Mục đích nghiên cứu: - Tìm hiểu mô hình hỗ trợ, bảo vệ TE nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS qua đó đánh giá hiệu quả đạt được của mô hình trong việc hỗ trợ đối tượng TE tại phường Than
Trang 1(nghiªn cøu tr-êng hîp t¹i ph-êng thanh s¬n, thµnh phè u«ng bÝ, tØnh qu¶ng ninh)
ngµnh c«ng t¸c x· héi
Vinh - 2012
Trang 2khoá luận tốt nghiệp đại học
Đề tài:
thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả mô hình phòng ngừa, hỗ trợ trẻ em nhiễm và bị ảnh h-ởng bởi hiv/aids tại tỉnh quảng ninh
(nghiên cứu tr-ờng hợp tại ph-ờng thanh sơn, thành phố uông bí, tỉnh quảng ninh)
chuyên ngành công tác xã hội
Lớp 49B2 - CTXH (2008 - 2012)
Giáo viên h-ớng dẫn: Th.S Võ Thị Cẩm Ly
Vinh - 2012
Trang 3tác xã hội với đề tài: “Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả mô
hình phòng ngừa, hỗ trợ trẻ em nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS tại tỉnh Quảng Ninh” (nghiên cứu trường hợp tại phường Thanh Sơn, thành phố
Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh), tôi đã nhận được sự động viên giúp đỡ nhiệt tình
của thầy cô, gia đình và bạn bè
Để hoàn thành bài khoá lụân tốt nghiệp này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới nhà trường cùng các thầy cô giáo trong tổ Công tác xã hội - Khoa Lịch
Sử - Trường Đại học Vinh đã trang bị tri thức khoa học cho tôi trong suốt thời
gian qua Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo Th.S Võ Thị
Cẩm Ly, người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình
hoàn thành khoá luận
Qua đây tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới các bác, các cô, các chú cán
bộ tại UBND phường Thanh Sơn và các cộng tác viên xã hội tại phường Thanh Sơn đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình tìm hiểu thông tin, đóng góp ý kiến giúp tôi thực hiện thành công bài khoá luận này
Vì thời gian và kinh nghiệm bản thân còn hạn chế nên bài khoá luận không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô, các bạn và những người quan tâm tới đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Vinh, ngày 3 tháng 5 năm 2012
Sinh viên
Nguyễn Thị Hồng Hạ
Trang 4MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 6
1 Tính cấp thiết của đề tài 6
2 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài 9
3 Đối tượng, khách thể và mục đích nghiên cứu 10
4 Giả thuyết nghiên cứu 11
5 Phương pháp nghiên cứu 11
6 Bố cục đề tài nghiên cứu 13
PHẦN NỘI DUNG 14
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI… 14
1.1 Cơ sở lí luận của đề tài 14
1.1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về trẻ em 14
1.1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về chăm sóc, bảo vệ trẻ em nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS 14
1.1.3 Các lí thuyết làm cơ sở lí luận cho đề tài 18
1.1.4 Một số khái niệm công cụ 21
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 23
1.2.1 Tổng quan đề tài nghiên cứu 23
1.2.2 Tổng quan địa bàn nghiên cứu 26
Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ MÔ HÌNH PHÒNG NGỪA, HỖ TRỢ TRẺ EM NHIỄM VÀ BỊ ẢNH HƯỞNG BỞI HIV/AIDS Ở PHƯỜNG THANH SƠN – UÔNG BÍ – QUẢNG NINH 29
Trang 52.1 Thực trạng trẻ em nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS ở
phường Thanh Sơn – Uông Bí – Quảng Ninh 29
2.1.1 Vài nét về TE nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS ở phường Thanh Sơn……… 29
2.1.2 Nguyên nhân TE nhiễm HIV/AIDS 31
2.1.3 Hậu quả để lại cho TE nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS 34 2.2 Chính sách hỗ trợ, phòng ngừa trẻ em nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS ở phuờng Thanh Sơn - Uông Bí - Quảng Ninh 36 2.3 Thực trạng triển khai mô hình phòng ngừa, hỗ trợ trẻ em nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS tại phường Thanh Sơn – Uông Bí – Quảng Ninh 40
2.3.1 Nguồn ngân sách và cơ chế thực hiện 40
2.3.2 Mức độ bao phủ của mô hình 44
2.3.3 Mức độ tiếp cận của đối tượng……… 46
2.3.4 2.3.5 Các hoạt động cơ bản của mô hình thực hiện trong năm 2011 Những thay đổi của đối tượng sau khi tham gia vào mô hình 48 50 2.4 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả của mô hình 52
2.4.1 Cần xây dựng một hệ thống nhân viên công tác xã hội đồng bộ ở các cấp để hỗ trợ TE nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS tiếp cận với các dịch vụ, mô hình hỗ trợ………… 53
2.4.2 Cần mở rộng mạng lưới những cộng tác viên có HIV hoặc đang nuôi dưỡng người có HIV 55
2.4.3 Tích cực huy động nguồn tài chính hỗ trợ triển khai mô hình và hoàn thiện cơ chế thực hiện mô hình phòng ngừa, hỗ trợ TE nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS 55
Trang 62.4.4 Mở rộng mức độ bao phủ của mô hình hỗ trợ đối với TE nhiễm
và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS 56
2.4.5 Nâng cao mức độ tiếp cận chính sách cho các đối tượng thụ hưởng……… 57
2.4.6 Cần đẩy mạnh công tác truyền thông với các giải pháp đổi mới truyền thông cho phù hợp hơn……… 58
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 61
1 Kết luận 61
2 Khuyến nghị 63
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 67
PHỤ LỤC……… 69
DANH MỤC BẢNG Trang Bảng 1: Trẻ em nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS của phường Thanh Sơn năm 2011……… 29
Bảng 2: Nguyên nhân trẻ em nhiễm HIV……… 31
Bảng 3 : Các hoạt động người nuôi dưỡng và trẻ em nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS tham gia 45
Bảng 4 : Các kênh truyền thông người nuôi dưỡng thu thập thông tin về mô hình 47
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Trẻ em là tương lai của đất nước, đầu tư cho trẻ em là đảm bảo cho sự phát
triển bền vững của mỗi quốc gia Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn quan
tâm chú trọng tới công tác bồi dưỡng, giáo dục và phát triển một cách toàn diện
cho trẻ em Trong quan điểm pháp luật và chính sách về bảo vệ và chăm sóc trẻ
em của Nhà nước ta nhấn mạnh trẻ em là hạnh phúc của gia đình, là lớp công
dân đặc biệt, là nguồn nhân lực tương lai và là lớp người kế tục của đất nước
Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh “Mỗi năm bắt đầu từ mùa
xuân, cuộc đời bắt đầu từ tuổi trẻ, tuổi trẻ là mùa xuân của đất nước”[13] Sự
quan tâm đến trẻ em được thể hiện rõ hơn, sau khi Việt Nam phê chuẩn Công
ước của Liên Hợp quốc về quyền trẻ em năm 1990, đó là sự cam kết mạnh mẽ
của Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em, đảm bảo cho mọi trẻ em được đối xử bình đẳng,
có điều kiện thuận lợi nhất để phát triển thể chất và trí tuệ, bảo đảm được sống
trong môi trường an toàn và lành mạnh, nhằm làm cho mọi trẻ em đều được
hưởng các quyền cơ bản và làm tròn bổn phận của trẻ em
Quá trình đổi mới ở nước ta hiện nay đã đem lại nhiều thành tựu to lớn
trên các mặt kinh tế, văn hóa và xã hội Tuy nhiên, sự tác động của quá trình hội
nhập kinh tế thế giới, toàn cầu hóa và đô thị hóa, sự chuyển đổi cơ chế quản lý
và định hướng kinh tế thị trường… cũng đồng thời làm nảy sinh hàng loạt các
vấn đề xã hội như khoảng cách giàu nghèo ngày một tăng; vấn đề di cư có tổ
chức và di cư tự do; tình trạng một số hệ thống dịch vụ xã hội như y tế, giáo dục
quá tải và không đáp ứng được nhu cầu ngày một đa dạng của người dân
Những vấn đề này đang có những tác động nhiều chiều khác nhau tới gia đình,
xã hội, tới những nhóm dân cư dễ bị tổn thương, đặc biệt là trẻ em và người
chưa thành niên Mọi gia đình Việt nam đặc biệt là những gia đình thành thị
Trang 8đang đứng trước những thách thức lớn, tác động của mặt trái cơ chế thị trường
đến môi trường xã hội, nó cũng khiến cho gia đình và xã hội luôn bị cuốn hút
vào sự căng thẳng của những hoạt động kinh tế Lối sống thực dụng xem nhẹ
các giá trị văn hoá tinh thần, đề cao các giá trị vật chất đang là mối nguy cơ làm
xói mòn và tan vỡ quan hệ gia đình truyền thống Tỉ lệ ly hôn hàng năm không
ngừng tăng lên, kéo theo nó là sự gia tăng của các gia đình ghép(bố dượng hoặc
mẹ kế) ảnh hưởng rất lớn đến tâm sinh lí của trẻ em Các em phải đối mặt với
những hành vi sao nhãng, ngược đãi; bạo lực/bạo hành trong gia đình, sức khỏe
tâm thần của trẻ em (trẻ tự kỷ, rối nhiễu hành vi tâm lý ); trẻ em bị tai nạn
thương tích, đặc biệt là vấn đề cả xã hội quan tâm việc trẻ em nhiễm và bị ảnh
hưởng bởi HIV/AIDS
Đại dịch HIV/AIDS được đánh giá là “khủng hoảng toàn cầu”, không chỉ
mang đến những hệ lụy cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc
gia, mà còn ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống an toàn và sự phát triển toàn
diện của trẻ em – nhóm đối tượng phải gánh chịu hậu quả nặng nề nhất từ đại
dịch này Tại hội thảo Xây dựng Chương trình trợ giúp trẻ em bị ảnh hưởng bởi
HIV/AIDS giai đoạn 2011-2015 do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tổ
chức ở Hà Nội ngày 1/11/2011, ông Nguyễn Trọng An - Phó Cục trưởng Cục
Bảo vệ chăm sóc trẻ em (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) cho biết tính
đến năm 2011, cả nước đã có 4.405 trẻ em bị nhiễm HIV Điều đáng lo ngại,
hàng năm ở Việt Nam có khoảng 4.000 bà mẹ mang thai nhiễm HIV Nếu
không được can thiệp kịp thời, với tỷ lệ lây truyền từ mẹ sang con là 35% thì
trung bình mỗi năm, chúng ta sẽ có khoảng 1.400 trẻ sơ sinh có nguy cơ cao bị
nhiễm HIV từ mẹ truyền sang Với tốc độ trên, dự báo đến năm 2012, nước ta sẽ
có khoảng 5.700 trẻ em dưới 15 tuổi bị nhiễm HIV Để giảm thiểu và hạn chế
những hậu quả trên, Đảng và Nhà nước đã và đang có những chủ trương chính
sách và chương trình hành động như: Chỉ Thị 54 về “tăng cường lãnh đạo công
Trang 9tác phòng chống HIV/AIDS trong tình hình mới”, Luật phòng chống
HIV/AIDS được Quốc hội khóa XII ban hành tháng 06/2006; Kế hoạch hành
động quốc gia vì trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS đến năm 2010 và tầm nhìn
đến năm 2020 được Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 84/2009/QĐ-TTg
ngày 04/06/2009 và nhiều văn kiện quan trọng khác Cùng với đó là các mô
hình trợ giúp được xây dựng ở khắp các địa phương trong cả nước
So với các địa phương khác trên địa bàn cả nước, Quảng Ninh là một trong
những tỉnh dẫn đầu với số lượng nguời nhiễm HIV tại thời điểm năm 2008 là
hơn 3.300 người nhiễm HIV, dẫn đầu cả nước về tỷ lệ người nhiễm HIV
(332/100.000 dân) và đứng thứ 2 về số người nhiễm căn bệnh này Tất cả các
huyện, thị xã đều có bệnh nhân HIV/AIDS.Trong đó, thị xã Cẩm Phả,Uông Bí
và thành phố Hạ Long là nơi có tỷ lệ nhiễm cao nhất Tuy nhiên, những năm
qua, nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, cũng như sự giúp đỡ của các tổ chức phi
chính phủ và Cục Phòng chống HIV/AIDS (Bộ Y tế) mà số người có H đã giảm
đáng kể Thành quả ấy có sự đóng góp không nhỏ của công tác phòng ngừa
nhiễm HIV/AIDS ở trẻ em, trong đó có mô hình phòng ngừa, hỗ trợ trẻ em
nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS
Mô hình phòng ngừa, hỗ trợ trẻ em nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS
nằm trong khuôn khổ chương trình Bảo vệ trệ trẻ em giai đoạn 2011 – 2015 của
tỉnh Quảng Ninh Mô hình triển khai đã thu được nhiều kết quả, tuy nhiên, việc
triển khai mô hình còn gặp phải nhiều khó khăn, rào cản đòi hỏi phải có biện
pháp khắc phục để mô hình được áp dụng hiệu quả
Công tác xã hội (CTXH) là một ngành khoa học có vai trò quan trọng
trong việc trợ giúp cho các cá nhân, nhóm, cộng đồng có vấn đề vượt qua khó
khăn và phát triển hòa nhập vào xã hội Một trong những đối tượng được
CTXH quan tâm đó là trẻ em (TE), đặc biệt là trẻ bị ảnh hưởng và bị nhiễm
HIV/AIDS Đối với nhân viên CTXH để có thể trợ giúp thân chủ hiệu quả thì
Trang 10bên cạnh những kiến thức, kĩ năng chuyên môn, nhân viên CTXH còn phải nắm
bắt được các chủ trương chính sách của Nhà nước và các mô hình trợ giúp hiệu
quả, đồng thời nhân viên CTXH cũng cần tham gia vào việc triển khai và thực
hiện các mô hình, chính sách đó
Nhận thức được điều đó, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài “Thực trạng
và một số giải pháp nâng cao hiệu quả mô hình phòng ngừa, hỗ trợ trẻ em
nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS tại tỉnh Quảng Ninh ” (nghiên cứu
trường hợp tại phường Thanh Sơn, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh)
Đề tài này nhằm góp phần đánh giá các hoạt động của mô hình và các kết
quả cũng như hạn chế Từ đó rút ra bài học và các biện pháp để nâng cao hiệu
quả của mô hình
2 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài
2.1 Ý nghĩa lí luận
Đề tài nghiên cứu vận dụng những kiến thức, các lý thuyết và kỹ năng
chuyên nghiệp của ngành CTXH với các kiến thức xã hội học đại cương, xã hội
học chuyên ngành nhằm tìm hiểu, phân tích những vấn đề về TE bị ảnh hưởng
và nhiễm HIV/AIDS, mô hình phòng ngừa, hỗ trợ TE nhiễm và bị ảnh hưởng
bởi HIV/AIDS trong hệ thống ASXH Trên cơ sở đó, đưa ra những giải pháp
góp phần bổ sung và hoàn thiện nghiên cứu lý luận về mảng đề tài này trở nên
phong phú hơn, đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của thực tiễn cho những nghiên cứu
trong giai đoạn tới
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trên cơ sở tìm hiểu một vài nét về thực trạng TE nhiễm và bị ảnh hưởng
bởi HIV/AIDS và việc triển khai mô hình phòng ngừa, hỗ trợ TE nhiễm và bị
ảnh hưởng bởi HIV/AIDS tại địa bàn phường Thanh Sơn hiện nay, nghiên cứu
này nhằm đóng góp một số giải pháp về việc triển khai mô hình cho các nhà
quản lí, cán bộ thực hiện có những sửa đổi, bổ sung giúp mô hình được hoàn
Trang 11thiện hơn, mang lại hiệu quả cao hơn
Việc tìm hiểu mô hình giúp nâng cao hiểu biết cho nhân viên CTXH, bổ
sung các giải pháp, mô hình cho nhân viên CTXH khi làm việc với thân chủ là
TE bị nhiễm và ảnh hưởng bởi HIV/AIDS
3 Đối tượng, khách thể, và mục đích nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả mô hình phòng ngừa, hỗ
trợ TE nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS tại tỉnh Quảng Ninh
3.2 Khách thể nghiên cứu:
- TE nhiễm, bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS
- Các gia đình nuôi dưỡng TE nhiễm, bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS
- Các cán bộ thực hiện mô hình phòng ngừa, hỗ trợ TE nhiễm và bị ảnh
hưởng bởi HIV/AIDS
3.3 Mục đích nghiên cứu:
- Tìm hiểu mô hình hỗ trợ, bảo vệ TE nhiễm và bị ảnh hưởng bởi
HIV/AIDS qua đó đánh giá hiệu quả đạt được của mô hình trong việc hỗ trợ đối
tượng TE tại phường Thanh Sơn, Thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh
- Phân tích nguyên nhân TE nhiễm HIV, hậu quả để lại cho các TE nhiễm
và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS trong cuộc sống và những thay đổi của các em
sau khi tham gia vào mô hình
- Đề xuất một số khuyến nghị, giải pháp giúp nâng cao hiệu quả của mô
hình
4 Giả thuyết nghiên cứu
Trang 12* Giả thuyết 1: Công tác chăm sóc hỗ trợ TE nhiễm và ảnh hưởng bởi
HIV/AIDS còn nhiều hạn chế, bất cập và chưa đáp ứng nhu cầu thực tiễn về thể
chất cũng như tinh thần của trẻ
* Giả thuyết 2: Mô hình phòng ngừa, hỗ trợ TE nhiễm và bị ảnh hưởng
bởi HIV/AIDS đã mang lại một số kết quả nhất định tuy nhiên vẫn tồn tại
những hạn chế cần được khắc phục
* Giả thuyết 3: Để mô hình phòng ngừa, hỗ trợ trẻ em nhiễm và bị ảnh
hưởng bởi HIV/AIDS nâng cao hiệu quả cần có sự chung tay góp sức của nhân
viên CTXH, cộng đồng và các ban ngành đoàn thể có liên quan
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Nghiên cứu dựa trên các nguyên lý chung của chủ nghĩa Mác Lê Nin là
chủ nghĩa duy vật biện chứng, và chủ nghĩa duy vật lịch sử với tư cách là thế
giới khách quan, và phương pháp luận trong quá trình tìm hiểu và tham gia vào
mô hình Ngoài ra, nghiên cứu còn vận dụng cách tiếp cận nhiều lý thuyết của
CTXH cũng như các nghành khoa học xã hội khác như: xã hội học, tâm lý học
để nhìn nhận và giải quyết những vấn đề mà nhà nghiên cứu đặt ra
5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
5.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Phương pháp này nhằm thu thập các tài liệu văn bản, giúp chúng ta xem
xét các thông tin có sẵn trong các tài liệu về mô hình phòng ngừa, hỗ trợ TE bị
nhiễm và ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, các bài viết, cuộc nghiên cứu liên quan
đến đối tượng và hoạt động hỗ trợ đối tượng Bên cạnh đó còn sử dụng để phân
tích những kết quả thu được trong phỏng vấn sâu và phỏng vấn qua bảng hỏi
các đối tượng Ngoài ra, còn vận dụng để phân tích, tổng hợp những tài liệu, số
liệu thu được tại cơ sở, địa bàn nghiên cứu để đáp ứng cho mục tiêu nghiên cứu
của đề tài một cách tốt nhất
Trang 135.2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu
Đối tượng phỏng vấn sâu trong đề tài này bao gồm:
Phỏng vấn 2 cán bộ phụ trách việc thực hiện mô hình để tìm hiểu thông
tin chung về mô hình, tình hình triển khai, những thuận lợi, khó khăn và thông
tin về đối tượng
Phỏng vấn 5 gia đình có trẻ bị nhiễm và ảnh hưởng bởi HIV/AIDS để
thu thập thông tin về hiệu quả của mô hình, những thay đổi của trẻ khi tham gia
vào mô hình, sự phù hợp của mô hình đối với trẻ
Phỏng vấn sâu 5 trẻ nhằm thu thập những thông tin về hoàn cảnh, tâm lí
và nhu cầu của trẻ
5.2.3 Phương pháp phỏng vấn qua bảng hỏi
Trong quá trình làm đề tài sinh viên có tiến hành sử dụng bảng hỏi để thu
thập thông tin từ người nuôi dưỡng, với số lượng phát ra là 20bảng cho tổng thể
20 (100%) người nuôi dưỡng TE nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS ở trên
địa bàn phường
5.2.4 Phương pháp quan sát
Trong nghiên cứu này, phương pháp quan sát là phương pháp thu thập
thông tin chủ yếu được sử dụng trong quá trình tham gia vào các buổi sinh hoạt
của mô hình NVCTXH quan sát những hành động, hành vi ứng xử và thái độ
hàng ngày cũng như hành vi, thái độ khi tham gia sinh hoạt nhóm của TE tham
gia vào mô hình, đồng thời còn quan sát thái độ, phương pháp quản lý, giáo
dục, hỗ trợ trẻ của các cộng tác viên,cán bộ quản lí nhằm mô tả chi tiết về đối
tượng và các hoạt động của mô hình
Bên cạnh đó, nhân viên CTXH còn sử dụng phương pháp quan sát để
đánh giá mức độ tiến bộ của nhóm trẻ sau mỗi buổi sinh hoạt nhóm Từ đó giúp
nhân viên CTXH đánh giá hiệu quả hoạt động của mô hình
6 Bố cục đề tài nghiên cứu
Trang 14Đề tài bao gồm 3 phần: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận –
khuyến nghị
Nội dung của đề tài được chia thành 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn
Chương 2: Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả mô hình
phòng ngừa, hỗ trợ TE nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS tại phường
Thanh Sơn, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh
PHẦN NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về trẻ em
Trang 15Bác Hồ đã khẳng định vai trò quan trọng của TE đối với tương lai mai sau
của đất nước và xác định trách nhiệm chăm sóc giáo dục TE không phải của
riêng ngành nào, tổ chức nào mà là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân Bác
đã viết: “Thiếu niên nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà Vì vậy,
chăm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân Công
tác đó phải làm kiên trì, bền bỉ Vì tương lai của con em ta, dân tộc ta, mọi
người, mọi ngành phải có quyết tâm chăm sóc và giáo dục các cháu bé cho
tốt”[15] Tất cả các quốc gia dân tộc trên thế giới muốn tồn tại và phát triển bền
vững, đều phải quan tâm bảo vệ chăm sóc và giáo dục thiếu niên nhi đồng
Xác định được vai trò quan trọng của lực lượng nòng cốt mai sau của đất
nước, Bác Hồ thường nhắc nhở các cấp, các ngành, đoàn thể phải làm tốt công
tác chăm sóc và giáo dục thiếu nhi Chính bản thân Bác cũng luôn giành cho
các cháu thiếu niên nhi đồng tình yêu thương vô hạn Điều đó thể hiện trong
nhiều bức thư Bác gửi cho các cháu nhân ngày tết thiếu nhi, ngày khai giảng…
Tại nơi ở của Bác, dù rất bận rộn nhưng những lúc rảnh rỗi Bác lại sắp xếp công
việc để đón tiếp các cháu thiếu niên và nhi đồng – những vị khách đặc biệt của
Bác
1.1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về chăm sóc, bảo vệ trẻ em
nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS
Đại dịch HIV/AIDS đã, đang và sẽ còn tiếp tục ảnh hưởng tiêu cực, gây hậu
quả khôn lường đến trật tự an toàn xã hội, đến tính mạng, đời sống của mỗi cá
nhân, gia đình và cộng đồng Việc hỗ trợ, can thiệp, giải quyết vấn đề gặp phải
cho các nạn nhân bị nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS luôn được Đảng và
Nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội, đoàn thể và toàn xã hội đặc biệt quan
tâm, với những quan điểm, định hướng, chính sách, chương trình hành động cụ
thể Điều đó không chỉ góp phần ngăn chặn, đẩy lùi đại dịch mà còn thể hiện
trách nhiệm, tình cảm, sự phát huy truyền thống nhân văn cao quý của dân tộc
Trang 16Việt Nam vào hỗ trợ cho những người là nạn nhân nhiễm HIV và bị ảnh hưởng
bởi HIV/AIDS
Sớm nhận thấy những nguy cơ và hậu quả nặng nề của đại dịch
HIV/AIDS, nhất là đối với thế hệ trẻ và đối tượng phụ nữ, trẻ em nên Đảng,
Nhà nước đã rất tích cực, chủ động trong việc xây dựng, ban hành chính sách,
triển khai các chương trình hành động quốc gia với những định hướng chiến
lược, mục tiêu, giải pháp tích cực, cụ thể, phù hợp
Việt Nam là một trong những nước sớm nhất phê chuẩn và tham gia Công
ước quốc tế về quyền trẻ em Trong Công ước, có những điều liên quan đến
việc hỗ trợ, đảm bảo quyền của trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (trong đó có
nhóm trẻ nhiễm và trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS)
Chỉ thị 52- CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng ra ngày 11 tháng 3
năm 1995 về lãnh đạo công tác phòng chống AIDS Chỉ thị xác định: Để ngăn
chặn lây truyền HIV, biện pháp cơ bản nhất và có hiệu quả nhất là mọi người
giữ gìn lối sống trong sạch, lành mạnh, thủy chung, tự giác phòng tránh tệ nạn
ma tuý, mại dâm Vì vậy phải đặt lên hàng đầu nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục
cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên, đặc biệt là thanh niên và thiếu niên về
đạo đức, lối sống, về nguy cơ lan nhiễm HIV/AIDS… Chỉ thị này tập trung vào
nhiệm vụ, giải pháp thực hiện phòng chống HIV/AIDS, chưa đề cập đến việc
hỗ trợ nạn nhân của đại dịch
Sau 10 năm thực hiện Chỉ thị 52 – CT/TW, tình hình lây nhiễm HIV/AIDS
vẫn diễn biến rất phức tạp, số nạn nhân bị nhiễm và bị ảnh hưởng bởi
HIV/AIDS ngày càng gia tăng Ngoài các nhóm có nguy cơ cao (tiêm chích ma
túy, mại dâm, tình dục đồng giới ), tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS ở phụ nữ mang thai,
trẻ em và thanh niên cũng tăng nhanh Do đó, ngày 30/11/2005 Chỉ thị
54-CT/TW về “Tăng cường lãnh đạo công tác phòng chống HIV/AIDS trong
tình hình mới” được ban hành đã có nhiều quy định cụ thể hơn về công tác hỗ
Trang 17trợ các nạn nhân của đại dịch Cụ thể là tăng mức đầu tư của Nhà nước, tích cực
huy động toàn xã hội, ưu tiên mở rộng và nâng cao chất lượng của công tác
thông tin tuyên truyền, công tác chăm sóc và điều trị người nhiễm HIV/AIDS;
phát huy tinh thần tương thân, tương ái, chăm sóc giúp đỡ của cộng đồng,
chống kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS; tạo điều kiện để
những người nhiễm bệnh và gia đình họ thấy được trách nhiệm, tự giác tham
gia các hoạt động hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS và phòng chống HIV/AIDS
Tiếp sau đó, những quan điểm, chủ trương, chính sách về can thiệp, hỗ trợ
giải quyết vấn đề gặp phải của người có HIV/AIDS, người bị ảnh hưởng bởi
HIV/AIDS nói riêng, trong đó có đối tượng là trẻ em được thể chế hoá trong các
quy định của Luật Phòng chống nhiễm virus gây ra suy giảm miễn dịch mắc
phải ở người (HIV/AIDS) Luật Phòng chống HIV/AIDS được Quốc hội Khóa
XI thông qua ngày 16 tháng 5 đến ngày 26 tháng 9 năm 2006
Đặc biệt, ngày 17/3/2004, Thủ tướng chính phủ ký ban hành Quyết định số
36/2004/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng chống
HIV/AIDS ở Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020 Trong nội dung của
Chiến lược có đề cập đến các giải pháp kỹ thuật cơ bản và định hướng quy định
cho sự ra đời một loạt các dịch vụ về chăm sóc và điều trị bệnh nhân, hỗ trợ
người nhiễm HIV và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS Riêng đối với trẻ có HIV, trẻ
bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, Chiến lược quốc gia phòng chống HIV/AIDS ở
Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020, xác định: Bảo đảm đủ thuốc đặc
hiệu và điều trị nhiễm trùng cơ hội cho trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS; Hình thành
trung tâm chăm sóc trẻ mồ côi bị nhiễm HIV không nơi nương tựa tại các tỉnh,
thành phố lớn; Bảo đảm đủ các điều kiện để chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ em bị
bỏ rơi do HIV/AIDS; Huy động sự tham gia mạnh mẽ của các ban, ngành, đoàn
thể vào công tác chăm sóc, hỗ trợ trẻ em nhiễm HIV và bị ảnh hưởng do
HIV/AIDS
Trang 18Từ những chủ trương, chính sách, định hướng chiến lược về phòng chống
HIV/AIDS, hỗ trợ nạn nhân bị nhiễm HIV, bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, đặc
biệt đối với nhóm đối tượng là trẻ em, trong thời gian qua đã có nhiều chương
trình hành động với các mô hình cụ thể hỗ trợ cho trẻ em bị nhiễm HIV và bị
ảnh hưởng bởi HIV/AIDS Nổi bật là các mô hình: “Kết nối dịch vụ chăm sóc
toàn diện cho trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS”; Mô hình “Nhóm gia đình
chăm sóc trẻ bị nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS tại cộng đồng”; Mô hình
“Sáng kiến Phật giáo”; Mô hình kết hợp điều trị HIV/AIDS cho trẻ em; Mô
hình chăm sóc trẻ có HIV tại các trung tâm bảo trợ xã hội… được triển khai
thực hiện ở nhiều tỉnh, thành trên cả nước, điển hình ở các địa bàn nổi cộm về
đại dịch HIV/AIDS như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Lạng
Sơn, Thái Nguyên, Cần Thơ Ngoài ra, nhiều trẻ có HIV, trẻ mồ côi bị ảnh
hưởng bởi HIV/AIDS còn được chăm sóc, hỗ trợ, nuôi dưỡng trong các nhà
mở, mái ấm, tình thương, trong các nhà thiện nguyện (tại nhà chùa Phật giáo
hoặc các cơ sở Thiên Chúa giáo)
Các chương trình hành động và các mô hình cụ thể này đã mang lại những
kết quả khả quan, góp phần quan trọng, quyết định vào ngăn chặn, đẩy lùi đại
dịch và hỗ trợ, giải quyết các vấn đề gặp phải đối với những người có HIV, trẻ
bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS và trẻ có HIV, trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS
Thông qua các chương trình hành động và các mô hình này, nhiều trẻ em có
HIV và trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS đã nhận được sự quan tâm, hỗ trợ từ
Chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức quốc tế, các tổ chức chính trị
– xã hội, đoàn thể, cá nhân trong và ngoài nước
Tuy nhiên việc trợ giúp, giải quyết vấn đề gặp phải của trẻ có HIV, trẻ bị
ảnh hưởng bởi HIV/AIDS trên thực tế vẫn còn tồn tại rất nhiều bất cập Các
chính sách và chương trình hành động hỗ trợ vẫn chưa đến được với tất cả trẻ có
HIV, trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS Việc ban hành chính sách, nhất là văn
Trang 1918
bản luật chưa toàn diện, vẫn còn có những lỗ hổng nhất định, đó chính là một
trong những yếu tố, lý do khiến cho việc thực thi chính sách chưa thực sự triệt
để Trên hiện thực vẫn còn tồn tại một thực tế khá phổ biến tình trạng phân biệt
đối xử với trẻ em có HIV và trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS Sự phân biệt đối
xử và kỳ thị xa lánh này diễn ra ngay trong gia đình, trong cộng đồng, trong
trường học và thậm chí ngay trong cơ sở y tế [14]
1.1.3 Các lí thuyết làm cơ sở lí luận cho đề tài
1.1.3.1 Lí thuyết nhu cầu của Maslow
Abraham Maslow (1908- 1970), nhà tâm lý học người Mỹ, ông là nhà
tiên phong trong trường phái tâm lý học nhân văn (Humanistic psychology)
Ông được thế giới biết đến bởi hệ thống lý thuyết về Thang bậc nhu cầu
(Hierarchy of Needs) Lý thuyết của ông được ứng dụng rất nhiều trong các lĩnh
vực khoa học
Trong lý thuyết của mình, A Maslow cho rằng con người có 5 loại nhu
cầu cơ bản và những nhu cầu đó được sắp xếp theo thứ tự bậc thang:
- Nhu cầu thể chất/ sinh lý: ăn, uống, hít thở
- Nhu cầu an toàn xã hội: tình yêu thương, nhà ở, sức khỏe, việc làm
- Nhu cầu về xã hội: được hòa nhập với xã hội
- Nhu cầu được tôn trọng: được chấp nhận, có vị trí trong nhóm, xã hội
- Nhu cầu phát triển: được hoàn thiện, phát triển trí tuệ, được thể hiện khả
năng, năng lực của mình
Hệ thống thang bậc nhu cầu của Maslow có thể được thể hiện dưới dạng
mô hình hóa bằng kim tự tháp như sau:
Nhu cầu xã hội
Nhu cầu phát triển
Nhu cầu tôn trọng
Trang 20Hình 1: Sơ đồ cấp bậc nhu cầu theo A Maslow
Như vậy, nhìn vào sơ đồ thang bậc nhu cầu trên đây chúng ta thấy rằng
nhu cầu cơ bản nhất của con người nằm ở bậc thang thấp nhất, nhu cầu càng cao
thì càng được xếp ở thang bậc cao hơn, Các nhu cầu của con người luôn tồn tại
đan xen, phụ thuộc, có quan hệ với nhau
Đối với nhóm TE nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, các em chỉ mới
được đáp ứng đầy đủ về nhu cầu sinh lí, còn các nhu cầu khác vẫn còn rất hạn
chế hoặc chưa được đáp ứng
Với đề tài này, lí thuyết nhu cầu của Maslow giúp đánh giá được nhu cầu
thực tế của đối tượng, những nhu cầu mà mô hình đã đáp ứng được cho đối
tượng, nhu cầu nào mô hình chưa đáp ứng được Qua đó có các giải pháp để can
thiệp phù hợp, kịp thời, mang lại hiệu quả cao
1.1.3.2 Lí thuyết hệ thống
Lí thuyết hệ thống là một trong những lí thuyết quan trọng được ứng
dụng trong công tác xã hội nhằm chỉ cho thân chủ những hệ thống trợ giúp nào
mà bản thân họ có thể tiếp cận và tham gia
Đại diện tiêu biểu cho lí thuyết này là Bertalanffy, Hanson, Manconske,
Siporin, Germain, Hearn Thuyết hệ thống được áp dụng cho các hệ thống xã
Trang 21hội như các nhóm, các gia đình, các tổ chức xã hội cũng như các hệ thống sinh
học
Lí thuyết hệ thống chỉ ra những hệ thống đa dạng có thể giúp đỡ thân chủ
như hệ thống gia đình, cộng đồng, hệ thống xã hội Chúng ta có thể phân loại
Công tác xã hội cố gắng tìm ra những chỗ mà thân chủ và môi trường của
họ đang có vấn đề, khó khăn trong tương tác, từ đó giúp họ thực hiện các công
việc trong cuộc sống Vấn đề của thân chủ nảy sinh khi họ không tiếp cận được
những hệ thống đó hoặc tiếp cận không có hiệu quả
Lí thuyết hệ thống khi áp dụng vào đề tài này, cung cấp cho NVCTXH
một cách nhìn toàn diện đối với vấn đề mà những TE nhiễm và bị ảnh hưởng
bởi HIV/AIDS đang gặp phải, từ đó có kế hoạch giúp đỡ hiệu quả nhất Khi sử
dụng lí thuyết này, chúng ta sẽ biết được đối tượng có quan hệ chặt chẽ với hệ
thống nào, chưa chặt chẽ với hệ thống nào Nhờ đó mà việc đánh giá các hoạt
động hỗ trợ của mô hình cho đối tượng được khách quan và toàn diện
1.1.4 Một số khái niệm công cụ
1.1.4.1 Khái niệm trẻ em
- Theo Công ước quốc tế về quyền trẻ em: “TE là những người dưới 16
tuổi”.[9]
- Theo Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam: “TE là những người chưa thành
niên dưới 16 tuổi”.[7]
- Theo định nghĩa sinh học: “TE là con người ở giai đoạn phát triển, từ
khi còn trong trứng nước tới tuổi trưởng thành”.[7]
Trang 22- Nhìn dưới góc độ xã hội học: “TE là giai đoạn con người đang học cách
tiếp nhận những chuẩn mực của xã hội và đóng vai trò vai trò xã hội của mình,
đây là giai đoạn xã hội hoá mạnh nhất và là giai đoạn đóng vai trò quyết định
của việc hình thành nhân cách của mỗi con người”.[8]
Như vậy TE là người chưa thành niên dưới 16 tuổi, chưa phát triển đầy đủ
về thể chất và tinh thần, chưa thực hiện một số quyền và nghĩa vụ nhất định
theo pháp luật
1.1.4.2 HIV/AIDS
- HIV là viết tắt của từ : human immunodeficiency virus có nghĩa virus
suy giảm miễn dịch ở người Là một loại vi rút khi xâm nhập vào cơ thể con
người sẽ tấn công và làm suy giảm hệ miễn dịch tự nhiên của cơ thể, khiến cho
con người mắc nhiều bệnh nguy hiểm, có khả năng gây ra hội chứng suy giảm
miễn dịch mắc phải (AIDS), ta quen gọi là virus SIDA Nguồn gốc của nó hiện
nay vẫn chưa xác định Chỉ biết rằng có 2 loại Virus là HIV1 và HIV2 Cả hai
đều gây bệnh cho người
- AIDS (SIDA): SIDA do 4 chữ đầu của tên bệnh bằng tiếng Pháp
(Syndrom dIlmmuno Déficience Acquise) có nghĩa là hội chứng suy giảm miễn
dịch mắc phải Tiếng Anh gọi là AIDS (Acquired – Immuno – Deficiency –
Syndrome
o Hội chứng: Tập hợp nhiều triệu chứng và dấu hiệu bệnh
o Suy giảm miễn dịch: Suy giảm chức năng bảo vệ cơ thể chống lại sự
tấn công của các mầm bệnh (vi trùng, virus, vi nấm…)
o Mắc phải: Không phải do di truyền mà do bị lây lan từ bên ngoài
Nguyên nhân gây bệnh AIDS là một loại virus có tên là HIV (còn gọi là
virus SIDA) Bệnh lây qua đường tình dục, đường máu và đường mẹ truyền qua
con
Trang 23AIDS được coi là giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV, cơ thể suy kiệt
do bị nhiễm các bệnh nhiễm khuẩn cơ hội như lao, bệnh phổi, bệnh ngoài da,
bệnhlây truyền qua đường tình dục dẫn đến tử vong
Tất cả mọi người không phân biệt màu da, nam, nữ, tuổi tác đều có thể
mắc bệnh Hiện nay AIDS chưa có thuốc chữa, thuốc chủng ngừa, tử vong
100% Cách đối phó duy nhất là đừng để nhiễm HIV
1.1.4.3 Trẻ em nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS
- TE nhiễm HIV/AIDS là những TE đã được cơ quan y tế có thẩm quyền
kết luận bị nhiễm HIV/AIDS
- TE bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS gồm những trẻ em có nguy cơ cao
nhiễm HIV : trẻ em mồ côi do bố và mẹ hoặc bố hoặc mẹ chết vì lý do liên quan
đến HIV/AIDS; trẻ em sống cùng bố, mẹ hoặc người nuôi dưỡng nhiễm HIV;
trẻ em sử dụng ma túy; trẻ em bị xâm hại tình dục; trẻ em là con của người mua,
bán dâm, sử dụng ma túy; [9]
1.1.4.4 Mô hình hỗ trợ, bảo vệ trẻ em bị nhiễm và ảnh hưởng bởi
HIV/AIDS
Mô hình phòng ngừa, hỗ trợ trẻ em nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS
là mô hình nằm trong khuôn khổ chương trình Bảo vệ trệ trẻ em giai đoạn 2011
– 2015 của tỉnh Quảng Ninh Nó hoạt động với mục đích nhằm nâng cao nhận
thức và hành động cho các cấp, các ngành, gia đình và cộng động về công tác
bảo vệ, chăm sóc trẻ em nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, tăng cường
công tác phối hợp liên ngành, thông qua đó giúp cho TE nhiễm và bị ảnh hưởng
bởi HIV/AIDS được chăm sóc, tư vấn, được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc
và hỗ trợ, góp phần giảm thiểu số trẻ nhiễm HIV/AIDS trên địa bàn toàn tỉnh
Hoạt động của mô hình tập trung vào các nội dung chủ yếu sau:
- Nắm thông tin, tình hình TE nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS trên địa
bàn để có biện pháp quản lý, theo dõi và hỗ trợ
Trang 24- Cung cấp thông tin, kiến thức, nội dung cơ bản về Luật phòng, chống
HIV/AIDS, kiến thức về dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS, chống phân biệt, kỳ
thị với người có HIV/AIDS
- Tập huấn kiến thức về chăm sóc sức khoẻ, điều trị dự phòng lây nhiễm, kỹ
năng chăm sóc trẻ nhiễm HIV/AIDS, tuyên truyền nhóm đồng đẳng thông qua
mô hình câu lạc bộ trẻ nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS
- Cung cấp dịch vụ hỗ trợ cho TE nhiễm HIV và trẻ bị ảnh hưởng bởi
HIV/AIDS thông qua các hoạt động: tư vấn tâm lý, sức khỏe, tư vấn về điều trị
dự phòng lây nhiễm, chăm sóc dinh dưỡng, hỗ trợ chuyển tuyến đến các cơ sở y
tế trong việc xét nghiệm và xin cấp thuốc ARV miễn phí
- Bảo vệ hỗ trợ pháp lý cho trẻ như hỗ trợ làm giấy khai sinh, hỗ trợ cho trẻ
trong việc thực hiện quyền học tập không bị phân biệt, kỳ thị [10]
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1 Tổng quan đề tài nghiên cứu
Theo thống kê của mạng thông tin nghiên cứu HIV Việt Nam tình hình
nhiễm HIV ở Việt Nam tính đến năm 2010 như sau:
Tổng số trường hợp nhiễm HIV/AIDS còn sống: 183.938 người Tổng số
trường hợp mắc AIDS còn sống: 44.022 người Tổng số trường hợp đã chết do
AIDS: 49.477 người
Nhìn vào những số liệu thống kê trên tuy thấy không quá nhiều nhưng đó
là những con số đáng lo ngại vì những hậu quả mà HIV/AIDS để lại, không chỉ
đối với những người nhiễm HIV/AIDS mà nó còn đối với gia đình họ, những
người xung quanh và đối với cả cộng đồng, xã hội Đặc biệt để lại hậu quả nặng
nề nhất với phụ nữ và TE
Để tìm ra những biện pháp phòng ngừa, khắc phục tình trạng trên và có
những biện pháp hỗ trợ những đối tượng phụ nữ và TE có HIV và bị ảnh hưởng
bởi HIV, đã có nghiều nghiên cứu được tiến hành Nhìn chung, những công
Trang 25trình nghiên cứu đó vẫn đang còn ở cấp độ vĩ mô, nghiên cứu chung trên phạm
vi cả nước Có thể kể đến những công trình nghiên cứu cơ bản như :
Đề tài “Trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS ở Việt Nam: Báo cáo pháp lý”
do UNICEF thực hiện Đề tài nghiên cứu này nhằm Rà soát lại chính sách và
pháp luật của Việt Nam liên quan đến các gia đình và TE bị ảnh hưởng bởi
HIV/AIDS trên cơ sở đối chiếu với các chuẩn mực và hướng dẫn quốc tế; Từ đó
đưa ra Kiến nghị cách thức tiếp tục hoàn thiện chính sách và pháp luật của
Việt Nam phù hợp với các chuẩn mực và hướng dẫn quốc tế cũng như các kinh
nghiệm thực tiễn hay ở các nước để cải thiện môi trường bảo vệ đối với TE bị
ảnh hưởng bởi HIV/AIDS
Nghiên cứu “Trẻ em đường phố ở Thành phố Hồ Chí Minh và những vấn
đề liên quan đến HIV/AIDS” do Trung tâm Truyền thông – Giáo dục Sức khoẻ
TP Hồ Chí Minh và Tổ chức cứu trợ TE Thụy Điển thực hiện vào năm 2004
nhằm khảo sát hiện trạng kiến thức, thái độ, thực hành (KAP) và nhu cầu liên
quan đến HIV/AIDS của trẻ đường phố ở nội thành phố Hồ Chí Minh Khảo sát
hiện trạng kiến thức, thái độ, thực hành và nhu cầu liên quan đến HIV/AIDS
của giáo dục viên đường phố ở nội thành thành phố Hồ Chí Minh
Đề tài “Nghiên cứu về kiến thức, thái độ và hành vi liên quan đến
HIV/AIDS và một số bệnh lây truyền qua đường tình dục của học sinh ở các
trường trung học ở TP Hải Phòng” do Trường Đại học Y tế Công cộng tiến
hành nhằm mục tiêu: Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ và hành vi về
HIV/AIDS và một số bệnh lây truyền qua đường tình dục khác của học sinh ở
các trường trung học phổ thông ở TP Hải Phòng, năm 2005; Nhằm giải quyết
giả thuyết nghiên cứu là: thực trạng kiến thức, thái độ và hành vi của học sinh ở
các trường trung học phổ thông tăng lên qua học tập ở trường và hệ thống
trường phổ thông
Trang 26Nghiên cứu “ Nhận thức và hành vi của trẻ em đường phố đối với những
hành vi lạm dụng trẻ em và phòng chống HIV/AIDS cho trẻ tại thành phố Hà
Nội và Thành phố Huế” được thực hiện bởi Viện Sức khoẻ sinh sản và Gia đình
tại TP Hà Nội và TP Huế năm 2007 Kết quả nghiên cứu đã đưa ra đóng góp
không nhỏ trong việc mô tả TE đường phố, đưa ra những phát hiện về nguyên
nhân của hiện tuợng TE đường phố Nghiên cứu không chỉ tìm hiểu thực trạng
xâm hại tình dục TE đường phố mà còn tập trung vào yếu tố nhận thức của TE
đường phố trước những nguy cơ, hành vi xâm hại và nguy cơ phòng chống lây
nhiễm HIV Đồng thời nghiên cứu cũng tìm hiểu những chính sách, chương
trình hiện thời đối với TE đường phố để đưa ra những giải pháp cho vấn đề này
Đề tài “Tình hình chăm sóc và hỗ trợ cho những người có HIV tại hai
quận Hải Châu và Thanh Khê, TP Đà Nẵng, năm 2006” do Trường Đại học Y
tế công cộng thực hiện Nghiên cứu sử dụng hai phương pháp định tính và điều
tra tại cộng đồng Nghiên cứu cho thấy nhiều người có HIV tại Đà Nẵng vẫn
còn bị kỳ thị và tự kỳ thị nên họ thường hay che giấu tình trạng nhiễm của mình
Điều này làm cho họ bị hạn chế nhiều trong việc tiếp cận với những người hỗ
trợ cần thiết Nghiên cứu cũng cho thấy vấn đề tư vấn, chăm sóc và hỗ trợ người
có HIV ở Đà Nẵng còn nhiều hạn chế, mặc dù các nguồn lực và sự hỗ trợ cho họ
tại cộng đồng là sẵn có hoặc có khả năng huy động được
Những nghiên cứu này đã sử dụng những phương pháp khác nhau, đề cập
đến nhiều khía cạnh khác nhau qua đó đưa ra những biện pháp khắc phục Tuy
nhiên, chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu ở cấp độ phường, xã được công bố
Có thể nói đề tài của chúng tôi nghiên cứu là một đề tài nhỏ, ở phạm vi 1
phường Vì vậy, đây có thể xem như một bước đi mới trong việc nghiên cứu về
vấn đề này
1.2.2 Tổng quan địa bàn nghiên cứu
Uông Bí là một thành phố công nghiệp và du lịch, là ngã ba tam giác kinh
Trang 27tế của Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh Địa bàn hành chính thành phố có 11
xã phường Dân số đến năm 2007 có gần 11 vạn người, trình độ dân trí không
đồng đều, khoảng cách chênh lệch mức sống còn cao Lực lượng lao động có
thu nhập cao trên địa bàn tương đối đông chủ yếu là công nhân ngành Điện và
ngành Than chiếm khoảng 26% số người trong độ tuổi lao động Lực lượng
công nhân lao động ở một số nghành công nghhiệp nhẹ như giầy da, may mặc
khoảng gần 5000 người , đây là lực lượng lao động có thu nhập thấp và không
ổn định Uông Bí cũng là địa bàn tập trung lực lượng học sinh, sinh viên các
trường THCN và dạy nghề của Tỉnh, mỗi năm có khoảng 12-13000 học sinh
Bên cạnh đó, Uông Bí còn là một điểm du lịch được nhiều khách trong và ngoài
nước biết đến như hệ thống chùa Yên Tử mỗi năm dón hàng trăm vạn lượt
khách đến lễ hội vãng cảnh Chính vì vậy, Uông Bí cũng phải đối mặt với
không ít khó khăn trước các tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm
Thanh sơn là một phường trung tâm chính của thành phố Uông Bí, có
diện tích tự nhiên 9,4km2, dân số trên 16000 nhân khẩu với 3.600 hộ dân Trong
đó, 70% là cán bộ công chức (đang công tác hoặc đã nghỉ hưu); 30% là sản xuất
nông nghiệp và kinh doanh dịch vụ thương mại
- Về kinh tế:
Tình hình sản xuất tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ thuơng mại tiếp tục
được duy trì và phát triển với 189 hộ sản xuất kinh doanh Hàng hóa phong phú
đa dạng, đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của người dân trên địa bàn
phường
Sản xuất nông, lâm nghiệp phát triển tốt Tổng diện tích gieo trồng là 12
ha, trong đó diện tích cấy lúa là 4 ha, năng suất lúa bính quân 46tạ/ha/vụ
Thu ngân sách phường năm 2011 ước đạt 11.782.000.000đ = 146% kế
hoạch thành phố = 132% Nghị quyết HĐND phường 280% so với cùng kì
Tổng chi ngân sách năm 2011 ước đạt 11.617.000.000đ
Trang 28Công tác tài nguyên môi trường mang lại nhiều kết quả tốt
- Về Công tác văn hóa – xã hội:
Công tác văn hóa thông tin, tuyên truyền, văn hóa thể dục thể thao: năm
2011 trên địa bàn phường đã tuyên truyền Nghị định 36, Quyết định 95, Chỉ thị 902
của thủ tướng chính phủ Tuyên truyền cuộc bầu cử Quốc hội khóa XIII và đại biểu
HĐND các cấp nhiệm kì 2011 – 2016 Tổ chức 34 đợt kiểm tra các dịch vụ văn
hóa Tổ chức hội kì lân, sử tử phục vụ cho Tết nguyên đán và các lễ hội, giải leo núi
Yên Tử, võ thuật cổ truyền…
Công tác Lao động – Thương Binh và Xã hội (LĐ – TB & XH): Tổ chức
phát quà Tết của Trung ương, tỉnh, thành phố nhân dịp Tết nguyên đán và ngày
thương binh liệt sĩ cho các đối tượng vói số tiền trên 400 triệu đồng Tổ chức
tặng quà cho 22 người có hoàn cảnh đặc biệt nhân ngày người tàn tật việt Nam 8/4
với số tiền 2.200.000đ Phát hỗ trợ tiền điện của Chính phủ cho 110 hộ nghèo Tổ
chức gặp mặt tặng quà tới 244 hộ người có công và gia đình chính sách trên địa
bàn…
Công tác giáo dục: Tỷ lệ học sinh tiểu học lên lớp, chuyển cấp đạt 100%,
học sinh trung học cơ sở lên lớp đạt 96,4%, xét tốt nghiệp đạt 99.6% Phong
trào khuyến học của phường hoạt động tốt
Công tác y tế, dân số kế hoạch hóa gia đình: Khám chữa bệnh cho 520
lượt người, điều trị tại trạm y tế 513 lượt người Tiêm chủng mở rộng đủ 8 loại
vắc xin cho 275 trẻ dưới 1 tuổi Tổng số bênh nhân tâm thần đang quản lí 21
người, điều trị tại trạm 13 bệnh nhân lao, quản lí và chăm sóc 36 người nhiễm
HIV/AIDS Chăm sóc sức khỏe bà mẹ TE theo định kì Duy trì và giữ vững
chuẩn quốc gia y tế năm 2011
Công tác tôn giáo: Trên địa bàn phường không có trường hợp mê tín dị
đoan, truyền đạo trái phép Thường xuyên vận động nhân dân thực hiện tốt Chỉ
thị 27/CP của Chính phủ trong việc cưới, việc tang, lễ hội
Trang 29- Công tác An ninh – Quân sự
Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội cơ bản được giữ vững
và ổn định Tổ chức giao quân đợt 1 năm 2011 bảo đảm 100% kế hoạch Duy trì
lực lượng dân quân và dự bị động viên
Tóm lại, tất cả các lĩnh vực kinh tế, đời sống, văn hóa, xã hội của phường
trong năm 2011 được duy trì có nhiều chuyển biến tích cực , đạt hiệu quả tốt
hơn Công tác xây dựng Đảng, vận động quần chúng duy trì tốt Tuy nhiên, cơ
chế thị trường và quá trình công nghệp hóa làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội,
các chính sách bồi dưỡng, chăm sóc các đối tượng yếu thế chưa thực sự hiệu
quả
Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG
CAO HIỆU QUẢ MÔ HÌNH PHÒNG NGỪA, HỖ TRỢ TRẺ
EM NHIỄM VÀ BỊ ẢNH HƯỞNG BỞI HIV/AIDS Ở PHƯỜNG
THANH SƠN – UÔNG BÍ – QUẢNG NINH
2.1 Thực trạng trẻ em nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS ở
phường Thanh Sơn – Uông Bí – Quảng Ninh
2.1.1 Vài nét về trẻ em nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS tại
phường Thanh Sơn
Trang 30Thanh Sơn là một phường trung tâm của Thành phố Uông Bí Trong
những năm qua, tình hình kinh tế, xã hội, an ninh, chính trị của phường khá ổn
định; công tác chăm sóc, bảo vệ TE cơ bản được hoàn thành tốt Tuy nhiên,
trong năm 2011, số lượng TE có hoàn cảnh đặc biệt trên địa bàn phường đã có
chiều hướng tăng lên, trong đó có TE nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS
Theo số liệu thống kê của Phòng LĐ – TB & XH phường Thanh Sơn,
NVCTXH thu thập một số thông tin như sau:
Bảng 1: TE nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS của phường Thanh Sơn
năm 2011
Số lượng
Ghi chú (2011)
2010
2011 (kết quả đến thời điểm báo
2010
2011 (kết quả đến thời điểm báo
Qua bảng số liệu cùng với các tài liệu, báo cáo và cả quá trình khảo sát,
tìm hiểu, ta có thể thấy rằng cho thấy số lượng trẻ em của phường khá lớn, số trẻ
có hoàn cảnh đặc biệt chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ (0.91%), tuy nhiên số lượng trẻ em có
Trang 31hoàn cảnh đặc biệt và trẻ em nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/ AIDS trong năm
2011 lại chiếm tỉ lệ lớn trong số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (23.3%) và có sự
gia tăng đáng kể Đặc biệt là số trẻ nhiễm HIV/AIDS tăng gấp 3.5 lần so với
năm 2010 Số trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS cũng tăng 1.25 lần Tất cả các
em hiện đang được chăm sóc tại gia đình và đa số là trẻ nằm trong độ tuổi từ 5
đến dưới 10 tuổi
Với sự gia tăng trong năm vừa qua là điều đáng báo động, cần nhận
được nhiều hơn nữa sự quan tâm từ phía các cơ quan chức năng, chính quyền
địa phương để giải quyết
“ Thực tế số trẻ bị nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV chưa được thống kê
đầy đủ vì khó xác định được số trẻ em có cha/mẹ bị nhiễm bệnh Những thông
tin mà phường thu thập được chủ yếu là do người có H cung cấp cho các cộng
tác viên, còn việc thống kê chỉ thu được một số ít thông tin”.(PVS Nữ, 47 tuổi,
lãnh đạo phường)
Đây cũng là một khó khăn của việc quản lí công tác này
2.1.2 Nguyên nhân TE nhiễm HIV/AIDS
- TE có thể bị nhiễm HIV/AIDS qua cả 3 đường:
+ Mẹ nhiễm HIV lây sang trẻ khi mang thai, lúc sinh và khi cho con bú,
đây là nguyên nhân gây nhiễm HIV chủ yếu ở trẻ em
+ Đường máu: TE cũng dễ bị nhiễm HIV qua đường máu, tiêm chích, xỏ
lỗ tai, không đảm bảo vô trùng
+ Đường tình dục: TE có thể bị lây nhiễm HIV vì bị lợi dụng tình dục,
hãm hiếp hoặc bị buộc làm mại dâm,
Đó là những con đường lây nhiễm HIV/AIDS cho TE nói chung; ở phường Thanh Sơn, TE lây nhiễm HIV/AIDS do con đường chính là từ mẹ
truyền sang con
Trang 32Qua phỏng vấn cán bộ chính sách phường và khảo sát bằng bảng hỏi trên
20 người nuôi dưỡng trẻ em nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, thống kê
được 7 bảng hỏi của người nuôi dưỡng TE nhiễm HIV có đề cập đến nguyên
nhân trẻ nhiễm HIV như sau:
Bảng 2: Nguyên nhân trẻ em nhiễm HIV STT Nguyên nhân TE nhiễm HIV Số lượng Tỉ lệ (%)
1 Mẹ không biết mình nhiễm H -> lây cho con 3 43
2 Mẹ không hiểu biết về dịch vụ, tự ti không
3 Mẹ nhiễm HIV ở giai đoạn cửa sổ nên bác sĩ
không xét nghiệm được -> lây cho con 1 14
4 Suy nghĩ mẹ bị H thì con cũng sẽ bị nên không
Như chúng ta đã biết, HIV có trong máu, dịch tiết âm đạo, sữa mẹ; vì vậy
nếu mẹ bị nhiễm HIV có thể truyền cho con trong khi mang thai, khi sinh và
cho con bú Những trường hợp làm tăng khả năng lây truyền HIV từ mẹ sang
con: Mẹ mới nhiễm HIV hoặc đang ở giai đoạn AIDS; mẹ mắc các bệnh lây
truyền qua đường tình dục như viêm âm đạo, lậu…hoặc các bệnh khác như lao,
viêm phổi, viêm ruột, sốt rét…; mẹ bị viêm vú, hạch ở vú, tắc tia sữa, nứt đầu
vú…hoặc bị suy dinh dưỡng; con bị viêm miệng, tưa miệng, viêm lưỡi, lợi Để
phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con biện pháp quan trọng nhất là đi xét
nghiệm máu, thực hiện khám thai sớm và khám thai định kì
Tuy nhiên, việc kiểm tra sức khỏe định kì là một khái niệm còn khá lạ
lẫm với người dân Việt Nam, việc xét nghiệm HIV càng là vấn đề e ngại đối với
mọi người Điều này gây nên nhiều hậu quả nghiêm trọng tới sức khỏe, đời
Trang 33sống của con người, nhất là phụ nữ và TE Những người phụ nữ trước khi mang
thai không kiểm tra sức khỏe dẫn đến không biết mình có mang vi rút HIV và
vẫn tiếp tục mang thai Thậm chí khi đã mang thai họ cũng không tiến hành
kiểm tra, xét nghiệm, do đó đã vô tình truyền HIV sang con mình Tỉ lệ này
chiếm tới trên 40% trên địa bàn phường Thanh Sơn Những người phụ nữ này
chủ yếu bị lây HIV từ chồng mà không biết, đến khi phát hiện ra thì đã muộn và
không thể ngăn ngừa cho con
“Cả 2 vợ chồng chị đều khỏe mạnh hết nên đâu biết mình lại mắc bệnh
như vậy Không có bệnh thì đi xét nghiệm làm gì, vừa mất thời gian vừa tốn
tiền Bị ra như thế này rồi mới thấy hối hận, mình thì không lo, chỉ thương con
thôi.” (PVS Nữ, 27 tuổi, nghề nghiệp tự do)
Một số trường hợp khác thì có đi xét nghiệm nhưng khi đó lại đang ở giai
đoạn cửa sổ, bác sĩ không xét nghiệm được, do đó họ vẫn cho con bú và làm con
bị nhiễm bệnh Trường hợp này chiếm gần 20% trong tổng số các trường hợp
“Khi vợ nó có thai cũng đi xét nghiệm cẩn thận nhưng thấy kết quả không
sao nên mới sinh cháu Ai ngờ cháu nó lại bị lây, may nhờ phát hiện sớn, được
dùng thuốc nên mới duy trì được đến bây giờ” (PVS Nữ, 58 tuổi, hưu trí, nuôi
cháu có H)
Gần 20% tiếp theo là những phụ nữ biết mình có H nhưng có lâm lí tự
ti,lo sợ Họ không dám đến các cơ sở y tế để xét nghiệm và tìm hiểu thông tin
Họ phó mặc cho số phận, cứ sinh con ra và để lây truyền sang con Hoặc họ biết
mình nhiễm HIV, muốn phòng tránh cho con nhưng lại không biết, không hiểu
về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, phòng ngừa
“Mọi người kì thị chúng tôi như thế nên có ai dám chủ động tìm hiểu
thông tin gì đâu” (PVS Nữ, 34 tuổi, nghề nghiệp nội trợ)
Và một bộ phận nữa là những người thiếu kiến thức về HIV Họ là bộ
Trang 34phận những người có trình độ học vấn thấp, điều kiện vất chất kém và chưa
được tiếp cận với các thông tin truyền thông, các dịch vụ xã hội Họ nghĩ rằng
khi người mẹ nhiễm HIV thì sẽ không lây sang con do đó không có biện pháp
phòng tránh
“Nói đến nguyên nhân trẻ em nhiễm H thì chủ yếu là do người mẹ không
biết mình có H hoặc họ biết nhưng không dám đến các cơ sở y tế Hiện nay, tình
trạng kì thị với người có H còn rất lớn nên những người có H luôn luôn dấu kín
tình trạng của mình, trong khi đó thì hiểu biết của họ lại không cao, càng thu mình
lại họ càng phải chịu nhiều thiệt thòi và gây ra nhiều hậu quả đáng tiếc.”(PVS
Nữ, 25 tuổi, cán bộ chính sách)
Có thể nói, ở phường Thanh Sơn, TE lây nhiễm HIV là do từ mẹ truyền
sang con; tuy nhiên, vì sao lại xảy ra tình trạng này thì lỗi không phải chỉ ở bản
thân những người mẹ có H mà do nhiều yếu tố khác Điều này đòi hỏi sự nâng cao
trách nhiệm của các cơ quan chức năng để có thể làm giảm thiểu tình trạng trên
2.1.3 Hậu quả để lại cho TE nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS
HIV đã cướp đi mạng sống của hàng chục triệu người và đẩy hàng trăm
triệu người khác vào cảnh khốn cùng do ốm đau, bệnh tật, do tình trạng TE mồ
côi cha mẹ, do vợ mất chồng, cha mất con Người ta đã ví tác động của đại dịch
này như những làn sóng lớn Khi làn sóng cuối cùng đi qua, người nhiễm HIV
trở thành bệnh nhân AIDS qua đời thì hậu quả của nó để lại vẫn còn rất nặng nề
đối với gia đình và cộng đồng Đại dịch HIV/AIDS không chỉ tác động đến quá
trình phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của mỗi quốc gia, mà còn ảnh hưởng
không nhỏ đến cuộc sống an toàn và sự phát triển toàn diện TE TE là đối tượng
phải gánh chịu nhiều hậu quả nặng nề do HIV/AIDS gây ra Những nhóm
quyền cơ bản của TE đều đã bị dịch tác động làm hạn chế, làm xấu đi, thậm chí
làm mất đi những quyền mà đáng lẽ trẻ nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS
phải được hưởng
Trang 35Khảo sát trên 20 người nuôi dưỡng TE nhiễm và bị ảnh hưởng bởi
HIV/AIDS khi hỏi về khó khăn lớn nhất của TE nhiễm và bị ảnh hưởng bởi
HIV/AIDS là gì thì 20/20 kết quả đưa ra khó khăn về mặt tinh thần
Giống như các TE có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn khác, TE nhiễm HIV
rất cần sự quan tâm từ gia đình và cộng đồng để vượt qua nỗi đau bệnh tật,
được chăm sóc, vui chơi, học tập như bao TE bình thường khác thế nhưng thực
tế cuộc sống thường rất phũ phàng TE nhiễm HIV thường phải sống trong
cảnh thiếu thốn cha mẹ khi tuổi đời còn rất nhỏ, bị người thân bỏ rơi, các em
đang từng ngày từng giờ hứng chịu cả nỗi đau thể xác và tinh thần trong khi
điều kiện sống thường rất khó khăn Tình trạng sức khỏe yếu, sức đề kháng cơ
thể kém, các em thường dễ đau ốm vặt Thêm vào đó, các em chịu đựng sự kì
thị, xa lánh từ phía cộng đồng xung quanh, bị xua đuổi, khinh rẻ khi ra ngoài, bị
hạn chế các hoạt động và giao tiếp xã hội, thậm chí nhiều em không thể đi học
vì bị phụ huynh phản đối, không muốn con mình học chung lớp, hoặc bị chính
“Em thấy mọi người hay nhìn em xăm xoi, em không thích cách họ nhìn
em như vậy Mấy người đấy còn không cho con chơi với em Lúc đầu em không
biết tại sao, nhưng giờ thì em hiểu rồi Em buồn lắm.” (PVS Nam, 7 tuổi,
nhiễm H)
Các em thường bị sống cách li và được chăm sóc riêng vì sợ gây ảnh
hưởng đến người khác và do nhiều người không muốn tiếp xúc với các em
Nhiều em không thể chịu đựng nỗi sự kì thị, thái độ ghẻ lạnh, trở thành những
đứa trẻ sống khép mình, luôn lo lắng khi tiếp xúc với bất kì một ai Có em hận
đời, tự buông thả bản thân để rồi trở thành những đứa trẻ hư Phần lớn trẻ em
nhiễm HIV đều sống tại gia đình, một số được đưa vào trung tâm nuôi dưỡng
TE đặc biệt nhưng ngay chính trong gia đình mình, các em bị người thân ghét
bỏ
Trang 36“Chỉ có bà em hay sang chơi với em, còn mọi người không sang mấy
Các anh chị cũng không sang, chắc là các bác không cho anh chị ấy sang, mà
em cũng không thích chơi với anh chị ấy lắm.” (PVS Nữ, 6 tuổi, nhiễm H)
TE bị ảnh hưởng bởi HIV cũng gặp những khó khăn tương tự Đa phần
các em có cha mẹ cũng bị nhiễm căn bệnh này Cha mẹ các em thường nghèo
khó, mất nguồn thu nhập và có thể bị tan vỡ, hoặc đã bị chết Với những trẻ
đang còn cha mẹ, sự mặc cảm, đau buồn, tủi nhục hay vô trách nhiệm với bệnh
của các em đã khiến họ tránh, giảm liên hệ với các em, không chăm sóc các em
chu đáo
“Có ai chơi với em đâu, em ở nhà chơi một mình thôi, mẹ còn bận đi
làm.”(PVS Nam, 6 tuổi, có bố nhiễm HIV)
Nhìn chung, các gia đình có người bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS khó
đương đầu tốt với dư luận cộng đồng, với mặc cảm bản thân, với bệnh tật và với
kinh tế Do đó, các gia đình này thường khó lập được kế hoạch đối phó với
những gì sẽ xảy ra tiếp theo khiến nguồn đảm bảo cuộc sống cho các em bị hạn
chế Hầu như các em không đến trường học, không có những người bạn mà các
em thích Các em thiếu thốn tình cảm ruột thịt và nhận được ít tình thương yêu,
sự vuốt ve như các trẻ nhỏ khác Các em không dược chăm sóc một cách đầy đủ
và đúng cách, thậm chí khả năng các em lây bệnh từ bố mẹ là rất cao Sự kì thị
của cộng đồng với các em là rất lớn, các em thường bị ghẻ lạnh, bị trêu trọc, bị
coi thường, bị canh chừng từ chúng bạn và thậm chí cả từ những người thân của
các em
“Với TE nhiễm và bị ảnh hưởng bởi H thì gặp rất nhiều khó khăn nhưng
lớn nhất vẫn là sự kì thị của cộng đồng Các em không chỉ bị kì thị ở nơi ở, ở
trường học mà ở bất kì nơi đâu biết các em có H hoặc biết người thân của các
em có H Ngay cả họ hàng của các em cũng không là ngoại lệ.” (PVS Nữ, 25
tuổi, Cán bộ chính sách )
Trang 37Nhìn chung TE nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS trong bối cảnh
hiện nay là không có tương lai, do đó cần có sự vào cuộc của tất cả cộng đồng
để bảo vệ các em
2.2 Chính sách hỗ trợ, phòng ngừa trẻ em nhiễm và bị ảnh hưởng bởi
HIV/AIDS ở phuờng Thanh Sơn - Uông Bí - Quảng Ninh
Nhận thức rõ tầm quan trọng trong công tác chăm sóc TE có hoàn cảnh
đặc biệt khó khăn nói chung và trẻ em nhiễm và ảnh hưởng bởi HIV /AIDS nói
riêng, trong những năm qua, ủy ban nhân dân (UBND) phường Thanh Sơn phối
hợp với các ban ngành đoàn thể liên quan thực hiện nhiều chính sách, biện pháp
nhằm quan tâm, giúp đỡ đối tượng TE này như: Quyết định số 1750/QĐ-
UBND ngày 03/6/2009 phê duyệt Chương trình Bảo vệ, chăm sóc TE có
hoàn cảnh đặc biệt của tỉnh Quảng Ninh đến năm 2015; Qui định quản lí, sử
dụng nguồn kinh phí 1% tổng chi thường xuyên ngân sách tỉnh hỗ trợ, thực hiện
các mục tiêu vì TE; Công tác xây dựng đội ngũ cộng tác viên xã hội trong đó
đảm nhiệm thêm công tác bảo vệ chăm sóc TE ở cấp thôn bản, khu phố trên
địa bàn tỉnh; Đặc biệt là “Kế hoạch hành động vì TE bị nhiễm và bị ảnh hưởng
bởi HIV/AIDS của tỉnh năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020” với nhiều hoạt
động Từ đó, các chính sách với TE nhiễm và ảnh hưởng bởi HIV được đưa
vào cuộc sống và đem lại nhiều hiệu quả thiết thực trong đó nổi bật lên là một
số chính sách sau:
- Chính sách y tế: là một trong những chính sách quan trọng hàng đầu
đang được triển khai nhằm hỗ trợ chăm sóc cho các bà mẹ và TE nhiễm và ảnh
hưởng bởi HIV Bên cạnh đó, các phòng khám ngoại trú cho người có HIV tại
địa phương cũng tổ chức khám, tư vấn, chăm sóc sức khoẻ cho TE nhiễm HIV
Năm 2010, 16 trẻ có nguy cơ cao bị nhiễm HIV đã được hỗ trợ xét nghiệm;
tư vấn 10 trẻ , hỗ trợ thuốc bổ và sản phẩm dinh đưỡng để nâng cao thể trạng
sức khoẻ cho 10 TE nhiễm HIV và TE có cha mẹ nhiễm HIV thuộc hộ nghèo
Trang 38Để giảm bớt nguy cơ lây nhiễm HIV cho trẻ,với sự hỗ trợ của các dự án Lifi-
Gap, FHI, Quĩ toàn cầu, ngành Y tế tỉnh Quảng Ninh đã đẩy mạnh các hoạt
động phòng lây nhiễm HIV từ mẹ sang con, tích cực tuyên truyền, tư vấn, hỗ trợ
cho các gia đình kiến thức, kĩ năng phòng lây nhiễm Ngoài tư vấn, xét nghiệm
cho bà mẹ mang thai, một số bệnh viện còn cung cấp thuốc dự phòng lây truyền
HIV từ mẹ sang con và sữa cho trẻ sơ sinh Việc thực hiện tốt chính sách này
góp phần chăm sóc sức khoẻ tốt hơn cho trẻ bị nhiễm và ảnh hưởng bởi HIV,
các em được cung cấp thuốc đầy đủ nhất là thuốc ARV để hạn chế quá trình
phát triển của bệnh; các bà mẹ mang thai nhiễm HIV được hỗ trợ cả trong quá
trình mang thai và sinh con để hạn chế con sinh ra mang căn bệnh giống
mình Tuy nhiên, chính sách này chưa được triển khai đồng đều tới tất cả các
đối tượng
- Chính sách chăm sóc nuôi dưỡng với TE nhiễm HIV tại gia đình và
cộng đồng: bên cạnh trợ cấp hàng tháng mà TE có HIV nhận được (TE bị
HIV/AIDS được hưởng mức trợ cấp tối thiểu là 120 nghìn đồng và mức tối đa
là 360 nghìn) thì việc được chăm sóc tốt, có một chỗ dựa tinh thần vững chắc là
điều mà bất cứ TE bị HIV nào đều mong muốn nhận được.Trong đó, vai trò của
gia đình rất quan trọng Gia đình là lá chắn bảo vệ những tổn thương và chăm
sóc TE nhiễm và ảnh hưởng bởi HIV/AIDS Tình yêu thương từ người thân, sự
chăm sóc ân cần của những người ruột thịt chính là động lực tinh thần tốt nhất
giúp trẻ có niềm tin vượt qua nỗi đau bệnh tật.Việc chăm sóc một đứa trẻ bình
thường đã khó nhưng với trẻ HIV càng cần chú ý hơn, chỉ một hành động
không đúng sẽ khiến trẻ cảm thấy tủi thân.Trẻ cần chế độ ăn uống hợp lí, uống
thuốc đầy đủ Phần lớn trẻ nhiễm HIV đều mất cha mẹ sớm hoặc sống trong
những gia đình có hoàn cảnh khó khăn vì vậy trẻ thường không được chăm sóc
tốt, thậm chí bị hắt hủi Trong thời gian qua nhờ công tác tuyên truyền, mọi
Trang 39người có hiểu biết hơn về HIV nên nhiều gia đình có sự thay đổi nhận thức,
quan tâm chăm sóc TE nhiễm HIV hơn
- Chính sách chống phân biệt kì thị : để chính sách này đi vào cuộc sống
và mọi người đều biết đến từ đó thay đổi nhận thức, thái độ với TE nhiễm và
ảnh hưởng bởi HIV không phải là điều dễ dàng Phần lớn những thái độ tiêu cực
của cộng đồng đối với TE bị nhiễm HIV/AIDS đều xuất phát từ sự hiểu biết
không đầy đủ về HIV/AIDS, nguồn gốc phát sinh và quá trình tiến triển của căn
bệnh này Việc xác định được mức độ định kiến của cộng đồng và cung cấp
thông tin chính xác về căn bệnh này sẽ làm giảm sự xa lánh, kỳ thị của cộng
đồng với TE nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS Các hoạt động
tuyên truyền, phổ biến kiến thức về cách phòng tránh HIV, về các con đường
lây nhiễm căn bệnh này được đẩy mạnh, có sự phối hợp giữa ngành giáo dục,
Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên và các đoàn thể khác Từ năm 2009 đến nay, toàn
phường đã phát hàng nghìn tờ gấp tuyên truyền kiến thức phòng tránh HIV;
hàng nghìn cuốn tài liệu kĩ năng sống dành cho trẻ em, cấp cho các
trường Trung học cơ sở toàn tỉnh; việc tuyên truyền được thực hiện trên báo
đài, loa phát thanh…Ngoài ra, phường còn tổ chức các cuộc thi vẽ tranh, sáng
tác thơ với đề tài HIV và chống phân biệt kì thị, tổ chức cuộc thi hái hoa dân
chủ về chủ đề “Chúng em biết về HIV” nhân dịp Quốc tế thiếu nhi 1/6…Những
hoạt động này đã giúp giảm bớt thái độ kì thị của người dân với trẻ em nhiễm
HIV, nhiều em không bị xa lánh khi ra ngoài đường Tuy nhiên, sự kì thị với TE
có HIV vẫn diễn ra phổ biến, nhất là ở trường học, nhiều phụ huynh không
muốn cho con mình học chung lớp với trẻ em có HIV, cấm con chơi với các bạn
thậm chí có phụ huynh phản đối việc cho trẻ có HIV tới trường Vì thế đa phần
các gia đình có con bị nhiễm HIV đều không muốn cho trẻ đi học Bác N.T.H-
hưu trí, hiện đang chăm sóc đứa cháu ruột nhiễm HIV: “Tôi cũng muốn cho
cháu mình được đi học lắm chứ thế nhưng ngay buổi đầu đưa cháu đến lớp, tôi
Trang 40bắt gặp thái độ không mấy thiện cảm từ các phụ huynh, họ khó chịu khi tôi đưa
cháu vào lớp Ngay sau buổi học đó, cháu về nhà nức nở khóc, nhất định
khôngchịu đi học nữa, thì ra các bạn của cháu dè bỉu, chê bai, không cho cháu
chơi Là bà, tôi đau lòng lắm, chẳng lẽ chỉ vì căn bệnh quái ác kia mà cháu tôi
mất quyền đến trường, cháu tôi có tội gì đâu chứ?” Quả thật, việc thay đổi nhận
thức trong cộng đồng, trường học về HIV không thể là việc làm một sớm một
chiều, cần phải có thời gian
- Chính sách giáo dục: Trong những quyền cơ bản mà mọi TE đáng được
hưởng thì quyền học tập là quyền được ưu tiên hàng đầu Giống như bao nhiêu
TE bình thường khác, TE nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV rất cần một môi
trường học tập để các em có cơ hội được phát triển Thấu hiểu được niềm mong
mỏi đó, các cấp uỷ Đảng và chính quyền tỉnh Quảng Ninh có sự chỉ đạo sát sao
tới các trường học trên địa bàn toàn tỉnh, nhận các em có HIV vào trường học,
miễn giảm học phí, tạo mọi điều kiện cho các em được học tập, vui chơi như
bạn bè cùng tuổi khác Phường Thanh Sơn đã triển khai thực hiện tốt chính sách
trên Nhiều trường thực hiện tốt chính sách trên thế nhưng rào cản lớn nhất với
các em khi đi học là phần lớn các em bị các bậc phụ huynh phản đối, không
muốn con mình học cùng, chơi cùng với trẻ bị HIV hoặc chính các bạn trong
lớp tẩy chay Vì vậy thách thức lớn nhất với các trường học hiện nay là cần thiết
đẩy mạnh hơn công tác tuyên truyền về HIV, mở các lớp học về HIV để phụ
huynh và các em học sinh đều được học, nghiêm cấm và có hình thức phạt với
mọi hành vi xúc phạm đến nhân phẩm, danh dự của các em bị nhiễm và ảnh
hưởng bởi HIV
Ngoài ra, vào các dịp Tháng hành động trẻ em , Ngày Quốc tế thiếu nhi
1-6, ngày lễ, Tết các ban ngành lãnh đạo phường đều tích cực có các hoạt
động thăm hỏi, tặng quà cho TE, trong đó có TE nhiễm HIV Các ban ngành tạo