Dưới đây nêu một số tính trạng trội và lặn ở người mà không phân tích đặc điểm của các kiểu di truyền đó xem chương 11... Ở người, hầu hết các rối loạn di truyền là lặn xem bảng 1.5.. Đạ
Trang 1Sự di truyền Mendel ở người
Cũng như ở đậu Hà Lan, ruồi giấm hay mèo, ở người có rất nhiều tính trạng di truyền theo các quy luật Mendel Chẳng hạn, theo thống kê của Victor A.McKusick năm 1994, có 6.678 tính trạng và các bệnh đơn gene Cho đến ngày 8/2/2005, các số liệu về số lượng gene và kiểu hình được nêu ở bảng 1.4 (OMIM 2005)
Nói chung, việc xác định phương thức di truyền ở người là tương đối khó khăn, vì
Trang 2mỗi gia đình có ít con, thường không quá
10 người Để khắc phục điều đó người ta
sử dụng phương pháp phân tích phả hệ
(pedigree analysis) Dưới đây nêu một số tính trạng trội và lặn ở người mà không phân tích đặc điểm của các kiểu di truyền
đó (xem chương 11)
Bảng 1.4 Số lượng các mục
NST thường
Liên kết
X
Liên kết
Y
DNA
ty thể Tổng
Gene có trình
tự đã biết 9517 423 48 37 10.025
Gene có trình
tự và kiểu
hình đã rõ 360 38 0 0 398
Trang 3Mô tả kiểu
hình, cơ sở
ph.tử đã rõ 1512 137 2 27 1.678
Kiểu hình hay
locus Mendel,
cơ sở phân tử
chưa biết 1326 134 4 0 1.464
Các kiểu hình
chính yếu
khác có cơ sở
Mendel còn
khả nghi 2150 153 2 0 2.305 Tổng 14.865 885 56 64 15.870
1 Các tính trạng lặn (recessive traits)
Trang 4Ở người, hầu hết các rối loạn di truyền là lặn (xem bảng 1.5) Đại đa số những người mắc các bệnh này thường có bố
mẹ đều bình thường về kiểu hình, nhưng lại mang gene bệnh ở trạng thái dị hợp
Bảng 1.5 Một số rối loạn đơn gene thuộc nhiễm sắc thể thường ở người
(phỏng theo Campbell và Reece 2001; Lewis 2003)
Rối loạn
Các triệu chứng (và nguy cơ mắc phải)
Các rối loạn lặn
Bạch tạng
Thiếu sắc tố ở da, tóc và mắt (1/22.000)
Trang 5Hóa xơ nang
Thừa chất nhầy ở phổi, dịch tiêu hóa, gan
Galactosemia
Tích lũy galactose
ở các mô; trì độn; tổn thương mắt
và gan (1/100.000;
xử lý bằng kiêng galactose)
Gaucher
Gan và lách sưng phồng, thiếu máu, xuất huyết nội
Hemochromatosis
Cơ thể giữ lại sắt; nguy cơ lây nhiễm cao, tổn thương
Trang 6
gan, tim và tụy , thừa sắc tố da
Phenylketonuria
phenylalanyl trong máu; thiếu sắc tố
da bình
thường; trì độn, hôn mê, chết ở tuổi nhỏ (1/10.000)
Bệnh hồng cầu
liềm (đồng hợp
tử)
Tổn thương lách và nhiều cơ quan; nguy cơ lây nhiễm cao (1/500 ở người Mỹ gốc châu Phi; đồng trội)
Trang 7Bệnh Tay-Sachs
Tích lũy lipid trong các tế bào não gây suy thoái thần
kinh; mù màu; chết thời thơ ấu
Các rối loạn trội
Achondroplasia
Lùn với tứ chi ngắn, đầu và thân bình thường
Bệnh Alzheimer
Thoái hóa tâm thần; thường xảy ra muộn màng
Bệnh Huntington Thoái hóa tâm thần
và các cử động mất
Trang 8kiểm soát
Hypercholesterolemia
Thừa cholesterol trong máu; bệnh tim; 1/500 là dị hợp
Không dung nạp
lactose
Không có khả năng phân giải đường lactose,
