Vào những năm 90 của thế kỷ 20, khái niệm về du lịch sinh thái cũng đã đượcnhiều nhà nghiên cứu nêu ra, điển hình: Theo Wood, 1991: “Du lịch sinh thái là dulịch đến các khu vực còn tương
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM TP HCM
KHOA DU LỊCH & ẨM THỰC
BÁO CÁO TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI TẠI VƯỜN QUỐC GIA TRÀM
CHIM
Giảng viên hướng dẫn: NGUYỄN CÔNG DANH
Nhóm sinh viên thực hiện:
NGUYỄN DIỄM MY 2024181091
PHAN TRUNG NHÂN 2024181114
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2021
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiêm cứu làm đề tài báo cáo môn học, ngoài sự cố gắn của bản
thân chúng em đã nhận được sự giúp đỡ từ phía thầy, gia đình và bạn bè để em hoàn thành tốt bài báo cáo của mình.
Chúng em xin chân thành bày tỏ lòng kính trọng, tình cảm chân thành tới thầy Ths Nguyễn Công Danh đã tận tình giúp đỡ chúng em trong việc nghiên cứu, tìm tài liệu tham khảo và đưa ra những ý kiến giúp đỡ chúng em trong suốt quá trình hoàn thành bài báo cáo.
Chúng em xin chân thành cảm ơn tới ban giám hiệu trường Đại Học Công Nghiệp Thực Phẩm Tp Hồ Chí Minh, Ban chủ nhiệm và các thầy cô trong khoa Du Lịch và Ẩm Thực đã tạo điều kiện và giúp đỡ chúng em thực hiên bài nghiên cứu này.
Đề tài đã hoàn thành nhưng chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, Chúng
em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy.
Tp Hồ Chí Minh, tháng 4, năm 2021
Người Thực Hiện
Trang 3DANH MỤC VIẾC TẮT
IUCN Tổ Chức Liên minh Quốc tế Bảo tồn
Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiênUNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa
Liên Hiệp QuốcASEAN Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam ÁĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
Trang 4DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Sơ đồ cấu trúc du lịch sinh thái
Hình 1.2 Mối quan hệ giữa du lịch sinh thái và bảo tồn tự nhiên
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Lượng khách du lịch đến VQG Tràm Chim giai đoạn 2005 – 2009
Bảng 2.2 Doanh thu du lịch giai đoạn 2004 – 2008
Trang 5MỤC LỤC
Trang 6Và một trong các Vườn Quốc Gia tối muốn đề cập đến đó là Vườn Quốc GiaTràm Chim đây là một khu đất ngập nước, được xếp trong hệ thống rừng đặcdụng thuộc tỉnh Đồng Tháp Nơi đây còn đạt được bảy trong chín tiêu chuẩncông ước quốc tế Ramsar về đất ngập nước, là một trong tám vùng bảo tồn chimquan trọng nhất của Việt Nam và là chiếc nôi xanh tạo ra môi trường không khítrong lành cho con người Ngoài ra VQG Tràm Chim còn là nơi bảo tồn 1 trong
16 loài sinh vật quý nằm trong sách đỏ Việt Nam và thế giới mà đặc biệt là loàiSếu đầu đỏ đang có nguy cơ tuyệt chủng và nhiều giống loài khác rất phù hợp đềphát triển du lịch sinh thái
Là một sinh viên ngành du lich và cũng là một người con của miền tây sôngnước, tôi thấy tầm quan trọng tính cấp thiết của vấn đề bảo môi trường sống củaloài Sếu quý hiếm, và việc định hướng phát triển du sinh thái cho nơi đây Gópphần bảo vệ hệ sinh thái, cũng như da dạng sinh học và phát triển du lịch trong
Trang 7vùng Đó là những động lực đã đưa tôi đến với đề tài “Thực trạng và định hướngphát triển du lịch sinh thái tại Vườn Quốc Gia Tràm Chim – Đồng Tháp”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu và đánh giá hiện trạng khai thác phát triển và sử dụng hợp lýnguồn tài nguyên tại VQGTC
- Tìm hiểu đánh giá tiềm năng và tài nguyên VQGTC để đưa ra giải phápphát triển du lịch sinh thái
- Nêu ra những mặt hạn chế tồn tại trong công tác bảo tồn phát triểnVQGTC
- Đưa ra những đánh giá kiến nghị giải pháp trong công tác bảo tồn pháttriển VQGTC tỉnh Đồng Tháp
- Xây dựng các định hướng phát triển du lịch sinh thái cho VQGTC
