1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Tài liệu Nâng cao các kỹ năng về di truyền, sinh sản và lai tạo giống bò thịt nhiệt đới- chương 26 docx

11 358 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Công nghệ sinh học và cải tiến di truyền trong chăn nuôi bò thịt
Tác giả Michael J. D’Occhio
Thể loại Bài viết khoa học
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thụ tinh nhân tạo Kỹ thuật này đã được áp dụng trong chăn nuôi bò hơn 50 năm qua nhưng việc sử dụng kỹ thuật này trong chăn nuôi bò thịt còn hạn chế.. Các kỹ thuật cơ bản của thụ tinh n

Trang 1

Công nghệ sinh học và Cải tiến di truyền

trong chăn nuôi bòthịt

Michael J D’Occhio

1.0 Mở đầu

Không còn nghi ngờ gì nữa, việc cải tiến di

truyền trong chăn nuôi bò thịt trong tương

lai sẽ sử dụng nhiều đến công nghệ sinh

học trong sinh sản Thách thức của các nhà

nghiên cứu công nghệ sinh sản, di truyền

và tạo giống động vật là tìm ra công nghệ

thích hợp nhằm nhất đạt được mục tiêu của

các chương trình cải tiến di truyền Việc

quyết định sử dụng công nghệ nào là do

các mục tiêu về di truyền và lai tạo, chi phí

của công nghệ, khía cạnh thực tế của công

nghệ, lợi ích di truyền mang lại, các cải

tiến năng suất và chất lượng các sản phẩm

mong đợi từ việc sử dụng công nghệ này,

các cơ hội nhằm nâng cao lợi nhuận và

tính ổn định khi sử dụng công nghệ này

quyết định Nhiều công nghệ sinh học

trong sinh sản là thực hiện trong phòng thí

nghiệm và đòi hỏi phải có các thiết bị phức

tạp và thường rất đắt tiền Công nghệ sinh

học trong sinh sản cũng đòi hỏi người

thực hiện phải có kỹ năng cao Bởi vì giá

thực tế phải trả thường lớn hơn lợi nhuận

vì vậy áp dụng bất cứ công nghệ sinh học

nào trong sinh sản để cải tiến di truyền đều

phải rất thận trọng

Mục đích của bài viết này là cung cấp một

cái nhìn tổng thể trong việc thiết lập, sử

dụng những công nghệ sinh học trong sinh

sản có tiềm năng áp dụng này trong cải

tiến di truyền và nhân giống bò thịt

2.0 Thụ tinh nhân tạo

Kỹ thuật này đã được áp dụng trong chăn

nuôi bò hơn 50 năm qua nhưng việc sử

dụng kỹ thuật này trong chăn nuôi bò thịt

còn hạn chế Cho đến nay một trong những

nguyên nhân mà thụ tinh nhân tạo còn ít

được chấp nhận trong chăn nuôi bò thịt do

còn thiếu những thông tin về chất lượng di

truyền cá thể đực giống Trong 5 năm qua

trên thế giới đã có nhiều chương trình đánh

giá giá trị di truyền và chọn lọc trong chăn

nuôi bò thịt nhiều bò đực có giá trị di

truyền ưu tú đã được xác định Trong tương

lai người ta sẽ sử dụng thụ tinh nhân tạo

nhiều hơn nhằm cải tiến di truyền trong

chăn nuôi bò thịt Thêm nữa, thụ tinh nhân

tạo là kỹ thuật hữu ích trong chương trình

lai tạo ở đây thông tin di truyền chính xác của các cá thể có thể không quá quan trọng trong giai đoạn đầu của chương trình lai tạo Các kỹ thuật cơ bản của thụ tinh nhân tạo đã được thiết lập một cách hoàn thiện

và tinh dịch bảo quản ở nhiệt độ thấp có thể phân phối dễ dàng trên phạm vi toàn cầu Như vậy, người ta hy vọng rằng thụ tinh nhân tạo sẽ là một áp dụng quan trọng trong chương trình cải tiến di truyền trên toàn cầu

Một nguyên nhân khác dẫn đến việc ít sử dụng thụ tinh nhân tạo trong chăn nuôi bò thịt là có khoảng 70% bò thịt trên thế giới

được nuôi trong điều kiện quảng canh

Điều này làm cho việc quản lý đàn bò trong chương trình thụ tinh nhân tạo thường là khó khăn và tốn kém Chi phí cho chương trình bao gồm cả việc sử dụng thuốc kích dục tố gây động dục đồng loạt cho bò cái tơ và bò sinh sản vì nó là một phần của chương trình thụ tinh nhân tạo Hàng loạt các liệu trình gây động dục

đồng loạt đã được sử dụng, chi tiết sẽ được

đề cập trong bài viết này Nguời ta dự đoán rằng thụ tinh nhân tạo sẽ dần dần được sử dụng nhiều hơn trong các chương trình cải tiến di truyền giống bò thịt

3.0 Siêu bài noãn và cấy truyền hợp tử

Siêu bài noãn và cấy truyền hợp tử đôi khi cũng được sử dụng trong chăn nuôi bò Do

có một vài nguyên nhân tương tự như thụ tinh nhân tạo mà kỹ thuật này cũng chậm

được áp dụng trong chăn nuôi bò thịt Tuy nhiên, sử dụng kỹ thuật siêu bài noãn và cấy truyền hợp tử để cải tiến di truyền trong chăn nuôi bò thịt có thể sẽ làm tăng lượng thông tin hiện có về giá trị di truyền của cá thể bò cái và bò tơ

4.0 Thu trứng truởng thành qua âm

đạo

Kỹ thuật này ngày nay đang được sử dụng trong chăn nuôi bò thịt để thu trứng chưa thụ tinh và cho phát triển, thụ tinh ở môi trường nhân tạo (vitro fertilization - IVF)

đây làmột sự lựa chọn khác so với kỹ thuật cấy truyền phôi cổ điển Để lấy đuợc những trứng này người ta sử dụng máy siêu

âm để phát hiện những tế bào trứng và sử

Trang 2

dụng kim tiêm chuyên dùng (xem hình 1

và 2) để hút dịch nang trứng Hút dịch

nang trứng thường đi liền với việc thu được

các trứng nằm trong nang trứng Tế bào

trứng thu được sau đó được cho thụ tinh

trong phòng thí nghiệm nhờ phương pháp

thụ tinh trong ống nghiệm (vitro

fertilization - IVF) Các hợp tử sau khi

được thụ tinh sẽ được bảo quản giống như

bảo quản các phôi trong kỹ thuật cấy

truyền phôi thông thường

Thiết bị hút

Bộ phận

điều khiển

Thiết bị hút

Bộ phận

điều khiển

Bộ phận rửa

tự động

Hình 1: Ví dụ về kim hút Lumen đơn

(bên trái) và Lumen đôi (bên phải)

dùng để lấy tế bào trứng Kim này

nối với xi lanh hút tạo ra áp lực âm

khi kim vào nang trứng (hình 2) Khi

xi lanh hoạt động dịch của nang

trứng được hút ra từ nang trứng và

thường dẫn đến việc thu được trứng.

2

Trang 3

Hình 2: Có thể nhìn thấy được từng nang

trứng (có cấu trúc màu đen) thông qua sử

dụng kỹ thuật siêu âm và cho phép dịch

chuyển chúng bằng kim hút dịch nang

trứng Hai nang trứng ở phía trên bên phải

đã được hút ra không thể nhìn thấy ở hình

phía dưới ở hình dưới là kim hút nằm ở

trung tâm lớn của nang trứng, đang chuẩn

bị hút trứng

Thuận lợi của phương pháp này so với

phương pháp cấy phôi là có thể lặp lại

trong khoảng 5-7 ngày Khoảng 5-10 tế

bào trứng có thể được phát hiện và thu

được mỗi lần Hiện nay hiệu quả của kỹ

thuật thụ tinh trong ống nghiệm cho kết

quả một bò chửa trong một tuần Vì vậy

trong một năm có khoảng 50 bê sinh ra từ

những bò tơ và bò sinh sản có tiềm năng di

truyền cao Lợi ích khác có thể thu được

thông qua kỹ thuật này là không phải sử

dụng các loại thuốc gây siêu bài noãn như

phương pháp cấy truyền phôi và do đó sẽ

giảm được nguy cơ chậm sinh ở những bò

cái tơ và bò sinh sản nhận phôi Việc thu

từ 5 đến 10 tế bào trứng một lần là có thể

làm được nhờ đặc tính phát triển của noãn

bào trong buồng trứng, sự phát triển này

thường diễn ra như các đợt sóng nang liên

tục Quá trình phát triển các nang trứng ở

bò đã được thảo luận kỹ ở chương Sinh lý

sinh sản bò cái.Thêm nữa các tế bào trứng

trong mỗi lần thu trứng có thể sử dụng để

thụ tinh với các đực giống khác nhau Đây

là kỹ thuật đang được áp dụng cùng với kỹ thuật cấy truyền phôi trong việc đa dạng hoá và tăng qui mô đánh giá giá trị di truyền của các đực giống và bò cái tơ

5.0 Thu các tế bào trứng từ những bê

và bò tơ chưa trưởng thành để cấy truyền phôi

Thu tế bào trứng ở những bê và bò cái tơ chưa trưởng thành để nuôi và thụ tinh trong ống nghiệm sau đó cấy phôi (Juvenile in vitro embryo transfer - JIVET)

là công nghệ sinh học trong sinh sản, ở

đây người ta thu tế bào trứng từ những bê tơ chưa trưởng thành thường là từ 2-4 tháng tuổi nuôi trong phòng thí nghiệm và dùng cho kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm để sản suất phôi và bê (xem hình 3) Lúc mới sinh trong buồng trứng của những bê cái có khoảng từ 300.000 đến 500.000 nang trứng Tương tự như vậy, quá trình tạo nang trứng ở những bê cái bắt

đầu ngay lúc mới sinh và tạo ra các thể hang để các nang trứng phát triển thành buồng trứng Hơn nữa, các thể hang của các nang trứng này sẽ phát triển thành buồng trứng ở những bê cái tơ Các nang trứng có thể phát triển thông qua sử dụng hoocmon FSH Quá trình này cho phép lấy các tế bào trứng có các noãn bao và cho thụ tinh trong ống nghiệm sau đó dùng cho

kỹ thuật cấy phôi Vì lý do đó, thuận lợi nổi bật của những bê cái tơ so với những

bê đực non trong cải tiến di truyền là có thể thu được các giao tử từ khi chúng chưa trưởng thành trong khi đó không thể lấy tinh trùng của những bê đực khi chúng chưa trưởng thành Những bê cái tơ này có thể đóng góp cho thế hệ sau nhiều hơn trước khi chúng thành thục sinh dục Điều này giúp giảm khoảng cách giữa hai lứa đẻ

ở bò và có thể biết trước được rằng bê cái tơ sẽ có những tác động mạnh mẽ hơn trong cải tiến di truyền khi JIVET (Juvenile in vitro embryo transfer - JIVET)

và những công nghệ sinh học sinh sản khác được áp dụng ở bò

3

Trang 4

Hình 3: Ví dụ về việc áp dụng JIVET ở bò thịt Các tế bào trứng được thu bằng cách phẫu thuật ở giữa ổ bụng những bê cái tơ lai 10 tuần tuổi, nuôi trong phòng thí nghiệm, sau đó chúng được thụ tinh để sản suất các hợp tử Các hợp tử được cấy vào

bò mẹ nhận phôi và cho kết quả bê được sinh ra bình thường (ảnh phía cuối) Như vậy những bò cái tơ ở hình trên đã sản sinh ra những con bê trước khi chúng 12 tháng tuổi Trong ví dụ này khoảng 300 tế bào trứng được lấy từ 6 bê tơ, mỗi bê tơ trung bình mỗi lần lấy được 50 tế bào trứng Số tế bào trứng thu được này đã minh hoạ cho tiềm năng sinh sản của đàn

bê tơ khi chúng còn rất trẻ

6.0 Kết hợp thụ tinh trong ống nghiệm

với chẩn đoán di truyền trước khi cấy

phôi

Khả năng sản xuất thường xuyên các hợp

tử bằng phương pháp thụ tinh trong ống

nghiệm ở bò tạo cơ hội cho việc đưa chẩn

đoán di truyền trước khi cấy phôi

(pre-implantation genetic diagnosis -PGD) vào

chương trình cải tiến di truyền và kế hoạch

lai tạo PGD liên quan đến việc xem xét

các Marker phân tử của các gen có quan hệ

với năng suất hoặc các tính trạng chất

lượng ở bò Marker đầu tiên ở bò kiểu này hiện đã được sử dụng trong chăn nuôi bò là GeneSTAR đó là gen qui định lượng mỡ

kẽ trong thớ thịt của bò (marbling) PGD bao gồm việc sinh thiết tế bào đơn trong giai đoạn phát triển sớm của phôi,thường

ở giai đoạn 8 tế bào hoặc ở giai đoạn phôi nang (xem hình 4), tách và nhân DNA và sau đó thăm dò tìm kiếm các marker phân

tử (ví dụ như GeneSTAR) Công cụ sinh học đặc biệt hữu hiệu là kết hợp công nghệ JIVET (phần 5) và PGD

4

Trang 5

Hình 4 Các giai đoạn phát triển đầu tiên của phôi sau khi thụ tinh ở bò

7.0 Lai giống nhanh (SMART Breeding)

Như đã đề cập ở phần 6,JIVET và PGD là

các công nghệ bổ sung có ứng dụng quan

trọng vào cải tiến di truyền bò thịt trong

tương lai Việc kết hợp các kỹ thuật này

dẫn đến khái niệm lai giống nhanh

(SMART Breeding), chọn lọc sử dụng

Marker phân tử và kỹ thuật sinh sản tiên

tiến (xem hình 5)

8.0 Phân biệt giới tính phôi và nhân bản

những phôi tách đôi

Thiết bị và vật liệu dùng để phân biệt giới

tính phôi ngày nay đã được thương mại

hoá trong chăn nuôi bò và có thể sử dụng

cùng với kỹ thuật cấy truyền hợp tử Tuỳ

thuộc vào mục đích của nhà sản xuất, các

phôi có thể được phân biệt giới tính để

chọn những bò đực phù hợp (ví dụ trong chăn nuôi bò thịt, bò sữa) hoặc những cái tơ (ví dụ trong chăn nuôi bò sữa) Thương mại hoá các sản phẩm phân biệt giới tính trong chăn nuôi bò kết hợp chặt chẽ với sinh thiết phôi và phản ứng chuỗi cao phân

sắc thể Y hoặc các phản ứng sinh hoá học phân biệt giữa phôi đực và cái Mỗi lần phân biệt giới tính phôi, nó có thể cắt đôi

để tạo sinh đôi Kỹ thuật cắt phôi đang

được áp dụng trong chăn nuôi bò Các phôi

đươc cắt thường ở giai đoạn phân bào có 8

tế bào đến giai đoạn phôi dâu (xem hình 4) những phôi được cắt này sẽ tạo thành phôi sinh đôi là dạng đơn giản nhất trong

kỹ thuật nhân bản Các phôi bò cũng có thể cắt thành 4 phôi

Trang 6

Hình 5: Sơ đồ lai giống nhanh ở bò thịt

chọn lọc sử dụng Marker phân tử và các

công nghệ tiên tiến trong sinh sản Những

bê tơ có giá trị di truyền ưu tú trải qua

JIVET để tạo ra các phôi để chẩn đoán di

truyền trước khi cấy phôi PGD Phôi được

chọn trên cơ sở Marker phân tử, có thể đã

được xác định giới tính để tạo ra các nhóm

đời con xuất sắc đóng góp vào việc cải tiến

di truyền trong tương lai

9.0 Nhân bản bằng chuyển nhân phôi

bào

Phôi bào là các tế bào riêng lẻ của phôi từ

giai đoạn 2 tế bào đến giai đoạn phôi dâu

(xem hình 4) Mỗi phôi bào là các tế bào

có thể phát triển thành động vật hoàn

chỉnh và có thể sử dụng trong nhân bản

Quá trình chuyển nhân của phôi bào liên

quan đến sự hợp nhất của chất nhân

(karyoplast) của phôi bào với trứng nhận

đã bỏ nhân tế bào chất (cytoplast) Nói

một cách ngắn gọn, nhân được loại bỏ

khỏi nang trứng nhận bằng phương pháp

hút, sau đó một nhân phôi bào có màng

nhân hoàn chỉnh được đưa vào nang trứng

đã loại bỏ nhân từ trước Sự hợp nhất của

nhân phôi bào và nang trứng được tiến

hành bằng một dòng điện Hoạt động của

tế bào chất của nang trứng nhận diễn ra ở

phôi bào làm cho vỏ bọc nhân bị vỡ, chất

nhiễm sắc bị cô đặc và giảm sức ép, tái lập lại chương trình biểu hiện của gen

đàn hạt nhân

Lai giống bò tơ nhanh Hợp tử cùng cha,

cùng mẹ

Bê tơ

Thụ tinh ống nghiệm

Đàn đực

giống

TTNT

Đánh dấu các gen

Các mục tiêu lai tạo

Nhóm con cái tốt nhất

Đàn đực giống

từ đàn ngoài

Đực giống cho đàn cơ sở

Đánh giá các gen

đánh dấu

Đàn cơ sở

Nhân bản bằng chuyển nhân phôi bào có nhiều ưu điểm hơn cắt phôi Tuy nhiên, chỉ có một số lượng nhỏ con cái được nhân bản (từ 2-5) từ một phôi bào và đây là hạn chế khi áp dụng kỹ thuật này trong chăn nuôi bò Nhằm tăng tính ứng dụng rộng rãi

kỹ thuật chuyển nhân phôi bào trong việc cải tiến di truyền bò thịt, tái nhân bản liên tục được đánh giá là một cách để tăng số lượng gia súc được nhân bản.Trường hợp này phôi nhân bản ở giai đoạn từ 8 đến 16

tế bào được dùng như phôi bào cho để phục vụ cho chu kỳ chuyển nhân mới Trong chăn nuôi bò, bê được sản xuất khi nhân bản từ chu kỳ thứ hai và ba Tuy nhiên, kỹ thuật này vẫn còn hạn chế số lượng bê tạo ra

10.0 Nhân bản các tế bào soma của bào thai

Vào giữa những năm 90, nghiên cứu nhân bản đã có tiến triển trong việc sử dụng các

tế bào soma biệt hoá Khởi điểm của nghiên cứu là dùng các tế bào soma các bào thai Trong nghiên cứu ban đầu ở bò, người ta sử dụng các tế bào biểu mô da bào thai từ ngày thứ 50 đến ngày 80 và nuôi cấy chúng từ 3 đến 12 công đoạn Sau một vài công đoạn, các tế bào biểu mô

Trang 7

phát triển thành nguyên bào sợi, ở một

điểm trong chu kỳ phát triển người ta sử

dụng phương pháp chuyển nhân Kết quả

là các bào thai này phát triển và sinh ra

được 4 bê con Từ các nghiên cứu ban đầu

này, các bê khác đã được tạo ra bằng nhân

bản các tế bào soma biểu mô của bào thai

lấy từ ngày thứ 35 đến ngày 80

11.0 Nhân bản sử dụng các tế bào soma

trưởng thành

Thành công bước đầu đạt được khi nhân

bản các tế bào Soma bào thai đã dẫn đến

những nghiên cứu tương tự về nhân bản

bằng các tế bào Soma lấy từ động vật

trưởng thành Vào tháng 2 năm 1997, cừu

Dolly sinh ra khi nhân bản bằng tế bào tuyến vú của cừu cái 6 tuổi Kỹ thuật nhân bản tế bào Soma trưởng thành được tóm tắt

ở hình 6 Việc cừu Dolly sinh ra là cái mốc quan trọng trong lịch sử sinh lý sinh sản và ngay lập tức nó đã kích thích việc nghiên cứu kỹ thuật này trên các loài khác ở bò, các bê đã được sinh ra nhờ nhân bản từ các

tế bào biểu mô trưởng thành, nguyên bào sợi, tế bào cơ, tế bào hạt, tế bào đống (Cumlus) và tế bào mầm (hình 7)

ở Australia, bò và cừu đã được sinh ra khi nhân bản các tế bào Soma trưởng thành (hình 8).

Hình 6 Sơ đồ các bước chủ yếu khi nhân bản các tế bào soma trưởng thành.

Nuôi cấy phôi

Na M

ng trứng II

Các tế

bào

Nang trứng

M II

Nuôi cấy tế

bào

Thiếu huyết

Dung nạp điện từ hoạt hoá

phôi

7

Trang 8

Hình 7 Những động vật sinh ra bằng nhân bản tế bào soma Theo chiều kim đồng hồ

từ trên bên trái: Cừu Dolly sinh ra từ các tế bào tuyến vú trưởng thành cùng với cừu

mẹ thụ thai tự nhiên; Bonnie và bản thân nó được nhân bản có tên là Monticello đẻ lúc 14 tháng sau đó khi nhân bản bằng nguyên bào sợi của bào thai; Polly, Molly, Holly và Olly được sinh ra bằng nhân bản các nguyên bào sợi của bào thai; 10 bê con sinh ra khi nhân bản các tế bào hạt lấy từ trứng của bê tơ đứng ở phía sau có tên là Elizabeth.

Hình 8 Hình trên bê có tên Suzi

(bên trái) là bê đầu tiên sinh ra

bằn nhân bản ở Australia và ở

hình dưới cừu có tên Matilda là

cừu đầu tiên sinh ra bằng nhân

bản từ các tế bào somatic trưởng thành

8

Trang 9

12.0 Phân biệt giới tính tính trùng

Phần 7 đã thảo luận về phân biệt giới tính

phôi Một hướng nghiên cứu khác trong

việc phân biệt giới tính đang có triển vọng

áp dụng vào thực tế là phân biệt giới tính

tinh trùng Chỉ có một kỹ thuật duy nhất

đáng tin cậy để xác định giới tính tinh

trùng là kỹ thuật soi màu tế bào kiểu dòng

chảy Kỹ thuật này dựa trên cơ sở hiểu biết

về kiểu hình khác nhau của nhiễm sắc thể

X và Y Số lượng DNA có ở nhiễm sắc thể

X nhiều hơn số lượng DNA có ở nhiễm sắc

thể Y ở bò, số DNA ở nhiễm sắc thể X

nhiều hơn số DNA ở nhiễm sắc thể Y

khoảng 3,8% Khi tiến hành, kỹ thuật so

màu tế bào kiểu dòng chảy để phân biệt

giới tính, đầu tiên tinh trùng được nhuộm

với chất huỳnh quang Fluoro Chrome

(Hoechst 33342), chất này liên kết với các

vùng nucleotide của DNA giàu A-T Vì

các nhiễm sắc thể X của tinh trùng có

nhiều DNA liên kết với thuốc nhuộm hơn

nên chúng phát ra ánh sáng huỳnh quang

mạnh hơn khi tiến hành phân loại tinh

trùng (hình 9) Tín hiệu huỳnh quang phát

ra khi luồng tinh trùng di chuyển với tốc

độ cao qua thiết bị phân loại tinh trùng

(High-Speed Flow Cytometry Sperm

Sorting Apparatus gọi tắt là MoFlo, hình

10) được bộ phận cảm nhận ánh sáng

huỳnh quang của máy tự động ghi chép lại

và các tinh trùng sẽ có điện cực dương (+) (tinh trùng mang nhiễm sắc thể X) hoặc

điện cực âm (-) tinh trùng mang nhiễm sắc thể Y Các tinh trùng sau đó di chuyển qua những đĩa có hiệu điện thế cao, ở đây tinh trùng mang nhiễm sắc thể X và tinh trùng mang nhiễm sắc thể Y di chuyển về hai phía ngược chiều nhau vì chúng có điện tích khác nhau, sau đó tinh trùng được lấy vào các bình chứa có sẵn môi trường bảo quản có lòng đỏ trứng gà (hình 9) ở bò,

có khoảng 10-12 triệu tinh trùng (5-6 triệu mỗi loại mang nhiễm sắc thể X hoặc Y) có thể phân loại mỗi giờ với độ chính xác 90% Về lý thuyết có thể phân loại 72 triệu tinh trùng mỗi giờ Yêu cầu phân biệt giới tinh tinh trùng cho các phương pháp thụ tinh khác nhau ở bò là: khoảng 4-5 x 106

tinh trùng; thụ tinh nhân tạo sâu trong tử cung: 3 x 105 tinh trùng; thụ tinh trong ống nghiệm (vitro fertilization - IVF): 2 x 103 tinh trùng Số lượng tinh trùng phân biệt giới tính có thể giảm đáng kể ở bò nếu phối giống trước khi rụng trứng, bơm tinh vào vị trí sâu hơn ở sừng tử cung để tinh trùng và trứng gặp nhau nhanh hơn khi trứng rụng

Hình 9 Sơ đồ tóm tắt các bước cơ bản liên quan đến phân biệt giới tính tinh trùng với máy MoFlo (A) Chi tiết được mô tả ở phần 11 Đỉnh chóp của biểu đồ B mô tả tỷ lệ tinh trùng đã

được phân biệt và ở biểu đồ C cho thấy đỉnh trái là tinh trùng mang nhiễm sắc thể Y và đỉnh bên phải là tinh trùng mang nhiễm sắc thể.

9

Trang 10

Hình 10 MoFlo máy dùng

để phân biệt giới tính.

13.0 Kết hợp kỹ thuật phân biệt giới tinh tinh trùng với tiêm tinh trùng vào tế bào chất

Số l−ợng máy phân biệt giới tính tinh trùng (MoFlo Sperm Sexing Units) không nhiều và chỉ một số l−ợng nhỏ tinh trùng phân biệt giới tính đ−ợc tạo ra khi dùng kỹ thuật so màu tế bào kiểu dòng chảy đã hạn chế tính ứng dụng của công nghệ sinh học này trong việc cải tiến di truyền bò thịt Một công nghệ sinh học bổ sung tạo cơ hội để áp dụng rộng hơn kỹ thuật phân biệt giới tính tinh trùng là tiêm tinh trùng vào tế bào chất (intra-cytoplasmic sperm injection gọi tắt là ICSI) Kỹ thuật ICSI là dùng tinh trùng tiêm vào trong noãn bào ch−a thụ tinh (hình

11 và 12) sau đó những phôi đã đ−ợc phân biệt giới tính đ−ợc nuôi theo qui trình của kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm (vitro fertilization - IVF)

Hình 11 Kính hiển vi xoay chiều và dụng cụ bơm tinh (ảnh trái) ảnh phải pipét giữ nhân ở phía trái của bức ảnh và pipét dùng để bơm tinh trùng ở phía bên phải hợp tử đ−ợc giữ trong pipet ở ảnh trái và dùng chúng để bơm tinh ở ảnh bên phải

Ngày đăng: 24/12/2013, 04:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Ví dụ về kim hút Lumen đơn - Tài liệu Nâng cao các kỹ năng về di truyền, sinh sản và lai tạo giống bò thịt nhiệt đới- chương 26 docx
Hình 1 Ví dụ về kim hút Lumen đơn (Trang 2)
Hình 2: Có thể nhìn thấy đ−ợc từng nang - Tài liệu Nâng cao các kỹ năng về di truyền, sinh sản và lai tạo giống bò thịt nhiệt đới- chương 26 docx
Hình 2 Có thể nhìn thấy đ−ợc từng nang (Trang 3)
Hình 3: Ví dụ về việc áp dụng JIVET ở bò  thịt. Các tế bào trứng đ−ợc thu bằng cách  phẫu thuật ở giữa ổ bụng những bê cái tơ  lai 10 tuần tuổi, nuôi trong phòng thí  nghiệm, sau đó chúng đ−ợc thụ tinh để sản  suất các hợp tử - Tài liệu Nâng cao các kỹ năng về di truyền, sinh sản và lai tạo giống bò thịt nhiệt đới- chương 26 docx
Hình 3 Ví dụ về việc áp dụng JIVET ở bò thịt. Các tế bào trứng đ−ợc thu bằng cách phẫu thuật ở giữa ổ bụng những bê cái tơ lai 10 tuần tuổi, nuôi trong phòng thí nghiệm, sau đó chúng đ−ợc thụ tinh để sản suất các hợp tử (Trang 4)
Hình 4. Các giai đoạn phát triển đầu tiên của phôi sau khi thụ tinh ở bò. - Tài liệu Nâng cao các kỹ năng về di truyền, sinh sản và lai tạo giống bò thịt nhiệt đới- chương 26 docx
Hình 4. Các giai đoạn phát triển đầu tiên của phôi sau khi thụ tinh ở bò (Trang 5)
Hình 5: Sơ đồ lai giống nhanh ở bò thịt - Tài liệu Nâng cao các kỹ năng về di truyền, sinh sản và lai tạo giống bò thịt nhiệt đới- chương 26 docx
Hình 5 Sơ đồ lai giống nhanh ở bò thịt (Trang 6)
Hình 6. Sơ đồ các bước chủ yếu khi nhân bản các tế bào soma trưởng thành. - Tài liệu Nâng cao các kỹ năng về di truyền, sinh sản và lai tạo giống bò thịt nhiệt đới- chương 26 docx
Hình 6. Sơ đồ các bước chủ yếu khi nhân bản các tế bào soma trưởng thành (Trang 7)
Hình 7. Những động vật sinh ra bằng nhân bản tế bào soma. Theo chiều kim đồng hồ - Tài liệu Nâng cao các kỹ năng về di truyền, sinh sản và lai tạo giống bò thịt nhiệt đới- chương 26 docx
Hình 7. Những động vật sinh ra bằng nhân bản tế bào soma. Theo chiều kim đồng hồ (Trang 8)
Hình 8. Hình trên bê có tên Suzi - Tài liệu Nâng cao các kỹ năng về di truyền, sinh sản và lai tạo giống bò thịt nhiệt đới- chương 26 docx
Hình 8. Hình trên bê có tên Suzi (Trang 8)
Hình 9. Sơ đồ tóm tắt các bước cơ bản liên quan đến phân biệt giới tính tinh trùng với máy  MoFlo (A) - Tài liệu Nâng cao các kỹ năng về di truyền, sinh sản và lai tạo giống bò thịt nhiệt đới- chương 26 docx
Hình 9. Sơ đồ tóm tắt các bước cơ bản liên quan đến phân biệt giới tính tinh trùng với máy MoFlo (A) (Trang 9)
Hình 10. MoFlo máy dùng - Tài liệu Nâng cao các kỹ năng về di truyền, sinh sản và lai tạo giống bò thịt nhiệt đới- chương 26 docx
Hình 10. MoFlo máy dùng (Trang 10)
Hình 11. Kính hiển vi xoay chiều và dụng cụ bơm tinh (ảnh trái). ảnh phải pipét giữ nhân ở  phía trái của bức ảnh và pipét dùng để bơm tinh trùng ở phía bên phải hợp tử đ−ợc giữ trong  pipet ở ảnh trái và dùng chúng để bơm tinh ở ảnh bên phải - Tài liệu Nâng cao các kỹ năng về di truyền, sinh sản và lai tạo giống bò thịt nhiệt đới- chương 26 docx
Hình 11. Kính hiển vi xoay chiều và dụng cụ bơm tinh (ảnh trái). ảnh phải pipét giữ nhân ở phía trái của bức ảnh và pipét dùng để bơm tinh trùng ở phía bên phải hợp tử đ−ợc giữ trong pipet ở ảnh trái và dùng chúng để bơm tinh ở ảnh bên phải (Trang 10)
Hình 12. Các b−ớc của kỹ thuật tiêm truyền tinh  trùng vào tế bào chất. Phía trái: lấy tế bào tinh  trùng đ−ợc lấy vào pipét và bơm vào tế bào trứng  ch−a đ−ợc thụ tinh ở hình giữa - Tài liệu Nâng cao các kỹ năng về di truyền, sinh sản và lai tạo giống bò thịt nhiệt đới- chương 26 docx
Hình 12. Các b−ớc của kỹ thuật tiêm truyền tinh trùng vào tế bào chất. Phía trái: lấy tế bào tinh trùng đ−ợc lấy vào pipét và bơm vào tế bào trứng ch−a đ−ợc thụ tinh ở hình giữa (Trang 11)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w