Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu đặc điểm địa lý của huyện Anh Sơn - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái của cây mía - Đánh giá mức độ thích nghi của cây mía đối với điều kiện tự nhiên ở huyệ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA ĐỊA LÝ
=== ===
TRƯƠNG THỊ TRUNG
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ THÍCH NGHI CỦA CÂY MÍA
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ANH SƠN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH: ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN
Giáo viên hướng dẫn:ThS Phạm Vũ Chung
SV thực hiện: Trương Thị Trung
Trang 2vinh - 2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của quý thầy cô giáo, gia đình, bạn bè
Qua bản khóa luận này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc
nhất tới thầy giáo Phạm Vũ Chung, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo
nhiệt tình giúp tôi hoàn thành khoá luận này
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới thầy cô giáo trong tổ tự nhiên và các thầy cô trong khoa Địa lý đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất giúp tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn tới các bạn trong nhóm thực tập và tập thể lớp 49A Địa lý đã giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình
Cuối cùng, tôi vô cùng cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã cho tôi nguồn động viên lớn lao giúp tôi quyết tâm hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Vinh, tháng 5 năm 2012
Sinh viên
Trương Thị Trung
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 1
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 1
4 Giới hạn nghiên cứu 1
5 Đối tượng nghiên cứu 2
6 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
7 Quan điểm nghiên cứu 2
8 Phương pháp nghiên cứu 3
9 Điểm mới của đề tài 4
10 Bố cục của đề tài 4
NỘI DUNG 5
Chương 1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ HUYỆN ANH SƠN 5
1.1 Đặc điểm tự nhiên 5
1.1.1 Vị trí địa lý 5
1.1.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 6
1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 19
1.2.1 Dân cư và nguồn lao động 19
1.2.2 Cơ sở hạ tầng, kĩ thuật 21
1.2.3 Thực trạng phát triển kinh tế 23
Chương 2 HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT VÀ PHÁT TRIỂN CÂY MÍA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ANH SƠN 33
2.1 Hiện trạng sử dụng đất ở huyện Anh Sơn 33
2.1.1 Đất nông nghiệp 34
2.1.2 Đất lâm nghiệp 35
2.1.3 Đất chuyên dùng 35
Trang 52.1.4 Đất ở 36
2.1.5 Đất chưa sử dụng 36
2.2 Định hướng sử dụng đất của huyện đến năm 2020 37
2.2.1 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp 38
2.2.2 Định hướng sử dụng đất phi nông nghiệp 39
2.2.3 Định hướng sử dụng đất chưa sử dụng 40
2.2.4 Định hướng phát triển kinh tế vùng 41
2.3 Tình hình phát triển cây mía trên địa bàn huyện hiện nay 42
2.3.1 Những thành công bước đầu 42
2.3.2 Một số tồn tại 45
Chương 3 ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ THÍCH NGHI CỦA CÂY MÍA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ANH SƠN 48
3.1 Đặc điểm cây mía 48
3.1.1 Sơ lược về nguồn gốc và giá trị sử dụng của cây mía 48
3.1.2 Đặc điểm sinh học của cây mía 53
3.1.3 Yêu cầu về điều kiện sinh thái của cây mía 55
3.1.4 Những yêu cầu về quy trình kỹ thuật đối với cây mía 57
3.2 Đánh giá mức độ thích nghi của cây mía trên địa bàn huyện Anh Sơn 67
3.2.1 Lựa chọn chỉ tiêu đánh giá 67
3.2.2 Phương pháp đánh giá 72
3.2.3 Phân cấp chỉ tiêu đánh giá 72
3.2.4 Kết quả đánh giá mức độ thích nghi của cây mía 75
Chương 4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÂY MÍA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ANH SƠN 78
4.1 Giải pháp mở rộng diện tích mía 78
4.1.1 Cơ sở của đề xuất 78
4.1.2 Đề xuất xây dựng vùng nguyên liệu mía 78
Trang 64.1.3 Giải pháp về tổ chức cho việc xây dựng vùng nguyên liệu mía 79
4.2 Giải pháp về giống 79
4.3 Giải pháp về quy trình kĩ thuật 80
4.4 Giải pháp về vốn 80
4.5 Giải pháp về xây dựng cơ sở hạ tầng 80
4.6 Giải pháp về thị trường tiêu thụ và lực lượng lao động cho vùng nguyên liệu 81
4.7 Giải pháp tăng cường đầu tư 81
4.8 Giải pháp về chính sách 81
KẾT LUẬN 83
1 Kết quả nghiên cứu của đề tài 83
2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 83
3 Một số kiến nghị 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Anh Sơn là một huyện miền núi nằm ở phía tây nam Nghệ An, nhờ có nhiều điều kiện thuận lợi nên kinh tế trong những năm qua ngày càng phát triển Mặc dù vậy, trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp vẫn là ngành sản suất chính Tuy nhiên, việc quy hoạch sử dụng đất và cơ cấu cây trồng vẫn còn chưa thực sự hợp lý Vì vậy, làm thế nào để có thể sử dụng hiệu quả diện tích đất nông nghiệp hiện có là vấn đề đang được các cấp chính quyền quan tâm nghiên cứu nhằm xây dựng các phương án chuyển dịch cơ cấu cây trồng một cách hợp lý nhất, đem lại hiệu quả sử dụng đất cao nhất để nâng cao đời sống cho người nông dân
Xuất phát từ thực tế trên, là một sinh viên chuyên ngành Địa lý, để góp
phần xây dựng quê hương, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Đánh giá mức độ
thích nghi của cây mía trên địa bàn huyện Anh Sơn”
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất giải pháp xây dựng vùng nguyên liệu mía trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm điạ lý huyện Anh Sơn
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm địa lý của huyện Anh Sơn
- Nghiên cứu đặc điểm sinh thái của cây mía
- Đánh giá mức độ thích nghi của cây mía đối với điều kiện tự nhiên ở huyện Anh Sơn
- Đề xuất giải pháp xây dựng vùng nguyên liệu mía trên địa bàn huyện Anh Sơn
4 Giới hạn nghiên cứu
4.1 Giới hạn phạm vi lãnh thổ
