1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đền bạch mã với việc phát triển du lịch nghệ an

78 58 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đền Bạch Mã Với Việc Phát Triển Du Lịch Nghệ An
Tác giả Nguyễn Thị Hương
Người hướng dẫn Võ Thị Anh Mai
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Việt Nam Học (Chuyên Ngành: Du Lịch)
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2012
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Được sự góp ý và giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo trong tổ Du lịch, Khoa Lịch Sử - Trường Đại Học Vinh, em đã lựa chọn được đề tài nghiên cứu “Đền Bạch Mã với việc phát

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

KHOA LỊCH SỬ

-*** -

NGUYỄN THỊ HƯƠNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

ĐỀN BẠCH MÃ VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN

DU LỊCH NGHỆ AN

NGÀNH: VIỆT NAN HỌC ( CHUYÊN NGÀNH: DU LỊCH)

Khóa học: 2008 -2012 Lớp: 49B2 – Du lịch

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: VÕ THỊ ANH MAI

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Được sự góp ý và giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo trong tổ Du lịch, Khoa Lịch Sử - Trường Đại Học Vinh, em đã lựa chọn được đề tài nghiên cứu “Đền Bạch Mã với việc phát triển du lịch Nghệ An” làm khóa tốt nghiệp Cùng với sự giúp đỡ tận tình của Trưởng Phòng Văn hóa huyện Thanh Chương và các nhân viên tại Đền Bạch Mã đã giúp đỡ em hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này

Qua đây em xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các thầy cô giáo trong tổ Du lịch, khoa Lịch Sử, các anh chị công tác tại Phòng Văn hóa Thể thao – Du lịch huyện Thanh Chương cũng như nhân viên tại Đền Bạch

Mã đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu

Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn cô giáo Võ Thị Anh Mai người đã hướng dẫn em nhiệt tình, chu đáo trong suốt thời gian qua, để em hoàn thành tốt bài khóa luận tốt nghiệp này

Em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên Nguyễn Thị Hương

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 3

5 Đóng góp của đề tài 5

6 Bố cục đề tài 5

PHẦN NỘI DUNG 6

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ ĐỀN BẠCH MÃ 6

1.1 Vị trí địa lý 6

1.2 Lịch sử hình thành và quá trình trùng tu, tôn tạo di tích 7

1.2.1 Lịch sử hình thành di tích 7

1.2.2 Quá trình trùng tu và tôn tạo di tích 9

1.3 Các di tích liên quan đến đền Bạch Mã 11

1.3.1 Đền Bạch Mã 11

1.3.2 Phủ ngoại 21

1.3.3 Mộ Tướng Phan Đà 21

1.3.4 Một số di tích trong tổng Võ Liệt có liên quan đến đền Bạch Mã 22

1.4 Lễ hội đền Bạch Mã 22

1.4.1 Thời gian, địa điểm tổ chức lễ hội 22

1.4.2 Tiến trình tổ chức lễ hội 23

1.5 Giá trị của đền Bạch Mã 2

Trang 4

1.5.1 Giá trị lịch sử 25

1.5.2 Giá trị kiến trúc – nghệ thuật 25

Chương 2: THỰC TRẠNG KHAI THÁC HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI DI TÍCH ĐỀN BẠCH MÃ 29

