến thắng của Trạng là một trận cười giòn giã cho người lao động
Chỉ có truyện Trạng mới xuất hiện nhân vật tài ba, xuất chúng Trạng dám nói tất cả các mặt trái của xã hội một cách công khai, quả quyết mà không chùn bước, nao núng trước các hình phạt tàn bạo
Nhân vật trong truyện Trạng thường có số lượng ít và các nhân vật thì
thường có sự lặp đi lặp lại
b) kết cấu
Truyện Trạng Quỳnh của Việt Nam và Xiêng Miệng của Lào cùng có kết cấu chuỗi Đó là một chuỗi truyện bao gồm nhiều tiểu truyện ghép lại tạo thành một tập hợp truyện xoay quanh nhân vật chính Mỗi tiểu truyện là một tác phẩm trọn vẹn và kết cấu từng tiểu truyện lại mang tính độc lập tương đối
Kết cấu của từng đơn vị, từng thành tố trong tổng thể kết cấu của chuỗi đã góp phần khu biệt kiểu truyện với nhiều thể loại tự sự dân gian khác
Sự liên kết các tiểu truyện thành một chuỗi truyện xoay quanh một nhân vật chính là phổ biến với tất cả các kiểu truyện này Hai chuỗi truyện đều bao gồm nhiều tiểu truyện dài ngắn khác nhau Nếu chỉ nghe một tiểu truyện thì nhân vật chính ấy cũng chỉ là nhân vật thông minh bình thường như nhiều nhân vật thông minh khác xuất hiện trong các thể loại khác của văn học dân gian
Trang 7Kết cấu theo lối liên hoàn không chỉ làm cho câu truyện có thể kéo dài, nội dung câu truyện và phạm vi đề cập rộng rãi hơn mà còn thích hợp cho việc nghe và kể kiểu truyện này.
Sự liên kết các tiểu truyện thành một hệ thống và kết cấu truyện theo kiểu xâu chuỗi là rất phổ biến của kiểu truyện này
Nhân vật thông minh lém lỉnh là yếu tố liên kết là công cụ liên kết Nếu thaynhân vật này trong các tiểu truyện bằng các nhân vật khác thì chuỗi truyện sẽ
bị phá vỡ, các tiểu truyện lập tức trở thành những truyện cười đơn
Về mặt kết cấu, chất kết dính này không chặt chẽ, tách ra, những chuyện ấy vẫn là những đơn vị tác phẩm độc lập, tồn tại được cả nội dung lẫn hình thức
Bố cục của truyện là các câu truyện được kể lại theo trình tự thời gian và không gian theo diễn biến cuộc đời nhân vật trung tâm
Thành phần trần thuật của truyện là sự tương ứng với cốt truyện, với những
sự biến đổi: giới thiệu lai lịch, xuất thân nhân vật, miêu tả chân dung bám sát theo hành động của nhân vật
2.2.2 Một số nét nghệ thuật
Để chuyển tải những tiếng cười nhẹ nhàng mà sâu cay, tác giả dân gian trong motif truyện Trạng đã sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật tiêu biểu, nhìn chung thì có sự giống nhau, tuy nhiên mỗi quốc gia lại mạnh về một số yếu tố hình thức nhất định
Đều gây cười bằng hiện tượng ngôn ngữ, hiện tượng đồng âm hay chơi chữ, khả năng chơi chữ và sử dụng ngôn ngữ của mỗi nhân vật Trạng đều rấtlinh hoạt.Như trong truyện “ Thết chúa đại phong” , một lần chúa bị chán ăn,Quỳnh lừa chúa ăn món “ đại phong” nói với chúa rằng đó là món cao lương
mỹ vị nhưng thật ra là món “tương” dân dã với lời giải thích “ đại phong” là gió lớn, gió lớn ắt đổ chùa, đổ chùa thì “tượng lo”, “ tượng lo” là “ lọ tương”
để tạo ra tiếng cười châm biếm
Những trò chơi xỏ của các Trạng với các nhân vật phi đạo đức thực sự rất linh hoạt, lém lỉnh và thông minh.Trong tập truyện Xiêng Miệng của Lào, truyện “ Lừa vau xuống ao” chính vua đã thách Xiêng Miệng làm thế nào để lừa được mình xuống ao, Xiêng Miệng đã thông minh đánh trúng vào tâm lý hiếu thắng của nhà vua thưa rằng: nhà vua đang mũ áo chỉnh tề mà lừa được vua xuống ao thì quả thật là khó Nếu vua ở dưới ao rồi thì thần có thể gọi vua lên bờ dễ như bỡn Nghe Xiêng Miệng nói thế vua liền trút bỏ quần áo, nhảy xuống ao để xem Xiêng Miệng có tài cán gì để gọi mình lên bờ Nhưngkhi vua vừa xuống ao Xiêng Miệng vội vàng vơ hết quần áo của vua mặc
Trang 8vào, mồm liếng thoắng: “ nhà vua thách hạ thần lừa được người xuống ao thìvua đã xuống ao rồi đấy” rồi chạy giật lùi Vừa tức, vừa sợ mất quần áo, vua nhảy lên bờ đuổi theo Xiêng Miệng Câu truyện trên phần nào cho ta thấy được sự thông minh và không kém phần lém lỉnh của các Trạng.
