1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Tài liệu Sổ tay Lưu giữ và Sử dụng Kiến thức bản địa pdf

221 787 14

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sổ tay lưu giữ và sử dụng kiến thức bản địa
Tác giả Đậu Thanh Hoà, Thuý Hà, Quốc Anh
Trường học Viện Kinh tế Sinh thái
Thể loại Sổ tay
Năm xuất bản 2000
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 221
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bằng việc sửa đổi, điều chỉnh cuốn sổ tay này cho phù hợp với bối cảnh Việt Nam,chúng tôi hy vọng rằng cuốn sổ tay này sẽ là một công cụ hữu ích cho các cộng đồngngười dân nông thôn và c

Trang 1

Viện Kinh tế Sinh thái

Sổ tay Lưu giữ và sử dụng Kiến thức bản địa

Người dịch: Đậu Thanh Hoà Hiệu đính: Thuý Hà - Quốc Anh

Cuốn sách này được xuất bản với sự tài trợ của tổ chức AFAP

NHà XUấT BảN NÔNG NGHIệP

Hà Nội - 2000

Trang 2

Recording and using

indigenous knowledge:

A manual

Trang 3

Mục lục

Lời giới thiệu của tổ chức AFAP 6

Lời giới thiệu của Viện Kinh tế Sinh thái 8

Phần 1 - Kiến thức bản địa và phát triển 9

Lời giới thiệu 10

Cuốn sổ tay này được biên soạn như thế nào? 11

Cách sử dụng cuốn sổ tay này 12

Kiến thức bản địa là gì? 14

Ai biết gì? 18

Những đặc điểm sau đây của các hệ thống kiến thức bản địa 19

Tại sao kiến thức bản địa lại có ích 20

Giúp các cộng đồng bảo tồn kiến thức bản địa 22

Dùng kiến thức bản địa trong phát triển 23

Lưu giữ kiến thức bản địa trong cộng đồng 28

Quyền sở hữu trí tuệ 32

Phần 2 - Các phương pháp lưu giữ và đánh giá 33

Các phương pháp lưu giữ kiến thức bản địa 34

Phương pháp xác định nhóm mẫu 37

Xác định các chuyên gia về kiến thức bản địa 45

Nghiên cứu các phương pháp điển hình 49

Quan sát tại hiện trường 52

Phỏng vấn đi sâu tìm hiểu kỹ thông tin 54

Phỏng vấn 56

Quan sát và tham gia vào cuộc sống của người dân 59

Phân tích kỹ thuật có sự tham gia của người dân 61

Khảo sát 64

Phương pháp động não 68

Năm câu hỏi 70

Phương pháp sử dụng các trò chơi 72

Thảo luận nhóm 74

Phương pháp đóng kịch 77

Phương pháp phát hiện những điểm mạnh và yếu 79

Trang 4

Phương pháp phân tích những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức 83

Hội thảo "'lặp lại"' ở thôn bản 87

Hội thảo tại thôn bản 92

Phương pháp lập biểu đồ 95

So sánh lịch sử 98

Hình vẽ minh hoạ và bảng biểu 100

Lập bản đồ 103

Phương pháp lập bảng 106

Mô hình hoá các nguồn lợi sinh học 110

Lịch thời vụ 113

Phân loại và xếp hạng 116

Xây dựng bảng phân loại 119

Khảo sát mặt cắt địa hình 121

Biểu đồ VENN 125

Sơ đồ mạng lưới 128

Dùng cát xét ghi âm lại tư liệu thông tin 131

Thu băng video có sự tham gia của người dân 134

Lưu giữ tài liệu bằng hình ảnh 137

Phần 3 - Đánh giá kiến thức bản địa 140

Đánh giá kiến thức bản địa 141

Những tiêu chí để đánh giá kiến thức bản địa 142

Tìm hiểu cách đánh giá của người dân 144

Sử dụng các phương pháp khoa học phương Tây để đánh giá kiến thức bản địa 146

Phương pháp theo dõi và đánh giá 149

Phần 4 - Nghiên cứu các trường hợp điển hình 151

Nghiên cứu các trường hợp điển hình 152

Vườn rừng thân gỗ nhiều tầng 153

Tài nguyên cây ăn quả ở Việt Nam 154

Vai trò của các cộng đồng nông dân trong bảo quản và phát triển nguồn tài nguyên di truyền thực vật (TNDTTVN) ở Việt Nam 155

Xác định và phân cấp ưu tiên việc giải quyết khó khăn tại Kiko Rosa, Philippin 157 Chăm sóc sức khoẻ do cộng đồng quản lý ở Pinagsanjaan, Philippine 159

Khuyến khích việc sử dụng kiến thức bản địa ở Vênêzuêla 161

Thử nghiệm của nông dân Sri Lanka trong việc ươm giống gỗ Tếch bằng hạt 162

Phát triển một hình thức tiết kiệm bản địa ở Ethiôpia 164

Trang 5

Phần 5 - Các câu hỏi hướng dẫn 165

Các câu hỏi hướng dẫn 166

Vấn đề giới và kiến thức bản địa 167

Nông dân làm khuyến nông viên và nông dân làm thực nghiệm 169

Độ phì nhiêu của đất 171

Cơ cấu cây trồng 172

Làm vườn 175

Nông lâm kết hợp 178

Quản lý lưu vực đầu nguồn nước 182

Môi trường, nguồn tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học 183

Quản lý tài nguyên vùng ven biển 185

Nuôi trồng thuỷ sản 188

Chăm sóc và chăn nuôi gia súc 191

Thực phẩm và dinh dưỡng 194

Sức khoẻ sinh sản và kế hoạch hoá gia đình 196

Cung cấp nước và vệ sinh môi trường 199

Các hình thức tài trợ chăm sóc sức khoẻ 201

Các hệ thống y tế 203

Sức khoẻ lao động 206

Các tổ chức và giới lãnh đạo 207

Tín dụng và tiết kiệm 210

Phát triển doanh nghiệp 212

Trao đổi thông tin 215

Phần 6 - Các nguồn tài liệu khác 219

Các định nghĩa 220

Trang 6

Lời giới thiệu của tổ chức AFAP

Chuyến đi thực địa đầu tiên của tôi đến vùng dự án của tổ chức AFAP (một tổ chứcphi chính phủ của ốt-xtơ-rây-li-a vì nhân dân châu á -Thái Bình Dương) là tới mộttỉnh miền núi của Việt Nam Tại đó, tôi đã rất ngạc nhiên khi chứng kiến quy mô củanhững lâm trường trồng bạch đàn Một số người dân địa phương đã giải thích rằngngười ta trồng bạch đàn để cung cấp nguyên liệu cho một nhà máy giấy mới Để có

được sự ủng hộ của nông dân, dự án còn cung cấp thêm cho họ cây cam giống Ban

đầu, nông dân trồng cây bạch đàn với hy vọng tăng thêm thu nhập, nhưng chỉ trongvòng vài năm sau họ đã nhận thấy rằng mực nước ngầm bị giảm xuống, lượng nướcchảy ở các suối cũng giảm và do đó sản lượng lúa cũng bị ảnh hưởng Tình hình càngtrở nên xấu đi khi những cây cam bắt đầu ra quả: cam có vị không ngon như các giống

rõ rệt do sử dụng các giống lúa có năng suất cao, phân hoá học và các loại thuốc diệt

cỏ Nhưng sự thật hiển nhiên là năng suất cao đồng nghĩa với việc tiêu thụ nhiều nước

và luôn phải phụ thuộc vào chi phí đầu vào đắt đỏ Trong quá trình vội vã khuyếnkhích các kỹ thuật hiện đại, người ta ít chú ý đến giá trị của các kỹ năng, kỹ thuật vàkiến thức của người địa phương đã được đúc kết qua thử nghiệm trong nhiều thế kỷqua Hơn bao giờ hết, mặc dù sự phát triển của nền kinh tế phụ thuộc vào mạngInternet và những hy vọng về thiên niên kỷ mới, chúng ta càng cần phải giúp mọi.người hiểu rõ hơn, đánh giá và sử dụng được "kiến thức và kỹ thuật bản địa" Đã đếnlúc kiến thức bản địa được phát triển vượt ra khỏi khuôn khổ kinh viện của các nhànhân chủng học để đưa vào vận dụng trong thực tiễn của quá trình phát triển

Từ năm 1989, tổ chức AFAP cùng với hai tổ chức cùng hợp tác là Just WorldPartnership ở Anh và Counterpart International ở Mỹ đã cộng tác với người dân nôngthôn Việt Nam để giúp họ nâng cao sức khoẻ và vượt qua đói nghèo bằng cách xâydựng khả năng cho người dân địa phương và áp dụng các mô hình phát triển sáng tạo

và phù hợp Hiện nay chúng tôi rất phấn khởi được xây dựng một quan hệ hợp tác mớivới Viện Kinh tế - Sinh thái nhằm phát hiện và phát triến các mô hình kiến thức bản

địa thích hợp về nông nghiệp Chúng tôi cũng rất vinh dự được hỗ trợ cho việc xuấtbản cuốn sổ tay "Lưu giữ và sử dụng kiến thức bản địa" bản tiếng Việt

Bằng việc sửa đổi, điều chỉnh cuốn sổ tay này cho phù hợp với bối cảnh Việt Nam,chúng tôi hy vọng rằng cuốn sổ tay này sẽ là một công cụ hữu ích cho các cộng đồngngười dân nông thôn và các cán bộ phát triển trong việc đánh giá, sử dụng và bảo tồnkiến thức bản địa giúp ích cho người dân Việt Nam

Trang 7

Tổ chức AFAP xin cảm ơn những người dịch, biên tập cũng như Nhà xuất bản Nôngnghiệp đã giúp hoàn thành cuốn sách này Chúng tôi cũng xin tỏ lòng biết ơn nhàxuất bản chính của cuốn sổ tay này, đó là Viện Quốc Tế về Tái Thiết Nông Thôn(IIRR) ở Phi-lip-pin đã cho phép và khuyến khích việc dịch và địa phương hoá cuốn sổtay này.