2.1 Thực trạng thị trường khách đến với Đền Bạch Mã 29

2.1.1 Số lượng khách và cơ cấu 29

2.1.2 Đặc điểm, nhu cầu khách du lịch 31

2.1.3 Tính mùa vụ của khách du lịch 32

2.2 Thực trạng doanh thu du lịch 32

2.3 Thực trạng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch 34

2.3.1 Thực trạng cơ sở lưu trú 34

2.3.2 Thực trạng cơ sở phục vụ ăn uống 36

2.3.3 Thực trạng các cơ sở vui chơi giải trí 37

2.3.4 Hệ thống các cửa hàng lưu niệm 38

2.4 Thực trạng cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch 39

2.4.1 Hệ thống giao thông vận tải 39

2.4.2 Hệ thống bưu chính viễn thông 41

2.4.3 Hệ thống cung cấp điện, nước 42

2.5 Thực trạng về nguồn lao động 42

2.6 Thực trạng về công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch 44

2.7 Thực trạng bảo tồn và tôn tạo di tích 45

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI DI TÍCH ĐỀN BẠCH MÃ… 48

3.1 Quan điểm và mục tiêu phát triển du lịch Nghệ An 48

Trang 5

3.1.1 Quan điểm phát triển du lịch Nghệ An 48

3.1.2 Mục tiêu phát triển du lịch Nghệ An 48

3.2 Quan điểm, mục tiêu phát triển du lịch tại Di tích Đền Bạch Mã 50

3.2.1 Quan điểm phát triển… 50

3.2.2 Mục tiêu phát triển 51

3.3 Một số giải pháp phát triển du lịch tại di tích Đền Bạch Mã 51

3.3.1 Giải pháp về quy hoạch và đầu tư 51

3.3.2 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực 54

3.3.3 Giải pháp về quảng bá du lịch 56

3.3.4 Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị của di tích 57

3.3.5 Nâng cao chất lượng dịch vụ và đa dạng hóa các sản phẩm du lịch 61

KẾT LUẬN 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

PHỤ LỤC 70

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nghệ An là một tỉnh có nhiều tiềm năng về du lịch, bao gồm nhiều di tích lịch sử - văn hóa, nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng như: Khu di tích Kim Liên, Vườn quốc gia Pù Mát, bãi biển Cửa Lò….Trong đó có nhiều ngôi đền đẹp xây dựng để thờ phụng, tỏ lòng biết ơn và ghi nhớ công lao của những người có công lớn với dân tộc Chính những điều này đã làm cho Nghệ An trở thành một điểm đến hấp dẫn thu hút đông đảo du khách trong cũng như ngoài nước

Trong những năm gần đây, cùng với nhịp độ phát triển du lịch của cả nước cộng với việc chú trọng đầu tư phát triển một cách tích cực có hiệu quả,

du lịch Nghệ An đang có những bước chuyển mình to lớn Du lịch không chỉ là

một ngành “Xuất khẩu tại chỗ” mà còn được mệnh danh là “Ngành công

nghiệp không khói” Nó đã góp phần đem lại nguồn thu nhập lớn cho ngân sách

Tỉnh, góp phần tạo sự chuyển dịch trong cơ cấu kinh tế, hơn nữa thông qua hoạt động du lịch làm tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, tăng cường mối quan

hệ hợp tác kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội giữa các vùng trong một quốc gia

và giữa các quốc gia với nhau

Dựa vào những tiềm năng sẵn có để phát triển du lịch, Nghị quyết 45/CP

của Chính phủ đã khẳng định: “Du lịch là một ngành kinh tế quan trọng trong

chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước” Trên tinh thần đó, “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Nghệ An đến năm 2020” được Ủy ban nhân

dân tỉnh Nghệ An phê duyệt ngày 12/6/2009 cũng đã nêu rõ mục tiêu tổng quát

Trang 7

là: Phấn đấu đưa du lịch Nghệ An thành ngành kinh tế mũi nhọn, phát triển bền

vững; phấn đấu đến năm 2020 Nghệ An trở thành trung tâm du lịch khu vực Bắc Trung Bộ và là trọng điểm du lịch của cả nước

Ngày nay du lịch tâm linh đang là một xu hướng khá phát triển của du lịch Nghệ An nói riêng và du lịch Việt Nam nói chung Du khách tìm đến các đền, chùa không chỉ để cầu an, cầu phúc mà còn để chiêm ngưỡng vẻ đẹp về kiến trúc, không gian của các ngôi đền

Đền Bạch Mã là một trong tứ linh của mảnh đất Xứ Nghệ, đền tọa lạc tại

xã Võ Liệt – Thanh Chương – Nghệ An , ngay cạnh quốc lộ 46A, Đền đã được

công nhận là “di tích lịch sử văn hóa – kiến trúc nghệ thuật” năn 1994

Tuy nhiên trên thực tế thì hoạt động du lịch tại đền hầu như chưa phát triển, khách đến đền chủ yếu là những người dân địa phương, các vùng phụ cận đến đền để thắp hương cầu mong cho gia đình, người thân được mạnh khỏe, hạnh phúc và bình an Bên cạnh đó thì các sản phẩm du lịch chưa có, cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật còn nghèo nàn lạc hậu Chính vì vậy chưa thu hút được đông đảo du khách đến tham quan