Cảm hứng chủ đạo của truyện Trạng hai nước Việt Nam và Lào là cảm hứng phê phán tạo ra tiếng cười trào lộng Đằng sau cảm hứng ấy hàm chứa một tư tưởng tự do, phóng túng cùng khát vọng vươn lên mang tính trí tuệ- cái tạo nên “ chất Trạng” độc đáo
Thủ pháp chính là gây cười, sử dụng lối nói phóng đại, nói quá, có khi bịahoàn toàn nhưng khó có thể bắt bẻ được.Sự phóng đại là một thủ pháp được
sử dụng thành công và phổ biến trong truyện Trạng dân gian.Nếu bỏ công đi tìm, ta sẽ kho bắt gặp được ông vua, bà chúa nào lại bị chơi xỏ hết lần này đến lần khác Hay trong truyện trạng Quỳnh, ta có thể thấy Quỳnh có thể đi lại trong cung vua, phủ chúa một cách tự do…Người đọc, người nghe khôngthắc mắc về những chi tiết vô lý ấy vì họ chỉ cần Trạng thắng và đối tượng cười bị hạ gục, thất bại, trong truyện Trạng, lối nói phóng đại, nói quá chính
là yếu tố gây cười
Với hệ thống đề tài linh hoạt và đa dạng truyện Trạng luôn tạo nên tiếng cười lạc quan và lành mạnh, một biểu hiện yêu cuộc sống, yêu đời tích cực, đồng thời làm cho kho tàng văn học dân gian hai nước thêm giàu có.Nhân vật trạng Quỳnh được xây dựng với sự thông minh nghịch ngợm, đả kích vào bọn quan lại, vua chúa của phong kiến thối nát Truyện trạng Lợn được
hư cấu từ nguyên mẫu Dương Đình Chung đã cất tiếng cười chế giễu thời Lê-Trịnh, xã hội lúc này là một tấm hài kịch được xây dựng trên sự giả dối Hay trong truyện Ba Giai- Tú Xuất in đậm văn minh đô thị đang từng bước phát triển cùng thứ đạo lý bình dân phường phố…
Truyện Trạng thường rất ngắn gọn, nặng về lí trí có kết cấu chặt chẽ và kết thúc đột ngột bất ngờ.Truyện Trạng thường rất ngắn ngọn bậc nhất, dài cũng chỉ đến 15- 20 câu, ngắn thì 5-7 câu, trung bình khoảng 10 câu Tuy ngắn nhưng truyện Trạng vẫn đảm bảo kết cấu của một câu chuyện, có mở đầu, có diễn biến và kết thúc Kết thúc trong truyện Trạng thường mang tính bất ngờ để lại cho người đọc một tiếng cười sảng khoái mà sâu cay Như trong truyện “ Vay tiền chúa Liễu” Quỳnh nói rằng : “Sấp thì chia tư, chị cho em vay một phần, ngửa thì chia ba, chị cho một phần, chị mà thuận cho một nửa thì xin nhất âm nhất dương" nhưng chúa Liễu lại không muốn cho
Trang 9Quỳnh vay nên cứ làm đồng tiền xoay tít khoong sấp không ngữa Và câu chuyện kết thúc bằng một câu nói ngắn gọn của Quỳnh: “Tiền múa Chúa cười, thế là chị bằng lòng cho em vay cả rồi!” Nói xong, lấy hết cả tiền, bỏ
vô bao mà về
Thông qua truyện Trạng, bức tranh xã hội đầy màu sắc và tầng lớp khác nhau được khái quát rõ nét Truyện Trạng phản ánh những quan niệm đạo đức, ý chí, trí tuệ cũng như kinh nghiệm của nhân dân Góp phần chống lại các thế lực thống trị.Ví dụ: Trạng Quỳnh dám vay tiền bỡn cợt… nhiều phenlàm cho vua Tàu liểng xiểng, còn bọn quan lại là đối tượng luôn bị đả phá Trong cuộc đấu tranh giai cấp đó, phần thắng luôn dành cho nhân dân chứ không thể cho ai khác
