Mỗi một quốc gia trên thế giới có một hệ thống pháp luật riêng của mình và các hệ thống pháp luật đó khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Tuy nhiên, giữa các hệ thống pháp luật này luôn có sự khác nhau, thậm trí là trái ngược nhau do nhiều nguyên nhân. Trong đó xung đột pháp luật là hiện tượng pháp lý có hai hay nhiều hệ thống pháp luật cùng tham gia vào điều chỉnh một quan hệ tư pháp quốc tế mà nội dung điều chỉnh trong mỗi hệ thống pháp luật khác nhau. Hiệu lực của quy phạm xung đột không hoàn toàn sẽ thuận lợi mà nhiều lúc vẫn sẽ bị ảnh hưởng, vậy nên tôi sẽ đi sâu vào phân tích đề tài: “Phân tích các trường hợp làm ảnh hưởng đến hiệu lực của quy phạm xung đột” để hiểu rõ hơn về vấn đề này.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ
.………
BÀI TẬP HỌC KỲ
MÔN: TƯ PHÁP QUỐC TẾ
ĐỀ SỐ : 05 PHÂN TÍCH CÁC TRƯỜNG HỢP LÀM ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU LỰC CỦA QUY PHẠM
XUNG ĐỘT
Trang 2lý có hai hay nhiều hệ thống pháp luật cùng tham giavào điều chỉnh một quan hệ tư pháp quốc tế mà nộidung điều chỉnh trong mỗi hệ thống pháp luật khácnhau Hiệu lực của quy phạm xung đột không hoàntoàn sẽ thuận lợi mà nhiều lúc vẫn sẽ bị ảnh hưởng,
vậy nên tôi sẽ đi sâu vào phân tích đề tài: “Phân tích
các trường hợp làm ảnh hưởng đến hiệu lực của quy phạm xung đột” để hiểu rõ hơn về vấn đề này.
Trang 3NỘI DUNG
I KHÁI QUÁT VẤN ĐỀ
1.Xung đột pháp luật
a.Khái niệm xung đột pháp luật
Xung đột pháp luật là hiện tượng có hai hay nhiều hệthống pháp luật cùng điều chỉnh một quan hệ tư phápquốc tế cụ thể, do có sự khác nhau giữa pháp luật củacác quốc gia hoặc do tính chất đặc thù của chính đốitượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế
b.Nguyên nhân xung đột pháp luật
Xung đột pháp luật thường phát sinh do các nguyênnhân, cụ thể:
- Do pháp luật các nước quy định khác nhau trong
giải quyết một quan hệ tư pháp Quốc tế cụ thể
- Do đặc điểm về quan hệ xã hội thuộc tư pháp
Quốc tế đều điều chỉnh Quan hệ do tư pháp Quốc
tế điều chỉnh luôn có yếu tố nước ngoài tham gia
Trang 4và luôn liên quan đế ít nhất là hai hệ thống phápluật
- Ngoài ra, xung đột pháp luật còn phát sinh từ các
nguyên nhân khác như do cách áp dụng và giảithích pháp luật của các nước có sự khác nhau
2.Quy phạm xung đột
a.Khái niệm quy phạm xung đột
Quy phạm xung đột là quy phạm đặc thù quy định
hệ thống pháp luật một nước sẽ được áp dụng để điềuchỉnh một quan hệ tư pháp quốc tế nhất định, là quyphạm ấn định luật pháp nước nào cần áp dụng để giảiquyết các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài mỗikhi có sự kiện pháp lý phát sinh cụ thể Quy phạmpháp luật xung đột được quy định trong hệ thốngpháp luật Việt Nam là những quy định mang tính đặcthù điều chỉnh các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng cóyếu tố nước ngoài và quan hệ tố tụng dân sự quốc tếđược áp dụng tại Việt Nam để giải quyết các tranhchấp và vụ việc dân sự
Trang 5Từ khái niệm trên, ta có thể thấy:
các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài đangphát sinh mà các quy phạm này chỉ quy định việcchọn pháp luật nước này hay nước khác để điềuchỉnh các quan hệ có yếu tố nước ngoài Việcchọn luật không phải là tự do tùy tiện lựa chọn hệthống pháp luật nào để áp dụng mà phải dựa trênnhững nguyên tắc nhất định
Khi quy phạm xung đột dẫn chiếu đến hệ thốngpháp luật áp cụ thể và các quy phạm thực chấttrong hệ thống pháp luật đó để giải quyết quan
hệ dân sự phát sinh, đó chính là tính chất “songhành”giữa quy phạm thực chất và quy phạmxung đột trong điều chỉnh pháp luật
b.Cơ cấu quy phạm xung đột
Cơ cấu quy phạm xung đột bao gồm phạm vi và hệthuộc, cụ thể:
Trang 6- Phần phạm vi là phần quy định quy phạm xungđột này được áp dụng cho loại quan hệ dân sự cóyếu tố nước ngoài nào: hôn nhân, thừa kế, hợpđồng…
- Phần hệ thuộc là phần quy định chỉ ra luật phápnước nào được áp dụng để giải quyết quan hệpháp luật đã ghi ở phần phạm vi
c Đặc điểm quy phạm xung đột
Đặc điểm về đặc tính của quy phạm xung đột, gồm:
không đưa ra các chế tài hay phương án để giảiquyết các sự việc, mà nó chỉ là một kênh luật trunggian, chỉ định, chọn lựa luật pháp của một nước cụthể giải quyết nên cấu trúc khá phức tạp, mangtính trừu tượng cao
- Tính điều chỉnh gián tiếp: Tính điều chỉnh gián tiếpthể hiện ở chỗ quy phạm xung đột sẽ làm nhiệm
vụ dẫn chiếu để tìm ra phương án giải quyết cácquan hệ phát sinh Quy phạm xung đột luôn mang
Trang 7tính dẫn chiếu, khi quy phạm xung đột dẫn chiếutới một hệ thống pháp luật cụ thể mà các quyphạm thực chất được áp dụng để giải quyết quan
hệ một các dứt điểm thì ở đây ta lại thấy tính chấtsong hành giữa quy phạm thực chất với quy phạmxung đột trong điều chỉnh pháp luật
Ngoài ra, đặc điểm của quy phạm xung đột về phầncấu trúc bao gồm hai bộ phận: phần phạm vi và phần
hệ thuộc, cụ thể:
được áp dụng cho loại quan hệ dân sự có yếu tốnước ngoài trong các lĩnh vực như: Tranh chấp dân
sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại,lao động và việc dân sự về các yêu cầu dân sự,hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, laođộng
nước nào được áp dụng để giải quyết quan hệ phápluật đã ghi ở phần phạm vi
Trang 8d.Phân loại quy phạm xung đột
ra quan hệ dân sự này chỉ áp dụng luật pháp củamột nước cụ thể
- Quy phạm xung đột hai bên (hai chiều) đây lànhững quy phạm đề ra nguyên tắc chung để cơquan tư pháp có thẩm quyền lựa chọn áp dụng luậtcủa một nước nào đó để điều chỉnh đối với quan hệtương ứng
thành quy phạm xung đột thống nhất và quy phạmxung đột trong nước
e.Hiệu lực quy phạm xung đột
hiệu lực từ khi phát sinh đến khi chấm dứt quan hệdân sự của pháp luật đó
- Hiệu lực của quy phạm xung đột về khônggian: thường có hiệu lực trên toàn bộ lãnh thổ quốcgia
Trang 9- Hiệu lực của quy phạm xung đột về áp dụng quy
phạm xung đột: có nghĩa là thừa nhận pháp luật
nước ngoài có thể áp dụng được để điều chỉnh cácquan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nướcngoài trong những trường hợp nhất định Tuy nhiênphạm vi cho phép áp dụng pháp luật nước ngoàiphải dựa trên cơ sở chủ quyền quốc gia và bìnhđẳng chủ quyền giữa các quốc gia đồng thời đảmbảo hậu quả của việc áp dụng không trái với nhữngnguyên tắc cơ bản của pháp luật nước mình
Việc áp dụng các quy phạm pháp luật xung đột tạiViệt Nam được quy định cụ thể trong các văn bảnpháp luật Cụ thể Điều 664 Bộ luật Dân sự 2015 quyđịnh về thứ tự ưu tiên áp dụng các quy phạm dẫnchiếu: Đầu tiên là theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc luật ViệtNam, thứ hai là trong trường hợp pháp luật hoặc điềuước quốc tế quy định các bên có quyền lựa chọn thìpháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố
Trang 10nước ngoài được xác định theo lựa chọn của các bên,cuối cùng là pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bónhất với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài đó.
Hiệu lực của các quy phạm xung đột được dẫn chiếuđến của pháp luật nước ngoài sẽ được áp dụng tại ViệtNam trừ trường hợp được quy định tại Điều 670 Bộluật dân sự 2015:
“1 Pháp luật nước ngoài được dẫn chiếu đến không được áp dụng trong trường hợp sau đây:
a) Hậu quả của việc áp dụng pháp luật nước ngoài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam; b) Nội dung của pháp luật nước ngoài không xác định được mặc dù đã áp dụng các biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật tố tụng.
2 Trường hợp pháp luật nước ngoài không được áp dụng theo quy định tại khoản 1 Điều này thì pháp luật Việt Nam được áp dụng.”
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Trang 111.Các trường hợp làm ảnh hưởng đến hiệu lực của quy phạm xung đột
thứ ba
- Bảo lưu trật tự công
Trang 12pháp luật của một nước thứ ba (nước C – dẫn chiếucấp độ 2).
Theo tư pháp quốc tế Việt Nam dẫn chiếu ngược làdẫn chiếu toàn bộ hệ thống pháp luật nước đó kể cảluật thực chất và luật xung đột thì có nghĩa là chấpnhận dẫn chiếu ngược trở lại cũng như dẫn chiếu đếnpháp luật nước thứ ba Trường hợp pháp luật nước đódẫn chiếu ngược trở lại pháp luật Việt Nam thì ápdụng pháp luật Việt Nam
Quy phạm xung đột có hai bộ phận cấu thành: phầnphạm vi và phần hệ thuộc Hiện tượng dẫn chiếu xuấthiện là do một số nguyên nhân sau: Hiện tượng dẫnchiếu xuất hiện khi một vấn đề pháp lý thuộc phầnphạm vi của hai quy phạm xung đột của hai nước cóphần hệ thuộc khác nhau hay là do có sự quy địnhkhác nhau trong các quy phạm xung đột của các nước
về nguyên tắc chọn luật áp dụng cho cùng một vấn đềpháp lý
Trang 13- Hệ quả của việc dẫn chiếu:
Trong khoa học Tư pháp quốc tế vấn đề dẫn chiếu đếnpháp luật nước ngoài hiện nay có hai quan điểm:
Đầu tiên, nếu hiểu dẫn chiếu đến pháp luật nước
ngoài là dẫn chiếu chỉ đến quy phạm pháp luật thựcchất của nước đó thì sẽ loại trừ vấn đề dẫn chiếungược Nói cách khác là không bao giờ xảy ra dẫnchiếu ngược và luật thực chất của nước được dẫnchiếu đến sẽ được áp dụng
Thứ hai, nếu hiểu dẫn chiếu đến pháp luật nước ngoài
là dẫn chiếu đến toàn bộ hệ thống pháp luật của nươc
đó (kể cả luật thực chất, cả luật xung đột) thì có nghĩa
là sẽ chấp nhận dẫn chiếu ngược trở lại cũng như dẫnchiếu đến pháp luật nước thứ ba
b.Bảo lưu trật tự công
Trật tự công có thể hiểu là tình trạng xã hội của mộtquốc gia trong một thời điểm xác định mà hòa bình ổnđịnh và an toàn công cộng không bị xáo trộn Kháiniệm về “trật tự công” là một thuật ngữ trừu tượng
Trang 14trong pháp luật hầu hết các quốc gia, dưới góc độ tưpháp quốc tế được hiểu là trật tự pháp lý hình thànhtrên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của chế độ xã hội
và pháp luật của một quốc gia Qua đó có thể hiểubảo lưu trật tự công cộng là bảo vệ các nguyên tắc cơbản của chế độ xã hội và pháp luật của một quốc gia.Khi cơ quan có thẩm quyền sử dụng quy phạm xungđột của quốc gia dẫn chiếu đến pháp luật nước ngoàinhưng không áo dụng hệ thống pháp luật nước ngoài
đó hoặc không thừa nhận hiệu lực phán quyết của Tòa
án nước ngoài do phán quyết đó phát sinh hoặc xétthấy việc áp dụng pháp luật trái với nguyên tắc cơbản của pháp luật nhà nước mình nhằm bảo vệ trật tựcông quốc gia Nguyên nhân chính đặt ra vấn đề bảolưu trật tự công cộng trong tư pháp quốc tế đó là việc
sử dụng quy phạm xung đột và nội dung pháp luật cácnước có quy định khác nhau về cùng một vấn đề haychính xác là việc bảo vệ trật tự công ở mỗi quốc gia làkhác nhau Tư pháp quốc tế điều chỉnh những quan hệ
Trang 15dân sự có yếu tố nước ngoài, dẫn đến việc có thể sửdụng pháp luật nước ngoài để giải quyết vụ việc Cácquy phạm xung đột chỉ đưa ra những nguyên tắcchung để chọn luật áp dụng giữa những hệ thốngpháp luật liên quan mà không trực tiếp quy định cáchgiải quyết vụ việc Việc lựa chọn này hoàn toàn kháchquan, mang tính chất dẫn chiếu và điều chỉnh giántiếp, dẫn đến việc cơ quan có thẩm quyền khi đượcdẫn chiễu áp dụng luật nước ngoài, hoặc các nguồnluật quốc tế nhưng lại không lường trước được nộidung của quy định đó Trường hợp pháp luật nướcngoài có quy định trái với trật tự công của quốc giamình thì khi đó phải “bảo lưu trật tự công cộng”.
Theo quy tắc bảo lưu trật tự công trong pháp luật cácnước trên thế giới thì luật nước ngoài sẽ bị gạt bỏkhông áp dụng nếu việc áp dụng đó dẫn đến hậu quảxấu, có hại hoặc mâu thuẫn với những nguyên tắc cơbản của chế độ xã hội cũng như pháp luật của nhànước mình Khi bảo lưu trật tự công cộng, luật nước
Trang 16ngoài sẽ bị gạt bỏ không được áp dụng Do đó, hiệu
lực của quy phạm xung đột sẽ bị triệt tiêu Quy phạm
xung đột dẫn chiếu tới hệ thống pháp luật nước ngoài,nhưng luật nước ngoài không được áp dụng bởi nó tráivới trật tự công thì việc dẫn chiếu đó là vô nghĩa, haychính là việc chọn một hệ thống pháp luật không ápdụng được trên thực tế Điều đó làm quy phạm xungđột mất hiệu lực
Hệ quả của bảo lưu trật tự công, gồm:
Hệ quả pháp lý là cơ quan có thẩm quyền khi viện dẫnbảo lưu trật tự công sẽ từ chối không áp dụng phápluật nước ngoài theo sự dẫn chiếu của quy phạm xungđột mà sẽ áp dụng luật Tòa án để giải quyết hiệu lựccủa quy phạm xung đột khi dẫn chiếu tới luật nướccần áp dụng bị hạn chế bởi việc bảo lưu trật tự côngcộng
- Hệ quả tích cực:
Trang 17Hệ quả tích cực của bảo lưu trật tự công là cơ quan tàiphán sẽ không áp dụng pháp luật nước ngoài lẽ raphải được áp dụng theo sự dẫn chiếu của quy phạmxung đột mà áp dụng nội luật của mình trong tìnhhuống pháp lý cụ thể Nói cách khác là trong trườnghợp xét thấy cần bảo vệ trật tự công quốc gia thì sẽ
áp dụng ngay pháp luật của quốc gia để giải quyết màkhông cần thông qua quy phạm xung đột
- Hệ quả tiêu cực:
Hệ quả tiêu cực ở đây là trường hợp pháp luật nước
ngoài có thể áp dụng nhưng hậu quả của việc áp dụng
đó ảnh hưởng đến trật tự công quốc gia
c Vấn đề có đi có lại trong việc áp dụng pháp luật nước ngoài
Trong tư pháp quốc tế các nước thì phần lớn đềuthừa nhận việc thi hành các quy phạm xung độtkhông bị hạn chế bởi các quy định của nguyên tắc có
đi có lại Có nghĩa là cơ quan tư pháp hoặc cơ quannhà nước có thẩm quyền nào đó vận dụng luật nước
Trang 18ngoài để giải quyết vụ việc sẽ không cần thiết phảixem xét là ở nước ngoài đó có áp dụng luật pháp củanước kia không Nguyên tắc có đi có lại được ghi nhậntrong luật pháp của đa số các nước trên thế giới cũngnhư được thể hiện trong rất nhiều điều ước quốc tế Việc áp dụng luật nước ngoài là nhu cầu tất yếu kháchquan để giải quyết các quan hệ dân sự quốc tế trong
sự phối kết hợp của hai hoặc nhiều hệ thống pháp luật
mà tất cả đều thừa nhận là giữa các hệ thống phápluật đó đều bình đẳng đối với nhau Nguyên tắc nàyxuất phát từ nguyên tắc thiện chí giữa các quốc giatrong quan hệ quốc tế Toà án khi giải quyết các vụdân sự quốc tế, dựa trên các quay phạm xung đột đểcho phép áp dụng luật nước ngoài là để bảo vệ quyềnlợi của quyền lợi chính đáng của các bên đương sự vàcũng không phương hại đến chủ quyền quốc gia,ngoài ra còn tăng thêm sự hợp tác quốc tế Nguyêntắc có đi có lại trong pháp luật Việt Nam được thể hiệntrong Bộ luật Tố tụng dân sự quy định chỉ áp dụng các
Trang 19bản án của nước ngoài đối với những nước có kí Hiệpđịnh TTTP với Việt Nam, trong đó có quy định về vấn
đề công nhận và thi hành bản án, quyết định dân sựcủa mỗi nước
Trang 20KẾT LUẬN
Ta có thể thấy, quy phạm xung đột là một tronghai phương pháp điều chỉnh của Tư pháp quốc tế màkhái niệm, đặc điểm, phân loại và hiệu lực cũng nhưcác trường hợp làm ảnh hưởng đến hiệu lực của quyphạm xung đột theo quy định của pháp luật Việt Namđược ghi nhận cụ thể như trên bài đã phân tích Tómlại, do điều kiện khách quan, ngay từ đầu tư phápquốc tế Việt Nam đã theo đuổi mô hình không banhành đạo luật tư pháp quốc tế riêng mà quy định cácquy phạm xung đột trong nhiều văn bản pháp luật, với
vị trí trung tâm là Bộ luật dân sự Các dấu hiệu lậppháp gần đây cho thấy mô hình này sẽ tiếp tục đượcduy trì trong giai đoạn sắp tới khi các điều kiện để banhành đạo luật tư pháp quốc tế vẫn chưa xuất hiện đầy
đủ Do đó, việc hoàn thiện hệ thống quy phạm xungđột của Bộ luật Dân sự năm 2015 là một nhiệm vụtrọng tâm của hoạt động lập pháp Việt Nam nhằm
Trang 21tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật phục vụ choquá trình hội nhập quốc tế trong giai đoạn sắp tới.
Trang 22DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1.Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
2.Bộ luật Dân sự 2005;
3.Bộ luật Dân sự năm 2015;
4.Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
5.Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Tư pháp
quốc tế, Nxb CAND, Hà Nội, 2015;
6.Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Tư pháp
quốc tế, Nxb Tư Pháp, Hà Nội, 2019;