Sakichi, một nhà phát minh đa tài, đã tạo ra công ty Toyoda Automatic Loom dựa vào những thiết kế sáng tạo của mình và một trong số đó đã được bán cho một người Anh với giá 1 triệu yen..
Trang 1- -ĐỀ TÀI
Phân tích tài chính công ty Toyota năm
2009
Giáo viên hướng dẫn :
- -
Trang 4PHẦN I TỔNG QUAN VỀ TOYOTA
I Giới thiệu chung về Toyota
Toyota là một trong những hãng xe lớn nhất thế giới được thành lập vào ngày 28 tháng 8 năm 1937 Sakichi, một nhà phát minh đa tài, đã tạo ra công ty Toyoda Automatic Loom dựa vào những thiết kế sáng tạo của mình và một trong số đó đã được bán cho một người Anh với giá 1 triệu yen Số tiền này giúp ông có vốn thành lập công ty ô tô Toyota Cho tới năm 2009, số vốn hiện có của công ty là 397,05 tỉ yen Với tổng số công nhân lên tới hơn 320 nghìn người Toyota
có rất nhiều công ty con, chi nhánh trên toàn thế giới
Hoạt động chủ yếu của công ty là thiết kế, nắp ráp và bán các loại xe hơi, xe đua, xe tải, xe chuyên chở và các loại phụ tùng liên quan CÁc sản phẩm của Toyota có giá cả và mẫu mã phong phú Công ty cũng đã cho ra mắt các phương tiện chạy bằng khí ga điện và động cơ Sản phẩm của tập đoàn
II Lịch sử hoạt động của Toyota
1 Thời kỳ đầu
Hoạt động sản xuất ô tô của Toyoda do Kiichiro Toyoda, con trai của Sakichi Toyoda phụ trách Lúc đầu, họ nghiên cứu thử nghiệm động cơ 2 xylanh nhưng cuối cùng lại sử dụng mẫu động cơ 65 mã lực của Chevrolet, chassis và hộp số giống của chiếc Chrysler Airflow Động cơ đầu tiên của hãng được sản xuất năm 1934 (Type A), chiếc ô tô và xe tải đầu tiên vào năm 1935 (mẫu A1 và G1) và mẫu thiết kế ô tô thứ 2 vào năm 1936 (mẫu AA) Năm 1937, công ty ô tô Toyota được tách ra Từ năm 1936 đến 1943, công ty chỉ sản xuất 1757 xe ô tô, trong đó có 1404 chiếc sedan và 353 chiếc xe ngựa (mẫu AB) Tuy nhiên, Toyota lại thành công hơn trong lĩnh vực sản xuất xetải và xe bus Chiếc xe tải đầu tiên của Toyota có thiết kế 1,5 tấn và sử dụng động cơ 6 xylanh giống với phiên bản của động cơ Chevrolet cùng thời Thật ra, nhiều bộ phận của xe có thể đổi qua lại và chiếc những chiếc xe tải của Toyota bị thu giữ trong chiến trang được phe Đồng minh thay thế các bộ phận của Chevrolet vào sử dụng Cũng có phiên bản động cơ 4 xylanh 40 mã lực rất giống với thiết kế của động cơ 6 xylanh, nhưng nó có vẻ hơi yếu cho một chiếc xe tải khi chở đủ tải
Trang 5mã lực được ra đời ngay sau đó Đến năm 1955, Toyota đã sản xuất được 8400 xe mỗi năm và con
số này tăng lên 600.000 xe trong năm 1965
Ngoài những mẫu xe này, Toyota còn bắt đầu sản xuất một mẫu xe tải cho dân thường với tên gọi Land Cruiser Những chiếc Land Cruiser đầu tiên có thiết kế giống chiếc Jeep Chúng sử dụng động cơ lớn hơn chiếc Jeep và có kích cỡ cũng như thông số giống một chiếc xe chở vũ khí của Dodge
Năm 1955, Toyota bắt đầu sản xuất chiếc xe sang trọng đầu tiên của mình Đó chính là chiếc Crown Năm 1955, chỉ có 700 xe được sản xuất mỗi tháng, nhưng con số này nhanh chóng tăng lên 11.750 xe năm 1958 và 50.000 xe năm 1964
Trang 6Sản phẩm được “Mỹ hóa” đầu tiên của Toyota là chiếc Tiara, hay thường được biết đến với cái tên Toyota Corona PT20, ra đời năm 1964 Đến năm 1969, Toyota trở thành hãng không phải của Mỹ lớn thứ 47 trên thế giới (trong thời gian này, Toyota trở thành công ty lớn thứ 6 tại Nhật và là nhà sản xuất ô tô lớn thứ 10 trên thế giới)
Đến năm 1967, Toyota đã phát triển bền vững tại Mỹ và chiếc Corona sedan 4 cửa của hãng là đối thủ chính của chiếc Volkswagen Bettle Ngay từ đầu, Corona đã nổi tiếng là một chiếc
xe có chất lượng và giá thành rẻ, tuy nhiên đến cuối những năm 1970, xe gặp vấn đề nghiêm trọng
là bị han rỉ Năm 1967, Toyota giới thiệu một mẫu xe mới khác đến thị trường Mỹ, chiếc Crown, với phiên bản wagon và sedan Điểm bất thường của chiếc Crown là đai an toàn 3 điểm và ghế ngồi không thoải mái Điểm mạnh của Crown là hoạt động êm ái và nội thất yên tĩnh
Ngay sau đó, Toyota mang đến thị trường Mỹ chiếc xe 2000GT danh tiếng có ngoại hình giống những chiếc xe thể thao của Anh với mui xe lớn và gần như không có cabin hay cốp xe Nó
đã lập được 16 kỷ lục thế giới về tốc độ và độ bền
4 Từ 1971-1990
Mặc dù Toyota sản xuất những chiếc xe sang trọng với chất lượng tốt nhưng doanh số của Cressida và Crown không được như mong muốn đặc biệt là khi so với doanh số của Corolla và Camry Trong những năm 1980, khiToyota nghiêm túc phân tích doanh số thấp trong phân khúc xe sang trọng của mình thì Cadillac lại đánh mất hình ảnh của mình với động cơ 4-6-8 và chiếc Cimarron, bản sao của chiếc Cavalier Ngoài ra, thị phần của Chrysler giảm sút, chất lượng của xe Mercedes khá tệ và Audi đang đối mặt với những thất bại liên tục Toyota nhận ra đã đến lúc tạo dựng một thương hiệu xe sang trọng của riêng mình để có đủ sức cạnh tranh với các đối thủ khác (General Motor có không dưới 5 thương hiệu hướng đến 5 thị trường khác nhau; Ford và Chrysler mỗi hãng đều có 3 thương hiệu)
Đầu những năm 1980, kế hoạch F1 được thành lập trong đó có 1400 kỹ sư, 2300 kỹ thuật viên, 60 nhà thiết kế và 220 người hỗ trợ dưới sự lãnh đạo của Shoiji Jimbo và Ichiro Suzuki Chiến lược nghiên cứu thị trường cho tên gọi Lexus tại thị trường Mỹ được bắt đầu năm 1985 Tháng 6/1985, mẫu prototype đầu tiên xuất hiện năm 1986, các cuộc thử nghiệm được diễn ra trên đường phố Mỹ và Đức Cuối cùng, năm 1987, thiết kế sau cùng cũng được thông qua sau 8 buổi
Trang 7thuyết trình với ban quản lý LS400, chiếc Lexus đầu tiên cuối cùng cũng xuất hiện vào năm 1989 Chiếc xe ngay lập tức tạo được tiếng vang nhờ sự sang trọng ổn định và có giá thành rẻ hơn những chiếc Mercedes Sự cạnh tranh kém của các hãng sản xuất ô tô vào lúc đó cũng giúp Lexus đạt được thành công Từ đó đến nay, Lexus luôn là một trong những nhà sản xuất xe sang trọng hàng đầu của thế giới
5 Giai đoạn hiện nay.
Thương hiệu Scion được thành lập vào đầu năm 2000 với 3 mẫu xe được phát triển trên nền chiếc Echo cũ Scion nhanh chóng đạt được doanh số rất cao ngay khi xuất hiện Điều này dẫn đến việc giới thiệu rộng rãi Scion trên toàn nước Mỹ Mặc dù Scion không thu hút nhiều giới trẻ như Toyota mong đợi, nhưng nó cũng mang đến một bộ phận khác hàng trẻ để lắp vào chỗ trống trong phân khúc thị trường do Toyota và Lexus để lại
Ngoài ra, Toyota còn tham gia vào các hoạt động cộng đồng, tải trợ giáo dục và các chương trình văn hóa cũng như các nghiên cứu
Năm 2009 Toyota là nhà sản xuất ôtô lớn hàng đầu thế giới cả về doanh số và doanh thu Cũng cần lưu ý rằng trong khi các nhà sản xuất ô tô của Đức có xe hướng sử dụng ký tự và số còn các nhà sản xuất xe Mỹ thì bỏ luôn tên thì Toyota vẫn sử dụng tên cũ của xe khi nó vẫn thành công
và không bao giờ đặt tên không phù hợp với xe
Phần II PHÂN TÍCH CƠ BẢN VỀ CÔNG TY TOYOTA
I PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC VỀ CÔNG TY TOYOTA
1 Mức độ cạnh tranh giữa các công ty hiện hữu (hạnh rè)
1.1 Tốc độ tăng trưởng ngành
1.2 Sự tập trung
Hiện nay, trên thị trường xe thế giới, Toyota phải đương đầu với rất nhiều đối thủ(các hãng xe khác nhau) Đơn cử tại thị trường Việt Nam Hiện nay, tại Việt Nam có 17 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được cấp giấy phép hoạt động trong đó có 12 doanh nghiệp đang hoạt động với
Trang 8tổng năng lực sản xuất đạt 1.500.000 xe/năm như: Honda, GM Dawoo, Huyndai, Nissan v.v Trong khi đó, trong nước cũng có 47 doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực sản xuất và lắp ráp ô tô như: Tổng công ty Công nghiệp ô tô Việt Nam, Tổng công ty máy động lực và máy nông nghiệp
Có thể nói, mật độ tập trung các hãng xe và các ngành nghề liên quan trong ngành là khá đông đảo
1.3 Phân biệt sản phẩm
Toyota cho rằng chất lượng là điều sống còn, việc duy trì và nâng cao chất lượng được coi là trách nhiệm quan trọng nhất của công ty đối với khách hàng và xã hội Triết lý cơ bản của công ty là cung cấp các sản phẩm sạch, an toàn và chất lượng Các sản phẩm của công ty luôn được nghiên cứu sao cho luôn thân thiện với môi trường, đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng Toyota là hãng
xe đầu tiên cho phát triển túi khí trung tâm sau chỗ ngồi cuả thế giới Công ty liên tục cho ra những mẫu xe mới, áp dụng những công nghệ mới nhất với kiểu dáng và mẫu mã đa dạng, các chứng năng của sản phẩm cũng hoàn toàn ưu việt, không hề thua kém các hang xe nổi tiếng khác trên thế giới
1.4 Chi phí chuyển đổi
Toyota phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt trên các thị trường mà nó cung cấp Toyota tin rằng nó có thể cung cấp các sản phẩm có chất lượng cao nhất không gì sánh được cả về chất lượng, công nghệ và giá cả Tuy nhiên, Toyota có thể không có khả năng duy trì hay mở rộng thị phần trước những đối thủ có chi phí thấp như KIA, Nissan… Điều này có thể gây ra các tác động tiêu cực đến điều kiện tài chính và kết quả kinh doanh của công ty
BẢNG GIÁ CỦA TOYOTA (có hiệu lực từ ngày 1/1/2010)
(đã bao gồm thuế VAT)
(triệu đồng)
Giá mới (triệu đồng) Mức tăng
(triệu đồng)
Tỷ lệ thay đổi (%)
Trang 9Camry 3.5 Q 1.272,8 1.333,9 61,1 4.80Camry 2.4 G 923,2 967,6 44,4 4,81Corolla 2.0 AT 697,5 730,8 33,3 4,77Corolla 1.8 AT 642 673,4 31,4 4,89Corolla 1.8 MT 603,1 632,7 29,6 4,91Vios 1.5 G 506,9 531 24,1 4,75Vios 1.5 E 464.,4 486,6 22,2 4,78Vios limo 438,5 458,8 20,3 4,63Innova V 667,9 699,3 31,4 4,70
-Innova G 603,1 632,7 29,6 4,91Innova J 540,2 566,1 25,9 4,79Fortuner V 847,3 889,9 42,6 5,03Fortuner G 708,6 743,7 35,1 4,95Land Cruiser 200 2.312,5 2.371,7 59,2 2,56Hilux G 4x4 599,4 629 29,6 4,94
BẢNG GIÁ HONDA(có hiệu lực từ ngày 1/1/2010)
(đã bao gồm thuế VAT)
Mẫu xe Giá trước thuế VAT Gía sau thuế
Trang 10Ngày 29/1/2010 Toyota đã phải thu hồi hàng triệu ô tô trong đó có khoảng 1,8 triệu chiếc ở Châu
Âu Các loại xe thu hồi gồm: RAV4, Corolla, Yaris, Auris, Avensis, Verso Theo ước tính tổng số
ô tô của Toyota thu hồi trên toàn thế giới lên tới 8 triệu chiếc Thêm vào đó công ty cũng dự kiến ngừng sản xuất 5 nhà máy ở Bắc Mỹ trong vòng 1 tuần bắt đần từ 1/2 tới vì đây là một điều tốt cho người tiêu dùng Tuy nhiên công ty không dễ gì rời khỏi ngành do công ty đầu tư lớn vào sản xuất hàng triệu ô tô này Bên cạnh đó khách hàng nội địa của Toyota vẫn tin tưởng nhà sản xuất vì những mẫu xe bị thu hồi này không sản xuất ở Nhật BảnVì vậy chủ tịch Toyota đã phải thay mặt công ty xin lỗi người tiêu dùng và thu hồi xe để sửa lại chân ga đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng
Việc thu hồi xe này không những làm cho hãng bị tổn thất mà còn làm lợi cho các đối thủ lớn của hãng trong đó được lợi nhất là Honda vì cả hai đều là nhà sản xuất của Nhật Bản trên đất Mỹ
2 Nguy cơ nhập cuộc của những đối thủ cạnh tranh tiềm tang(hạnh rè)
2.1 Tính kinh tế của quy mô
Tính đến 31 tháng 3 năm 2009 Toyota Indutry có:
Japan Outside
Japan Europe Asia
NorthAmerica
Trang 11-2.2 Lợi thế người dẫn đầu
2.3 Tiếp cận phân phối và mối quan hệ
Sự hạn chế về khả năng sản xuất trong việc mở rộng các kênh phân phối và chi phí cao để phát triển các kênh mới là những rào cản lớn đối với những đối thủ mới Những công ty mới gia nhập ngành ôtô không dễ gì vượt qua được mạng lưới phân phối của những người đi trước Những showroom trưng bày ôtô đòi hỏi không những phải có một vị trí đẹp mà còn phải có diện tích rộng
và được trang trí bắt mắt Ví dụ như showroom của Toyota tại Cần Thơ có tổng diện tích là 5.000m2 với tổng vốn đầu tư lên tới 108 tỉ VNĐ cùng đội ngũ kĩ thuật viên được đào tạo theo tiêu chuẩn Toyota toàn cầu
2.5 Rào cản pháp lý
Tại thị trường Việt Nam, gần đây Chính phủ mà cụ thể là Bộ Tài chính đã đưa ra biểu thuế mới được xây dựng trên cơ sở sửa đổi bổ sung, cập nhập những thay đổi về thuế đã được quy định trong năm 2008 và 2009 Việc ban hành biểu thuế này nhằm thực hiện cắt giảm thuế theo lộ trình
đã cam kết với các mặt hàng trong WTO trong đó đáng chú ý có mặt hàng ô tô nhập khẩu Theo biểu thuế mới thì mức thuế dự kiến cho mặt hàng ô tô đều ở mức trần WTO Việc thay đổi này có thể sẽ tạo cơ hội cho nhiều hãng xe mới gia nhập thị trường Việt Nam đồng nghĩa với điều này sẽ gây ra những bất lợi cho các doanh nghiệp ô tô trong nước khi phải với nhiều đối thủ mới đặc biệt
về giá cả
3 Sự đe dọa của các sản phẩm thay thế: (hoa)
Trang 12Thật ra, không có nhiều sản phẩm thay thế nào được coi là mối đe dọa nghiêm trọng của ô tô bởi tính tiện dụng của chúng Tuy nhiên, có thể kể đến một số sản phẩm thay thế cơ bản cho phương tiện giao thông này như: xe máy, xe đạp, tàu điện ngầm, tàu hỏa, máy bay…
Mối đe dọa của các sản phẩm thay thế này có thể phụ thuộc vào vị trí địa lý của người tiêu dùng
Ví dụ: ở một số thành phố như New York hoặc Chicago, tàu điện ngầm lại là phương tiện giao thông thuận tiện hơn cả Còn ở những vùng, cơ sở hạ tầng chưa phát triển, đường còn hẹp và khó
đi, chưa có khu vực đậu xe an toàn thì sản phẩm thay thế tốt nhất của ô tô có thể là xe đạp hoặc xe máy Mặc dù vậy, hiện nay, ô tô vẫn được coi là một phương tiện giao thông cực kỳ tiện lợi bởi tính ưu việt mà chúng mang lại cho người tiêu dùng, chẳng hạn như: ô tô có thể cho phép chở được số lượng người nhiều hơn xe máy hoặc xe đạp; tàu điện ngầm sẽ khiến người tiêu dùng bị phụ thuộc về thời gian và địa điểm trong khi sử dụng ô tô thì sẽ giúp họ chủ động hơn…
Một mối đe dọa lớn khác có thể kể đến cho các dòng ô tô hiện nay, cụ thể là các dòng ô tô của Toyota, đó là ô tô cũ đã qua sử dụng Với mức giá thấp hơn giá xe ô tô mới rất nhiều, (giá xe Toyota mới nằm trong khoảng từ 15,000 – 66,000 USD) ô tô cũ đã qua sử dụng có thể trở thành lựa chọn của nhiều khách hàng có thu nhập thấp và trung bình Một khi mà tính năng của dòng ô tô
cũ đã qua sử dụng không có điểm gì khác biệt quá lớn với dòng ô tô mới, thì đây có thể được coi
là một sản phẩm thay thế tiềm năng, một mối đe dọa lớn đối với ngành sản xuất ô tô nói chung và đối với công ty Toyota nói riêng Bởi sự sẵn sàng chuyển đổi của khách hàng sang sử dụng dòng ô
tô cũ đã qua sử dụng sẽ tạo nên sức ép giảm giá cho các hãng sản xuất ô tô và điều này sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận và doanh thu của các hãng này
Tuy nhiên, chi phí chuyển đổi từ việc sử dụng ô tô, mà cụ thể là các dòng ô tô của hãng Toyota sang các sản phẩm thay thế khác là khá lớn bởi chi phí cho một chiếc xe ô tô mới là không nhỏ Bởi vậy, mối đe dọa của các sản phẩm thay thế trong ngành này có thể coi là chưa đến mức nghiêm trọng
4 Sức mạnh mặc cả (giangche)
4.1 Sức mạnh mặc cả từ người cung cấp của Toyota.
Trang 13Sức mạnh mặc cả của nhà cung cấp khá là thấp trong ngành công nghiệp ô tô nói chung và Toyota nói riêng Để làm nên một chiếc xe hoàn chỉnh cần rất nhiều bộ phận Ban đầu, khi các công ty ô
tô chưa tự sản xuất được một số linh kiện quan trọng, rất nhiều nhà cung cấp đã đứng ra sản xuất
Và hiện nay, khi có quá nhiều nhà cung cấp trong ngành công nghiệp ô tô, thì chi phí chuyển đổi của người sản xuất giảm xuống tương đối thấp Điều này cũng có nghĩa, nhà cung cấp không có sức mạnh mặc cả cao trong lĩnh vực này
Hơn nữa, chiến lược lựa chọn nhà cung cấp của Toyota khá đặc biệt Toyota luôn áp dụng nguyên tắc: “Đối xử với đối tác và nhà cung cấp như một phần mở rộng công việc kinh doanh của bạn.”Toyota duy trì nguyên tắc hiệp hội Công ty xem các nhà cung cấp như các đối tác làm ăn Mặc dù Toyota đòi hỏi ở các nhà cung cấp khá tỉ mỉ và gắt gao về mặt chất lượng cũng như các thông số
kỹ thuật, tuy nhiên, cũng phải nói rằng, nhà cung cấp nào được Toyota lựa chọn đều coi đó một điều may mắn lớn Vì như thế họ đã khẳng định được độ tín nhiệm của mình trên thị trường sản xuất ô tô Toyota thường đặt hàng hợp đồng dài hạn và ít thay đổi người cung cấp trừ khi xảy ra sai lầm tai họa Ngoài ra thì các nhà cung cấp cũng được Toyota hướng dẫn và cùng phát triển Tất
cả những điều này đã làm sức mặc cả của nhà cung cấp cho Toyota giảm đi đáng kể
4.2 Sức mạnh mặc cả của khách hàng
Chi phí chuyển đổi: Hiện nay trên thị trường ô tô có rất nhiều hãng xe đang cạnh tranh nhau khắt khe Người mua có nhiều cơ hội hơn trong việc lựa chọn chiếc xe riêng cho mình Chi phí chuyển đổi xe ô tô cũng rất thấp, nếu họ thích, chỉ cần bán chiếc xe cũ đi và mua một xe mới là ổn thỏa Ở các nước phát triển như Mỹ, Nhật, các hang xe còn cho khách hàng trả góp, trả chậm để mua ô tô Điều này càng làm chi phí chuyển đổi giảm xuống
Hơn nữa, hiện nay thong tin liên quan tới sản phẩm ô tô của các hang xe khá rõ rang giúp cho người mua kịp thời nắm bắt được các thong tin quan trọng , các thong số kĩ thuật, từ đó họ có thể
so sánh sự ưu việt của các sản phẩm Càng làm sức mặc cả của khách hàng tăng lên
Ngoài ra, chi phí để mua một chiếc ô tô cũng là khá đắt đỏ, do đó, khách hàng thường rất nhạy cảm với giá cả của mặt hàng này