Nhận thức của giáo viên và học sinh về việc sử dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học lịch sử .... Các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học chương “C
Trang 1Tr-ờng đại học vinh
Khoa Lịch sử
=== ===
trần thị hoài
khóa luận tốt nghiệp đại học
sử dụng ph-ơng pháp đàm thoại trong dạy học ch-ơng “các cuộc cách mạng t- sản
từ giữa thế kỷ xvi đến cuối thế kỷ xviii ”
(lịch sử lớp 10 - cơ bản)
Chuyên ngành: ph-ơng pháp dạy học lịch sử
Vinh - 2012
Trang 2Tr-ờng đại học vinh
Khoa Lịch sử
=== ===
khóa luận tốt nghiệp đại học
sử dụng ph-ơng pháp đàm thoại trong dạy học ch-ơng “các cuộc cách mạng t- sản
từ giữa thế kỷ xvi đến cuối thế kỷ xviii ”
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự động viên, giúp đỡ tận tình của cô giáo hướng dẫn, các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử, gia đình, bạn bè tôi
Lời đầu tiên cho phép tôi gửi lời cảm ơn chân thành tới cô giáo Nguyễn Thị Hà - người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện khóa luận này
Và tôi chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa, tập thể 49A Sử, gia đình, bạn bè tôi luôn ở bên cạnh, động viên và ủng hộ tôi trong thời gian qua
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn tập thể giáo viên và học sinh trường THPT Diễn Châu II đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi thực nghiệm khóa luận này
Là một sinh viên, lần đầu tiên làm quen với một đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục nên bản thân không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến chân thành của quý thầy cô và bạn bè để đề tài này được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 5 năm 2012
Sinh viên
Trần Thị Hoài
Trang 4BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Trang 5MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 7
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐÀM THOẠI TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT 7
1.1 Cơ sở lý luận 7
1.1.1 Khái niệm về phương pháp đàm thoại 7
1.1.2 Ý nghĩa của phương pháp đàm thoại 7
1.1.3 Các hình thức đàm thoại trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông 8
1.1.4 Kỹ năng thực hiện phương pháp đàm thoại 11
1.1.5 Sử dụng câu hỏi trong dạy học lịch sử 16
1.2 Cơ sở thực tiễn 22
1.2.1 Nhận thức của giáo viên và học sinh về việc sử dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học lịch sử 22
1.2.2 Thực trạng sử dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông 23
Tiểu kết chương 1 24
Chương 2 SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐÀM THOẠI TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “CÁC CUỘC CÁCH MẠNG TƯ SẢN TỪ GIỮA THẾ KỶ XVI ĐẾN CUỐI THẾ KỶ XVIII” (LỊCH SỬ LỚP 10 - CƠ BẢN) 25
2.1 Mục tiêu và nội dung của chương “Các cuộc cách mạng tư sản từ giữa thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII” (Lịch sử lớp 10 - cơ bản) 25
2.1.1 Mục tiêu của chương 25
2.1.2 Nội dung của chương “Các cuộc cách mạng tư sản từ giữa thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII” (Lịch sử lớp 10 - cơ bản) 26
Trang 62.2 Sử dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học chương “Các cuộc
cách mạng tư sản từ giữa thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII”
(Lịch sử lớp 10 - cơ bản) 27
2.2.1 Sử dụng phương pháp đàm thoại trong hoạt động nội khóa 27
2.2.2 Sử dụng phương pháp đàm thoại trong khâu kiểm tra, đánh giá 39
2.3 Các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học chương “Các cuộc cách mạng tư sản từ giữa thế kỉ XVI đến cuối thế kỉ XVIII” (Lịch sử lớp 10 - cơ bản) 45
2.3.1 Sử dụng phương pháp đàm thoại kết hợp với thảo luận nhóm 45
2.3.2 Sử dụng phương pháp đàm thoại kết hợp với đồ dùng trực quan 48
Tiểu kết chương 2 52
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 54
3.1 Mục đích thực nghiệm 54
3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 54
3.3 Đối tượng thực nghiệm 54
3.4 Tổ chức thực nghiệm 54
3.5 Nội dung thực nghiệm 55
3.5.1 Giáo án đối chứng 55
3.5.2 Giáo án thực nghiệm 61
3.6 Kết quả thực nghiệm 67
Tiểu kết chương 3 69
KẾT LUẬN 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xu thế toàn cầu hóa, quốc tế hóa như hiện nay đã đặt ra cho tất cả các nước đặc biệt là các nước đang và kém phát triển nhiều thuận lợi song cũng không ít thách thức Để hòa chung nhịp đập với thời đại, các nước đã tiến hành đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, trong đó coi phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu
Là một nước đang phát triển, trước xu thế của thời đại, Việt Nam cũng chú trọng phát triển giáo dục, coi đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển Cùng với sự phát triển của đất nước thì nền giáo dục Việt Nam từng bước được đổi mới Đổi mới giáo dục theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của người học Trong đó trọng tâm là đổi mới phương pháp dạy học Định hướng đổi mới phương pháp giáo dục được cụ thể hóa trong Nghị quyết TW II khóa VIII của Đảng: “Đổi mới phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điiều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học …” [5, 41]
Theo tinh thần của Nghị quyết TW II khóa VIII, công cuộc đổi mới giáo dục ở nước ta được tiến hành và đạt được những thành tựu đáng kể Song trên thực tế nền giáo dục nước nhà vẫn còn thua kém nhiều nước trên thế giới và trong khu vực Thực trạng dạy học theo lối truyền thụ một chiều, thầy đọc trò chép vẫn còn phổ biến Học sinh chỉ học trong vở ghi và sách giáo khoa là chủ yếu, việc đọc tài liệu tham khảo là rất hữu hạn, phương tiện dạy học còn thiếu Trong khi đó, ngành giáo dục Việt Nam đã xây dựng được những phương pháp dạy học tiến bộ như: Dạy học lấy học sinh làm trung tâm; Dạy học nêu vấn đề…song thực tế các phương pháp này còn tồn tại ở dạng lý thuyết, việc vận dụng vào dạy học còn nhiều lúng túng
Trang 8Trong bối cảnh như vậy, việc áp dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học có ý nghĩa vô cùng quan trọng Mặc dù là phương pháp dạy học truyền thống nằm trong nhóm các phương pháp nhận thức nhưng phương pháp đàm thoại có tác dụng rất lớn trong việc phát triển tư duy học sinh Với phương pháp đàm thoại nếu giáo viên sử dụng khéo léo sẽ kích thích được tính tích cực chủ động của học sinh, bồi dưỡng cho học sinh năng lực diễn đạt bằng lời nói, giúp học sinh tự tin hơn Bên cạnh đó, giáo viên thu được tín hiệu ngược từ kết quả học tập của học sinh một cách nhanh nhạy nhất từ đó điều chỉnh hoạt động dạy học để đạt hiệu quả cao nhất
Từ lâu, môn lịch sử bị xem là một môn phụ, môn học thuộc cộng với sự phức tạp trong nội dung lịch sử làm cho học sinh không hứng thú với môn học này Vì thế phương pháp đàm thoại trong dạy học lịch sử cũng chưa được chú ý đúng mức, chưa phát huy hết tính tích cực của nó
Từ những phân tích trên, lần đầu tiên làm quen với việc nghiên cứu khoa
học, tôi chọn đề tài: “Sử dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học chương
“Các cuộc cách mạng tư sản từ giữa thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII” (Lịch
sử lớp 10 - cơ bản)” Với mong muốn nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở
trường Phổ thông, để môn lịch sử thực sự gây hứng thú học tập cho học sinh
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ thời cổ đại, con người đã chú ý tới việc động viên tính tích cực và sáng tạo của thế hệ trẻ, điều đó được thể hiện qua tư tưởng của các nhà giáo dục học thời đó Các nhà giáo dục học đã chú ý đến việc sử dụng phương pháp đàm
thoại, trao đổi để nâng cao hiệu quả của việc dạy học
Socrate (469 - 390 TCN) người Hy Lạp đã từng đưa ra khẩu hiệu “Anh hãy tự biết lấy anh” [6, 34] Phương pháp này được gọi là phương pháp Socrate nhằm phát hiện ra chân lý bằng cách đặt câu hỏi để gợi cho người nghe dần dần tìm ra lý luận Ông gọi đây là “thuật đỡ đẻ” vì những câu hỏi mà ông nêu ra kích thích người đàm thoại tự tìm ra chân lý Có thể nói Socrate chính là người thầy đầu tiên đề ra phương pháp đàm thoại gợi mở