3. Phạm vi và nội dung nghiên cứu
Đề tài thực trạng và định hướng phát triển du lịch sinh thái VQG TràmChim Đồng Tháp nên phạm vi nghiên cứu chỉ ở tỉnh Đồng Tháp và bao quanhkhu du lịch sinh thái Tràm Chim
Nội dung: Đề tài tìm hiểu thực trạng và tìm ra đinh hướng phát triển dulịch sinh thái VQG Tràm Chim
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thu thập và xử lý thông tin
Đây là phương pháp được áp dụng đầu tiên trong quá trình làm đề tài Tiếnhành thu thập thông tin, tư liệu từ nhiều nguồn, lĩnh vực khác nhau để đảm bảokhối lượng thông tin đầy đủ, chính xác đáp ứng cho tổ chức hoạt động du lịch
4.2 Phương pháp tiếp cận và phân tích hệ thống
Phương pháp này cho phép tìm kiếm và nêu lên các mô hình của đối tượngnghiên cứu, thu thập và phân tích thông tin ban đầu, vạch ra các chỉ tiêu thíchhợp xác định cấu trúc tối ưu của hệ thống lãnh thổ du lịch Qua phương pháp nàychúng ta mới nhận thức được quy luật vận động của từng phân hệ và mối liên hệnội tại giữa chúng để đưa ra các định hướng phát triển du lịch tối ưu
Trang 84.3 Phương pháp bản đồ
Do lãnh thổ nghiên cứu thường có qui mô lớn nên việc sử dụng bản đồ sẽgiúp cho chúng ta có một tầm nhìn bao quát
4.4 Phương pháp khảo sát thực địa
Đây là phương pháp truyền thống có hiệu quả rất lớn trong việc thu thập trựctiếp số liệu thông tin ban đầu với độ tin cậy và chính xác cao trên địa bàn nghiêncứu Trong nhiều trường hợp nó là phương pháp duy nhất để thu được lượngthông tin đáng tin cậy và xây dựng ngân hàng tư liệu cho các phương pháp phântích khác
4.5 Phương pháp chuyên gia
Là phương pháp tham khảo ý kiến của các chuyên gia đứng đầu các lĩnh vựckhoa học về những định hướng phát triển và các quyết định mang tính chất khảthi
4.6 Phương pháp phân tích xu thế
Dựa vào qui luật vận động trong quá khứ, hiện tại để suy ra xu hướng pháttriển trong tương lai Phương pháp này dùng để đưa ra các dự báo về các chỉ tiêuphát triển và có thể được mô hình hoá trên các biểu đồ toán học đơn giản
5 Kết cấu của đề tài
- CHƯƠNG I: Những lý luận cơ bản về phát triển du lịch sinh thái tại Vườnquốc gia
- CHƯƠNG II: Thực trạng về các điều kiện phát triển du lịch tại Vườnquốc gia Tràm Chim
- CHƯƠNG III: Phương hướng và giải pháp nhằm phát triển du lịch tạiVườn quốc gia Tràm Chim
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH SINH THÁI VÀ VƯỜN QUỐC
Trang 91.1.1 Khái niệm du lịch sinh thái
1.1.1.1 Quan điểm của thế giới về du lịch sinh thái
Định nghĩa về DLST lần đầu tiên được Hector Ceballos-Lascurain nêu vào năm1987: “Du lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên còn ít bị thay đổi, vớinhững mục đích đặc biệt: nghiên cứu, tham quan với ý thức trân trọng thế giớihoang dã và những giá trị văn hóa được khám phá”
Vào những năm 90 của thế kỷ 20, khái niệm về du lịch sinh thái cũng đã đượcnhiều nhà nghiên cứu nêu ra, điển hình: Theo Wood, 1991: “Du lịch sinh thái là dulịch đến các khu vực còn tương đối hoang sơ với mục đích tìm hiểu về lịch sử môitrường tự nhiên và văn hóa mà không làm thay đổi sự toàn vẹn của các hệ sinh thái.Đồng thời tạo những cơ hội về kinh tế để ủng hộ việc bảo tồn tự nhiên và mang lạilợi ích về tài chính cho người dân địa phương”
Theo Allen, 1993 “Du lịch sinh thái được phân biệt với các loại hình du lịch thiênnhiên khác về mức độ giáo dục cao đối với môi trường và sinh thái, thông quanhững hướng dẫn viên có nghiệp vụ lành nghề Du lịch sinh thái tạo ra mối quan hệgiữa con người và thiên nhiên hoang dã cùng với ý thức được giáo dục để biến bảnthân khách du lịch thành những người đi đầu trong công tác bảo vệ môi trường Pháttriển du lịch sinh thái sẽ làm giảm thiểu tác động của khách du lịch đến văn hóa vàmôi trường, đảm bảo cho địa phương được hưởng nguồn lợi tài chính do du lịchmang lại và chú trọng đến những đóng góp tài chính cho việc bảo tồn thiên nhiên”