Cho dù sự giúp đỡ của các bạn đối với cư dân các dân tộc thiểu số Việt Nam ở mức độnào, tôi cho rằng sự giúp đỡ có hiệu quả nhất, thiết thực nhất vẫn là tìm hiểu và đánhgiá đúng những kiến thức và kỹ thuật bản địa của họ Tôi hy vọng cuốn sách này sẽcung cấp cho bạn câu trả lời đầy đủ nhất để thực hiện mục tiêu này

Hà Nội, tháng 5 năm 2000Giám đốc AFAP tại Việt Nam

Ahmet Bektas

Trang 8

Lời giới thiệu

của Viện Kinh tế Sinh thái

Kiến thức bản địa là vốn qúy của cộng đồng các dân tộc nước ta, là một yếu tố cấuthành bản sắc văn hoá Việt Nam Trong nông - lâm nghiệp và quản lý nguồn tàinguyên thiên nhiên nói chung, kiến thức bản địa đóng góp phần quan trọng trong việcphát triển các kỹ thuật phù hợp với điều kiện cụ thể về kinh tế, xã hội, văn hoá, phongtục của từng địa phương Viện Kinh tế Sinh thái, trong nỗ lực phối hợp với cộng đồngngười dân các vùng sinh thái kém bền vững để xây dựng các mô hình làng sinh thái,

đã luôn dựa vào kiến thức bản địa kết hợp với các kỹ thuật mới một cách hài hoà Nhờvậy nhiều làng sinh thái đã và đang phát huy tốt hiệu quả, được cộng đồng hưởng ứngtích cực và được nhiều địa phương học tập và noi theo đề mở rộng Vì vậy việc lưu giữ

và sử dụng kiến thức bản địa của nông dân có tầm quan trọng đặc biệt Tôi rất vuimừng viết lời giới thiệu cuốn sách "Sổ tay lưu giữ và sử dụng kiến thức bản địa", tàiliệu do Viện Kinh tế Sinh thái dịch từ bản tiếng Anh của Viện Quốc tế về Tái thiếtnông thôn (IIRR) ở Philippin, có bổ sung minh họa bằng một số điển hình ở ViệtNam

Viện Kinh tế Sinh thái chân thành cảm ơn tổ chức AFAP đã hỗ trợ cho việc dịch vàxuất bản cuốn Sổ tay này Chúng tôi mong rằng mối quan hệ hợp tác giữa Viện Kinh

tế Sinh thái và AFAP sẽ ngày càng phát triển vì lợi ích chung và tình hữu nghị giữanhân dân hai nước Việt Nam và ốt-xtrơ-lây-li-a

Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2000Viện trưởng Viện Kinh tế sinh thái

GS.TS Nguyễn Văn Trương

Trang 9

Phần 1

Kiến thức bản địa và phát triển

Trang 10

Lời giới thiệu

Nhân dân nông thôn có vốn kiến thức riêng của họ trong nhiều lĩnh vực về cuộc sốnghàng ngày và môi trường mà họ sống Trải qua nhiều thế kỷ, người nông dân đã họccách trồng cây lương thực và học cách tồn tại trước nhũng khó khăn của cuộc sống

Họ biết phân biệt loại cây để trồng, gieo hạt và làm cỏ vào thời vụ nào, loại cây nào

độc, loại cây nào có thể được dùng để làm thuốc, các phương thức chữa bệnh và cáchbảo vệ môi trường ở trạng thái cân bằng

Cuốn Sổ tay về kiến thức bản địa này bao gồm những chủ đề chính sau:

đến mức tối đa kiến thức bản địa Ngày nay, mặc dù có nhiều chuyên gia về phát triểnnhận thức được tiềm năng của kiến thức bản địa, song vấn đề này vẫn bị lãng quên

Lý do chính là do thiếu sự chỉ dẫn về việc ghi chép lại và áp dụng kiến thức bản địa.Khi không có những chỉ dẫn, kiến thức bản địa có nguy cơ trở thành một từ vô nghĩalàm cản trở lịch sử phát triển

Cuốn sổ tay này có nhiệm vụ giúp bạn vượt qua những vướng mắc đó Sách sẽ cungcấp cho những cán bộ phát triển nông thôn của chính phủ hoặc các tổ chức phi chínhphủ về những thông tin và phương pháp cần thiết để vận dụng kiến thức bản địa trongcông tác phát triển Cuốn sổ tay này được biên soạn thuận tiện cho việc sao chép và

sử dụng tư liệu để đào tạo Chúng tôi hy vọng rằng sổ tay sẽ thúc đẩy việc sử dụng vàbảo tồn kiến thức bản địa để phục vụ cho lợi ích của nhân dân và cộng đồng

Phần 1 là phần tổng quan về những vấn đề có liên quan đến kiến thức bản địa.

Phần 2 giới thiệu hơn 30 phương thức ghi chép và đánh giá kiến thức bản địa.

Phần 3 thảo luận về các vấn đề và phương pháp đánh giá tính hữu dụng của kiến thức

bản địa trong phát triển

Trong Phần 4, có một số nghiên cứu điển hình mô tả cách xây dựng các dự án dựa

trên kiến thức bản địa

Phần 5 gồm hơn 20 câu hỏi hướng dẫn, vạch ra những lĩnh vực thích hợp cần cân nhắc

khi lập tư liệu kiến thức bản địa

Phần 6 liệt kê một số nguồn thông tin khác mà các bạn có thể tham khảo khi khảo sát

khả năng sử dụng kiến thức bản địa

Trang 11

Cuốn sổ tay này được biên soạn như thế nào?

Viện Quốc tế về Tái thiết Nông thôn (IIRR) là một tổ chức phi chính phủ về pháttriển, với truyền thống bắt đầu bằng "điều mà nhân dân biết " xây dựng dựa trên

"những gì mà nhân dân có" Cuốn sổ tay này được rút ra từ nhiều kinh nghiệm khácnhau của tập thể cán bộ Viện qua hàng thập kỷ công tác trong lĩnh vực phát triển có sựtham gia của người dân Phần lớn nội dung của cuốn sổ tay này là kết quả của mộtcuộc hội thảo có sự tham gia của người dân, (một phương pháp nhanh và hiệu quả), doViện Quốc tế về Tái thiết Nông thôn làm tiên phong nhằm tạo ra các tư liệu thông tin.Công việc chuẩn bị cho cuộc hội thảo được bắt đầu từ tháng 6 năm 1994, phối hợp vớiChương trình khu vực về phát triển Kiến thức bản địa ở châu á (Reppika) của ViệnQuốc tế về tái thiết nông thôn Cán bộ của Viện và nhiều chuyên gia khác đã gợi ý vềcác chủ đề và tên những người có kinh nghiệm nghiên cứu về kiến thức bản địa Kếtquả là đã có khoảng 80 chủ đề được giao cho từng người chuẩn bị

Vào tháng 12 năm 1994, cuộc hội thảo đã diễn ra trong vòng 2 ngày với sự chuần bịcủa khoảng 25 cán bộ của Viện Nhóm này đã đưa ra danh sách cuối cùng về các chủ

đề, bằng cách thêm một số chủ đề, bỏ bớt hoặc kết hợp các chủ đề với nhau Sau đó

họ lập thành những nhóm nhỏ và chuẩn bị tài liệu cho công việc được giao dựa theohướng dẫn được phổ biến trước đó Một nhóm các biên tập viên, chuyên gia xuất bản

và các hoạ sĩ đã trợ giúp cho những người tham gia hội thảo Nguồn tài liệu thamkhảo nêu trong danh mục cuối cuốn sổ tay này hiện đã có sẵn để phổ biến Vào mỗibuổi chiều, tất cả những người tham gia cuộc hội thảo đã trình bày, nhận xét, và củng

cố cho những kết luận rút ra được từ cuộc họp buổi sáng Bằng cách này, họ đã biênsoạn được khoảng 45 tài liệu và trình bày được 10 tài liệu

Sau cuộc hội thảo, Chương trình khu vực về phát triển Kiến thức bản địa ở châu á vàcác biên tập viên đã kết hợp vào tài liệu những kết luận được hội thảo gợi ý và giúpnhững cán bộ khác chuẩn bị tài liệu cho những chủ đề còn lại Vì không có đủ điềukiện thời gian thích hợp trong suốt cuộc hội thảo để thảo luận những tài liệu nộpmuộn, nên các cán bộ đã thông qua và đưa ra ý kiến nhận xét Quá trình này cũng

được tiến hành tương tự với những tài liệu do những người ngoài Viện trình bày.Kết quả của quá trình này là cuốn sổ tay về:

 Các phương pháp có sự tham gia của người dân (ví dụ: đánh giá nông

thôn có sự tham gia của người dân, đánh giá nhanh nông thôn, nghiêncứu hoạt động tham gia của người dân ) Tất cả tài liệu tham khảo

được liệt kê trong mục "Tài liệu tham khảo"

 Xuất bản những ấn phẩm về các phương pháp nghiên cứu dân tộc học

Trang 12

Cách sử dụng cuốn sổ tay này

Hiện nay không có một phương thức riêng nào để ghi chép lại kiến thức bản địa.Cuốn sổ tay này cũng như các tác giả của nó không đưa ra hoặc sáng tạo thêm mộtphương thức mới nào Trên thực tế, cuốn sổ tay có mục đích miêu tả những phươngthức đã có sẵn, có thể được sử dụng để ghi chép về kiến thức bản địa