Đề tài tập trung nghiên cứu khu vực đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Anh Sơn
Trang 84.2 Giới hạn nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu mức độ thích nghi của cây mía đối với điều kiện tự nhiên của huyện Anh Sơn
5 Đối tượng nghiên cứu
Mức độ thích nghi của cây mía đối với điều kiện tự nhiên ở huyện Anh Sơn
6 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hiện nay trên địa bàn huyện chưa có đề tài nào nghiên cứu khả năng thích nghi của cây mía đối với điều kiện tự nhiên của huyện và đưa ra được các giải pháp phát triển cây mía dựa trên cơ sở đánh giá khoa học và thực tiễn
7 Quan điểm nghiên cứu
7.1 Quan điểm hệ thống
Tất cả các hợp phần trong bất kì một lãnh thổ nào cũng không đứng độc lập, tách rời nhau mà giữa chúng thường xuyên có mối quan hệ hữu cơ với nhau
Mỗi thành phần đều vận động phát triển không ngừng theo quy luật riêng để phát triển và đảm bảo cân bằng nội bộ của chúng Cho nên sự phát triển của cây mía cũng không nằm ngoài quy luật đó, đều chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội từng vùng
7.2 Quan điểm phát triển bền vững
Phát triển bền vững là khai thác, sử dụng các nguồn lực tự nhiên đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội hiện tại nhưng không làm tổn hại đến quyền lợi của thế hệ tương lai
Do vậy khi xem xét sự phát triển của cây mía cũng như đưa ra các giải pháp để phát triển, mở rộng vùng nguyên liệu mía trên địa bàn huyện Anh Sơn phải đảm bảo vừa mang lại hiệu quả kinh tế cao nhưng cũng không làm
Trang 9tổn hại đến môi trường, không phá hoại cân bằng sinh thái, không làm tổn hại đến quyền lợi của tương lai
7.3 Quan điểm thực tiễn
Đây là quan điểm không thể thiếu được đối với quá trình nghiên cứu đề tài Thực tiễn là tiêu chuẩn, là cơ sở nghiên cứu của đề tài và kết quả nghiên cứu lại được áp ụng vào thực tiễn
Quan điểm thực tiễn được vận dụng trong đề tài này nhằm nghiên cứu khả năng thích nghi của cây mía đối với điều kiện tự nhiên của huyện Anh Sơn, từ đó đề xuất các giải pháp xây dựng vùng nguyên liệu mía tập trung ở huyện Anh Sơn phù hợp với điều kiện địa lý tự nhiên, kinh tế- xã hội và nhu cầu của thị trường
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp nghiên cứu thực địa
Đây là phương pháp quan trọng trong nghiên cứu địa lí nhằm tìm hiểu đồng thời kiểm tra trên thực tế các thông tin thu thập được bản chất các đối tượng địa lý tự nhiên cũng như kinh tế xã hội
Phương pháp này được vận dụng để kiểm tra các thông tin từ các nguồn tài liệu, kiểm tra từ thực tế sản xuất, mức độ thích nghi của cây trồng góp phần vào việc đề xuất định hướng và các giải pháp xây dựng vùng mía nguyên liệu của huyện Anh Sơn - tỉnh Nghệ An đối với các cấp chính quyền
8.2 Phương pháp thu thập, xử lí thông tin
Phương pháp này vận dụng để phân tích, tổng hợp các thông tin từ các nguồn tài liệu khác nhau, các tài liệu thu thập được từ thực tế để thấy được khả năng xây dựng vùng nguyên liệu mía trong huyện, nghiên cứu định hướng phát triển kinh tế xã hội của huyện thông qua các văn kiện, báo cáo, niên giám thống kê, nghiên cứu đặc tính cây mía để đề xuất các giải pháp xây dựng vùng nguyên liêu mía trên địa bàn huyện Anh Sơn
Trang 108.3 Phương pháp bản đồ
Khoa học địa lý là khoa học xuất phát từ bản đồ và kết thúc ở bản đồ Các bản đồ phục vụ cho nghiên cứu ban đầu là bản đồ tự nhiên, bản đồ hành chính, bản đồ sử dụng đất của huyện Anh Sơn, các bảng số liệu
9 Điểm mới của đề tài
- Hệ thống hóa các đặc điểm tự nhiên, kinh tế- xã hội của huyện Anh Sơn theo quan điểm địa lý thích hợp
- Hệ thống hóa được các đặc điểm sinh thái của cây mía
- Đánh giá mức độ thích nghi của cây mía đối với điều kiện địa lý tự nhiên trên địa bàn huyện Anh Sơn
- Đề xuất được các giải pháp xây dựng vùng nguyên liệu mía
10 Bố cục của đề tài
Đề tài gồm có 2 bản đồ, 1 biểu đồ, 14 bảng số liệu Ngoài phần mở đầu
và phần kết luận, phần nội dung gồm 4 chương:
Chương 1: Đặc điểm địa lý của huyện Anh Sơn
Chương 2: Hiện trạng sử dụng đất và phát triển cây mía ở huyện
Anh Sơn Chương 3: Đánh giá mức độ thích nghi của cây mía trên địa bàn
huyện Anh Sơn Chương 4: Một số giải pháp phát triển cây mía trên địa bàn huyện
Anh Sơn
Trang 11NỘI DUNG Chương 1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ HUYỆN ANH SƠN
Anh Sơn có 21 đơn vị hành chính cấp xã gồm 01 thị trấn và 20 xã: Xã Tam Sơn, Đỉnh Sơn, Cẩm Sơn, Thành Sơn, Bình Sơn,Thọ Sơn, Hùng Sơn, Tường Sơn, Đức Sơn, Hội Sơn, Hoa Sơn, Vĩnh Sơn,Thạch Sơn, Phúc Sơn, Long Sơn, Khai Sơn, Cao Sơn, Tào Sơn, Lĩnh Sơn, Lạng Sơn, và Thị trấn Anh Sơn
Huyện cách thành phố Vinh khoảng 100 km về phía Tây Bắc, có 2 tuyến đường giao thông chính là Quốc lộ 7A và đường mòn Hồ Chí Minh nối liền các huyện Thanh Chương, Anh Sơn, Tân Kỳ Hệ thống giao thông đường thủy bao gồm: Sông Lam, sông Giăng, sông Con đã tạo điều kiện thuận lợi cơ bản cho huyện mở rộng giao lưu phát triển kinh tế - xã hội với các địa phương khác trong và ngoài tỉnh
Anh Sơn còn có vị trí trung chuyển hàng hoá giữa các huyện đồng bằng như Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc với các huyện Con Cuông, Tương Dương, Kỳ Sơn và nước bạn Lào nên thuận lợi để phát triển các hoạt động thương mại và dịch vụ Cộng vào đó mạng lưới giao thông nông thôn đã được kiên cố hóa, đây là những tuyến đường huyết mạch cơ bản giúp người dân
Trang 12đẩy mạnh sản xuất tạo ra các vùng nguyên liệu tập trung cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến trên địa bàn
Bản đồ hành chính huyện Anh sơn
Tỉ lệ: 1:25000
Trang 131.1.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
Ở lớp cao hơn mặt cắt, hệ tầng dần có đặc tính đá phiến cát kết rất rõ Trong thành phần của nó vai trò các lớp kẹp cát kết tăng lên, ở nhiều nơi cát kết này hầu như lấn át cả phiến đá bảo tồn trong cát kết dưới dạng các lớp kẹp mỏng vò nhàu mạnh và vi uốn nếp