1.1.1.2 Quan điểm của Việt Nam về du lịch sinh thái
“Du lịch sinh thái là hình thức du lịch thiên nhiên có mức độ giáo dục cao vềsinh thái và môi trường, có tác động tích cực đến việc bảo vệ môi trường và văn hóa,đảm bảo mang lại các lợi ích về tài chính cho cộng đồng địa phương và có đóng gópcho các nỗ lực bảo tồn”
Ở Việt Nam, du lịch sinh thái mới nghiên cứu từ giữa thập kỷ 90 của thế kỷ 20.Trong Hội thảo quốc gia về “Xây dựng chiến lược phát triển Du lịch sinh thái ở Việt
Trang 10Nam”, Tổng cục Du lịch Việt Nam đã đưa ra định nghĩa về du lịch sinh thái ở ViệtNam như sau : “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóabản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triểnbền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương” Nhưng gần đây,người ta cho rằng nội dung căn bản của Du lịch sinh thái là tập trung vào mức độtrách nhiệm của con người đối với môi trường Quan điểm thụ động cho rằng Dulịch sinh thái là du lịch hạn chế tối đa các suy thoái môi trường do du lịch tạo ra, là
sự ngăn ngừa các tác động tiêu cực lên sinh thái, văn hoá và thẩm mỹ Quan điểmchủ động cho rằng Du lịch sinh thái còn phải đóng góp vào quản lý bền vững môitrường lãnh thổ du lịch và phải quan tâm đến quyền lợi của nhân dân địa phương
Do đó, người ta đã đưa ra một khái niệm mới tương đối đầy đủ hơn: "Du lịch sinhthái là du lịch có trách nhiệm với các khu thiên nhiên là nơi bảo tồn môi trường vàcải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương"
Nói tóm lại, cho đến tận nay khái niệm du lịch sinh thái vẫn còn được hiểudưới nhiều góc độ khác nhau với nhiều tên gọi khác nhau nhưng chúng ta có thểkhái quát như sau: Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, pháttriển dựa vào những giá trị hấp dẫn của thiên nhiên và văn hóa bản địa; lợi nhuậnthu từ hoạt động du lịch sẽ đóng góp cho công tác bảo tồn và nâng cao đời sống chonhân dân địa phương; đồng thời phổ biến một số kiến thức cơ bản về sinh thái họccho khách du lịch, từ đó họ có ý thức bảo vệ môi trường Như vậy, từ định nghĩa đầutiên năm 1987 đến nay, nội dung của du lịch sinh thái đã có sự thay đổi: từ chỗ coihoạt động du lịch sinh thái là loại hình ít tác động đến môi trường tự nhiên sangcách nhìn khác hơn; theo cách nhìn mới, du lịch sinh thái là loại hình du lịch cótrách nhiệm với bảo tồn, có tính giáo dục và nâng cao đời sống của cộng đồng địaphương
Trang 11Hình 1.1 Sơ đồ cấu trúc du lịch sinh thái
Nguồn: Nguyễn Thị Sơn,2000
Đặc điểm của Du Lịch Sinh Thái
Theo Luật Du lịch do Quốc hội thông qua năm 2005 xác định khái niệm Du lịchsinh thái là hình thức du lịch “dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địaphương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững”
Từ khái niệm nêu trên có thể hiểu du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vàothiên nhiên, hòa vào thiên nhiên, bao gồm cả tìm hiểu, nghiên cứu thiên nhiên; tìmhiểu, nghiên cứu văn hóa bản địa của cộng đồng
Tài nguyên du lịch sinh thái được đánh giá thông qua các chuẩn các giá trị TheoPiroginoic, tài nguyên du lịch sinh thái “là các thành phần và thể cảnh quan và nhânsinh có thể dùng để tạo ra sản phẩm du lịch, thoả mãn các nhu cầu của con người”.Tài nguyên du lịch sinh thái chính là các giá trị tự nhiên thể hiện trong một hệ sinhthái cụ thể và các giá trị văn hoá bản địa tồn tại và phát triển không tách rời hệ sinhthái tự nhiên đó
Du lịch sinh thái bao hàm nhiều loại hình khác nhau, như: Du lịch thiên nhiên(Nature Tourism), Du lịch dựa vào thiên nhiên (Nature - Based Tourism), Du lịch