Xuất phát từ nhận thức trên chúng tôi chọn đề tài “Đền Bạch Mã với việc phát triển du lịch Nghệ An” để nghiên cứu, với mong muốn đánh giá một cách

tổng thể về thực trạng khai thác du lịch tại đền, qua đó đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động du lịch tại đền

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề về đền Bạch Mã đã được nhiều tổ chức, cơ quan, nhiều học giả nghiên cứu và đã cho ra nhiều công trình, nhiều tác phẩm có giá trị, xin đề cử một số tác phẩm sau:

+ Hoàng Nguyên Đát (1988), Con ngựa trắng, Nhà xuất bản Măng non

Trang 8

+ Ninh Viết Giao (1974), Thanh Chương như tôi biết, Tạp chí văn nghệ -

Hội văn nghệ Nghệ An

+ Hippolyte Le Breton (2005), An Tĩnh cổ lục, Cty in Nghệ An

+ Nhiều tác giả (2005), Thanh Chương đất và người, Công ty in Nghệ

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đền Bạch Mã đối với sự phát triển du lịch Nghệ

An

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Về không gian: Di tích Đền Bạch Mã, xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An

+ Về thời gian: Từ năm 2007 đến nay

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

- Nguồn tài liệu:

Để tiến hành nghiên cứu đề tài này chúng tôi đã tiếp cận, xử lý và sử dụng các nguồn tài liệu sau đây:

+ Hoàng Nguyên Đát (1988), Con ngựa trắng, Nhà xuất bản Măng non

Trang 9

+ Hippolyte Le Breton (2005), An Tĩnh cổ lục, Cty in Nghệ An

+ Nhiều tác giả (2005), Thanh Chương đất và người, Công ty in Nghệ

An

+ Ninh Viết Giao (2008), Từ điển nhân vật Xứ Nghệ, Nhà xuất bản tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh

+ Trần Thanh Tâm – Ninh Viết Giao (1975), Nghệ Tĩnh trong lòng tổ

quốc Việt Nam, Ty giáo dục Nghệ An

+ Thư viện khoa học Trung Ương, Thần tích Đền Bạch Mã

+ UBND huyện Thanh Chương, Lịch tổ chức lễ hội Đền Bạch Mã năm

2010

- Phương pháp nghiên cứu:

Để tiến hành nghiên cứu đề tài này chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

+ Phương pháp lịch sử

+ Phương pháp phân tích tổng hợp: Nhằm phân tích tổng hợp các tư liệu

đã có để có thể đánh giá một cách khách quan

+ Phương pháp thống kê: Các số liệu, tư liệu sưu tầm ở nhiều nguồn

khác nhau, thời gian ngắn dài cũng không giống nhau vì vậy cần phải thống kê,

xử lý có hệ thống

+ Phương pháp khảo sát thực địa: Lấy số liệu, thông tin phục vụ cho

việc trình bày khóa luận, kiểm nghiệm độ chính xác để có kết quả nghiên cứu

có tính thuyết phục

+ Phương pháp phỏng vấn: Đưa ra một số câu hỏi, đối thoại với các nhân

vật liên quan để lấy thông tin phục vụ cho quá trình làm khóa luận

Trang 10

Bên cạnh đó cồn sử dụng một số phương pháp như: phương pháp logic, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp đánh giá

5 Đóng góp của đề tài

Đề tài góp phần đánh giá thực trạng khai thác hoạt động du lịch tại di

tích Đền Bạch Mã Từ đó đưa ra một số giải pháp giúp các cơ quan chức năng xây dựng các đề án nhằm phát triển tốt hơn hoạt động du lịch tại Đền

Đề tài còn hướng tới cung cấp thêm một số thông tin, tư liệu làm tài liệu tham khảo, phục vụ học tập và nghiên cứu cho các bạn học sinh, sinh viên

và những người quan tâm đến vấn đề này

6 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, thì nội dung của đề tài gồm có 3 chương