Trong phần tiếp theo trên mặt cắt, xuất hiện đá vôi phân lớp màu đen, thường chứa sét và than, xen lẫn các tầng đá phiến đất sét Khắp nơi các đá bị
vi uốn nếp vò nhàu và bị băm nát bởi vô số kẽ nứt nhỏ chứa mạch canxit
Chiều dày địa chất của hệ tầng sông Cả rất lớn, có thể vượt qua 4.000 5.000 m Trong các đá hệ tầng không phát hiện được hoá thạch, bởi vậy vấn
-đề tuổi của hệ tầng hiện nay chưa được giải quyết
b Địa hình
Anh Sơn nằm ở phía Tây Nam tỉnh Nghệ An, nằm rìa ngoài của miền Tây Bắc trong hệ thống các miền tự nhiên Việt Nam đang được nâng lên tiếp giáp với các miền sụt võng là các đồng bằng châu thổ, nên không có những độ cao đáng kể
Trang 14Địa hình Anh Sơn chủ yếu là dạng địa hình đồi núi thấp có xen các mặt bằng nhỏ, hai bên cao dốc dần vào giữa sông Lam Địa hình bị chia cắt bởi 3 con sông lớn: Sông Lam, sông Con, sông Giăng và các khe suối khá dày đặc
Có thể phân ra thành 3 dạng địa hình: Đồng bằng ven sông, dạng đồi, dạng núi thấp
- Dạng đồng bằng ven sông:
Chủ yếu nằm dọc hai bên sông Lam ở độ cao 30 - 40 m (bao gồm các xã: Tam Sơn, Thạch Sơn, Vĩnh Sơn, Long Sơn ), chiếm khoảng 14% tổng diện tích tự nhiên, có khoảng 30% loại đất này bị ngập lụt hàng năm (bãi bồi ven sông), còn lại là ít hoặc không bị ngập lụt Vùng này chủ yếu trồng các loại cây lúa, cây công nghiệp ngắn ngày và các loại rau màu khác
- Dạng địa hình đồi:
Phần lớn ở độ cao từ 100 - 200 m, chủ yếu là dạng đồi lượn sóng, độ dốc không lớn từ 8 - 150 Đây là dạng địa hình có diện tích lớn nhất, chiếm khoảng 56% tổng diện tích tự nhiên, có ở hầu hết các xã, nhưng tập trung nhiều ở phía Nam và phía Tây của huyện (Cao Sơn, Khai Sơn, Tường Sơn ) Thổ nhưỡng ở đây chủ yếu là đất phát triển trên đá phiến thạch, là vùng có tiềm năng lớn về phát triển cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả, mía đồi, trồng cây lâm nghiệp
- Dạng địa hình núi thấp:
Chủ yếu ở dạng núi thấp 300 - 500 m, chiếm khoảng 26% diện tích tự nhiên Tập trung ở phía Bắc của huyện (gồm các xã: Thành Sơn, Bình Sơn, Thọ Sơn, Đỉnh Sơn), phía Tây nam (xã Phúc Sơn) Những đỉnh cao nhất ở xã Thành Sơn là 400 m, Phúc Sơn cao nhất là đỉnh Cao Vều 1.200 m, dạng địa
hình này chủ yếu sử dụng vào mục đích lâm nghiệp
1.1.2.2 Khí hậu - Thuỷ văn
a Khí hậu
Trang 15Huyện Anh Sơn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa và mang những đặc điểm riêng của khí hậu khu vực miền Trung Khí hậu được chia làm 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa, nóng từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm Mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau:
- Lượng nước bốc hơi:
+ Tổng lượng bốc hơi trung bình hàng năm là: 1.000 - 1.100 mm
+ Lượng bốc hơi tháng lớn nhất là: 172,2 mm (tháng 7)
+ Lượng bốc hơi tháng nhỏ nhất là: 28,8 mm (tháng 2)
- Lượng mưa:
Lượng mưa trung bình hàng năm: 1.800- 1.900 mm
Lượng mưa phân bố không đều theo thời gian, lượng mưa lớn thường tập trung vào tháng 8 và tháng 9 chiếm 75% - 80% lượng mưa cả năm Tháng
có lượng mưa ít là tháng 2, tháng 3, tháng 7
Trang 16Biểu đồ: Nhiệt độ, l-ợng m-a trung bình của
huyện Anh Sơn
0 50
Hàng năm trờn địa bàn huyện cú 2 hướng giú chớnh:
+ Giú Tõy - Nam (giú Lào): Bắt đầu từ thỏng 4 kết thỳc vào thỏng 8 Tập trung cao nhất vào thỏng 5, thỏng 6 Đõy là loại giú đặc trưng của Anh Sơn núi riờng và khu vực Bắc miền Trung núi chung, gõy khụ núng ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và đời sống con người (hạn chế đến sinh trưởng phỏt triển của cõy lỳa trong thời kỳ đầu, làm tớch luỹ sắt gõy thoỏi hoỏ đất)
+ Giú Đụng - Bắc: Từ thỏng 10 đến thỏng 3 năm sau, gõy mưa phựn và rột, thỉnh thoảng cú xuất hiện sương mự và sương muối ảnh hưởng bất lợi đến sức khỏe và đời sống con người và một số loại cõy trồng
- Bóo: Hàng năm chịu ảnh hưởng của bóo vào thỏng 8, thỏng 9 nhưng khụng gõy tỏc hại lớn
Yếu tố khớ hậu Anh Sơn núi chung thuận lợi để phỏt triển cõy trồng vật nuụi, song biờn độ nhiệt giữa cỏc mựa trong năm lớn, mưa tập trung, mựa
Trang 17nắng nóng khô hanh, mùa đông có sương muối giá rét, đây là những mặt trái của khí hậu gây khó khăn cho cây trồng, vật nuôi và là nguyên nhân gây ra hạn hán, lũ lụt, xói mòn, bồi lấp, hủy hoại đất Trong sử dụng đất cần có những biện pháp thích hợp để hạn chế các hiện tượng bất lợi của điều kiện khí hậu trên (chọn cây con có khả năng thích hợp cao, mùa vụ gieo trồng phù hợp tránh những thời điểm có nhiều bất lợi)
b Thuỷ văn
- Nguồn nước mặt
Chế độ thuỷ văn của huyện chịu ảnh hưởng chính của các sông:
+ Sông Lam: Đây là sông lớn nhất trên địa bàn huyện Anh Sơn, chia
huyện Anh Sơn thành 2 phần Chiều dài của sông đoạn qua địa bàn huyện là
47 km, chảy theo hướng từ Tây Bắc xuống Đông Nam Diện tích lưu vực sông là 17.730 km2 Lưu lượng trung bình hàng năm của sông đạt 688 m3
/s, lưu lượng lớn nhất bình quân là 2.260 m3
/s (đo tại trạm Cửa Rào) Đây là tuyến đường thuỷ quan trọng và duy nhất nối nước bạn Lào với Nghệ An và thông ra biển Đông
+ Sông Con: Sông Con là phụ lưu của sông Lam, chiều dài của sông
đoạn chảy qua địa bàn huyện là 20 km, chảy qua địa bàn các xã: Bình Sơn, Thành Sơn và Đỉnh Sơn Diện tích lưu vực của sông là 5.340 km2, lưu lượng bình quân là 141 m3/s, mô đun dòng chảy là 25,4 l/s/km2
+ Sông Giăng: Sông Giăng cũng là phụ lưu của sông Lam, chiều dài
của sông đoạn chảy qua địa bàn huyện là 13 km, chảy qua địa bàn các xã: Hội Sơn và Phúc Sơn Diện tích lưu vực của sông là 1.050 km2, tổng lượng nước của sông khu vực phụ lưu lên tới 21,90 km3, ứng với lưu lượng bình quân nhiều năm là 688 m3/s và mô đun dòng chảy là 25,3 l/s/km2 Lòng sông nhỏ, hẹp, khả năng vận tải gặp nhiều khó khăn
