1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tìm hiểu việc sử dụng các biện pháp kế hoạch hóa gia đình của cặp vợ chồng tại xã quỳnh văn huyện quỳnh lưu tỉnh nghệ an

99 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 877,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quỳnh Văn là một địa bàn nông thôn, nơi đời sống của người dân từng bước được cải thiện nhưng nhìn chung đời sống vẫn còn vất vả, điều kiện tiếp cận các dịch vụ sử dụng các biện pháp KHH

Trang 1

Tr-ờng đại học vinh

khoa lịch sử

===  ===

Nguyễn thị h-ơng

Khóa luận tốt nghiệp đại học

Tìm hiểu việc sử dụng các biện pháp kế hoạch hóa gia đình của các cặp vợ chồng tại xã

chuyên ngành Công tác xã hội

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình hoàn thành bài luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Công

Tác Xã Hội với đề tài “Tìm hiểu việc sử dụng các biện pháp Kế hoạch hoá

gia đình của các cặp vợ chồng tại xã Quỳnh Văn - Huyện Quỳnh Lưu – Tỉnh Nghệ An” Bên cạnh sự nổ lực của bản thân, em đã nhận được sự giúp

đỡ động viên nhiệt tình của thầy cô giáo, gia đình và bạn bè

Trước hết, em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô Ngành Công Tác Xã Hôi – Khoa Lịch Sử - Trường Đại Học Vinh đặc biệt là những thầy cô giáo đã tận tình dạy bảo cho em trong suốt thời gian học tập tại trường

Em xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến giảng viên Nguyễn Bích Thuỷ - Người

đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Đồng thời em cũng xin chân thành cảm ơn quý anh chị và ban lãnh đạo

xã Quỳnh Văn, các ban lãnh đạo các thôn và người dân địa phương xã Quỳnh Văn Đặc biệt là Ban DS – GĐ & TE đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thu thập thông tin nghiên cứu

Mặc dù em đã cố gắng hoàn thiện luân văn tốt nghiệp bằng tất cả sự nhiệt tình và năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu quý thầy

Trang 3

CÁC DANH TỪ VIẾT TẮT

CSSKSS/ KHHGĐ: Chăm sóc sức khoẻ sinh sản/ kế hoạch hoá gia đình

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

PHẦN 1: PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tinh cấp thiết của đề tài 1

2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 3

3 Đối tượng, khách thể, mục đích và phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 5

5 Giả thuyết nghiên cứu 6

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

PHẦN 2: NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 7

1.1 Cơ sở lý luận 7

1.1.1 Các lý thuyết làm cơ sở lý luận 7

1.1.2 Các khái niệm công cụ 10

1.2 Cơ sở thực tiễn 12

1.2.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 12

1.2.2 Quan điểm của Đảng và Nhà Nước ta về KHHGĐ và việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ 14

1.2.3 Tầm quan trọng trong việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ của các cặp vợ chồng 17

1.2.4 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 19

CHƯƠNG 2: MỘT VÀI NÉT VỀ VIỆC SỬ DỤNG CÁC BIỆN PHÁP KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH TẠI XÃ QUỲNH VĂN 21

2.1 Một vài nét về việc sử dụng các biện pháp Kế hoạch hóa gia đình của các cặp vợ chồng tại xã Quỳnh Văn 21

2.1.1 Mức độ sử dụng các biện pháp kế hoạch hóa gia đình ở các cặp 24

2.1.2 Nhận thức của các cặp vợ chồng về việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình 29

Trang 5

2.2 Các dịch vụ cung cấp cho các cặp vợ chồng khi thực hiện KHHGĐ 36

2.3 Sự tham gia sử dụng các biện pháp kế hoạch hóa gia đình của người chồng trong gia đình 42

2.4 Những thuận lợi và khó khăn khi sử dụng các biện pháp KHHGĐ của các cặp vợ chồng 49

2.5 Các yếu tố tác động làm ảnh hưởng đến việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ của các cặp vợ chồng 53

2.5.1 Kinh tế hộ gia đình 54

2.5.2 Truyền thống phong tục, tập quán 54

2.5.3 Dịch vụ y tế 56

2.5.4 Hoạt động của tổ chức đoàn thể 58

2.5.5 Pháp luật 60

2.5.6 Kinh phí triển khai công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình 60

2.5.7 Mối quan hệ giữa vợ chồng 62

2.6 Một số giải pháp nhằm nâng cao việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ ở các cặp vợ chồng ở xã Quỳnh Văn 63

2.6.1 Công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của mọi người dân 63

2.6.2 Thay đổi những quan điểm sai lầm về việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ 70

2.6.3 Huy động sự tham gia của nam giới vào việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ 73

2.7 Cung cấp các dịch vụ trợ giúp 76

PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 81

3.1 Kết luận 81

3.2 Khuyến nghị 82

3.2.1 Đối với ủy ban nhân dân, các ban ngành Xã Quỳnh Văn 83

3.2.2 Đối với gia đình và cộng đồng 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

Trang 6

PHẦN 1: PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tinh cấp thiết của đề tài

“Công tác dân số kế hoạch hoá gia đình là một bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển của đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế - xã hội hàng đầu, là yếu tố nâng cao chất lượng cuộc sống của toàn xã hội, là mục tiêu hướng đến hàng đầu của toàn đảng, toàn dân, toàn dân tộc, không một tổ chức, cá nhân nào nằm ngoài cuộc vận động này” [1; tr 55] Theo thông báo của tổng cục thống kê, cuối năm 2011, dân số trung bình cả nước ta ước tính đạt 87,84 triệu người, tăng 1,04% so với năm 2010, với một đất nước có dân

số đông và tốc độ gia tăng dân số hàng năm là 1triệu người/ 1 năm thì đây không phải là vấn đề đơn giản đối với nước ta Chúng ta đã biết hậu quả của bùng nổ dân số ảnh hưởng rất lớn đối với đời sống kinh tế văn hoá, chính trị,

xã hội, ảnh hưởng đến tất cả mọi mặt của đời sống, tới chất lượng cuộc sống, gây ra nhiều hệ lụy như: Nghèo đói, thất học, bệnh tật và nảy sinh các vấn đề tiêu cực đối với xã hội… Vì vậy việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ là một biện pháp có vai trò rất quan trọng nhằm giảm sức ép của hậu quả gia tăng dân số để sớm ổn định dân số ở mức hợp lý, việc giải quyết đồng bộ, từng bước có trọng điểm từng yếu tố chất lượng, cơ cấu dân số và phân bố nhằm phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá hiên đại hoá đất nước là mục tiêu chiến lược của dân số Việt Nam giai đoạn 2001- 2010

Trong đó, chiến lược xác định: Cần xây dựng và thực hiện các chính sách

xã hội để nâng cao vị thế và quyền năng cho phụ nữ, khuyến khích nam giới

và phụ nữ sử dụng các biện pháp kế hoạch hóa gia đình Việc thu hút sự tham gia của nam giới và nữ giới vào các vấn đề sức khỏe sinh sản đặc biệt là vào việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ là hết sức quan trọng, nó góp phần quan trọng trong việc cùng với vợ trao đổi và gánh vác trách nhiệm trong quyết định về các biện pháp KHHGĐ sử dụng, từ đó đi đến được việc điều tiết được

Trang 7

số con, điều tiết sinh con, khoảng cách sinh con, đảm bảo sức khỏe cho mọi người dân

Chương trình DS – KHHGĐ trong thời gian đã có tác động tích cực tác động đến nhận thức của người dân, cung cấp cho họ có sự hiểu biết về các biện pháp KHHGĐ như: Việc tránh thai an toàn như uống thuốc, dùng bao cao su, triệt sản, bằng phương pháp tự nhiên, tuy nhiên sự hiểu biết đó mới chỉ được ở một số cộng đồng dân cư thành thị, nơi có trình đô học vấn cao, có các phương tiện truyền thông cung cấp thông tin phát triển, còn ở vùng nông thôn thì vấn đề đó chưa được quan tâm đúng mức vì vậy họ chưa có nhận thức đúng về việc sử dụng các biên pháp KHHGĐ

Quỳnh Văn là xã đang phát triển của huyện Quỳnh Lưu Cũng như các địa phương khác trong cả nước, một trong những vấn đề xã hội nổi cộm ở xã Quỳnh Văn là tình trạng gia đình sinh con thứ 3 trở lên còn khá phổ biến Việc thực hiện các biện pháp KHHGĐ chưa phát huy hiệu quả Mặc dù đã được sự quan tâm của Nhà Nước cũng như Tỉnh, Huyện nhưng công tác y tế, tuyên truyền, các dịch vụ về KHHGĐ chưa đáp ứng đủ nhu cầu cơ bản của nhân dân, dẫn đến việc người dân còn nhận thức sai, không hiểu biết về việc các biện pháp KHHGĐ, cùngvới quan niện “trọng nam khinh nữ,” “trời sinh voi trời sinh cỏ” “nhiều con, nhiều lộc” đã làm cho việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ chưa được các cặp vợ chồng quan tâm

Từ thực tế đó đã cho thấy tầm quan trọng to lớn của việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ, và có ý nghĩa thực tiễn hơn bao giờ hết Quỳnh Văn là một địa bàn nông thôn, nơi đời sống của người dân từng bước được cải thiện nhưng nhìn chung đời sống vẫn còn vất vả, điều kiện tiếp cận các dịch vụ sử dụng các biện pháp KHHGĐ còn nhiều hạn chế vì vậy việc thực hiện các biện pháp KHHGĐ góp phần nâng cao hiệu quả trong việc giảm tỷ lệ sinh, nâng cao nhận thức cho người dân về các kiến thức sử dụng các biện pháp KHHGĐ Trong đề tài này tôi đi sâu vào tìm hiểu viêc Sử dụng các biện pháp

Trang 8

KHHGĐ của các cặp vợ chồng từ đó xem xét góp phần đưa ra những giải pháp trong việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ của các cặp vợ chồng tại xã Quỳnh Văn – Huyện Quỳnh Lưu – Tỉnh Nghệ An Từ các lý do trên tôi chọn

đề tài: “Tìm hiểu việc sử dụng các biện pháp kế hoạch hoá gia đình của các

cặp vợ chồng tại xã Quỳnh Văn – Huyện Quỳnh Lưu – Tỉnh Nghệ An”

Làm đề tài nghiên cứu

2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

2.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa khoa học rõ ràng điều này thể hiện: Trước hết kết quả nghiên cứu hoàn thiện và làm sáng tỏ các lý thuyết xã hội học, cụ thể là giúp ta nghiên cứu rõ hơn cá lý thuyết cấu trúc chức năng, lý thuyết mâu thuẫn, lý thuyết vai trò