Trang 12môi trường (Environmental Tourism), Du lịch đặc thù (Particular Tourism), Du lịchxanh (Green Tourism), Du lịch mạo hiểm (Adventure Tourism), Du lịch bản xứ(Indigenous Tourism), Du lịch có trách nhiệm (Responsible Tourism), Du lịch nhạycảm (Sensitized Tourism), Du lịch nhà tranh (Cottage Tourism), Du lịch bền vững(Sustainable Tourism)… Ở nước ta hiện nay, loại hình Du lịch thiên nhiên (NatureTourism) hay Du lịch dựa vào thiên nhiên (Nature - Based Tourism) đang đượcnhiều người ưa thích Các tours, chương trình lữ hành đến với các Di sản Thiênnhiên, các khu dự trữ sinh quyển, các khu vực sinh thái biển đảo đã diễn ra nhiềunăm và càng ngày càng trở nên phổ biến
Một số điểm khác nhau giữa DLST với các loại hình du lịch thiên nhiên khác thể hiện trên các mặt sau:
- Có mức độ giáo dục cao đối với môi trường và sinh thái, thông qua nhữnghướng dẫn viên lành nghề
- DLST tạo ra mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên hoang dã cùng với ýthức được giáo dục để biến bản thân du khách thành những người đi tiênphong trong công tác bảo tồn môi trường
- Phát triển DLST sẽ làm giảm thiểu tác động tiêu cực của du khách đến vănhoá và môi trường, đảm bảo cho địa phương được hưởng quyền lợi tài chính
do du lịch mang lại và chú trọng đến những đóng góp tài chính cho việc bảotồn thiên nhiên
Những vấn đề cần quan tâm trong phát triển DLST:
- Cần phải nhận thức một cách đầy đủ và đúng đắn về sự cần thiết phải bảo vệcác vùng tự nhiên nhằm bảo tồn sự đa dạng sinh học và đa dạng văn hoá
- Cần có những dự báo và biện pháp kiểm soát bổ sung khi tổ chức phát triểnDLST ở những khu vực có tính nhạy cảm về môi trường
- Cần đảm bảo quyền lợi cho cộng đồng địa phương
1.1.2 Đặc trưng du lịch sinh thái
Tính đa thành phần: Nó được biểu hiện thông qua sự đa dạng về thành phần
các khách du lịch, người phục vụ du lịch hay cộng đồng địa phương, tổ chức chính
Trang 13phủ, phi chính phủ và những tổ chức tư nhân tham gia vào hoạt động du lịch sinhthái.
Tính đa ngành: Thể hiện thông qua các đối tượng được khai thác nhằm phục vụ
cho mục đích du lịch
Tính đa mục tiêu: Đặc trưng này biểu hiện cho những lợi ích của du lịch sinh
thái về bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên, cảnh quan lịch sử văn hóa nhằm nângcao chất lượng của du khách tham quan và tham gia vào những hoạt động của dulịch Đồng thời mở rộng về sự giao lưu kinh tế, văn hóa, góp phần nâng cao về ýthức trách nhiệm của tất cả các thành viên có trong xã hội
Tính liên vùng: Thể hiện dựa trên những tuyến du lịch khác nhau, với một quần
thể gồm các điểm du lịch của một khu vực hay một quốc gia nào đó hoặc có thể làgiữa các quốc gia đối với nhâu
Tính mùa vụ: Ở đây ý muốn nói tới hoạt động du lịch diễn ra sôi nổi nhất vào
mùa vụ nào trong năm Tính mùa vụ thể hiện rõ nhất ở loại hình du lịch nghỉ biển,thể thao theo mùa, hay loại hình du lịch cuối tuần,…
Tính chi phí: Thể hiện ở mục đích đi du lịch chính là hưởng thụ về những sản
phẩm du lịch chứ không phải là với mục tiêu kiếm tiền
Tính giáo dục cao về môi trường: Loại hình du lịch sinh thái sẽ giúp con người
gần gũi với các vùng tự nhiên và các khu bảo tồn Nơi đây sẽ có giá trị cao về sựđang dạng của sinh học và rất nhạy cảm đối với vấn đề môi trường Vì thế hoạt động
du lịch sẽ gây ra những áp lực lớn đối với môi trường và du lịch sinh thái sẽ giúpcân bằng về mục tiêu phát triển của du lịch đối với vấn đề bảo vệ môi trường
1.1.3 Nguyên tắc của du lịch sinh thái
- Nâng cao hiểu biết cho du khách về môi trường tự nhiên; du khách có cáchoạt động góp phần tích cực vào việc bảo vệ môi trường, bản sắc văn hoá
- Khách DLST chấp nhận điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh tự nhiên với nhữnghạn chế của nó
Trang 14- Tạo thêm việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương.