Ngoài 3 sông chính trên, địa bàn huyện Anh Sơn còn có các sông suối nhỏ tạo thành mạng lưới lưu vực các sông, bên cạnh đó Anh Sơn hiện có
Trang 1872 hồ nước lớn nhỏ Diện tích đất sông suối và mặt nước chuyên dùng của huyện theo số liệu thống kê năm 2011 có 2.510,69 ha, chiếm 4,16% diện tích tự nhiên
Bảng 1: Một số hồ đập lớn trong huyện
TT Tên hồ đập
Địa điểm
Dung tích (m 3 )
Diện tích tưới thực tế ha/vụ
1 Khe Chung Tào Sơn 1.640.000 160
2 Cao Cang Phúc Sơn 1.560.000 130
3 Khe Nậy Đức Sơn 1.150.000 165
4 Ruộng Xối Vĩnh Sơn 2.200.000 65
5 Ba Cươi Long Sơn 2.100.000 100
6 Đồng Quan Lĩnh Sơn 1.450.000 81
7 Các đập nhỏ khác 4.900.000 250
(Nguồn: Xí nghiệp thuỷ lợi Anh Sơn)
Anh Sơn là huyện có nguồn nước mặt phong phú, thuận lợi để cung cấp nước cho nông nghiệp và sinh hoạt Song nguồn nước phân bố không đều giữa các vùng, các mùa, mực nước lại thấp so với độ cao đồng ruộng, địa hình không bằng phẳng lại bị chia cắt lớn Vì vậy hiện tượng trong mùa nắng nóng,
lũ lụt về mùa mưa hàng năm vẫn xảy ra trên diện rộng Mùa lũ trùng với mùa mưa, lũ tiểu mãn xuất hiện trước ngày 10-5 chậm nhất không quá 6-6 Lũ chính xuất hiện trước ngày 15-7 và chậm nhất không quá 15-11 Thời gian lũ lớn nhất là từ 25-8 đến 02-10
Trang 191.1.2.3 Thổ nhưỡng - Sinh vật
a Thổ nhưỡng
Tổng diện tích đất của huyện Anh Sơn là 60.292,58 ha (Năm 2010)
Gồm hai hệ đất chính: Đất Feralit và đất phù sa
* Hệ đất feralit:
Chiếm phần lớn diện tích của huyện, hệ đất này tương đối chua, có quá trình rửa trôi, xói mòn mạnh, cấu tượng bền có kết vụn đá ong ở nhiều nơi Loại đất này thích hợp cho việc trồng rừng, trồng cây công nghiệp lâu năm, cây ăn quả, cây dược liệu
- Đất Feralit nâu vàng phát triển trên phù sa cổ:
Diện tích 1.993 ha, chiếm 3,28% tổng diện tích tự nhiên và chiếm 3,6% tổng diện tích các loại thổ nhưỡng, có ở các xã: Thành Sơn, Bình Sơn (phân bố ở dãy đồi dọc sát hữu ngạn sông Con)
Lớp phù sa, cuội có thể dày 2 - 3 m, là loại đất đồi có lý tính tốt, chất dinh dưỡng khá Hiện nay hầu hết loại đất này đã được bố trí dân cư
- Đất Feralit nâu đỏ phát triển trên đá vôi (Fv):
Diện tích 392 ha, có ở dưới chân các núi đá vôi ở các xã: Cẩm Sơn, Đỉnh Sơn và Thọ Sơn Đây là sản phẩm biến hóa của đá vôi Đất có cấu tượng tốt (xốp), khả năng giữ nước và giữ màu khá Đất có phản ứng chua, mùn trung bình, đạm và ka li giàu, lân khá
Đây là loại đất khá tốt, có thể trồng cây công nghiệp như cà phê, chè, mít, cây ăn quả và các loại rau màu khác Hiện nay hầu hết loại đất này đã được sử dụng
- Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên đá phiến sét (Fs):
Diện tích 22.015 ha, chiếm 36,33% tổng diện tích tự nhiên và chiếm 40,07% tổng diện tích các loại thổ nhưỡng Phân bố ở tất cả các xã vùng đồi của huyện, nhiều nhất ở các xã Cao Sơn, Khai Sơn, Long Sơn, Phúc Sơn Đây
là loại đất quan trọng, chứa đựng nhiều tiềm năng và thế mạnh của huyện Là
Trang 20loại đất có diện tích lớn nhất và tương đối tốt về lý tính cũng như hóa tính Đất có phản ứng chua (pH (kcl) 4 - 5), đạm tổng số trung bình (0,08% - 0,1%), kali tổng số trung bình (0,1% - 0,15%), thành phần cơ giới thịt nhẹ đến trung bình, tầng đất trung bình hoặc dày (40 cm -120 cm) Tuy nhiên một số nơi lâu nay sử dụng không hợp lý nên đã thoái hóa nghiêm trọng, bị xói mòn tầng đất mỏng
Đất này thích hợp cho trồng nhiều loại cây công nghiệp và cây ăn quả: Đất tầng dày có thể trồng cây công nghiệp lâu năm, cây ăn quả như chè, cà phê, cao su, cam, quýt Tầng đất trung bình trồng chè, ít dốc có thể trồng hoa màu như mía, khoai, sắn, đậu đỗ Tầng đất mỏng có thể trồng dứa, trẩu, trồng rừng, làm đồng cỏ Đây cũng là loại đất đã và sẽ là địa bàn chủ yếu để bố trí khu dân cư của huyện ở vùng đồi
- Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên đá phiến sét và đá biến chất (Fs+j):
Diện tích 12.082 ha, chiếm 19,94% tổng diện tích tự nhiên và chiếm 21,9% tổng diện tích các loại thổ nhưỡng, phân bố ở vùng núi thuộc các xã Cao Sơn, Phúc Sơn Đất có phản úng chua, tỷ lệ mùn cao dần theo độ cao, thành phần cơ giới thịt nhẹ hoặc trung bình Đất giàu đạm, nghèo lân, kali trung bình (pH: 4,00 - 4,50, đạm tổng số 0,10 - 0,20%, lân tổng số 0,03 - 0,04%, kali tổng số 0,20 - 1,50%)
Loại đất này tương đối tốt nhưng do đặc điểm độ dốc và độ cao nên loại đất này chủ yếu dành cho phát triển lâm nghiệp Hiện tại phần lớn đang là rừng tự nhiên
- Đất Feralit vàng đỏ phát triển trên đá sa thạch (Fq):
Diện tích 5.843 ha, chiếm 9,64% tổng diện tích tự nhiên, có ở các xã vùng đồi Vĩnh Sơn, Thọ Sơn Đất có thành phần cơ giới nhẹ hơn, tầng đất cũng mỏng hơn với đất phát triển trên đá phiến thạch
Loại đất này nên được sử dụng để trồng cây lâm nghiệp hoặc làm đồng
cỏ chăn nuôi
Trang 21- Đất Feralit vàng đỏ phát triển trên đá phiến thạch sét và biến chất:
Có diện tích 2.193 ha, chiếm 3,63% tổng diện tích tự nhiên và chiếm 3,90% tổng diện tích các loại thổ nhưỡng có ở xã Cao Sơn Đất có phản ứng chua, tỷ lệ mùn cao, tốc độ phân giải chậm , hiện đang là rừng tự nhiên Với loại đất này cần có kế hoạch bảo vệ tu bổ và khai thác hợp lý Đất này chỉ dùng cho phát tiển lâm nghiệp, không chặt phá làm rẫy làm cho đất suy thoái
- Đất Feralit vàng đỏ phát triển trên đá Macma axit:
Có ở Vĩnh Sơn diện tích khoảng 100 ha, loại đất này lí tính và hoá tính đều kém chỉ dùng cho trồng cây lâm nghiệp
- Đất Feralit xói mòn trơ sỏi đá:
Diện tích 1.278 ha, chiếm 2,10% tổng diện tích tự nhiên, phân bố rải rác ở đồi núi một số xã Do quá trình sử dụng trước đây không hợp lý, đất đã
bị xói mòn mạnh, bề mặt trơ sỏi đá nay cần nhanh chóng trồng cây lâm nghiệp bảo vệ cho đất không bị thoái hóa tiếp
- Đất Feralit trên núi (độ cao 200 -700 m):