Cuốn sổ tay này phần lớn thiên về các phương pháp có sự tham gia của người dân(như các phương pháp được sử dụng trong việc đánh giá nông thôn có sự tham giacủa người dân) vì những phương pháp này rất hữu hiệu trong việc thu thập thông tin

về kiến thức bản địa Tuy nhiên cuốn sổ tay cũng chỉ ra những hạn chế của phươngpháp này và giá trị của các phương pháp khác như khảo sát mẫu và phỏng vấn kỹ.Cuốn sổ tay cũng không cung cấp các phương pháp có thể thực hiện được ngay, mà

đưa ra những ý chính để người đọc sử dụng kết hợp cho mục đích cụ thể của họtrong quá trình ghi chép kiến thức bản địa Những ví dụ nêu đưới các câu hỏihướng dẫn chỉ là những gợi ý Cần phải lựa chọn các phương pháp để kết hợp vàthay đổi cho phù hợp với từng nghiên cứu Sự sáng tạo và linh hoạt là nhân tốquyết định sự thành công của việc ghi chép và ứng dụng kiến thức bản địa

Thái độ và cách ứng xử của những cán bộ hoạt động phát triển nông thôn hay

"người ngoài cuộc" cũng rất quan trọng Các chuyên gia phải đối mặt với nhữnggiả định "học ngược trở lại" với ám chỉ rằng "hiện đại" cần được thay bằng "truyềnthống" Người ngoài cần phải cởi mở, sẵn sàng học hỏi ở nhân dân

Tương tự như vậy, những người dân địa phương cũng phải tôn trọng và nhận thức

được giá trị của kiến thức bản địa Khi người dân không tôn trọng kiến thức củachính họ thì những giá trị truyền thống sẽ dần mất đi Để làm cho kiến thức bản

địa thực sự hoạt động có hiệu quả, thì tất cả những người tham gia cần nhận thức

được lợi ích và tiềm năng của kiến thức bản địa

Thậm chí ngay cả khi đó, kiến thức bản địa cũng hoàn toàn không phải là giải phápcho tất cả mọi vấn đề Sự đóng góp của kiến thức bản địa vào quá trình phát triểncũng phụ thuộc vào chất lượng và phương pháp của dự án Nếu một dự án khởi đầukhông có sự đánh giá tình hình của cả cán bộ và người dân thì những kỹ thuật vàứng dụng sẽ không giải quyết được những gì mà nhân dân coi là vấn đề chính của

họ Khi đó những giải pháp này cũng sẽ bị chối bỏ cho dù chúng dựa trên kỹ thuậtbản địa hay của kỹ thuật hiện đại, và kết quả là dự án có

Việc hiểu biết kiến thức bản địa là nền tảng của các phương pháp phát triển có sựtham gia của người đân Tuy nhiên, chúng ta cần hiểu xa hơn nữa, đó là việc ứngdụng năng động kiến thức bản địa trong việc lập kế hoạch, ứng dụng, kiểm tra và

đánh giá dự án Điều này đồng nghĩa với việc sử dụng các lương y địa phương, sửdụng các phương pháp giáo dục truyền thống, nhân rộng các loại cây bản địa, làmviệc với các cơ quan địa phương phổ biến thông tin quạ các kênh giao tiếp bản địa

Đây chỉ là một vài ý kiên về việc sử dụng kiến thức bản địa trong các dự án

Cùng lúc đó, chúng ta phải nhận ra rằng việc năng động thúc đẩy những cách thức

và kỹ thuật được lựa chọn không nhất thiết sẽ tạo ra sự phát triển có sự tham giacủa người dân Ví dụ, một dự án có thể giới thiệu những loại thuốc nam bản địacho một thôn bản mà không cần phải tham khảo ý kiến người dân địa phương ngay

từ đầu Những người dân địa phương có thể quyết định, hoặc không quyết địnhviệc sử dụng thuốc nam, điều này còn phụ thuộc vào việc toàn bộ dự án đã được thểhiện như thế nào, liệu có phù hợp về mặt văn hoá hay không, v.v Chỉ đến khi

Trang 13

những ứng dụng tích cực của kiến thức bản địa trở thành một phần của nỗ lực pháttriển lấy con người làm trung tâm, có sự tham gia của người dân thì chúng ta mới

có thể nhận thấy được tiềm năng của kiến thức bản địa trong phát triển

Kiến thức bản địa trong quá trình phát triển lấy sự tham gia của người dân làm trung tâm

Bảng dưới dây chỉ ra những giai đoạn trong chu trình dự án và cách kiến thức bản

địa có thể được sử dụng trong mỗi giai đoạn

đề

Hiểu biết về kiến thức bản địa làmột phần quyết định không thểtách rời trong các dự án thực sự

có người dân tham gia

Không thảo luận trong cuốn

sổ tay này Xem các tài liệu

về đánh giá nông thôn có sựtham gia của người dân;

đánh giá nhanh nông thôn vàcác phương pháp khác có sựtham gia của người dân (ví

dụ, Pretty 1995)

Thiết kế dự án Hiểu kiến thức bản địa và chủ

động vận dụng vào dự án

Phần 1: Kiến thức bản địa vàphát triển

Thực hiện Bước 1: Tìm hiểu xem kiến thức

bản địa thích hợp có tồn tại haykhông

Phần 2: Ghi chép và đánhgiá các phương phápPhần 5: Câu hỏi hướng dẫnBước 2: Đánh giá hiệu quả và

tính bền vững của kiến thức bản

địa (Sử dụng trực tiếp nếu thục tếhiển nhiên hoặc đã được chứngminh)

Phần 3: Đánh giá kiến thứcbản địa

Phần 5: Câu hỏi hưáng dẫn

Bước 3: Kiểm tra xem liệu kiếnthức bản địa có thể được cải tiếnhay không?

Ví dụ xem Phần 4: Nghiêncứu các trường hợp điểnhình

Bước 4: áp dụng và phát triểnkiến thức bản địa

Sử dụng kiến thức bản địa đểkiểm tra và đánh giá hoạt độngcủa các dự án

Phần 2: Ghi chép và đánhgiá các phương pháp

Phần 3: Đánh giá kiến thứcbản địa

Trang 14

Kiến thức bản địa là gì?

Kiến thức bản địa là kiến thức mà người dân ở một cộng đồng đã tạo nên và đangphát triển dần theo thời gian

Kiến thức này được:

 Dựa trên kinh nghiệm

 Thường xuyên được kiểm nghiệm qua hàng thế kỷ sử dụng

 Thích nghi với đặc điểm văn hoá và môi trường

 Năng động và đang thay đổi

Kiến thức bản địa không hạn chế trong các bộ lạc hoặc người bản địa của một vùng

đất (ở Mỹ Latinh còn gọi là indigenas), cũng không hạn chế ở những người dânnông thôn Trên thực thế, bất kỳ nhóm cộng đồng nào cũng có kiến thức bản địa -nông thôn và thành thị; người định cư và người du cư; người bản địa và người nhậpcư Kiến thức bản địa (hoặc những khái niệm tương tự) còn có thể gọi bằng nhữngtên khác như "kiến thức địa phương", "kiến thức kỹ thuật bản địa", và "kiến thứctruyền thống"

Trang 15

So sánh kiến thức bản địa và kiến thức phương Tây

Kiến thức bản địa thường đối lập với kiến thức "Khoa học", "Phương Tây", "quốctế" hay "hiện đại" - là những kiến thức được các trường đại học, viện nghiên cứu vàcông ty tư nhân xây dựng nên, sử dụng phương pháp khoa học Cuốn sổ tay nàygọi kiến thức đó là "kiến thức phương Tây" (dù cách gọi này vẫn còn hạn chế).Trên thực tế, có nhiều điểm chồng chéo giữa kiến thức bản địa và kiến thức phươngTây nên sẽ rất khó phân biệt giữa hai loại kiến thức này Agrawal (1995) có mộtbài thảo luận sắc sảo về vấn đề này

Vì kiến thức bản địa luôn thay đổi theo thời gian, nên đôi khi rất khó xác định một

kỹ thuật hoặc một phương pháp là bản địa; nó được nhập từ bên ngoài, hay đó làmột sự kết hợp giữa các yếu tố địa phương và kiến thức được đưa đến địa phương

đó Tuy nhiên, đối với một dự án phát triển, việc xác định một phương pháp hoàntoàn bản địa hay đã được xen lẫn với kiến thức từ bên ngoài giới thiệu đến là khôngquan trọng Điều quan trọng là thay vì việc tìm các kỹ thuật và giải pháp cho mộtcộng đồng, trước hết chúng ta cần tìm hiểu xem cộng đồng đó đã có những gì Sau

đó chúng ta sẽ sử dụng kiến thức nào được coi là thích hợp và có ích, hoặc chúng ta

có thể kết hợp những gì tốt nhất của hai loại kiến thức

Các loại kiến thức bản địa

Kiến thức bản địa không chỉ có kỹ thuật và thực hành mà bao gồm:

Thông tin

 Các loại cây lâu năm và cây hàng năm cùng phát

triển tốt

 Các loại cây chỉ thị (các loại cây chỉ ra rằng đất mặn

hoặc trước mùa mưa thì hoa nở)

Trang 16

 Các lễ hội truyền thống có thể là nguồn thức ăn

quan trọng cho những người nghèo đói

Các công cụ

 Công cụ trồng trọt và thu hoạch

 Các dụng cụ nấu nướng

 Kinh nghiệm của nông dân đưa các giống cây lâu

năm mới vào hệ thống canh tác hiện nay

 Các phương pháp thử nghiệm những loài cây thuốc

Trang 17

 Phương tiện truyền thông dân gian.

 Các cơ chế trao đổi thông tin truyền thống

Trang 18

Ai biết gì?