Chỉ có những sáng tác dân gian ở dạng nguyên hợp như truyện Trạng mới dám giơ thẳng roi, đánh trúng mặt bọn đè đầu cưỡi cổ quần chúng nhân dân Truyện Trạng với những nhân vật tài ba, xuất chúng, đại diện cho trí tuệcủa nhân dân, có quan hệ nhiều chiều từ triều đình đến tỉnh, huyện, xã Truyện Trạng dám tố cáo tất cả mặt trái của xã hội một cách công khai và quyết liệt, không nao núng trước hình phạt tàn bạo, làm cho văn học dân gian ngày một giàu, đẹp hơn
2.2.3 Một số Motif thường gặp
a) Motif đọ tài với sứ Trung Hoa
Trên thế giới nhiều quốc gia có những truyện kể về người thông minh, nghịch ngợm trong nhiều hoàn cảnh, môi trường sống khác nhau Nhân vật
vó thể khác nhau về địa vị, thời đại, hoàn cảnh, trình độ nhưng đều giống nhau về sự thông minh, tài trí, lém lỉnh, có thể đặt ra nhiều cái bẫy để đối tượng là những kẻ giàu có, quyền thế nhưng bất tài, kiêu ngạo phải ngậm ngùi nhận lấy thất bại trong tiếng cười chế giễu của người đời
Những màn đối đáp với bọn người Tàu có khi rất thông minh, thể hiện sự phản ứng nhanh nhạy, tài ứng phó trong nhiều hoàn cảnh khó khăn thậm chí
là nguy hiểm, nhưng đôi khi cũng thể hiện sự nghịch ngợm, sự thái quá và ý
đồ tư lợi Để thực hiện được mục đích của mình, nhân vật thông minh láu lỉnh nhiều khi phải hy sinh bản thân, lấy ngay bản thân mình làm mồi nhử đểđối phương cắn câu Vì vậy không ít câu chuyện đối tượng cười rơi vào tình huống dở khóc dở cười
Trạng Quỳnh Việt Nam rất giỏi tạo ra mẹo lừa nhằm chơi xỏ những người
có tính xấu, từ kẻ tham lam, tò mò cho đến quan lại vua chúa quyền cao chức trọng nhưng hiếu thắng, ngu dốt, thậm chí cả xứ Tàu có âm mưu xấu
xa
Trang 10Truyện " Xứ Tàu mắc lõm", xứ Tàu không chịu đi qua cổng thành đề chữ"Đại Nam quốc môn" Quỳnh giả làm lính hầu cầm quạt gõ vào đầu xứ Tàu
Xứ Tàu lên ngựa đuổi bắt chạy vào thành lúc nào không hay Đây không chỉ
là sự lém lỉnh thông minh của Trạng để lừa xứ Tàu mà còn thể hiện được sự tài trí, nhạy bén của Trạng cũng như của người dân nước Nam ta lúc bấy giờ.Bên cạnh đó thì các Trạng đã thông minh dùng chính những lí lẽ mà đối thủ đã đồng tình là đúng để chơi khăm đối thủ, khiến họ không nói được gì nữa Tiêu biểu là truyện Trạng đón tiếp xứ Tàu: Nhà Thanh cho sứ thần sangnước ta Trạng quỳnh và nữ sĩ Đoàn Thị Điểm được lệnh đi đón những tên quan hống hách, kiêu ngạo, coi thường đất An Nam nhỏ bé nhưng anh hùng
đó Hai người đã dạy cho những tên hống hách đó bài học nhớ đời
Bọn xứ tàu đi xuống đò của Quỳnh Khi đò đến giữa sông, một tên trong nhóm xứ Tàu nhột bụng, vãi rắm nghe một tiếng "bủm" Không thấy xấu hổ thì thôi, hắn còn đọc một câu chữa thẹn xấc xược: " Lôi động Nam bang" ( Sấm động nước Nam) Quỳnh đang cầm chèo, liền đứng vạch quần đái vòng cầu qua đầu xứ, vừa đái vừa đọc: "Vũ qua Bắc hải" ( Mưa qua biển Bắc)