Đất Feralit trên núi phát triển trên đá phiến thạch sét và đá biến chất Diện tích 12.082 ha bằng 20,22% tổng diện tích tự nhiên, phân bố ở vùng núi Cao Sơn, Phúc Sơn Đất có phản ứng chua, tỉ lệ mùn cao dần theo độ cao, thành phần cơ giới thịt nhẹ hoặc trung bình Đất giàu đạm, nghèo lân, kali trung bình Là loại đất tương đối tốt, nhưng do đặc điểm độ dốc và độ cao nên loại đất này chủ yếu dành cho lâm nghiệp Hiện tại phần lớn đang
là rừng tự nhiên
- Đất Feralit mùn trên núi (độ cao 800 -1500 m):
Đất Feralit mùn trên núi phát triển trên đá phiến thạch sét và biến chất Diện tích 2.193 ha, chiếm 3,63% tổng diện tích tự nhiên của huyện, có ở Phúc Sơn Đất có phản ứng chua, tỉ lệ mùn cao, tốc độ phân giải chậm, hiện đang là vùng tự nhiên, cần có kế hoạch tu bổ và khai thác hơp lí Đất này chỉ dùng cho lâm nghiệp
Trang 22* Hệ đất phù sa:
Loại đất này phân chủ yếu ở các thung lũng sông Đất này là kết quả của sự bồi đắp sông Cả, sông Con, sông Giăng Đất này màu mỡ chủ yếu trồng hoa màu và lương thực
- Đất bãi bồi ven sông:
Phân bố rải rác dọc hai bên sông Lam, có diện tích khoảng 60 ha, địa hình tương đối bằng phẳng, thường bị ngập lụt hàng năm Thành phần cơ giới chủ yếu là cát, có nơi lẫn sỏi, không sử dụng trồng trọt nhưng là nguồn cung cấp vật liệu xây dựng cho nhân dân
- Đất phù sa được bồi đắp hàng năm (Pb):
Diện tích 2.579 ha, chiếm 4,25% tổng diện tích tự nhiên và chiếm 4,69% tổng diện tích các loại thổ nhưỡng, có ở các xã dọc sông Lam Loại đất này hàng năm bị ngập lụt vào mùa mưa và được bồi thêm một lớp phù sa, nơi thấp lụt tiểu mãn cũng ngập Đất có thành phần cơ giới từ cát pha đến thịt nhẹ, pH (kcl) 6,7 - 7,2, đạm tổng số 0,126%, lân tổng số 0,069%, kali tổng số 0,254%
Đây là loại đất có nhiều tính chất tốt: Cấu tượng tốt, các chất đạm, lân, kali tổng số cũng như các chất dễ tiêu đều khá, khả năng trao đổi cao, loại đất này phù hợp cho các loại cây trồng như: ngô, lạc, mía, đậu, rau Nơi có điều kiện thủy lợi tốt có thể trồng lúa
Là loại đất có giá trị trong sản xuất nông nghiệp (đã được sử dụng gần hết) Yêu cầu sử dụng là cần có biện pháp để bảo vệ cho đất không bị xói lở bào mòn, bồi lấp, như trồng và bảo vệ rừng đầu nguồn, trồng rừng ven sông
- Đất phù sa không được bồi (P):
Diện tích 5.728 ha, chiếm 9,45% tổng diện tích tự nhiên và chiếm 10,3% tổng diện tích các loại thổ nhưỡng Phân bố ở các xã Hùng Sơn, Hội Sơn, Tường Sơn, Đức Sơn, Thạch Sơn, Long Sơn, Tào Sơn, Thành Sơn, Bình Sơn Ở địa hình cao, nguồn gốc là đất phù sa của hệ thống sông Cả, do quá trình canh tác lâu đời, chế độ nước không ổn định và hợp lý nên chất màu
Trang 23kém dần Hầu hết đất có sản phẩm feralit, thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến thịt nặng tùy từng vùng Đất có phản ứng chua (pH phần lớn nhỏ hơn 5), ít mùn, lân tổng số và dễ tiêu đều nghèo (lân tổng số 0,02 - 0,04%, kali trung bình (kali tổng số 0,12 - 1,00%)
Đất trồng lúa của huyện hầu hết tập trung ở loại đất này Ở nơi cao không có nước tưới trồng các loại hoa màu lương thực và cây công nghiệp ngắn ngày Đối với loại đất này cần tập trung đầu tư cải tạo như thủy lợi, xây dựng đồng ruộng, ổn định đất hai vụ lúa đưa năng suất lên cao Đất trồng màu
và cây công nghiệp ngắn ngày cần chọn cây trồng thích hợp, canh tác hợp lý, tăng chất hữu cơ chống rửa trôi giữ cho đất không bị thoái hóa
- Đất phù sa ngòi suối (Py):
Đất phù sa ngòi suối diện tích 200 ha, có ở Thọ Sơn, Phúc Sơn, Lĩnh Sơn
+ Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhịêt đới:
Phần lớn tập trung ở những vùng thấp dọc theo thung lũng sông Cả, chủ yếu là rừng thứ sinh Nơi ít bị tàn phá còn có Lát hoa, Sến, Táu, Lim, Vàng tâm, Dổi Đa số có bạnh, cây ưu thế thường cao trên dưới 30 m
Trang 24+ Rừng kín nửa rụng lá mưa ẩm nhiệt đới:
Đây là loại rừng phổ biến ở miền núi vùng Tây Nam Nghệ An (trong
đó có Anh Sơn), chiếm hầu hết các khu rừng có độ cao 900 m trở xuống Cây nhỏ hơn, tầng thấp hơn (20 m -30 m) bạnh cây nhỏ Số lượng cây rụng lá về mùa đông tăng lên và chiếm đến một nửa số lượng cây rừng Thường thấy: Lim, Sến, Táu xanh quanh năm và rụng lá như: Sau Sau, Hoàng linh…Đặc biệt có Săng lẻ là cây rụng lá điển hình và phát triển tốt Tầng hai phần lớn là
gỗ tạp như: Ngát, Lành Ngạnh…Tầng ba là Tre, Nứa, Song mây…
Hiện nay các dải rừng gần nơi ở của dân cư, gần các tuyến đường giao thông dễ khai thác, rừng đã bị tàn phá nhiều do khai thác không hợp lý hoặc
do làm nương rẫy nên trở thành rừng thứ sinh Rừng loại này rất khó định tầng nhưng cũng rậm rạp, độ che phủ lớn Tuy nhiên các loài cây to gỗ tốt rất thưa thớt, phần lớn chỉ còn lại cây gỗ tạp và tre nứa, nếu không bảo vệ hợp lý thì loại rừng này rất dễ thoái hoá thành các Savan, đồi trọc
+ Rừng nhiệt đới trên núi đá vôi:
Loại rừng này phát triển trên các dãy núi đá vôi ở Anh Sơn Những loài cây to mọc trên lớp đất phong hoá từ đá vôi có: Nghiến, Trai, Hoàng Đàn Rừng trên đá vôi sinh trưởng chậm, tái sinh khó khăn hơn, rừng ít tầng hơn, cây ít tầng hơn, những nơi khai thác thì chỉ còn lại cây bụi
+ Rừng kín thường xanh á nhiệt đới:
Phân bố ở độ cao trên 900 m với các loài hạt trần, đáng chú ý là Pơmu,
Sa Mộc, Hoàng Đàn Kiểu rừng này ở Anh Sơn chiếm diện tích rất nhỏ chỉ có
ở trên dãy Trường Sơn
Đất lâm nghiệp của huyện chủ yếu là đồi thấp, độ dốc nhỏ, thổ nhưỡng tốt (chủ yếu là đất phát triển trên đá phiến sét và đá biến chất) Do vậy không cần phải đầu tư nhiều về tu bổ chăm sóc, nhiều nơi chỉ cần bảo vệ tốt rừng cũng tái sinh rất nhanh Điều kiện kết hợp nông lâm cũng rất thuận lợi Ngoài
ra còn có các loại lâm đặc sản khác như song, mây dược liệu, động vật qúy hiếm, đây là điều kiện rất thuận lợi để Anh Sơn phát triển lâm nghiệp đa dạng
Trang 251.2 Đặc điểm kinh tế xã hội
1.2.1 Dân cư và nguồn lao động
- Tỉ lệ hộ nghèo: Năm 2005: 30,6%; năm 2009: 15,06%
- Về phân bố dân cư: Dân số chủ yếu sống ở khu vực nông thôn (năm