Các loại hình kiến thức

Những người già có nhiều loại kiến thức khác so với thế hệ trẻ Phụ nữ và namgiới; nông dân và thương nhân; người có học thức và người ít học tất cả đều cócác loại kiến thức khác nhau

 Kiến thức chung: được tất cả mọi người trong cộng đồng hiểu biết, ví dụ:

hầu hết mọi người đều biết cách nấu cơm (hoặc món ăn chính của địaphương)

 Kiến thức cùng chia sẻ: có nhều người biết nhưng không phải toàn bộ cộng

đồng

 Kiến thức chuyên nghiệp: một số ít người có thể được đào tạo đặc biệt hoặc

là thợ học việc; ví dụ chỉ có một số ít người dân là thầy thuốc, bà đỡ, hoặcthợ rèn

có được một phần thông tin Những chuyên gia về phát triển đôi khi nghĩ rằngngười dân làng ít hiểu biết, trong khi đó trên thực tế họ đã phỏng vấn nhầm người

Xem câu hỏi

hướng dẫn

Giới và kiến

thức bản địa

Trang 19

Những đặc điểm của các hệ thống kiến thức bản địa

Những đặc điểm sau đây của các hệ thống kiến thức bản địa có thể ảnh hưởng đếnkết quả của các dự án phát triển:

 Hầu hết người dân địa phương đều có kiến thức chung chung

Dường như họ biết về nhiều vấn đề, nhưng mỗi vấn đề chỉ biết một chút

Điều này trái với những người có học thức, là những người có chuyên môn,biết rất rõ về một vài vấn đề Như vậy, chỉ có một số người dân địa phương

có chuyên môn

 Những hệ thống kiến thức bản địa mang tính tổng quan

Người dân địa phương thường gặp một loạt những vấn đề có mối liên hệ vớinhau và họ thường cố gắng giải quyết bằng cách áp dụng kiến thức của họtheo một cách tổng quát Ví dụ, một người nông dân có thể có cái nhìntoàn diện về nông trại của mình chứ không phải như là một loạt các thửaruộng riêng biệt ít có mối liên quan với nhau Việc đưa ra quyết định vềmột thửa ruộng có thể dựa vào kiến thức và nhận thức của người đó về cácthửa ruộng khác hoặc về môi trường Mối quan hệ giữa các thửa ruộng và

lý do về quyết định của người nông dân có thể khiến người ngoài cuộckhông dễ gì nhận thức được

 Những hệ thống kiến thức bản địa liên kết văn hoá và tín ngưỡng

Tín ngưỡng là một phần trong kiến thức cổ truyền và không nhất thiết cầnphải tách riêng khỏi kiến thức kỹ thuật Những niềm tin về tín ngưỡng và

mê tín có thể có ảnh hưởng lớn đến những gì con người làm và cách họ chấpnhận những phương thức mới Việc cố gắng thay đổi một tập tục khôngthích hợp có thể gặp phải khó khăn vì tập tục đó đã được bắt rễ từ niềm tinnằm sâu dưới nhiều khía cạnh khác của văn hoá

 Những hệ thống kiến thức bản địa hướng tới việc giảm thiểu rủi ro chứ

không tối đa hoá lợi nhuậnViệc tránh rủi ro là điều quan trọng đối với người dân địa phương Ví dụ,một người nông dân có thể nuôi vài con dê để tiết kiệm, như là một nguồntiền dự trữ sẵn có đề phòng trường hợp con cái trong nhà bị ốm Vì nuôi dêkhông đem lại nguồn thu nhập thường xuyên nên người nông dân này sẽ cốgắng giảm chi phí chăn nuôi và công chăm sóc, chứ không cố gắng lấy sảnphẩm thịt hoặc sữa dê Một ví dụ khác là người nông dân có thể có nhiềuthửa ruộng nhỏ ở các cánh đồng khác nhau để tránh bị thiệt hại về sâu bọ, vìsâu bọ ít có khả năng lan tràn phá hoại toàn bộ vụ mùa, cho dù phương phápnày giảm năng suất vì không cơ giới hoá được công việc canh tác

Xem mục: Ai

biết gì? ở trang

trước

Trang 20

Tại sao kiến thức bản địa lại có ích ?

 Kiến thức bản địa là nền tảng cơ bản cho việc tự cung tự cấp và tự quyết của

người dân với ít nhất là hai lý do sau:

1 Người dân đã quen với các kỹ thuật bản địa nên họ có thể hiểu, vận dụng vàduy trì các kỹ thuật đó tốt hơn so với kỹ thuật phương Tây mới du nhập đến

2 Kiến thức bản địa sử dụng nguồn tài nguyên của địa phương Người dân ítphụ thuộc vào nguồn cung cấp từ bên ngoài đắt tiền, hiếm hoi và ít khi sẵncó

 Kiến thức bản địa cung cấp các giải pháp lựa chọn cho kiến thức phương

Tây Nhờ đó, người dân địa phương và cán bộ phát triển có thêm sự lựachọn khi đề ra dự án Thay vì việc chỉ có các kỹ thuật phương Tây đểnghiên cứu tìm ra giải pháp khả thi, họ còn có thể lựa chọn từ kiến thức bản

địa hoặc kết hợp cả hai loại hình kiến thức

 Kỹ thuật bản địa thường rẻ hơn so với kỹ thuật phương Tây vì chỉ phụ thuộc

vào những kỹ năng, tư liệu sẵn có, và thường ít hoặc không phụ thuộc vàonguồn kinh phí đầu tư

Kiến thức bản địa dễ bị coi nhẹ

Hãy Cẩn thận: các kỹ thuật bản địa đôi khi trông không rực rỡ lắm Vì vậy, mặc

dù rất hữu hiệu nhưng kỹ thuật bản địa vẫn có thể dễ bị coi nhẹ

Ví dụ, một hệ thống tưới tiêu bản địa dùng kênh mương và ống tre sẽ mang ít ấntượng hơn một hệ thống kênh xây bằng xi măng, thẳng và gọn gàng Tuy vậy, hệthống của địa phương lại có thể tưới tiêu ruộng đồng tốt, và thậm chí còn có thể giữnước tốt hơn hệ thống kênh mương xi măng Nghiên cứu ở Nê-pan cho thấy những

hệ thống tưới tiêu do nông dân tự làm, dựa trên kiến thức bản địa đã đem lại sảnlượng nông nghiệp cao hơn những hệ thống do các cơ quan nhà nước xây dựng vàquản lý (DFM 1993)

Kiến thức bản địa thường bị xem nhẹ vì những người ngoài cho rằng chúng "lộnxộn" và không rõ ràng Ví dụ, người dân ở một số địa phương không làm cỏ trêncánh đồng của họ để giảm việc xói mòn đất Nhưng một người ngoài cuộc có thểhiểu sai và nhận định rằng không có ai chăm sóc ruộng đồng

Kiến thức bản địa đang có nguy cơ bị mai một dần

Kiến thức bản địa thường được truyền miệng chứ không phải dưới dạng tài liệu nênrất dễ dẫn đến thay đổi nhanh chóng - đặc biệt là khi con người không sống ở chỗ

cũ hoặc bị chết vì đói, vì chiến tranh; hoặc khi thế hệ trẻ tiếp thu được những giá trị

và lối sống khác với cha ông họ

Một số kiến thức bản địa bị mất đi một cách tự nhiên vì những kỹ thuật và công cụ

đã được sửa đổi hoặc không còn được sử dụng nữa Bên cạnh đó, trong vòng vàithập kỷ gần đây tiến trình phát triển và thay đổi dân số đã góp phần đẩy nhanh tốc

độ mai một đó, đe doạ đến sự tồn tại của kiến thức bản địa

Chúng ta có thể làm gì để bảo tồn loại kiến thức đang bị mai một này?

Trang 21

Sau đây là một số ý kiến:

 Tăng nhận thức về giá trị của kiến thức bản địa trong phát triển

 Giúp các cộng đồng bảo tồn kiến thức bản địa của họ

 Ghi chép và sử dụng kiến thức bản địa trong các dự án phát triển mang tính

 Tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ khi ghi chép lại kiến thức bản địa

Xem mục: Giúp

Trang 22

Giúp các cộng đồng bảo tồn kiến thức bản địa

Mặc dù còn có những hạn chế trong việc ghi chép lại kiến thức bản địa, nhưngngười dân vẫn có thể truyền đạt kiến thức một cách có hiệu quả từ thế hệ này sangthế hệ khác, bảo tồn kiến thức qua hàng thế kỷ Những kỹ năng về xã hội và về kỹthuật được chia sẻ và được sử dụng trong cộng đồng, đồng thời trong quá trình đócũng truyền lại cho trẻ em Hiện nay chưa có một mô hình chính thức để bảo tồnkiến thức bản địa, nhưng người ta vẫn có thể sử dụng các phương pháp như giáodục, giao tiếp và ứng dụng

Sau đây là một số gợi ý về những phương thức mà bạn có thể giúp các cộng đồngbảo tồn kiến thức bản địa của họ:

Nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị kiến thức bản địa

Ghi chép và chia sẻ kiến thức bản địa thông qua các câu truyện trong lời bài hát,hình vẽ, múa rối, kể chuyện, kịch, video, và các hình thức giao tiếp truyền thốnghoặc hiện đại khác

Chứng minh tính hữu dụng của kiến thức bản địa

Thành lập những mô hình trang trại, những ruộng trình diễn, các xí nghiệp thủcông, vườn thuốc nam và các kỹ thuật bản địa khác để chỉ ra cho người dân về giátrị kiến thức bản địa của họ

Giúp các thành viên trong cộng đồng tự ghi chép lại những phương thức bản

địa tại địa phương họ

Lưu truyền kết quả của việc ghi chép lại kiến thức bản địa thông qua báo chí, sách,video, và các hình thức giao tiếp truyền thống hoặc hiện đại khác Khuyến khíchcác phương pháp bản địa trong việc lưu giữ, ghi chép