Trang 9Ở thế kỷ sau, Khổng Tử (551 - 479 TCN) người Trung Quốc quan tâm đến việc kích thích sự suy nghĩ của học sinh ông nói: “Không tức giận vì không muốn biết thì không gợi mở cho, không bực vì không rõ thì không bày vẽ cho, vật có bốn góc bảo cho biết một góc mà không suy ra được ba góc kia thì không dạy nữa” [6, 34] Ông yêu cầu học sinh học là phải suy nghĩ, muốn học sinh suy nghĩ thì giáo viên phải hướng dẫn bằng cách đặt câu hỏi gợi mở
Comensky (1592 - 1679) người Slovaquaca đòi hỏi người thầy phải làm thế nào để học sinh thích thú học tập và cố gắng để nắm lấy tri thức Ông nói:
“Tôi thường bồi dưỡng học sinh của tôi tinh thần độc lập trong quan sát, trong đàm thoại và trong việc ứng dụng vào thực tiễn” [6, 36]
Đến đầu thế kỷ XX, John Deway (1859 - 1952) người Mỹ chủ trương phải dựa vào kinh nghiêm thực tế của trẻ con, việc giảng dạy phải kích thích được hứng thú, phải để trẻ em độc lập tìm tòi, thầy giáo là người thiết kế, người cố vấn Ông đã từng viết: “Biết đặt câu hỏi tốt là điều kiện cốt lõi để dạy học tốt”
Nói về các mức độ của câu hỏi, về mặt nhận thức Gall gọi những câu hỏi
có yêu cầu thấp là câu hỏi sự kiện, những câu hỏi có yêu cầu cao là câu hỏi về mặt nhận thức
Đi sâu vào trình độ của trí tuệ của câu hỏi, Ben Jamin Bloom đã đề xuất một thang sáu mức tương ứng với sáu mức lĩnh hội kiến thức được thừa nhận khá rộng rãi (1956): Biết -> Hiểu -> Áp dụng -> Phân tích -> Tổng hợp -> Đánh giá
Ở Việt Nam, đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về phương pháp đàm thoại trong dạy học Riêng đối với môn lịch sử các tác giả cũng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc sử dụng phương pháp đàm thoại
Thứ nhất, Phan Ngọc Liên, Trần Văn Trị trong cuốn: “Phương pháp dạy
học Lịch Sử (Sách dùng cho các trường Đại học Sư phạm)”, NXB Giáo dục
(2004), đã nghiên cứu về các hình thức đàm thoại trong dạy học lịch sử đồng thời cũng đề ra những yêu cầu khi sử dụng phương pháp đàm thoại cũng như các câu hỏi dùng trong đàm thoại, trao đổi
Trang 10Thứ hai, Trịnh Đình Tùng, Phan Ngọc Liên, Nguyễn Thị Côi trong cuốn:
“Một số chuyên đề phương pháp dạy học Lịch sử”, NXB Quốc gia Hà Nội
(2002), đề cập đến việc nghiên cứu các phương pháp phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong dạy học lịch sử, đồng thời nêu ra các loại câu hỏi và yêu cầu khi sử dụng phương này
Thứ ba, Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi trong cuốn:
“Phương pháp dạy học Lịch sử”, tập 1, NXB Đại học Sư phạm (2002), coi
phương pháp đặt câu hỏi, trao đổi là một trong những biện pháp phát triển tư duy học sinh trong dạy học lịch sử
Ngoài ra, còn có nhiều công trình khoa học khác cũng nghiên cứu về phương pháp đàm thoại mà đề tài có tham khảo
Song nhìn chung các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học như đã nêu trên mới chỉ mới nghiên cứu một cách tổng quát, coi phương pháp đàm thoại là một bộ phận của hệ thống phương pháp dạy học lịch sử chứ chưa nghiên cứu một cách cụ thể về phương pháp đàm thoại trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
3 Đối tượng nghiên cứu và giới hạn đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Cơ sở lý luận và thực tiễn của phương pháp đàm thoại và việc sử dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học chương: “Các cuộc cách mạng tư sản từ giữa thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII” (Lịch sử lớp 10 - cơ bản)
3.2 Giới hạn đề tài
Đề tài chỉ giới hạn trong việc nghiên cứu việc sử dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học chương “Các cuộc cách mạng tư sản từ giữa thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII” (Lịch sử lớp 10 - cơ bản)
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
4.1 Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài: “Sử dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học chương “Các cuộc cách mạng tư sản từ giữa thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII” (Lịch sử lớp 10 - cơ bản)” nhằm mục đích:
Trang 11- Giúp chúng tôi làm quen phương pháp nghiên cứu một đề tài khoa học ứng dụng trong dạy học ở trường phổ thông
- Nắm vững cơ sở lý luận và thực tiễn của phương pháp đàm thoại áp dụng vào thực tiễn dạy học sau này
- Đề ra một số biện pháp để nâng cao hiệu quả của phương pháp đàm thoại trong dạy học lịch sử
- Thông qua thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi của phương pháp đàm thoại
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học môn lịch sử ở trường phổ thông
- Sử dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học các bài cụ thể của chương “Các cuộc cách mạng tư sản từ giữa thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII” (Lịch sử lớp 10 - cơ bản)
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm và đánh giá kết quả nghiên cứu
- Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Đọc và phân tích một số tài liệu có liên quan đến phương pháp dạy học nói chung và phương pháp đàm thoại nói riêng để xây dựng cơ sở lý luận của việc sử dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học lịch sử:
- Nghiên cứu các văn bản về luật, Nghị quyết của Đảng và Nhà nước về giáo dục
- Nghiên cứu các giáo trình về giáo dục học, lý luận dạy học
- Nghiên cứu nội dung chương “Các cuộc cách mạng tư sản từ giữa thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII” (Lịch sử lớp 10 - cơ bản) và các tài liệu liên quan
Trang 125.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra: Điều tra thực trạng sử dụng phương pháp đàm thoại của giáo viên thông qua tiếp xúc, trao đổi trực tiếp, lấy ý kiến của giáo viên và học sinh
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tiến hành thực nghiệm một số tiết trong chương “Các cuộc cách mạng tư sản từ giữa thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII” (Lịch sử lớp 10 - cơ bản)
- Phương pháp quan sát: Tiến hành theo dõi quá trình học tập của giáo viên ở trên lớp
6 Giả thuyết khoa học
Đề tài “Sử dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học chương “Các cuộc cách mạng tư sản từ giữa thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII” (Lịch sử lớp 10 -
cơ bản)” sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học lịch sử và nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường phổ thông
7 Đóng góp của đề tài
Đề tài “Sử dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học chương “Các cuộc cách mạng tư sản từ giữa thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII” (Lịch sử lớp 10 -
cơ bản)” sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường phổ thông
Có thể sẽ là tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu về phương pháp
đàm thoại, cho giáo viên, sinh viên, học sinh tham khảo
8 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung chính của khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng phương pháp
đàm thoại trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
Chương 2: Sử dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học chương “Các
cuộc cách mạng tư sản từ giữa thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII” (Lịch sử lớp 10 - cơ bản)
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 13NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐÀM THOẠI TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm về phương pháp đàm thoại
Có nhiều khái niệm khác nhau về phương pháp đàm thoại:
Theo tác giả Phạm Viết Vượng trong cuốn “Giáo dục học” thì: “Vấn đáp
là phương pháp hỏi và đáp Giáo viên tổ chức học sinh học tập thông qua sử dụng hệ thống câu hỏi và trả lời” [19, 96]