Tên xứ Tàu giận điên tiết định đánh Quỳnh nhưng bị Quỳnh mắng:" Tiền phát lôi, hậu phát vũ, thiên địa chi lí đại hỉ" (Sấm động trước, ắt sau sẽ có mưa, luật trời đất là thế) Cả bọn khách Tàu sững sốt nhìn nhau không thốt được một lời vì câu đối đáp bắt bí quá đúng của anh lái đò Cả bọn trong bụng vừa tức vừa sợ đành ngậm miệng không dám nói gì nữa
b) Motif chơi xỏ vua,quan lai phong kiến
2.2.4 Ý nghĩa tiếng cười trong truyện Trạng:
Truyện Trạng là truyện có yếu tố gây cười tồn tại dưới dạng truyện kể dângian với hệ thống ứng xử linh hoạt, lý tưởng thẩm mỹ của truyện Trạng nhằm thay đổi toàn bộ thể chế chính trị, uốn nắn lại trật tự kỉ cương của hiệntrạng xã hội cho phù hợp với đạo đức, công lí
Trong một xã hội đảo lộn, nhiều giá trị tinh thần bị thay đổi, nhiều nấc thang đạo đức cần được đánh giá lại,tìm cách đấu tranh chống lại những điềuxấu xa, rắc rưởi, những hủ tục trong xã hội xưa Trạng đại diện cho khát vọng, tư tưởng, ước mơ của nhân dân về một xã hội công bằng, tốt đẹp
Đó là tiếng cười cho những thói hư tật xấu của bọn vua chúa, quan lại bị mang ra chế giễu, cười cợt, đả kích Truyện Trạng làm tróc lớp sơn son thiếpvàng của thế lực thống trị có vẻ trang nghiêm, thiêng liêng một cách giả tạo Với sự thông minh và tài giỏi của mình, trạng Quỳnh đã vạch trần sự tham
lam ngu ngốc của chúa Trịnh như trong truyện: ngọc người, tương…Hay là
Trang 11tiếng chửi rủa sâu sắc, chua xót như trong truyện: ăn trộm mèo, chúa ngủ
là trong Xiêng Miệng là hình ảnh tượng trưng cho trí thông minh, tinh thần phê phán quyết liệt của nhân dân lao động đối với giai cấp thống trị đương thời.Đó là tiếng cười hả hê nhưng sâu sắc, cay độc của nhân dân trước biểu hiện ngu dốt, lố bịch, hài hước của giai cấp thống trị Vì đi ngược lại lợi ích của giai cấp thống trị nên họ rất ghét Xiêng Miệng và tìm mọi cách để trừ khử nhưng Xiêng Miệng chỉ là nhân vật văn học, giai cấp thống trị còn tồn tại thì Xiêng Miệng còn đả kích, châm biếm Đó là cái hay, cái đẹp của văn học dân gian nói chung và truyện Trạng nói riêng Xiêng Miệng trường tồn cùng đất nước Lào cũng như Trạng Quỳnh tồn tại trường tột với người Việt vậy Tóm lại, bằng tiếng cười sảng khoái sắc sảo mà sâu cay, truyện Trạng đóng vai trò là “ bà đỡ” cho cái mới, cái tiến bộ, đại diên cho khát vọng ước
mơ của nhân dân lao động Đồng thời, nó cũng là vũ khí sắc bén tống tiễn cái cũ, cái lạc hậu, thúc đẩy xã hội phát triển
Là tiếng cười để “ mua vui” cho quần chúng nhân dân Như một liều thuốc tinh thần, là một cách giải trí không tốn tiền mà đem lại hiệu quả rất cao cho con người Tạo cho con người tiếng cười sảng khoái, giúp cho cuộc sống lao động sản xuất bớt đi sự nhọc nhằn, khó khăn
