Điều đó nói lên rằng, việc nghiên cứu về lập trường quan điểm của các nước lớn trong việc giải quyết vấn đề Đài Loan có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc đối với việc nghiên cứu qua
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA LỊCH SỬ
=== ===
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
LẬP TRƯỜNG QUAN ĐIỂM CỦA CÁC NƯỚC LỚN VỀ VẤN ĐỀ ĐÀI LOAN TỪ
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Được sự giúp đỡ của tập thể thầy, cô giáo trong khoa Lịch sử, sự hướng
dẫn tận tình của ThS Hắc Xuân Cảnh, cùng với sự động viên của gia đình
bạn bè người thân, tôi đã hoàn thành khoá luận này
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới toàn thể thầy cô giáo trong và ngoài khoa, đặc biệt là ThS Hắc Xuân Cảnh, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình tiến hành nghiên cứu
Kính gửi tới thầy cô giáo, gia đình và bạn bè lời chúc sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt
Vinh, tháng 5 năm 2012
Sinh viên
Vũ Thị Thúy
Trang 3MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của khoá luận 6
7 Bố cục của khoá luận 6
NỘI DUNG 7
Chương 1 NGUỒN GỐC CỦA VẤN ĐỀ ĐÀI LOAN 7
1.1 Khái quát về Đài Loan 7
1.1.1 Vị trí địa lí, tài nguyên thiên nhiên và cư dân 7
1.1.2 Khái quát lịch sử phát triển của Đài Loan trước năm 1945 10
1.2 Sự xuất hiện của vấn đề Đài Loan trong quan hệ quốc tế 13
1.2.1 Vị trí của Đài Loan trong chiến lược của các nước lớn 13
1.2.2 Quan điểm của các nước đối với Đài Loan trong thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ hai 15
Chương 2 LẬP TRƯỜNG QUAN ĐIỂM CỦA CÁC NƯỚC LỚN VỀ VẤN ĐỀ ĐÀI LOAN (TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 1971) 18
2.1 Lập trường quan điểm của Mỹ 18
2.1.1 Giai đoạn 1945 - 1950 18
2.1.2 Giai đoạn 1950 - 1971 19
2.2 Lập trường quan điểm của Trung Quốc 26
2.2.1 Giai đoạn 1945 - 1949 26
2.2.2 Giai đoạn 1949 - 1971 28
2.3 Lập trường quan điểm của Liên Xô 36
2.4 Lập trường quan điểm của Nhật Bản 37
Trang 4Chương 3 LẬP TRƯỜNG QUAN ĐIỂM CỦA CÁC NƯỚC LỚN VỀ
VẤN ĐỀ ĐÀI LOAN (TỪ NĂM 1971 ĐẾN NĂM 1991) 41
3.1 Những nhân tố mới tác động đến lập trường, quan điểm của các nước lớn về vấn đề Đài Loan 41
3.2 Lập trường quan điểm của Mỹ 42
3.3 Lập trường quan điểm của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 47
3.4 Lập trường quan điểm của Liên Xô 51
3.5 Lập trường quan điểm của Đài Loan 52
KẾT LUẬN 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57 PHỤ LỤC
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sau chiến thế giới thứ hai năm 1945, tình hình chính trị thế giới có những chuyển biến quan trọng Trong khi các nước khác đều bị suy yếu và kiệt quệ do chiến tranh, thì Mỹ giàu lên nhanh chóng Do vậy, để thực hiện tham vọng làm bá chủ thế giới, Mỹ đã từng bước can thiệp vào công việc nội
bộ của nhiều nước, khu vực trên thế giới như: can thiệp cuộc nội chiến ở Trung Quốc, phát động chiến tranh lạnh nhằm chống lại Liên Xô Tuy nhiên,
sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, cùng với sự lớn mạnh của Liên Xô và sự hình thành hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới
đã tạo nên những thách thức lớn đối với Mỹ
Do có vị trí thuận lợi, từ lâu Đài Loan đã trở thành địa bàn quan trọng trong chiến lược của nhiều nước lớn ở Châu Á - Thái Bình Dương “Vấn đề Đài Loan” cũng luôn là vấn đề nhạy cảm, căng thẳng trong quan hệ các nước lớn Vì vậy, giải quyết vấn đề Đài Loan có liên quan trực tiếp đến việc giải quyết lợi ích giữa các nước lớn ở khu vực và trên thế giới Vấn đề Đài Loan cũng trở thành một trong những vấn đề “tâm điểm” trong quan hệ của nhiều nước ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương Theo đánh giá của các nhà
nghiên cứu, Đài Loan có thể trở thành “một điểm nóng nhưng cũng có thể là
chất xúc tác cho ổn định của khu vực” [14; 1] Điều đó nói lên rằng, việc
nghiên cứu về lập trường quan điểm của các nước lớn trong việc giải quyết vấn đề Đài Loan có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc đối với việc nghiên cứu quan hệ quốc tế từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay
Thực tiễn cho thấy, vấn đề Đài Loan là vấn đề phức tạp, trong quá trình giải quyết vấn đề này, các bên có liên quan đều khá thận trọng trong việc đưa
ra cách giải quyết của mình Do vậy, nghiên cứu về lập trường quan điểm của các nước lớn về vấn đề Đài Loan một mặt cho thấy những tính toán lợi ích
Trang 6của các nước lớn, mặt khác góp phần rút ra những kinh nghiệm cho việc giải quyết các vấn đề quốc tế khác Điều đó nói lên rằng việc nghiên cứu lập trường quan điểm của các nước lớn về vấn đề Đài Loan không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc
Cho đến nay, vấn đề Đài Loan vẫn chưa được giải quyết một cách triệt
để, đồng thời đây vẫn sẽ là một trong những vấn đề chi phối quan hệ của các nước lớn ở khu vực và trên thế giới Chính vì thế, nghiên cứu về lập trường quan điểm của các nước lớn về vấn đề Đài Loan là vấn đề có tính thời sự Đây cũng là vấn đề sẽ thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu ở Việt Nam cũng như các nước trên thế giới
Với những ý nghĩa khoa học và thực tiễn nêu trên chúng tôi quyết định
chọn vấn đề “Lập trường quan điểm của các nước lớn về vấn đề Đài Loan
từ 1945 đến 1991” để làm đề tài khoá luận của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Có thể nói Đài Loan là nơi hội tụ những lợi ích chiến lược của nhiều nước như Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Liên Xô Do vậy vấn đề Đài Loan là vấn đề mang tính thời sự nóng bỏng Từ khi nảy sinh vấn đề Đài Loan, các nhà nghiên cứu Trung Quốc cũng như nhiều nước khác đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này, trong đó, các công trình nghiên cứu đề cập đến chính sách của các nước lớn đến vấn đề Đài Loan chiếm một khối lượng tương đối lớn
Khi đề cập đến vấn đề lập trường, quan điểm của các nước lớn về vấn đề Đài Loan, các nhà nghiên cứu đã tuỳ thuộc theo cách tiếp cận khác nhau để đưa
ra những nhận xét đánh giá, cũng như những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu Trong điều kiện thời gian, khả năng nghiên cứu còn hạn chế, chúng tôi đã tiếp cận được một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài như:
Về nguồn gốc của vấn đề Đài Loan, đã được đề cập trong nhiều tác phẩm
như “Sách trắng về vấn đề Đài Loan và sự thống nhất Trung Quốc”do Văn
Trang 7phòng các vấn đề Đài Loan phát hành (TLTKĐB ngày 6,7,8,9 tháng10 1993,
TTXVN); Những sự kiện quan trọng trong quan hệ Mỹ - Trung của Phi Bằng, NXB Trẻ - Hà Nội, 2001; Chiến tranh lạnh và di sản của nó của tác giả Trương
Tiểu Minh, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002 Các tác phẩm nói trên đều
cố gắng tập trung làm sáng tỏ ngọn nguồn của vấn đề Đài Loan, về sự chia cắt giữa Đài Loan và Đại Lục Đặc biệt một vài tác phẩm đã trình bày sơ lược về lập trường của Trung Quốc, Mỹ, Đài Loan trong việc thống nhất Đài Loan
Về lập trường, quan điểm và chính sách của các nước lớn trong việc giải quyết vấn đề Đài Loan, đã được đề cập trong các tác phẩm, công trình nghiên
cứu như: Đài Loan với vấn đề thống nhất hai bờ sau Chiến tranh lạnh ủa Vũ Đức Dũng, Luận văn Thạc sĩ, Học viện quan hệ Quốc tế, Hà Nội, 2004; Cuộc