Thực hiện rộng rãi kiến thức bản địa

Khuyến khích người dân địa phương bảo tồn kiến thức bản địa của chính họ Ví

dụ, giúp họ thiết lập một ngân hàng giống cây trồng do nông dân tự quản lý

Khuyến khích sự phục hồi những phong tục truyền thống có chọn lọc

Khuyến khích việc quay trở lại với giáo dục bản địa, thành lập hoặc tăng cường cácnhóm cộng đồng mang tính bản địa Việc làm này sẽ khuyến khích những thànhviên trong cộng đồng đánh giá cao những phong tục và đặc điểm văn hoá địaphương

Trang 23

Sử dụng kiến thức bản địa trong phát triển

Các dự án phát triển thường được khởi đầu bằng việc xác định các khó khăn và thảoluận để tìm cách giải quyết các khó khăn đó Ví dụ, nếu khó khăn là đất bị xóimòn thì sẽ cần có những biện pháp bảo vệ đất Còn nếu những người nông dân cầntiền vốn để đầu tư vào nông trại, thì nên có một chương trình tín dụng

Những dự án kiểu như vậy có thể sử dụng kiến thức bản địa như thế nào? Bảng dưới

đây sẽ nêu tóm tắt những việc cần quyết định Chúng ta có thể nhận thấy 4 bước cơbản (những bước này cũng giống bảng ở mục: "Sử dụng cuốn sổ tay này như thếnào?")

Những quyết định khi sử dụng kiến thức bản địa trong các dự án

Trang 24

1 Tìm hiểu xem có tồn tại kiến thức bản địa thích hợp không

Những thành viên trong cộng đồng và cán bộ phát triển cùng làm việc với nhau đểtìm hiểu và ghi chép lại tất cả những kiến thức bản địa của địa phương có liên quan

đến vấn đề đã được xác định - những gì đã làm được và những gì đang được làm đểgiải quyết vấn đề khó khăn đó (Xem hướng dẫn về phương pháp ghi chép lưu giữkiến thức bản địa ở mục: Tại sao kiến thức bản địa lại có ích?và miêu tả nhữngphương pháp lưu trữ cá nhân trong Phần 2

Nếu thời gian và tài chính hạn hẹp không cho phép bạn lưu giữ và ghi chép lại kiếnthức bản địa chi tiết, hãy nghĩ đến những phương pháp khác, đánh giá nhanh ít nhất

là vài kiến thức - có thể là cùng đánh giá nhanh với những người nắm thông tin chủyếu

Nếu địa phương không có kiến thức bản địa thích hợp, có thể cần phải kiểm tra,

điều chỉnh và phát triển kiến thức khác bên ngoài thích hợp hơn Kiến thức ở bênngoài có thể là kiến thức phương Tây, kiến thức bản địa của vùng khác, hoặc là kếthợp của hai loại kiến thức này

2 Đánh giá tính hiệu lực và bền vững của kiến thức bản địa

Nếu tại địa phương có kiến thức bản địa phù hợp thì những người dân địa phương

và cán bộ phát triển có thể cùng thảo luận, sàng lọc các kết luận và tìm ra nhữngkiến thức bản địa có lợi cho dự án

Hãy nhớ rằng theo quan điểm phát triển, không phải tất cả các kiến thức bản địa

đều hữu dụng như nhau, một số kiến thức có thể không mang lại hiệu quả, và một

số khác thậm chí có thể có hại Vì vậy bạn phải cẩn thận khi chọn lọc

Khi đánh giá hiệu quả của kiến thức bản địa, cần phải hiểu những lý do đằng saucủa một tập quán hoặc một tín ngưỡng Ví dụ ta có thể hỏi: Tại sao bác nông dân

X lại xây một bức tường bằng đá ở địa điểm đặc biệt này mà không xây ở dướichân dốc, giống như những gì người ta đã dạy ở trường đại học?

Chúng ta có thể tìm hiểu ra được rằng, nếu xây bức tường ở chỗ khác thì nó có thể

bị mưa lớn xói mòn hết Như vậy, kiến thức bản địa có thể có lý, thậm chí ngay cảkhi nó trái ngược với bài giảng của những chuyên gia bên ngoài

Nếu kiến thức bản địa thật sự có hiệu lực và bền vững, ta có thể phát triển kiến thức

đó mà không cần sửa đổi thêm

Ví dụ:

 Phổ biến rộng rãi các dụng cụ nấu nướng hiệu quả

 Phát triển những phương thuốc địa phương có hiệu nghiệm

 Thuê các lương y địa phương

3 Thử nghiệm xem liệu kiến thức bản địa có thể cải tiến được không

Thông thường thì kiến thức bản địa có hiệu quả, nhưng vẫn có thể được cải tiến Ví

dụ, một hệ thống canh tác truyền thống có thể cho năng suất cây trồng cao hơnbằng cách kết hợp với một loại cỏ mới hoặc một giống cây trồng đã được cải tiến

Xem mục Lưu

Trang 25

Những thay đổi nhỏ trong thiết kế một chiếc lò truyền thống có thể tăng thêm hiệusuất sử dụng nhiên liệu mà vẫn giữ được những ưu điểm cần có khác.

Những cải tiến đó có thể tiến hành theo nhiều cách:

 Thông qua nghiên cứu ở phòng thí nghiệm và các nông trại thử

 Bằng nghiên cứu trên đồng ruộng do các nhà khoa học tiến hành (là phương

pháp thường dùng trong nghiên cứu các hệ thống canh tác)

 Thông qua việc phát triển các kỹ thuật có người dân tham gia và quản lýKiến thức từ bên ngoài có thể là kiến thức phương Tây hoặc kiến thức bản địa của

địa phương khác

Trong một số trường hợp, kiến thức bản địa là không thể cải tiến được hoặc vậndụng một cách thỏa đáng Ví dụ, việc áp dụng một hệ canh tác địa phương có thểthể hiện sự yếu kém liên tục về mọi mặt so với những kỹ thuật được đưa từ nơi khác

đến địa phương đó Trong nhưng trường hợp như vậy, tốt nhất là nên vận dụng vàphát triển kỹ thuật từ bên ngoài đưa đến

Kết hợp kiến thức địa phương và kiến thức bên ngoài

Những nông dân ở Đông Nusa Tenggara, Inđônêxia có nhiều kinh nghiệm về cảitạo đất màu và chống xói mòn đất dốc Bảng dưới đây chỉ ra kiến thức bản địa cóthể được kết hợp và cải tiến với kiến thức phương Tây như thế nào

Kỹ thuật bản địa  Kiến thức phương Tây ã Kỹ thuật bản địa kết hợp với

luân phiên bỏ hoá đất

Sử dụng các loại cây họ đậuthân gỗ

Sử dụng hàng rào xanh là cây họ

đậu để giữ được độ phì của đấttrong hệ canh tác, nương rẫy bản

địa để có thể trồng trọt liên tục,không cần giai đoạn bỏ hoáDùng cành cây khô, cây

bụi và tre làm bờ chắn

xói mòn trên đất đốc

Đào hố vẩy cá và trồng hàngrào xanh theo đường đồngmức để giảm xói mòn đất

Kết hợp làm bờ nương bậc thangvới trồng hàng rào xanh và đào

hố vẩy cá phía dưới bờ chắnnước ở vùng đồi dốc

Cải tiến cơ cấu cây trồng hiện

đang áp dụng trên đồng ruộng

Xếp đá thành bờ ruộng

bậc thang

Trồng cây làm hàng ràoxanh

Dùng hàng rào xanh để củng cốcác nương bậc thang được bềnvững hơn

Nguồn: Nelson Sinaga, Yayasan Tananwa, Nusa Tenggara, Inđônêxia

Trang 26

4 áp dụng và phát triển kiến thức bản địa đã được cải tiến

Kiến thức bản địa đã được cải tiến có thể được phát triển và áp dụng thông qua hìnhthức khuyến nông, khuyến nông lấy người dân làm trung tâm, và các kênh truyềnthông, giáo dục khác Các phương pháp có sự tham gia của người dân về phát triển

kỹ thuật có lợi thế là người dân địa phương đã có kinh nghiệm trong việc phát triển

và thử nghiệm kiến thức bản địa đã được cải tiến Vì vậy họ dễ sử dụng và pháttriển kiến thức đó thành công hơn phương pháp chỉ đạo trên xuống

Ghi chú

Sử dụng kiến thức bản địa trong các dự án:

Một ví dụ về chống xói mòn đất

\/ụ thu hoạch của thôn chúng tôi năm nay đạt sản lượng thấp Nông dân và cáccán bộ phát triển nhận ra rằng xói mòn đất nghiêm trọng là một trong nhữngnguyên nhân gây ra điều đó Vậy họ có thể tìm ra giải pháp nhờ vào kiến thức cổtruyển như thế nào?