- Lượng du khách luôn kiểm soát điều hoà
- Phải đảm bảo lợi ích lâu dài, hài hòa cho tất cả các bên liên quan
- Người hướng dẫn viên và các thành viên tham gia DLST phải có nhận thứccao về môi trường sinh thái, am hiểu về điều kiện tự nhiên, văn hóa, xã hội
- Cần có sự đào tạo đối với tất cả các thành viên, đối tác tham gia vào DLST.1.2 Quan hệ giữa du lịch sinh thái với Vườn quốc gia
1.2.1 Vườn Quốc Gia
Vườn quốc gia là một khu vực đất hay biển được bảo tồn bằng các quy địnhpháp luật của chính quyền sở tại Vườn quốc gia được bảo vệ nghiêm ngặt khỏi sựkhai thác, can thiệp bởi con người Vườn quốc gia thường được thành lập ở nhữngkhu vực có địa mạo độc đáo có giá trị khoa học hoặc những khu vực có hệ sinh tháiphong phú, có nhiều loài động-thực vật có nguy cơ tuyệt chủng cao cần được bảo vệnghiêm ngặt trước sự khai thác của con người Các vườn quốc gia là một khu vựcđược bảo vệ theo quy định của IUCN loại II
Theo định nghĩa của Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyênThiên nhiên (IUCN) thì vườn quốc gia là: Khu vực tự nhiên của vùng đất và/hoặcvùng biển, được chọn để:
- Bảo vệ tình trạng nguyên vẹn sinh thái của một hay nhiều hệ sinh tháicho các thế hệ hiện tại và tương lai,
- Loại bỏ việc khai thác hay chiếm giữ không thân thiện đối với cácmục đích của việc chọn lựa khu vực và
- Chuẩn bị cơ sở cho các cơ hội tinh thần, khoa học, giáo dục, giải trí vàtham quan, tất cả các cơ hội đó phải có tính tương thích về văn hóa vàmôi trường
Đặc trưng cơ bản các vườn quốc gia thông thường nằm tại các khu vực chủ yếu
là chưa phát triển, thường là những khu vực với động-thực vật bản địa quý hiếm vàcác hệ sinh thái đặc biệt (chẳng hạn cụ thể là các loài đang nguy cấp), sự đa dạngsinh học, hay các đặc trưng địa chất đặc biệt Đôi khi, các vườn quốc gia cũng được
Trang 15thành lập tại các khu vực đã phát triển với mục tiêu làm cho khu vực đó trở lại gầngiống như tình trạng ban đầu của nó, càng gần càng tốt.