Chương 1: Khái quát về Đền Bạch Mã

Chương 2: Thưc trạng khai thác hoạt động du lịch tại di tích Đền Bạch

Chương 3: Một số giải pháp phát triển du lịch tại di tích Đền Bạch Mã

Trang 11

PHẦN NỘI DUNG

Chương1: KHÁI QUÁT VỀ ĐỀN BẠCH MÃ

1.1 Vị trí địa lý

Đền Bạch Mã là một trong tứ linh của đất Nghệ An “ Nhất Cờn, Nhì

Quả, Tam Bạch Mã, Tứ Chiêu Trưng”

Đền tọa lạc trên một vùng đất rộng hơn 4000 m2

ở giữa thôn Tân Hà, xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An Công trình kiến trúc chính của đền gồm có tam quan, nghi môn, hạ điện, trung điện, thượng điện, tả vu và hữu vu

Khu đất xây dựng đền có địa hình đẹp, được các cụ già địa phương chọn theo thuyết phong thủy Đến tham quan di tích du khách cảm nhận và tự hào vì ở vùng trung du của huyện Thanh Chương còn lưu giữ một công trình kiến trúc bề thế, gắn với cảnh quan xóm làng đã sống và che chở cho dũng tướng Phan Đà

Trước mặt đền có sông - Sông Rộ bắt nguồn từ dãy Trường Sơn hùng vĩ uốn mình như dải lụa mềm vắt qua trước cửa đền Nước sông trong và phù sa màu mỡ bồi đắp cho đồng đất Võ Liệt bốn mùa lúa ngô xanh tốt

Sau lưng đền là con đường quốc lộ 46A và đường liên xã nối Võ Liệt với giao thông trong vùng Xung quanh có cánh đồng ruộng gắn với xóm làng bình

dị đang thay sắc đổi da từng ngày

Vườn đền trước đây rộng có nhiều cây xanh, là nơi trú ngụ của nhiều loài chim, nay do bị thời gian, mưa gió và chiến tranh tàn phá nên chỉ còn lại một số loại cây như: phượng, xoan, dừa Đất của đền rộng, trồng ít cây và còn vung vãi nhiều gạch, ngói vỡ

Trang 12

1.2 Lịch sử hình thành và quá trình trùng tu, tôn tạo di tích

Thanh Chương Đặc biệt với vóc dáng lực lưỡng, có sức khỏe trời cho “vật nổi

cả trâu, đánh đạt cả hổ”

Năm 1406 quân Minh đánh chiếm và thống trị nước ta lúc bấy giờ nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo đang tạm lánh về vùng rừng núi Nghệ An để gây dựng lực lượng, chờ thời đánh đuổi ngoại xâm Với tinh thần yêu nước, thương dân, căm thù giặc ông đã cùng với các dân binh trong vùng đột nhập vào doanh trại của giặc lấy trộm vũ khí, quân lương, ngựa chiến, chờ thời cơ đánh giặc

Năm 1418 Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn Sau nhiều lần kịch chiến với giặc theo mưu kế của Nguyễn Chích nghĩa quân Lam Sơn lui về chọn Nghệ An làm căn cứ tập hợp lực lượng, tiêu diệt từng bộ phận của địch để tạo

cơ hội giải phóng đất nước

Trang 13

Nhân dân Thanh Chương bấy lâu bị địch kìm kẹp đã nức lòng vì quê hương có một dũng tướng che chở Truyền thuyết vùng Thanh Chương cho biết: trong một trận chiến Phan Đà đã cướp được từ tay giặc một con ngựa

chiến “phi ngàn dặm không biết mệt” Để gây thanh thế và uy hiếp kẻ thù khi

ra trận Phan Đà thường mặc giáp trụ trắng nên nhân dân trong vùng quen gọi

ông bằng cái tên “Thần Bạch Mã”

Năm 1924, Phan Đà đưa toàn bộ lực lượng của mình gia nhập nghĩa quân Lam Sơn Biết được dũng khí của Phan Đà, Lê Lợi giao cho ông việc móc nối liên lạc giữa các bộ phận của nghĩa quân cũng như dò la tin tức, tình hình của

kẻ thù

Sau nhiều lần thử thách, Phan Đà và nghĩa quân của ông đã làm cho Lê Lợi hết sức tin yêu Phan Đà được Lê Lợi thưởng tiền, lụa, giao cho chỉ huy một đội quân cận vệ ngày đêm theo dõi, bảo vệ bộ chỉ huy