2009 dân số đô thị là 4.678 người; Có 3 xã thuộc diện đặc biệt khó khăn (Bình Sơn, Thành Sơn, Tam Sơn)
Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt đã tạo nên bản tính con người Anh Sơn dẻo dai, bền bỉ, chịu đựng mọi gian khổ khó khăn, thương yêu, đùm bọc tương thân tương ái và kiên trì lao động, sáng tạo trong lao động sản xuất Họ
đã và đang góp bàn tay, trí óc của mình vào công cuộc xây dựng quê hương Anh Sơn ngày càng giàu đẹp
1.2.1.2 Nguồn lao động
Là huyện có kết cấu dân số trẻ, Anh Sơn có lực lượng lao động khá đông đảo đến ngày 31/12/2005 số người trong độ tuổi lao động là 59.423 người chiếm 53% tổng dân số
Lao động có việc làm ổn định 51.822 người chiếm tỷ lệ 96,41 %, lao động chưa có việc làm ổn định 1.650 người chiếm tỷ lệ 3.06 % lao động chưa
có việc làm
Trang 26Lao động đã được đào tạo nghề là 5.960 người chiếm tỷ lệ 11,08%, lao động chưa được đào tạo nghề 47.788 người chiếm tỷ lệ 88,91%
Bảng 2: Cơ cấu lao động theo các ngành kinh tế của huyện Anh Sơn năm 2005
Cơ cấu lao động theo ngành Tỉ lệ (%)
Công nghiệp-xây dựng 31,2
Nông - lâm - ngư Công nghiệp - xây dựng Dịch vụ
Biểu đồ 2: Cơ cấu lao động theo các ngành kinh tế
của huyện Anh Sơn năm 2005
Lực lượng lao động của huyện tập trung chủ yếu trong khu vực I (47,8
%), còn khu vực II và III còn thấp, chứng tỏ nông nghiệp vẫn là ngành sản suất chính của huyện
Tuy nhiên lao đông trẻ, khoẻ, có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất nông- lâm- ngư là tiền đề tốt cho sự phát triển kinh tế Trong thời kì hội nhập,
Trang 27mở rộng giao lưu buôn bán thì đây là một lợi thế rất lớn giúp huyện nhanh chóng nắm bắt cơ hội, tiếp thu khoa học kĩ thuật để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội
1.2.2 Cơ sở hạ tầng, kĩ thuật
1.2.2.1 Hệ thống giao thông vận tải
Giao thông huyện Anh Sơn gồm: Giao thông đường bộ và giao thông đường thủy
a Giao thông đường bộ
Đến năm 2009 toàn huyện có:
- Tổng chiều dài đường giao thông trên địa bàn huyện là 789,30 km trong đó:
+ Quốc lộ 7A: 46 km
+ Đường Hồ Chí Minh: 13 Km
+ Huyện xã quản lí: 730,3 km (trong đó huyện quản lí 211,3 km; xã quản lí 519km)
- Toàn huyện có 101 cầu và 863 cống các loại
Nhìn chung hệ thống giao thông phủ kín địa bàn 21 xã, thị, ô tô đi được đến các trung tâm xã, các đường nguyên liệu mía, chè Trong những năm qua
hệ thống giao thông trên địa bàn huyện được quan tâm đầu tư lớn Ngoài ra hàng năm còn huy động sức dân tu sửa phát quang các tuyến đường giao thông liên xã, liên thôn
b Giao thông đường thủy
- Huyện có 67 km đường giao thông đường thủy (47 km trên sông Lam
và 20 km trên sông Con)
- Có 3 cây cầu trên sông: Cầu Cứng Tri Lễ (trên đường Hồ Chí Minh),
cầu Treo (nối quốc lộ 7A và 7B - Thạch Sơn) trên sông Lam và cầu trên sông Con
Nhìn chung giao thông đường thủy huyện Anh Sơn thuận lợi nhất trong
Trang 2810 huyện miền núi của tỉnh Nghệ An Nhưng thời gian qua phương tiện này chưa được chú ý và phát triển, lượng hàng hóa vận chuyển không nhiều
- Toàn huyện có 12 bến đò ngang, đảm bảo vận chuyển nhân dân qua lại sản xuất và sinh hoạt thuận lợi
Tuy là huyện miền núi nhưng giao thông ngày càng được xây dựng và
mở rộng, hoàn thiện tạo điều kiện đi lại cũng như phục vụ cho sản xuất trên địa bàn của huyện
1.2.2.2 Thông tin liên lạc
Mạng lưới thông tin liên lạc của huyện ngày một hoàn thiện hơn: Toàn huyện có một trung tâm phát thanh truyền hình chính, 100% số xã có điện thoại, với tổng số máy là 805 máy (năm 2000), tăng lên 6.152 máy (năm 2005) và 13.300 máy (năm 2009)
* Đánh giá chung về điều kiện phát triển nông nghiệp
Với điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội như vậy đã tạo ra những thuận lợi và khó khăn nhất định cho phát triển nông nghiệp nói chung và cây mía nói riêng trên địa bàn huyện Anh Sơn
- Thuận lợi:
+ Tự nhiên
Anh Sơn có vị trí địa lý khá thuận lợi, đã tạo điều kiện cơ bản cho huyện trong việc mở rộng giao lưu phát triển kinh tế - xã hội với các địa phương khác trong và ngoài tỉnh; cho nên quá trình vận chuyển, trao đổi hàng hóa mà đặc
biệt là các sản phẩm nông nghiệp tới các địa phương khác rất dễ dàng
Điều kiện khí hậu, đất đai, nguồn nước dồi dào, phù hợp với nhiều loại cây trồng, vật nuôi, trong đó có cây mía Cho phép phát triển một nền sản xuất nông - lâm nghiệp với nhiều loại cây trồng đa dạng để phát triển mạnh công nghiệp chế biến, làm cơ sở cho quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá
+ Kinh tế- xã hội
Anh Sơn có nguồn lao động khá dồi dào, chăm chỉ, chịu khó, đây là
Trang 29nguồn lao động cơ bản phục vụ cho sản suất nông nghiệp Riêng đối với cây mía, việc trồng, chăm sóc, thu hoạch cũng cần nhiều nhân công, cho nên điều đáng quan tâm hiện nay trong phát triển cây mía trên địa bàn huyện là việc nâng cao chất lượng, trình độ canh tác cho người nông dân
Hiện nay chính quyền các cấp đang có nhiều chính sách để phát triển nông nghiệp Đặc biệt những năm gần đây trong việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng huyện rất quan tâm việc đầu tư mở rộng diện tích mía, kêu gọi bà con chuyển đổi cây trồng phù hợp với diện tích đất trồng hiện có, triển khai xây dựng hệ thống đường giao thông liên thôn, liên xã để tạo những điều kiện thuận lợi nhất cho phát triển cây mía
- Khó khăn
Với 3/4 diện tích là đồi núi, địa hình của huyện bị chia cắt nhiều, gây khó khăn cho sản xuất, sinh hoạt của người dân, đầu tư để xây dựng cơ sở hạ tầng cũng tốn kém hơn Hiện nay hệ thống các đường giao thông nối liền các vùng nguyên liệu mía, chè vẫn chưa đồng bộ, ảnh hưởng không nhỏ tới việc chuyên chở giống, sản phẩm sau khi thu hoạch tới các nhà máy chế biến
Điều kiện khí hậu, thời tiết hàng năm có nhiều bất lợi (gió Lào khô, nóng, lũ lụt gây sạt lở đất ) tác động xấu đến sản xuất, sinh hoạt của người dân, đặc biệt là trong nông nghiệp