 Trước tiên, người dân địa phương và cán bộ phát triền thảo luận về những

giải pháp mà địa phương đã từng sử dụng để giải quyết vấn đề này Họcùng nhau quyết định xem các nguồn lực nào là sẵn có tại thôn

 Họ ghi lại tất cả những kiến thức bản địa có liên quan đến việc quản lý

đất Họ đi quanh thôn và đánh giá tình trạng thực tế, và ở đó họ đã nhậnthấy những đặc điểm và kỹ thuật không được nêu ra trong các cuộc thảoluận ở trong phòng họp Họ ghi lại tất cả: những bờ ruộng xếp bằng, bậcthang, những bụi cây trồng trên sườn đồi, câc kỹ thuật và tập quán trồngcây, v.v

 Sau đó nhóm người này (gồm cả người địa phương và người ngoài) cùng

quyết định xem kiến thức bản địa nào có thể sử dụng được trong dự án(bao gồm thông tin, các tập quán canh tác, kỹ thuật, các loại cây, v.v )

Họ thảo luận về cách sử dụng kiến thức bản địa nào thích hợp: kiến thứcbản địa thuần tuý, được sửa đổi, hay được kết hợp với kỹ thuật bên ngoài

 Cuối cùng, dự án áp dụng những phương thức đã được lựa chọn, sử dụng

những kinh nghiệm trực tiếp và sẵn có để kiểm tra và cải tiến nhữngphương thức khác

Trang 27

 Trước hết, những người nông dân và đại diện của tổ chức nhà thờ cùng

ngồi thảo luận với nhau và ghi lại tất cả các hình thức tín dụng và tiếtkiệm mà địa phương đã sử dụng Những hình thức cổ truyền không nhấtthiết phải liên quan đến tiền mặt Mặc dù nhiều địa phương chắc chắn đã

có một số thoả thuận cho vay tiền nhưng họ vẫn có thể sử dụng những vậtdụng có giá trị để bán hoặc trao đổi khi cần tiền mặt (ví dụ, người dânthường nuôi cừu và dê để tiết kiệm)

 Tổ chức nhà thờ cũng có cuộc nói chuyện với những người cho vay vốn

theo truyền thống

 Sau đó, những người nông dân và đại diện của nhà thờ ghi lại những kết

quả thu được để quyết định xem kiến thức bản địa nào có thể sử dụng

được trong chương trình tín dụng Ví dụ, một dự án có thể xét đến việcthuê những người cho vay truyền thống vì nhữhg người này thường rấtthành công Tuy nhiên, họ có những phương pháp mà dự án không ápdụng theo được, như là đòi lãi suất rất cao Nhưng thành công của nhữngngười cho vay cũng có thể do họ có được uy tín trong cộng đồng Trongtrường hợp này, họ có thể được coi như một nguồn nhân lực có giá trị chochương trình tín dụng

Trang 28

Lưu giữ kiến thức bản địa trong cộng đồng

Bạn nên áp dụng những quy tắc và thủ tục nhất định khi thu thập, lưu giữ, và ghichép lại kiến thức bản địa, bất kể đó là kiến thức của một dự án phát triển đã được

áp dụng hay chỉ để lưu giữ lấy dữ liệu Sau đây là một phác thảo chung những hoạt

động, quy tắc, và thủ tục cần được áp dụng khi thu thập, lưu giữ, và ghi chép lạikiến thức bản địa Phần 2 bao gồm những thông tin chi tiết của khoảng 30 phươngpháp hữu dụng trong việc lưu giữ kiến thức bản

 Xác định những mục tiêu nghiên cứu của bạn

 Xác định nội dung và mức độ của nghiên cứu: Bạn cần biết những gì? Bạn

cần biết đến mức độ nào? Đừng cố gắng thu thập nhiều dữ liệu thông tinhơn mức cần thiết

 Lựa chọn các phương pháp để lưu giữ và ghi chép với yêu cầu:

 Chuẩn bị cẩn thận cho mỗi phương pháp trước khi đến địa phương Nếu có

nhiều người tham gia thì nên phân chia công việc và thoả thuận rõ ai sẽ làmviệc gì

 Thu thập càng nhiều thông tin càng tốt về địa phương và về những đề tài có

liên quan trước khi bạn làm việc ở cộng đồng

 Bạn phải nhận được sự đồng ý của địa phương trước khi bắt đầu nghiên cứu

hoặc khởi xướng dự án

Làm việc tại địa phương

 Giới thiệu bạn và những người ngoài cuộc khác với tất cả những thành viên

trong cộng đồng có liên quan đến công việc

Trang 29

 Giải thích chi tiết với địa phương về mục tiêu của nghiên cứu hoặc của dự

án Đừng đem lại ảo tưởng sai cho người dân

 Cho họ biết rằng bạn đến để học hỏi họ

 Thảo luận với địa phương về những lợi ích mà nghiên cứu có thể đem lại

 Thông báo cho những người dân biết trước là nghiên cứu này sẽ cần bao

nhiêu thời gian của họ

 Tìm hiểu nghĩa của những thuật ngữ địa phương

 Nếu có thể, bạn hãy học ngôn ngữ của địa phương vì điều này sẽ làm cho

công việc tại cơ sở thuận tiện, dễ dàng và thường được đánh giá cao

Ghi chú:

Đối chiếu thuật ngữ và khái niệm

Trên thực tế, có nhiều hiểu lầm và sai sót xảy ra vì những người ngoài cuộc vàngười dân địa phương không hiểu những từ cụ thể được họ sử dụng mang ýnghĩa gì Định nghĩa của bạn và cách bạn phân loại hiện tượng như đất đai, vàbệnh tật không nhất thiết phải giống với cách của người dân địa phương Có thểbạn cần phải cùng làm việc với người dân địa phương để dịch và đối chiếu thuậtngữ tương ứng với khái niệm của họ

Trong một số trường hợp, những định nghĩa của địa phương bao hàm rộng hơn

định nghĩa tương ứng của phương Tây Ví dụ, những người chăn nuôi gia súc ởchâu Phi coi nhiều loại bệnh gia súc quan trọng chỉ là một bệnh vì chúng cócùng triệu chứng

Trong những ví dụ khác, những mô tả của người địa phương lại chi tiết hơn Ví

dụ, người Inuit ở vùng Bắc cực có rất nhiều từ để chỉ tuyết; còn nông dân ởTrung Mỹ có nhiều tên gọi khác nhau cho ngô, tuỳ thuộc vào những giai đoạnphát triển hoặc phương pháp sử dụng ngô; những người chăn nuôi gia súc ở BắcPhi lại có nguồn từ vựng phong phú để chỉ các bộ phận của lạc đà, điều nàyphản ánh tầm quan trọng của lạc đà đối với họ

Một số thuật ngữ trừu tượng như tín ngưỡng hay lòng tin về nguyên nhân gây rabệnh tật thì lại không có thuật ngữ phương Tây tương ứng

Việc đối chiếu những thuật ngữ bản địa và phân loại chúng tương ứng với nhữngthuật ngữ phương Tây có thể gây khó khăn Vì vậy, những phương pháp nhưphỏng vấn, chọn lọc, xếp hạng, phân loại, và quan sát có thể giúp bạn trong việc

đối chiếu những thuật ngữ bản địa với thuật ngữ phương Tây

Học hỏi kiến thức bản địa

 Hỏi những câu trung lập Không hỏi những câu mang tính dẫn dắt

Ví dụNên: Ông dùng vật này để làm gì?

Trang 30

 Thường xuyên dùng những từ và cụm từ như: Cái gì?Tại sao? Như thế nào?

Ai? Khi nào? ở đâu? Học được điều này ở đâu?

 Hãy lắng nghe và quan sát

 Hãy cởi mở, cố gắng có được cách nhìn của người trong cuộc

 Luôn làm cho những người dân trong cộng đồng quan tâm, thích thú

-nhưng nên biết dừng lại đúng lúc

 Khi làm việc ở cộng đồng cần theo những điều "nên" và "không nên" trong

bảng sau

Ghi chú:

Những điều nên và không nên khi làm việc tại cộng đồng

 Không nên ép buộc người dân tham gia vào công việc

 Không nên mất bình tĩnh

 Không nên hỏi nhiều câu cùng một lúc

 Nên để người dân ngừng nói rồi mới hỏi tiếp

 Lắng nghe chăm chú và học hỏi

 Không nên xen vào những cuộc thảo luận đang sôi nổi

 Khi người dân đang thảo luận một chủ đề, không nên giới thiệu chủ đề

khác

 Hỏi cả những người ngồi xung quanh (những người chỉ xem nhưng

không hăng hái tham gia)

 Nên cẩn trọng với những người có ý điều khiển cuộc thảo luận, hãy giải

Lưu giữ kiến thức bản địa

 Lưu giữ lại moi thông tin, thậm chí ngay cả khi thông tin đó không hợp lý

với quan điểm của người ngoài cuộc

 Cố gắng đạt được sự trung lập và không đáng giá khi lưu giữ

Ví dụ:

Nên: "Nông dân dùng giống của địa phương"

Không nên: "Nông dân vẫn dùng giống của địa phương"

Trang 31

Không nên: "Dường như đây là một làng kém phát triển vì nông dân chỉ sử dụnggiống của địa phương"

Nên: "Nông dân sử dụng hai hoặc ba loại thuốc"

Không nên: "Nông dân chỉ biết hai hoặc ba loại thuốc"

Khi kết thúc nghiên cứu

 Thông qua kết quả của bản nghiên cứu với cộng đồng

 Cung cấp cho cộng đồng một bản sao chép của kết quả đó

 Thảo luận với cộng đồng về việc sử dụng những kết quả đó như thế nào, và

Trang 32

Quyền sở hữu trí tuệ

Việc lưu giữ kiến thức bản địa thường gặp phải những trường hợp khó xử Giả sửvới các phương thuốc bản địa: nếu chúng ta không lưu giữ kiến thức bản địa đó thì

nó sẽ mất đi vĩnh viễn; còn nếu chúng ta lưu giữ lại thì có thể mang đến bất lợi chongười dân địa phương - ví dụ khi loại thuốc đó được một công ty sản xuất và đembán ra thị trường mà không trả tiền lợi nhuận cho địa phương là nơi tìm ra hoặc có

được nguồn thông tin về loại thuốc đó

Sau đây là một số hướng dẫn những gì có thể làm để ngăn chặn sự lợi dụng trongcông việc của chúng ta khi nghiên cứu kiến thức bản địa