Thần phả ở đền Bạch Mã cho biết Phan Đà lắm mưu nhiều kế, táo bạo, gan dạ cưỡi ngựa bạch xông pha trận mạc như vào chỗ không người Thoáng thấy bóng ngựa trắng và vị tướng oai phong xuất hiện là quân Minh khiếp đảm tháo chạy về thành không dám ra ứng chiến

Tuổi trẻ dũng mãnh xông pha nới chiến trận nhưng cũng có lúc nông nổi,

ẩn dấu sau cơ thể cường tráng của một võ tướng kì tài là một trái tim xúc cảm Bận rộn khi giáp trận hay khi thực thi công việc thì thôi, nhưng khi rảnh Phan

Đà ngồi xem chiến sĩ nông phu vui vẻ hò hát.Trong một lần nóng vội vì tin tức của kẻ địch ở bên kia sông, mà nghĩa quân chưa kịp đến Phan Đà một mình một ngựa cải trang sang sông tìm cơ sở để móc nối tình hình Gặp buổi hát bội

do dân làng tổ chức, Phan Đà dục ngựa định nghé vào xem một chốc thì bị kẻ địch phát hiện Mặc dù đã tả xung hữu đột hạ sát nhiều kẻ thù nhưng vì giặc

Trang 14

đông, tối trời, ông bị ngã ngựa và bị giác chém bị thương Biết chủ gặp nạn con ngựa trắng trung thành lồng lên hí vang trời phá được vòng vây bơi qua sông về đến căn cứ của nghĩa quân thì Phan Đà tắt thở

Uất hận kẻ địch và kính phục vị chủ tướng hi sinh vì nghĩa lớn, nghĩa

quân và nhân dân thương khóc ông và đưa di hài ông về an táng tại mộ cả

Kháng chiến chống quân Minh thắng lợi, năn 1428 Lê Lợi lên ngôi vua, xét công lao và dũng khí của Phan Đà, Người cấp tiền giao cho quan sở tại xây dựng cả một tòa đền bề thế, công phu, tổ chức cúng tế hàng năm để tưởng nhớ

vị anh hùng trẻ tuổi đã hiến dâng tuổi thanh xuân vì đất nước Đồng thời sắc

phong làm “Đô thiên đại đế Bạch Mã Thượng đẳng phúc thần” (Về sau các triều đại phong kiến qua nhiều lần gia phong thành "Đô thiên đại đế Thượng,

Thượng, Thượng đẳng tối linh tôn thần”)

1.2.2 Quá trình trùng tu, tôn tạo di tích

Đền Bạch Mã là một công trình kiến trúc đẹp, bề thế Tam quan, trung điện, nghi môn, tả vu, hữu vu được khởi dựng và hoàn thành vào thời hậu Lê

Đã hơn 500 năm tồn tại dưới nắng mưa, chiến tranh, một số công trình, chi tiết của đền đã được chuyển dời, tu sửa

Do sự linh hiển của vị thần từng giúp nước cứu dân, các triều vua đã phong nhiều sắc mệnh, cũng như cấp kinh phí để tu sửa lại Đền và mua các đồ

tế khí trong Đền

Năm Quang Thuận thứ nhất (1460), vua Lê Thánh Tông đích thân làm tướng đi đánh giặc Chiêm Thành, ban đêm nằm ngủ trong thuyền, mộng thấy một người mặc áo xanh cưỡi ngựa bạch hướng dẫn vua đi, bèn hỏi là ai thì

người ấy trả lời: "Thần là người xã Võ Liệt, nơi ở: trên có am Bạch Vân, dưới

có hồ sen", chỉ trong chốc lát vua tỉnh mộng Đến ngày đánh thắng giặc trở về,

Trang 15

vua đến thăm Đền -sở tại xã Võ Liệt, thấy cảnh sắc đúng như trong mộng, bèn cấp thêm tế khí, sai dân tôn tạo đền sở, cấp một người thờ tự và 20 người sai phu chuyên lo việc phụng sự hương khói trong đền, hàng năm họ được miễn trừ mọi tạp dịch