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang trong cuốn “Lý luận dạy học đại cương” thì:
“Đàm thoại thực chất là phương pháp trong đó thầy đặt ra một hệ thông câu hỏi
để trò lần lượt trả lời, đồng thời có thể trao đổi qua lại (thậm chí là tranh luận với nhau và với thầy) dưới sự chỉ đạo của thầy Qua hệ thống hỏi đáp trò lĩnh hội được nội dung bài học” [13, 90]
Theo nhóm tác giả Thái Văn Thành, Chu Thị Lục trong cuốn “Giáo dục
học II” thì: “Phương pháp vấn đáp là phương pháp mà giáo viên khéo léo đặt ra
hệ thống những câu hỏi để học sinh trả lời nhằm gợi mở cho học sinh sáng rõ những vấn đề mới, tìm ra những tri thức mới, từ những tài liệu đã học hoặc từ những kinh nghiệm đã tích lũy được trong cuộc sống nhằm củng cố, mở rộng, đào sâu tri thức đã tiếp thu được hoặc kiểm tra kết quả học tập của học sinh” [14, 36]
Mặc dù mỗi tác giả đưa ra một định nghĩa khác nhau song tựu trung lại phương pháp đàm thoại là phương pháp mà việc tổ chức quá trình dạy học bằng cách xây dựng hệ thống câu hỏi kích thích nhu cầu tìm tòi, phát hiện, lôi cuốn người học trong hoạt động nhận thức
1.1.2 Ý nghĩa của phương pháp đàm thoại
Đối với học sinh
Phương pháp đàm thoại có ý nghĩa rất lớn đối với học sinh, có ý kiến cho rằng “trao đổi, đàm thoại là trường học tư duy”, nếu được tổ chức khéo léo sẽ
Trang 14đem lại hiệu quả rất lớn Phương pháp đàm thoại làm cho giờ học trở nên sinh động, phát huy được tính tích, tinh thần độc lập sáng tạo của học sinh trong học tập, rèn luyện cho học sinh ý thức tự học Bên cạnh đó phương pháp đàm thoại còn bồi dưỡng cho học sinh năng lực diễn đạt những vấn đề khoa học một cách chính xác, đầy đủ, gọn gàng…Ngoài ra, phương pháp đàm thoại còn giúp học sinh tự tin hơn khi đứng trước đám đông và trong cuộc sống
Đối với giáo viên
Phương pháp đàm thoại giúp cho giáo viên thường xuyên thu được tín hiệu ngược từ kết quả học tập của học sinh một cách nhanh nhất để kịp thời điều chỉnh hoạt động dạy học nhằm đạt được hiệu quả cao hơn Bên cạnh đó phương pháp này còn giúp giáo viên phân hóa được đối tượng học sinh và biết được khả năng dạy học của mình trong quá trình dạy học từ đó có biện pháp nâng cao hiệu quả
1.1.3 Các hình thức đàm thoại trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
Việc trao đổi đàm thoại trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông được tiến hành dưới các hình thức chủ yếu sau đây:
- Trao đổi tái hiện nhằm gợi lại những kiến thức đã học để tiếp thu kiến thức mới để khái quát hóa và hệ thống hóa kiến thức Nó giúp học sinh củng cố hiểu sâu hơn kiến thức cũ, làm cơ sở cho việc tiếp nhận kiến thức mới, không bị gián đoạn trong nhận thức
Ví dụ: Khi dạy bài “Các quốc gia cổ đại Phương Tây - Hy Lạp và Rôma”
ở lớp 10, kết hợp với việc kiểm tra bài cũ, giáo viên tiến hành việc trao đổi nhằm làm cho học sinh củng cố nhận thức về những nét đặc trưng của xã hội phương Đông cổ đại, từ đó làm cơ sở cho việc so sánh với xã hội cổ đại phương Tây
Việc trao đổi tái hiện thường được tiến hành ở đầu giờ hoặc trong tiến trình của bài giảng cần nhắc lại kiến thức cũ, để nhận thức của học sinh được liên tục và có hệ thống
- Trao đổi đàm thoại phân tích và khái quát hóa nhằm làm cho học sinh tiếp thu tốt kiến thức trình bày, hiểu được tính lôgic, bản chất của sự kiện lịch
sử Trong việc trao đổi này giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích và đánh giá các sự kiện Lịch sử
Trang 15Ví dụ: khi dạy về “Công xã Pari” ở lớp 10, giáo viên có thể hướng dẫn
học sinh trao đổi để tìm ra những dẫn chứng chứng minh Công xã Pari 1871 là nhà nước kiểu mới Từ việc phân tích từng dẫn chứng một để chỉ ra tính chất kiểu mới của Công xã Pari học sinh sẽ hiểu được bản chất của sự kiện này
Câu hỏi nêu ra để học sinh trao đổi như trên thường liên quan đến các sự kiện cơ bản đòi hỏi vận dụng tổng hợp của nhiều hiện tượng để tìm ra tính lôgic, bản chất của sự kiện đó
- Trao đổi tìm tòi phát hiện nhằm tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh khi giải quyết các nhiệm vụ học tập phức tạp Trong trường hợp này, giáo viên đặt câu hỏi để học sinh huy động những kiến thức cần thiết thu được trong quá trình học tập, trong hoạt động thực tiễn (quan sát, nhận xét) để so sánh, đối chiếu các sự kiện lịch sử bằng suy đoán lôgic và tự tìm ra câu trả lời cho các vấn
đề đặt ra Trao đổi tìm tòi phát hiện bao gồm một chuỗi các câu hỏi lần lượt tìm hiểu những vấn đề nhỏ, bộ phận, có liên quan với nhau hợp thành vấn đề lớn cơ bản Việc giải quyết các câu hỏi nhỏ có tính chất gợi ý, bổ sung sẽ dẫn đến giải quyết vấn đề chính
Ví dụ: Khi dạy về cách mạng Tháng Tám 1945 giáo viên đưa ra vấn đề
“Thắng lợi của cách mạng Tháng Tám 1945 diễn ra 15 ngày song lại được chuẩn
bị lâu dài trong 15 năm” Để giải quyết được vấn đề chính này thì giáo viên phải
đưa ra một hệ thống các câu hỏi nhỏ: “Phong trào 1930 - 1931 chuẩn bị gì cho
cách mạng tháng Tám ?”, “Thời kỳ 1932 - 1935 chuẩn bị gì cho cách mạng tháng Tám?”, “Thời kỳ 1936 - 1939 chuẩn bị gì cho cách mạng tháng Tám?”,
“Phong trào 1939 - 1945 chuẩn bị gì cho cách mạng Tháng Tám?”…Sau khi
trao đổi trả lời được chuỗi câu hỏi đó thì vấn đề lớn được giải quyết thông qua việc khái quát, kết luận của giáo viên
Loại trao đổi, đàm thoại này thường được sử dụng ở các lớp lớn vì học sinh có khối lượng kiến thức cần thiết, tư duy lôgic khá phát triển, có khả năng phân tích các sự kiện lịch sử để từ đó rút ra nguyên nhân, ý nghĩa, đặc trưng của các sự kiện có thể đánh giá các sự kiện, nhân vật lịch sử
Trang 16Trong phương pháp này, hệ thống câu hỏi của giáo viên giữ vai trò chỉ đạo, có tính chất quyết định đối với chất lượng lĩnh hội của cả lớp Hệ thống câu hỏi của giáo viên vừa là kim chỉ nam vừa là bánh lái hướng tư duy học sinh theo một lôgic hợp lý, nó kích thích tính tìm tòi, trí tò mò và sự ham muốn giải đáp của học sinh Vì thế khi kết thúc đàm thoại học sinh có vẻ như tự lực tìm ra chân
lý và khía cạnh này tạo ra cho học sinh niềm vui sướng của nhận thức, một tình cảm rất tốt đẹp cần phát triển ở học sinh
Đây là phương pháp cần được phát triển rộng rãi ở trường phổ thông để đổi mới phương pháp dạy học theo mục tiêu đào tạo những con người năng động sáng tạo
- Trao đổi ôn tập, tổng kết được sử dụng trong trường hợp cần thiết để khái quát, củng cố kiến thức đã học Ví dụ: Qua một chương hay một khóa trình cần tổ chức trao đổi ôn tập để học sinh nhận thức sâu sắc quy luật của sự phát triển của xã hội loài người Đây là một phần của bài giảng có khi là cả bài vào cuối học kỳ hay cuối năm
Ví dụ: Khi dạy bài “Tổng kết lịch sử thế giới cận đại”, ở lớp 11, giáo
viên cho học sinh trao đổi để củng cố lại kiến thức về cách mạng tư sản, phong trào công nhân…Trên cơ sở đặt ra vấn đề so sánh “nền chuyên chính tư sản” và
“nền chuyên chính vô sản”, từ đó giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn về quy luật phát triển của lịch sử
- Trao đổi kiểm tra nhằm xét việc tiếp thu kiến thức của học sinh trong học tập để đánh giá, bổ sung, đính chính kiến thức, việc trao đổi này được tiến hành thường xuyên, xen lẫn vào bài giảng hay khi kiểm tra bài cũ
Trao đổi kiểm tra không chỉ nhằm xem xét học sinh nắm sự kiện lịch sử
mà cả khả năng phân tích, khái quát, hệ thống hóa và thực hành của học sinh
Ví dụ: Khi dạy về phần Bộ máy chính quyền thời Lê, giáo viên đã cung cấp cho học sinh về kiến thức phần này, giáo viên có thể kiểm tra mức độ nắm kiến thức của học sinh bằng cách cho học sinh cụ thể hóa kiến thức đó bằng cách vẽ sơ đồ Qua đó học sinh sẽ hiểu bài hơn và giáo viên cũng sẽ nhận biết được mức độ nhận thức của các em
Trang 171.1.4 Kỹ năng thực hiện phương pháp đàm thoại
Những yêu cầu cơ bản
* Yêu cầu đối việc đặt câu hỏi
Phương pháp đàm thoại được thực hiện bằng cách giáo viên đặt câu hỏi