1.2.2 Hệ thống Vườn quốc gia là tài nguyên phát triển DLST
Theo Luật Lâm Nghiệp (2017) và Luật Đa dạng sinh học (2018), các vườn quốcgia, khu bảo tồn thiên nhiên nằm trong hệ thống rừng đặc dụng và khu bảo tồn, được
sử dụng chủ yếu để bảo tồn hệ sinh thái rừng tự nhiên, nguồn gen sinh vật rừng,nghiên cứu khoa học, bảo tồn di tích lịch sử – văn hóa, tín ngưỡng, danh lam thắngcảnh kết hợp du lịch sinh thái; nghỉ dưỡng, giải trí (trừ phân khu bảo vệ nghiêm ngặtcủa rừng đặc dụng) và cung ứng dịch vụ môi trường rừng Tính đến năm 2019, ViệtNam có 164 khu rừng đặc dụng với diện tích khoảng 2,1 triệu ha Bên cạnh hệ thốngcác vườn quốc gia, khu bảo tồn loài, sinh cảnh… có nhiều khu đạt các tiêu chí quốc
tế bao gồm 8 khu Ramsar, 9 khu dự trữ sinh quyển thế giới được UNESCO côngnhận, 6 khu di sản ASEAN (AHP), 2 khu dự trữ thiên nhiên thế giới Mặt khác, theoQuy hoạch tổng thể bảo tồn đa dạng sinh học của cả nước đến năm 2020, địnhhướng đến năm 2030, Việt Nam hướng đến năm 2030 sẽ có 219 khu bảo tồn (tổngdiện tích khoảng 3.067 triệu ha) Đây là nguồn tài nguyên quan trọng để phát triển
du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái
Ngoài tính đa dạng về tài nguyên du lịch tự nhiên vừa mới kể trên thì một VQGhay khu bảo tồn thiên thiên có khả năng hấp dẫn và thu hút khách du lịch còn tùythuộc vào mức độ thuận lợi của nó như là:
- Vị trí thuận lợi: như ở gần sân bay quốc tế hay trung tâm du lịch lớn, khảnăng dể dàng đến với khu vực tham quan
- Đặc điểm sinh thái tự nhiên: tính đa dạng các loài động thực vật quí hiếmđiển hình, sự hấp dẫn và khả năng quan sát chúng, sự an toàn khi quan sát
- Các yếu tố văn hóa xã hội địa phương hấp dẫn khách du lịch
- Mức độ đảm bảo các dịch vụ: ăn uống, lưu trú và các dịch vụ bổ sung khác
- Vị trí của VQG so với các điểm du lịch khác trong vùng, mức độ gần xa củacác điểm du lịch lân cận , sự hấp dẫn của các điểm này và khả năng kết hợptạo nên những tuyến, vùng du lịch
Trang 16Bên cạnh đó các dịch vụ vui chơi giải trí bổ sung cũng là yếu tố chủ yếu thu hútkhách du lịch đối với một VQG hay khu bảo tồn.
Như vậy tiềm năng của một VQG hay khu bảo tồn đối với phát triển du lịchsinh thái là rất lớn, tuy vậy tiềm năng này có khả năng phát huy hay không còn tùythuộc vào khả năng khai thác, quản lý của các nhà quy hoạch, điều hành du lịchtrong việc phối hợp với các nhà quản lý VQG và cộng đồng địa phương
1.2.3 Lợi ích việc khác thát du lịch với Vườn quốc gia
Theo báo cáo của Tổng cục Lâm Nghiệp, năm 2019, Việt Nam có 61 khu rừngđặc dụng có tổ chức hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giảitrí Trong đó có 26/33 vườn quốc gia, 35/122 khu bảo tồn thiên nhiên và Khu bảo vệcảnh quan; có 37 ban quản lý tự tổ chức, 11 ban quản lý có liên doanh, liên kết và 13ban quản lý cho thuê môi trường rừng Đặc biệt, có 2 đơn vị là vườn quốc gia PhongNha Kẻ Bàng và vườn quốc gia Ba Vì kinh doanh cả 3 loại hình dịch vụ du lịch sinhthái (tự tổ chức, liên doanh, liên kết và cho thuê môi trường rừng) 231 ban quản lýrừng phòng hộ chưa tổ chức các hoạt động dịch vụ du lịch sinh thái Kết quả năm
2018 đã đón tiếp 2,39 triệu lượt khách, tăng 43 % so 2017, doanh thu lại đạt 155,5 tỷtăng 7 % so với năm 2017 Năm 2019, đón 2,5 triệu lượt khách, tăng 5% so 2018,doanh thu từ hoạt động du lịch sinh thái năm 2019 đạt khoảng 185 tỷ tăng 12% sovới 2018
Tuy tổng doanh thu chưa lớn, chưa tương xứng với tiềm năng, nhưng nguồn thu
từ hoạt động du lịch sinh thái có ý nghĩa quan trọng trong lộ trình xã hội hóa côngtác bảo tồn, góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm của cộng đồng trong quản lý, bảo
vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ cảnh quan môi trường sinh thái, bảo vệcác di sản thiên nhiên, văn hóa, lịch sử Đồng thời, nguồn thu từ dịch vụ du lịch sinhthái đã hỗ trợ đáng kể cho các khoản chi thường xuyên của các ban quản lý rừng,giảm nhẹ gánh nặng cho ngân sách nhà nước; tăng thêm thu nhập cho cán bộ, công
Trang 17của đồng bào các dân tộc thông qua hoạt động khai thác các giá trị văn hóa pháttriển du lịch gắn với bảo tồn.(4)
Đối với VQG hay khu bảo tồn thiên nhiên song song với công tác bảo tồn,VQG cũng được khai thác vào hoạt động du lịch đem lại một số lợi ích nhất địnhnhư là:
- Tạo điều kiện, động lực quan trọng trong việc thiết lập và bảo vệ các VQG,lợi ích hai chiều giữa hoạt động du lịch với công tác bảo tồn trong các VQGđươc hình thành khi khai thác hoạt động du lịch trong các VQG
- Các nguồn thu từ du lịch có khả năng tạo một cơ chế tự hoạch tài chính choVQG, trong đó có cả việc duy trì bảo tồn các hệ sinh thái và nâng cao chấtlượng dịch vụ du lịch
- Du lịch sinh thái tạo cơ hội cho du khách được tham quan, tiếp xúc và nângcao hiểu biết về môi trường thiên nhiên từ đó có được những nhận thức tíchcực trong việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường
1.2.4 Tác động tiêu cực nảy sinh từ du lịch ở các Vườn quốc gia
Khai thác du lịch tại các vườn quốc gia và khu bảo tồn đã góp phần hỗ trợ thunhập kinh tế, giải quyết việc làm cho người dân địa phương; nâng cao hiểu biết, ýthức của cộng đồng và khách du lịch về bảo vệ tài nguyên, môi trường… Tuy nhiên,
sự phát triển của các hoạt động du lịch tại những nơi này, trong một số trường hợp
đã gây ra các tác động tiêu cực đến công tác bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môitrường, cảnh quan sinh thái, giá trị văn hóa bản địa
Du lịch sinh thái và các hoạt động có liên quan đã góp phần không nhỏ làm chotài nguyên thiên nhiên và môi trường bị xuống cấp một cách trầm trọng Dó cũngchính là hậu quả của việc sử dụng đất đai, xây dựng các cơ sở du lịch không đúngnơi hoặc không dảm bảo chất lượng, sự có mặt của du khác làm ảnh hưởng đến tàinguyên nước, tài nguyên không khí, tài nguyên đất, tài nguyên sinh vật và da dạngsinh học, yếu tố thẩm mỹ Những tác đông trực tiếp gây ra bởi hoạt động tam quancủa du khách trong khi đó những tác động gián tiếp nảy sinh từ các cơ sở dịch vụ hỗ
Trang 18trợ liên quan đến các hoạt động du lịch đều gây ảnh hưởng đến các yếu tố vừa nêutrên cụ thể như sau:
- Ảnh hưởng đến tài nguyên nước: Du lịch sinh thái phát triển kéo theo sựphát triển về khách sạn nhà nghỉ, cửa hàng ăn uống và các dịch vụ khác làmtăng lượng nước thải sinh hoạt Lượng nước thải này không đươc xử lý triệt
để cho nên lâu ngày thấm vào nước ngầm làm ảnh hưởng đên nguồn nướcgiếng ở các địa phương Bên cạnh đó, lượng du khách đông mà lại còn vứcrác bừa bãi, dầu nhớt do các phương tiện giao thông làm ảnh hưởng đến cácnước sạch ở các sông hồ
- Ảnh hưởng đến tài nguyên không khí: Do lượng du khách ngày càng đông,hoạt động các phương tiện giao thông phục vụ cũng tăng theo Hàm lượngbụi khói từ các hoạt động giao thông cũng như trong quá trình xây dựng các
cơ sở vật chất làm ô nhiễm nguồn không khí
- Ảnh hưởng đến tài nguyên đất: Du lịch phát triển sẽ kéo theo việc xây dựng ồ
ạc các công trình, cơ sở vật chất phục vụ nhu cầu của khách du lịch làm thuhẹp điện tích hoặc ô nhiễm trong quá trình thi công