đấu tranh của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa nhằm thống nhất Đài Loan vào Đại lục từ 1949 đến 2005, của Hắc Xuân Cảnh, Luận văn Thạc sĩ Sử học
Trường Đại học Vinh, 2006; Chiến lược toàn cầu của Mỹ và về vấn đề Đài
Loan của Tô Cách, Tạp chí “Nghiên cứu các vấn đề quốc tế”, số 07&08/2000; Trung Quốc cần đặt vấn đề Đài Loan trong đại chiến lược toàn cầu để giải quyết, TTXVN (Hồng Kông 13/7/2005); Thực chất thoả hiệp giữa Mỹ và Trung Quốc trong vấn đề Đài Loan, TLTKĐB - TTXVN, 2004 ; Mỹ thay đổi liên tục chính sách đối với Đài Loan, TLTKĐB TTXVN, 22/09/2005; Đài Loan trong chiến lược của Nga, TĐB 1709.003 tài liệu tham khảo Chủ nhật,
TTXVN, 2009 Các bài nghiên cứu nói trên các tác giả đã khái quát và phân tích sự thay đổi quan điểm, lập trường của các nước trong giải quyết vấn đề Đài Loan Đó là những cứ liệu quan trọng cho chúng ta phân tích, đánh giá khách quan khoa học hơn về việc giải quyết vấn đề Đài Loan
Nhìn chung, tuỳ theo cách tiếp cận riêng của mỗi tác giả, mà những công trình nghiên cứu nêu trên đã đề cập đến những khía cạnh góc độ khác nhau của đề tài mà chúng tôi nghiên cứu Đó là nguồn tư liệu quý giá, bổ ích cho chúng tôi khi tiến hành đề tài nghiên cứu của mình Tuy nhiên theo chúng
Trang 8tôi nhận thấy cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu lập trường quan điểm của một số nước lớn về vấn đề Đài Loan từ năm 1945 đến năm 1991 Thực hiện đề tài này, chúng tôi mong muốn góp một phần làm rõ hơn về lập trường quan điểm của một số nước lớn về vấn đề Đài Loan
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
3.1 Mục đích
Thông qua đề tài nghiên cứu, chúng tôi mong muốn làm sáng tỏ hơn về nguồn gốc của vấn đề Đài Loan, lập trường quan điểm của các nước lớn trong vấn đề này Thông qua việc phân tích lập trường quan điểm của các nước lớn
về vấn đề Đài Loan trong từng giai đoạn từ 1945 đến 1991, chúng tôi sẽ làm rõ hơn bối cảnh, nguyên nhân tác động cũng như sự chuyển biến về lập trường và chính sách trong quá trình giải quyết vấn đề Đài Loan Bên cạnh đó là nghiên cứu về bản chất của vấn đề Đài Loan, các chính sách lớn áp dụng và các chính sách riêng của Đài Loan trong quá trình phát triển và ổn định khu vực
Từ việc tìm hiểu về lập trường quan điểm của các nước lớn về vấn đề Đài Loan đề tài còn nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm cho việc giải quyết những vấn đề xung đột, mâu thuẫn ở các quốc gia và khu vực
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là lập trường của các nước lớn về vấn
đề Đài Loan từ năm 1945 đến năm 1991
Trang 9Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu lập trường quan điểm và
chính sách của các bên có liên quan đến việc giải quyết vấn đề Đài Loan Tuy nhiên để làm rõ vấn đề chính cần nghiên cứu, chúng tôi đề cập tới những vấn
đề cơ bản sau:
- Nguồn gốc của vấn đề Đài Loan
- Những nhân tố chi phối đến vấn đề Đài Loan trong các giai đoạn
- Lập trường quan điểm các các nước lớn và các bên có liên quan đến vấn đề Đài Loan
Về không gian: Do vấn đề Đài Loan có liên quan đến nhiều nước ở khu
vực cũng như trên thế giới, nên ở đây chúng tôi chỉ nghiên cứu lập trường quan điểm của các nước lớn và những bên có liên quan trực tiếp đến vấn đề này Các nước lớn mà đề tài nghiên cứu bao gồm: Mỹ, Liên Xô, Nhật Bản Các bên có liên quan trực tiếp, bao gồm: Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, Chính quyền Đài Loan, Liên Hợp Quốc
Về thời gian: đề tài nghiên cứu lập trường quan điểm của các nước lớn
trong giai đoạn 1945 - 1991
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tài liệu
Để thực hiện đề tài nghiên cứu của mình, chúng tôi đã sử dụng các nguồn tài liệu và các sách tham khảo như: Các công trình nghiên cứu của các tác giả đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc; các luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ lịch sử Tài liệu là các sách của Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, NXB Trẻ, NXB Văn hoá Thông Tin Đặc biệt chúng tôi đã khai thác những TLTKĐB, tin tham khảo đặc biệt của TTXVN Nguồn tài liệu
mà chúng tôi sử dụng chủ yếu được viết bằng tiếng Việt hoặc đã được dịch sang tiếng Việt
Trang 105.2 Phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ nội dung chính cần nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính như Phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic để làm sáng rõ quan điểm, lập trường của các nước lớn về vấn đề Đài Loan Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử dụng các phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp để so sánh và đưa ra những nhận xét, đánh giá về lập trường quan điểm của các bên có liên quan trong quá trình giải quyết vấn đề Đài Loan
6 Đóng góp của khoá luận
Thực hiện đề tài này, khoá luận có những đóng góp chính sau đây:
- Xác định về thời điểm xuất hiện vấn đề Đài Loan trong quan hệ quốc tế
- Làm rõ sự chuyển biến về lập trường quan điểm của các nước lớn và các bên có liên quan đến vấn đề Đài Loan
- Khoá luận là tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu về chính sách của
Mỹ, Trung Quốc đối với Đài Loan, cũng như việc nghiên cứu về quan hệ quốc tế ở khu vực
7 Bố cục của khoá luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung của khoá luận gồm có 3 chương:
Chương 1: Nguồn gốc của vấn đề Đài Loan
Chương 2: Lập trường quan điểm của một số nước lớn về vấn đề Đài
Loan từ 1945 đến 1971 Chương 3: Lập trường quan điểm của một số nước lớn về vấn đề Đài
Loan từ 1971 đến 1991
Trang 11NỘI DUNG Chương 1 NGUỒN GỐC CỦA VẤN ĐỀ ĐÀI LOAN
1.1 Khái quát về Đài Loan
1.1.1 Vị trí địa lí, tài nguyên thiên nhiên và cư dân
Vị trí địa lí: Đài Loan nằm ở phía đông nam Trung Quốc, là hòn đảo lớn nhất trong số 5000 đảo lớn nhỏ ở ven biển phía đông Trung Quốc Đài Loan còn có những tên gọi khác như “Đảo tuyệt vời”, “Đảo mỹ lệ”, “Đảo ngọt phương đông” Đảo Đài Loan có hình dáng như chiếc lá cây thuốc lá, nằm ở giữa 210
45'25'' và 25056'21'' độ vĩ Bắc, kéo dài từ 110903' đến
124034'09'' độ kinh Đông, ở giữa có đường hạ chí tuyến chạy qua Ngoài đảo Đài Loan còn có hàng chục đảo nhỏ khác nằm dưới quyền kiểm soát của chính quyền Đài Loan, trong đó có Bành Hồ, Kim Môn, Mã Tổ Tổng diện tích mà chính quyền Đài Loan quản lý là 36000 km2
Đảo Đài Loan nằm cách
bờ biển Phúc Kiến khoảng 160 km Các tuyến đường giao thông trên biển từ Nhật Bản, bán đảo Triều Tiên, vùng biển Đông của Liên Bang Nga đến Đông
Nam Á, Ấn Độ Dương đều qua eo biển Đài Loan
Đài Loan đối diện với biển Đông về phía bắc; phía đông bắc giáp với quần đảo Lưu Cầu; phía đông đối diện với Thái Bình Dương; phía nam giáp với eo biển Ba Sĩ và Phi-líp-pin; phía tây, đối diện với tỉnh Phúc Kiến Nằm
ở vị trí trung tâm của đường thủy Tây Thái Bình Dương, Đài Loan có vị trí chiến lược hết sức quan trọng
Chiều dài của Eo biển Đài Loan khoảng 380 km, chạy theo hướng Bắc
- Nam, chiều rộng, trung bình là 190 km (chỗ hẹp nhất là đoạn nối từ Tân Trúc (Đài Loan) đến Bình Đàn (tỉnh Phúc Kiến) với khoảng cách 130 km), chạy theo hướng từ Đông sang Tây Đảo Đài Loan chiếm trên 97% tổng diện
Trang 12tích mà chính quyền Đài Loan hiện đang quản lý Đây cũng là hòn đảo lớn nhất của Trung Quốc Trên đảo có nhiều núi, diện tích các núi cao và đồi núi chiếm 2/3 tổng diện tích, đồng bằng chỉ chiếm dưới 1/3 diện tích
Đài Loan nằm giữa khu vực ôn đới và nhiệt đới, có khí hậu thuộc nhiệt đới và Á nhiệt đới Khí hậu Đài Loan chịu sự ảnh hưởng của gió mùa nên quanh năm khí hậu thường ổn định, mùa đông không quá rét, mùa hè không quá nóng Ngoài vùng núi, nhiệt độ trung bình hàng nằm ở Đài Loan khoảng 220
C
Vê tài nguyên thiên nhiên, Đài Loan có hệ động thực vật khá phong phú Diện tích che phủ của rừng chiếm hơn một nửa tổng diện tích đất đai ở Đài Loan, với khối lượng gỗ dự trữ khoảng hơn 300 triệu m3 Ngoài ra, ở Đài Loan còn có gần 4000 loại gồm chủng loại thực vật nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới và hàn đớ, trong đó cây long não (một đặc sản nổi tiếng của Đài Loan), chiếm khoảng 70% tổng sản lượng thế giới
Cùng với hệ động, thực vật rừng, biển Đài Loan còn có nhiều loại hải sản rất phong phú, với hơn 500 loài cá Ngoài ra, muối biển do Đài Loan sản xuất cũng rất nổi tiếng Có thể nói, biển là nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng đối với Đài Loan trong việc phát triển kinh tế cũng như thông thương với bên ngoài
Do có vị trí thuận lợi trên con đường biển nối liền nhiều nước và khu vực, lại có những tài nguyên phục vụ cho công nghiệp chiến tranh như than
đá và dầu khí , nên Đài Loan đã trở thành điểm chú ý của các nước tư bản phương Tây như Bồ Đào Nha, Anh, Pháp và đặc biệt là Mỹ từ sau năm 1945 đến nay
Về dân cư: bằng chứng khảo cổ cho thấy sự hiện diện của con người ở
Đài Loan đã có từ 30.000 năm trước, mặc dù những cư dân đầu tiên của Đài Loan có thể đã không có chung nguồn gốc với bất kỳ nhóm dân tộc nào hiện nay trên đảo Khoảng 4.000 năm trước, tổ tiên của thổ dân Đài Loan đã định
Trang 13cư tại đảo Đây là những người có đặc tính di truyền gần gũi với các dân tộc Nam Đảo và có họ hàng với người Mã Lai, người Indonesia hay người Philippines và với cả những người Polynesia ở phía đông Châu Đại Dương hiện nay và các nhà ngôn ngữ học phân loại các ngôn ngữ của họ thuộc
về Ngữ hệ Nam Đảo
Vào năm 1886, khi bị trở thành một tỉnh của Trung Hoa, dân số mới
hơn 2,6 triệu người “Thành phần dân tộc chủ yếu là người Hán (98%) có
nguồn gốc ở các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Đông (88%) Họ đều nói tiếng phúc Kiến và Quảng Đông” [10; 1]
Năm 2011, dân số Đài Loan ước tính khoảng 23,2 triệu người, chủ yếu
cư trú tại đảo Đài Loan, với khoảng 98% là người Hán (có 86% là những người nhập cư từ trước năm 1949, được gọi là “bản tỉnh nhân”) 12% dân số
là "ngoại tỉnh nhân”, gồm những người đã di cư từ Trung Quốc Đại lục sau Nội chiến lần thư 3 và hậu duệ của họ Hầu hết “ngoại tỉnh nhân” sử dụng tiếng Phổ thông
Tiếng Phổ thông chuẩn (hay còn gọi là tiếng Quan thoại) được công nhận là ngôn ngữ chính thức của Trung Hoa Dân Quốc, được đại đa số người dân sử dụng Khoảng 70% người dân Đài Loan là người gốc Phúc Kiến và họ nói cả tiếng Đài Loan (một phương ngữ của tiếng Mân Nam) và tiếng Phổ thông Tiếng Phổ thông là ngôn ngữ chủ yếu trong giảng dạy tại trường học từ khi Nhật Bản rút quân khỏi hòn đảo Nhóm người Khách Gia, chiếm khoảng 15% dân số, sử dụng tiếng Khách Gia Các nhóm thổ dân hầu hết nói ngôn ngữ bản địa của họ, mặc dù hầu hết họ cũng có thể nói tiếng Phổ thông Các ngôn ngữ thổ dân không thuộc về tiếng Hán hay Ngữ hệ Hán - Tạng mà thuộc Ngữ hệ Nam Đảo
Mặc dù tiếng Phổ thông là ngôn ngữ giảng dạy trong trường học và chiếm ưu thế trên truyền hình và phát thanh, nhưng các ngôn ngữ hay phương ngôn khác đã được hồi sinh trong đời sống công cộng tại Đài Loan, sau khi
Trang 14các hạn chế về ngôn ngữ được nới lỏng Một phần lớn trong dân chúng có thể nói tiếng Đài Loan, và nhiều người khác cũng có thể hiểu ngôn ngữ này ở những mức độ khác nhau Những người già từng được giáo dục dưới thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng (1895 - 1945) đều có thể nói được tiếng Nhật Tại Đài Loan, tiếng Anh là ngôn ngữ phổ biến Tiếng Anh là ngôn ngữ bắt buộc trong chương trình giảng dạy khi học sinh vào trường tiểu học, đồng thời được đề cao trong các trường học Đài Loan Một số trường tư thục có quy mô lớn cũng đã tiến hành giảng dạy bằng tiếng Anh
1.1.2 Khái quát lịch sử phát triển của Đài Loan trước năm 1945
Theo kết quả nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như Khảo cổ học, Địa chất học…, ở thời đại viễn cổ, Đài Loan và lục địa Trung Quốc là một khối liền nhau Tuy nhiên, do hoạt động của vỏ trái đất, mảnh đất liên kết Đài Loan và đất liền chìm xuống, trở thành eo biển Do vậy, Đài Loan trở thành một hòn đảo trên biển Những hiện vật với số lượng lớn đồ đá, đồ gốm nhiều màu khai quật ở Đài Loan cũng chứng minh, trước khi có lịch sử ghi chép, văn hóa Đài Loan và văn hoá đất liền Trung Quốc có nguồn gốc chung
Theo văn hiến, năm 230, Chúa nước Ngô là Tôn Quyền đã cử các tướng Vệ Ôn và Chư Cát Trực dẫn 10 nghìn thủy quân vượt biển đến Đài Loan Đây là sự kiện mở đầu quá trình cư dân đất liền Trung Quốc khai phá Đài Loan Đến cuối thế kỷ thứ 6 - đầu thế kỷ thứ 7, Vua Tùy Dạng Đế từng 3 lần cử người đến Đài Loan để “tìm hiểu phong tục khác hẳn với đất liền”, thăm hỏi cư dân địa phương Tiếp đó, trong vòng 600 năm (từ thời nhà Đường đến nhà Tống), cư dân ven biển Trung Quốc, nhất là cư dân ở Thuyền Châu và Chương Châu (tỉnh Phúc Kiến) đã lần lượt di cư sang Bành Hồ hoặc đảo Đài Loan nhằm tránh chiến tranh, , đồng thời thực hiện khai hoang ở những đảo này Năm 1335, nhà Nguyên chính thức đặt “Tuần Kiểm Tư” tại Bành Hồ để quản lý dân chính của Bành Hồ và đảo Đài Loan Từ đó, Trung Quốc bắt đầu đặt cơ quan chính quyền chuyên trách tại Đài Loan
Trang 15Kể từ nhà Minh, nhân dân Đại lục và Đài Loan thường qua lại với nhau Khi sang thăm các nước ở Nam Dương, hạm đội do nhà hàng hải Trịnh Hoà dẫn đầu đã cập bến Đài Loan, mang các loại hàng mỹ nghệ và nông sản trao đổi với cư dân địa phương Năm 1628 , Phúc Kiến bị hạn hán, cư dân không có cách kiếm sống, Trịnh Chi Long - người Phúc Kiến đã tổ chức hàng vạn nhân dân đến Đài Loan, khai thác đất hoang Từ đó, cư dân Đại lục ngày càng đẩy mạnh quá trình khai thác đảo Đài Loan
Từ nửa sau thế kỷ XVI, đảo Đài Loan giàu đẹp đã trở thành đối tượng dòm ngó của thực dân phương Tây Các nước Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha lần lượt xâm nhập Đài Loan, tiến hành cướp bóc tài nguyên, xâm lược bằng văn hóa, tôn giáo, hoặc trực tiếp cử quân chiếm đóng Đài Loan Năm 1642, người Hà Lan thay thế người Tây Ban Nha chiếm đóng miền bắc Đài Loan
Từ đó, Đài Loan trở thành thuộc địa của Hà Lan
Trong thời kỳ chiếm đóng Đài Loan, bọn thực dân Hà Lan bóc lột tàn nhẫn nhân dân Đài Loan Do vậy, nhân dân Đài Loan đã không ngừng khởi nghĩa để chống lại sự thống trị của thực dân Hà Lan Năm 1662, Trịnh Thành Công được sự phối hợp của người dân Đài Loan và nhân dân Đại lục đã đánh đuổi thực dân Hà Lan, thu hồi Đài Loan Từ đó, Đài Loan bước vào thời kỳ phát triển độc lập
Trong 22 năm cai trị của Trịnh Thành Công, Trịnh Kinh - con trai của Trịnh Thành Công và Trịnh Khắc Sảng - cháu của ông, chính quyền Đài Loan khuyến khích sản xuất đường và muối, mở mang công nghiệp và thương nghiệp, phát triển thương mại, mở học đường cũng như đổi mới phương thức sản xuất nông nghiệp của dân tộc Cao Sơn Những biện pháp nói trên đã thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của kinh tế và văn hóa Đài Loan Đây là thời
kỳ phát triển quan trọng của lịch sử Đài Loan, vì vậy còn được gọi là “Thời đại Minh Trịnh”
Năm 1683 (năm thứ 22 Khang Hy nhà Thanh), chính quyền nhà Thanh đưa quân tấn công Đài Loan, Trịnh Khắc Sảng dẫn quân quy phục nhà Thanh
Trang 16Sau khi thu phục Đài Loan, nhà Thanh đã sáp nhập Đài Loan trở thành một bộ phận của tỉnh Phúc Kiến Từ đó, Đài Loan quay trở về Trung Quốc, dưới sự quản lý thống nhất của chính phủ trung ương, nên liên hệ về mặt chính trị, kinh tế và văn hóa với đất liền Trung Quốc ngày càng chặt chẽ Đài Loan trở thành một phần không thể chia cắt của Trung Quốc
Năm 1844, với mục đích biến Đài Loan thành khu vực chiến lược quan trọng của mình (vì Đài Loan nằm trên đường biển đi từ Caliphoocnia đi Hạ Môn), Mỹ đã ép Trung Quốc ký Hiệp ước Vọng Hạ, cho phép Mỹ từng bước lấn chiếm Đài Loan
Năm 1885 (năm thứ 11 Quang Tế), chính quyền nhà Thanh nâng cấp Đài Loan thành một tỉnh và cử Lưu Minh Truyền làm Tuần phủ Lưu Minh Truyền đã tiến hành chiêu mộ cư dân các tỉnh Phúc Kiến và Quảng Đông đến Đài Loan, tiến hành khai thác với quy mô lớn Sau đó ông lần lượt đặt Tổng cục khai hoang, Tổng cục điện tín, Tổng cục đường sắt, Cục Quân giới, Cục Thông thương, Cục Khoáng sản và dầu khí, Cục Chặt cây; xây dựng pháo đài, chỉnh đốn công tác phòng ngự; mắc dây điện, mở bưu điện; xây dựng đường sắt, mở mỏ khoáng, đóng tàu biển, phát triển ngành công thương; mở học đường Trung Tây, phát triển văn hóa - giáo dục
Năm 1895, sau khi bị thất bại trong cuộc chiến tranh Trung - Nhật, triều
đinh nhà Thanh buộc phải ký “Điều ước Mã Quan”, “cắt Đài Loan và quần
đảo Bành Hồ cho Nhật Từ đó, Đài Loan trở thành thuộc địa của Nhật”
[42; 2] Sau khi chiếm đóng Đài Loan, Nhật đã đặt phủ Tổng đốc ở Đài Bắc,
là cơ quan cao nhất thống trị Đài Loan và thành lập công sở hương trấn ở các nơi, thực thi chế độ cảnh sát và chòm xóm, tiến hành thống trị thực dân và giáo dục “Hoàng dân hóa” đối với dân chúng Đồng thời, theo nhu cầu phát triển kinh tế trong nước, Nhật coi Đài Loan là khu phát triển nông nghiệp và chế biến nông sản phẩm của mình, khiến ngành công nghiệp chế biến và ngành giao thông vận tải của Đài Loan từng bước được phát triển Trong
Trang 17Chiến tranh thế giới thứ hai, nhằm phối hợp chính sách Nam tiến, phát xít Nhật tiến thêm một bước trong việc phát triển các ngành công nghiệp ở Đài Loan nhằm phục vụ mục đích quân sự
Tháng 11/1943, tại Hội nghị Cairo (Ai Cập), những người đứng đầu 3 nước Mỹ, Anh, Trung Quốc đã nhất trí chủ trương trao trả chủ quyền cai quản
Đài Loan cho Trung Quốc Tuyên ngôn Cairo (1/12/1943) nêu rõ “… lấy lại
tất cả những đảo Nhật Bản cướp được hoặc chiếm đóng ở Thái Bình Dương phần lãnh thổ của Trung Quốc do Nhật Bản cướp được như Mãn Châu, Đài Loan, Bành Hồ đều trao trả về cho Trung Quốc” [18; 3]
Tiếp đó, Thông cáo Pốt-xđam do Trung Quốc, Mỹ, Anh và Liên Xô ký ngày 26/7/1945, khẳng định “… các điều khoản của Tuyên ngôn Cairo chắc chắn sẽ được thực hiện” Bên cạnh đó, các nước trong phe Đồng Minh đã đồng ý để Nhật Bản trả lại "toàn bộ lãnh thổ Nhật đã chiếm của Trung Quốc", gồm cả Đài Loan và Bành Hồ, cho Trung Hoa Dân Quốc khi Nhật đầu hàng Ngày 15/10/1945, khi Nhật Bản tuyên bố đầu hàng đồng minh cũng là lúc Trung Quốc tiếp chủ quyền cai quản Đài Loan từ Nhật Bản Từ đó Đài Loan trở về với Trung Quốc Trần Nghị người đứng đầu Uỷ ban tiếp quản bộ máy hành chính Đài Loan tuyên bố: … từ ngày hôm nay trở đi các đảo thuộc về Đài Loan và Bành Hồ chính thức nhập vào bản đồ Trung Quốc Tất cả đất đai,
nhân dân chính sự đều nằm dưới chủ quyền Trung Quốc Từ đây Đài Loan
bước vào thời kỳ phát triển mới
1.2 Sự xuất hiện của vấn đề Đài Loan trong quan hệ quốc tế
1.2.1 Vị trí của Đài Loan trong chiến lược của các nước lớn
Với những vị trí địa lí thuận lợi, Đài Loan đã trở thành địa bàn quan trọng đối với sự phát triển Trung Quốc cũng như các nước lớn trong khu vưc châu Á - Thái Bình Dương Là một hòn đảo được mệnh danh là “hòn ngọc Viễn Đông”, Đài Loan có một ý nghĩa chiến lược quan trọng đối với các nước
Trang 18lớn ở khu vực và trên thế giới Các nhà phân tích cho rằng “ Xét về quan
điểm quyền lợi của các quốc gia trong vùng, vai trò của Đài Loan trước hết được xác định bởi vị trí địa lí của hòn đảo và ý nghĩa chiến lược của nó Chiếm vị trí then chốt trên các trục đường giao thông hàng hải quốc tế nối liền các nước trong vùng biển Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, Đài Loan kiểm soát các tiến bộ lọt vào Trung Quốc từ phía đông,vào Nhật Bản từ phía tây nam và Philippinese từ phía bắc Rõ ràng trong việc dàn xếp vấn đề Đài Loan và đảm bảo vấn đề đi lại trên biển trong vùng do Đài Loan kiểm soát, nhiều quốc gia có mối quan tâm trực tiếp ” [23; 1]
Do Đài Loan nằm ở trung tâm Đông Á - Thái Bình Dương, là đầu mối giao thông quan trọng giữa Đông Bắc Á và Đông Nam Á, mọi tuyến đường giao thông trên biển từ Nhật Bản, bán đảo Triều Tiên và vùng duyên hải phía Đông Trung Quốc, vùng Biển Đông của Liên Bang Nga đến Đông Nam Á,
Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương, Trung Đông đều đi qua eo biển Đài Loan Hơn nữa, Đài Loan nằm ở giữa đại lục Á - Âu và Thái Bình Dương, là nơi tiếp giáp của hai trung tâm quyền lực chính trị lớn là quyền lục địa và quyền biển Từ Đài Loan có thể thông qua biển Nhật Bản vào Đông Hải đi về phía tây bắc, qua Biển Đông có thể vào Ấn Độ Dương, đi về phía nam qua eo biển Xura Weisi có thể đến Đại Tây Dương Vì vậy, Đài loan có ý nghĩa rất quan trọng đối với các nước lớn trong khu vực Các nước đều không muốn nổ ra chiến tranh ở Đài Loan vì “khi chiến tranh nổ ra kẻ địch có thể lợi dụng để khống chế đường biển từ Malaysia đến Nhật Bản, đồng thời sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho đối phương có cơ hội tốt hơn trong việc khống chế quần đảo Lưu Cầu ở Philippinese” Hơn nữa, các nước lớn đều nhận thấy, nếu nước nào khống chế được Đài Loan thì có thể khống chế được cả vùng Tây Thái Bình
Dương [48; 15] Mặt khác, nếu Trung Quốc kiểm soát được Đài Loan thì có
thể phát huy được sức mạnh ở 3 khu vực: Đông Bắc Á, Đông Nam Á và Thái Bình Dương, đồng thời sẽ thoát khỏi sự hạn chế là một quốc gia lục địa
Trang 19truyền thống để trở thành một quốc gia đại dương Ngoài ra, Đài Loan là một căn cứ quân sự có ý nghĩa chiến lược đối với vùng duyên hải của Đại lục và với toàn bộ khu vực Đông Nam Á Đài Loan là một hòn đảo giàu tài nguyên thiên nhiên, là nơi cung cấp lương thực cho Nhật Bản
Đối với Mỹ, Đài Loan có một vị trí chiến lược đặc biệt, bởi vì hòn đảo này nằm trên tuyến đường biển từ Caliphoocnia đến Hạ Môn, nên đây sẽ là nơi “dừng chân” và là khu vực “hậu cần” lý tưởng nhất cho các tàu chiến của
Mỹ Nhận thức được tầm quan trọng về vị trí của Đài Loan, nên ngay khi Chiến tranh thế giới thứ hai đang diễn ra ác liệt, Mỹ đã từng bước can thiệp vào đây Mục đích của Mỹ là muốn tách Đài Loan ra khỏi lục địa Trung Quốc
để Mỹ có thể sử dụng “con bài Đài Loan” trong những tính toán chiến lược của mình
Nói tóm lại, do có vị trí chiến lược trọng yếu, nên Đài Loan đã trở thành nơi hội tụ lợi ích của các nước lớn ở khu vực và trên thế giới Do vậy, ngay khi cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai đang đi vào giai đoạn kết thúc, các nước lớn trong khu vực và các bên liên quan đều thể hiện những lập trường quan điểm khác nhau trong việc giải quyết vấn đề Đài Loan Có thể nói, do việc mối bên đều đưa ra những tính toán riêng của mình là nguyên nhân làm cho việc giải quyết vấn đề Đài Loan trở nên phức tạp Đài Loan đã trở thành
“chiến trường” trong việc giải quyết tranh chấp lợi ích giữa các quốc gia trong khu vực Vấn đề Đài Loan cũng trở thành vấn đề phức tạp, nhạy cảm trong quan hệ quốc tế ở khu vực và trên thế giới
1.2.2 Quan điểm của các nước đối với Đài Loan trong thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ hai
Do Đài Loan từ lâu đã nằm trong sự tính toán chiến lược của các nước lớn, nên trong thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ hai, mỗi bên liên quan đều thể hiện lập trường quan điểm khác nhau về vấn đề Đài Loan
Trang 20Đối với Nhật Bản - nước đang nắm quyền cai trị Đài Loan nên đương
nhiên lập trường của Nhật là muốn hòn đảo này thuộc quyền quản lý “vĩnh viễn” của chính phủ Nhật Bản theo thỏa ước Shimonoshaka đã ký trước kia chứ không muốn nhượng bộ cho bất kỳ một quốc gia nào khác Do vậy, trong thời gian đầu của cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai, khi mà phát xít Nhật đang
mở rộng xâm lược ở châu Á, Nhật Bản đã sử dụng Đài Loan làm căn cứ để thực hiện chiến lược “Đại Đông Á” của mình Tuy nhiên, năm 1943, Tuyên
bố Cairo đã đưa ra quy định trao trả các vùng đất Mãn Châu, Đài Loan và Bành Hồ cho Trung Quốc Tiếp đó, sau khi buộc phải chấp nhận đầu hàng Đồng minh không điều kiện vào ngày 15/08/1945, Nhật Bản đã phải chấp nhận đầu hàng việc chấm dứt ảnh hưởng của mình ở Đài Loan
Đối với Trung Quốc: kể từ khi Đài Loan rơi vào tay của chủ nghĩa thực
dân, phát xít, Trung Quốc luôn khẳng định lập trường kiên quyết, coi Đài Loan là một bộ phận không thể tách rời của đất nước này Do vậy, trong thời
kỳ Chiến tranh thế giới thứ hai, mặc dù giữa Quốc Dân Đảng và Đảng Cộng sản có sự mâu thuẫn với nhau trong nhiều vấn đề nhưng hai bên đã thể hiện lập trường thống nhất trong việc thu hồi Đài Loan Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, cùng với việc đấu tranh chống sự thống trị của chủ nghĩa thực dân, phát xít ở lục địa, nhân dân Trung Quốc đã có những cố gắng to lớn trong việc đấu tranh để giải phóng Đài Loan khỏi ách thống trị của phát xít Nhật
Về phía Liên Xô: mặc dù trong thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ hai,
Liên Xô chưa thể hiện sự can dự vào Trung Quốc, cũng không nêu rõ thái độ đối với Đài Loan, nhưng thông qua việc tán thành những quyết định của Tuyên bố Cairo, Liên Xô đã thể hiện lập trường ủng hộ việc trao trả Đài Loan cho Trung Quốc Ngày 30/11/1943, trong cuộc hội kiến với Tổng thống Mỹ Roosevelt và Thủ tướng Anh Churchill tại Tòa Đại sứ Liên Xô ở Tehran, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô đã cho biết, việc trao trả Mãn Châu, Đài
Trang 21Loan và Bành Hồ lại cho Trung Quốc là hoàn toàn đúng đắn và Chính phủ Liên Xô ủng hộ việc làm đó
Về phía Mỹ: việc Nhật Bản dùng Đài Loan làm căn cứ để tấn công Mỹ
ở Thái Bình Dương vào năm 1941 và tạo nên sự uy hiếp đối với Mỹ đã khiến giới cầm quyền nước này nhận thấy vai trò quan trọng của Đài Loan đối với
an ninh của mình Do vậy, ngay khi Chiến tranh tranh thế giới thứ hai đang diễn ra ác liệt, Mỹ đã tìm mọi cách để can thiệp vào Đài Loan Giới cầm quyền Mỹ cũng đã đưa ra những chính sách mới đối với Đài Loan Tại cuộc hội đàm giữa ba nước Mỹ - Anh - Trung (lúc này là chính quyền Tưởng Giới Thạch), một mặt Mỹ nhất trí với chủ trương “Đài Loan thuộc về Trung Quốc, mặt khác, chính quyền Roosevelt cũng đã bắt đầu dự tính việc xây dựng căn
cứ quân sự của Mỹ ở Đài Loan
Như vậy, có thể nói, việc giải quyết vấn đề Đài Loan là công việc nội
bộ của Trung Quốc, nhưng dưới sự tác động của tình hình quốc tế, nhất là sự đan xen về lợi ích giữa các nước lớn ở Đài Loan đã làm cho vấn đề Đài Loan
đã trở thành vấn đề quốc tế Chính sự tham gia của các nước lớn đã làm cho vấn đề Đài Loan diễn biến hết sức phức tạp
Trang 22Chương 2 LẬP TRƯỜNG QUAN ĐIỂM CỦA CÁC NƯỚC LỚN
VỀ VẤN ĐỀ ĐÀI LOAN (TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 1971)
2.1 Lập trường quan điểm của Mỹ
2.1.1 Giai đoạn 1945 - 1950
Để thực hiện mục tiêu chiến lược của mình, ngay khi Chiến tranh thế giới hai đang diễn ra ác liệt, Mỹ đã từng bước can thiệp vào Đài Loan Chính sách này đã được tăng cường hơn sau khi Mỹ trở thành nước đứng đầu thế giới về mọi mặt
Tháng 10 năm 1945 người Nhật trả lại Đài Loan cho Trung Hoa Dân Quốc Ở Trung Quốc vấn đề thống nhất đất nước được đặt ra nhưng cách mạng Trung Quốc lại không xoay chuyển theo ý muốn của Mỹ Những tính toán trước kia của Mỹ đã bị phá vỡ hoàn toàn, Mỹ ra sức giúp đỡ chính quyền Tưởng Giới Thạch tiến hành cuộc nội chiến với Đảng Cộng sản nhằm ngăn chặn sự thắng lợi của cách mạng Trung Quốc
Kể từ tháng 3 năm 1947, khi Tổng thống Tơruman chính thức phát động cuộc “Chiến tranh lạnh” nhằm chống lại Liên Xô, đồng thời “ngăn chặn
và đẩy lùi chủ nghĩa cộng sản”, thì lập trường của Mỹ về vấn đề Đài Loan càng rõ ràng hơn Mỹ đã dần chuyển từ lập trường không can thiệp, chuyển sang chính sách can thiệp trực tiếp vào vấn đề Đài Loan
Sau khi cách mạng Trung Quốc thành công, nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa ra đời, Mỹ cho rằng việc viện trợ có thể ngăn chặn được “Đài Loan lọt vào tay Cộng Sản” Chính vì vậy, tháng 10/1949, Mỹ đã tài trợ cho Quốc Dân Đảng 75 triệu USD để đủ sức chống lại sự tấn công của Đại lục Bên cạnh đó, giới cầm quyền Mỹ đã sử dụng biện pháp ngoại giao, thông qua Liên Hợp Quốc để giải quyết vấn đề Đài Loan theo lập trường của Mỹ Đầu năm 1946, khi vấn đề Đài Loan được đưa ra thảo luận tại Liên Hợp Quốc,Mỹ
Trang 23đã thể hiện quan điểm cho rằng “ vị trí của Đài Loan chưa được xác định” Theo đó, Mỹ phản đối việc giao Đài Loan cho Trung Quốc mà chủ trương giao Đài Loan cho Liên Hợp Quốc quản lý hoặc là cơ quan được Liên Hợp Quốc uỷ thác
Như vậy, có thể thấy là không phải đến khi cuộc chiến tranh Chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, Mỹ mới có sự thay đổi lập trường quan điểm đối với Đài Loan, mà ngay từ năm 1949, khi cuộc nội chiến ở Trung Quốc đang diễn ra thì Mỹ đã thể hiện lập trường coi Đài Loan như “con bài” để thực hiện mục tiêu chiến lược của mình
Ngay sau khi cách mạng Trung Quốc thành công (01/10/1949), Mỹ đã thể hiện lập trường ủng hộ Cộng hoà Nhân Trung Hoa trong việc tấn công giải phóng Đài Loan Tổng Thống Mỹ Tơruman lúc này đã ủng hộ quan điểm của giới ngoại giao, chấp nhận sự thực “Trung Quốc có thể tiếp nhận Đài Loan” Mục đích của Mỹ trong việc thay đổi lập trường về vấn đề Đài Loan như trên là nhằm lôi kéo Trung Quốc đi theo Mỹ, tránh cho việc Trung Quốc ngã về phía Liên Xô
Như vậy, từ năm 1946 - 1949 khi cách mạng Trung Quốc phát triển và đạt được nhiều thành tựu quan trọng thì mối lo ngại của Mỹ về Đài Loan “lọt vào tay Cộng sản Trung Quốc” ngày càng gần Mỹ đã suy ngẫm lại chủ trương chính sách của mình về Đài Loan Từ chỗ “ủng hộ” Tưởng trong nội chiến ở Trung Quốc sang chỗ muốn “bỏ rơi” Tưởng Bởi chính phủ Mỹ không muốn mất đi một mẫu hình đẹp trên trường quốc tế
2.1.2 Giai đoạn 1950 - 1971
Đầu năm 1950, nhận thấy giữa Mao Trạch Đông và Stalin có những bất đồng về quan điểm trong một số vấn đề và thái độ của Liên Xô trong việc chưa chính thức công nhận Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, phía Mỹ cho rằng đây là “thời cơ tốt” để lôi kéo Trung Quốc đi theo Mỹ, nhằm thực hiện chính sách “cô lập” Liên Xô Do vậy, lúc này Tổng thống Mỹ Tơruman ra tuyên bố
Trang 24coi Đài Loan là công việc nội bộ của Trung Quốc mà không liên quan gì tới
Mỹ Điều đó có nghĩa là nếu như ĐCS Trung Quốc tấn công Đài Loan thì Mỹ
sẽ không can thiệp và không tham chiến Tiếp đó, để trấn an dư luận của giới quân sự Mỹ cho rằng nếu bỏ Đài Loan thì nguy cơ ảnh hưởng của Mỹ ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương sẽ bị đe dọa bởi sự lớn mạnh của một nước Trung Quốc, ngày 12/1/1950, Ngoại trưởng Mỹ EriSon trong khi gặp gỡ giới báo chí Mỹ đã nhắc lại quan điểm cho rằng “Đài Loan và Hàn Quốc không nằm trong tuyến phòng ngự chiến lược của Mỹ ở Thái Bình Dương [18; 19] Động thái trên cho thấy, giới cầm quyền Mỹ muốn thể hiện thiện chí đối với Trung Quốc Rõ ràng Mỹ đã phát đi những tín hiệu cho Mao Trạch Đông về vấn đề Đài Loan
Tuy nhiên, kể từ khi Hiệp ước hữu nghị Trung - Xô được ký kết năm
1950 giới quân sự Mỹ đã cho rằng: nếu như giao Đài Loan cho Trung Cộng thì coi như đã giao Đài Loan cho Liên Xô Tướng MCArThun - Tư lệnh quân
Mỹ đóng ở Nhật Bản nói rằng: Việc Mỹ giao Đài Loan cho Trung Cộng đồng nghĩa với việc giao một chiếc tàu sân bay không bao giờ chìm ở Thái Bình Dương cho Liên Xô Bởi vậy, từ tháng 2/1950 chính sách của Mỹ đối với Đài Loan không ngừng thay đổi Mỹ đã tăng viện trợ, đưa cố vấn tới Đài Loan Các tướng lĩnh Mỹ cũng bí mật tới thăm Đài Loan Đặc biệt, vào tháng 6/1950, các tướng lĩnh và quan chức ngoại giao Mỹ khi trong khi đến để thảo luận việc ký hiệp ước với Nhật Bản, đều tranh thủ ý kiến của tướng MCArThun về vấn đề Đài Loan
Mùa hè năm 1950, trước thông tin của Cục tình báo Trung ương Mỹ (CIA) cho rằng Đài Loan có thể bị thất thủ, giới cầm quyền Mỹ đã ra lệnh cho các quan chức ngoại giao rời khỏi Đài Loan Sở dĩ, có sự thay đổi chính sách như vậy là do những nhân tố bên trong của nước Mỹ quyết định Ngoại trưởng Mỹ EriSon cho rằng, Mỹ không nên giao tranh đối đầu với Trung Quốc, Mỹ nên hy sinh quan hệ với Quốc Dân Đảng để lập quan hệ ngoại giao
Trang 25với Trung Quốc Đại lục, ngăn chặn Trung Quốc đi theo Liên Xô, bởi kẻ thù chủ yếu của Mỹ là Liên Xô Nếu như đối đầu với Liên Xô và thù địch với Trung Quốc Đại lục thì sẽ phân tán lực lượng của Mỹ
Như vậy, có thể thấy rằng, những thay đổi chính sách của Mỹ đối với Đài Loan đã được xác định trước khi cuộc chiến tranh Triều Tiên nổ ra
Ngày 25/06/1950, cuộc chiến tranh Triều Tiên bùng nổ đã có tác động nhất định đến lập trường của Mỹ đối với vấn đề Đài Loan Mặc dù ban đầu giới cầm quyền Mỹ vẫn chưa lường trước được chiến tranh Triều Tiên nổ ra
sẽ có quy mô nào, tính chất ra sao Hơn nữa, Mỹ cũng không rõ đây có phải
là tấm bình phong che đậy âm mưu của Trung Quốc Đại lục tấn công Đài Loan hay các nơi khác không Tuy nhiên, khi cuộc chiến tranh giữa hai miền Nam - Bắc Triều Tiên ngày càng diễn biến phức tạp đã khiến Mỹ không chỉ can thiệp để bảo vệ Nam Triều Tiên mà còn thể hiện cả hành động đó đối với Đài Loan
Khi tới Oasinhton, Johnson lập tức đưa ra đề nghị đưa Hạm đội 7 tới bảo vệ Đài Loan Mặc dù vậy, Truman khi đó lại đưa ra tuyên bố rằng địa vị của Đài Loan chưa được xác định Sự khác nhau về thái độ của những nhân vật cấp cao trong chính quyền Mỹ như trên khiến nhiều người cho rằng chiến tranh Triều Tiên đã làm thay đổi chính sách của Mỹ đối với Đài Loan, nhưng thực chất chiến tranh Triều Tiên chỉ là cái cớ để Mỹ tuyên bố lại quan điểm của mình
Cuộc Chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, Đài Loan một lần nữa được Mỹ
chú ý và cho rằng: “Chiến tranh Triều Tiên là một cái cớ mong đợi từ lâu để
can thiệp vào Đài Loan” [8;149] Do vậy, một ngày sau khi Chiến tranh Triều
Tiên bùng nổ, Tổng thống Mỹ Truman đã cho hạm đội 7 của Mỹ từ Philipinese tiến về phía Bắc đề phòng Trung Quốc tấn công Đài Loan, tiếp tục chính sách giúp đỡ Quốc Dân Đảng chống lại Cộng hòa Nhân dân (CHND) Trung Hoa
Mỹ mong muốn rằng, chính sách bành trướng của mình thành công sẽ ngăn cản
Trang 26được kế họach “giải phóng Đài Loan thống nhất Đài Loan về mặt lãnh thổ của
Trung Quốc” Ngày 27/6/1950, Tổng thống Mỹ Truman tuyên bố đưa Hạm đội
7 tới Eo biển Đài Loan với nhiệm vụ “trung lập hoá” eo biển này và bảo vệ Đài Loan không bị tấn công Bên cạnh đó, lợi dụng việc chống đối của Tưởng Giới Thạch và Quốc Dân Đảng ở Đài Loan đối với chính quyền Trung Hoa Đại lục,
Mỹ đã tìm cách giúp đỡ Tưởng Giới Thạch về nhiều mặt nhằm xây dựng Đài
Loan trở thành một căn cứ chống lại Trung Quốc
Trong những năm 1950 - 1953, sau khi bị khi Liên Xô phá vỡ thế độc quyền vũ khí nguyên tử, Mỹ đã ra sức mở rộng căn cứ quân sự ở nước ngoài, trong đó có việc xây dựng căn cứ quân sự ở Đài Loan Đầu năm 1951, Chính phủ Mỹ và chính quyền Tưởng Giới Thạch đã cùng nhau ký một Hiệp ước an ninh chung, biến Đài Loan thành căn cứ quân sự của Mỹ ở Đông Á, chuẩn bị cuộc chiến chống lại Trung Quốc Cũng trong năm này, trước việc Liên Xô đề nghị tiến hành hội nghị ngoại trưởng bốn nước Mỹ, Anh, Liên Xô, Trung Quốc để chuẩn bị cho việc ký hoà ước với Nhật về vấn đề Đài Loan, giới cầm quyền Mỹ đã phản đối mạnh mẽ việc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tham gia ký hoà ước với Nhật, vì theo Mỹ, “Đài Loan không phải là của Trung Quốc, mà là một nước độc lập” Như vậy, có thể thấy, âm mưu lôi kéo Trung Quốc về phía mình để chống Liên Xô không thành đã buộc Mỹ phải sử dụng
“con bài Đài Loan” để khống chế Trung Quốc
Sau khi chiến tranh Triều Tiên kết thúc, tại Hội nghị Giơnevơ, hầu hết mọi vấn đề ở Đông Dương được giải quyết và chỉ duy nhất còn lại vấn đề “eo biển Đài Loan” vẫn là khu vực nhạy cảm Tại hội nghị phía Mỹ vẫn giữ thái
độ ngoan cố cho rằng: “không dùng vũ lực đề giải quyết vấn đề Đài Loan” hoặc là không công nhận địa vị hợp pháp của Đài Loan tại Liên Hợp Quốc Ngày 2/12/1954 Mỹ đã ký với Đài Loan điều ước phòng thủ chung, quy định việc Mỹ có nghĩa vụ bảo vệ Đài Loan trước sự tấn công của CHND Trung Hoa Bên cạnh đó, trong thời gian từ năm 1950 đến năm 1954, Mỹ đã viện trợ
Trang 27cho Đài Loan về kinh tế, quân sự với trị giá lên tới 1,4 tỉ USD Hơn nữa, trong chính sách bao vây và ngăn chặn toàn diện Trung Quốc Cộng sản, Đài Loan đã trở thành một bộ phận hữu cơ không thể tách rời trong chính sách này của Mỹ Ngày 21/12/1954, Thượng viện và Hạ viện Mỹ thông qua “Nghị quyết về Đài Loan” Tiếp đó, ngày 24/01/1955, Aixenhao đã yêu cầu Quốc hội Mỹ giao quyền cho tổng thống khi cần thiết có thể sử dụng quân đội để bảo vệ an ninh của Đài Loan và quần đảo Bành Hồ Ngày 28/01/1955 Mỹ đã điều khiển Zeland đứng ra đề xuất với Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc thảo luận vấn đề ngừng bắn ở eo biển Đài Loan Ngày 16/03/1955, Tổng thống Mỹ Aixenhao còn lên tiếng cho rằng có thể sử dụng bom nguyên tử giống như bom thường ở eo biển Đài Loan Mục đích của việc làm đó của giới cầm quyền Mỹ là muốn “quốc tế hoá vấn đề Đài Loan” để Mỹ can thiệp sâu hơn
về vấn đề Đài Loan Ngoài ra, trong thời gian này, Mỹ còn đưa ra thuyết “địa
vị Đài Loan chưa thể định đoạt” để mở đường cho Mỹ dùng vũ trang can thiệp vào công việc nội bộ của Trung Quốc Chính sách đó của Mỹ đã gặp phải sự phản đối từ phía CHND Trung Hoa cũng như chính quyền Đài Loan
Sự phản đối của hai bờ eo biển Đài Loan đã làm cho chính sách của Mỹ không đạt được kết quả Lợi dụng sự khó khăn của Tưởng ,Mỹ tiếp tục can thiệp ngày một sâu hơn vào Đài Loan
Như vây, lập trường của Mỹ trong việc bảo vệ Đài Loan là rất cứng rắn Điều đó không chỉ vì nghĩa vụ của Mỹ đối với Đài Loan mà còn vì lợi ích của Mỹ Đồng thời, nó còn phản ánh sự căng thẳng đang leo thang trong Chiến tranh lạnh Lập trường của Mỹ lúc này là một trong những nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ nhất Từ tháng 9 đến ngày 23/11/1954, Hội đồng liên quân Mỹ (TMT) đã 6 lần đề nghị dùng bom nguyên tử để tấn công Đại lục Do Mỹ nhúng tay vào công việc Đài Loan, làm cho vấn đề Đài Loan ngày càng phức tạp hơn Đứng trước nguy cơ vấn đề Đài Loan bị quốc tế hoá, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã kịp thời điều
Trang 28chỉnh chính sách đối với Mỹ và Đài Loan, tỏ rõ ý muốn thông qua đàm phán
để giải quyết cục diện eo biển Đài Loan Không lâu sau đó giữa Trung Quốc
và Mỹ đã có cuộc tiếp xúc nhau cục diện ở eo biển Đài Loan có sự hoà hoãn Trước sự cố gắng chung ở hai bờ eo biển Đài Loan, mưu đồ “quốc tế hoá vấn
đề Đài Loan” của Mỹ đã không thể thực hiện
Từ giữa những năm 50 của thế kỷ XX, cùng với việc thực hiện chính sách “bành trướng” thông qua âm mưu xâm lược Xiri (08/1957), dung dưỡng các thế lực tay sai chống lại cách mạng ở Irắc , đem quân can thiệp vào Đông Dương nhất là ở Việt Nam , Mỹ còn gây nên tình hình căng thẳng ở Viễn Đông, nhất là việc làm “nóng” lên vấn đề Đài Loan Được sự giật giây của
Mỹ về một cuộc chiến tranh hạt nhân có thể xả ra, ngày 06/08/1958, nhà cầm quyền Đài Loan ban bố “tình trạng khẩn cấp chiến tranh, đặt quân đội Quốc Dân Đảng ở trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu, đồng thời hô hào phản công
“đất lửa”, nhằm thực hiện giấc mơ, khôi phục địa vị của mình ở Đại lục” Trước động thái của chính quyền Tưởng Giới Thạch, quân Mỹ đã tập kết ở eo biển Đài Loan 7 hàng không mẫu hạm, 3 tuần dương hạm nặng, 40 khu trục trạm Đội hàng không tuần tiễu số 41 của không quân Mỹ cũng tiến vào Đài Loan và Philippin, đồng thời 38000 lính hải quân lục chiến cũng đổ bộ lên miền nam Đài Loan Mặt khác, để can thiệp sâu hơn vào vấn đề Đài loan, Mỹ
đã phái tàu chiến đi hộ vệ các tàu của quân đội Tưởng Giới Thạch nhằm thực hiện chính sách “bên lề chiến tranh” ở eo biển Đài Loan
Những hành động nói trên của Mỹ đã gặp phải sự phản ứng mạnh mẽ của nhân dân Trung Quốc cũng như dư luận quốc tế Chính phủ Mỹ cũng lo lắng hành động mạo hiểm này sẽ gây ra sự cọ xát nảy lửa ở eo biển Đài Loan
Do đó, Mỹ quyết định thay đổi chính sách đối với Đài Loan là: từ chính sách
“bên lề”sang chính sách “thoát thân” với mưu đồ tạo ra hai nước Trung Quốc
và kế hoạch “vạch eo biển để cai trị”
Trang 29Vào năm 1960, sau khi Kennơđi lên nắm quyền, Mỹ đã thực hiện biện pháp kiềm chế, đẩy mạnh hơn nữa chính sách bao vây cô lập, tăng cường sự thù địch đối với Trung Quốc Mặt khác vào cuối năm 1960, do bị sa lầy ở chiến trường Việt Nam và Đông Dương nên tiềm lực kinh tế, quốc phòng của
Mỹ ngày càng giảm sút Bên cạnh đó, cả Bắc Kinh và Washingtơn đều muốn giải quyết vấn đề Đài Loan nhằm mục đích để giảm bớt căng thẳng giữa hai nước Lúc này phía Trung Quốc giữ lập trường quan điểm của mình là: Vấn
đề Đài Loan là vấn đề nội bộ của Trung Quốc và nếu vấn đề Đài Loan không giải quyết được thì tất cả các vấn đề khác cũng không thể giải quyết Phía Mỹ thì bày tỏ lập trường cố lờ đi Từ chỗ không chịu từ bỏ dùng vũ lực chống Trung Quốc, không chịu rút lực lượng vũ trang của mình ra khỏi khu vực eo biển Đài Loan, đến mùa hè năm 1960, tổng thống Mỹ Aixenhao đích thân đến Đài Loan Nhưng nhân dân Trung Quốc vẫn kiên quyết lập trường của mình, yêu cầu chính phủ Mỹ nghiêm túc xem xét việc rút lui khỏi Đài Loan, không được can thiệp sâu vào công việc nội bộ của nhân dân Đài Loan
Vào năm 1961, sau khi bước và Nhà trắng, Kennơđi vẫn không thay đổi lập trường của chính phủ Mỹ đối với vấn đề Đài Loan đó là: tiếp tục ủng
hộ chính quyền Tưởng Giới Thạch ở Đài Loan tăng cường sự thù địch đối với Trung Quốc Chính phủ Mỹ còn cho rằng, Trung Quốc có dã tâm chinh phục thế giới, tạo thành sự khiêu khích đối với Mỹ, do đó Mỹ muốn dạy cho Trung Quốc một bài học nên không muốn thay đổi thái độ đối với Đài Loan Tuy nhiên, trước thái độ và lập trường của Trung Quốc trong việc phản đối Mỹ giúp đỡ Tưởng Giới Thạch, giới cầm quyền Mỹ đã bày tỏ quan điểm rằng:
“Hoa kỳ cũng sẽ gây áp lực đối với Đài Loan, hạn chế hành động của Tưởng Giới Thạch Do vậy, nguy cơ khủng hoảng tại eo biển Đài Loan một lần nữa đã tạm thời lắng xuống” [8; 453]
Ngoài ra, với phương châm thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc trước rồi sau đó sẽ giải quyết tương lai Đài Loan, Mỹ mong muốn vừa
Trang 30quan hệ với Trung Quốc nhưng cũng không muốn mất đi quyền lợi của mình
ở Đài Loan Thế nhưng, trước chính sách của Mỹ, Trung Quốc vẫn kiên quyết phản đối và nêu ra quan điểm chỉ có một nước Trung Quốc, đồng thời chủ trương giải quyết vấn đề Đài Loan bằng phương pháp hòa bình
Tháng 11 năm 1968, khi Nichxơn lên nắm quyền tổng thống, Mỹ đã lộ
rõ âm mưu chia cắt hai nước Trung Quốc đến cùng Vì vậy, Mỹ vẫn giữ lập
trường hai mặt: “một mặt, Mỹ sẵn sàng phát triển quan hệ với Trung Quốc,
mặt khác lại muốn duy trì sự tồn tại riêng biệt của Đài Loan dưới sự kiểm soát của mình Chính phủ Mỹ cũng nêu quan điểm Trung Quốc sẽ có cả hai
đại diện là CHND Trung Hoa và Đài Loan ở Liên Hợp Quốc” [15; 363]
Trong những năm 1970 - 1971, Mỹ công khai chủ động thay đổi chính sách đối với Trung Quốc, chuyển từ chính sách “bao vây, cô lập” sang chính sách “đàm phán” Mỹ đã khéo léo ủng hộ Trung Quốc tham gia vào Liên Hợp Quốc tuy nhiên vẫn không ngừng theo đuổi chính sách hai nước Trung Quốc Chính sách nói trên của Mỹ đã làm cho vấn đề Đài Loan trở nên phức tạp và khó giải quyết hơn
2.2 Lập trường quan điểm của Trung Quốc
2.2.1 Giai đoạn 1945 - 1949
- Lập trường quan điểm của Quốc Dân Đảng
Kể từ khi được thành lập (năm 1911), Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc luôn cho rằng họ là chính phủ hợp pháp duy nhất của Trung Quốc Vì vậy, đối với Đài Loan, Quốc Dân Đảng luôn cho rằng đây là một phần lãnh thổ không thể chia cắt, nằm dưới quyền cuản lý của Chính phủ Trung Hoa Dân quốc Bởi vì, Trung Hoa Dân quốc chưa bao giờ chính thức thay đổi biên giới quốc gia, do
"sự thay đổi sẽ là sự chấm dứt nền độc lập của Đài Loan" Mặt khác, dù bản
dự thảo hiến pháp năm 1925 của Trung Hoa Dân quốc đã không đưa Đài Loan vào danh sách liệt kê các tỉnh của nước này và Hiến pháp Trung Hoa
Trang 31Dân Quốc ban hành năm 1946 cũng không chỉ rõ những vùng lãnh thổ của quốc gia, nhưngHiến pháp đã quy định tại Khoản I.4, rằng "lãnh thổ Trung Hoa Dân Quốc là lãnh thổ nguyên thuộc quyền cai trị của họ; trừ khi được Quốc hội cho phép, nếu không điều này không thể được thay đổi "
Trong cuộc nội chiến lần thứ ba ở Trung Quốc, trước sự tấn công của quân cách mạng, Tưởng Giới Thạch đã nhận sự giúp đỡ của Mỹ để chống lại ĐCS nhưng không đem lại hiệu quả gì Do vậy, Tưởng Giới Thạch đã tính đến việc rút lui ra Đài Loan trước khi có sự can dự của Liên Xô, với quan điểm
“thà mất tất cả Đại lục, còn Đài Loan thì không thể không giữ, chỉ cần có Đài Loan, ĐCS sẽ không làm gì được chúng ta, ngay cả khi toàn bộ Đại lục bị ĐCS chiếm Chỉ cần giữ được Đài Loan thì có thể khôi phục được Đại lục” [7; 387]
Như vậy, thái độ của Tưởng Giới Thạch là nuôi mộng tưởng khôi phục địa vị của mình ở đại lục Trung Quốc Cuối tháng 12/1949 sau khi cuộc nội chiến ở Trung Quốc kết thúc, chính quyền Tưởng Giới Thạch rút khỏi Đại lục chạy ra Đài Loan Bắt đầu từ đây vấn đề Đài Loan trở thành vấn đề nhức nhối trong việc thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc Tưởng Giới Thạch xác định “Đài Loan là một mảnh đất sạch sẽ chưa bị Cộng sản xâm nhập” Mặt khác, sau khi chạy ra Đài Loan, Tưởng Giới Thạch đã gặp rất nhiều khó khăn: Quân đội yếu kém, phần lớn là tàn binh, bại tướng không còn ý chí chiến đấu Kinh tế Đài Loan vốn có xuất phát thấp “vấn đề phản công đất liền là hoàn toàn
vô vọng” Chính quyền Tưởng Giới Thạch lúc này rất cần viện trợ để giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội, cũng như nuôi dưỡng quân đội đủ sức mạnh tiềm tàng bên trong khác Do biết không thể chiến thắng Trung Quốc Đại lục bằng quân sự, Đài Loan đã chọn con đường phát triển kinh tế, ổn định xã hội
và đây là con đường duy nhất trong cuộc chiến “ai tháng ai” Để có thể thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế, ổn định xã hội, bảo vệ Đài Loan, Quốc Dân Đảng và Tưởng Giới Thạch cần có một cái ô che chở “Cái ô” hi vọng đó là
Mỹ Được sự giúp đỡ của Mỹ, ngày 10/10/1949 ở Đài Loan Tưởng Giới Thạch
Trang 32tuyên bố thành lập nước Trung Hoa dân quốc ở Đài Loan Từ đây bắt đầu viết một trang sử mới chia cắt và thống trị Đài Loan
- Lập trường quan điểm của Đảng Cộng sản Trung Quốc
Năm 1921, Đảng Cộng sản Trung Quốc ra đời, đưa cách mạng Trung Quốc bước sang một giai đoạn mới Trong quá trình đấu tranh giành quyền lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân lao động đi theo đường lối của Đảng Do đó, đáp ứng nhu cầu và lợi ích của đại đa số nhân dân Trung Quốc, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã luôn khảng định lập trường trước sau như một về chủ quyền của Trung Quốc đối với Đài Loan, coi Đài Loan là một bộ phận của Trung Quốc, phản đối mọi âm mưu chia cắt Đài Loan ra khỏi chủ quyền của Trung Quốc
Như vậy, có thể thấy là trong những năm 1945 - 1949, mặc dù giữa Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quốc Dân Đảng có sự mâu thuẫn sâu sắc trong nhiều vấn đề, nhất là việc giành quyền lãnh đạo cách mạng Trung Quốc, nhưng hai bên đã có chung một quan điểm là phản đối mọi âm mưu chia cắt Đài Loan, coi việc thống nhất Đài Loan là công việc nội bộ của nhân dân Trung Quốc Điều này đã thể hiện tinh thần và lợi ích dân tộc của nhân dân Trung Quốc Đó cũng chính là cơ sở để Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quốc Dân Đảng có thể tạm gác những bất đồng để cùng nhau theo đuổi mục tiêu giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước
2.2.2 Giai đoạn 1949 - 1971
- Lập trường quan điểm của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Sự ra đời của nước CHND Trung Hoa vào năm 1949 là cơ sở quan trọng để các nhà lành đạo CHND Trung Hoa đưa ra quan điểm chủ trương kiên trì với lập trường “thống nhất Đài Loan” Bởi ở khu vực Đông Á với điểm nóng Đài Loan, chính phủ Trung Quốc đã nhận thấy tầm quan trọng địa chiến lược nhất định đối với Đại lục
Trang 33Trong vấn đề Đài Loan, CHND Trung Hoa cho rằng, Trung Hoa Dân Quốc đã không còn tồn tại với tư cách là một chính phủ hợp pháp từ khi CHND Trung Hoa được thành lập vào ngày 01/10/ 1949, CHND Trung Hoa
là chính thể tiếp nối của Trung Hoa Dân Quốc với tư cách chính phủ hợp pháp duy nhất của Trung Quốc, với quyền cai trị Đài Loan theo lý thuyết kế tục nhà nước Mặt khác, quyền hợp pháp của Trung Hoa Dân Quốc trong việc chiếm lại lục địa vẫn không được chấp nhận rộng rãi mà còn đang bị tranh cãi
Trước âm mưu chia cắt của Mỹ ở Đài Loan, lập trường của CHND Trung Hoa cho rằng "Chính phủ CHND Trung Hoa là chính phủ hợp pháp duy nhất đối với Trung Quốc, Đài Loan là một phần không thể tách rời của Trung Quốc" CHNDTrung Hoa không muốn đàm phán với Trung Hoa Dân Quốc về bất kỳ một hình thức nào khác ngoài Chính sách một Trung Quốc Chính phủ CHND Trung Hoa coi việc vi phạm vào chính sách một Trung Quốc, hay những hành động mâu thuẫn với chính sách đó như việc cung cấp
vũ khí cho Trung Hoa Dân Quốc là một sự vi phạm vào quyền toàn vẹn lãnh thổ của họ Các tổ chức thông tin quốc tế thường báo cáo rằng "Trung Quốc coi Đài Loan là một tỉnh phản loạn cần phải được thống nhất với lục địa bằng
vũ lực nếu cần thiết", thậm chí khi CHND Trung Hoa không nói rõ ràng rằng Đài Loan là một tỉnh phản loạn Tuy nhiên, phương tiện truyền thông đại chúng CHND Trung Hoa và các quan chức của họ thường coi Đài Loan là
"Tỉnh Đài Loan của Trung Quốc" (Những vùng Trung Hoa Dân Quốc tuyên
bố chủ quyền Kim Môn, Ô Khâu và quần đảo Mã Tổ là một phần tỉnh Phúc Kiến của họ, các đảo ở Biển Đông thuộc tỉnh Quảng Đông và Hải Nam)
Cộng hoàn Nhân dân Trung Hoa cũng luôn coi việc giải phóng Đài Loan, thống nhất tổ quốc đã trở thành mục tiêu có tính chiến lược Do vậy khẩu hiệu “giải phóng Đài Loan” đã xuất hiện ngay sau khi nước CHND Trung Hoa ra đời Sau khi giành thắng lợi ở lục địa Trung Hoa vào năm 1949,
Trang 34các nhà lãnh đạo CHND Trung Hoa đã coi “nhiệm vụ chiến đấu vẻ vang của
quân giải phóng Trung Quốc trong năm 1950 là giải phóng Đài Loan, tiêu diệt tàn quân cuối cùng của bọn Tưởng Giới Thạch ” [5; 415] Điều này đã
thể hiện quyết tâm thống nhất Đài Loan của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Chính phủ Trung Quốc Bên cạnh đó, để tỏ rõ lập trường kiên định trong việc giải phóng Đài Loan, nhân dân Trung Hoa đã lên tiếng phản đối Mỹ trong việc cố định hóa hiện trạng eo biển Đài Loan vào tháng 01/1955
Cuối thập kỷ 50 của thế kỷ XX, do tình hình thế giới và khu vực cũng như tình hình trong nước có những chuyển biến, đã buộc Trung Quốc phải điều chỉnh chính sách của mình đối với vấn đề Đài Loan Trong khi diễn biến của việc giải quyết của vấn đề Đài Loan đang có lợi cho ĐCS Trung Quốc thì Tổng thống Mỹ Truman đã can thiệp trực tiếp vào eo biển Đài Loan làm cho tình hình Đài Loan diễn biến phức tạp và chuyển sang giai đoạn mới
Trong hội nghị Á Phi ở Băngđung thủ tướng Chu Ân Lai đã lên tiếng bày tỏ ý muốn giải quyết vấn đề Đài Loan bằng phương pháp hiệp thương
[7;345] Chính thiện chí này của Trung Quốc đã làm dịu đi tình hình căng
thẳng ở eo biển Đài Loan Ngày 28/06/1956, tại Hội nghị lần thứ 3 khoá I, Chu Ân Lai đã nói rõ hơn về việc giải quyết hòa bình vấn đề Đài Loan Ông
nói: “chính phủ chúng tôi nhiều lần nêu lên rằng, nhân dân Trung Quốc có
hai khả năng giải phóng Đài Loan, tức là phương pháp chiến tranh và hòa bình, nhân dân Trung Quốc mong muốn trong điều kiện có thể tranh thủ dùng hòa bình để giải phóng Đài Loan Nay tôi thay mặt Chính phủ chính thức biểu thị rằng chúng tôi mong muốn cùng với nhà đương cục Đài Loan hiệp thương tìm ra bước đi cụ thể và điều kiện hòa bình để giải phóng Đài Loan [5; 295]
Để xúc tiến việc giải quyết hòa bình vấn đề Đài Loan, Bắc kinh đã thành lập một ủy ban giải quyết hòa bình vấn đề Đài Loan do Trương Trị Trung làm chủ nhiệm và Thiệu Lực Tử làm bí thư Ngoài ra Đảng Cộng Sản