và tổ chức để học sinh trả lời, cũng có thể tiến hành giữa học sinh với nhau thậm chí tự học sinh đặt câu hỏi và trả lời Song vấn đề đặt ra là phải tuân thủ yêu cầu
sư phạm Câu hỏi đặt ra để trao đổi, đàm thoại phải đảm bảo các yêu cầu sư phạm sau đây:
- Tính hệ thống và vừa sức đối với học sinh, phù hợp với trình độ và điều kiện học tập cũng như quỹ thời gian cho phép Hệ thống câu hỏi bao giờ cũng đi
từ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó…Có như vậy thì câu hỏi mới có tác dụng nâng cao sự nỗ lực trí tuệ cho học sinh cả lớp Tránh tình trạng để học sinh thỏa mãn đi đến chủ quan về vốn hiểu biết của mình
- Câu hỏi giáo viên đặt ra không nên quá bóng bẩy, khó hiểu mà phải gọn gàng, trong sáng, rõ ràng, nêu được vấn đề cần đặt ra có thể hiểu đúng, hiểu sâu hơn sự kiện Câu hỏi như vậy đòi hỏi học sinh phải có những thao tác tư duy mới tìm được câu trả lời thích đáng
- Câu hỏi phải mang tính chất bài tập nhận thức, liên quan đến hứng thú, những xúc cảm mạnh mẽ của học sinh, phải gây ra cảm giác ngạc nhiên khi đối chiếu cái chưa biết và cái đã biết sau khi trả lời đúng câu hỏi
- Khi đặt câu hỏi giáo viên cần tránh đặt những câu hỏi mà trong câu hỏi
có hàm chứa câu trả lời Tránh đặt những câu hỏi đã định hướng trả lời ngay trong bản thân nó, cũng như câu hỏi không được bao hàm ý đánh giá về giá trị Cũng không nên đặt câu hỏi mà học sinh chỉ cần trả lời “đúng” hay “sai”, “có” hay “không” Vì những câu hỏi ấy không yêu cầu học sinh tư duy nhiều
* Yêu cầu đối với việc vận dụng phương pháp đàm thoại
Khi vận dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học các môn học nói chung, môn Lịch sử nói riêng cần đạt được các yêu cầu sau:
Trang 18- Đối với giáo viên
+ Giáo viên cần phải đặt câu hỏi cho toàn lớp rồi mới chỉ định học sinh trả lời Khi một học sinh trả lời xong, cần yêu cầu học sinh khác nhận xét bổ sung, câu trả lời nhằm mục đích thu hút sự chú ý lắng nghe của học sinh, qua đó kích thích hoạt động chung của lớp
+ Giáo viên cần chú ý lắng nghe khi học sinh trả lời Khi học sinh trả lời giáo viên có thể đặt câu hỏi phụ, câu hỏi gợi mở giúp học sinh có được câu trả lời tốt nhất
+ Giáo viên không được cắt ngang câu trả lời của học sinh nếu không thật cần thiết Khi học sinh trả lời giáo viên chú ý uốn nắn, bổ sung câu trả lời của học sinh để đạt kết quả cao nhất trong quá trính đàm thoại
+ Ngoài việc chú ý đến nội dung câu trả lời của học sinh, giáo viên cần chú ý đến cách diễn đạt của học sinh
+ Bằng mọi biện pháp, giáo viên giúp học sinh mạnh dạn nêu ra thắc mắc
và sử dụng thắc mắc đó để xây dựng tình huống nêu vấn đề để toàn lớp tham gia trao đổi Nhờ vậy có thể góp phần cho học sinh hiểu chính xác nội dung bài học
+ Giáo viên cần tạo không khí thoải mái và khuyến khích các em tham gia trao đổi, có những điều kiện hấp dẫn như cho điểm cao, khen thưởng…
+ Giáo viên trân trọng mỗi bước tiến bộ nhỏ của học sinh tuy nhiên cũng không quá lạm dụng lời khen làm cho học sinh chủ quan, không có ý chí tiến thủ
- Đối với học sinh
Khi hướng dẫn học sinh trả lời câu hỏi giáo viên cần lưu ý học sinh:
+ Đọc kỹ câu hỏi
+ Tìm hiểu nội dung câu hỏi và yêu đặt ra cần giải quyết
+ Vận dụng kiến thức, sưu tầm tài liệu làm cơ sở cho việc suy nghĩ và giải quyết vấn đề nêu ra trong câu hỏi
+ Tự kiểm tra lại câu trả lời xem đã đúng và chính xác không
Cách tổ chức hoạt động đàm thoại cho học sinh
Có ba cách tổ chức hoạt động của học sinh trong hoạt động đàm thoại:
Trang 19- Giáo viên đặt ra những câu hỏi nhỏ để học sinh trả lời, mỗi học sinh trả lời một câu Tổ hợp các câu hỏi và đáp án là nguồn thông tin mới cho cả lớp
Sơ đồ như sau:
Ví dụ:
+ Câu hỏi 1: Mục đích, nhiệm vụ của công cuộc thống nhất nước Đức là gì?
Trả lời: Xóa bỏ sự cản trở của chế độ phong kiến, thống nhất đất nước, mở đường cho kinh tế TBCN phát triển
+ Câu hỏi 2: Lãnh đạo của cuộc thống nhất nước Đức là tầng lớp nào?
Trả lời: Tầng lớp quý tộc Joongke mà đứng đầu là Bixmac - Thủ tướng nước Đức
Giáo viên tổng kết: Công cuộc thống nhất nước Đức ở thập niên 60, 70 của thế kỉ XIX được xem là một cuộc cách mạng tư sản và nó đã thống nhất đất nước mở đường cho kinh tế TBCN phát triển, mặc dù lãnh đạo không phải là giai cấp tư sản Qua đây học sinh hiểu được một nguồn thông tin mới về khái niệm của cuộc cách mạng tư sản, lãnh đạo cách mạng tư sản có thể là tầng lớp khác, miễn là có tư tưởng xóa bỏ những cản trở của chế độ phong kiến mở đường cho CNTB phát triển
Đối với phương án này, học sinh ghi nhớ kiến thức một cách rời rạc, thiếu lôgic vì vậy việc tổng kết kiến thức của giáo viên có ý nghĩa quan trọng
- Giáo viên nêu một câu hỏi lớn, kèm theo những gợi ý liên quan đến câu hỏi Học sinh trả lời từng bộ phận của câu hỏi lớn, học sinh trả lời sau bổ sung
HỌC SINH 2 GIÁO VIÊN
TỔNG KẾT
Trang 20học sinh trả lời trước cứ thế cho đến khi tổ hợp các câu trả lời của học sinh đã đủ
để giải đáp câu hỏi nêu ra một cách đầy đủ, đúng đắn Sơ đồ như sau:
Ví dụ: Em hiểu như thế nào là cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới?
Trả lời:
+ Học sinh 1: Nhiệm vụ của cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới là đánh
đổ chế độ phong kiến, xóa bỏ mọi đặc quyền phong kiến, thực hiện dân chủ và đưa cách mạng tiếp tục đi lên
+ Học sinh 2: Lãnh đạo của cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới là giai cấp
HỌC SINH 2 GIÁO VIÊN
TỔNG KẾT
Trang 21tố kích thích tranh luận Chẳng hạn, một nghịch lý, một vấn đề có nhiều lựa chọn Mỗi nhóm sẽ đưa ra ý kiến riêng và tìm ra lý lẽ để bảo vệ ý kiến của mình
Sơ đồ như sau:
Ví dụ: Trách nhiệm của nhà Nguyễn trong việc mất độc lập?
Sẽ có các luồng ý kiến sau:
- Nhóm học sinh 1: Trách nhiệm hoàn toàn thuộc về nhà Nguyễn
- Nhóm học sinh 2: Nhà Nguyễn không phải chịu trách nhiệm trong việc mất nước Nguyên nhân mất nước là do bối cảnh lịch sử quy định
- Nhóm học sinh 3: Mất nước một phần thuộc về nhà Nguyễn song cũng phải xét đến bối cảnh lịch sử trong và ngoài nước lúc bấy giờ
Mỗi nhóm học sinh sẽ đưa ra những lý lẽ để bảo vệ ý kiến của mình, sau
đó giáo viên sẽ tổng kết
Đối với cách này thì hiệu quả rất lớn, phát huy tối đa sự chủ động, độc lập, sáng tạo của học sinh Tuy nhiên chỉ thực hiện được ở những lớp lớn, khi trình độ nhận thức của các em đã cao hơn
Các mức độ câu hỏi về mặt nhận thức
Theo Benjamin Bloom có 6 mức lĩnh hội kiến thức:
- Biết: Câu hỏi yêu cầu học sinh nhắc lại kiến thức đã biết, học sinh chỉ dựa vào trí nhớ để trả lời
Ví dụ: Em hãy nêu ý nghĩa của cuộc cách mạng tháng Mười Nga?
HỌC SINH 2 GIÁO VIÊN
TỔNG KẾT
Trang 22- Hiểu: Câu hỏi yêu cầu học sinh tổ chức sắp xếp các kiến thức đã học
và diễn đạt bàng ngôn ngữ của mình, chứng tỏ thông hiểu chứ không chỉ biết
và nhớ
Ví dụ: Em hãy giải thích vì sao Công xã Pari là nhà nước kiểu mới?
- Áp dụng: Câu hỏi yêu cầu học sinh áp dụng kiến thức đã học (định nghĩa một khái niệm, nội dung một định luật…) vào tình huống mới, khác trong bài học
Ví dụ: Áp dụng khái niệm cách mạng tư sản để giải thích công cuộc thống
nhất nước Đức là một cuộc cách mạng tư sản?
- Phân tích: Câu hỏi yêu cầu học sinh phân tích nguyên nhân hay kết quả của một hiện tượng, tìm kiếm những bằng chứng cho những luận điểm…(những điều này chưa được cung cấp cho học sinh trước đó)
Ví dụ: Phân tích nguyên nhân dẫn đến sự thành lập Đảng cộng sản Việt
Nam 2/ 1930?
- Tổng hợp: Câu hỏi yêu cầu học sinh vận dụng tổng hợp các kiến thức đã học để giải đáp một vấn đề khách quan bằng suy nghĩ sáng tạo của bản thân
Ví dụ: Trách nhiệm của Nhà Nguyễn trong việc để mất độc lập?
- Đánh giá: Câu hỏi yêu cầu học sinh nhận định, phán đoán về ý nghĩa của một học thuyết, giá trị của một cách giải quyết một vấn đề mới đặt ra trong chương học tập
Ví dụ: Đánh giá về vai trò của học thuyết CNXH khoa học đối với phong
trào công nhân?
