ii Sau quá trình học tập và nghiên cứu hết sức nghiêm túc, tôi đã hoàn thành đề tài khóa luận tốt nghiệp: “Vai trò của Hội Liên hiệp phụ nữ trong hoạt động Công tác xã hội với người ngh
Trang 1i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA LỊCH SỬ
_
ĐÀO THỊ LAM GIANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
VAI TRÒ CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY GIAI ĐOẠN SAU CAI NGHIỆN
VÀ TÁI HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG TẠI XÃ HƯNG
Trang 2ii
Sau quá trình học tập và nghiên cứu hết sức nghiêm túc, tôi
đã hoàn thành đề tài khóa luận tốt nghiệp: “Vai trò của Hội Liên hiệp phụ nữ trong hoạt động Công tác xã hội với người nghiện ma túy giai đoạn sau cai nghiện và tái hòa nhập cộng đồng tại xã Hưng Chính – thành phố Vinh – Nghệ An”
Để hoàn thành được khóa luận tốt nghiệp này, tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử nói chung và Tổ bộ môn Công tác xã hội nói riêng đã cung cấp cho tôi những kiến thức và kỹ năng trong suốt quá trình học tập tại trường
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viên Phạm Tiến Đông – giảng viên đã nhiệt tình hướng dẫn, chỉ bảo giúp tôi hoàn thành khóa luận
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Nghệ
An, Hội Liên hiệp phụ nữ thành phố Vinh, Hội Liên hiệp phụ nữ xã Hưng Chính và Ủy ban nhân dân xã Hưng Chính đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Do hạn chế về mặt thời gian và trình độ nên báo cáo chắc chắn sẽ không tránh khỏi những sai sót Tôi rất mong nhận được
sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô giáo để tôi có thể rút kinh nghiệm và hoàn thiện hơn trong quá trình công tác và làm việc sau này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Nghệ An, tháng 5 năm 2012 Sinh viên thực hiện
Đào Thị Lam Giang
Trang 3iii
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU Error! Bookmark not defined 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Error! Bookmark not defined 1.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề Error! Bookmark not defined 1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài Error! Bookmark not defined
1.3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài Error! Bookmark not defined 1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Error! Bookmark not defined 1.4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu Error! Bookmark not defined
1.4.1 Mục tiêu nghiên cứu Error! Bookmark not defined
1.4.1.1 Mục tiêu chung Error! Bookmark not defined 1.4.1.2 Mục tiêu cụ thể Error! Bookmark not defined
1.4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu Error! Bookmark not defined 1.5 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu Error! Bookmark not defined
1.5.1 Đối tượng nghiên cứu Error! Bookmark not defined 1.5.2 Khách thể nghiên cứu Error! Bookmark not defined 1.5.3 Phạm vi nghiên cứu Error! Bookmark not defined 1.6 Giả thuyết nghiên cứu Error! Bookmark not defined 1.7 Các phương pháp nghiên cứu Error! Bookmark not defined 1.7.1 Phương pháp luận Error! Bookmark not defined 1.7.2 Phương pháp liên ngành Error! Bookmark not defined
1.7.2.1 Phương pháp quan sát Error! Bookmark not defined 1.7.2.2 Phương pháp phân tích tài liệu Error! Bookmark not defined 1.7.2.3 Phương pháp sử dụng bảng hỏi Error! Bookmark not defined 1.7.2.4 Phương pháp phỏng vấn sâu Error! Bookmark not defined 1.7.2.5 Phương pháp thảo luận nhóm tập trungError! Bookmark not
defined
Trang 4iv
1.8 Đóng góp của đề tài Error! Bookmark not defined 1.8.1 Đóng góp về mặt lý luận Error! Bookmark not defined 1.8.2 Đóng góp về mặt thực tiễn Error! Bookmark not defined 1.9 Bố cục của đề tài Error! Bookmark not defined NỘI
DUNG……… Error! Bookmark not defined
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1.Cơ sở lý luận của đề tài Error! Bookmark not defined 1.1.1 Lý thuyết vận dụng Error! Bookmark not defined
1.1.1.1 Lý thuyết nhận thức hành vi Error! Bookmark not defined 1.1.1.2 Lý thuyết học tập xã hội Error! Bookmark not defined 1.1.1.3 Lý thuyết hệ thống sinh thái Error! Bookmark not defined
1.1.2 Các khái niệm công cụ Error! Bookmark not defined
1.1.2.1 Khái niệm vai trò Error! Bookmark not defined 1.1.2.2 Khái niệm Công tác xã hội Error! Bookmark not defined 1.1.2.3 Khái niệm ma túy Error! Bookmark not defined
1.1.2.4 Khái niệm nghiện ma túy – người nghiện ma túy - tái nghiện ma
túy Error! Bookmark not defined
1.1.2.5 Người nghiện ma túy giai đoạn sau cai nghiện và tái hòa nhập
cộng đồng Error! Bookmark not defined
1.1.2.6 Công tác xã hội với người nghiện ma túy giai đoạn sau cai
nghiện và tái hòa nhập cộng đồng Error! Bookmark not defined
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài Error! Bookmark not defined
1.2.1 Các chính sách, pháp luật của nhà nước về công tác trợ giúp người
nghiện ma túy giai đoạn sau cai và tái hòa nhập cộng đồng Error!
Bookmark not defined
1.2.2 Tổng quan về địa bàn xã Hưng ChínhError! Bookmark not defined
Trang 5CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Error! Bookmark not defined
2.1 Thực trạng người nghiện ma túy và hoạt động trợ giúp người nghiện
ma túy trên địa bàn nghiên cứu Error! Bookmark not defined
2.2 Thực trạng hoạt động Công tác xã hội với người nghiện ma túy của Hội Liên hiệp phụ nữ giai đoạn sau cai nghiện và tái hòa nhập cộng đồng
trên địa bàn nghiên cứu Error! Bookmark not defined
2.3 Vai trò của Hội Liên hiệp phụ nữ trong Công tác xã hội với người nghiện ma túy giai đoạn sau cai nghiện và tái hòa nhập cộng đồng trên
địa bàn nghiên cứu Error! Bookmark not defined
2.3.1 Vai trò của Hội Liên hiệp phụ nữ trong việc thay đổi nhận thức người nghiện ma túy giai đoạn sau cai nghiện và tái hòa nhập cộng đồng
trên địa bàn nghiên cứu Error! Bookmark not defined
2.3.1.1 Nhận thức của người nghiện ma túy trước khi có sự tác động của
Hội Liên hiệp phụ nữ Error! Bookmark not defined
2.3.1.2.Những thay đổi về nhận thức của người nghiện ma túy sau khi có
sự tác động của Hội Liên hiệp phụ nữ Error! Bookmark not defined
2.3.2.Vai trò của Hội Liên hiệp phụ nữ trong việc thay đổi tâm lý - hành
vi của người nghiện ma túy giai đoạn sau cai và tái hòa nhập cộng đồng
trên địa bàn nghiên cứu Error! Bookmark not defined
2.3.2.1 Tâm lý - hành vi của người nghiện ma túy trước khi có sự tác
động của Hội Liên hiệp phụ nữ Error! Bookmark not defined
2.3.2.2 Tâm lý - hành vi của người nghiện ma túy sau khi có sự tác động
của Hội liên hiệp phụ nữ Error! Bookmark not defined
Trang 6vi
2.3.3 Sự thay đổi thực trạng ma túy và người nghiện ma túy giai đoạn sau cai và tái hòa nhập cộng đồng thông qua sự trợ giúp của Hội Liên
hiệp phụ nữ tại địa phương Error! Bookmark not defined
2.4 Những trở ngại trong quá trình trợ giúp NNMT của HLHPN giai
đoạn sau cai và tái hòa nhập cộng đồng Error! Bookmark not defined KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ Error! Bookmark not defined 1.1 Kết luận Error! Bookmark not defined 1.2 Khuyến nghị Error! Bookmark not defined DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Error! Bookmark not defined PHỤ LỤC 1: PHIẾU ĐÁNH GIÁ NHANH Error! Bookmark not defined
PHỤ LỤC 2: BẢNG HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU Error! Bookmark not defined
PHỤ LỤC 3: BẢNG HƯỚNG DẪN THẢO LUẬN NHÓM SỐ 1 Error!
Bookmark not defined
PHỤ LỤC 4: BẢNG HƯỚNG DẪN THẢO LUẬN NHÓM SỐ 2 Error! Bookmark not defined
PHỤ LỤC 5: BẢNG HƯỚNG DẪN THẢO LUẬN NHÓM SỐ 3 Error! Bookmark not defined
PHỤ LỤC 6: BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SÂU CÁ NHÂN SỐ 1 Error! Bookmark not defined
PHỤ LỤC 7: BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SÂU CÁ NHÂN SỐ 2 Error! Bookmark not defined
PHỤ LỤC 8: BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SÂU CÁ NHÂN SỐ 3 Error! Bookmark not defined
PHỤ LỤC 9: BIÊN BẢN THẢO LUẬN NHÓM SỐ 1 Error! Bookmark not defined
PHỤ LỤC 10: BIÊN BẢN THẢO LUẬN NHÓM SỐ 2 Error! Bookmark not defined
Trang 7PHỤ LỤC 13: SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ
NỮ XÃ HƯNG CHÍNH Error! Bookmark not defined THÀNH PHỐ VINH - NGHỆ AN Error! Bookmark not defined
PHỤ LỤC 14: MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ XÃ HƯNG CHÍNH - HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ XÃ VÀ HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY HÒA
NHẬP CỘNG ĐỒNG Error! Bookmark not defined
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
AIDS : Acquired Immune Deficiency Syndrome
(Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải)
CTXH : Công tác xã hội
BCH : Ban chấp hành
BTV : Ban thường vụ
Trang 8viii
HLHPN : Hội Liên hiệp phụ nữ
HIV : Human immunodeficiency virus (virus
suy giảm miễn dịch ở người)
NNMT : Người nghiện ma túy
Trang 9ix
Số NNMT giai đoạn sau cai và tái hòa nhập cộng đồng được quản lý tại địa phương 2006 – 2011
51
Chế độ sinh hoạt cho NNMT giai đoạn đầu sau cai nghiện và tái hòa nhập cộng đồng
52
5 2.5 Tình hình CLB và số thành viên trên toàn
Bảng số liệu tương quan về sự tự đánh giá
về khả năng tái nghiện của NNMT sau khi
67
8 2.8 Bảng tương quan về tỷ lệ NNMT đánh giá
về hậu quả MT và tái nghiện MT 68
Mức độ hiểu biết về MT, chống tái nghiện
MT và các kỹ năng chống tái nghiện của NNMT trên địa bàn
73
10 2.10 Đánh giá của NNMT về nội dung mà họ
11 2.11 Mức độ hành vi giao tiếp xuất phát từ
nguyên nhân tâm lý mặc cảm của NNMT 77
12 2.12 Bảng liệt kê những hành vi tiêu cực của
Trang 10x
13 2.13 Bảng đánh giá về lợi ích của NNMT khi
thực theo thời gian biểu khoa học 80
14 2.14
Bảng liệt kê những hành vi tích cực do NNMT, HLHPN và người thân NNMT tự đánh giá
81
15 2.15 Sự thay đổi tâm lý - nhận thức và hành vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
1 2.1 Tỷ lệ phần trăm các nguyên nhân
2 2.2 Kết quả công tác vận động cai 48
Trang 11xi
nghiện năm 2006 - 2011
Các hình thức tư vấn, giáo dục phục hồi cho NNMT được HLHPN
74
6 2.4 Hành vi của NNMT trước khi thực
hiện thời gian biểu khoa học 82
7 2.5 Hành vi của NNMT sau khi thực
hiện thời gian biểu khoa học 82
Trang 12xii
PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam và cùng với sự quyết tâm nỗ lực của toàn dân, sau hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới nền kinh tế xã hội, chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của Nhà nước, đã đạt được nhiều thành tựu to lớn về kinh tế - xã hội Nền kinh tế tăng trưởng liên tục ở mức cao, đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể, vị thế đất nước ngày càng được khẳng định trên trường quốc tế
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, nền kinh tế thị trường cũng nảy sinh hàng loạt những vấn đề về xã hội phức tạp Trong đó, tệ nạn xã hội nói chung và nghiện hút ma túy (MT) nói riêng là nỗi ám ảnh, mối hiểm họa làm nhức nhối toàn xã hội
Theo báo cáo của Ủy ban quốc gia phòng chống AIDS và phòng chống tệ nạn MT - mại dâm, thì trong 10 năm trở lại đây, tình hình sử dụng chất MT ở Việt Nam tăng đáng kể Tính đến cuối tháng 6 năm
2011, cả nước có 149.900 người nghiện ma túy (NNMT) (tăng khoảng 2,7 lần với mức tăng xấp xỉ 6.000 người nghiện/năm so với cuối năm 1994) Đến nay, toàn bộ 64/64 tỉnh, thành phố, trên 90% các quận, huyện, thị xã và 56,54% số xã, phường, thị trấn có NNMT Độ tuổi của người nghiện ngày càng "trẻ hóa": Năm 2001, NNMT dưới 30 tuổi chiếm 57,7%, nhưng đến năm 2010 là gần 70% Hơn 95% NNMT là nam giới, người nghiện là phụ nữ tăng từ 2% năm 2005 lên đến 5% vào thời điểm hiện nay.[15,1]
Con đường dẫn đến nghiện MT của mỗi cá nhân bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng hậu quả để lại là không nhỏ, mà trước tiên đó là những hậu quả mà NNMT phải gánh chịu MT được đưa
Trang 13xiii
vào cơ thể sẽ làm thay đổi trạng thái ý thức và sinh lý gây cho NNMT sự
lệ thuộc về mặt thể chất và tâm lý, hủy hoại NNMT từ bên ngoài lẫn bên trong Đó là người nghiện sẽ phải đối mặt với những vấn đề về sức khỏe như giảm hoặc mất khả năng lao động, học tập, thần kinh và các cơ quan trên cơ thể bị tổn hại, có thể dẫn tới nhiễm HIV/AIDS hoặc tử vong; thoái hóa về mặt nhân cách, rối loạn hành vi dẫn đến vi phạm pháp luật Bản thân NNMT cũng không biết mình đang làm gì, hay mâu thuẫn với người xung quanh, dễ đánh mất chính mình và mất lòng tin ở mọi người, dễ bị người khác lợi dụng vào đường xấu; hao tán về mặt kinh tế dẫn đến ảnh hưởng tới một tương lai lâu dài Do đó, dưới góc độ của các nhà Công tác
xã hội (CTXH), NNMT được xem là người yếu thế trong xã hội, cần được trợ giúp để trở về với cuộc sống bình thường, tái hòa nhập cộng đồng, tránh xa MT
Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách, các tổ chức chính trị - xã hội đã có những hoạt động thiết thực, cụ thể để trợ giúp cho NNMT Đặc biệt, Hội Liên hiệp phụ nữ (HLHPN) với những tính chất, đặc thù riêng của mình đã có những đóng góp và thể hiện vai trò vô cùng quan trọng trong các hoạt động giúp đỡ NNMT giai đoạn sau cai nghiện và tái hòa nhập cộng đồng tại địa phương Với nhiều hoạt động trợ giúp NNMT dưới các hình thức, biện pháp và phong trào khác nhau đến từng địa bàn cơ sở, HLHPN đã thu về được những kết quả nhất định, trở thành lực lượng tiên phong trên mặt trận phòng chống tái nghiện MT, trợ giúp NNMT
Song các hoạt động trợ giúp này của HLHPN ở cộng đồng dân cư vẫn còn nhiều vướng mắc, bất cập Làm thế nào để có giải pháp cấp bách
và hữu hiệu nhằm giúp NNMT giai đoạn sau cai và tái hòa nhập cộng đồng không tái nghiện, tái hoà nhập cộng đồng, làm ăn lương thiện, ổn định cuộc sống? Làm sao để nâng cao vai trò của HLHPN trong CTXH
Trang 14Hiện nay, những nghiên cứu về hiệu quả của các hoạt động trợ giúp của HLHPN trong CTXH với NNMT giai đoạn sau cai nghiện và tái hòa nhập cộng đồng ở Việt Nam vẫn chưa nhiều Đặc biệt là ở xã Hưng Chính – thành phố Vinh - tỉnh Nghệ An nói riêng và miền Trung của Việt Nam nói chung thì đây đang là một mảng trắng
Chính vì những lý do trên, tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Vai trò của Hội liên hiệp phụ nữ trong công tác xã hội với người nghiện ma túy giai đoạn sau cai nghiện và tái hòa nhập cộng đồng tại xã Hưng Chính – thành phố Vinh – Nghệ An” để làm đề tài cho khóa luận tốt
nghiệp của mình
1.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Buôn bán MT là một nghề “siêu lợi nhuận”, lợi nhuận do MT mang lại rất lớn nên nhiều người đã bất chấp tất cả để buôn bán thứ hàng chết người này, cùng với việc buôn bán chất MT là tình trạng nghiện MT và kéo theo đó là các tệ nạn xã hội đã làm cho tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội thêm phức tạp
Đề tài về MT đã được rất nhiều người, nhiều cơ quan, tổ chức quan tâm nghiên cứu, tuy nhiên các đề tài nghiên cứu chỉ ở các khía cạnh như : tìm hiểu tác hại của MT, các loại thuốc cai nghiện, các biện pháp phòng chống MT… những nghiên cứu này chủ yếu ở tầm vĩ mô còn ở tầm vi mô thì rất ít hoặc không có các nghiên cứu
Trang 15xv
Trong thời gian qua đã có các đề tài liên quan đến MT được nghiên
cứu như: Đề tài "Đưa châm cứu tham gia cai nghiện ma túy tại cộng
đồng" của GS Nguyễn Tài Thu đã bảo vệ thành công Công trình cũng
được đánh giá rất cao tại hội nghị về MT do UNESCO tổ chức vào trung tuần tháng 10 tại Hà Nội
Đề tài “Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng dẫn đến nghiện ma túy lần
đầu người sau cai” (Tại Trung tâm Giáo dục dạy nghề và Giải quyết việc
làm Bình Đức và Đức Hạnh – thành phố Hồ Chí Minh) do TS BS
Nguyễn Thanh Hiệp, TS.BS Dương Đình Công, BS Trương Công Gia Thuận, BS Lê Nguyễn Phương Thảo, ThS Nguyễn Thị Xuân Đào nghiên cứu
Báo cáo khoa học kỹ thuật“Cơ chế tác động và gây nghiện của ma
túy” của tác giả Nguyễn Hữu Đức - Trung tâm truyền thông giáo dục sức
khỏe
“Báo cáo tổng hợp hoạt động điều trị hậu cai chống tái nghiện tại Trung Tâm Xanh, Cần Thơ - ngày 1/3/2005”của Nguyễn Thị Mỹ Châu
Đề tài luận văn Thạc sĩ Y học, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí
Minh: “Đặc điểm quan hệ gia đình và hành vi sử dụng chất gây nghiện
của người nghiện ma túy” của Nguyễn Châu Xuân Phương
Đề tài: “Điều trị cho người nghiện ma túy” của tác giả Alain
Bergeron do BS Nguyễn Minh Tiến dịch
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về NNMT giai đoạn sau cai nghiện MT và tái hòa nhập cộng đồng hầu như không có mà chỉ có những
bài phóng sự đăng trên một số trang web điện tử như “Phương pháp mới
trong điều trị cai nghiện ma túy” của tác giả Hoài Vũ; “Tái nghiện ma
http://www.lamdong.gov.vn; “Phòng chống tái nghiện” trên trang
Trang 16xvi
Ở Nghệ An, tình hình buôn bán và nghiện MT đang rất căng thẳng, song các nghiên cứu về liên quan đến MTở trong tỉnh Nghệ An thì rất ít Trước đây đã có một loạt phóng sự đăng trên báo điện tử của tác giả
“Nguyễn Ngọc Đức” với tên gọi “Có một nỗi đau mang tên ma túy”- chủ
để của loạt phóng sự này nói về thực trạng buôn bán MT, tình hình nghiện MT các điểm nóng về MT ở các địa phương trên địa bàn tỉnh Nghệ An Vấn đề nghiên cứu về NNMT giai đoạn sau cai và tái hòa nhập cộng đồng ở Nghệ An hiện nay chưa có một nghiên cứu chính thức nào Qua đề tài nghiên cứu này mong rằng sẽ góp phần tìm hiểu rõ hơn về quá trình chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng và chống tái nghiện cho NNMT giai đoạn sau cai nghiện ở thành phố Vinh nói riêng và Nghệ An nói chung
1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Đề tài nghiên cứu này là một đề tài khá mới mẻ Tôi thực hiện đề tài với mong muốn đóng góp một phần nhỏ về lý luận để phục vụ cho những đề tài liên quan khác, góp phần cung cấp thông tin, tài liệu tham khảo học tập cho các khóa học sau cũng như những ai quan tâm đến vấn
Trang 17xvii
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Trên cơ sở tìm hiểu về hoạt động trợ giúp của HLHPN trong CTXH với NNMT giai đoạn sau cai nghiện và tái hòa nhập cộng đồng tại xã Hưng Chính - Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, người nghiên cứu sẽ làm
rõ ý nghĩa và sự cần thiết phải nâng cao vai trò cũng như kỹ năng chuyên môn của HLHPN
Việc tìm hiểu thực trạng hoạt động CTXH với NNMT của HLHPN cũng giúp các nhà hoạch định chính sách trong việc điều chỉnh, bổ sung các chính sách về hoạt động CTXH với NNMT nói chung và hoạt động với NNMT của HLHPN nói riêng
Đề tài này cũng làm rõ được tâm tư, nguyện vọng, nhu cầu của NNMT cũng như những cán bộ HLHPN trong hoạt động CTXH với NNMT Từ đó, giúp cho gia đình, xã hội hiểu hơn về họ và có những biện pháp để làm thoả mãn những nhu cầu và đáp ứng những sự đòi hỏi của xã hội trong quá trình phát triển, đẩy lùi tệ nạn MT
Đề tài cũng góp phần đưa ra những định hướng và đề xuất những phương hướng nhằm tạo ra cơ hội tiếp cận mới, nâng cao khả năng của HLHPN trong quá trình CTXH đối với NNMT và NNMT “vượt lên chính mình” để tái hòa nhập với cộng đồng
1.4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
1.4.1 Mục tiêu nghiên cứu
1.4.1.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu quan trọng nhất mà nghiên cứu này hướng đến là tạo cơ sở
để các ban ngành chức năng xây dựng nên những cơ chế, chính sách nhằm nâng cao kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ HLHPN để
họ có phát huy hết vai trò và khả năng của chính mình, tham gia tích cực,
có hiệu quả vào các hoạt động trợ giúp đối với NNMT giai đoạn sau cai
và tái hòa nhập cộng đồng, để giúp những NNMT có thể từ bỏ hẳn MT,
Trang 18xviii
không tái nghiện, trở về cuộc sống bình thường, hòa nhập cộng đồng, vươn lên trong cuộc sống Qua đó, nghiên cứu này cũng góp phần thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống MT giai đoạn 2011 –
- Tìm hiểu tâm lý - nhận thức NNMT giai đoạn sau cai nghiện và tái
hòa nhập cộng đồng trước và sau khi được HLHPN tác động trợ giúp
- Tìm hiểu hành vi NNMT giai đoạn sau cai nghiện và tái hòa nhập
cộng đồng trước và sau khi được HLHPN tác động trợ giúp
- Đề xuất các giải pháp cải thiện các mô hình nâng cao vai trò của HLHPN trong hoạt động CTXH trợ giúp NNMT giai đoạn sau cai nghiện
và tái hòa nhập cộng đồng
1.4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nói trên cần phải thực hiện các nhiệm vụ cụ thể như: Tiếp cận địa bàn nghiên cứu, thu thập và xử lý thông tin và làm rõ
về thực trạng MT cũng như hoạt động CTXH với NNMT giai đoạn sau cai nghiện và tái hòa nhập cộng đồng của HLHPN tại địa phương Quá trình nghiên cứu còn là quá trình kết hợp giữa lý thuyết và thông tin thực địa để chỉ ra các tác động của hoạt động HLHPN đối với nâng cao nhận thức và thay đổi tâm lý - hành vi của NNMT Đồng thời xây dựng cơ sở cho việc hình thành các giải pháp cho việc nâng cao hiệu quả vai trò của HLHPN trong các hoạt động CTXH trợ giúp NNMT giai đoạn sau cai nghiện và tái hòa nhập cộng đồng
Trang 19xix
1.5 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
1.5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vai trò của HLHPN trong CTXH với NNMT trên địa bàn xã Hưng Chính, thành phố Vinh, Nghệ
Về không gian: Nghiên cứu được tiến hành trên cơ sở khảo sát thực
tế tại xã Hưng Chính, thành phố Vinh, Nghệ An
Về thời gian: Thời gian khảo sát được tiến hành từ ngày 01/04/2012 đến ngày 01/05/2012 Nghiên cứu về vai trò của HLHPN trong CTXH với NNMT tại địa phương được xem xét trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2011
Do giới hạn về thời gian, kinh phí và khả năng nghiên cứu cho nên trong công trình nghiên cứu này tôi chỉ tập trung vào một số vấn đề cơ bản như sau: thực trạng hoạt động CTXH đối với NNMT của HLHPN, tác động của HLHPN đối với NNMT, đề xuất một số giải pháp để nâng cao hơn nữa hiệu quả, vai trò của HLHPN trong CTXH với NNMT Tuy nhiên một thực
tế cho thấy rằng nghiên cứu về vai trò của HLHPN không phải là một vấn
đề mới nhưng vai trò của HLHPN trong CTXH với NNMT giai đoạn sau cai và tái hòa nhập cộng đồng trong CTXH là một vấn đề mới mẻ
Mặt khác, nghiên cứu khóa luận đối với sinh viên chỉ là bước tập dượt và khó khăn do bị giới hạn về kiến thức và kinh nghiệm Chính vì vậy tôi không tham vọng sẽ giải quyết tất cả các nội dung trên mà chỉ đi sâu vào tìm hiểu vai trò của HLHP trong hoạt động CTXH với NNMT giai đoạn sau
Trang 20xx
cai nghiện và tái hòa nhập cộng đồng dựa trên cơ sở xem xét các vấn đề có liên quan
1.6 Giả thuyết nghiên cứu
- Trên địa bàn của địa phương có tệ nạn MT phức tạp với tỷ lệ
NNMT cao
- HLHPN có vai trò tích cực trong việc giúp đỡ NNMT giai đoạn sau cai nghiện và tái hòa nhập cộng đồng thay đổi tâm lý – nhận thức và hành vi, tiến tới chống tái nghiện, tái hòa nhập cộng đồng bền vững
- Cần có những giải pháp cụ thể và thiết thực để nâng cao hơn nữa vai trò của HLHPN trong CTXH với NNMT giai đoạn sau cai nghiện và tái hòa nhập cộng đồng như: nâng cao hơn nữa chất lượng cán bộ HLHPN,
có chính sách thiết thực đối với cán bộ HLHPN…
1.7 Các phương pháp nghiên cứu
1.7.1 Phương pháp luận
Nghiên cứu này được tiến hành dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Các nguyên lý của chủ nghĩa duy vậy biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử như: nguyên
lý về sự phát triển, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến… giúp chúng ta hình thành và khai thác các hiện tượng có liên quan trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động CTXH với NNMT giai đoạn sau cai nghiện và tái hòa nhập cộng đồng của HLHPN tại địa phương
Bên cạnh đó, hệ thống các khái niệm, các lý thuyết CTXH và lý thuyết Xã hội học đã trở thành cơ sở để giải thích cho những vấn đề và những hiện tượng xảy ra xung quanh vấn đề vai trò HLHPN trong hoạt động CTXH với NNMT giai đoạn sau cai nghiện và tái hòa nhập cộng đồng Ngoài ra các lý thuyết này còn trang bị cho chúng ta lăng kính để nhìn nhận và lý giải vấn đề từ nhiều góc cạnh khác nhau
Trang 21Các loại quan sát được sử dụng bao gồm: Quan sát trực tiếp, quan sát giáp tiếp, quan sát tham dự Trong đó quan sát tham dự là một yếu tố rất quan trọng để thấy được thực trạng vai trò của HLHPN đối với NNMT giai đoạn sau cai và tái hòa nhập cộng đồng
1.7.2.2 Phương pháp phân tích tài liệu
Quá trình thu thập và xử lý thông tin thứ cấp được tiến hành trên cơ
sở đọc và phân tích các loại tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu Nguồn tài liệu được sử dụng cho nghiên cứu này bao gồm: Các bài báo được đăng trên báo, tạp chí, sách tham khảo, các công trình nghiên cứu
về vấn đề CTXH với NNMT Các loại tài liệu của địa phương bao gồm các báo cáo tổng kết về công tác phòng và chống MT của HLHPN, báo cáo về tình hình kinh tế xã hội của tỉnh Nghệ An, của thành phố Vinh và
Trang 22xxii
đánh giá nhanh cho ta thấy được một cách chính xác, khách quan những vấn đề xảy ra xung quanh quá trình hoạt động CTXH với NNMT của HLHPN ở địa phương
1.7.2.4 Phương pháp phỏng vấn sâu
Đã có 3 cuộc phỏng vấn sâu được thực hiện trên các đối tượng: 2 người là NNMT giai đoạn sau cai và tái hòa nhập cộng đồng; 1 người là cán bộ HLHPN Quá trình phỏng vấn sâu cho phép chúng ta thu thập được những thông tin liên quan đến đời sống tâm lý, nhận thức của NNMT, của những cán bộ HLHPN khi thực hiện các hoạt động CTXH với NNMT Những thông tin đi sâu khám phá diễn biến tâm lý, nhận thức của NNMT, cáN bộ HLHPN khi tiếp xúc với NNMT, tác động của cán
bộ HLHPN trong việc làm thay đổi tâm lý, nhận thức và hành vi của NNMT mà các phương pháp khác không khai thác hoặc khó khai thác được
1.7.2.5 Phương pháp thảo luận nhóm tập trung
Thảo luận nhóm tập trung được sử dụng để thu thập thông tin về vai trò của HLHPN trong CTXH với NNMT giai đoạn sau cai và tái hòa nhập cộng đồng và các giải pháp trong tương lai nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả vai trò của HLHPN trong các hoạt động CTXH với NNMT Có
3 cuộc thảo luận đã được tổ chức tại địa phương: Cuộc thảo luận thứ nhất gồm những NNMT giai đoạn sau cai và tái hòa nhập cộng đồng Cuộc thảo luận thứ 2 gồm những người là thân nhân của NNMT Cuộc thảo luận thứ 3 gồm những cán bộ HLHPN trực tiếp tham gia hoạt động CTXH với NNMT tại địa phương Mỗi nhóm thảo luận có 16 người tổng cộng có 48 người tham gia Cán bộ nghiên cứu đóng vai trò chủ trì và thúc đẩy Đặc biệt trong quá trình thảo luận chúng tôi có kết hợp sử dụng các công cụ đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (công cụ PRA)
Trang 23- Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến nghiện MT
- Tìm hiểu trạng thái tâm lý cũng như nhận thức, hành vi của NNMT về bản thân, về những người xung quanh trước và sau khi có sự tác động của HLHPN
- Tìm hiểu giải pháp nâng cao vai trò của HLHPN trong hoạt động CTXH với NNMT giai đoạn sau cai và tái hòa nhập cộng đồng
Cuộc thảo luận 2: Nhóm thân nhân của những NNMT
ở địa phương
- Tìm hiểu sự hiểu biết trạng thái tâm lý - nhận thức – hành vi của
họ khi biết trong gia đình có NNMT
- Tìm hiểu những tác động của HLHPN đối với sự thay đổi nhận thức và hành vi, cuộc sống của NNMT
- Tìm hiểu các giải pháp mà chính họ đưa ra để nâng cao vai trò của HLHPN trong CTXH với NNMT giai đoạn sau cai và tái hòa nhập cộng đồng
Cuộc thảo luận 3: Nhóm cán bộ phụ nữ trực tiếp tham gia hoạt
động CTXH với NNMT tại địa phương
với NNMT ở địa phương
Trang 241.8.2 Đóng góp về mặt thực tiễn
Đối với xã hội: Đối với những đặc thù riêng của HLHPN, việc
nâng cao vai trò của HLHPN trong các hoạt động CTXH với NNMT giai đoạn sau cai nghiện và tái hoà nhập cộng đồng là việc làm cấp bách và cần thiết trong công cuộc đẩy lùi tệ nạn MT, vận động NNMT đi cai nghiện MT đã khó nhưng giúp NNMT không tái nghiện càng khó hơn Chính vì vậy, kết quả nghiên cứu này sẽ giúp chúng ta có cái nhìn toàn cảnh và đúng đắn hơn về cán bộ HLHPN – những người trong suốt thời gian qua đã và đang sát cánh bên NNMT Từ đó, sẽ giúp các nhà lãnh đạo
và hoạch định chính sách – những người trực tiếp quản lý về vấn đề này
có quá trình hoạch định, điều chỉnh, bổ sung những chính sách và biện pháp phù hợp, hỗ trợ kịp thời cho những HLHPN – những người tham gia các hoạt động trợ giúp cho NNMT và cho cả những NNMT Ngoài ra, kết
Trang 25xxv
quả nghiên cứu còn góp phần hướng tới mục tiêu xã hội hóa CTXH đối với NNMT của Đảng và nhà nước
Đối với bản thân: Quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp mà cụ
thể là đi sâu vào nghiên cứu vấn đề: “Vai trò của Hội Liên hiệp phụ nữ trong hoạt động công tác xã hội với người nghiện ma túy giai đoạn sau cai nghiện và tái hòa nhập cộng đồng” là một trong những điều kiện và
cơ hội tốt để cho tôi có thể áp dụng các lý thuyết và phương pháp đã được học từ giảng đường nhà trường vào việc thực hành nghiên cứu cuộc sống thực tiễn Đồng thời quá trình nghiên cứu giúp tôi hiểu thêm các vấn đề các cán bộ HLHPN trong các hoạt động CTXH với NNMT giai đoạn sau cai và tái hòa nhập cộng đồng và hiểu thêm về một cộng đồng dân cư với những bản sắc riêng qua đó giúp cho tôi có kinh nghiệm hơn trong những cuộc nghiên cứu tiếp theo và quá trình công tác sau này
1.9 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, hệ thống bảng biểu, sơ đồ và phụ lục, luận văn gồm 02 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
Chương 2: Kết quả nghiên cứu: Vai trò của Hội Liên hiệp phụ nữ trong công tác xã hội với người nghiện ma túy giai đoạn sau cai và tái hòa nhập cộng đồng ở xã Hưng Chính – thành phố Vinh – Nghệ An
Trang 26xxvi
NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
CỦA ĐỀ TÀI 1.1.Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1 Lý thuyết vận dụng
CTXH là một khoa học tổng hợp, sử dụng đến nhiều kiến thức của nhiều ngành khoa học khác, trong đó lý thuyết đóng vai trò quan trọng giúp nhân viên xã hội nhìn thấy rõ nhất những trạng thái tâm lý xã hội của từng loại bệnh lý khác nhau, các thân chủ khác nhau để vạch ra những giải pháp, phương pháp trị liệu nhằm thay đổi, phát triển đối với con người Thực tế tồn tại nhiều quan niệm, cách hiểu khác nhau nhưng
có thể hiểu lý thuyết là tập hợp những khái niệm có liên quan với nhau để giải thích thế giới một cách có hệ thống, cũng có thể lý thuyết không chỉ
là tập hợp những khái niệm mà cả những định nghĩa có liên quan
Lý thuyết trong CTXH vừa là chính nó, vừa có thể vay mượn và vận dụng của các ngành khoa hoạc khác Vai trò của lý thuyết trong CTXH thể hiện ở từng lĩnh vực, trong từng chức năng, cách phát hiện để nhận định vấn đề, trị liệu sao cho phù hợp với từng thân chủ Con người
tổ chức liên kết với các dịch vụ xã hội tạo nên sự phát triển lành mạnh
Đối với đề tài này, bản thân tôi là nhân viên CTXH, đồng thời cũng xem các cán bộ HLHPN – những người trong suốt thời gian qua đã cùng sát cánh bên những NNMT giai đoạn sau cai và tái hòa nhập cộng đồng trên địa bàn nghiên cứu – là những “nhân viên CTXH không chuyên” và những hoạt động trợ giúp của họ là những hoạt động CTXH, đồng thời NNMT là thân chủ hay đối tượng mà chúng tôi hướng đến Việc tiếp cận các vấn đề của NNMT giai đoạn sau cai và tái hòa nhập cộng đồng dưới góc độ một số lý thuyết CTXH sẽ cho chúng ta có những cách nhìn toàn diện về quá trình thể hiện vai trò của HLHPN đối với NNMT thông qua
Trang 27xxvii
các hoạt động trợ giúp cụ thể, đồng thời là cơ sở, nền tảng để xây dựng những biện pháp hợp lý, sát thực tế để HLHPN có thể phát huy và nâng cao vai trò của mình với mục đích cao nhất là giúp đỡ NNMT
1.1.1.1 Lý thuyết nhận thức hành vi
Lý thuyết nhận thức hành vi là sự kết hợp giữa hai lý thuyết hành vi
để có thể kiểm định được những mô hình nhận thức với kết quả thực hành
kỹ thuật hành vi
Trong đó, lý thuyết nhận thức (Lognituve theory) được phát tiển dựa trên cơ sở của lý thuyết học tập (Learrning theory) và lý thuyết học tập xã hội (Social learning theory)
Còn sự ra đời của lý thuyết hành vi là để phản đối lại lý thuyết tâm động học Chủ yếu dựa trên quan sát những hình tượng có thể mô tả được Có thể nói rằng, quá trình trị liệu nhận thức hành vi bao gồm việc thiết lập, củng cố và đánh giá hành vi mới
Đối với NNMT giai đoạn sau cai và tái hòa nhập cộng đồng, việc vận dụng lý thuyết nhận thức hành vi vừa mang lại cho chúng ta sự lý giải nguyên nhân vì sao tỷ lệ tái nghiện của NNMT lại cao Đó là sự nhận thức về MT, cai nghiện MT chưa đầy đủ; thiếu các kỹ năng chống tái nghiện, xử lý tình huống trong cuộc sống; NNMT có những hành vi tiêu cực, có thể là khó kiểm soát, do hành vi nghiện MT gây ra sự tổn thương cho não bộ; Đồng thời, lý thuyết này là nền tảng cho các hoạt động, mô hình trợ giúp, củng cố của HLHPN cho NNMT nhằm thay đổi hành vi cũ
và thiết lập hành vi mới thông qua các hoạt động hỗ trợ nâng cao nhận thức nhờ quá trình truyền thông, tương tác với các thành viên trong các
câu lạc bộ (CLB) “Bạn giúp bạn” dành cho NNMT
1.1.1.2 Lý thuyết học tập xã hội
Thuyết học tập xã hội được bắt đầu từ nguồn gốc của quan điểm học tập của Gabriel Tarde (1843 – 1904) Trong quan điểm của mình,
Trang 28xxviii
Gabriel nhấn mạnh ý tưởng về học tập xã hội thông qua ba quy luật bắt chước: đó là sự tiếp xúc gần gũi, bắt chước người khác và sự kết hợp cả hai Cá nhân học cách hành động và ứng xử của người khác qua quan sát, bắt chước Theo cách tiếp cận cổ điển của thuyết học tập, hành vi của thành viên nhóm có thể xuất hiện khi nó được kích thích
Bên cạnh đó, lý thuyết học tập xã hội có thể giúp giải thích các hiện tượng lây chuyền hành vi từ các thành viên này sang thành viên khác, nếu như hành vi của thành viên đó được các thành viên hưởng ứng
Vận dụng thuyết học tập xã hội vào trong CTXH nhóm, CTXH cá nhân, nhân viên CTXH cần phải chú ý tới việc sử dụng các kỹ thuật để khuyến khích những hành vi được coi là chuẩn mực,hoặc các hình phạt nhắc nhở cá nhân tránh lặp lại những hành vi không phù hợp với chuẩn mực Ngoài ra, nhân viên CTXH cũng cần phải biết vận dụng kỹ năng cơ hội để các khuôn mẫu hành vi tích cực của các cá nhân xuất hiện lặp đi lặp lại, giúp các cá nhân nhận thức được khuôn mẫu và có thời gian thực hành
Trong quá trình vận dụng thuyết học tập xã hội, có một số nguyên tắc:
Một là, hiệu quả sẽ đạt được ở mức cao nhất của học tập quan sát là thông qua việc tái tổ chức và tập diễn lại hành vi được làm mẫu một cachs tượng trưng, sau đó thực hiện lại nó một cách cụ thể
Hai là, mã hóa hành vi được làm mẫu đó bằng lời nói, đặt tên hoặc hình tượng hóa kết quả, cách này còn tốt hơn là việc chỉ quan sát Các cá nhân có thể bắt chước hành vi được làm mẫu đó nếu như mô hình
đó thích hợp với họ, làm họ thấy ngưỡng mộ và nếu như nó mang lại kết quả mà coi là giá trị
Trang 29xxix
Thuyết học tập xã hội được vận dụng để phân tích, đưa ra những giải thích hành vi của cá nhân và tác động thay đổi (hành vi không tương hợp) hoặc củng cố (hành vi tương hợp)
Việc vận dụng lý thuyết này vào trong đề tài nghiên cứu nhằm lý giải các hoạt động trợ giúp của HLHPN đối với NNMT giai đoạn sau cai
và tái hòa nhập cộng đồng và là cơ sở cho các biện pháp để nâng cao vai trò của HLHPN CLB cũng là một hình thức nhóm Trong các hoạt động
của CLB “Bạn giúp bạn” của NNMT do HLHPN thành lập, bao gồm các
thành viên là NNMT, cán bộ HLHPN, người thân của NNMT, những thành viên trong cộng đồng dân cư có nguyện vọng tham gia Đây là không gian để NNMT học hỏi lẫn nhau qua hành vi, sự chia sẻ giữa những người trong CLB, đồng thời học hỏi được các kỹ năng, kiến thức
từ các cán bộ HLHPN
Thay đổi hành vi không tương hợp: tức là hành vi lệch chuẩn với mong muốn, mục tiêu của hoạt động CLB Ví dụ: thành viên A – là NNMT tỏ những thái độ bất mãn, quậy phá trong các giờ sinh hoạt của CLB, cán bộ HLHN sẽ đưa ra những phản ứng thân thiện nhằm góp ý (khuyên nhủ, hỏi đáp ) hoặc khen ngợi một hành vi tương hợp của thành viên khác khiến cho A tự nhận thức và học theo
Củng cố hành vi tương hợp: tức là chú ý đến hành vi tích cực của từng thành viên và luôn đưa ra những khen ngợi đúng lúc Như trường hợp của A, nếu buổi sinh hoạt sau A có những biểu hiện tích cực hơn, cán bộ HLHPN và các nhóm viên khác cần khen ngợi để A cảm thấy hành vi này cần được củng cố và duy trì, tham gia vào CLB tích cực hơn
Ngoài ra, các cán bộ HLHPN cũng phải biết vận dụng các kỹ năng tạo cơ hội để các khuôn mẫu hành vi tích cực của các thành viên CLB xuất hiện lặp đi lặp lại, giúp các thành viên nhận thức được hành vi khuôn mẫu và có thời gian để thực hành
Trang 30xxx
1.1.1.3 Lý thuyết hệ thống sinh thái
Lý thuyết hệ thống CTXH bắt nguồn từ lý thuyết hệ thống tổng quát của Bertalaffy Lý thuyết này dựa trên quan điểm sinh học cho rằng mọi tổ chức hữu cơ đều là những hệ thống, được tạo nên từ các tiểu hệ thống và đồng thời, bản thân các tiểu hệ thống cũng là một phần của hệ thống lớn hơn Người có công đưa lý thuyết hệ thống áp dụng vào thực tiễn CTXH phải kể đến công lao của Pincus và Minahan cùng các đồng
sự khác, tiếp đến là Germain và Giterman Những nhà khoa học trên đã góp phần phát triển và hoàn thiện lý thuyết hệ thống trong thực hành CTXH trên toàn thế giới
Trong CTXH có hai loại thuyết hệ thống nổi bật được đề cập đến
đó là lý thuyết hệ thống tổng quát và lý thuyết hệ thống sinh thái Trong nghiên cứu này, tôi sử dụng lý thuyết hệ thống sinh thái – một lý thuyết được vận dụng nhiều trong CTXH Đại diện của lý thuyết này là Hear, Siporin, Germain và Giterman Lý thuyết hệ thống sinh thái nhấn mạnh vào sự tương tác của con người với môi trường sinh thái của mình Sự can thiệp tại bất cứ điểm nào trong hệ thống cũng sẽ ảnh hưởng hoặc tạo
ra sự thay đổi trong toàn bộ hệ thống Vì thế mà những người làm CTXH cần sáng tạo khi lập kế hoạch với đối tượng, tạo ra những ảnh hưởng cho
hệ thống liên quan hướng đến việc hỗ trợ một cách hiệu quả nhất
“Hệ thống là một tập hợp các thành tố được sắp xếp có trật tự và liên hệ với nhau để hoạt động thống nhất” Một hệ thống có thể bao gồm nhiều tiểu hệ thống (tiểu hệ thống là hệ thống thứ cấp hoặc hệ thống hỗ trợ, các tiểu hệ thống được phân biệt với nhau bởi các ranh giới), đồng thời tiểu hệ thống đó cũng là một bộ phận của hệ thống lớn
Bản thân mỗi cá nhân cũng là một hệ thống và hệ thống đó bao gồm nhiều tiểu hệ thống như: hệ thống sinh lý, hệ thống nhận thức, hệ thống tình cảm, hành động và các hệ thống phản ứng… Nghiên cứu này
Trang 31xxxi
sẽ tìm hiểu đặc điểm của các tiểu hệ thống nhận thức, tâm lý, hành vi của
cá nhân NNMT và sự ảnh hưởng của các tiểu hệ thống đó với nhau
Hệ thống mà những người làm CTXH làm việc là những hệ thống rất đa dạng: gia đình, cộng đồng, hệ thống xã hội, môi trường văn hóa mà con người tồn tại Tuy nhiên, hệ thống được phân thành 3 hình thức chính sau đây:
Hệ thống phi chính thức: gia đình, bạn bè, đồng nghiệp…
Hệ thống chính thức: nhóm cộng đồng, tổ chức đoàn thể, cơ quan…
Hệ thống xã hội: các tổ chức xã hội, bệnh viện, trường học… Trong lý thuyết hệ thống cần lưu ý đến một số khái niệm cơ bản,
đó cũng là cơ chế hoạt động của hệ thống:
Tương tác: sự tác động qua lại giữa các thành phần tạo nên cá nhân hay giữa cá nhân và các thành phần khác trong hệ thống Tác động qua lại này có thể tiêu cực hay tích cực và ảnh hưởng đến an sinh của cá nhân Đây cũng là một trong những nhiệm vụ chính mà nhân viên CTXH cần lưu ý khi làm việc với NNMT
Nguyên liệu: là năng lượng, thông tin, truyền thông, sự hỗ trợ của các nguồn tài nguyên mà cá nhân nhận được từ môi trường
Sản phẩm: là năng lượng, thông tin, truyền thông, sự hỗ trợ của
cá nhân dành cho môi trường
Các hệ thống luôn có sự tác động lên cá nhân Bên cạnh sự tác động tích cực và tiêu cực thì không phải tất cả mọi người đều có khả năng tiếp cận sự hỗ trợ như nhau về nguồn lực từ các hệ thống tồn tại xung quanh Đối với những NNMT giai đoạn sau cai và tái hòa nhập cộng đồng, họ cũng chịu nhiều tác động của nhiều hệ thống và mỗi cá nhân lại
có khả năng tiếp cận khác nhau Nghiên cứu sẽ tìm hiểu sự tác động của các hệ thống lên NNMT
Trang 32xxxii
Lý thuyết hệ thống được sử dụng rộng rãi trong CTXH nhóm vì thuyết này giúp cho nhân viên CTXH hiểu được nhóm như là một hệ thống của các yếu tố tương tác với nhau Bên cạnh đó, để nhóm hoạt động được, nhóm sẽ phải có những tương tác với hệ thống khác bên ngoài Nhóm thường xuyên có những nhu cầu luôn thay đổi để đạt được mục đích, mục tiêu và duy trì sự cân bằng, ổn định Vì vậy nhóm cần huy động các nguồn lực hỗ trợ từ các hệ thống để đáp ứng nhu cầu Tương tự, nghiên cứu cũng xuất phát từ việc đánh giá nhu cầu, nguyện vọng của để HLHPN có thể tìm nguồn hỗ trợ từ các hệ thống phù hợp dành cho CLB NNMT
Nhân viên CTXH cũng là một trong những hệ thống thường xuyên tương tác với nhóm Hệ thống này không chỉ đóng vai trò chia sẻ, thấu cảm những tâm tư…mà còn là người đóng vai trò trị liệu nhằm thay đổi hành vi, nhận thức và tâm lý, kết nối các hệ thống dịch vụ cung cấp cho các thành viên trong nhóm Parsons, Bales và Shil đã chỉ ra 4 nhiệm vụ
có ảnh hưởng đến CTXH nhóm như sau:
Hòa nhập (đảm bảo sự hòa hợp giũa các thành viên trong nhóm)
Điều chỉnh (đảm bảo các thành viên trong nhóm thay đổi thích ứng với những yêu cầu của môi trường)
Duy trì mô hình (nhóm phải xác định và duy trì những mục đích)
Tiến trình đạt mục tiêu (đảm bảo nhóm duy trì và hoàn thành nhiệm vụ)
Việc tuân thủ các nhiệm vụ giúp cho nhóm duy trì sự cân bằng và
ổn định Thuyết hệ thống giúp nhân viên CTXH hiểu được các thể chế, sự tương táccủa các hệ thống này với nhau và với các đối tượng trong nhóm, cách thức mà các cá nhân tương tác với nhau Trong nghiên cứu, nhiệm
vụ quan trọng mà nhân viên CTXH cần đánh giá là sự tác động của
Trang 331.1.2 Các khái niệm công cụ
1.1.2.1 Khái niệm vai trò
Thuật ngữ vai trò được dùng để xác định thành phần các mô hình văn hóa gắn liền với một địa vị cụ thể Nó gồm tâm thế, giá trị hành vi do
xã hội gán cho bất cứ ai hoặc tất cả những người chiếm một địa vị cụ thể
Nó bao gồm những kỳ vọng được hợp pháp hóa của những người giữ chức vụ đối với hành vi người khác hướng đến họ (Nguồn: Sách xã hội học quản lý, TS Vũ Hào Quang, Nhà xuất bản quốc gia Hà Nội, 2001)
1.1.2.2 Khái niệm Công tác xã hội
Cho đến nay đã có rất nhiều cách hiểu, nhiều định nghĩa khác nhau
về CTXH Sau đây là tóm tắt nội dung những quan niệm ấy:
CTXH là các hoạt động thực tiễn với các phương pháp riêng biệt nhằm vào các cá nhân và các nhóm đối tượng cụ thể nhằm thay đổi các biện pháp cụ thể nhằm thay đổi các hiện trạng xã hội mang tính bức xúc như: các tệ nạn
xã hội, sự bất bình đẳng, sự nghèo đói, bệnh tật và những
Trang 34Phân phối, ban phát tiền của, hiện vật do các tổ chức,
cá nhân trong và ngoài nước giúp đỡ nhằm phục hồi các chức năng xã hội của các cá nhân, các nhóm, các cộng đồng trong xã hội
Là dịch vụ
xã hội
Những dịch vụ xã hội cung ứng cho những cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng những thông tin, tài liệu hỗ trợ tinh thần và các kỹ năng chuyên môn nhằm mục đích giúp họ vượt lên hoàn cảnh, khắc phục những khó khăn tự vươn lên trong cuộc sống
Mặt khác, CTXH cũng giúp cho cá nhân ấy nhận thức
rõ quyền lực của chính mình và xã hội nhằm tiến tới tác động trở lại xã hội, trừ diệt nghèo đói
Là thiết chế
xã hội
Có mục đích nhằm thỏa mãn các lợi ích cơ bản của những cá nhân, nhóm, cộng đồng xã hội có hoàn cảnh đặc biệt Nội dung của CTXH thể hiện các giá trị, các chuẩn mực, các hành vi xã hội được mọi người cùng chia sẻ chấp nhận
CTXH cũng nhằm mang lại cho những con người đang phải chịu nhiều thiệt thòi, mất mát trong cuộc sống những niềm tin, sự hỗ trợ cả vật chất và tinh thần để họ có một cuộc sống ổn định hơn, và hơn thế nữa, để họ có thể tự phát huy tiềm năng của chính mình vươn lên thoát khỏi đói nghèo, dốt nát, bệnh tật
Trang 35xxxv
Xuất phát từ nhiều quan niệm trên đây về CTXH đã dẫn đến nhiều định nghĩa về CTXH, tuy không đối lập nhưng cũng chưa có được một định nghĩa thống nhất
Theo Foundation of Social Word Practice:
CTXH là một môn khoa học ứng dụng để giúp đỡ mọi người vượt qua những khó khăn của họ và đạt được một vị trí ở mức độ phù hợp trong xã hội CTXH được coi như một môn khoa học vì nó dựa trên những luận chứng khoa học và những cuộc nghiên cứu đã được chứng minh Nó cung cấp một lượng kiến thức có cơ sở thực tiễn và xây dựng những kỹ năng chuyên môn hóa
Theo Joanf Robertson - Chủ nhiệm khoa CTXH trường ĐH
Wisconsin, Hoa Kỳ:
CTXH là quá trình giải quyết các vấn đề hợp lý nhằm thay đổi theo kế hoạch, hướng tới mục tiêu đã đề ra ở cấp độ cá nhân, gia đình, nhóm, tổ chức, cộng đồng và chính sách xã hội
Theo Liên đoàn chuyên nghiệp xã hội Quốc tế - IFSW (đưa ra tai
Đại hội Montreal - tháng 7/2000):
CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội, việc giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ con người và sự tăng quyền lực và giải phóng người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, CTXH can thiệp ở những điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc cơ bản của nghề (theo định nghĩa này thì CTXH sẽ không được công nhận tại các nước chưa có nền giáo dục phát triển cao về CTXH)
Trang 36xxxvi
Theo Nguyễn Thị Oanh (Đại học Mở bán công TPHCM):
CTXH là hoạt động thực tiễn, mang tính tổng hợp cao, được thực hiện theo các nguyên tắc và phương pháp nhất định nhằm hỗ trợ cá nhân
và nhóm người trong việc giải quyết các vấn đề trong đời sống của họ; qua đó CTXH theo đuổi mục tiêu vì phúc lợi, hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội CTXH là hoạt động thực tiễn bởi họ luôn làm việc trực tiếp với đối tượng, với nhóm người cụ thể và mang tính tổng hợp cao, bởi người làm CTXH phải làm việc với nhiều vấn đề khác nhau như: tệ nạn
xã hội, vấn đề người nghèo, vấn đề gia đình…
Theo Từ điển Xã hội học:
CTXH là một dịch vụ đã chuyên môn hóa - một việc giúp đỡ có tính
cá nhân để giải quyết những vấn đề xã hội đặc biệt
Từ các nội dung định nghĩa được nêu trên đây, có thể tóm lược trong một định nghĩa mang 2 khía cạnh nội dung sau:
CTXH là sự vận dụng các lý thuyết khoa học về hành vi con người và hệ thống xã hội nhằm xây dựng và thúc đẩy sự thay đổi liên quan đến vị trí, địa vị, vai trò của các cá nhân, nhóm, cộng đồng người yếu thế nhằm tiến tới sự bình đẳng và tiến bộ xã hội
CTXH còn là một dịch vụ đã chuyên môn hóa, góp phần giải quyết những vấn đề xã hội, về con người mang tính bức xúc nhằm thỏa mãn các lợi ích căn bản của những cá nhân, nhóm, cộng đồng xã hội; mặt khác, góp phần giúp cá nhân tự nhận thức về vị trí, vai trò xã hội của chính mình
1.1.2.3 Khái niệm ma túy
Hiện có nhiều loại định nghĩa khác nhau về MT:
Theo khoản 1 Điều 2 Luật Phòng, chống MT:
“Chất MT bao gồm chất gây nghiện và chất hướng thần được quy
định trong các danh mục do Chính phủ ban hành”
Trang 37xxxvii
Để làm rõ hơn khái niệm này, Luật Phòng, chống MT cung cấp thêm định nghĩa “chất gây nghiện” và “chất hướng thần” Theo đó, “chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng”, và “chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng”
Định nghĩa này cho thấy chất gây nghiện và chất hướng thần có một
số đặc điểm chung: (1) chúng đều là những chất có tác động lên hệ thần kinh, (2) chúng có thể gây ra tình trạng nghiện đối với người sử dụng Mặt khác, các chất này khác nhau ở khả năng gây nghiện Chất gây nghiện - như tên gọi của nó - có khả năng gây nghiện cao hơn chất hướng thần
Một khái niệm khác:
MT là tên gọi chung chỉ những chất gây nghiện, chất hướng thần có
nguồn gốc tự nhiên hay nhân tạo Những chất này khi đưa vào cơ thể sông sẽ làm thay đổi trạng thái nhận thức và sinh lý, có thể dẫn đến nghiện
Tuy thuật ngữ MT có nhiều khái niệm khác nhau, nhưng nhìn chung khi nói tới MT là nói tới các chất có nguồn gốc tự nhiên hay tổng hợp, khi được đưa vào cơ thể (bằng cách: tiêm, chích, hút, hít, nhai, nuốt ) nó
sẽ làm thay đổi trạng thái ý thức và sinh lý người đó Nếu lạm dụng MT, con người sẽ lệ thuộc vào nó, khi đó gây tổn thương và nguy hại cho người sử dụng, cho gia đình và cộng đồng
Một số loại MT thường gặp
Thuốc phiện ( Anh túc )
Mooc phin ( Morphin )
Heroin
Cần sa
Trang 38xxxviii
Ma túy tổng hợp
túy
Hiện nay cũng có nhiều định nghĩa về nghiện MT
Theo sổ tay chẩn đoán của Hiệp hội Tâm thần mỹ (APA) định
nghĩa nghiện như sau:
Các triệu chứng bao gồm hiện tượng dung nạp (Cần phải tăng liều lượng sử dụng để đạt được khoái cảm), sử dụng MT để giảm triệu chứng cai, không thể giảm liều sử dụng thuốc hay ngưng sử dụng và tiếp tục sử dụng dù biết nó có hại cho bản thân hay những người khác
Theo tổ chức y tế thế giới ( WHO )
Nghiện MT là tình trạng lệ thuộc về mặt tâm thần hoặc thể chất hoặc
cả hai khi một người sử dụng MT lặp đi lặp lại theo chu kỳ hoặc dùng kéo dài liên tục một thứ MT và tình trạng lệ thuộc này làm thay đổi cách
cư xử, bắt buộc đương sự luôn cảm thấy sự bức bách phải dùng MT để có được những hiệu ứng MT về mặt tâm thần của MT và thoát khỏi sự khó chịu, vật vã do thiếu MT Tình trạng lệ thuộc này có thể kèm theo hiện tượng quen MT hoặc không, và một người có thể bị lệ thuộc vào nhiều loại MT
Tóm lại: NNMT là người sử dụng chất MT, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần và bị lệ thuộc vào các chất này
Tái nghiện: Một người ngưng sử dụng MT trong vài tuần hoặc vài
tháng nếu quay lại sử dụng sẽ có xu hướng tái sử dụng một cách nhanh chóng và hình thành lại sự lệ thuộc vào MT
Trang 39xxxix
1.1.2.5 Người nghiện ma túy giai đoạn sau cai nghiện và tái hòa nhập cộng đồng
Theo Luật phòng chống MT năm 2008 thì giai đoạn sau cai nghiện
MT là giai đoạn mà NNMT sau khi đã “chấp hành xong thời gian cai nghiện MT” theo phác đồ cai nghiện của Bộ Y tế quy định
Theo từ điển Tiếng Việt: “Cộng đồng là toàn thể xã hội, toàn thể thế giới Hòa nhập cộng đồng là nhập vào, hòa vào cộng đồng ấy, chơi chung trong một sân chơi, cùng chấp nhận luật chơi chung, cùng bình đẳng như nhau trong cộng đồng”
Hiện nay chưa có định nghĩa cụ thể nào về NNMT giai đoạn sau cai nghiện và tái hòa nhập cộng đồng, tuy nhiên từ hai định nghĩa trên chúng ta có thể hiểu một cách khái quát, đó là những NNMT sau khi đã
“chấp hành xong thời gian cai nghiện MT” do Bộ Y tế quy định thì trở về hòa nhập với với cộng đồng, thay đổi các hành vi tiêu cực do nghiện MT trước đây, sống và thực hiện các nghĩa vụ, hưởng quyền lợi như những người bình thường trong cộng đồng
1.1.2.6 Công tác xã hội với người nghiện ma túy giai đoạn sau cai nghiện và tái hòa nhập cộng đồng
Cho đến nay, chúng ta vẫn có nhiều cách hiểu, quan niệm khác nhau nhưng tựu chung lại có thể nêu lên một cách khái quát như sau: CTXH với NNMT giai đoạn sau cai nghiện và tái hòa nhập cộng đồng là một tiến trình can thiệp nhằm góp phần giúp NNMT thay đổi nhận thức, tâm lý và hành vi để từ đó họ tự vượt qua những khó khăn, thử thách và
cải thiện được vai trò, vị trí của chính mình trong xã hội
Trang 40xl
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1 Các chính sách, pháp luật của nhà nước về công tác trợ giúp người nghiện ma túy giai đoạn sau cai và tái hòa nhập cộng đồng
Trong những năm qua, Việt Nam đã từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách về công tác cai nghiện phục hồi hay nói cách khác là các hoạt động trợ giúp NNMT, đặc biệt là giai đoạn sau cai và tái hòa nhập cộng đồng, thể hiện qua các văn bản chính như sau:
- Luật Phòng chống MT được Quốc hội ban hành ngày 19/12/2000
và sửa đổi bổ sung năm 2008 đã cụ thể hóa các quy định nhà nước về các hoạt động trợ giúp NNMT giai đoạn sau cai và tái hòa nhập cộng đồng
Điều 6 Luật Phòng chống MT nêu rõ: “Cá nhân, gia đình có trách nhiệm theo dõi, giúp đỡ người đã cai nghiện ma tuý hoà nhập cộng đồng; phòng, chống tái nghiện”
Điều 9 Luật phòng chống MT nêu rõ: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
và các tổ chức thành viên, các tổ chức khác trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm… phối hợp với chính quyền các cấp, các cơ quan có thẩm quyền tham gia giáo dục, dạy nghề, tìm việc làm và giúp đỡ người đã cai nghiện mạ túy hòa nhập cộng đồng; phòng, chống
tái nghiện”
Điều 33 nêu cụ thể: “Người đã cai nghiện MT được chính quyền cơ
sở, gia đình và các tổ chức tiếp nhận, tạo điều kiện học nghề, tìm việc làm, vay vốn, tham gia các hoạt động xã hội để hoà nhập cộng đồng”
Điều 34 Luật phòng chống MT: “Cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức có liên quan có trách nhiệm hỗ trợ chính quyền cơ sở trong việc quản lý, giáo dục, giám sát, phòng, chống tái nghiện cho người đã cai nghiện MT”