 Ghi tên của người dân dịa phương trong phần tác giả hoặc đề cập đến họ khi

lưu giữ những tập quán cuả họ Luôn luôn dẫn nguồn tên, ngày tháng năm,

và địa điểm trong bản ghi chép và bất kỳ tài liệu nào của bạn khi miêu tảkiến thức bản địa của một người hoặc địa phương cụ thể

 Giúp người dân địa phương lưu giữ thông tin của họ để họ làm tác giả

 Lưu giữ và sử dụng kiến thức bản địa trong điều kiện của những dự án phát

triển đã ứng dụng

 Để lại địa phương những bản sao chép kết quả của nghiên cứu (ví dụ: bản

đồ, lịch các mùa vụ)

 Lưu ở cộng đồng những bản nghiên cứu đã hoàn chỉnh (ví dụ, những báo

cáo đã được dịch, băng video, thành lập cơ sở dữ liệu tại địa phương, v.v )

 Giúp các thành viên trong cộng đồng (hay các địa phương) đăng ký bản

quyền cho những tài liệu và phương pháp kỹ thuật độc nhất và có giá trị

 Giúp các tổ chức của địa phương tự quyết định xem họ phải trả lời như thế

nào trước những câu hỏi của những nhà nghiên cứu và các công ty thươngmại Họ có thể thương lượng với những người ngoài để đảm bảo rằng họcũng thu được lợi nhuận trong việc chia sẻ những kiến thức của mình

 Hiểu và tuân thủ những quy tắc, luật lệ của địa phương về việc bán những

đồ cổ và nguồn giống

Trang 33

Phần 2

Các phương pháp lưu giữ và đánh giá

Trang 34

Các phương pháp lưu giữ kiến thức bản địa

Phần này phác thảo các trình tự và quy tắc chung khi tiến hành lưu giữ kiến thứcbản địa trong các cộng đồng và liệt kê vắn tắt danh sách các nguồn và nhữngphương pháp lập tài liệu lưu giữ kiến thức bản địa cũng như cung cấp các chi tiết vềnhững phương pháp đã được sử dụng để lưu giữ kiến thức bản địa Hầu hết cácphương pháp đều được trình bày như sau:

 Định nghĩa: nêu đặc điểm ngắn gọn của phương pháp.

 Mục đích: nêu lợi ích chung của phương pháp, không nhất thiết về kiến

thức bản địa

 Dụng cụ: những vật cần thiết khi sử dụng từng phương pháp cụ thể

 Phương pháp tiến hành: giải thích từng bước về cách tiến hành phương

pháp đó Để giữ cho cuốn sổ tay này ngắn gọn và tránh bị chồng chéo thìnhững trình tự chung như "xin phép cộng đồng" hay "giới thiệu về bản thânbạn" sẽ không được nhắc lại trong mỗi phương pháp Phần này được trìnhbày trong mục "Lưu giữ kiến thức bản địa ở các cộng đồng" và được lặp lạitrong một vài phương pháp để nhắc lại phương pháp "Hội thảo" vạch rạ mộtvài nguyên tắc khi làm việc với các nhóm trong cộng đồng

 Giá trị: nêu lợi ích của phương pháp trong việc lưu giữ kiến thức bản địa

 Nên và không nên: nêu những việc nên làm và không nên làm khi dùng

phương pháp này

 Ghi chú hoặc các bảng: giải thích thêm.

Các nguồn thông tin chỉ được đưa ra khi việc biên soạn một phương pháp cụ thể rút

ra chủ yếu từ một hay một vài nguồn Không cần dẫn chứng nguồn cụ thể nào khicác tác giả dựa chủ yếu vào kinh nghiệm tại cơ sở và thông tin được củng cố bằngviệc tham khảo nhiều tài liệu có liên quan, liệt kê trong phần "Tham khảo" củacuốn sổ tay này,

Không có một cách tiếp cận riêng nào cho việc lưu giữ kiến thức bản địa Tương tựnhư vậy, các bước trong phần "Phương pháp tiếp cận" không phải đã là nhữnghướng dẫn cụ thể, chi tiết để sử dụng, mà chỉ là một trong nhiều cách có thể sửdụng được Các phương pháp phải được sửa đổi và kết hợp với nhau cho phù hợpvới từng lĩnh vực nghiên cứu Bạn phải sáng tạo và linh động để lưu giữ và áp dụngkiến thức bản địa một cách thành công

Các nguồn thông tin và tài liệu về kiến thức bản địaCác nguồn thông tin

Cần xem xét các nguồn kiến thức bản địa sau:

 Thành viên của cộng đồng, đặc biệt những người già, là nguồn đặc biệt

nhất của kiến thức bản địa Nhưng do kiến thức bản địa được truyền bákhông đồng đều trong cộng đồng nên điều quan trọng là cần tìm đượcngười thích hợp để có được những nguồn chính xác, nếu không thì các dữliệu khôg phản ánh trung thực về kiến thức bản địa trong cộng đồng Ví dụ

Trang 35

nếu hỏi nam giới về các loại cây trong vườn trong khi phụ nữ lại là ngườichịu trách nhiệm về vườn tược, thì điều đó rất có thể dẫn bạn đến kết luậnrằng những người trong thôn hầu như không biết về việc làm vườn.

 Ca nhạc dân gian, các bài hát, thơ, và ca kịch có thể phản ánh nhiều về giá

trị của con người, lịch sử và các tập quán Những điều này thường không

được tài liệu nào đề cập đến nhưng cần được lưu giữ lại

 Lưu giữ tại cộng đồng - Mặc đù hầu hết kiến thức bản địa được truyền khẩu

nhưng vẫn còn tồn tại một số hình thức lưu giữ bản địa như: các bài viết,các hình vẽ, và các hình khắc trên đá Các hình thức lưu giữ cũng baogồm: trồng cây để làmn hàng rào, các cột có vết khía, xương và nhiều hìnhthức khác

 Những người làm việc với cộng đồng như cán bộ khuyến nông có thể là

những nguồn rất có giá trị cung cấp kiến thức bản địa

 Những nguồn thứ cấp gồm những tài liệu đã xuất bản và không xuất bản,

các nguồn dữ liệu, băng hình, ảnh, các viện bảo tàng, và các triển lãm

Tài liệu chứng minh: việc biên soạn và cất giữ

Có thể biên soạn kiến thức bản địa theo các hình thức sau:

 Những bài miêu tả, ví dụ như các bản báo cáo

 Các bảng phân loại

 Bản danh mục (ví dụ như: danh mục các loại cây trồng, các bảng thống kê

các phương thuốc và các bài thuốc v.v )

Trang 36

Thế mạnh hay các ưu thế chiến lược của cảc phương pháp lưu giữ kiến thức bản địa

nào

Tại sao Ai đâu Khi nào Mức độ

thường xuyên

Mức độ phổ biến

Hiệu quả

Phỏng vấn không chính thức

Những người cung cấp thông tin chính

Các nhóm trọng tâm

Nghiên cứu điển hình

Quan sát của những người tham gia

Lưu giữ tư liệu bằng ảnh

Quay video có sự tham gia của người dân

Trang 37

Việc này cần dùng đến phương pháp Phân tích thống kê, một đề tài nằm ngoài

phạm vi cuốn sổ tay nây Nhưng hiện nay đã có nhiều cuốn sách hay về đề tài nàycũng như những phần mềm vi tính dễ sử dụng và rất hiệu quả

Tóm lại những thử nghiệm thống kê cho phép bạn đưa ra những kết luận thông tin

về các nhóm đông người, vật, hoặc sự kiện bằng việc quan sát một mẫu đại diệnnhỏ của những người, vật, hoặc sự kiện đó Vì cuốn sổ tay này thu thập thông tin,nên rất cần phải biết được một mẫu đại diện là gì

Hãy tưởng tượng rằng quần thể mà bạn đang nghiên cứu là một nồi thịt hầm với đủloại rau, đậu và thịt Lấy một muỗng ở phần trên thì sẽ làm cho người ta tin rằngmón thịt hầm này loãng, một muỗng múc ở đáy nồi lại gợi đến một món thịt hầm

đặc biệt thịnh soạn Để biết đúng bản chất của món thịt, đầu tiên bạn phải khuấylên, sau đó lấy một mẫu.Trong trường hợp quần thể mà bạn nghiên cứu, thì điều đó

có nghĩa là bạn sẽ cần thông tin tương ứng đại diện cho sự phong phú của quần thể

Điều đó không có nghĩa là bạn phải khuấy mọi cá thể trong một cái nồi Nhưng

điều quan trọng là bạn phải biết một vài điều về quần thể trước khi bắt đầu côngviệc

1 Xác định về quần thể Bạn muốn nghiên cứu cái gì? ở vùng nào? Ví dụ, bạn

có thể quyết định nghiên cứu các kỹ thuật canh tác bản địa ở vùng phía tây trên đấtnước của bạn Do đó quần thể của bạn trong trường hợp này có thể là những ngườicanh tác trồng trọt trong vùng đó

2 Quyết định đơn vị nghiên cứu Bạn quan tâm đến các cá thể, các đôi vợ

chồng, các hộ gia đình hay gia đình, các tổ chức hay một thôn bản? Bạn quan tâm

đến cây trồng, động vật, đàn gia súc, những cánh đồng, hay trang trại? (Đối vớinghiên cứu về giống cây trồng thì đơn vị nghiên cứu có thể là các hộ gia đình - tuynhiên bạn cần xác định nên phỏng vấn ai trong hộ gia đình? - phụ nữ hay namgiới?, người già hay người trẻ?)