…Vận dụng vào vấn đề nghiên cứu việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về nội dung của các lý thuyết được ứng dụng trong vấn đề nghiên cứu.Thứ hai, kết quả nghiên cứu góp phần hình thành nên nhữg quan niệm khoa học về vấn đề việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ Hiện nay vẫn còn nhiều quan niệm sai lầm về vấn đề này Điển hình là quan niệm sử dụng các biện pháp kế hoạch hoá gia đình: Như các biện pháp ngăn ngừa, nhằm điều chỉnh khoảng cách sinh con, đáp ứng nhu cầu tránh thai, kế hoạch hoá gia đình cho từng cặp vợ chồng Và cả nam giới và nữ giới cùng tham gia, chia sẽ với nhau trong việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ

2.2 Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu góp phần đánh giá thực trạng và đưa ra một số giải pháp tích cực cho việc cung cấp các biện pháp KHHGĐ của các cặp vợ chồng tại Xã Quỳnh Văn – Huyện Quỳnh Lưu – Tỉnh Nghệ An Thông qua nghiên cứu chính quyền Xã Quỳnh Văn có thể nhìn thấy tổng quát thực trạng, tiến bộ, hạn chế Và tầm quan trọng trong việc thực hiện các biện pháp KHHGĐ Các cặp vợ chồng Xã Quỳnh Văn tìm hiểu được các dịch vụ, tiếp cận được những

Trang 9

thông tin quan trọng về việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ Đồng thời kết quả nghiên cứu đã đưa ra được những giải pháp thiết thực trong việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ, sức khoẻ sinh sản, nghèo đói bệnh tật mà do vấn đề

dân số đưa lại

3 Đối tượng, khách thể, mục đích và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Tìm hiểu việc sử dụng các biện pháp kế hoạch hoá gia đình tại Xã Quỳnh Văn – Huyện Quỳnh Lưu – Tỉnh Nghệ An

gian sinh con, khoảng cách năm sinh con để nhằm bảo vệ sức khoẻ, nuôi dạy con có trách nhiệm, phù hợp với chuẩn mực xã hội và điều kiện sống của gia đình, thực hiện tốt chủ trương của đảng và nhà nước đặt ra

Nghiên cứu việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ của các cặp vợ chồng tại xã Quỳnh Văn nhằm vận dụng các kiến thức đã học vào quá trình làm việc

Trang 10

với các đối tượng để tìm ra thực trạng và nguyên nhân của vấn đề Từ đó phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề, cũng như chính quyền địa phương đưa

ra nhũng giải pháp phù hợp cho tình trạng này

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp quan sát

Đề tài sử dụng phương pháp quan sát nhằm kiểm tra lại các tư liệu thu thập bằng các phương pháp khác nhau Trên cơ sở đó sẽ cung cấp những thông tin vấn đề thực hiện các biện pháp KHHGĐ như thế nào, mức độ sử dụng và kiến thức về việc thực hiện KHHGĐ của các cặp vợ chồng

Xã Quỳnh Văn hiện nay như thế nào

Quan sát hình thức, mức độ sử dung các dịch vụ các biện pháp KHHGĐ của các cặp vợ chồng tại xã Quỳnh Văn – Huyện Quỳnh Lưu - Tỉnh Nghệ An

tế, 1 cán bộ dân số, cộng tác viên dân số

4.3 Phương pháp phân tích tài liệu

Các tài liệu được sử dụng trong nghiên cứu gồm: Những nghiên cứu khoa học về báo cáo nghiên cứu, đánh giá, tổng kết do uỷ ban Dân số - Gia đình và Trẻ em Huyện Quỳnh Lưu, ban Dân số - Gia đình và Trẻ em của Xã

Trang 11

Quỳnh Văn, báo cáo công tác y tế, kinh tế, văn hóa, xã hội của Xã Quỳnh Văn

và một số tài liệu liên quan khác được sử dụng phân tích và trích dẫn trong nội dung của cuộc nghiên cứu

5 Giả thuyết nghiên cứu

- Nhận thức của các cặp vợ chồng ở xã Quỳnh Văn về việc thực hiện các biện pháp KHHGĐ còn nhiều hạn chế

- Hoàn cảnh kinh tế gia đình ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện KHHGĐ của các cặp vợ chồng ở xã Quỳnh Văn – Huyện Quỳnh Lưu – Tỉnh Nghệ An

- Kết quả nghiên cứu việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ của các cặp

vợ chồng tại Xã Quỳnh Văn sẽ đưa ra được những giải pháp thiết thực giúp người dân có những kinh nghiệm, sự hiểu biết về trách nhiệm của mình hơn

về việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Mô tả thái độ sử dụng các biện pháp KHHGĐ của các cặp vợ chồng tại

Xã Quỳnh Văn, những khó khăn hạn chế trong việc thực hiện các biện pháp KHHGĐ tại Xã Quỳnh Văn - Huyện Quỳnh Lưu – Tỉnh Nghệ An

- Tìm hiểu những nguyên nhân ảnh hưởng đến việc thực hiện các biện pháp thực hiện KHHGĐ của các cặp vợ chồng tại Xã Quỳnh Văn- Huyện Quỳnh Lưu – Tỉnh Nghệ An

- Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lương cung cấp các dịch

vụ để áp dụng thực hiện các biện pháp KHHGĐ, phát huy những măt tích cực

đã đạt được và khắc phục những hạn chế trong việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ của các cặp vợ chồng tại Xã Quỳnh Văn- Huyện Quỳnh Lưu – Tỉnh Nghệ An

Trang 12

PHẦN 2: NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Các lý thuyết làm cơ sở lý luận

1.1.1.1 Lý thuyết cấu trúc chức năng

Lịch sử của lý thuyết cấu trúc chức năng gắn liền với tên tuổi của các nhà

xã hội học như: Auguste Comte, Herbert Spencder, Emile Durkheim, Vilfredo Pareto, Athur Radcliffe – Brown, Robert Merton… Nội dung của lý thuyết này nhấn mạnh hệ thống xã hội bao gồm nhiều bộ phận, nhiều cơ quan cùng liên kết chặt chẽ với nhau cấu thành nên một chỉnh thể mà mỗi bộ phận đều

có những chức năng nhất định

Trong thuyết chức năng được chia thành 4 loại tiểu hệ thống:

- Tiểu hệ thống thích ứng: Có chức năng cung cấp các phương tiện,

nguồn lưc và năng lượng để thực hiên các mục đích để xác định

- Tiểu hệ thống hướng đích: Có chức năng xây dựng các mục tiêu và

định hướng cho toàn bộ hệ thống vào việc thực hiện các mục đích đã được xác định

- Tiểu hệ thống liên kết: Thực hiện chức năng gắn kết cá nhân, các nhóm

tổ chức xã hội, đồng thời giám sát xã hội

- Tiểu hệ thống bảo tồn: Thực hiện các chức năng kích thích, động viên

các cá nhân và nhóm xã hội, đồng thời đảm nhận các chức năng quản lý và bão trì các khuôn mẫu hành vi, ứng xử của các thành viên

Nhà xã hội học là Murdock đã tiến hành một cuộc nghiên cứu trong 20 xã hội khác nhau và rút ra kết luận: Gia đình thực hiện 4 chức năng cơ bản đó là:

- Chức năng tình dục: Nhằm thoả mãn nhu cầu tự nhiên, tâm – sinh lý

tình cảm thể xác lẫn tinh thần giữa 2 vợ chồng

Trang 13

- Chức năng sinh sản: Vừa đáp ứng nhu cầu tự nhiên, tâm sinh lý của

con người và đồng thời mang ý nghĩa xã hội

- Chức năng kinh tế: Nhằm đáp ứng những nhu cầu cơ bản về vật chất

cho các thành thành viên trong gia đình

- Chức năng giáo dục: Đây là chức năng rất quan trọng trong gia đình,

cha mẹ có nghĩa vụ yêu thương, nuôi dưỡng con cái cả về thể chất lẫn tinh thần để con cái trở thành những công dân có ích cho xã hội

Khi áp dụng để phân tích vấn đề nghiên cứu việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ xem xet mối liên hệ giữa chức năng mà gia đình đó thực hiện là chức năng tình dục và chức năng sinh sản có tác động, ảnh hưởng như thế nào tới việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ của các cặp vợ chồng

Xem xét khi gia đình thực hiện chức năng tình dục, thì trong quá trình thực hiện chức năng này có tác động tích cực hoặc hạn chế đến việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ như thế nào

Xem xét gia đình khi thực hiện chức năng sinh sản, nó tác động ảnh hưởng tới việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ như thế nào, nó tác động tới mức nào là thực hiện chức năng ổn định dân số và xã hội, thực hiện chức năng làm giảm nguy cơ gây ảnh hưởng đến xã hội mà dân số gây ra, giảm kìm hãm sự phát triển đất nước, giúp xã hội phát triển và ổn định hơn

1.1.1.2 Lý thuyết mâu thuẫn

Lý thuyết mâu thuẫn được hình thành từ thế kỷ XIX bằng những công trình nghiên cứu của K.Marx và F Engels và các tác giả nổi bật của khuynh hướng lý thuyết mâu thuẩn trong xã hội là Vilfedo Pareto, Thorstein Velblen, Georg Simmel, Robert Park, Robert Michels, Lewis Conser… Những lý thuyết này nó không nhấn mạnh ổn định, trật tự, công bằng mà nó nhấn mạnh

sự mâu thuẩn, xung đột và biến đổi xã hội cùng với sự mâu thuẫn, xung đột

nó nghiên cứu đến những mâu thuẫn giữa các thành viên, cá nhân, nhóm trong xã hội với nhau Nguyên nhân là sự khan hiếm các nguồn lực và sự bất

Trang 14

bình đẳng trong việc phân bố các nguồn lực nên quan hệ giữa các cá nhân, các nhóm xã hội luôn nằm trong tình trạng mâu thuẫn, cạnh tranh vì lợi ích

Vận dụng lý thuyết mâu thuẫn vào đề tài nghiên cứu: Trong gia đình xảy

ra những mâu thuẫn giữa các thành viên về mọi mặt như: Ai sử dụng các biện pháp nào, mâu thuẫn ai là người quyết định sinh con, khoảng cách sinh con, mâu thuẫn trong việc chia sẽ khó khăn trong việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ

Ngoài ra có những mâu thuẫn về lợi ích sức khoẻ, nhu cầu tâm lý, sinh lý… Nó ảnh hưởng rất lớn việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ của các cặp

vợ chồng

Áp dụng lý thuyết mâu thuẫn vào phân tích, chúng ta nhận thấy nếu như

có sự mâu thuẫn giữa các cặp vợ chồng trong việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ thì sẽ dẫn đến tình trạng bất bình đẳng trong việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ, qua đó rút ra được những giải pháp giải quyết được những mâu thuẫn đó nâng cao hiệu quả chất lượng sử dụng các biện pháp KHHGĐ của các cặp vợ chồng