Truyện Trạng giúp cho con người rèn luyện, mài giũa năng lực tư duy nhanh nhạy, khả năng sử dụng tiếng Việt thành thạo Đối với truyện Trạng không phải ai đọc xong cũng cười, có người đọc xong là lập tức phát ra tiếngcười giòn, nhưng cũng có người phải suy nghĩ hồi lâu Phát hiện ra chỗ gây cười cần một đầu óc thông minh, nhanh nhạy, một kiến thức về từ ngữ tiếng Việt khá tốt Vì vậy, mà giúp chúng ta nâng cao tình yêu với tiếng nói của dân tộc và bản sắc văn hóa nước nhà
Ngoài mục đích châm biếm chế độ phong kiến thối nát, quan lại , vua chúa tham lam, truyện Trạng còn đả kích cả thói ngang ngược, hống hách của các nước lớn.Đó là bọn thống trị phương Bắc như trong truyện” chọi trâu, ngựa mẹ ngựa con… đã làm cho độc giả khâm phục trước sự nhạy bén
Trang 12của Quỳnh, đối đáp đâu ra đấy, mưu mẹo khôn ngoan Đồng thời, truyện cònlên án thói vô cớ gây sự của bọn phong kiến “ phương Bắc” bằng trí tuệ trên chiến trường “ ngoại giao” khiến chúng phải kiêng nể chúng ta Chứng tỏ được sức mạnh dân tộc, sức mạnh trí tuệ của nhân dân.
Truyện Trạng là những trang sử hào hùng của dân tộc, những phong tục tập quán truyền thống đã trở thành dấu ấn, những bài ca bất hủ về sức mạnh chính nghĩa của quần chúng, đó là sức mạnh của bàn tay, khối óc của trí tuệ nhân dân Như vậy, truyện Trạng có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống tinh thần của hai nước Việt Nam, Lào nói riêng và Đông Nam Á nói chung
Nó là tiếng nói của nhân dân, là khát vọng công bằng là ước mơ về một cuộc sống tốt đẹp hơn, nhân văn hơn!
2.3 Một số điểm khác biệt trong truyện Trạng Việt Nam và Lào
2.3.1 Hoàn cảnh xuất thân.
a) Trạng Quỳnh:
Trạng Quỳnh tên thật là Nguyễn Quỳnh (1677-1748) là một danh sĩ thời Lê–Trịnh (vua Lê hiển Tông),từng thi đỗ Hương Cống nên còn gọi là Cống Quỳnh.Ông nổi tiếng với sự trào lộng,hài hướng tạo nên nhiều giai thoại nên trong dân gian vẫn thường gọi ông là Trạng Quỳnh dù ông không đỗ Trạng Nguyên
Thuở nhỏ ông học với ông nội và cha ( vốn là giám sinh ở Quốc Tử
Giam).Năm 1969 Quỳnh thi đỗ giải Nguyên ,nhưng đi thi hội nhiều lần bị hỏng
Tuy không đỗ cao ,Quỳnh vẫn nổi tiếng là người học hành xuất sắc đương thời đã có câu “Nguyễn Quỳnh ,Nguyễn Nham thiên hạ vô tam” (Nghĩa là thiên hạ không có người thứ ba giỏi như hai ông) Sách “Nam Thiên lịch đaị tư lược sử” đã nhận xét về ông “…Nguyễn Quỳnh văn chương nổi tiếng
ở đời,nói năng kinh người ,thạo quốc âm giỏi hài hước …”
b) Xiêng Miệng:
Khác với Trạng Quỳnh ,Xiêng Miệng xuất thân không rõ ràng Xiêng Miệng sinh ra trong một gia đình rất nghèo ,nghèo đến nổi không kiếm nỗi cơm gạo cho Khăm (tên hồi nhỏ của Xiêng Miệng ) ăn ngày hai bữa.Chàngphải làm con nuôi trong một gia đình giàu có Lên bảy tuổi ,Xiêng Miệng
đã dung lí lẽ để gây rối Không chịu được vợ chồng nhà kia phải đem Khăm dâng cho Chẩu Mường làm người hầu hạ.Rồi Chẩu Mường cũng bị Khăm làm cho bẻ mặt nhưng cũng không có lí gì để bắt bẻ trị tội được