gây ra tình trạng chuột rút sau khi
ăn loại đường này
Hội chứng Marfan
Tứ chi dài như vượn, ngực lõm, hỏng thủy tinh thể,
khảnh, động mạch
Trang 9chủ suy yếu
Bệnh thận đa nang
Các bọng trong các quả thận, urê trong máu, huyết áp
Tật nhiều ngón
Thừa các ngón tay, ngón chân
Hai bệnh lặn điển hình đó là bạch tạng và
hóa xơ nang Những người bị bạch tạngHóa xơ nang (cystic fibrosis) là một
bệnh di truyền gây chết phổ biến nhất ở
Mỹ (USA) Bệnh lặn này phổ biến nhất ở những người Mỹ da trắng gốc Capca (Caucasians), với tần số chung là 1/1.800, nghĩa là trung bình cứ 25 người
có một người mang allele lặn này
Trang 10(Campbell và Reece 2001) hay đối với trẻ sơ sinh là 1/2.500 (Weaver và Hedrick 1997) Người bị bệnh này có đặc điểm là tiết ra một lượng dư thừa chất nhầy dày ở phổi, tụy và các cơ quan khác Các chất nhầy này có thể làm nhiễu loạn sự thở, tiêu hóa và chức năng của gan và làm cho người bệnh rơi vào nguy
cơ viêm phổi và các bệnh truyền nhiễm khác Nếu không được điều trị, hầu hết trẻ em mắc bệnh này sẽ bị chết ở độ tuổi lên năm Theo thống kê của McKusick năm 1994, có 1.730 mục cho các locus lặn (albino) là do thiếu hụt sắc tố melanin, nên da dẻ trắng bạch, tóc và tròng đen của mắt trở nên nhạt khác thường (hình 1.5)
2 Các tính trạng trội (dominant traits)
Trang 11Mặc dù hầu hết các allele có hại là allele lặn, nhưng một số các rối loạn ở người là
do các allele trội (xem bảng 1.5) Trong
số đó có một vài allele không gây chết, chẳng hạn như tật thừa các ngón tay và chân (hình 1.5), hoặc có màng da giữa các ngón tay và chân Các tính trạng như
có tàn nhang, dái tai thòng cũng như các khả năng uốn lưỡi hình ống và gập ngược lưỡi lên trên đều do các gene trội đơn khác nhau kiểm soát Theo thống kê của McKusick năm 1994, có 4.458 mục cho các locus trội
Trang 12Hình 1.5 Một số ví dụ về di truyền Mendel ở người
Từ trái sang là bạch tạng, tật nhiều ngón
và dạng lùn phổ biến (achondroplasia)
Thí dụ điển hình về rối loạn trội nghiêm trọng đó là dạng lùn phổ biến do thoái
hóa sụn gọi là achondroplasia (hình 1.5),
đầu và thân mình phát triển bình thường nhưng tay chân ngắn một cách bất thường; tỷ lệ mắc bệnh này là khoảng 1 trên 25.000 người Chỉ những người dị hợp tử mới bị rối loạn này; còn kiểu gen đồng hợp tử trội gây chết phôi Trường hợp khác là bệnh Huntington
Trang 13(Huntington's disease), một dạng rối loạn
do sự suy thoái của hệ thần kinh thường xảy ra từ sau độ tuổi trung niên Khi bệnh tiến triển, nó làm cho các cử động trên mọi phần của cơ thể mất khả năng kiểm soát Sự mất mát các tế bào não dẫn tới mất trí nhớ và khả năng suy xét, góp phần đẩy nhanh sự suy thoái Cuối cùng, mất luôn các kỹ năng vận động làm cho không nuốt và nói năng được Cái chết thường xảy ra sau khi các triệu chứng đó bắt đầu biểu hiện khoảng 10-20 năm (Campbell và Reece 2001)