1.1.1.3 Lý thuyết vai trò

Thuyết vai trò ra đời với sự đóng góp của các nhà xã hội học và tâm lý học, đại diện tiêu biểu cho các nhà xã hội học theo lý thuyết này là Robetsons Thuyết vai trò có mối quan hệ chặt chẽ với thuyết cấu trúc - chức năng của tác giả A.Comte, E.Durkhem, H.Spence… Thuyết nhấn mạnh đến tính liên kết của các bộ phận cấu thành nên chỉnh thể mà mỗi bộ phận đều có chức năng nhất định góp phần đảm bảo sự tồn tại của chỉnh thể với tư cách là một cấu trúc tương đối ổn định và bền vững

Theo Robersons, vai trò là tập hợp các chẩn mực, hành vi, quyền lợi và nghĩa vụ được gắn liền với một vị thế xã hội nhất định

Mỗi cá nhân tham gia vào mối quan hệ xã hội khác nhau do vậy mỗi các nhân có nhiều vai trò xã hội Khi có nhiều vai trò khác nhau đo đó những momg muốn khác nhau phù hợp với các vai trò mà cá nhân đó đảm nhận

Trang 15

Thực hiện vai trò xã hội là cá nhân đã thực hiện một hệ thống, tập hợp các hành vi mà các xã hội mong đợi trên cơ sở phù hợp với những giá trị, chuẩn mực ứng với vị thế xã hội của cá nhân

Đối với những cặp vợ chồng, họ có vai trò là người vợ, người mẹ, người chồng, người cha Ngoài xã hội họ có thể đóng vai trò là người quản lý là người làm công ăn lương, người giáo viên… Những vai trò đó có ảnh hưởng đến việc thực hiện và sử dụng các biện pháp KHHGĐ ở các mức độ khác nhau Những vai trò mà các cặp vợ chồng đảm nhận trong gia đình cũng như ngoài xã hội và việc cùng lúc phải đảm nhận nhiều vai trò khác nhau là nhân

tố ảnh hưởng đến việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ Bên cạnh đó là sự xung đột, mâu thuẫn, những khó khăn trong việc thực hiện vai trò cũng tác động lớn đến việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ của các cặp vợ chồng

1.1.2 Các khái niệm công cụ

1.1.2.1 Gia đình

Gia đình là một nhóm xã hội được hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc được nuôi dưỡng tuy không có máu mũ Các thành viên trong gia đình gắn bó với nhau về quyền lợi và trách nhiệm, giữa

họ có sự ràng buộc, có tính pháp lý được nhà nước thừa nhận và bảo vệ Đồng thời có những quy định rõ ràng về quyền được phép và cấm đoán quan hệ tình dục giữa các thành viên trong gia đình [16]

1.1.2.2 Kế hoạch hóa gia đình

Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về kế hoạch hoá gia đình

Kế hoạch hoá gia đình là việc lập kế hoạch hoá gia đình khi nào có trẻ

em, và việc sử dụng kiểm soát sinh sản và các kĩ thuật khác để thực hiện các

kế hoạch đó các kĩ thuật thường được sử dụng bao gồm: Giáo dục giới tính, ngăn chặn và quản lý các bệnh lây truyền qua đường tình dục, tư vấn trước khi mang thai và tư vấn vô sinh

Kế hoạch hoá gia đình thỉnh thoảng được sử dụng như một thuật ngữ đồng nghĩa với kiểm soát sinh sản, dù nó có nội hàm lớn hơn nó chủ yếu được

Trang 16

áp dụng với một cặp nam – nữ muốn hạn chế số lượng trẻ em họ có hay kiểm soát thời gian mang thai (cũng được coi là dãn cách sinh sản)” [2; tr.18]

Kế hoạch hoá gia đình là sự nổ lực của nhà nước, xã hội để mỗi cá nhân, mỗi cặp vợ - chồng tự nguyện chủ động quyết định: Khi nào nên có con, khoảng cách giữa 2 lần sinh, số con mong muốn, khi nào thì thôi không sinh nữa… Nhằm bảo vệ sức khoẻ, nuôi dạy con có trách nhiệm, phù hợp với chuẩn mực xã hội và điều kiện sống của mỗi gia đình [3]

Kế hoạch hóa gia đình là biện pháp chủ yếu để điều chỉnh mức sinh góp phần đảm bảo cuộc sống no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc [3]

1.1.2.3 Các biện pháp kế hoạch hóa gia đình

Các biện pháp Kế hoạch hoá gia đình là bao gồm các biện pháp ngăn ngừa, nhằm điều chỉnh các khoảng cách sinh con phù hợp, đáp ứng nhu cầu tránh thai, kế hoạch gia đình cho các cặp vợ chồng, bao gồm các biện pháp:

* Biện pháp dùng hooc môn: Uống thuốc tránh thai, thuốc tiêm phá thai, cấy ghép dưới da

* Biện pháp không dùng hooc môn: Dụng cụ tử cung, triệt sản tự nguyện, thắt và cắt ống dẫn tinh, thắt và cắt vòi dẫn trứng, dùng bao cao su

* Biện pháp tự nhiên: Xuất tinh ngoài âm đạo, tính vòng kinh, đo thân nhiệt, theo dõi chất nhầy ở cổ tử cung [4; tr 61]

1.1.2.4 biện pháp thực hiện kế hoạch hoá gia đình

Biện pháp thực hiện kế hoạch hoá gia đình bao gồm:

a Tuyên truyền, tư vấn, đảm bảo để mỗi cá nhân, cặp vợ chồng chủ động, tự nguyện, thực hiện kế hoạch hoá gia đình

b Cung cấp các dịch vụ kế hoạch hoá gia đình đảm bảo chất lương, thuận tiện, an toàn và đến tận người dân

c Khuyến khích lợi ích vật chất và tinh thần, thực hiện các chính sách bảo hiểm để tạo động lực thúc đẩy để việc thực hiện kế hoạch hoá gia đình được sâu rộng trong nhân dân [5]

Trang 17

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ là một vấn đề quan trọng nó nằm trong chương trình kế hoạch hướng tới thực hiện tốt hơn mục tiêu của chính sách dân số ở nước ta: Do đó nó ảnh hưởng và tác động sâu sắc đến nhiều lĩnh vực như: Công tác dân số, sự pháp triển kinh tế, chăm sóc sức khoẻ, sự phát triển của và hội nhập của đất nước Nên vấn đề này dâng thu hút được sự quan tâm của toàn xã hội

Việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ của các cặp vợ chồng là một mục tiêu lớn của chiến lược DS – KHHGĐ của Đảng và Nhà Nước ta, vì vậy vấn

đề đó được sự quan tâm của Đảng, Nhà Nước và của toàn xã hội

Ở Việt Nam Tổng cục dân số KHHGĐ được thành lập theo quy định số 18/2008/ QĐ – TTG ngày 28/1/2008 của Thủ Tướng Chính Phủ, của Bộ Y Tế

có nhiệm vụ và quyền hạn chức năng tham mưu cho Bộ Y Tế về DS – KHHGĐ, tuyên truyền vận động sinh đẻ có kế hoạch, quản lý quy mô dân số,

cơ cấu dân số…

Tại hội nghị dân số và phát triển (ICPD) tại cairo năm 1994 và The

Hageu năm 1999 ICPD + 5 nhấn mạnh: “Muốn thực hiện kế hoạch hoá gia

đình hay nói cách khác biết điều khiển việc sinh sản thì phải áp dụng các biện pháp tránh thai một cách khoa học là một thành tựu kỹ thuật của thế kỷ 20”

Đề tài khoa học của bác sỹ Nguyễn Thị Ngọc Phượng (bệnh viện Từ Dũ Thành Phố Hồ Chí Minh) về chăm sóc sức khoẻ trên cơ sở nghiên cứu 1400 phụ nữ đến nạo thai tai bệnh viện Từ Dũ và nghiên cứu 1400 phụ nữ dưỡng thai đang sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh kết quả nghiên cứu cho thấy

có 14,4 % phụ nữ không biết sử dụng các biện pháp tránh thai

Cuộc điều tra “Nhân Khẩu Học và sức khoẻ năm 1988” là cuộc điều tra

đầu tiên cung cấp khá chi tiết về sử dụng các biện pháp KHHGĐ ở Việt Nam kết quả cho thấy: Có 53% phụ nữ trong độ tuổi 15 - 49 tuổi hiện đang sử dụng

Trang 18

biện pháp tránh thai bất kỳ, trong đó hơn một nửa (62,8%) dùng dụng cụ tử cung, 51% thực hiện định sản nữ, trong khi chưa đến 1% thực hiện định sản nam, mức sử dụng Bao cao su rất thấp, (2,2%)và vẫn còn 1/4 dựa vào biện pháp truyền thống Tuy nhiên do những khác biệt về lịch sử cơ cấu biện pháp tránh thai khác biệt giữa miền bắc và miền nam: Miền Bắc có sử dụng dụng

cụ tử cung có hơn (47,2%), Miền Nam 17,3%, trong khi các biện pháp khác tỷ

lệ sử dụng ở Miền Bắc đều thấp hơn Miền Nam như: Biện pháp tiêm tránh thai (9,6% so với 19,3%), triệt sản nữ (0,7% so với 4,9%), Bao cao su (0,7%

so với 1,6%), và viên thuốc tránh thai (0,2% so với 0,7%)

Chương trình “Thúc đẩy các dịch vụ Kế hoạch hoá gia đình dài hạn và

vĩnh viễn tại Việt Nam” Được tổ chức bởi tổ chức phi chính phủ lợi nhuận

của Anh hoạt động trong lĩnh vực SKSS, phối hợp với các đối tác địa phương

là trung tâm SKSS cộng đồng thực hiện tại 30 Tỉnh, Thành Phố Đối tượng chính là những phụ nữ và nam giới tại vùng nông thôn xa xôi, khó khăn của Việt Nam với mục tiêu cung cấp khoảng trên 260.000 ca đặt dụng cụ tử cung

và 4.000 ca triệt sản

Hội nghị do quỹ dân số Liên Hiệp Quốc tổ chức tại newyork, gồm các chuyên gia hàng đầu thế giới bàn về cách tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản – KHHGĐ tại các nước phát triển nhằm đẩy mạnh nhu cầu về các biện pháp tránh thai cho phụ nữ