3 Xác định đơn vị đo lường Đối với nghiên cứu về các giống cây trồng thì đơn

vị đo lường có thể là năng suất trên hecta (hoặc đơn vị diện tích của địa phương)

Có thể bạn sẽ quan tâm đến các đơn vị đo lường khác Ví dụ, bạn có thể muốn biết

số lượng các giống cây đã được gieo trồng, lượng phân hữu cơ và vô cơ được sửdụng, thời vụ trồng trọt và thu hoạch, số lượng ngày công lao động trên một đơn vịdiện tích và những đặc điểm khác

4 Xác định quy mô cần thiết của mẫu Mẫu phải đủ lớn, nếu không thì số liệu

của bạn dù được thu thập cẩn thận thế nào và các phân tích thống kê của bạn có

được trình bày tốt ra sao thì chúng cũng trở nên vô ích

Cỡ mẫu tối thiểu phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố:

 Bạn có bao nhiêu tiền và thời gian?

 Độ lớn của quần thể mà bạn muốn khái quát hóa?

Trang 38

 Trong quần thể đó có bao nhiêu hình thái thay đổi ?

 Khi phân tích bạn muốn chia quần thể thành bao nhiêu nhóm nhỏ ?

 Mức độ tin cậy của bạn về những phát hiện của mình là đúng? (Điều này

được đo bằng mức tin cậy: một mức tin cậy bằng 90% nghĩa là bạn có thểtin tưởng 90% rằng giá trị thực của trị số trung bình sẽ chính xác, hợp lý.Xem sách thống kê để biết thêm chi tiết.)

Bảng dưới đây cho thấy những cỡ mẫu tối thiểu cần có đối với những cỡ quần thểkhác nhau với độ tin cậy 90%

Quy mô quần thể (N) Quy mô của mẫu tối

Ghi chú:

Thiết kế một mẫu lớn hơn bạn cần

Thiết kế mẫu lớn hơn bạn thật sự cần thường là một ý kiến hay (ví dụ lớn hơn từ 15

đến 20% so với bạn cần) Bạn nên làm điều này vì có thể một vài người không cónhà khi bạn đến, hoặc từ chối trả lời các câu hỏi của bạn, hoặc đưa ra những câu trảlời mà bạn biết là không thể tin cậy được Nếu bạn bắt đầu với một mẫu lớn hơnbạn cần để phân tích thống kê thì bạn có thể luôn thay thế những người này bằngngười khác

Trong nhiều trường hợp có thể bạn buộc phải sang nhà bên cạnh nếu gia đình màbạn muốn đến phỏng vấn lại không có người ở nhà Bạn có thể làm như vậy khi đãnhất quán với cách làm này Hãy thận trọng với những sự thiên vị, ví dụ phỏng vấnquá nhiều người già một cách không hợp lý vì chỉ có người già ở nhà vào lúc bạn

đến

Trang 39

5 Lập một danh sách các thành viên trong cộng đồng: là khung mẫu của bạn.

Bạn có thể lập danh sách này theo nhiều cách

 Đề nghị những người địa phương lập danh sách đó Hãy đảm bảo rằng danh

sách của bạn bao gồm cả những "người ngoài lề xã hội" như những gia đìnhthuộc tầng lớp thấp hay những người không có đất đai

 Xây dựng danh sách bằng một trong những kỹ thuật được miêu tả trong

cuốn sổ tay này, ví dụ như: Lập bản đồ hay phân loại và xếp hạng

 Xin một danh sách từ cơ quan chính quyền địa phương, có thể là: trưởng

thôn, hồ sơ đất đai địa phương, danh sách học sinh (từ trường học địaphương), danh sách bệnh nhân (từ trạm xá), hoặc thành viên hợp tác xã(trong hợp tác xã) Chú ý: những danh sách này có thể thiên lệch về một bộphận trong cộng đồng, cũng có thể là cơ sở tốt để từ đó xây dựng một danhsách hoàn thiện hơn với sự giúp đỡ của nhân dân địa phương

 Việc lập được một danh sách khá hoàn thiện có thể là rất khó, đặc biệt với

quần thể lớn Nếu bạn không thể làm được như vậy thì đừng lo lắng, bạn cóthể sử dụng những phương pháp lấy mẫu khác (được miêu tả ở dưới đây)

6 Thiết kế mẫu nghiên cứu Bạn có thể sử dụng một trong những phương pháp

dưới đây

* Rút thăm

1 Viết tên của tất cả mọi người ( hộ gia đình, nông trại) trong khung mẫu của bạn

vào những mảnh giấy nhỏ

2 Gập những mảnh giấy đó đều nhau, cho vào một cái lọ lớn và trộn kỹ (Đối với

mẫu xếp tầng (xem ở dưới) thì cho các tên ở mỗi nhóm phụ vào một lọ riêng nhau.)

3 Sau đó cầm lấy lọ, lấy ra ngẫu nhiên số mảnh giấy (n) bạn cần mà không nhìn

tên

4 Bạn cần rút ra thêm một số mảnh giấy (thêm hộ gia đình) để thay thế trong

trường hợp có vài gia đình chuyển đi hoặc không thể xác định vị trí hay không thểliên hệ được sau khi đã cố gắng nhiều lần Sau hai hoặc ba lần liên hệ không thànhcông bạn có thể chuyển sang những ứng cử viên thay thế, và những thay thế nàycũng nên được chọn một cách ngẫu nhiên

3 Trộn một bộ bài và rút ra ngẫu nhiên n quân từ bộ bài đó

4 Viết lại các số phù hợp với quân bài mà bạn đã rút, theo bảng dưới đây:

5 Chọn tên trong danh sách tương ứng với các số bạn vừa viết.

Trang 40

* Phương pháp dùng máy tính bỏ túi

Một vài máy tính bỏ túi có thể tạo ra những con số ngẫu nhiên khi ấn một nút Cáccon số này thường là những số thập phân từ 0 đến 1 Để sử dụng những số này bạnlàm theo một trong hai cách sau:

 Nhân mỗi số ngẫu nhiên với số người trong quần thể cộng thêm 1 Ví dụ,

nếu dân số có 500 người thì nhân mỗi số ngẫu nhiên tạo ra với 501 (cầnthêm 1 đơn vị để đảm bảo rằng người thứ 500 cũng được chọn vì các sốngẫu nhiên được sắp xếp từ 0,000 đến 0,999 chứ không phải đến 1,000)

 Hoặc bạn có thể bỏ qua dấu thập phân trong các số ngẫu nhiên hoặc bỏ qua

bết kỳ số nào lớn hơn tổng số dân của bạn

* Bảng số ngẫu nhiên

1 Lập một danh sách tất cả cá thể trong khung mẫu.

2 Đánh số danh sách (1,2,3, v.v )

3 Xác định số lượng cá thể bạn cần cho mẫu Quy mô mẫu là n.

4 Trong bảng các số ngẫu nhiên trang sau, xác định một điểm bắt đầu bằng cách

nhắm mắt lại và chỉ ra bất cứ một vị trí nào trong trang bằng bút chì

5 Bắt đầu t.ừ số bạn vừa chọn, đọc thẳng xuống trong cột đó và chọn những con số

n tiếp theo trong cột Nếu bạn cần ít hơn 100 cá thể, hãy lấy số có hai chữ số đầutiên trong cột (hoặc lấy hai số ở giữa hoặc ở cuối với điều kiện là bạn vẫn nhấtquán) Khi bạn đến cuối cột thì bạn hãy đi tiếp lên đầu cột bên cạnh

6 Chọn các tên từ danh sách tương ứng với những con số mà bạn vừa chọn trong

bảng

* Mẫu ngẫu nhiên một cách hệ thống

Phương pháp này dễ hơn cách lấy mẫu ngẫu nhiên khi danh sách của bạn có nhiềucá thể ( ví dụ hơn 500)

1 Lập một danh sách gồm tất cả các cá thể trong khung mẫu của bạn Đếm xem

có bao nhiêu người (ví dụ 15000 người)

Ngày đăng: 24/12/2013, 06:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ mạng lưới - Tài liệu Sổ tay Lưu giữ và Sử dụng Kiến thức bản địa pdf
Sơ đồ m ạng lưới (Trang 36)
Bảng dưới đây cho thấy những cỡ mẫu tối thiểu cần có đối với những cỡ quần thể khác nhau với độ tin cậy 90%. - Tài liệu Sổ tay Lưu giữ và Sử dụng Kiến thức bản địa pdf
Bảng d ưới đây cho thấy những cỡ mẫu tối thiểu cần có đối với những cỡ quần thể khác nhau với độ tin cậy 90% (Trang 38)
Hình thành nhóm phỏng vấn - Tài liệu Sổ tay Lưu giữ và Sử dụng Kiến thức bản địa pdf
Hình th ành nhóm phỏng vấn (Trang 57)
Bảng đen PhÊn Giấy và bút chì - Tài liệu Sổ tay Lưu giữ và Sử dụng Kiến thức bản địa pdf
ng đen PhÊn Giấy và bút chì (Trang 68)
Bảng mẫu so sánh - Tài liệu Sổ tay Lưu giữ và Sử dụng Kiến thức bản địa pdf
Bảng m ẫu so sánh (Trang 85)
Hình vẽ minh hoạ và bảng biểu - Tài liệu Sổ tay Lưu giữ và Sử dụng Kiến thức bản địa pdf
Hình v ẽ minh hoạ và bảng biểu (Trang 100)
Sơ đồ nguồn tài nguyên sinh học trong hệ thống nguồn tài nguyên tự nhiên (Philippin) - Tài liệu Sổ tay Lưu giữ và Sử dụng Kiến thức bản địa pdf
Sơ đồ ngu ồn tài nguyên sinh học trong hệ thống nguồn tài nguyên tự nhiên (Philippin) (Trang 111)
Sơ Đồ Tổ CHứC (Sơ Đồ VENN) - Tài liệu Sổ tay Lưu giữ và Sử dụng Kiến thức bản địa pdf
Sơ Đồ Tổ CHứC (Sơ Đồ VENN) (Trang 127)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w