- Ảnh hưởng đến cấu trúc địa chất, cấu tạo đá, khoáng sản, do hoạt động leonúi, thăm hang động, thu lượm mẫu đá, Làm kỷ niệm cho du khách
- Ảnh hưởng lên thổ nhưỡng: gây ra do hoạt động đi bộ , cắm trại, bãi đỗ xe, dãngoại, gây ảnh hưởng đến môi trường và điều kiện sống của sinh vật
- Ảnh hưởng đến hệ thực vật: Hoạt động du lịch giải trí có thể tao ra tác độngđến hệ thực vật trong VQG như bẻ cành, ngắt lá, hoa, giẫm đạp, bãi đỗ xe,các công trình dịch vụ,
- Ảnh hưởng đến động vật: Hoạt động tham quan, tiếng ồn của khách du lịch,phương tiện giao thông khiến động vật hoảng sợ thay đổi diễn biến sinh hoạt
và địa bàn cư trú sinh sống của chúng Việc thải rác bừa bãi có thể gây ra dịchbệnh cho động vật hoang dã, nhu cầu thưởng thức các món ăn từ đông vậthoang dã của du khách dẫn đến hoạt động săn bắn, buôn bán trong dân chúng
đã làm giảm đáng kể số lượng quần thể động vật, thai đổi cấu trúc hệ sinh
Trang 19 Các dạng quan hệ chủ yếu:
Budowski là người đi đầu trong việc đưa ra quan điểm về mối quan hệ giữa pháttriển du lịch và bảo tồn thiên nhiên Mối quan hệ đó đươc thể hiện ở một trong 3
dạng chính sau đây:
- Quan hệ cùng tồn tai: khi có rất it mối quan hệ giữa hoạt động du lịch
và bảo tồn tự nhiên hoặc cả hai tồn tại một cách độc lập
- Quan hệ cộng sinh: trong đó cả du lịch và bảo tồn tự nhiên đều nhậnđược những lợi ích từ mối quan hệ này và có sự hỗ trợ lẫn nhau
- Quan hệ mâu thuẫn: khi sự hiện diện của du lịch, nhất là du lịch đạichúng, làm tồn tổn hại đến nỗ lực bảo tồn tự nhiên Chính đều này đã thôithúc các nhà nghiêm cứu du lịch tìm kiếm mô hình phát triển theo hướng bềnvững
Hình 1.2 Mối quan hệ giữa du lịch sinh thái và bảo tồn tự nhiên
Nguồn: Nguyễn Thị Sơn, 2000
Trang 201.4 Quan hệ giữa du lịch sinh thái và cộng đồng địa phương
1.4.1 Những lợi ích mà du lịch sinh thái mang lại cho công đồng đia phương Khu du lịch sinh thái là loại hình du lịch mà quá trình phát triển có sự cân nhắc
rất lớn về vấn đề mục tiêu nào nên đặt lên hàng đầu Đó là nỗi trăn trở với các nhàquản lý là điều hành du lịch ở các vườn quốc gia Mặc dù mục tiêu kinh tế khôngphải là yếu tố quá chú trọng nhưng phát triển du lịch sinh thái ở các VQG có thểmang lại các lợi ích cho cộng đồng địa phương cụ thể như sau (Lê Văn Thăng,2008):
- Tạo cơ hội việc là tăng thu nhập cho người dân của các cộng đồng co liênquan trực tiếp hoặc gián tiếp tới hoạt động du lịch
- Hệ thống cơ sở hạ tầng kĩ thuật và hạ tầng được cải thiện rõ rệt hơn, như là:
hệ thống giao thông , hệ thống cung cấp nước sạch, hệ thống điện, hệ thốngtruyền thông, y tế,
- Góp phần nâng cao nhận thức mở mang hiểu biết cho cộng đồng trong việcnhất thiết phải bảo vệ tài nguyên môi trường là con đường duy nhất để đảmbảo cho cuộc sống lâu dài và duy trì phát triển các thế hệ tương lai của họ
- Tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa khách và dân địa phương, giới thiệunhững giá trị và truyền thống địa phương, tạo mối quan hệ xã hội ngày càngtiến bộ
- Tăng cường củng cố cộng đồng thông qua việc góp phần làm giảm sự di cư
từ các vùng nông thôn lên thành thị do có việc làm Cũng nhờ những lợi ích
do du lịch mang lại, các cộng đồng địa phương thể hiện sự đoàn kết và quyếttâm bảo vệ đối với các tài sản vốn có của mình
1.4.2 Tác động tiêu cực của du lịch sinh thái đối với công đồng đia phương
Du lịch sinh thái là loại hình có tính ưu việc so với các loại hình du lịchkhác về những đóng góp cho cộng đồng Tuy nhiên, nếu không có sự quản lý,
tổ chức tốt trong quá trình phát triển thì DLST cũng có khả năng đem đếnnhững tác động tiêu cực đối với cộng đồng địa phương: