Ngay đỉnh cao của phong trào tho mới anh em Hoài Thanh và Hoài Chân đã cho ra đời cuốn Thi nhân Việt Nam, cuốn sách đã tập hợp những tên tuổi nhà thơ và những bài thơ có gía trị trong kh
Trang 1LÊ THỊ THU THUỶ
TẬP THƠ ĐI! ĐÂY VIỆT BẮC! CỦA TRẦN DẦN
TRONG CUỘC ĐỔI MỚI THI PHÁP
THƠ TRỮ TÌNH VIỆT NAM SAU 1945
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
VINH - 2011
Trang 2LÊ THỊ THU THUỶ
TẬP THƠ ĐI! ĐÂY VIỆT BẮC! CỦA TRẦN DẦN
TRONG CUỘC ĐỔI MỚI THI PHÁP
THƠ TRỮ TÌNH VIỆT NAM SAU 1945
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.34
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS PHAN HUY DŨNG
VINH - 2011
Trang 3Lời cảm ơn
T
:
ó
ó - T H
N ó
T
Lê Thị Thu Thủy
Trang 4MỤC LỤC
Lời cảm ơn 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Lịch sử vấn đề 6
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi tư liệu khảo sát 10
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 10
5 Phương pháp nghiên cứu 10
6 Đóng góp của luận văn 11
7 Cấu trúc của luận văn 11
Chương 1 122
NHU CẦU ĐỔI MỚI THI PHÁP THƠ TRỮ TÌNH VIỆT NAM
SAU 1945 VÀ SỰ XUẤT HIỆN CỦA TRẦN DẦN 12
1.1 Đóng góp và giới hạn của Thơ mới trước nhu cầu đổi mới thi pháp thơ trữ tình Việt Nam hiện đại 12
1 1 1 Đó ó T ổ
N 12
1 1 2 G T ổ N 26
1 1 3 N ỗ ỳ 1942 – 1945 31
1.2 Nhu cầu đổi mới thi pháp thơ trữ tình Việt Nam từ sau 1945 và những tín hiệu khởi đầu 37
1 2 1 N ẩ
N (1945) 37
1 2 2 N ở ổ
42
1 2 3 M 44
Trang 51.3 Trần Dần và khát vọng đổi mới thơ 48
1.3 1 C T 48
1 3 2 K ổ T 52
1 3 3 N T
Pháp 53
Chương 2
NHỮNG NÉT MỚI MẺ
VỀ NỘI DUNG VÀ THI PHÁP CỦA TẬP ĐI! ĐÂY VIỆT BẮC!
CÙNG NHỮNG PHẢN ỨNG CHUNG QUANH NÓ 58
2.1 Đi! Đây Việt Bắc! - một kết tinh nghệ thuật của những tìm tòi trong chặng đường sáng tác đầu tiên của Trần Dần 58
2 1 1
cách mạng như Đ ! Đ cũng cùng chung số phận ấy 59
2.1.2 Đi! Đây Việt Bắc! T 60
2.1.3 Đi! Đây Việt Bắc! ỉ T 63
2.2 Những nét mới mẻ về nội dung và thi pháp của tập Đi! Đây Việt Bắc! 67
2 2 1 67
2 2 2 C ứ ở 69
2 2 3 75
2.3 Số phận thăng trầm của Đi! Đây Việt Bắc! 79
Chương 3
SỰ ĐÀO SÂU, MỞ RỘNG NHỮNG CÁCH TÂN THI PHÁP
CỦA ĐI! ĐÂY VIỆT BẮC! TRONG THƠ TRẦN DẦN
VÀ THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI Ở CÁC GIAI ĐOẠN TIẾP SAU 80
3.1 Xuất phát điểm mới của thơ Trần Dần ở chặng đường làm “thủ lĩnh trong bóng tối” với Đi! Đây Việt Bắc! 80
Trang 63 1 1 Ý ứ 80
3 1 2 S ứ 83
3.2 Sự tiếp nối và bổ sung về thi pháp từ Đi! Đây Việt Bắc! tới Cổng tỉnh 85
3 2 1 Từ ứ 85
3 2 2 N " " 94
3.3 Bài học kinh nghiệm của Đi! Đây Việt Bắc! với cuộc cách tân thơ Việt Nam hiện nay 96
3 3 1 ổ 96
33 2 ứ ổ 99
3 3 3 M 101
KẾT LUẬN 103
Danh môc tµi liÖu tham kh¶o 106
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trần Dần được coi là một nhà cách tân lớn của thơ Việt Nam hiện đại Do nhiều nguyên nhân chính trị và lịch sử, hiện nay, phần lớn tác phẩm Trần Dần vẫn còn ở dạng “bản thảo nằm” Việc tiếp cận, khám phá di sản thi
ca của ông đã trở thành một nhu cầu bức thiết Đi vào đề tài này, chúng tôi muốn góp thêm tiếng nói làm sáng tỏ những cách tân thơ mà Trần Dần đã dũng cảm, kiên trì theo đuổi cả một đời
1.2 Thơ Việt Nam hiện đại đã trải qua nhiều chặng đường phát triển Trần Dần luôn có ý thức phải đổi mới thơ và ông đã có những đóng góp
không nhỏ cho việc đổi mới thi pháp thơ sau 1945, đặc biệt với trường ca Đ !
Đ ! Đây là một tác phẩm mà vào năm 1987 khi đem bản thảo gốc
ra xem lại trước mặt các con - lúc này đã là những độc giả trưởng thành, ông thành thật bảo: “Hơn ba mươi năm nay mà đọc lại vẫn thấy mới như vừa viết ráo mực” Nghiên cứu trường ca này trong bối cảnh sáng tạo đặc biệt của nó, chúng tôi hy vọng hiểu thêm nhu cầu đổi mới thơ Việt Nam sau thời Thơ mới cũng như những điều kiện đã khiến cho con đường đi của thơ từ 1945 đến nay luôn có những thác ghềnh
1.3 Việc định vị các nhà thơ, các sự nghiệp thi ca luôn là công việc khó khăn, phải được làm đi làm lại nhiều lần với sự thay đổi, cách tân tiêu chí đánh giá Với đề tài này, chúng tôi muốn tham gia thẩm định lại các giá trị thi
ca Việt Nam trong thế kỷ XX theo tiêu chí khách quan, khoa học, trả lại vị trí xứng đáng cho những sáng tạo lớn mà vì lý do này lý do khác từng bị nhìn nhận một cách sai lệch
Trang 82 Lịch sử vấn đề
1 1 N ứ
Thơ mới ra đời cách đây gần một thế kỷ nhưng đến nay các nhà nghiên cứu đã tốn không ít giấy mực để viết về hiện tượng văn học này Ngay đỉnh cao của phong trào tho mới anh em Hoài Thanh và Hoài Chân đã cho ra đời cuốn Thi nhân Việt Nam, cuốn sách đã tập hợp những tên tuổi nhà thơ và những bài thơ có gía trị trong khoảng thời gian từ 1932-1941, cuốn sách đã đưa ra những nhận xét chủ quan của tác giả và được đánh gía cao
Cuốn sách T M 1932 - 1945, được xuất bản
năm 1966 của nhà phê bình văn học Phan Cự Đệ ra đời cũng đánh giá về
phong trào thơ mới Nhưng nếu như trong T N chúng ta bắt
gặp lối phê bình nhẹ nhàng không đao to búa lớn (không quá biểu dương
khích lệ cũng không quá miệt thị) của Hoài Thanh, Hoài Chân thì ở Phong
T M 1932 – 1945 đã vận dụng lối phê bình Mác –xít để
nghiên cuus Ông khảo sát những phương diện lý luận như chủ nghĩa lãng mạn theo quan điểm mác-xít, đặc trưng thẩm mỹ của phương pháp sáng tác lãng mạn chủ nghĩa, quan điểm nghệ thuật, quan điểm thẩm mỹ của các nhà thơ trong phong trào Thơ Mới, những yếu tố chi phối đến sáng tác của mỗi nhà thơ và của cả trào lưu
Công trình nghiên cứu về thơ mới của Bùi Văn Nguyên - Hà Minh
Đức: T N - H ứ (NXB KHXH in lần thứ 2, H,
1971) các tác giả khẳng định: “Phong trào Thơ mới đã đem lại cho bộ mặt thơ
ca nhiều đổi mới đáng kể, như về các thể thơ về sự biểu hiện phong phú của các trạng thái cảm xúc hay về những yếu tố mới trong ngôn ngữ thơ ca”.Vậy
có thể thấy rằng sau gần nửa thế kỷ ra đời thơ mới vẫn được nhìn nhận và
Trang 9nghiên cứu với vai trò hết sức quan trọng Các tác giả đã tìm ra những đóng góp của thơ mới đối với tho ca dân tộc
Cũng bàn về thơ mới, ở công trình T
N Hà Minh Đức viết: “Phong trào Thơ mới những năm 30 bộc lộ
rõ ràng những đặc điểm của trào lưu thơ ca lãng mạn Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên những cái tôi khác nhau, mỗi người tự xây dựng cho mình một thế giới riêng biệt, một hòn đảo chơi vơi” Nhà nghiên cứu và phê bình văn học Hà Minh Đức đã chỉ ra được những đặc điểm cơ bản của phong trào thơ mới đóng thời đư ra những nhận xét cách thẻ hiện khác nhau về cái tôi cá nhân trong phong trào thơ mới…
Phan Cự Đệ với T , ít nhiều đều có đề cập đến thể
loại Thơ mới Ông đã giành hẳn một chương (chương VI) bàn về “nghệ thuật của phong trào “Thơ mới lãng mạn” Tác gỉa đã cho rằng thơ mới thực chất không phải là thơ tự do và đã chỉ ra quà trình hình thành các thể thơ, số câu,
số chữ trong thơ mới Vậy có thể nói rằng hình thức thơ mới cũng là vấn đề được các nhà nghiên cứu lưu tâm
Phong trào thơ mới 1930-1945 cũng được nhiều nghiên cứu sinh chọn làm đề tài nghiên cứu Năm 2007 Hoàng Sĩ Nguyên đã đến với phong trào thơ
mới bằng một luận án tiến sỹ nay đã trở thành chuyên luận mang tên T
1932-1945 ừ Năm 2008, Đặng Thị Ngọc Phượng
đã chọn đề tài Ý ứ luận văn đã khảo sát
toàn bộ những tác phẩm của phong trào thơ này Luận văn đã chỉ ra biểu hiện của ý thức tự do như là một sự biểu hiện của việc hình thành cái tôi cá nhân, tiến trình phát triển của thơ mới, tìm hiểu cá tính sang tạo của nhà thơ…
Trang 10Nhìn chung từ khi ra đời đến nay thơ mới đã được giới phê bình nghiên cứu quan tâm đặc biệt về các góc độ như nội dung, thể loại, đóng góp…của thơ mới Tuy được nhìn nhận ở nhiều quan đểm và nhiều góc độ cũng như ở nhiều thời điểm khác nhau, nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu đều không phủ nhận những đóng góp của thơ mới đối với nền thơViệt Nam
1 2 N ứ T
Đ ! Đ !
Chúng tôi nhận thấy rằng tác phẩm của Trần Dần dù sáng tác ở giai đoạn nào khi ra đời cũng đặc biệt thu hút sự chú ý của độc giả cũng như giới phê bình văn học, kể cả những tác phẩm ông viết ngay sau vụ Nhân văn giai phẩm Sở dĩ thơ văn của ông có một sự thu hút đặc biệt đối với bạn đọc nói chung và giới phê bình nói riêng là bởi vì ở đó người ta luôn bắt gặp những vấn đề nóng bỏng của cuộc sống được nhìn nhận và phản ánh một cách khá thẳng thắn, có những tác phẩm không kém phần quyết liệt Tuy nhiên những công trình nghiên cứu về nhà thơ Trần Dần vì một lý do nào đó mà chưa được tập hợp thành một công trình xứng tầm với nhà thơ, những bài viết về nhà thơ chỉ xuất hiện lẻ tẻ trong một số cuốn sách hay những chuyên luận
Dù những nghiên cứu về nhà thơ Trần Dần được công khai và tập hợp
không nhiều nhưng Phạm Thị Hoài đã cho ra đời T :
ẩ tác gỉa đã cung cấp cho độc giả những thông tin quý báu về
nhà thơ Trần Dần, tác phẩm của ông và đã đưa ra những nhận xét mang tính chủ quan của người viết
Trong bài viết N ứ T đăng trên tạp chí văn hóa Nghệ An, tác giả Phùng Kiên đã gọi Trần Dần là “thủ
lĩnh bóng tối” và theo Phùng Kiên, Trần Dần bắt đầu sự cách tân của mình một cách âm thầm Ở đây tác giả đã đưa ra một cái nhìn khá toàn diện về Trần Dần về hành trình sáng tạo cũng như nhịp thơ, hình thức thơ Thơ Trần dần
Trang 11được tác giả nhìn nhận, nghiên cứu ở những thời điểm khác nhau đặt nhà thơ trong mối tương quan với các nhà thơ trong nước và quốc tế như Lê Đạt,
Phùng Quán, Hoàng Yến,V Hugo, Stendhal ,…Phùng Ngọc Kiên đã trích mấy câu thơ trong trường ca Đ ! Đ ! lên đầu bài viết, sau đó tác giả
đã bàn về đề tài, cảm hứng cũng như số phận của trường ca này Anh còn đưa
ra sự so sánh giữa Trần Dần và Tố Hữu với bài thơ Việt Bắc về quy mô và cảm hứng
Luận văn thạc sỹ của Hà Thị Hạnh T T ừ
tác gỉa đã có cái nhìn bao quát về quan niệm
nghệ thuật của Trần Dần, sự hình thành, vận động và biến đổi, đồng thời tìm
ra cái tôi trữ tình đa diện và một số biểu tượng đặc sắc trong thơ Trần Dần, Không chỉ vậy Hà Thị Hạnh còn tìm hiểu và nghiên cứu hành trình sáng tạo nhìn từ góc độ ngôn ngữ của nhà thơ…
Trường ca Đ ! Đ ! Từ khi ra đời đến nay dã có rất nhiều ý
kiến bàn về giá trị trường ca này Tuy những ý kiến hầu hết chỉ mang tính chất phát biểu quan điểm nhưng đều có gía trị Theo nhà lý luận phê bình văn học Lại Nguyên Ân cho rằng: “Đọc lại Đi! đây Việt Bắc của Trần Dần và nghĩ đến văn chương Việt truyền thống, càng lúc tôi càng muốn đưa trường ca này xích lại gần những tác phẩm ngâm khúc nổi tiếng như Tự tình khúc, Thu
dạ lữ hoài ngâm, Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm…" Vậy nhà phê bình Lại
Nguyên Ân đã đặt Đ ! Đ ! Sánh sánh với các tác phẩm nổi tiếng
của nền văn học nước nhà
Điểm lại những bài nghiên cứu về thơ mới, nhà thơ trần Dần và trường
ca Đ ! Đ ! Chúng tôi nhận thấy rằng hầu hết các nhà nghiên cứu
đều thống nhất thơ mới đã tạo một bước ngoặt lớn trong tiến trình văn học Việt Nam Trần dần là nhà thơ có vai trò to lớn trong việc cách tân thơ việt nam sau 1945, là nhà cách tân vĩ đại nhất của thơ đương đại Việt Nam trong
Trang 12mấy thập niên cuối của thế kỷ 20 Trường ca Đ ! Đ ! Được coi là
một kết tinh nghệ thuật của những tìm tòi trong chặng đường sáng tác đầu tiên của Trần Dần.Tuy nhiên những nghiên cứu này chưa thực sự đưa ra sự đóng góp của tập thơ trong công cuộc đổi mới thi pháp thơ trữ tình Việt Nam sau
1945
Trong luận văn này chúng tôi đi vào tìm hiểu tập thơ Đ ! Đ
của Trần Dần trong cuộc đổi mới thi pháp thơ trữ tình Việt Nam sau 1945
Chúng tôi hi vọng đây cũng là một cách tiếp cận mới về tác phẩm Đ ! Đ
của nhà thơ Trần Dần, góp một tiếng nói nhỏ vào việc tìm hiểu,
nghiên cứu một nhà thơ lớn như ông
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi tư liệu khảo sát
3 1 Đ ứ
Nghiên cứu vị trí và những đóng góp của tập Đ ! Đ ! của
Trần Dần đối với cuộc vận động đổi mới thi pháp thơ trữ tình Việt Nam sau
1945
3 2
Tập Đ ! Đ ! do NXB Hội Nhà văn ấn hành 2009, tập T
T do NXB Đà Nẵng ấn hành 2008 Ngoài ra chúng tôi còn khảo sát
các tuyển tập thơ kháng chiến, thơ Nguyễn Đình Thi, thơ Trần Mai Ninh, thơ
Lê Đạt, thơ Hoàng Cầm, thơ Văn Cao… để có cơ sở đối sánh, nhằm đánh giá
đúng đắn đóng góp của tập Đ ! Đ ! trong việc đổi mới thi pháp thơ
trữ tình Việt Nam sau 1945
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu thơ mới và thơ kháng chiến và trường ca Đ ! Đ !
của nhà thơ Trần Dần, phong trào vận động đổi mới thơ sau 1945 để thấy được sự đổi mới, cách tân của trường ca
5 Phương pháp nghiên cứu
Trang 13Để thực hiện luận văn này, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp sau: phương pháp hệ thống - cấu trúc, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp lịch sử…
6 Đóng góp của luận văn
Với đề tài này, lần đầu tiên tập Đ ! Đ ! của Trần Dần được
đánh giá một cách toàn diện từ góc nhìn của thi pháp học lịch sử
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở K và T nội dung chính của luận
văn được triển khai theo 3 chương:
Trang 14Chương 1 NHU CẦU ĐỔI MỚI THI PHÁP THƠ TRỮ TÌNH VIỆT NAM
SAU 1945 VÀ SỰ XUẤT HIỆN CỦA TRẦN DẦN
1.1 Đóng góp và giới hạn của Thơ mới trước nhu cầu đổi mới thi pháp thơ trữ tình Việt Nam hiện đại
1 1 1 Đó ó T ổ
N
Một phong trào văn học ra đời bao giờ cũng phản ánh những đòi hỏi nhất định của xã hội Nó là tiếng nói của một tầng lớp người, của một giai cấp vừa mới ra đời, đang lớn lên hoặc đã già cỗi trong xã hội Nếu thơ cũ là tiếng nói của tầng lớp phong kiến đã thất bại thì văn học lãng mạn từ 1932 trở đi là tiếng nói của tầng lớp tiểu tư sản thành thị Chính sự ra đời của giai cấp tư sản
và tiểu tư sản thành thị là điều kiện thúc đẩy sự xuất hiện của Thơ mới
Phong trào Thơ mới là một trào lưu thi ca lớn của thời kì văn học hiện đại phát triển từ năm 1932 đến năm 1945 Trước đây, trên thi đàn chủ yếu là thơ cũ với thể “thất ngôn bát cú” Đường luật thịnh hành Thể thơ thất ngôn bát cú với sự quy định quá chặt chẽ của niêm luật rất khó để có thể diễn tả ý tưởng và những tình cảm mới nên trở thành một thể thơ gò bó không thích hợp với lớp công chúng mới Lúc này trong đời sống xã hội đã xuất hiện một lớp công chúng mới gồm chủ yếu là học sinh, sinh viên, viên chức họ được rèn luyện trong nề nếp của nhà trường mới nên thị hiếu và tâm lí cũng có nhiều điểm khác với thế hệ cũ kể cả trong vấn đề tiếp nhận văn học Phong trào Thơ mới chính là trào lưu thi ca giàu sức sáng tạo, mở ra một hướng mới đưa thi ca trung đại bước sang phạm trù hiện đại Mở đầu là sự tranh luận giữa giữa thơ mới và thơ cũ Đại biểu của phái cũ cho rằng thơ mới không phải là thơ ca chân chính, thiếu những quy tắc ổn định Nhưng rồi cái mới đã
Trang 15thắng cái cũ nhất là trên thi đàn xuất hiện những tài năng mới: Thế Lữ với
“Nhớ rừng”, “Tiếng sáo Thiên Thai” hay “ Cây đàn muôn điệu” đã chinh phục được người đọc Và tiếp theo là những sáng tác của Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử…đã tạo nên sự thắng thế hoàn toàn cho Thơ mới
Vào những năm 1934 – 1935, không còn ai luận bàn về cái mới, cái cũ
vì thơ mới đã có những đóng góp quan trọng, chỉ trong khoảng 10 năm, thơ mới đã chinh phục được lòng người đọc, đã tạo nên một trào lưu thi ca mới với hàng loạt tác phẩm tiêu biểu, mỗi người mỗi vẻ có phong cách sáng tạo riêng Có thể kể những nhà thơ mới tiêu biểu nhất như: Thế Lữ, Lưu Trọng
Lư, Huy Thông, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Huy Cận, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính, Anh Thơ, Vũ Hoàng Chương, Tế Hanh Ngoài ra còn có thể đến nhiều tác giả khác như: Nguyễn Nhược Pháp, Vũ Đình Liên, Hồ Dzếnh…
Có thể nói Thơ mới đã tạo ra một sức sáng tạo lớn trong thơ ca thời kì hiện đại với hàng trăm bài thơ hay Có những nhà thơ nổi danh vì một hai bài thơ như Vũ Đình Liên với “Ông đồ”, Thâm Tâm với “Tống biệt hành” và Nguyễn Nhược Pháp với bài “Chùa Hương”; có những nhà thơ có những bài thơ hay tập trung thành từng tập thơ như Huy Cận với “Lửa thiêng”, Xuân Diệu với “Thơ thơ” và “Gửi hương cho gió” Thơ mới là thơ lãng mạn, có nghĩa là thoát li cuộc sống, các nhà thơ đều ít viết về cuộc đời hiện tại Thế
Lữ ca ngợi vẻ đẹp của thế giới tiên cảnh, vẻ đẹp của sự lí tưởng không dễ có
ở trong cuộc đời Ông viết:
T
H ẻ ẹ ó
M L ẽ
(Cây đàn muôn điệu)
Trang 16Nhà thơ Xuân Diệu cũng bày tỏ quan điểm sáng tác của mình:
Trang 17Cái tôi trong Thơ mới có cái tinh tươm, tinh tường của nó và cái lớn muốn hoà vào đại dương, muốn đẩy xa không ngừng cả lớp sóng của cả trường giang Cái tôi khi vừa mới phát hiện ra, nó đã đem lại nhiều giá trị mới Nó thể hiện sự cách tân của thơ vì cuộc đời và lẽ sống Cái tôi trong Thơ mới xuất hiện gắn liền với từng lớp thị dân, gắn với nền văn minh công nghiệp, đó vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể của nền văn hoá mới Các nhà Thơ mới đều
có ý thức khẳng định mình như một thực thể duy nhất không lặp lại Bởi vậy, Lưu Trọng Lư đã “mỉm cười trong thú đau thương” Đồng thời, các nhà Thơ mới quan niệm rằng cô đơn, buồn chính là cái đẹp Huy Cận đã từng bảo rằng
“Cái đẹp bao giờ cũng hơi buồn” Những quan niệm ấy có lẽ được khởi nguồn
từ phương Tây khi nhà thơ Mĩ Edgar Allan Poe đã từng nói: “Giọng điệu buồn là giọng điệu thích hợp với thơ ca”
Rõ ràng, khi quan niệm như vậy thì việc thể hiện thế giới tự nhiên cũng đồng thời cho việc bộc bạch tâm trạng Huy Cận đã phải thốt lên:
Cả một thiên cổ sầu ngìn năm dồn chất vào trong một tâm hồn thơ Xã hội đã đổi mới, “Một xã hội mới hình thành thay thế cho xã hội truyền thống Một ý thức hệ mới đang hình thành thay cho ý thức hệ cố hữu Một con người mới – dầu chưa phải là đa số quốc dân đang muốn hướng cuộc sống theo ý của họ Những con người “ở nhà Tây, đội mũ Tây, đi giày Tây, mặc áo Tây ”
Các nhà Thơ mới say sưa viết về những mối tình dang dở Họ quan niệm:
Trang 18N ử ồ …
é
Trang 19N ằ
C ụ ẻ
(Xuân Diệu) Điểm hay nhất của Thơ mới là chấp nhận cái “phi lí” Theo quan niệm
mĩ học thì cái đẹp là chấp nhận cái phi lí, đó mới là nghệ thuật Nhưng trong Thơ mới, cái phi lí lại trở nên rất có lí
Xuân Diệu thì lại khẳng định:
Cái tôi thường được biểu hiện trước hết là ở cách xưng hô và các đại từ nhân xưng Chỉ riêng một mình Thế Lữ mà cái tôi cá nhân ấy được biểu hiện thật là đa dạng, thể hiện ra dưới nhiều “vai”, lúc thì “người bộ hành phiêu lãng”
Trang 20Ý thức rõ về cái tôi càng mạnh mẽ bao nhiêu thì chỉ khiến cho con người ta đau buồn, và có khi lại quá nhỏ bé giữa một thực thể quá ư rộng lớn của vũ trụ Xuân Diệu đã từng ví mình như một “cây kim bé nhỏ”:
Rõ ràng, con người không thể đứng ngoài dòng chảy của cuộc sống, nhưng có lúc chính cái dòng chảy thời gian ấy, chính cái thực thể ấy đã khiến cho con người ta cảm thấy mình như người xa lạ, muốn được tự do:
Cái tôi cá nhân không phải đến thời gian này mới xuất hiện, thực tế trong tiến trình lịch sử văn học Việt Nam, cái tôi cá nhân đã ít nhiều xuất hiện vào thời kì trung đại (từ nửa cuối thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX) với các đại biểu như Đặng Trần Côn, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du và tiêu biểu hơn cả là bà Chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỉ
XX, văn học Việt Nam đã xuất hiện một hiện tượng lạ lùng, đó chính là Tú Xương:
Trang 21Các nhà thơ trong phong trào Thơ mới cũng bộc lộ một tình yêu nước kín đáo Nhà thơ Huy Thông trong bài “Con voi già” cũng bày tỏ tình cảm trân trọng với hình ảnh con voi già một thời nhiều chiến tích Đó là hình ảnh
cụ Phan Bội Châu một thời tung hoành trên trường đấu tranh chính trị và nay được tưởng nhớ lại với một tấm lòng cảm phục Nhà thơ Chế Lan Viên qua tập “Điêu tàn” nói về sự suy vong của nhà nước Chàm, và qua đó bộc lộ kín đáo nỗi lòng với quê hương đất nước
Một trong những phẩm chất quan trọng của thơ mới chính là tình yêu quê hương Quê hương – hai tiếng thân thiết ấy gắn bó và trỏ nên thiêng liêng
Trang 22trong lòng mỗi người Tình yêu quê hương là tình cảm quan trọng góp phần tạo nên nhân cách ở mỗi người, ở đậy là nơi chôn nhau cắt rốn, ở đấy có cha
mẹ và những người thân yêu Các nhà thơ như Nguyễn Khuyến, Tản Đà, Trần Tuấn Khải,…đã đem vào thơ những hình ảnh đẹp của quê hương Và trong phong trào Thơ mới, nhiều bài thơ hay viết về quê hương Các nhà thơ Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân… đều là những tác giả chuyên viết về làng quê, họ khai thác nhiều vẻ đẹp của quê hương và cả những vất vả gian truân của cuộc sống sau lũy tre xanh Các bài thơ “Quê hương” của Tế Hanh, “Chợ Tết” của Đoàn Văn Cừ, “Tràng giang” của Hy Cận, “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử, “Chân quê” hay “Mưa xuân” của Nguyễn Bính đều là những bài thơ xuất sắc miêu tả về quê hương trong phong trào Thơ mới Tế Hanh đã miêu tả cành một làng quê ở vủng biển với những hình ảnh rất đẹp, những người lao động được miêu tả khỏe khoắn man nhiều chất thơ:
Trang 23truyền thống quê hương cũng chính là trở về với cội nguồn Trong thơ Nguyễn Bính nổi lên vẻ đẹp của những cô gái quê có một tâm hồn đẹp, nhiều
mơ ước trong yêu đương nhưng lại gặp phải nhũng cảnh ngang trái, lỡ làng trong chuyện tình duyên hay bị tình phụ Hình ảnh cô gái bên khung cửi qua bài “Mưa xuân” gợi rất nhiều thương cảm ở người đọc Nguyễn Bính có ý thức trong sáng tạo nghệ thuật
H ở
Hai câu thơ trên của Nguyễn Bính bộc lộ một phương châm sáng tác là phải biết tôn trọng truyền thống, bản sắc của dân tộc Xu hướng ngoại lai, thành thị hóa, mất gốc là hiện tượng cần tránh trong sáng tạo nghệ thuật
Thơ mới là thơ ca tìm đến sự giải phóng bản ngã, giải phóng cá nhân Trong nhiều thế kỉ, thơ ca ít nói tới cái tôi cá thể Các nhà thơ bị ràng buộc trong những quy tắc chung ít dám khẳng định bản sắc của mình mà bản chất thơ ca là sự bộc lộ cảm xúc riêng tư trước cuộc đời Có thể nói phong trào Thơ mới đã góp phần giải phóng cái tôi, đây là một hiện tượng mang ý nghĩa
xã hội rộng rãi Trong thời kì này, nhiều cuốn tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn như “Nửa chừng xuân” của Khái Hưng, “Đoạn tuyệt” của Nhất Linh đều tiến công vào lễ giáo hà khắc của đại gia đình phong kiến Các nhân vật như bà
Án, bà Trần, ông Phủ, ông Huyện thường là đối tượng trực tiếp của sự phê phán Lớp thanh niên trẻ trong gia đình đó muốn thoát khỏi sự phụ thuộc vào cha mẹ để có quyền suy nghĩ và chủ động trong việc xây dựng hạnh phúc gia đình Các nhà thơ mới đã tìm cách tự khẳng định và tạo cho mình một thế giới tinh thần riêng Có nhà thơ bộc lộ nhiều trăn trở, những đau khổ trước cuộc đời như Huy Cận, Chế Lan Viên; có nhà thơ nói lên niềm khao khát được sống, được hưởng hạnh phúc, được giao cảm với đời và đặc biệt là tình yêu đôi lứa như nhà thơ Xuân Diệu
Trang 24Nhà thơ Chế Lan Viên nói lên những nỗi xót xa:
Trang 25Cái tôi phong trào Thơ mới có hai mặt biểu hiện, mặt tích cực là giải phóng cá nhân không tìm được chỗ dứng trong cuộc đời cũ, nhiều lúc rơi vào cực đoan hoặc chán chường Sau Cách mạng Tháng Tám cái tôi mới được thật sự giải phóng, nhà thơ hòa hợp với cuộc đời chung
Các nhà thơ mới là những người trí thức nghèo cũng phải chịu đựng nhiều nỗi vất vả trong cuộc sống và họ cũng có nhiều cảm thương với những người lao động vất vả Vũ Đình Liên là một nhà thơ biểu hiện rõ sự cảm thương với những người lao động vất vả, ông tự xem mình là “thi sĩ của những người thân tàn ma dại”:
Ô ồ ồ
Trang 26C e ặ e
Tình cảm nhân đạo trong thơ mới tuy chưa bộc lộ sâu sắc sự cảm thương theo quan điểm cách mạng nhưng cũng đã tạo được nhiều giá trị trong thơ Các nhà thơ xót thương những người nghèo khổ trong đời và một phần cũng biểu hiện sự cảm thương bản thân mình Họ là những người trí thức với nhiều khao khát và mơ ước nhưng đã bị cuộc đời đẩy vào hoàn cảnh tù túng không lối thoát, họ không thể tự mình tìm được lối ra
Tình cảm thiên nhiên trong thơ mới thì hết sức chân thật Thiên nhiên
là đề tài vô cùng quan trọng góp phần đem lại cái đẹp cho sáng tác thơ ca và cũng là nơi để nhà thơ gửi gấm tâm tình của mình Đã có nhiều bức tranh thiên nhiên đẹp trong thơ của Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Tản Đà… Tuy nhiên bước sang đầu thế kỉ XX, việc miêu tả thiên nhiên không có xu hướng rơi vào tình trạng ước lệ, miêu tả cảnh vật theo những quy ước mà dựa vào đời sống thực Có lần nhà thơ Tố Hữu đã nhận xét: “Thiên nhiên Việt Nam không có tuyết và hạc nhưng trong thơ lại
có nhiều hạc và tuyết” Thơ mới đã có những thay đổi rất cơ bản trong việc miêu tả thiên nhiên Thiên nhiên được miêu tả chân thực, cái đẹp của cảnh vật trong đời đã được phát hiện và đưa vào sáng tác thi ca:
Trang 27S
N
T ó
Có ở
Cảnh vật nông thôn cũng dược miêu tả rất đẹp trong thơ của Nguyễn Bính, Anh Thơ, có mưa xuân và lớp lớp hoa rụng Trong thơ của Nguyễn Bính:
H ụ
Trang 28Rồi hình ảnh làng quê trong thơ Anh Thơ:
H ở
L ay qua
Miêu tả thiên nhiên các nhà thơ trong nhiều trường hợp như hòa nhập với cảnh vật, nhân hóa thiên nhiên, tạo cho thiên nhiên một sức sống sinh động:
Phải nói rằng, Thơ mới là một hiện tượng văn học có giá trị đầu thế kỷ
XX Trong phạm vi lịch sử đó, Thơ mới có sự đổi mới đồng bộ nghệ thuật thơ: thi hứng hiện đại, thi pháp hiện đại, tạo thành tựu xuất sắc trong thơ Việt Nam hiện đại, để lại dấu ấn sâu sắc, rõ rệt trong thơ Sự đổi mới ấy có gốc rễ rất sâu vào truyền thống Do vậy, Thơ mới có một bộ mặt riêng, một vị thế riêng, là một bộ phận chứ không phải là Thơ ca hiện đại nói chung, cần được đánh giá xứng đáng.” Nhưng không tránh khỏi hạn chế
1 1 2 G T ổ
N
Thơ mới chủ yếu là thơ lãng mạn, thoát li cuộc đời Nhà phê bình Hoài Thanh nhận xét: “Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên; ta đắm say cùng với Xuân Diệu Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền,
Trang 29điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ” Nói tóm lại, mọi trạng thái thoát li cuối cùng vẫn trở về với cuộc đời thực
Thơ mới thoát li nên không nói nhiều về cuộc sống Còn ít những bức tranh sinh hoạt chân thật về đời thường Đề tài trong thơ mới phần lớn nói về tình yêu Một số nhà thơ qua việc miêu tả tình yêu đã nói lên được khát vọng giải phóng cá nhân, tuy nhiên không khí thơ chìm ngập trong yêu đương Tuy các nhà thơ luôn sống hết mình và yêu hết mình, dám viết những vần thơ thể hiện chân thật cảm xúc của mình nhưng có lúc dường như họ nghi ngờ chính cuộc sống mà họ đang sống Nhà thơ Lưu Trọng Lư luôn đắm say trong tình
và mộng, ông tìm thấy trong thơ cũng như trong tình yêu niềm vui và hạnh phúc nhưng thật mỏng manh:
T
M
Đề xuất quan điểm lãng mạn trong thi ca nhưng rồi thực tế các nhà thơ luôn gặp phải những cảnh ngộ thực của cuộc đời làm cho ai oán xót đau, không thể cứ mơ mộng mãi ở mây gió Chính Xuân Diệu đã nhận ra thực sự cảnh ngộ của mình:
Trang 30Với quan điểm “nghệ thuật vị nghệ thuật” tưởng rằng các nhà thơ luôn
đề cao vai trò của thơ nhưng nhiều lúc biến thơ thành một phương tiện để phục vụ tình yêu và không phải bao giờ cũng có sự tiếp nhận trân trọng Nhà thơ Đinh Hùng trong bài "Kĩ nữ” viết:
E ù
Miêu tả tình yêu, Xuân Diệu là người tả được nhiều trạng thái yêu đương nhất, cảm xúc say mê nhưng thanh cao Tuy nhiên cũng có nhiều nhà thơ say đắm trong tình yêu đam mê và bệnh hoạn như một số bài thơ của Vũ Hoàng Chương và Đinh Hùng
Vũ Hoàng Chương viết:
Thơ mới có những đóng góp về nghệ thuật, một trong những đóng góp quan trọng của thơ mới là đưa thơ ca đến với thời kì hiện đại, phù hợp với cách cảm và cách nghĩ của con người hôm nay Giữa Trần Tuấn Khải, Tản Đà với Xuân Diệu, Huy Cận có một khoảng cách khá xa về hình thức biểu hiện Một bên là thơ theo thi pháp cổ, một bên là theo thi pháp hiện đại Ngày nay, đọc nhiều bài thơ của Xuân Diệu, chúng ta cảm thấy tiếng nói ấy rất gần gũi Thơ mới đã khai thác nhạc điệu một cách có hiệu quả, đặc biệt là thanh bằng
Có những câu thơ nhạc điệu phù hợp với nội dung tạo nên những sợi cảm đặc biệt:
Trang 31(Bích Khê)
Câu thơ của Bích Khê được Hoài Thanh nhận xét là câu thơ hay vào bậc nhất của Thơ mới Nhạc điệu một số bài tạo nên âm hưởng đặc biệt như trong bài “Buồn đêm mưa” của Huy Cận:
Trang 32Trong bài thơ “Sương rơi”, Nguyễn Vĩ đã sử dụng những câu thơ hai từ
để nói lên tiếng sương rơi, mưa rơi, lá rơi:
G ó
T
Từ Thánh thót
Một số nhà thơ sử dụng hình họa làm cơ sở để cấu trúc một số bài thơ: hình tam giác, hình quả trám
Mặc dầu quan điểm sang tác có một số mặt hạn chế, thoát li, lãng mạn nhưng Thơ mới thật sự là một trào lưu thơ ca có những đóng góp quan trọng trong thơ ca của thời kì hiện đại Nhà phê bình văn học Hoài Thanh nhận xét:
Trang 33“Đừng lấy một người sánh với một người Hãy lấy thời đại sánh với thời đại Tôi quyết rằng trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ xuất hiện cùng một lúc một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu…” Thơ mới được sự hưởng ứng rộng rãi của bạn đọc vì đã đáp ứng đúng tâm lí của thời đại, tâm lí của lớp công chúng mới Nói như nhà thơ Lưu Trọng Lư: “Các cụ ưa chuộng những màu đỏ choét, ta lại yêu những màu xanh nhạt Các cụ bâng khuân vì tiếng trùng trong đêm, ta lại nao nao lòng vì tiếng gà gáy đúng ngọ Nhình một cô gái xinh xắn ngây thơ, các cụ coi như đã
là một điều tội lỗi, ta thì cho là mát mẻ như đứng trước một cánh đồng xanh Cái ái tình của các cụ chỉ là sự hôn nhân, nhưng đối với thơ ta thì trăm hình vạn trạng, cái tình say đắm, cái tình thoảng qua, cái tình xa xôi, cái tình trong giây phút, cái tình ngàn thu…”
Tuy có những hạn chế nhưng Thơ mới vẫn là một trào lưu thi ca có những đóng góp quan trọng cho thơ ca thời kì hiện đại Sau cách mạng Tháng Tám, hầu hết các nhà thơ mới đã đến với cách mạng và lại có những đóng góp quan trọng trên chặng đường thơ ca cách mạng Họ lại chín lại với thực tế mới Và một số nhà thơ tiêu biểu như Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử … có thể xem là tài năng thi ca thế kỉ XX Tác phẩm của họ có giá trị bền vững với thời gian
1 1 3 N ỗ ỳ 1942 – 1945
Lâu nay, Thơ mới vẫn được quan niệm chủ yếu là thơ lãng mạn, hiểu
với tư cách là , phân biệt với tượng trưng và
siêu thực Thực chất, Thơ mới là một hành trình tiếp thu những trào lưu thơ Pháp: lần lượt từ thơ lãng mạn thế kỉ XIX với Chateubriand, Lamartine, Musset, Vigny, Hugo, đến nhóm Thi Sơn với Théophile Gautier, Leconte de
Trang 34Liste, qua thơ tượng trưng với Baudelaire, Verlaine, Rimbaud, Mallarmé và
có những biểu hiện đầu tiên gần với thơ siêu thực những năm 20 của thế kỉ
XX Liệu có thể nói đến một siêu thực trong Thơ mới 1932 đến
1945? Tất nhiên, khác với chủ nghĩa siêu thực Pháp là sản phẩm trực tiếp từ cơn cuồng nộ Dada, với điểm tựa triết học từ học thuyết của Bergson và Freud, siêu thực Việt, do truyền thống dung hòa mọi thái cực, lại không trực tiếp hứng chịu hệ lụy từ cuộc Thế chiến I kinh hoàng, cộng thêm với việc tiếp nhận cùng một lúc nhiều trào lưu nghệ thuật không thể đẩy lên thành chủ nghĩa Không có tác giả Việt nào viết theo lối siêu thực mà có thể đặt vừa vặn một ô theo lí thuyết siêu thực của phương Tây, nhưng có thể khẳng định một
ý hướng rõ rệt thể hiện trong cả quan niệm và thực tiễn sáng tác như một vận động có tính quy luật của quá trình hiện đại hóa thi ca Việt Nam, vừa như nhu
cầu tự thân vừa dưới ảnh hưởng từ phương Tây
Từ 1936 trở đi, Thơ mới đã hình thành những quan niệm thực sự đứt gãy so với thơ lãng mạn giai đoạn trước, thể hiện trong quan niệm của trường thơ Loạn, nhóm Xuân Thu Nhã Tập, nhóm Dạ Đài Có thể tìm thấy những điểm gần gũi với tư duy và phương pháp sáng tác thơ siêu thực trong các bài
thơ văn xuôi của Hàn Mặc Tử (Q C ù C
…), tựa tập T và tựa tập Đ do chính hai tác giả
Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên tự viết, tuyên ngôn T của Xuân Thu Nhã Tập
và T của Dạ Đài Với họ, thơ là địa hạt của huyền diệu, thần bí, cao siêu Hàn Mặc Tử gọi đó là “ ồ ẻ ” là một “ õ
” õ “ ” “ ” “ ”
“ ” là cõi giới của “M ” “H ” “S ” và “ ẳ ” đó là nơi“ không ” mà thi sĩ mải miết bước vào như một “ ” Chế
Lan Viên gọi đó là “ L ằ ” Xuân Thu Nhã Tập gọi đó
Trang 35là “ õ ù ” với “ ứ ứ ” Dạ Đài gọi
nó là cõi “ ” “ ” là một cõi giới trùng phức mà “
… Các nhà thơ đề cao trực giác và cho rằng Nhà thơ là một
chủng loại đặc biệt, hiện lên như những khách lạ, là người mơ, người say, người điên,… tựu trung lại, là những siêu nhân với cuộc đời Họ tiềm ẩn những năng lượng bất thường và báo hiệu những bùng nổ phá cách trong thơ, sáng tạo trong trạng thái điên loạn như những kẻ lên đồng, nhập thần Nó là
những trạng thái “ ” “ ” “ ” được đẩy đến tột cùng – sáng tạo nằm
ngoài hành lang kiểm duyệt của ý thức Cái mơ của lãng mạn thuộc về lãnh địa của cảm xúc, nó vẫn nằm trong sự điều khiển của ý thức Còn cái mơ, say, điên của siêu thực thuộc cõi vô thức, rất gần với quan niệm của Freud về sáng tạo như cách giải phóng những xung năng, những ẩn ức ngủ quên Đó là khi cõi vô thức thức dậy và dành lại địa vị làm bá chủ trong tâm linh con người
Đó chính là trạng thái sáng tạo trong quan niệm của thơ siêu thực
Tuy nhiên, không tìm thấy căn cứ xác thực cho thấy các nhà thơ mới
trực tiếp thừa nhận ảnh hưởng của trường phái siêu thực Ngay cả bản “T
” (Dạ Đài), có rất nhiều điểm gặp gỡ với chủ nghĩa siêu
thực, nhưng ngay cách đặt nhan đề và cách các thi sĩ tự gọi mình là các “
” cho thấy ở thời điểm muộn màng nhất của hướng tìm tòi cuối
cùng trong Thơ mới - 1946, vẫn chưa có dấu hiệu thực chứng các nhà thơ Việt chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa siêu thực Pháp Cần lí giải sự gặp gỡ giữa quan niệm của Thơ mới với chủ nghĩa siêu thực như thế nào? Có thể đặt ra giả thuyết trong Thơ mới, các tác giả đã tiếp thu chủ nghĩa tượng trưng - chủ nghĩa có nhiều điểm gần gũi với siêu thực Trên cơ sở đó, họ đã tự mình phát triển quan niệm thơ và chạm đến nghệ thuật siêu thực Có thể khẳng định siêu thực xuất hiện ở Thơ mới trên hai mức độ: thứ nhất, đó là thứ siêu thực tự
Trang 36phát được hình thành theo sự vận động tất yếu của đặc trưng, bản chất thơ; thứ hai, đó là thứ siêu thực tự giác nhưng gián tiếp ảnh hưởng qua sáng tác nước ngoài và theo đà phát sinh tự nhiên mà từ tượng trưng đã dấn bước dần sang siêu thực
Dù đã xuất hiện trước đó rất lâu, nhưng phải đến giai đoạn hậu kì Thơ mới, những yếu tố siêu thực mới trỗi dậy thành khuynh hướng Tuy nhiên, tham vọng đi tìm một chất siêu thực thuần túy trong Thơ mới là không thể
Do cùng một lúc tiếp nhận nhiều nguồn thơ khác nhau, siêu thực trong Thơ mới là một tạp chất, ở nhiều tác giả, chất siêu thực và tượng trưng đã hòa hợp với nhau đến mức khó có thể tách rời
Chủ nghĩa siêu thực tìm đến thế giới của giấc mơ, của những ám ảnh
vô thức để tạo nên một thế giới hình tượng và thi ảnh riêng biệt Thơ mới giai đoạn hậu kì đã gặp gỡ với thơ siêu thực phương Tây khi các tác giả đem vào thơ một thế giới hình tượng dị kì: thế giới nguyên thủy của Đinh Hùng, thế giới điên loạn trong thơ Chế Lan Viên,…và đặc biệt, là thế giới đầy lạ lẫm,
ma quái trong T của Hàn Mặc Tử Nếu M trong thơ lãng mạn
mộng chủ yếu là cõi lí tưởng, đối lập với thực tại trần trụi hàng ngày (cõi mộng) hoặc là phương cách thoát ly thực tại (mơ mộng), thì cõi mộng của các nhà thơ này khác hẳn: nó là một thế giới thực tại của chiêm bao Nó không phải sản phẩm của trí tưởng tượng mà là sản phẩm của hoạt động vô thức, là
sự lên tiếng của những ẩn ức, ám ảnh bị đè nén bên trong Nó không đối lập với thực tại mà chính là thực tại ở chiều sâu và xa hơn Nó là một thế giới đa diện trùng phức chứ không phải thế giới phẳng như thơ lãng mạn gợi ra
Thi giới siêu thực trong M ồ của Đinh Hùng chập chờn giữa thế giới nguyên thủy tiền kiếp và đô thị hiện đại Chế Lan Viên trong “Điêu tàn”
đã tạo ra một thế giới kinh dị với những sọ dừa, xương khô, bóng ma Hời, Tuy nhiên, ở Chế Lan Viên, siêu thực chủ yếu thể hiện ở bình diện quan
Trang 37niệm, còn ở bình diện sáng tác, Chế Lan Viên vẫn là người làm thơ Điên đầy tỉnh táo Siêu thực trong Thơ mới thể hiện đậm đặc nhất trong thơ Hàn Mặc
Tử, đặc biệt là tập Đ Ở Đ xuất hiện nhiều hình ảnh hư
ảo, chập chờn thực – mộng, đến từ trạng thái vô thức của thi nhân mà trăng đã hiện diện đầy ám ảnh Hàn Mặc Tử để trăng bao phủ, xâm chiếm, đồng hóa
tất cả: “K ặ / T
” “N ó / Lụ ” Trăng biết quì, ặ ử biết ghen, biết
ụ …Vượt lên thủ pháp nhân hóa quen thuộc (chẳng hạn với Xuân Diệu:
“T ừ ễ ứ/ Đ ỉ ”) những hình ảnh thơ
Hàn Mặc Tử được tạo ra từ vô thức tính dục và đời sống tâm lí cuồng loạn Vì thế, vẫn là thủ pháp nhân hóa, nhưng bản thân thủ pháp đã chuyển hóa tự nhiên thành vấn đề cái nhìn, cảm quan thế giới và sự thăng hoa của những ẩn
ức từ đời sống vô thức cá nhân Dấu vết tượng trưng đậm nét trong thi ảnh thơ Hàn Mặc Tử, nhưng có thể, do thể trạng và tâm lý, Hàn Mặc Tử sống nhiều, sống sâu với những ám ảnh mãnh liệt của vô thức Đời sống vô thức kết hợp với những kĩ thuật của bút pháp tượng trưng đã tạo ra những câu thơ trùng phức siêu thực – tượng trưng đến mức không thể tách bạch
Cái tôi trữ tình Thơ mới giai đoạn hậu kì cũng có diện mạo khác hẳn giai đoạn trước: cái tôi trong trạng thái vô thức, điên loạn, mê sảng, cái tôi với
sự nguyên phiến bị phá vỡ thành những thực thể li hợp bất định Các thi sĩ
làm thơ như một khoảnh khắc lên đồng Khoảnh khắc ấy thi sĩ là một ẻ nhưng lại là một ẻ thể hiện vẹn nguyên con người thi sĩ nhất Trạng thái