Tại Việt Nam chiến lược dân số gia đoạn 2001 – 2010 do chính phủ phê duyệt đã và đang thực hiện khá thành công Trong chiến lược này có một giải

pháp quan trọng ở lĩnh vực CSSKSS – KHHGĐ là “Hạn chế mực thấp nhất

tình trạng có thai ngoài ý muốn” Theo Tổng cục thông kê điều tra về biến

động DS và KHHGĐ giai đoạn 2005 – 2007, tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai tại Việt Nam ngày càng tăng duy trì ở mức cao là 7,68% năm 2005 đến 79% năm 2007, trong đó phụ nữ sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại cũng tăng dần (Từ 65,7% năm 2005 đến 68,2% năm 2007) Hệ thống y tế việt

Trang 19

nam cung cấp đầy đủ các biện pháp tránh thai bao gồm biện pháp tạm thời và biện pháp vĩnh viễn

Bài viết “Thấy gì qua thực trạng nạo hút thai và công tác kế hoạch hoá

gia đình hiện nay” của Đặng Hà Phương và Nguyễn Thanh Liêm – Tạp chí xã

hội học số 1/1998 đã nói đến thực trạng nạo hút thai của phụ nữ và việc thực hiện công tác KHHGĐ hiện nay

Qua những nghiên cứu trên chúng ta thấy được tầm quan trọng của việc

sử dụng các biện pháp KHHGĐ đối với mỗi cặp vợ chồng, mỗi gia đình và toàn xã hội, thực trạng việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ của các cặp còn gặp rất nhiều khó khăn Mặc dù đã được sự quan tâm Đảng và Nhà Nước, nhưng trên thực tế việc trên thực tế việc thực hiện các biện pháp KHHGĐ ở Việt Nam Các dịch vụ KHHGĐ dành cho các cặp vợ chồng còn thiếu, Nhận thức về KHHGĐ còn kém, hạn chế về công tác tuyên truyền, nghèo đói… là những nguyên nhân cản trở việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ của các cặp

vợ chồng

Tóm lại đã có nhiều nghiên cứu, báo cáo…Về vấn đề thực hiện KHHGĐ, chăm sóc sức khoẻ sinh sản Tuy nhiên trong nghiên cứu về việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ không nhiều Từ đó ta nhận thấy rằng những nghiên cứu phần lớn mang tính chất thống kê vĩ mô, chưa đi sâu vào những nguyên nhân cản trở khó khăn trong việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ đối với các cặp

vợ chồng, nên các nghiên cứu trên chỉ liên quan một phần đến đề tài nghiên cứu này Chưa có nghiên cứu nào trùng khớp hoàn toàn với đề tài và phạm vi

nghiên cứu Do đó, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Tìm

hiểu việc sử dụng các biện pháp kế hoạch hoá gia đình của các cặp vợ chồng tại Xã Quỳnh Văn – Huyện Quỳnh Lưu – Tỉnh Nghệ An”

1.2.2 Quan điểm của Đảng và Nhà Nước ta về KHHGĐ và việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ

Như chúng ta đã biết, thực hiện KHHGĐ tốt là một điều kiện, nhân tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Vì vậy Đảng và Nhà Nước ta rất quan

Trang 20

tâm đưa ra các chủ trương, chính sách thực hiện thông qua các nghị quyết, pháp lệnh cụ thể Như:

Pháp lệnh dân số 2003 đã giải thích từ ngữ kế hoạch hoá gia đình

Kế hoạch hoá gia đình là sự nổ lực của Nhà nước, xã hội để mỗi cá nhân, cặp vợ chồng chủ động, tự nguyện quyết định số con, thời gian sinh con và khoảng cách các lần sinh nhằm bảo vệ sức khoẻ, nuôi dạy con có trách nhiệm, phù hợp với chuẩn mực xã hội và điều kiện sống của gia đình Trong pháp lệnh này đã đưa ra các quy định cụ thể về vấn đề kế hoạch hoá gia đình: Kế hoạch hoá gia đình là biện pháp chủ yếu để điều chỉnh mức sinh góp phần đảm bảo cuộc sống no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc: Biện pháp thực hiện hoạch hoá gia đình bao gồm: Tuyên truyền, tư vấn, giúp đỡ đảm bảo để mỗi

cá nhân, cặp vợ chồng chủ động, tự nguyện thực hiện kế hoạch hoá gia đình Cung cấp các dịch vụ kế hoạch hoá gia đình đảm bảo chất lượng, thuận tiện,

an toàn và tận đến người dân Khuyến khích lợi ích vật chất và tinh thần, thực hiện các chính sách bảo hiểm để tạo động lực thúc đẩy việc thực hiện các biện pháp kế hoạch hoá gia đình sâu rộng trong nhân dân Nhà Nước hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các chương trình, dự án kế hoạch gia đình; Ưu tiên đối với vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn và người chưa đến tuổi thành niên

Quyền và nghĩa vụ của mỗi cặp vợ chồng, cá nhân trong việc thực hiện

kế hoạch hoá gia đình như: Mỗi cặp vợ chồng và cá nhân có quyền, lựa chọn,

sử dụng các biện pháp KHHGĐ Mỗi cặp vợ chồng và cá nhân có nghĩa vụ:

Sử dụng các biện pháp tránh thai [5] Đồng thời pháp lệnh cũng quy định rõ Mỗi cặp vợ chồng và cá nhân có nghĩa vụ: Sử dụng các biện pháp tránh thai; Bảo vệ sức khoẻ và thực hiện các biện pháp phòng tránh các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản và các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS; Thực hiện các nghĩa vụ khác liên quan đến chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình [5]

Trang 21

Luật hôn nhân và gia đình năm 2000

Trong luật hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng nêu rõ về vấn đề này như: Vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình; Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con thành công dân có ích cho xã hội; Không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con; Nhà nước và xã hội có trách nhiệm bảo vệ phụ nữ và trẻ em, giúp đỡ các bà mẹ thực hiện chức năng cao quý của người mẹ

Quy định mỗi cặp vợ chồng và cá nhân có quyền và nghĩa vụ chăn sóc sức khoẻ sinh sản, sử dụng các biện pháp kế hoạch hoá gia đình [6; tr 18] Mỗi cặp vợ chồng phải có trách nhiệm, quyền bình đẳng như nhau trong việc quết định sử dụng các biện pháp KHHGĐ Vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện chính sách dân số và KHHGĐ Nam giới phải có trách nhiệm, nhiệm vụ chia sẽ, giúp đỡ nữ giới trong việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ [7]

Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định

Nhà Nước, xã hội, gia đình và công dân có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc

bà mẹ và trẻ em; Thực hiện tốt công tác dân số kế hoạch hoá gia đình

Trang 22

Nam giới và nữ giới phải bình đẳng trong việc thực hiện các biện pháp KHHGĐ, phải có sự tham gia của thành phần nam giới, nam giới sẽ chia sẽ những khó khăn, lợi ích trong việc thực hiện các biện pháp KHHGĐ với nữ giới Trong Nghị định 104/2003/NĐ-CP quy định: Nghiêm cấm các hành vi cản trở, cưỡng bức thực hiện KHHGĐ; cấm đe doạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, xâm phạm thân thể người sử dụng biện pháp tránh thai, người sinh toàn con trai hoặc toàn con gái; nghiêm cấm các hành vi lựa chọn giới tính thai nhi

1.2.3 Tầm quan trọng trong việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ của các cặp vợ chồng

- Đối với gia đình

Như chúng ta đã biết, việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của các cặp vợ chồng về tất cả các lĩnh vực của đời sống Tầm quan trọng thứ nhất là nó ảnh hưởng đến sức khoẻ của các thành viên trong gia đình.Việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ không chỉ có ý nghĩa đối với bản thân người thực hiện mà còn quan trọng đối với tất cả các thành viên trong gia đình Đối với người vợ thì việc thực hiện các biện pháp KHHGĐ sẽ giúp họ bảo vệ được sức khoẻ sinh sản cả về thể chất lẫn tinh thần, giải thoát cho họ khỏi các vòng luẫn quẫn mang thai, sinh đẻ, nuôi con nhỏ rồi lại mang thai, sinh đẻ, nuôi con nhỏ… Để phụ nữ có thời gian, sức khoẻ và tâm trí tham gia học tập, lao động, đối với người chồng sử dụng các biện pháp KHHGĐ ngoài việc tránh thai còn ngăn ngừa được các bệnh lây lan qua đường tình dục

Như vậy chúng ta thấy rõ tầm quan trọng của việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ giúp cho cả vợ và chồng cùng có trách nhiệm hơn trong việc bảo vệ sức khoẻ cho cả 2 vợ chồng Đảm bảo sức khoẻ an toàn cho cả 2 vợ chồng, không những thế mà làm cho nam giới nhận thức được vai trò và trách nhiệm của bản thân mình đối với gia đình

Trang 23

Việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ ở các cặp vợ chồng còn có ý nghĩa

to lớn đến đời sống kinh tế gia đình Giúp cho các cặp vợ chồng có nhiều thời gian điều kiện, cơ hội để phát triển sự nghiệp, tăng thu nhập cho gia đình kinh

tế gia đình được phát triển hơn, đời sống vật chất và tinh thần được nâng lên,

có thể tham gia nhiều lĩnh vực nghề nghiệp hơn

Ngoài ra việc thực hiện các biện pháp KHHGĐ sẽ giúp cho các cặp vợ chồng có nhiều thời gian và điều kiện hơn để chăm sóc và nuôi dạy con cái, tạo cho không khí gia đình vui vẻ hạnh phúc

- Đối với xã hội

Việc sử dụng các biên pháp KHHGĐ bên cạnh vai trò to lớn trong đời sống gia đình của cá cặp vợ chồng thì nó có tầm quan trọng rất lớn đối với sự phát triển của Đất Nước, nó liên quan đến toàn bộ công cuộc xây dựng và bảo

vệ Tổ Quốc của chúng ta Thực hiện việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ chính là việc thực hiện chức ổn định dân số và xã hội, thực hiện chức năng làm giảm nguy cơ gây ảnh hưởng mà dân số gây ra như giảm sự kìm hãm phát triển của đất nước Giúp xã hội ổn định hơn đó là nhân tố góp phần hoàn thiện mục tiêu đảm bảo sự hài hoà giữa ổn định dân số và phát triển bền vững của đất nước là cần đẩy để thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội

Bên cạnh đó việc thực hiện KHHGĐ là mục tiêu lớn của Đảng và Nhà Nước ta, thực hiện mục tiêu DS – KHHGĐ nhằm tiến tới một xã hội dân chủ văn minh, vì vậy thực hiện tốt việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ đối với các cặp vợ chồng chính là góp phần thực hiện thành công của Nhà Nước về hiệu quả dân số, góp phần thực hiện thành công mục tiêu thiên niên kỷ góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước và nhân loài

Việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ của các cặp vợ chồng làm tiền đề cho việc thực hiện chiến lược dân số của Đảng và Nhà Nước ta, qua đó sẽ tránh được tình trạng đất chật người đông, bảo vệ môi trường sống, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên không bị cạn kệt, giúp cho cộng đồng không bị

Trang 24

nghèo đói Giảm bớt gánh nặng về nhu cầu giáo dục, nhà ở, chăm sóc y tế, giao thông, việc làm, cấp thoát nước, góp phần đất nước ngày càng phát triển, văn minh

1.2.4 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu

Xã Quỳnh Văn – Huyện Quỳnh Lưu – Tỉnh Nghệ An là một xã đất rộng người đông với diện tích là 1.522,9 ha với tổng dân số là 13.200 khẩu Là một trong 43 đơn vị hành chính của Huyện Quỳnh Lưu Phía Đông giáp: xã Quỳnh Thanh, phía Tây giáp xã Quỳnh Tân, phía Bắc giáp Xã Quỳnh Xuân, phía Nam giáp xã Quỳnh Thạch, Quỳnh Hoa Xã có địa hình bán sơn địa rất phức tạp chia thành 2 vùng rõ rệt: Phía động chạy dọc 2 bên trục quốc lộ 1A với chiều dài 3km đất đai thuận lợi cho việc sản xuất hoa màu, trồng trọt… Phía tây chạy dọc theo dãy đồi cao và lèn trụ hải việc phát triển nông nghiệp gặp nhiều khó khăn có 2.8km đường sắt Bắc Nam Đi qua

Kinh tế: Trong năm 2011 tốc độ tăng trưởng kinh tế là 14,5% cơ cấu

kinh tế: Nông, Lâm, Thuỷ sản: 48,6% Công nghiệp, Xây dựng: 29,6; Dịch vụ: 21,8%; Tổng giá trị tăng (giá hiện hành) đạt: 200.568 triệu đồng; Giá trị tăng

bình quân đầu người / năm: 15,2 triệu đồng

Văn hóa – xã hội: Tình hình Văn hoá – xã hội luôn luôn chuyển biến tích

cực, được sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng uỷ, chính quyền nên đời sống vật chất cũng như tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao Công tác văn hoá: Thực hiện tốt công tác tuyên truyền các chủ trương, đường lối, nghị quyết của đảng, chính sách, pháp luật của Nhà Nước, các quy định của địa phương Đẩy mạnh thực hiện xây dựng “thiết chế văn hoá” Và phong trào

“toàn dân xây dựng đời sống văn hoá tai khu dân cư”

Y Tế, Gia Đình và Trẻ em năm 2011

+ Y tế: Thực hiện tốt nhiệm vụ nhà nước quản lý về y tế, giữ vũng đạt xã

chuẩn quốc gia về y tế, công tác khám, chữa bệnh cho nhân dân ngày càng được chú trọng, nhất là các đối tượng chính sách, xã hội Tổ chức các đợt

Trang 25

khám định kỳ, cấp phát thuốc cho học sinh và những người dân trên địa bàn xã: Trong năm qua, tổng số bệnh nhân đến khám và chữa bệnh điều trị tại trạm 8.580 lượt bệnh nhân trong đó bệnh nhân đến khám nội trú tại trạm là 2.752 người, bệnh nhân điều trị nội trú là: 2602 người

+ Dân số gia đình và trẻ em: Dân số ước tính đến ngày 31/12/1011 là

13.214 người trong đó nữ 6.569 người (chiếm tỷ lệ 49,6%)

Tổng sinh: 224 cháu chiếm tỷ lệ 17% giảm 0,3 % so với cùng kỳ Tỷ lệ sinh con thứ 3: 66 cháu chiếm tỷ lệ 29,5 tăng 2,6 so vố cùng kỳ Tỷ lệ phát triển dân số: 13 % tăng 2,7% so với cùng kỳ

+ Công tác kế hoạch hóa gia đình: Cán bộ chuyên trách dân số KHHGĐ

do UBND xã cử được giao trách nhiệm và nhiện vụ cụ thể Tuyên truyền hướng dẫn cho chị em trong độ tuổi sử dụng các biện pháp KHHGĐ có hiệu quả

Chính sách xã hội

Đảm bảo chế độ chính sách xã hội theo quy định, làm tốt công tác đền ơn đáp nghĩa theo Cấp thẻ bảo hiểm cho người nghèo, người có công, người hưởng chế độ theo quyết định 290, hộ cận nghèo, hưu trí, làm trợ cấp theo nghị định 13/ NĐ – CP cho đối tượng đủ 80 tuổi trở lên, đối tượng hưởng chế

độ tâm thần, tàn tật, người cáo tuổi, cô đơn, đơn thân, nuôi con nhỏ, mồ côi cả cho và mẹ, cấp tiền cho các hộ nghèo nhân dịp tết Hoàn thiện hồ sơ trình phòng Lao Động thương binh – xã hội Huyện Quỳnh Lưu hỗ trợ kinh phí chữa và làm nhà cho đối tượng thuộc hộ nghèo theo nghị định 176/ NĐ – CP

Trang 26

CHƯƠNG 2 MỘT VÀI NÉT VỀ VIỆC SỬ DỤNG CÁC BIỆN PHÁP

KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH TẠI XÃ QUỲNH VĂN

2.1 Một vài nét về việc sử dụng các biện pháp Kế hoạch hóa gia đình của các cặp vợ chồng tại xã Quỳnh Văn

DS – KHHGĐ đã trở thành một trong những nội dung quan trọng trong chương trình hoạt động của các cấp uỷ và chính quyền, các đoàn thể và các tổ chức xã hội, nhận thức của người dân đối với việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ sẽ có những chuyển đổi căn bản quy mô gia đình ít con và dần trở thành chuẩn mực phổ biến của xã hội

Theo điều tra công tác DS - KHHGĐ cho thấy tỷ lệ các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ ở nước ta sử dụng các biện pháp tránh thai tăng từ 73,9% (năm 2001) lên đến 76,8% (năm 2005), 79% (Năm 2007), và đạt 78% (Năm 2010) là mức cao tương đương với mức của các nước đang phát triển (Bình quân là 75%) Trong đó biện pháp tránh thai hiện đại tăng từ 61,1% (Năm 2005) lên 65,7% (năm 2007), 68,2% (Năm 2007) [1; tr 108] Như vậy chúng ta có thể nhận thấy rằng việc sử dụng các biện pháp tránh thai ở nước

ta có xu hướng tăng lên trong từng năm, tỷ lệ sử dụng các biện pháp KHHGĐ của nước ta tương đương với các nước đang phát triển Và tỷ lệ các cặp vợ chồng sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại đã tăng lên đáng kể đặc biệt là giai đoạn (2005 – 2007) tăng từ 61,1% lên 65,7% Từ thực tế đó đã nói lên được người dân ngày càng nhìn nhận đúng về các biện pháp tránh thai hiện đại và sử dụng các biện pháp tránh thai có hiệu quả Đó là một thành công lớn trong chương trình DS – KHHGĐ ở nước ta trong thời gian vừa qua

Trong những năm qua được sự quan tâm của các cấp ủy đảng, chính quyền các tổ chức đoàn thể và sự nổ lực, trách nhiệm của ngành DS – KHHGĐ ở Nghệ

An đã đạt được nhiều thành tựu và kết quả quan trọng Tỷ lệ tăng dân số

Trang 27

nhanh cơ bản đã được khống chế, tỷ lệ giảm sinh vượt kế hoạch so với mục tiêu đề ra Trong 5 năm (2006 – 2010) tỷ lệ gia tăng dân số giảm 1,35% xuống 1,13%, tỷ lệ các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại tăng nhanh từ 72,6% lên 76% và duy trì bền vững trong năm từ 70 – 76% [1; tr 201]

Thành công của chương trình DS – KHHGĐ trong thời gian qua mang nhiều cơ hội cho các cặp vợ chồng trong việc hưởng thụ các quyền lợi về y tế

- CSSKSS - KHHGĐ Vì vậy công tác DS – KHHGĐ là một nhiệm vụ rất quan trọng góp phần phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lương cuộc sống trong sự nghiệp CNH – HĐH Đất Nước Nên việc thực hiện chính sách

DS – KHHGĐ là một trong những lĩnh vực được sự quan tâm của Huyện Uỷ,

uỷ ban nhân dân Huyện Quỳnh Lưu

Trong những năm qua việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Pháp luật của Nhà Nước về công tác DS – KHHGĐ cho người dân Huyện Quỳnh Lưu đạt nhiều thành quả đáng ghi nhận Nhận thức và hành động của cán bộ, Đảng viên và người dân về vệc sử dụng các biên pháp KHHGĐ có nhiều chuyển biến rõ rệt cụ thể mức sinh hàng năm giảm xuống còn 0,3 đến 0,5 Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên còn 0,78 Tỷ lệ gia đình sinh còn thứ 3 năm

2011 là 17,1% (Nguồn Trung tâm DS – KHHGĐ Huyện Quỳnh Lưu)

Theo báo cáo tổng kết công tác DS – KHHGĐ năm 2011 của trung tâm

DS – KHHGĐ của Huyện Quỳnh Lưu năm 2011, công tác truyền thông, giáo dục dân số phát huy hiệu quả Để nâng cao nhận thức cho người dân về KHHGĐ và việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ trung tâm DS – KHHGĐ Huyện Quỳnh Lưu đã triển khai nhiều chương trình và đề án như: Chăm sóc SKSS cho phụ nữ ở 2 xã Quỳnh Bảng và Quỳnh Xuân, Câu lạc bộ gia đình không sinh con thứ 3, câu lạc bộ gia đình trẻ, câu lac bộ tiền hôn nhân với CSSKSS/ KHHGĐ trên khắp các xã của toàn Huyện, triển khai đề án sự hiểu

Trang 28

biết về việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ cho các cặp vợ chồng tại 2 xã Quỳnh Văn Và Quỳnh Xuân

Bảng 1: Kết quả thực hiện dịch vụ CSSKSS/ KHHGĐ trong năm 2011

Biện pháp tránh thai Chỉ tiêu

(người)

Thực hiện (người)

Đạt %

Kế hoạch

(Nguồn báo cáo DS - KHHGĐ của trung tâm DS – KHHGĐ

Huyện Quỳnh Lưu năm 2011)