1.1.5 Sử dụng câu hỏi trong dạy học lịch sử
Các loại câu hỏi sử dụng trong dạy học lịch sử
- Loại câu hỏi tự luận
+ Câu hỏi về sự phát sinh các sự kiện, hiện tượng lịch sử tức là câu hỏi về nguyên nhân sâu xa, nguyên nhân trực tiếp hay hoàn cảnh, bối cảnh lịch sử của
sự kiện, hiện tượng đó
Ví dụ: Nêu nguyên nhân bùng nổ phong trào công nhân?
Trang 23Loại câu hỏi này thường xuất hiện ở đầu bài giảng, bởi vì bất kỳ một sự kiện hiện tượng lịch sử đều xuất hiện trong hoàn cảnh lịch sử nhất định, đều có nguyên nhân phát sinh của nó Đây cũng là một đặc điểm của tư duy lịch sử cần hình thành từng bước cho học sinh Nó đòi hỏi các em khi xem xét bất kỳ một sự kiện nào cũng phải đặt trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể, tìm ra những nguyên nhân làm nảy sinh sự kiện đó
+ Câu hỏi về quá trình diễn biến, phát sinh của sự kiện, hiện tượng lịch
sử, như diễn biến các cuộc cách mạng, diễn biến các cuộc chiến tranh Loại câu hỏi này thường gặp ở tất cả các loại bài học Tuy là câu hỏi ít suy luận song lại đòi hỏi trí nhớ, phải biết nhiều về sự kiện, địa danh, nhân vật Để giúp học sinh phát triển trí nhớ, cần phân chia câu hỏi thành nhiều câu hỏi nhỏ, đồng thời lập niên biểu mối liên hệ giữa các sự kiện
Ví dụ: Nêu diễn biến các cuộc cách mạng Tháng Tám 1945 ở nước ta?
+ Câu hỏi nêu đặc trưng, bản chất của các hiện tượng lịch sử bao gồm sự đánh giá và thái độ của học sinh đối với các hiện tượng lịch sử ấy Thường thì loại câu hỏi này rất khó đối với học sinh, đòi hỏi các em phải biết phân tích, đánh giá, biết bày tỏ thái độ của mình đối với sự kiện, hiện tượng lịch sử Đây là loại câu hỏi khó nên giáo viên cần đưa thêm câu hỏi phụ để gợi mở giúp các em trả lời câu hỏi chính
Ví dụ: Điểm tiến bộ và hạn chế của Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân
quyền năm 1789,Hiến pháp 1791 so với xã hội quân chủ chuyên chế trước cách mạng Pháp?
Để giúp học sinh trả lời câu hỏi trên giáo viên có thể đặt các câu hỏi phụ
để gợi mở như: Tuyên Ngôn và Hiến pháp phục vụ cho ai? Dân nghèo có được
hưởng hay không?
+ Câu hỏi tìm hiểu kết quả, nguyên nhân dẫn đến kết quả đó và ý nghĩa lịch sử của nó Lịch sử là quá trình phát triển liên tục đan xen nhau giữa các sự kiện hoặc các hiện tượng hay quá trình lịch sử nào đó Cần cho học sinh thấy được kết quả của sự vận động, nguyên nhân thắng lợi hay thất bại và ảnh hưởng
Trang 24của nó tới quá trình phát triển của lịch sử, loại câu hỏi dẫn dắt học sinh trả lời vấn đề này có nhiều, hầu hết các bài chúng ta đều gặp, để trả lời câu hỏi này học sinh dựa vào sách giáo khoa để trả lời bằng ngôn ngữ của mình chứ không lặp lại sách giáo khoa
Ví dụ: Em hãy nêu nguyên nhân thất bại của phong trào Cần Vương?
+ Câu hỏi đối chiếu so sánh giữa các sự kiện, hiện tượng lịch sử này với các các sự kiện, hiện tượng lịch sử khác cùng loại Đây là loại câu hỏi khó Ưu điểm của loại câu hỏi này là vừa giúp học sinh củng cố, ôn tập lại kiến thức cũ, vừa tiếp nhận kến thức mới
Ví dụ: So sánh phong trào cách mạng 1930 - 1931 và phong trào cách
mạng 1936 - 1939?
+ Câu hỏi yêu cầu sử dụng kiến thức đã học để hiểu kiến thức mới Loại câu hỏi này thường được sử dụng khi bắt gặp đơn vị kiến thức tương đồng giữa kiến thức cũ và kiến thức mới
Ví dụ: So sánh công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất và lần thứ hai
của thực dân Pháp ở Đông Dương về quy mô, mức độ và tác động đến kinh tế -
xã hội nước ta
+ Câu hỏi học sinh sử dụng tài liệu học tập như tài liệu lịch sử, tài liệu văn học Đây thực chất là loại câu hỏi mở rộng, nâng cao, để học sinh hiểu sâu hơn
về bài học Để sử dụng loại câu hỏi này giáo viên cần hướng dẫn học sinh đọc tài liệu
Ví dụ: Hiểu biết của em về Phan Bội Châu?
+ Câu hỏi yêu cầu học sinh rèn luyện kỹ năng thực hành bộ môn trong đó đặc biệt nhấn mạnh về kỹ năng thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan
Ví dụ: Vẽ sơ đồ tổ chức bộ máy nhà nước thời Lê sơ?
Các loại câu hỏi nêu trên tạo thành một hệ thống hoàn chỉnh, giúp học sinh trong quá trình học tập lịch sử phát hiện ra nguyên nhân, diễn biến, kết quả,
ý nghĩa của một sự kiện trong quá trình lịch sử Các loại câu hỏi đó không chỉ cho học sinh biết sự kiện mà đi sâu hiểu bản chất của sự kiện, nó không chỉ đòi
Trang 25hỏi học sinh nhớ lại sự kiện cơ bản mà còn phải suy nghĩ nhận thức sâu sắc bản chất của sự kiện
- Loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan
+ Câu hỏi yêu cầu học sinh xác định đúng - sai: Loại câu hỏi này đòi hỏi học sinh xác định “đúng” hay “sai” trước các sự kiện, niên đại, khái niệm, định nghĩa, các nội dung phán đoán được nêu ra Loại câu hỏi này có thể là một câu trần thuật hay những câu hỏi trực tiếp được trả lời “có” hay “không”
Ví dụ: Điền đúng (Đ) hoặc sai (S) vào các sau:
Tuyên Ngôn Đảng cộng sản của Mác và Ănghen ra đời năm 1648
Cuộc đấu tranh thống nhất nước Đức được thực hiện từ dưới lên
Cuộc vận động thống nhất Italia và cải cách nông nô ở Nga là các
cuộc cách mạng tư sản
+ Câu hỏi yêu cầu học sinh lựa chọn phương án trả lời đúng nhất Đó là việc đặt một câu hỏi, kèm theo nhiều trả lời, học sinh phải chọn một ý hoặc câu trả lời đúng
Ví dụ: Khi dạy xong bài “Những chuyển biến mới về kinh tế và xã hội
Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất”, giáo viên ra bài tập: Hãy khoanh tròn chữ in hoa trước ý trả lời đúng:
Mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất là:
A Mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ
B Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và tay sai phản động
C Mâu thuẫn giữa tư sản dân tộc với tư sản Pháp
D Mâu thuẫn giữa công nhân và tư sản
+ Câu hỏi ghép đôi: Đây là loại câu hỏi phong phú, đa dạng trong dạy học lịch sử Loại câu hỏi này cho phép xác lập mối quan hệ giữa sự kiện với niên đại, không gian, thời gian, nhân vật
Ví dụ: Hãy nối mốc thời gian bên trái với các sự kiện bên phải sao cho
phù hợp trong bảng sau:
Trang 261946 Chiến thắng Việt Bắc
1947 Kháng chiến toàn quốc bùng nổ
1950 Đại hội anh hùng chiến sỹ thi đua lần thứ nhất
1951 Chiến thắng Biên giới
1952 Đại hội đại biểu lần thứ hai của Đảng
1953 Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ
1954 Cải cách ruộng đất
+ Câu hỏi điền khuyết: Loại câu hỏi này thường đòi hỏi học sinh không chỉ nhớ mà hiểu để lý giải một cách lôgic nội dung vấn đề được đặt ra Phần điền vào chỗ trống phải ngắn gọn, tương ứng với phần nêu ra song phải đủ ý, rõ ràng
Ví dụ: Sau khi học xong phần “Lịch sử các nước đế quốc từ cuối thế kỷ
XIX đến đầu thế kỷ XX”, giáo viên yêu cầu học sinh: Hãy điền vào chỗ trống
trong các câu dưới đây:
+ Chủ nghĩa đế quốc Anh được gọi là…, vì đế quốc Anh tồn tại và phát
triển nhờ vào …
+ Chủ nghĩa đế quốc Pháp được gọi là…, vì đế quốc Pháp đem xuất cảng
tư bản bằng cách …
+ Chủ nghĩa đế quốc Đức là chủ nghĩa đế quốc…
Sử dụng câu hỏi trong dạy học lịch sử
- Sử dụng câu hỏi trong khâu soạn bài
Việc sử dụng câu hỏi trong khâu soạn bài cần chú ý về cả số lượng, chất lượng và tính hệ thống của câu hỏi trong giáo án Tùy vào đặc điểm trình độ học sinh, tùy vào phương pháp được chọn và nội dung bài học, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh mà quyết định số lượng câu hỏi thích hợp