ấy được Đinh Hùng, Chế Lan Viên và đặc biệt là Hàn Mặc Tử nói đến nhiều
trong sáng tác: “M e / N ồ ỗi
” (Đinh Hùng),… “Đ ! Đ ! Đ ! / Đ
ó ” (Chế Lan Viên) “A ó /
Trang 38ó ” (Hàn Mặc Tử),… Nếu cái tôi ý thức là cái
tôi nguyên phiến, thì cái tôi vô thức là cái tôi bị chia lìa, phân rã, bất định, li tan Cái tôi của Hàn Mặc Tử mang cấu trúc đa tầng phức hợp, có sự phân thân giữa thân xác với linh hồn Con người tự hình thành tha nhân ngay trong
chính bản thân mình Trong một cái tôi có nhiều “kẻ khác” Kẻ khác ấy đến từ đời sống vô thức, đầy lạ lẫm: “A ẳ ặ / ồ
” Cái tôi trữ tình trong thơ Hàn Mặc Tử vừa phân rã vừa bất
định Phân rã trong cấu trúc cái tôi và bất định trong động thái trữ tình Nhưng
đó không phải là những mảnh thể rời rạc mà đan xen nhau, tranh chấp, phản trái nhau tạo thành một trạng thái chập chờn bất định Đây là nét đặc trưng của cái tôi trữ tình trong thơ siêu thực
Phương thức tạo hình đặc trưng của chủ nghĩa siêu thực là đặt những hình ảnh vốn rất xa nhau lại cạnh nhau để tạo nên những “va đập chói lòa của hình ảnh”, nhằm thoát khỏi từ trường của những thói quen liên kết ngôn ngữ thông thường và phục sinh ngôn ngữ trong những chiều kích thẩm mỹ mới cũng được thấy rõ trong thơ mới hậu kì Trong những câu thơ của Nguyễn
Xuân Sanh, chẳng hạn, bài“ ồ ” có những kết hợp hình ảnh theo lối
siêu thực trên nhiều cấp độ, không dễ cảm nhận, chẳng hạn cách tạo tác
“ ” “ ồ ” “ ” “ ” “ mày trà ” “ ó ”… Xuân Thu Nhã Tập đã chớm chạm đến
“ngôi đền” siêu thực bằng cách cắt dán lắp ghép để tạo nên những hình ảnh lạ
lẫm Nhưng xét về mức độ, Xuân Thu chưa tạo ra được những hình ảnh “chói lòa” như thơ siêu thực phương Tây Chính tôn chỉ phục hưng văn hóa phương Đông, giữ lại căn cốt của mình vừa là điểm mạnh, điểm riêng, nhưng cũng vừa là giới hạn của Xuân Thu, bởi tiềm lực truyền thống chưa đủ mạnh và sự thẩm thấu cái mới chưa thật sâu, sự hòa trộn giữa cổ điển và hiện đại chưa thật nhuần nhuyễn
Trang 39Thơ mới đã chạm đến nghệ thuật siêu thực trong nỗ lực phát triển tự thân của văn học Việt hơn, nghiêng về sự phát triển nội sinh hơn ngoại nhập,
mà đậm đặc nhất là những sáng tác như hệ quả của những chấn thương tinh
thần của Đinh Hùng, Hàn Mặc Tử Tuy nhiên – kĩ thuật viết
đặc trưng của chủ nghĩa siêu thực – còn mờ nhạt và không có đại diện nào thực sự tiêu biểu Trường hợp Hàn Mặc Tử, dù đã có những vần thơ theo lối viết tự hành, nhưng vẫn chưa phải là một lối viết được ý thức, mà vẫn nghiêng về bản năng Như một hệ quả, siêu thực thời kì này chưa được ý thức
tự giác, và do chặng đường phát triển quá ngắn, tốc độ chuyển đổi quá nhanh, nên có nhiều điểm giao với thơ lãng mạn, tượng trưng, thể hiện trong rõ trong một nhà thơ, thậm chí ngay trong một thi phẩm, một thi ảnh
Không trở thành chủ nghĩa với những tuyên ngôn, chủ soái, lập thuyết, đăng đàn, nhưng cuộc tương ngộ Đông Tây khiến yếu tố siêu thực trong thơ Việt phát triển thành một khuynh hướng mạnh mẽ vừa đứt đoạn vừa nối tiếp
từ Thơ mới đến thơ đương đại Sau Thơ mới là Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Nguyễn Quốc Chánh, Phan Đan, hay ca từ của Trịnh Công Sơn… ở miền Nam hay một số sáng tác giai đoạn sau của các thành viên Nhân Văn Giai Phẩm, và sau này, với Thanh Thảo, Nguyễn Quang Thiều, Phan Nhiên Hạo… và nhiều người trẻ hơn, thực sự đã khiến siêu thực đã trở thành một khuynh hướng mạnh mẽ không thể phủ nhận trong thơ Việt Nam và cần đến những lí giải thấu đáo hơn
1.2 Nhu cầu đổi mới thi pháp thơ trữ tình Việt Nam từ sau 1945 và những tín hiệu khởi đầu
1 2.1 Những điều kiện thúc đẩy một cuộc cách mạng mới về thi pháp trong tho Việt Nam những năm đầu cách mạng (1945)
Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên ngôn độc lập nhưng nền độc lập đứng trước những thách thức to lớn
Trang 40Cũng như bối cảnh xã hội lúc ấy, văn học vừa diễn ra xu hướng hội tụ, vừa tiếp tục sự phân hóa của các khuynh hướng văn học Cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ ngày 19 tháng 12 năm 1946 đã mở đầu cuộc chiến tranh kéo dài
9 năm với Pháp Trong thời kỳ này, văn học đã được xây dựng để phục vụ cho cuộc chiến đấu của người Việt Nam mà hạt nhân là Việt Minh Văn hóa được định hướng theo phương châm do Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định
từ Đ ó N năm 1943 là - K - Đ còn đối với văn học thì Trong kháng chiến chống Pháp, khẩu hiệu K ó ó -
ó ó của Hồ Chí Minh cũng phản ánh mục tiêu và đi kèm với
nó là phương pháp chi phối văn hóa nói chung và văn học nói riêng trong giai
đoạn ấy Về phong cách, để có thể ó n hóa, văn học phải
nhằm đến đối tượng quần chúng đông đảo mà chủ yếu là nông dân và do vậy văn học giai đoạn này được hướng đến phong cách hiện thực, đại chúng
Do vậy khi bàn về T 1930 - 1945 trên tinh thần
khách quan, khoa học với một quan điểm lịch sử đúng đắn, giáo sư Trần Thanh Đạm (1994) viết: "Từ sau Cách mạng Tháng Tám quả đã bắt đầu một nền thơ ăn thua với cuộc đời chung, góp phần vào sự nghiệp chung của dân tộc Về cơ bản, tinh thần Thơ mới đã chấm dứt với Cách mạng tháng Tám, để khởi đầu một cuộc cách tân mới của thơ với nguồn thi hứng mới kéo theo một
hệ thi pháp mới, với những thành tựu mới, tiến xa hơn cao hơn thời Thơ mới"
Trong bối cảnh đó, những người sáng tác mà trong số họ có rất nhiều nhà thơ của phong trào Thơ mới, những nhà văn hiện thực phê phán với không ít cây bút tài năng băn khoăn với câu hỏi: viết cho ai? viết cái gì? viết như thế nào? “Người ta im lặng, hoặc cảm thấy bứt rứt vì không thể viết như
cũ, nhưng cũng chưa thể viết được cái mới như ý muốn của mình” Trong thời