Qua bảng kết quả thực hiện dịch vụ KHHGĐ trong năm 2011 cuả trung tâm DS – KHHGĐ Huyện Quỳnh Lưu ta có thể nhận thấy đuợc một vài nét

về việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ của các cặp vợ chồng có sự cách biệt nhau, tỷ lệ các cặp vợ chồng sử dụng biện pháp tránh thai thông dụng, truyền thống như: Vòng tránh thai (vượt kế hoạch 42,7%) uống thuốc tranh thai (vượt kế hoạch 1,36%) Còn việc sử dụng những bện pháp tránh thai hiện đại như biện pháp triệt sản (đạt kế hoạch 45,29%), cấy tránh thai chưa có người

sử dụng Như vậy qua khảo sát thu thập thông tin thì phần lớn những cặp vợ chồng tập trung sử dụng các biện pháp truyền thống, thông dụng và nguyên nhân là do các cặp vợ chồng nhận thấy khi sử dụng các biện pháp này thì đối tượng sử dụng là dành cho nữ giới mặt khác giá thành sử dụng không tốn kém, người sử dụng không mất nhiều thời gian, cũng như không gây đau và không có các tác dụng phụ như việc sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại Quỳnh Văn là một xã trong những năm qua không ngừng phấn đấu tham

Trang 29

tổ chức thực hiện công tác DS – KHHGĐ Tăng cường nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền vận động nhân dân, đẩy mạnh việc phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể, tăng cường công tác kiểm tra giám sát theo dõi cung ứng các biện pháp tránh thai, tăng cường đầu tư ngân sách và quản lý sử dụng các nguồn lực của chương trình DS – KHHGĐ Vì vậy chương trình DS – KHHGĐ đã đạt được những kết quả quan trọng

Tuy nhiên bên cạnh đó vấn vẫn đang có nhiều hạn chế nhất định trong việc thực hiện các biện pháp KHHGĐ Vì vậy mà cấp đảng uỷ, chính quyền

đã ban hành những chỉ thị, nghị quyết liên quan đến công tác DS – KHHGĐ

và từng bước tăng cường đầu tư nguồn lực để thực hiện lĩnh vực này Sự tiến

bộ và hạn chế trong lĩnh vực này được thể hiện ở Một vài nét về việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ của các cặp vợ chồng tại Xã Quỳnh Văn nó thể hiện ở các lĩnh vực như: Mức độ sử dụng các biện pháp KHHGĐ, nhận thức cuả các cặp vợ chồng về KHHGĐ, các dịch vụ cung cấp cho các cặp vợ chồng khi thực hiện các biện pháp KHHGĐ, sự tham gia sử dụng các biện pháp kế hoạch hóa gia đình của người chồng trong gia đình, những thuận lợi và khó khăn của các cặp vợ chồng khi sử dụng các biện pháp KHHGĐ

2.1.1 Mức độ sử dụng các biện pháp kế hoạch hóa gia đình ở các cặp

vợ chồng tại xã Quỳnh Văn

Quỳnh Văn là xã thuộc địa bàn khu vực nông thôn bán sơn địa, nền kinh

tế chủ yếu là hoạt động nông nghiệp, trình độ dân trí còn thấp vì vậy nhìn nhận về vấn đề DS – KHHGĐ, SKSS vẫn còn nhiều hạn chế

Những năm gần đây đời sống của người dân ở đây được nâng cao nhiều

so với những năm trước đây, một số bộ phận người dân đã thoát khỏi ruộng đất đời sống đã được nâng cao, nuôi và dạy con tốt những gia đình đó đã có những tư tưởng tiến bộ sinh 2 con để nuôi dạy cho tốt Tuy nhiên đa phần người dân làm nông nghiệp còn có những tư tưởng lạc hậu, Sự nhận thức về

sử dụng các biện pháp KHHGĐ vẫn còn nhiều hạn chế, chưa được coi trọng

Trang 30

Qua kết quả điều tra thu được từ ban DS – GĐ & TE thuộc UBND xã Quỳnh Văn năm 2011 vừa qua, những số liêu đã phản ánh được mức độ sử dụng các biện pháp KHHGĐ của cá cặp vợ chồng trên địa bàn xã tuy vẫn có nhưng nét tích cực song vẫn còn thấp, số lượng các cặp vợ chồng chưa tham gia sử dụng các biện pháp KHHGĐ cũng là một con số không hề nhỏ đó là

359 cặp số lượng các cặp vợ chồng sử dụng các biện pháp KHHGĐ cụ thể là theo bảng thống kê báo cáo dân số và KHHGĐ của xã năm 2011 như:

Bảng 2: Kết quả thực hiện KHHGĐ/ SKSS xã Quỳnh Văn

tính đến cuối năm 2011

STT Tên chỉ tiêu Đơn vị tính (người) lượng Số

Trong đó: - Số thay vòng tránh thai

đang sử dụng biện pháp tránh thai tính đến

Trang 31

- Thuốc cấy tránh thai

- Biện pháp tránh thai khác

Cặp Cặp

3

87

chưa sử dụng biện pháp tránh thai tính đến

sự khác biệt quá lớn:

Vòng tránh thai: 1654 người chiếm 83,67%

Trang 32

Cấy tránh thai: 3 người chiếm 0,15%

Bao cao su: 45 người chiếm 2,28%

Như vậy nhìn từ con số cũng như tỷ lệ % ta nhận thấy có sự chênh lệch quá lớn về mức độ sử dụng các biện pháp tránh thai của các cặp vợ chồng Có thể nói rằng Quỳnh Văn cũng như các địa phương trong cả nước mức độ sử dụng các biện pháp tránh thai thông dụng truyền thống là chủ yếu còn các biện pháp hiện đại là thứ yếu Nguyên nhân mà các cặp vợ chồng tại xã Quỳnh Văn sử dụng các biện pháp tránh thai thông dụng là do truyền thống, thói quyen của người dân nông thôn khi sử dụng một biện pháp nào mà hiệu quả, không có tác dụng phụ, không mất nhiều thời gian và đặc biệt là đỡ kinh phí thì người dân sẽ sử biện pháp đó Qua số liệu ta cũng có thể nhận thấy được rằng so với các biện pháp tránh thai truyền thống thì những biện pháp tránh thai hiện đại chiếm tỷ lệ rất ít nguyên nhân do thiếu kiến thức, không có điều kiện tiếp xúc với những thông tin nên dù là nghe những lời tuyên truyền của những người cộng tác viên dân số nhưng họ vẫn lơ mơ không định hình được các biện pháp đó như thế nào sự hiểu biết còn rất hạn chế Dù những biện pháp khác có hiện đại nhưng mất nhiều thời gian và tốn kinh phí nhưng người dân cũng không lựa chọn

Số liệu trên cũng cho thấy tỷ lệ các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ chưa sử dụng các biện pháp KHHGĐ là 359 cặp đó là một con số không nhỏ Đặc biệt nhất là số cặp vợ chồng hiện chưa sử dụng các biện pháp KHHGĐ

có 2 con một bề (94 cặp), số cặp vợ chồng có 3 con trở lên là (67 cặp), điều này đồng nghĩa với trong tổng số các cặp vợ chồng có 2 con 1 bề và 3 con trở lên vẫn đang tiếp tục sinh thêm con Cùng với số phụ nữ đang mang thai tính đến cuối năm là 83 người điều nay nói lên đuợc dân số của xã trong năm tới tiếp tục tăng nhanh Như vậy việc việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình tại xã Quỳnh Văn được thực hiện nhưng vẫn còn hạn chế Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau như: Do những cặp vợ chồng chưa coi trọng

Trang 33

việc thực hiện KHHGĐ, nhận thức, sự hiểu biết về việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ còn hạn chế hoặc do quan niệm phong tục tập quán của người dân nông thôn

Qua kết quả thực hiện chỉ tiêu DS - KHHGĐ ở xã Quỳnh Văn việc thực hiện chiến dịch dân số KHHGĐ như sau Mức giảm tỷ lệ sinh là 0,9%, các chiến dich lồng ghép về chương trình DS - KHHGĐ kết hợp với các chương trình phát triển kinh tế - văn hoá xã hội đạt 100% kế hoạch trong năm, tỷ lệ sinh con thứ 3 là 29,8%, tỷ lệ phát triển tự nhiên 0,92%.(Nguồn ban DS – GĐ

& TE xã Quỳnh Văn) Qua việc thực hiện chỉ tiêu dân số trên đã nói lên rằng Mặc dù chương trình DS – KHHGĐ đã được ban chính quyền xã coi là nhiệm

vụ cơ bản và trọng tâm nên các chiến dịch về DS – KHHGĐ được lồng ghép với các chương trình phát triển kinh tế - văn hóa Nhưng Là một xã có dân số đông nên số các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ tăng từng năm tăng nhanh, tuy mức độ sử dụng các biện pháp KHHGĐ cao nhưng tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên (0,92%) Cũng như tỷ lệ sinh con thứ 3(29,8%) cao hơn so với

các xã trong vùng: “mấy năm gần đây mức độ sử dụng các biện pháp tránh

thai ở các cặp vợ chồng trong xã có tăng lên, nhưng tỷ lệ các cặp vợ chồng sinh con thứ 3 quá nhiều, những cặp vợ chồng đã sinh con thứ 3 có xu hướng sinh con thứ 4, thứ 5 Đặc biệt trong đó có một bộ phận là Đảng viên Ban DS – GĐ - & TE và chính quyền xã phảỉ có những cố gắng hơn nữa trong việc thực thiện chính sách DS – KHHGĐ (PVS, nữ 30 tuổi, cán bộ Chuyên trách

DS – GĐ & TE xã Quỳnh Văn)

Nhìn chung mức độ sử dụng các biện pháp kế hoạch hoá gia đình của các cặp vợ chồng tại xã Quỳnh Văn đã có những bước tăng đáng kể so với các năm trước tuy nhiên việc thực hiện các biện pháp KHHGĐ vẫn còn hạn chế Qua những con số trên đã thấy được một thực trạng là một xã có dân số đông, tuy đã có nhiều cặp vợ chồng đã nhận thức đúng và sử dụng các biện pháp KHHGĐ nhưng bên cạnh đó có số cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ chưa sử

Trang 34

dụng các biện pháp KHHGĐ là một con số không hề nhỏ vì vậy đây là nguyên nhân dẫn đến tình trạng dân sô tăng nhanh

Ngoài ra mức độ sử dụng các biện pháp KHHGĐ ở các cặp vợ chồng tại

xã Quỳnh Văn còn thể hiện ở mức độ các biện pháp KHHGĐ được thực hiện

rõ ràng cụ thể từng thôn trong xã, mức độ sử dụng các biện pháp KHHGĐ giữa các thôn có sự chênh lệch nhau tuy thuộc vào các thôn có cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ nhiều hay ít Nhưng qua việc thu thập thông tin về mức