Giáo án là bản kế hoạch của một tiết lên lớp, trong đó ghi rõ hoạt động của thầy và trò Đối với khâu soạn giáo án, việc chuẩn bị các câu hỏi có ý nghĩa quan trọng Vì thế khi đặt câu hỏi, giáo viên nên đặt câu hỏi ở những chỗ cần hỏi, những phần trọng tâm để làm nổi bật nội dung bài học Giáo viên cũng cần
Trang 27chú ý đến tỷ lệ của câu hỏi sự kiện và câu hỏi yêu cầu về mặt nhận thức Cần nâng cao câu hỏi yêu cầu về mặt nhận thức và cần phải hình dung trước câu trả lời của học sinh để điều chỉnh bài học
Giáo viên cần sắp xếp các câu hỏi theo một trình tự nhất định, không nên tùy tiện đặt câu hỏi tức thì mà không có sự chuẩn bị từ trước Tuy nhiên, cũng tùy theo diễn biến của lớp học mà tăng thêm một số câu hỏi để bài học đạt kết quả tốt nhất
Sau khi soạn xong giáo án, giáo viên nên kiểm tra lại các câu hỏi để xem
đã đảm bảo tính vừa sức hay chưa, có chính xác hay không để điều chỉnh kịp thời Sử dụng câu hỏi trong khâu soạn bài thực chất là việc chuẩn bị cho việc lên lớp, chuẩn bị tốt sẽ đạt kết quả cao
- Sử dụng câu hỏi trong hoạt động nội khóa:
Khi lên lớp, để học sinh tiếp nhận kiến thức một cách hiệu quả nhất, giáo viên còn tổ chức cho học sinh trả lời các câu hỏi và đặt các câu hỏi thắc mắc (nếu có) Trước hết, giáo viên đặt câu hỏi cho cả lớp suy nghĩ sau một khoảng thời gian vừa đủ tùy theo mức độ khó, dễ của câu hỏi mà gọi học sinh đứng dậy trả lời
Giáo viên gọi một học sinh trả lời, sau đó cho các em khác theo dõi, nhận xét và trả lời bổ sung Việc chỉ định học sinh trả lời cần có sự bình đẳng, cố gắng phát huy tính tích cực của tất cả các em Sau khi học sinh trả lời xong, giáo viên tổng kết và giúp các em tiếp nhận kiến thức, hiểu rõ vấn đề
- Sử dụng câu hỏi trong khâu kiểm tra, đánh giá:
Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh được tiến hành dưới hai hình thức: kiểm tra miệng và kiểm tra viết Việc kiểm tra, đánh giá học sinh trong dạy học lịch sử có thể tiến hành bằng câu hỏi tự luận hoặc trắc nghiệm khách quan, cũng có thể là sự kết hợp cả hai phương pháp nêu trên
Câu hỏi sử dụng trong kiểm tra, đánh giá học sinh phải rõ ràng, trong sáng, dễ hiểu đồng thời phải phân hóa được đối tượng học sinh để có cách đánh giá chính xác, khách quan nhất
Trang 281.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Nhận thức của giáo viên và học sinh về việc sử dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học lịch sử
Về phía giáo viên:
Trong những năm gần đây, xu thế đổi mới phương pháp dạy học theo hướng lấy học sinh làm trung tâm Vì thế các giáo viên luôn tìm tòi, sử dụng các phương pháp dạy học để nâng cao hiệu quả bài học và việc sử dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học lịch sử cũng được chú trọng
Mặc dù là một phương pháp dạy học truyền thống, song phương pháp đàm thoại có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển tư duy học sinh Vì thế phương pháp này đã được sử dụng khá phổ biến trong các tiết học lịch sử Nhìn chung, các giáo viên ở trường phổ thông đều nhận thức được rằng phương pháp đàm thoại là phương pháp mang tính chất tích cực, đem lại hiệu quả cao Song trong thực tế, không mấy ai vận dụng phương pháp đàm thoại đạt hiệu quả cao Bởi một số giáo viên thì chưa hiểu rõ về phương pháp này nên khi sử dụng thì giáo viên vẫn là người làm việc nhiều, chưa phát huy được tính tích cực của học sinh Một số khác thì cho rằng phương pháp đàm thoại đạt hiểu quả cao không chỉ trong việc cung cấp kiến thức cho học sinh mà còn trong việc bồi dưỡng cho các em khả năng giáo tiếp trong xã hội Vì thế đã quá lạm dụng phương pháp đàm thoại và biến bài học thành một chuỗi câu hỏi và trả lời
Những nhận thức chưa đúng đắn trên đây của giáo viên đã làm giảm đi ưu thế vốn có của phương pháp đàm thoại Bởi vậy, các cấp giáo dục cần trang bị cho giáo viên đầy đủ về kỹ năng sử dụng phương pháp đàm thoại để phát huy một cách hiệu quả phương pháp này trong dạy học lịch sử
Về phía học sinh:
Từ trước đến nay, trên thực tế nhiều học sinh xem môn lịch sử là một môn phụ, một môn học thuộc nên không chú trọng Nếu giáo viên có sử dụng phương pháp đàm thoại, trao đổi thì học sinh cũng chưa nhiệt tình tham gia Mặt khác do thời gian chuẩn bị bài, học bài ở nhà không nhiều nên các em không thể hiểu sâu
Trang 29được vấn đề lịch sử Vì thế việc sử dụng phương pháp đàm thoại còn chưa đạt kết quả cao
Tuy nhiên nhiều em cũng nhận thấy việc sử dụng phương pháp đàm thoại
có ý nghĩa vô cùng quan trọng, giúp các em hứng thú hơn với môn học lịch sử
và các em tự tin hơn trong việc trình bày ý kiến của mình, tạo cho các em niềm say mê trong học tập
Từ những nhận thức trên, giáo viên cần có biện pháp tổ chức cho học sinh trao đổi, đàm thoại trong dạy học lịch sử để việc học tập lịch sử đạt kết quả tối ưu
1.2.2 Thực trạng sử dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
Qua thực tế dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay thì việc sử dụng phương pháp đàm thoại đã trở nên phổ biến, song một thực trạng không thể chối cãi là kết quả của việc sử dụng phương pháp này chưa cao Có những giáo viên chưa thực hiện đúng quy trình của phương pháp và chuẩn bị chưa chu đáo Mặt khác công việc giảng dạy của giáo viên cũng bị quy định bởi thời gian và nội dung Do đó giáo viên cần phải tìm tòi phương pháp dạy học thích hợp nhất là chương trình phân ban
Đối với phương pháp đàm thoại việc xây dựng câu hỏi có ý nghĩa quan trọng, tuy nhiên nhiều giáo viên vẫn coi việc cung cấp kiến thức làm sẵn cho học sinh là chính nên những vấn đề đặt ra phần lớn chỉ nhằm vào việc đòi hỏi học sinh nhắc lại kiến thức mà giáo viên đã giảng Những câu hỏi như vậy có tác dụng kiểm tra kiến thức và nhắc nhở ý thức học tập của học sinh nhưng chưa có tác dụng trong việc phát triển tư duy học sinh
Nhiều giáo viên sử dụng những câu hỏi quá vụn vặt không trọng tâm, sử dụng câu hỏi sự kiện nhiều hơn là câu hỏi yêu cầu cao về mặt nhận thức Câu hỏi chưa đảm bảo trình tự lôgic hợp lý và chưa hình dung được đầy đủ khả năng trả lời của học sinh Nhiều giáo viên ra câu hỏi chưa phù hợp với trình độ của học sinh Những câu hỏi quá dễ thì không kích thích được sự cố gắng tìm tòi của các em Còn những câu hỏi quá khó làm cho các em ngại suy nghĩ để trả lời
Trang 30Hay là tình trạng giáo viên câu hỏi chưa rõ ràng, chính xác, trong sáng làm cho học sinh lúng túng trong việc trả lời
Hoặc là kỹ năng tổ chức cho học sinh đàm thoại, trao đổi còn nhiều hạn chế nên đã biến đàm thoại thành một cuộc tranh luận giữa giáo viên và học sinh,
vì thế hiệu quả chưa phát huy được nhiều Nhiều giáo viên không giữ được bình tĩnh đã nôn nóng cắt ngang câu trả lời của học sinh khi chưa thật sự cần thiết
Nguyên nhân của thực trạng trên là hạn chế về mặt thời gian và khung chương trình, do phương tiện dạy học còn yếu kém nhất là ở vùng sâu và vùng
xa Nhiều học sinh và phụ huynh coi môn lịch sử là môn phụ, môn học thuộc nên chưa chú trọng đầu tư nhiều vào môn học này Mặt khác môn lịch sử là môn khó, nội dung lại khô khan nên học sinh không hứng thú
Tiểu kết chương 1
Từ việc giáo viên đặt ra các câu hỏi tùy theo mức độ cho học sinh trao đổi tìm ra đáp án, phương pháp đàm thoại không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với học sinh mà còn đối với cả giáo viên Giáo viên có thể đặt câu hỏi tự luận hoặc trắc nghiệm khách quan cho học sinh suy nghĩ trả lời trong quá trình dạy học, nhưng sử dụng phổ biến hơn cả vẫn là câu hỏi tự luận Tùy theo mức độ khó hay
dễ, phức tạp hay đơn giản của mỗi câu hỏi mà giáo viên có các cách thức tổ chức cho học sinh đàm thoại khác nhau
Câu hỏi mà giáo viên đặt ra cho học sinh trả lời là yếu tố quan trọng giúp học sinh lĩnh hội được kiến thức, vì thế khi đặt câu hỏi giáo viên cần phải khéo léo chọn lựa để đảm bảo tính chính xác, khoa học và vừa sức đối với học sinh Câu hỏi được sử dụng trong tất cả các khâu của quá trình dạy học từ khâu soạn giáo án đến khâu kiểm tra, đánh giá học sinh
Từ thực trạng sử dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay, giáo viên cần nắm vững và vận dụng những cơ sở lí luận của việc sử dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông vào thực tiễn giảng dạy để nâng cao chất lượng bộ môn lịch sử
Trang 31Chương 2
SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐÀM THOẠI TRONG DẠY HỌC
CHƯƠNG “CÁC CUỘC CÁCH MẠNG TƯ SẢN TỪ GIỮA THẾ KỶ XVI
ĐẾN CUỐI THẾ KỶ XVIII” (LỊCH SỬ LỚP 10 - CƠ BẢN)
2.1 Mục tiêu và nội dung của chương “Các cuộc cách mạng tư sản từ giữa thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII” (Lịch sử lớp 10 - cơ bản)
2.1.1 Mục tiêu của chương
Về kiến thức
Qua chương này học sinh cần nắm được:
- Cách mạng tư sản Hà Lan (1566) là cuộc cách mạng tư sản đầu tiên trên thế giới, là mốc kết thúc thời kỳ trung đại Cách mạng tư sản Anh (1640) là mốc
mở đầu thời kỳ cận đại Đến năm 1789 một cuộc cách mạng tư sản long trời lở đất nổ ra ở thành phố Pari hoa lệ là bằng chứng cho đỉnh cao của phong trào cách mạng tư sản đầu thời cận đại Các cuộc cách mạng tư sản này diễn ra từ thấp đến cao, từ chưa triệt để đến triệt để và có ý nghĩa quan trọng qua quá trình phát triển của lịch sử nhân loại
- Nắm được hoàn cảnh, diễn biến, kết quả, ý nghĩa của các cuộc cách mạng tư sản Hà Lan, Anh, Chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ, Pháp Từ đó hình thành cho học sinh khái niệm “cách mạng tư sản”
- Trong các cuộc cách mạng tư sản, lãnh đạo là giai cấp tư sản, quần chúng nhân dân là động lực thúc đẩy cách mạng đi lên
Về tình cảm, thái độ
- Rèn luyện cho học sinh thái độ đúng đắn đối với cuộc cách mạng tư sản: Thấy được mặt tích cực của cách mạng tư sản là thay thế chế độ phong kiến, thúc đẩy xã hội đi lên Thấy được mặt hạn chế của cách mạng tư sản là sự thay thế phương thúc bóc lột mới tinh vi hơn
- Thấy được vai trò của quần chúng nhân dân và cá nhân trong lịch sử
Trang 32 Về kỹ năng
- Rèn luyện cho học sinh kỹ năng phân tích, đánh giá sự kiện lịch sử
- Rèn luyện cho học sinh kỹ năng tư duy trong quá trình học tập lịch sử
- Rèn luyện cho học sinh kỹ năng thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan trong học tập lịch sử
2.1.2 Nội dung của chương “Các cuộc cách mạng tư sản từ giữa thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII” (Lịch sử lớp 10 - cơ bản)
Đây là phần quan trọng của lịch sử thế giới cận đại, nội dung cơ bản của chương là:
- Mỗi cuộc cách mạng tư sản nổ ra trong những điều kiện lịch sử cụ thể, duyên cớ trực tiếp riêng, song đều nguyên nhân chung là mâu thuẫn gay gắt giữa lực lượng sản xuất TBCN đang phát triển với quan hệ sản xuất phong kiến đang thống trị
- Quần chúng nhân dân là động lực chủ yếu của cách mạng tư sản, song quyền lãnh đạo của cách mạng thuộc về giai cấp tư sản, bộ phận phong kiến tư sản hóa Đó là lực lượng tiến bộ lúc bấy giờ
- Cách mạng tư sản diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau: như chiến tranh giải phóng dân tộc thành lập nền cộng hòa (Cách mạng tư sản Hà Lan thế
kỷ XVI, Chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ thế kỷ XVIII), nội chiến (cách mạng tư sản Anh thế kỷ XVII), cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỷ XVIII là tiêu biểu nhất cho các cuộc cách mạng tư sản trong việc lật
Trang 33- Cách mạng tư sản có ý nghĩa lịch sử lớn, vì nó mở ra một thời đại mới trong lịch sử xã hội loài người - đầu thời cận đại Tuy nhiên cách mạng tư sản có hạn chế nhất định, vì đây là sự thay thế một chế độ bóc lột này bằng một chế độ bóc lột khác: vấn đề ruộng đất - vấn đề cơ bản của cách mạng tư sản không được giải quyết, những quyền tự do dân chủ của nhân dân không được đảm bảo, thực hiện như quy định Do đó, về nguyên tắc và về bản chất, cách mạng tư sản khác hẳn cách mạng vô sản; sự phân biệt hai loại cách mạng này là “sợi chỉ đỏ xuyên suốt thời cận đại”
2.2 Sử dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học chương “Các cuộc cách mạng tư sản từ giữa thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII” (Lịch sử lớp
10 - cơ bản)
2.2.1 Sử dụng phương pháp đàm thoại trong hoạt động nội khóa
Phương pháp đàm thoại, trao đổi chủ yếu được sử dụng trong hoạt động nội khóa đối với loại bài nghiên cứu kiến thức mới lẫn loại bài ôn tập Việc sử dụng phương pháp đàm thoại trong giờ học sẽ kích thích được tính tích cực học
tập của học sinh Để việc dạy học chương “Các cuộc cách mạng tư sản từ giữa
thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII” (Lịch sử lớp 10 - cơ bản) đạt hiệu quả cao
giáo viên cần khéo léo trong việc đặt câu hỏi và tổ chức cho học sinh trao đổi, đàm thoại
Sau đây là các câu hỏi sử dụng trong hoạt động nội khóa của các bài học
cụ thể trong chương “Các cuộc cách mạng tư sản từ giữa thế kỷ XVI đến
cuối thế kỷ XVIII” (Lịch sử lớp 10 - cơ bản):
Bài 29: Cách mạng Hà Lan, cách mạng Anh
Các câu hỏi có thể sử dụng trong bài học này là:
Mục 1: Cách mạng Hà Lan
Câu 1: Nguyên nhân dẫn đến cách mạng Hà Lan?
Với câu hỏi này học sinh cần làm rõ được nội dung sau:
- Về kinh tế: phát triển tiên tiến nhất châu Âu lúc bấy giờ
Trang 34- Về chính trị: bị phụ thuộc vào Tây Ban Nha - Một nước phong kiến lạc hậu về kinh tế và chính trị, sự phụ thuộc này đã cản trở sự phát triển của nền kinh tế Hà Lan
- Về xã hội: chính sách ngăn cấm về tôn giáo của Tây Ban Nha đã làm cho mâu thuẫn dân tộc giữa các tầng lớp xã hội Nêđeclan với Tây Ban Nha trở nên sâu sắc
=> Mâu thuẫn dân tộc giữa Hà Lan và thực dân phong kiến Tây Ban Nha Đây chính là nguyên nhân bùng nổ cách mạng Hà Lan
Câu 2: Lập niên biểu các sự kiện chính về diễn biến của cách mạng Hà Lan?
Với câu hỏi này học sinh cần nắm được:
cộng hòa gọi là “Các tỉnh liên hiệp” (Hà Lan)
Câu 3: Tính chất của cuộc cách mạng Hà Lan là gì?
Với câu hỏi này học sinh cần trả lời được: Tính chất: Là một cuộc cách mạng tư sản nhưng chưa triệt để diễn ra dưới hình thức là giải phóng dân tộc
Câu 4: Ý nghĩa của cách mạng Hà Lan?
Đáp án của câu hỏi này là:
- Cách mạng tư sản Hà Lan là cuộc cách mạng tư sản đầu tiên trên thế giới Cách mạng Hà Lan có ý nghĩa báo hiệu một thời đại mới - Thời đại của các cuộc cách mạng tư sản và bước đầu suy vong của chế độ phong kiến
- Cách mạng tư sản Hà Lan đã đánh đổ chế độ phong kiến, xây dựng xã hội mới, tạo điều kiện cho kinh tế TBCN phát triển
Trang 35Mục 2: Cách mạng tư sản Anh
Câu 1: Đặc điểm tình hình nước Anh trước cách mạng?