Chất lượng lao động còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng các yêu cầu trong chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, cho nên sản suất nông nghiệp hiệu quả mang lại chưa cao, thiếu tính cạnh tranh trên thị trường
1.2.3 Thực trạng phát triển kinh tế
1.2.3.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Trong những năm qua, kinh tế huyện Anh Sơn liên tiếp tăng trưởng:
+ Giá trị sản xuất (giá cố định 1994) không ngừng tăng lên: năm 2000 đạt 454.891 triệu đồng; năm 2005 đạt 866.892 triệu; năm 2009 đạt 1.542.715
triệu đồng
Trang 30+ Tăng trưởng bình quân hàng năm tăng nhanh: giai đoạn 2001 - 2005
2
(Nguồn: Phòng thống kê huyện Anh Sơn)
Thu nhập bình quân trên đầu người tăng từ 3,209 triệu năm 2000 lên 6,814 triệu năm 2005 và năm 2009 là 11,208 triệu đồng,chứng tỏ kinh tế của huyện ngày càng phát triển đi lên, chính vì vậy đời sống của người dân đang ngày càng được cải thiện rõ nét
Trang 31- Cơ cấu các ngành kinh tế:
Bảng 4: Cơ cấu các ngành kinh tế của huyện Anh Sơn năm 2009
(Đơn vị: %)
Nông - lâm - ngư nghiệp 39,7
Công nghiệp - xây dựng 30,7
Nông - lâm - ngư Công nghiệp - xây dựng Dịch vụ
Biểu đồ 3: Cơ cấu các ngành kinh tế của huyện Anh Sơn năm 2009
Nhìn chung nông - lâm - ngư vẫn là ngành sản xuất chính của huyện (chiếm gần 40 %) Công nghiệp - xây dựng và dịch vụ chiếm tỉ trọng vừa và
đang có xu hướng tăng lên:
Trang 32Bảng 5: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành ở huyện Anh Sơn
(giá trị gia tăng theo thực tế)
Nông - lâm - ngư Công nghiệp - xây dựng Dịch vụ
Biểu đồ 4: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành ở huyện Anh Sơn
(từ năm 2000 - 2009)
Cơ cấu kinh tế của huyện đang chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm
tỉ trọng ngành nông - lâm - ngư; tăng tỉ trọng ngành công nghiệp - xây dựng
và dịch vụ Sự chuyển dịch này phù hợp với xu thế chung của đất nước ta và thế giới, trong thời gian tới huyện phấn đấu phát triển nhanh công nghiệp - xây dựng và dịch vụ, tăng tỉ trọng đóng góp của hai khu vực này trong cơ cấu kinh tế
Trang 33Có thể nói kinh tế Anh Sơn đang trên đà khởi sắc với nhiều thành tựu đáng ghi nhận.Trong những năm tiếp theo hứa hẹn nhiều cơ hội để đẩy nhanh hơn nữa tốc độ phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân
1.2.3.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
a Ngành nông - lâm - ngư
Anh Sơn là huyện miền núi kinh tế chủ yếu sản xuất nông nghiệp Diện tích đất quy hoạch cho sản xuất nông nghiệp là 13.608,56 ha (năm 2009)
- Giá trị sản xuất (giá cố định 1994) không ngừng tăng lên: năm 2000 đạt 236.467 triệu đồng, năm 2005 đạt 282.983 triệu đồng, năm 2009 đạt 445.759 triệu đồng Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của ngành thời kì 2006-2009 là 8,91%
- Đóng góp của ngành nông nông - lâm - ngư trong cơ cấu kinh tế có xu hướng giảm: từ 53,77% (2000) giảm xuống 42,92% (2005) và 37,42% (2009)
* Sản xuất nông nghiệp
Giá trị sản xuất nông nghiệp của huyện Anh Sơn tăng lên rất nhanh, từ năm 2000 đến 2009 tăng 615.601 triệu đồng (Tăng 4,2 lần), với tốc độ tăng trưởng bình quân cao 8,68 %/năm
Trang 34Tỉ trọng đóng góp của nông nghiệp trong cơ cấu ngành nông - lâm - ngư có xu hướng giảm: năm 2000 là 86,78%, năm 2005 là 85,36% và năm
2009 là 81,57%
Nhờ chuyển dịch cơ cấu cây trồng và ứng dụng tốt tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tăng thêm 3 vụ trên đất 2 lúa trồng ngô và rau dưa, chuyển đất màu trồng không hiểu quả sang đất trồng mía, cải tạo vườn đồi, vườn tạp sang trồng chè công nghiệp, trồng cây ăn quả, nuôi cá trên lúa và tận dụng khả năng đất đai vào đắp đập nuôi cá Chăn nuôi phát triển mạnh theo hướng hàng hóa Nhờ vậy trồng trọt và chăn nuôi giai đoạn 2006 - 2009 đều phát triển khá
Bảng 7: Diện tích đất sản xuất nông nghiệp ở huyện Anh Sơn năm 2009
Các loại đất nông nghiệp Diện tích (ha) Tỉ lệ (%)
Đất trồng cây hàng năm 8.750,08 64,3
Đất trồng cây lâu năm 4.858,48 35,7
Tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp 13.608,56
Trong cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp thì đất trồng cây hàng năm là chủ yếu (64,3 %), với các loại cây trồng phổ biến như: ngô (Anh Sơn được mệnh danh là “Vua ngô” của tỉnh Nghệ An), lạc, mía, đậu
- Trồng trọt:
Tổng diện tích gieo trồng năm 2009 là 17.054 ha (tăng 188 ha so với năm 2005 và 2.198 ha so với năm 2000) Trong đó:
+ Các loại cây lương thực có hạt:
Diện tích năm 2009 là 11.494 ha (trong đó đất trồng lúa là 5.984 ha) Năng suất các loại cây lương thực có hạt: Lúa 50 tạ/ha (năm 2000 là
Trang 3540,51 tạ/ha, năm 2005 là 44,54 tạ/ha); Ngô 47,3 tạ/ha (năm 2000 là 33,98 tạ/ha, năm 2005 là 44,24 tạ/ha)
Sản lượng lương thực có hạt năm 2009 là 51.036 tấn (trong đó lúa là 43.344 tấn, ngô 37.455 tấn)
+ Diện tích chè công nghiệp năm 2009 là 1.884 ha
+ Cây mía:
Diện tích: năm 2009 là 853 ha (năm 2000 là 568 ha, năm 2005 là 853 ha) Sản lượng mía: năm 2009 là 51.180 tấn (năm 2000 là 26.295 tấn và năm 2005 là 42.386 tấn)
Bảng 8: Diện tích, năng xuất, sản lượng một số cây trồng
của huyện Anh Sơn năm 2000- 2009
2 Ngô
Diện tích ha 5.500 3.317 5.199 5.529 5.510 Năng suất Tạ/ha 52,80 33,89 44,24 43,73 47,3 Sản lượng Tấn 29.040 11.270 22.999 24.179 26.055
3 Mía
Diện tích ha 850 568 853 1.017 853 Năng suất Tạ/ha 824,0 463 497 599 600 Sản lượng Tấn 70.000 26.295 42.386 60.882 51.180
4 Chè
Diện tích ha 2000 945 1.458 1.678 1.884 Năng suất Tạ/ha 100 46 79 81 100 Sản lượng Tấn 20.000 2.058 8.760 12.550 13.050
(Nguồn niên giám thống kê 1999 - 2009 và TH KTXH 2009 huyện Anh Sơn)
Trang 36(Nguồn: Báo cáo cấp huyện)
Những năm qua, nông nghiệp huyện Anh Sơn đã có bước chuyển biến tích cực cả về diện tích, năng suất, sản lượng chăn nuôi gia súc, gia cầm Tuy nhiên, do thời tiết và các tai biến thiên nhiên khác nên năng suất các loài cây trồng và tổng đàn gia súc, gia cầm giảm
* Lâm nghiệp:
Năm 2009 tổng diện tích rừng trồng và chăm sóc bảo vệ: 28.261 ha; trong đó diện tích đang có rừng: 4.356 ha; diện tích được khoanh nuôi bảo vệ là: 23.905 ha
+ Giá trị sản xuất lâm nghiệp của huyện không ngừng tăng lên:
Trang 37Bảng 10: Giá trị sản xuất lâm nghiệp của huyện từ năm 2000-2009
Giá trị sản xuất (Triệu đồng) 39.036 61.095 82.678
Tốc độ tăng trưởng bình quân năm
+ Đến nay đã chuyển đổi đất 21/21 xã, thị trấn, lập hồ sơ địa chính giao đất lâm nghiệp cho các tổ chức và hộ gia đình với tổng diện tích là 32.416,16 ha
+ Nâng độ che phủ từ 39,6% (năm 2000) lên 43,1% (năm 2005), và 46,8% (năm 2009)
* Thủy sản:
+ Giá trị sản xuất (giá cố định năm 1994) tăng lên nhanh chóng: năm
2000 là 2.480 triệu đồng, năm 2005 là 6.800 triệu đồng và 2009 là 8.240 triệu đồng
+ Tỉ trọng đóng góp của ngành thủy sản trong cơ cấu ngành nông - lâm
- ngư nghiệp cũng ngày càng tăng: từ 1,31% (năm 2000) lên 3,24% (năm 2005) và 3,36% (năm 2009)
+ Anh Sơn nuôi trồng thủy sản theo 3 hình thức: Ao, hồ, đập nuôi cá ổn định; Nuôi cá theo thời vụ trên ruộng lúa và nuôi cá lồng trên sông, suối Năm
2009 có 860 ha và 79 lồng nuôi cá, sản lượng nuôi trồng đạt 976 tấn
1.2.3.3 Các nghề khác
Hiện tại trên địa bàn huyện có 2 nhà máy xi măng với tổng công suất 17,6 vạn tấn/năm; Có 2 đơn vị chế biến chè công nghiệp, 2 Tổng đội TNXP-XDKT, 1 Lâm trường, 1 nhà máy sản xuất Đường và nhiều cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp nhỏ lẻ…
Trang 38Trên địa bàn huyện có một số cơ sở chế biến lâm sản, sản xuất các loại sản phẩm chủ yếu phục vụ cho xây dựng và hàng mộc dân dụng Dịch vụ thương mại, vận tải trong khu vực có chợ Thị trấn và hệ thống hàng đại lí phục vụ nhu cầu sinh hoạt của nhân dân, lưu hong phân phối, trao đổi hàng hóa Nhìn chung các ngành nghề còn nhiều hạn chế, cần được quan tâm đầu
tư phát triển
Như vậy có thể thấy Anh Sơn tuy là huyện miền núi nhưng có nhiều điều kiện để phát triển, trong đó điều kiện tự nhiên thuận lợi (vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên) là tiền đề quan trọng, còn điều kiện kinh tế- xã hội là nhân tố quyết định góp phần thay đổi bộ mặt kinh tế- xã hội của huyện Trong những năm qua cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch phù hợp với xu hướng chung của đất nước, trong đó nông nghiệp mặc dù có xu hướng giảm tỉ trọng nhưng vẫn là ngành sản suất chính và luôn được quan tâm đầu tư để phát triển Quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi luôn được chú trọng, mấy năm gần đây nhiều diện tích đất hoa màu được chuyển đổi sang trồng các loại cây công nghiệp ngắn ngày khác mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn, như: mía, dưa hấu, bí đao…Vấn đề đáng quan tâm hơn cả trong những năm tiếp theo là huyện cần phải chú trọng nghiên cứu, tìm hiểu, đánh giá nguồn tài nguyên hiện có, đặc biệt là tài nguyên đất để có sự chuyển đổi cây trồng phù hợp hơn, mở rộng những diện tích đất trồng hiện có, nâng cao năng suất, sản lượng, mang lại nguồn thu nhập cao cho người nông dân
Trang 39Chương 2 HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT VÀ PHÁT TRIỂN CÂY MÍA
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ANH SƠN
2.1 Hiện trạng sử dụng đất ở huyện Anh Sơn
Theo số liệu thống kê đất đai tính đến thời điểm 01/01/2010 huyện Anh Sơn hiện có:
- Diện tích đất tự nhiên: 60.328,50 ha, chiếm 3,66% diện tích tự nhiên của tỉnh (huyện Anh Sơn có diện tích tự nhiên lớn thứ 11 trong tổng số 19 huyện, thị trong tỉnh)
- Bình quân diện tích tự nhiên trên đầu người là 0,54 ha/người (tương đương với mức bình quân của cả tỉnh 0,55 ha/người)
- Diện tích đất đã được đưa vào sử dụng cho các mục đích (nông nghiệp và phi nông nghiệp) là 54.640,15 ha chiếm 90,57% diện tích đất tự nhiên Cụ thể:
Bảng 11: Diện tích các loại đất ở huyện Anh Sơn Năm 2010
Trang 40tích tự nhiên của huyện Đơn vị có diện tích tự nhiên lớn nhất là xã Phúc Sơn với 14.543 ha chiếm 21,1% diện tích tự nhiên của huyện
2.1.1 Đất nông nghiệp
Theo số liệu thống kê đất đai năm 2010, toàn huyện hiện có 17.278,74
ha đất nông nghiệp, chiếm 28,6 % tổng diện tích tự nhiên Trong đó:
- Đất trồng cây hàng năm: 11720,26 ha (67,8 % so với đất nông nghiệp) Đất trồng lúa: 4067,32 ha (23,5% so với đất nông nghiệp)
- Đất trồng cây lâu năm: 5286,14 ha (30,6% so với đất nông nghiệp)
- Diện tích đất nuôi trồng thủy sản: 272,34 ha (1,6% so với đất nông nghiệp) Diện tích đất nuôi trồng thủy sản chủ yếu là diện tích nuôi thả cá, tập trung chủ yếu ở các xã Phúc Sơn 87,88 ha, xã Tam Sơn 59,34 ha, xã Long Sơn 51,26 ha, xã Đỉnh Sơn 19,00 ha, xã Đức Sơn 17,30 ha Nhìn chung phần diện tích này đang được khai thác có hiệu quả phục vụ cho đời sống sinh hoạt của nhân dân huyện
Nhìn chung đất nông nghiệp của huyện ngày càng được khai thác và sử dụng hợp lý hơn Hàng năm sản xuất nông nghiệp của huyện đã tạo ra sản lượng lương thực và các loại nông sản, thực phẩm khác để cung cấp cho nhu cầu tiêu dùng của xã hội và nguyên liệu cho chế biến công nghiệp tương đối cao Hình thức sử dụng đất nông nghiệp ưu thế của huyện là: Với vùng đất bằng phẳng, thuận lợi giao thông thì trồng lúa, lúa màu, chuyên màu (cây công nghiệp ngắn ngày như đỗ, lạc, đậu); Đối với vùng đồi núi: Cao su, chè, cây ăn quả, mía, các loại hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày
Tuy nhiên, việc sử dụng đất nông nghiệp của huyện đang còn nhiều vấn
đề cần quan tâm, khai thác đất nông nghiệp còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, cơ sở hạ tầng còn yếu, nhất là thuỷ lợi Thế mạnh về cây công nghiệp, chăn nuôi, lâm nghiệp chưa được khai thác đúng với tiềm năng Diện tích đất nông nghiệp thời gian qua giảm đi đáng kể