độ sử dụng các biện pháp KHHGĐ của từng thôn tôi nhận thấy rằng: Những thôn có trình độ dân trí cao hơn, công tác viên dân số thôn đó nhiệt tình, có trách nhiệm, thì tỷ lệ các cặp vợ chồng sử dụng các biện pháp KHHGĐ cao hơn, tỷ lệ sinh giảm xuống Ngược lại với các thôn ở xa trung tâm của xã, nơi

có trình độ dân trí thấp, tỷ lệ sử dụng các biện pháp KHHGĐ của các cặp vợ

chồng cũng thấp hơn và tỷ lệ sinh tự nhiên cao hơn: “Trên địa bàn xã Quỳnh

Văn năm 2011, nhìn chung mức độ sử dụng các biện pháp KHHGĐ tăng lên đáng kể, các cặp vợ chồng sử dụng các biện pháp KHHGĐ tăng lên cụ thể: Năm 2009 các cặp vợ chồng sử dụng các biện pháp KHHGĐ là 1250 cặp, năm 2011 là 1452 cặp nhưng đến nay thì cả xã tăng lên 1977 cặp Tuy nhiên mức độ sử dụng các biện pháp KHHGĐ có sự chênh lệch lớn trong từng thôn

(PVS, nữ, 30 tuổi, cán bộ Chuyên trách DS – GĐ & TE xã Quỳnh Văn)

2.1.2 Nhận thức của các cặp vợ chồng về việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình

Việc nhận thức về KHHGĐ một phần phụ thuộc vào trình độ dân trí của người dân trong xã cao hay thấp, nếu trình độ dân trí cao thì người dân sẽ nhận thức đúng đắn về việc thực hiện KHHGĐ ngược lại nếu trình độ dân trí của người dân thấp thì việc thực hiện KHHGĐ của người dân sẽ hạn chế Ngoài ra việc nhận thức của các cặp vợ chồng còn phụ thuộc vào các yếu tố khác về kinh tế, văn hóa, phong tục tập quán của từng địa phương

Trang 35

Cũng như nhiều địa phương vùng nông thôn trong cả nước Quỳnh Văn

là xã chưa có điều kiện phát triển nên những thông tin để các chính sách của Đảng và Nhà Nước đến người dân một cách đúng đắn Mặt khác người dân ở đây phần lớn làm nông nghiệp hạn chế về sự hiểu biết vì vậy những vấn đề nhận thức của tất cả các hoạt động kinh tế - văn hoá, xã hội còn nhiều hạn chế đặc biệt là những thông tin tìm hiểu để hiểu biết về việc thực hiện KHHGĐ cũng như việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ

* Nhận thức về kế hoạch hoá gia đình

- Số gia đình sinh con thứ 3:

Theo báo cáo của ban DS – GĐ & TE tháng 12 năm 2011 của uỷ ban nhân dân Xã Quỳnh Văn, năm 2011: Tổng số trẻ sinh ra trong năm là 278 trẻ, trong đó có 81 trẻ sinh ra là con thứ 3 trong gia đình chiếm 29,1%, tỷ lệ gia tăng dân số hàng năm là 0,82%

Hiện nay tình trạng sinh con thứ 3 ở xã Quỳnh Văn tương đối nhiều và

có xu hướng gia tăng Những cặp vợ chồng nơi đây thường nhận thấy những

hộ gia đình gần nhà minh sinh con thứ 3 rồi làm theo dù có bât cứ lý do gì thì số con của họ sinh bằng số con của những gia đình gần nhà mình Họ không quan

tâm đến vấn đề con của họ sinh ra trong sự thiếu thốn thì sẽ như thế nào: “tỷ lệ

sinh con thứ 3 trong năm nay tương đối nhiều, xung quanh nhà tôi cũng có nhiều gia đình có 3 con trở lên” (PVS, nữ, 39 tuổi, nông dân, xã Quỳnh Văn)

Nguyên nhân sinh con thứ 3 ở xã Quỳnh Văn:

Quỳnh Văn là một xã thuần nông nên nguyên nhân sinh nhiều con gắn liền với nguyện vọng của người dân về đáp ứng đủ nguồn lao động nông nghiệp hơn nữa làm nông nghiệp yêu cầu phải có người con trai để làm những việc nặng như: Cày bừa, thu hoạch, mang vác, phun thuốc sâu… Nên người dân ở đây thường có quan niệm sinh nhiều con là duy trì ý thức trách nhiệm với gia đình của cư dân mang đặc trưng nông nghiệp lúa nước phương đông

là có con mong để trông cậy vào con lúc về già và nương tựa con khi ốm đau

Trang 36

Mặt khác do nhận thức của người dân còn nhiều hạn chế, chưa hiểu biết các kiến thức về KHHGĐ nên đã có thai ngoài ý muốn đến khi không thể bỏ

đi đứa con mà họ đã mang trong người Và còn có lý do đáng lưu tâm là do các cặp vợ chồng đều bày tỏ tâm lý e ngại, sợ có thể chẳng may bị mất con vì một lý do nào đó

Hiện nay với những quan niệm, hủ tục đã ăn sâu vào tiềm thức của phần lớn những người dân “trọng nam khinh nữ” Cộng với những hoạt động sản xuất nông nghiệp, đời sống kinh tế gặp nhiều khó khăn, người dân bân rộn quanh năm nên không có thời gian tiếp cận những kiến thức khoa học Dẫn đến việc nhận thức của người dân vê việc thực hiện KHHGĐ còn nhiều hạn

chế: “Gia đình tôi con thứ 5 là vì mấy đứa con đầu tôi sinh ra là con gái với

quan niệm “con gái là con người ta” vợ chồng tôi cố gắng sinh cho được một đứa con trai nối dõi tông đường cũng như sản xuất nông nghiệp vất vả đòi hỏi phải có nguồn lực lao động là đàn ông, với lại do hoàn cảnh kinh tế khó khăn không có thời gian để tìm hiểu, hiểu biết về những kiến thức cơ bản về các biện pháp tránh thai như thế nào”(PVS, Nữ, 39 tuổi, nông dân, Xã Quỳnh

Văn)

Từ nguyên nhân trên đã cho thấy người nông dân ở Xã Quỳnh Văn mang

nặng tư tưởng “nhiều con, nhiều lộc, đông con là nhà có phúc” Các cặp vợ

chồng thường gắn liền ý nguyện sinh nhiều con

Nhận thức về kế hoạch hoá gia đình còn hạn chế khi một số người cho rằng Pháp Lệnh Dân Số khuyến khích các gia đình sinh thêm con Quan niệm sai lầm này không chỉ tồn tại ở những cặp vợ chồng là nông dân, buôn bán tự

do mà còn tồn tại ở một số Đảng viên, cán bộ trong bộ máy chính quyền xã Đặc biệt đáng chú ý là một số Đảng viên tuy đã hiểu đúng pháp lệnh dân số tuy nhiên họ muốn sinh thêm con nên họ cho rằng pháp lệnh dân số đã tạo nên một tâm lý thoải mái hơn, coi việc sinh con thứ 3 là chuyện bình thường, đương nhiên được chấp nhận trong xã hội, mấy năm trước đây ở Quỳnh Văn

Trang 37

nếu Đảng viên sinh con thứ 3 thì chỉ bị khiển trách nhẹ Vì vậy hiện nay tình

trạng Đảng viên trong xã sinh con thứ 3 tương đối nhiều, “Chồng tôi là Đảng

viên, vợ chồng tôi có 2 đứa con 1 trai một gái, nhưng đứa bé gái sau bị bệnh tâm lý, sức khỏe không tốt, vợ chồng tôi luôn mong có đứa thứ 3 và tháng 2 vừa rồi chúng tôi đã sinh đứa thứ 3 Sinh cháu thứ 3 thì tâm lý chúng tôi cũng thoải mái và cũng không bị nhiều đàm tiếng như trước đây” (PVS, Nữ, 34

tuổi, nông dân, xã Quỳnh Văn)

Vì những nguyên nhân trên mà việc thực hiện kế hoạch hoá gia đình ở

Xã Quỳnh Văn còn lỏng lẽo, sự nhận thức về KHHGĐ còn nhiều hạn chế và bất cập, những thành viên là cán bộ, Đảng viên không làm tốt việc nêu gương cho những người dân trong xã, vì vậy để làm thay đổi nhận thức của các cặp

vợ chồng về KHHGĐ là một bài toán khó đối với ban DS – GĐ & TE, lãnh đạo chính quyền địa phương Xã Quỳnh Văn

Trong nhận thức và nguyện vọng của phần lớn những người dân về số con trong gia đình đều mong muốn có đông con, từ 3 con trở lên và đều mong muốn có con trai đầu lòng Tìm hiểu việc mong muốn số con của ngừời dân, thu được kết quả như sau:

+ Nếu được phép, người nông dân muốn có 4 đứa con, 2 trai, 2gái

+ Sinh con trai đầu lòng là mong ước của các cặp vợ chồng để duy trì nòi giống và và bảo đảm việc thực hiện chính sách DS – KHHGĐ

+ Thực hiện chính sách DS – KHHGĐ, người dân sẽ không sinh con thứ

3 nếu đã có trai, khi chưa có con trai thì người dân sẽ tiếp tục sinh kể cả con thứ 5, thứ 6 khi đứa con đó vẫn là con gái

Phần lớn quan niệm của người dân về một gia đình lý tưởng, gắn liền với nguyện vọng của người dân là sinh nhiều con những quan niện đó đều là do nhận thức suy nghĩ cuả người dân sống trong xã hội nông thôn nơi hoạt động

kinh kế nông nghiệp là chính:”Theo tôi được biết thì gia đình lý tưởng là gia

đình có 2 con nhưng tôi nghĩ đó chỉ dành riêng cho những nơi có điều kiện

Trang 38

kinh tế phát triển, theo tôi nghĩ ở những nơi nông thôn như thế này thì gia đình lý tưởng là gia đình có 4 con, 2trai, 2 gái” (PVS, nam,35 tuổi, nông dân,

Xã Quỳnh Văn)

Việc nhận thức của các cặp vợ chồng về việc thực hiện các biện pháp KHHGĐ có tầm quan trọng đến việc thực hiện chính sách DS – KHHGĐ ở

Xã Quỳnh Văn Vì vậy trong những năm gần đây ban DS – GĐ & TE xã đã

có những chương trình giúp người dân có nhận thức đúng đắn về vấn đề này Qua số liệu điều tra dân số KHHGĐ, chúng ta nhận thấy rằng kiến thức về các biện pháp KHHGĐ của các cặp vợ chồng nhìn chung đã tiến bộ hơn trước song vẫn còn nhiều hạn chế như: Người dân luôn quan niện việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ là gắn liền với vai trò của người vợ, khi sử dụng biện pháp KHHGĐ thì người dân luôn lựa chọn một biện pháp để sử dụng thì khó

mà thay đổi biện pháp khác dù rằng biện pháp khác đó là biện pháp hiện đại:

“Tôi công tác ở trạm đến nay đã 20 năm, tôi nhận thấy một điều Phần lớn

những người dân trong xã từ trước tới nay họ sử dụng các biện pháp KHHGĐ theo các phương pháp truyền thống đặt vòng là chủ yếu, còn các biện pháp

khác chiếm tỷ lệ rất nhỏ” (PVS nữ, 45 tuổi, cán bộ y tế xã Quỳnh Văn)

Thực tế qua bảng 1 ta nhận thấy được phương pháp truyền thống được dùng nhiều điều này đã nói lên rằng tư tưởng phong tục truyền thống đã ăn sâu vào nhận thức của người dân cộng với trình độ dân trí thấp kém, thiếu hiểu biết những kiến thức nên khi người dân đã quyết định lựa chọn một biện pháp cho mình thì khó mà thay đổi dù rằng có những biện pháp KHHGĐ hiện

đại nhưng người dân vẫn từ chối: “Tôi không biết biện pháp nào là hiện đại

hay truyền thống Mấy lần các chị cộng tác viên đi tuyên truyền dùng biện pháp này, biện pháp khác nhưng tôi cũng biết rằng đó là biện pháp hiện đại nhưng tôi và người dân quê mình không muốn thay đổi vì từ trước đến nay mọi người đều dùng biện pháp đặt vòng vừa hiệu quả lại không có tác dụng phụ” (PVS, nữ, 30 tuổi, nông dân, Xã Quỳnh Văn)

Trang 39

Việc sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại thì rất ít cặp vợ chồng chú

ý đến, qua thu thập thông tin tôi nhận thấy rằng những cặp vợ chồng trong xã dùng các biện pháp tránh thai hiện đại đa số họ là những người công tác trên lĩnh vực như: Quản lý hành chính, các cán bộ làm việc ở xã, giáo viên hoặc những cặp vợ chồng đang trẻ tuổi Là những người có trình độ cao, họ thấy rằng biện pháp tránh thai hiện đại phù hợp với điều kiện sống, với tuổi của họ

vì họ và khi dùng biện pháp đó họ cảm thấy thoải mái và dễ chịu: “Vợ chồng

tôi mấy năm nay những lần quan hệ chúng tôi dùng bao cao su, trước đây chúng tôi cũng đã thử qua một vài biện pháp nhưng không thích hợp hoặc là tôi bị dị ứng, hoặc là anh ấy không thoải mái, là người làm văn phòng tôi có điều kiện tiếp xúc và tìm hiểu nhiều biện pháp nên khi dùng bao cao su chúng tôi thấy dùng biện pháp này tốt là rất phù hợp” (PVS, nữ 32 tuổi, trưởng ban

Văn phòng – thống kê xã Quỳnh Văn)

Vì việc nhận thức hạn chế, không có điều kiện tiếp xúc với các phương tiện truyền thông và do tập tục truyền thống Nên nhiều cặp vợ chồng hiểu biết về những biện pháp KHHGĐ này còn rất mơ hồ, chỉ biết sơ qua như vậy thôi chứ còn khi hỏi biết về những khó khăn hay hạn chế khi gặp phải thì hoàn toàn không biết, và họ không quan tâm, thậm chí là không muốn biết,

không cần biêt: “Tôi ít quan tâm đến vấn đề này vì không có thời gian, những

việc đó để cho vợ tôi tìm hiểu và sử dụng, tôi chỉ nghe qua có biện pháp như: Đặt vòng cho phụ nữ, dùng bao cao su, triệt sản, uống thuốc tránh thai, còn những biện pháp khác thì tôi chưa nghe và cũng không biết những thuận lợi

và khó khăn như thế nào vì tôi đã bao giờ dùng đâu” (PVS, Nam, 35 tuổi,

nông dân, xã Quỳnh Văn)

Không chỉ là người chồng ít quan tâm mà người vợ cũng thiếu hiểu biết, việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ phụ thuộc vào những cuộc chiến dịch, những lần tuyên truyền, vận động của cộng tác viên dân số, cán bộ y tế Người phụ nữ nơi đây cuộc sống cơ hàn, vất vả, hàng ngay lo miếng cơm,

Trang 40

manh áo, gạo tiền nên họ lao động lam lũ mong cho cuộc ấm no Vì những mong ước đó mà khiến cho họ không có thời gian quan tâm đến những vấn đề khác, cũng như kiến thức KHHGĐ đólà những kiến thức và sự hiểu biết mà luôn đi liền với với sức khỏe sinh sản, an toàn làm mẹ của chính người phụ nữ cũng như đứa con của họ nhưng họ cũng không quan tâm và đưa ra lý do là

do kinh tế khó khăn: “Tôi cũng không biết là biện pháp nào là tốt nhất cả, vì

tôi không quan tâm, các chị cộng tác viên cũng đi tuyên truyền, tư vấn nhưng tôi cũng không để ý, hàng ngày phải lo miếng cơm cho các con tôi cũng thấy mệt rồi không có thời gia quan tâm đến những chuyện đó, chỉ biết sơ qua về biện pháp mình đang dùng thôi” (PVS, Nữ, 30 tuổi, nông dân, Xã Quỳnh Văn)

Vì điều kiện kinh tế khó khăn nên việc thiếu các phương tiện thông tin khoa học và sự nghèo nàn của các dịch vụ CSSKSS cũng là một yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến việc mọi người dân ở đây thiếu nhận thức, hiểu biết về các biện pháp KHHGĐ Mặt khác các dịch vụ truyền thông chăm sóc sức khoẻ sinh sản thấp nên sự quan tâm về vấn đề chăm sóc sức khoẻ sinh sản đối với người phụ nữ cũng bị hạn chế, việc lựa chọn dịch vụ CSSKSS khi mang thai chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như thời gian, tài chính, mối quan hệ

vợ chồng: “Tôi mang thai đứa thứ 2, khi biết là con gái gia đình chồng tôi

không quan tâm đến tôi, thậm chí tôi đi khám thai cũng bị chồng cấm, anh nói

“con gái thì cần gì phải đi khám”, tôi sinh con trong sự khó khăn và thiếu thốn”.(PVS, Nữ, 30 tuổi, nông dân, Xã Quỳnh Văn)

Việc thiếu hiểu biêt về chăm sóc sức khoẻ sinh sản đối với người phụ nữ, định kiến giới còn nặng nề trong tâm lý người nông dân dẫn đến nhận thức về việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ của các cặp vợ chồng còn nhiều hạn chế.Vận dụng lý thuyết mâu thuẩn vào phân tích vấn đề nhận thức của các cặp vợ chồng về việc thực hiện KHHGĐ: Trong một số gia đình nông thôn xã Quỳnh Văn người vợ và người chồng thường có mâu thuẩn về mặt nhận thức

đã ảnh hưỏng đến việc thực hiện KHHGĐ Mâu thuẩn trong việc hiểu biết

Ngày đăng: 16/09/2021, 19:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tổng cục DS – KHHGĐ. Công tác DS – KHHGĐ Việt nam “50 năm xây dựng và phát triển (1961 - 1011)” NXB Giao thông vận tải Tháng 12, Năm 1011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 50 năm xây dựng và phát triển (1961 - 1011)
Nhà XB: NXB Giao thông vận tải Tháng 12
14. Uỷ Ban DS Gia Đình và Trẻ em (2002), “Chăm sóc sức khoẻ sinh sản”; Bộ y tế. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăm sóc sức khoẻ sinh sản
Tác giả: Uỷ Ban DS Gia Đình và Trẻ em
Năm: 2002
3. Pháp lệnh dân số, pháp lệnh của Quốc Hội nhiệm kỳ khóa XI (2002 – 2007) và năm 2003 Khác
4. Bộ y tế, UBDS gia đình và trẻ em; 2002;61 Khác
5. Pháp lệnh của uỷ ban thường vụ Quốc hội số 06/2003/PL – UBTVQH11 Khác
6. Luật hôn nhân và gia đình 2000, NXB Lao Động; 2000; NXB Chính trị Quốc Gia Hà Nội Khác
7. Luật Hôn nhân và gia đình (2000); NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội 2001 Khác
8. Bộ giáo dục và đào tao (2004), Giáo trình triết học Mác – LêNin, NXB chính trị Quốc gia Hà Nội Khác
9. Hoàng Bá Thịnh (2008) Giáo trình xã hội học về giới, NXB Đại học quốc gia Hà Nội 2008 Khác
10. Báo có về tình hình DS – KHHGĐ Huyện Quỳnh Lưu năm 2011 Uỷ ban DS – GĐ & TE Huyện Quỳnh Lưu Khác
11. Báo cáo về tình hình DS – KHHGĐ Xã Quỳnh Văn năm 2011, Uỷ ban DS- GĐ & TE Xã Quỳnh Văn Khác
12. Báo cáo về tình hình kinh tế - văn hoá – Xã hội Xã Quỳnh Văn Năm 2011 UBND Xã Quỳnh Văn Khác
13. Uỷ Ban DS Gia Đình và Trẻ em Sổ tay sức khoẻ sinh sản gia đình; NXB Lao động – Xã hội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Kết quả thực hiện KHHGĐ/ SKSS xó QuỳnhVăn tớnh đến cuối năm 2011  - Tìm hiểu việc sử dụng các biện pháp kế hoạch hóa gia đình của cặp vợ chồng tại xã quỳnh văn   huyện quỳnh lưu   tỉnh nghệ an
Bảng 2 Kết quả thực hiện KHHGĐ/ SKSS xó QuỳnhVăn tớnh đến cuối năm 2011 (Trang 30)
Qua bảng những số liệu về việc thực hiện KHHGĐ/ SKSS xó Quỳnh Văn  tớnh  đến  cuối  năm  2011  đó  cho  thấy  thực  trạng  việc  sử  dụng  cỏc  biện  phỏp trỏnh thai chủ yếu tập trung vào thụng dụng là biện phỏp đặt vũng trỏnh  thai - Tìm hiểu việc sử dụng các biện pháp kế hoạch hóa gia đình của cặp vợ chồng tại xã quỳnh văn   huyện quỳnh lưu   tỉnh nghệ an
ua bảng những số liệu về việc thực hiện KHHGĐ/ SKSS xó Quỳnh Văn tớnh đến cuối năm 2011 đó cho thấy thực trạng việc sử dụng cỏc biện phỏp trỏnh thai chủ yếu tập trung vào thụng dụng là biện phỏp đặt vũng trỏnh thai (Trang 31)
Bảng 3: việc thực hiện KHHGĐ ở cỏc thụn tại xó QuỳnhVăn tớnh đến hết quý IV năm 2011  - Tìm hiểu việc sử dụng các biện pháp kế hoạch hóa gia đình của cặp vợ chồng tại xã quỳnh văn   huyện quỳnh lưu   tỉnh nghệ an
Bảng 3 việc thực hiện KHHGĐ ở cỏc thụn tại xó QuỳnhVăn tớnh đến hết quý IV năm 2011 (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w