Sau khi thảo luận làm rõ được các vấn đề sau:
- Về kinh tế:
+ Đầu thế kỷ XVIII, quan hệ sản xuất TBCN đã phát triển ở Anh, sản xuất của công trường thủ công chiếm ưu thế so với sản xuất thủ công nghiệp thương hội, ngoại thương phát triển, đẩy nhanh quá trình tích lũy vốn của giai cấp tư sản
+ Sự thâm nhập của CNTB vào nông nghiệp làm cho nông thôn Anh bị phân hóa mạnh mẽ Nông nghiệp phong kiến chuyển dần thành nông nghiệp TBCN thông qua bạo lực tàn khốc đối với nông dân do phải gánh chịu hậu quả nặng nề của quá trình “rào đất cướp ruộng”
- Về xã hội:
+ Sự hình thành tầng lớp “quý tộc mới” đóng vai trò chi phối tiến trình và kết quả của cách mạng tư sản Anh Tầng lớp này có những ưu thế rất lớn, và cũng chính là nguyên nhân làm cho cách mạng tư sản Anh thiếu tính triệt để
+ Hành động chống đối của bộ phận quý tộc mới trong kỳ họp Quốc hội năm 1640 - do Sac-Lơ I triệu tập để nâng mức thuế nhằm cứu vãn sự khủng hoảng về tài chính của triều đình là mốc mở đầu của cách mạng
Câu 2: Hiểu biết của em về nhân vật Ô.Crôm-oen?
Sau khi trao đổi giáo viên cần cung cấp cho học sinh:
- Ôlivơ Crôm-oen (1599-1658) là một địa chủ hạng trung, thuộc tầng lớp quý tộc mới, có tinh thần cách mạng, có khả năng tổ chức và chỉ huy quân sự Năm 1640, ông được bầu làm đại biểu Quốc hội Trong Quốc hội, ông hăng hái chống lại nhà vua và giáo hội Anh
- Khi cuộc chiến tranh chống Sáclơ I diễn ra (1642) ông đã tổ chức một đạo quân “kiểu mới” gọi là quân “sườn sắt”
- Ông có vai trò rất to lớn đối với cách mạng Anh: Trước năm 1649, dựa vào nhân dân, Crôm-oen đã thực hiện một số nhiệm vụ cách mạng (lật đổ chế độ phong kiến, thiết lập nền cộng hòa ở Anh); sau 1649, ông là người bảo vệ quyền
Trang 36lợi của tư sản và quý tộc mới Ông là nhân vật chủ chốt của cách mạng tư sản Anh, người có nhiều công lao đưa cuộc cách mạng đến thắng lợi và đã nắm quyền độc tài quân sự (1653-1657)
Câu 3: Thế nào là nền “quân chủ lập hiến”?
Với câu hỏi này sau khi trao đổi, học sinh cần nắm được: “Quân chủ lập hiến” là “Chế độ chính trị của một nước trong đó quyền lực của vua bị hạn chế bằng một hiến pháp do Quốc hội (tư sản) định ra” [11, 334]
Câu 4: Trong diễn biến cách mạng tư sản Anh sự kiện 1649 có ý nghĩa như thế nào?
Đáp án của câu hỏi này là: Đây là sự kiện có ý nghĩa quan trọng đánh dấu bước phát triển đến đỉnh cao của cách mạng Anh Việc Sác lơ I bị xử tử - chấm dứt thời kỳ quân chủ chuyên chế ở Anh và thành lập nên nền cộng hòa tư sản
Câu 5: Ý nghĩa của cuộc cách mạng tư sản Anh?
Học sinh cần trả lời được: Cách mạng tư sản Anh đã lật đổ chế độ phong kiến, mở đường cho CNTB phát triển mạnh mẽ hơn Đây là cuộc cách mạng có
ý nghĩa trọng đại trong thời kỳ quá độ từ chế độ phong kiến sang chế độ TBCN
Bài 30: “Chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ”
Bài học này có thể sử dụng các câu hỏi sau:
Mục 1: Sự phát triển kinh tế TBCN ở Bắc Mỹ Nguyên nhân bùng nổ chiến tranh
Câu 1: Mười ba bang thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ ra đời như thế nào?
Học sinh cần nêu được: Vào năm 1492, Cri-xtốp-Cô-lôm-bô người Bồ Đào Nha đã tìm ra châu Mỹ Đến nửa đầu thế kỷ XVIII, Anh đã lập ra được 13 bang thuộc địa ở Bắc Mỹ với dân số 1,3 triệu người
Câu 2: Sự phát triển kinh tế ở Bắc Mỹ theo hướng nào? Hệ quả của sự phát triển đó ra sao?
Học sinh cần làm rõ: Sự phát triển kinh tế ở Bắc Mĩ theo hướng TBCN từ
đó một dân tộc mới được hình thành Cạnh tranh với sự phát triển kinh tế của chính quốc
Trang 37Câu 4: Những biện pháp kìm hãm sự phát triển kinh tế Bắc Mỹ đã dẫn đến hệ quả gì?
Với câu hỏi này sau khi trao đổi, học sinh phải rút ra được: Hệ quả chính
là mâu thuẫn dân tộc giữa 13 bang thuộc địa Bắc Mỹ và thực dân Anh trở nên gay gắt Đó chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến bùng nổ chiến tranh
Mục 2: Diễn biến chiến tranh và sự thành lập Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ
Câu 1: Lập niên biểu các sự kiện chính về diễn biến của cuộc chiến tranh giành độc lập?
Niên biểu các sự kiện chính về diễn biến của cuộc chiến tranh giành độc lập:
khăn
và bổ nhiệm G.Oa-sinh-tơn lên làm tổng chỉ huy
Lập”
Thành lập Hợp chủng quốc Hoa Kỳ
Câu 2: Ưu điểm và hạn chế của Bản Tuyên Ngôn Độc Lập?
Ưu điểm và hạn chế của Bản tuyên ngôn độc lập là:
- Ưu điểm: Có ý nghĩa lịch sử trọng đại, khẳng định quyền của con người
và quyền công dân, tuyên bố độc lập và ngày 4/7 trở thành ngày Quốc khánh của nước Mỹ
Trang 38- Nhược điểm: Không đề cập đến việc xóa bỏ chế độ nô lệ cùng với việc bóc lột giai cấp công nhân và nhân dân lao động Vì thế, sau cuộc chiến tranh này ở Mỹ vẫn tiếp tục đấu tranh và người ta vẫn hi vọng về một cuộc cách mạng đến nơi
Câu 3: Nguyên nhân thắng lợi của cuộc chiến tranh này?
Học sinh cần trả lời được:
- Đây là một cuộc chiến tranh chính nghĩa do vậy được đông đảo quần chúng nhân dân tham gia đấu tranh
- Sự lãnh đạo tài tình của G.Oa-sinh-tơn
- Được sự ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới
Mục 3: Kết quả và ý nghĩa của cuộc chiến tranh giành độc lập
Câu 1: Em hiểu thế nào là “Tam quyền phân lập”?
Giáo viên cung cấp cho học sinh: “Tam quyền phân lập” là “tổ chức của nước cộng hòa tư sản, trong đó có ba cơ quan nắm giữ ba quyền: Lập pháp, hành pháp và tư pháp Những người đứng đầu ba quyền này độc lập song lại kiểm soát và kiềm chế nhau” [11, 369-370]
Câu 2: Tính chất của cuộc chiến tranh của nhân dân Bắc Mỹ là gì?
Sau khi trao đổi học sinh cần nắm được: Tính chất là một cuộc cách mạng
tư sản diễn ra dưới hình thức giải phóng dân tộc
Câu 3: Ý nghĩa của cuộc chiến tranh của nhân dân Bắc Mỹ là gì?
Đáp án của câu hỏi này là:
- Giải phóng Bắc Mỹ ra khỏi sự thống trị của thực dân Anh, lập ra nhà nước mới, mở đường cho CNTB phát triển
- Thúc đẩy phong trào cách mạng chống phong kiến ở châu Âu và phong trào đấu tranh giành độc lập ở Mỹ Latinh cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX
- Dọn đường cho cách mạng Pháp bùng nổ
Bài 31: Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỷ XVIII
Các câu hỏi có thể sử dụng trong bài học này là:
Mục I: Nước Pháp trước cách mạng
Trang 39Mục 1: Tình hình kinh tế xã hội
Câu 1: Tình hình kinh tế Pháp trước cách mạng?
Với câu hỏi này, học sinh cần làm rõ:
- Nông nghiệp: Lạc hậu, công cụ sản xuất thô sơ, đời sống nhân dân đói khổ Dân cư sống chủ yếu bằng nghề nông, nhận ruộng đất của lãnh chúa
- Công thương nghiệp: Có bước phát triển theo hướng TBCN Nhiều trung tâm công nghiệp được hình thành, máy móc được sử dụng ngày càng nhiều
Câu 2: Vẽ sơ đồ ba đẳng cấp trong xã hội Pháp trước cách mạng? Nhận xét về sơ đồ đó?
Sơ đồ như sau:
Là những đẳng cấp có đặc quyền,
không phải nộp thuế
Đẳng cấp thứ ba
Không có quyền lợi về chính trị, phải nộp
mọi thứ thuế
Đẳng cấp thứ nhất
(Tăng lữ)
Đẳng cấp thứ hai (Qúy tộc)