Năm Quang Thuận thứ 6 (1465) trên đường đi đánh giặc Chiêm Thành, vua Lê Thánh Tông có ghé đền Bạch Mã và làm lễ kỳ đảo tại đây Thắng trận trở về Ngài sai cấp thêm đồ tế phẩm và người thờ tự cho đền

Năm Cảnh Hưng thứ 3 (1770) quận công Bùi Thế Đạt vâng lệnh triều đình đem quân đi đánh giặc ở Trấn Ninh cũng đến đây để kỳ đảo, quả nhiên

thắng lớn, ông về tâu với nhà Vua cho phong “ Thượng đẳng tối linh mỹ tự”

cho đền

Vào thời Nhà Nguyễn, Đền Bạch Mã cũng được các vị vua coi trọng và hằng năm cấp kinh phí trùng tu và tôn tạo lại Đền để phục vụ cho việc tế lễ cũng như sinh hoạt văn hóa của người dân nơi đây

Cửa chính của đền trước đây được mở ở phía Đông - Bắc, về sau thấy đền quá linh thiêng (thường xuyên xảy ra tai biến đối với người và vật có màu trắng qua đền) Vì vậy nhà Nguyễn cho đổi hướng đền về phía Tây – Tây Bắc

Nhà Trung điện của Đền được sửa chữa vào thời vua Gia Long, trên ván

ấn gian bên trái mặt chính điện ghi “ Hoàng triều Gia Long, thập nhất niên tuế

Nhâm thân, quý xuân nguyệt trọng tu, quý han nguyệt hoàn thành” Tạm dịch:

Sửa chữa lớn vào cuối mùa xuân, hoàn thành vào cuối mùa hạ, thời vua Gia Long thứ 11 (3/1812 – 6/1812)

Nhà Hữu vu được tu sửa vào thời Minh Mệnh, trên ván ấn chính giữa

chính điện ghi “Hoàng triều Minh Mệnh vạn vạn niên, chi bát niên Đinh Hợi

Trang 16

ngũ nguyệt tu lý” Tạm dịch: Sửa chữa tháng 5 nhuận năn Đinh Hợi Minh

Mệnh thứ 8 (5/1827)

Nhà thượng điện được sửa chữa vào thời Khải Định Trên ván ấn gian

giữa ghi “Khải Định tam niên cửu nguyệt nhật trọng tu” Tạm dich: Sửa chữa

lớn vào tháng 9 Khải Định năm thứ 3 (9/1918)

Còn cổng tam quan được sửa chữa vào thời vua Bảo Đại Mặt sau chiếc

khánh ở cổng tam quan có ghi lại “Tân Tỵ niên trọng kiến, Bính Thân nguyệt

thượng hoàn thành” Tạm dịch: Tu sửa lớn năm Tân Tỵ, hoàn thành vào

khoảng tháng Bính Thân (1941)

Sau khi đền được công nhận là di tích lịch sử văn hóa – kiến trúc nghệ

thuật cấp quốc gia Các tổ chức, cơ quan đã có những sự đóng góp để trùng tu

tôn tạo lại di tích Từ đó đến nay di tích đã được xây dựng mới cổng phía trước đền, mở rộng khu vực khuôn viên của di tích, phục hồi hai con ngựa và một số

Đền gồm năm toà với đầy đủ tam quan, nghi môn, tả vu, hữu vu, hạ điện, trung điện và thượng điện, được sắp xếp hài hoà tạo nét uy nghiêm, tôn kính

Trang 17

công phu Đến cổng Đền du khách bắt gặp tượng hai con voi và người quản, con voi tại Đền Bạch Mã được đắp trong tư thế duỗi chân, nằm phủ phục như đang đợi chủ nhân, cạnh đó là người quản voi đang ngồi trên phiến đá có vẻ mặt trầm tư, kính cẩn trước ngôi đền

Tam Quan của Đền có mặt bằng xây dựng là 13,7m, rộng 0,8m, hai cột nanh có chiều cao là 7,8m, rộng 0,6m được chia làm 3 bộ phận là bệ, thân trụ

và đỉnh Chân bệ được tạo dáng hình vuông có kích thước cao 1,2m, rộng 0,8m

× 4 cạnh, trên đỉnh cột trụ có 2 con nghê chầu

Thân trụ nằm trọn vẹn trên chân bệ, xung quanh có đường gờ chỉ thẳng, giữa thân xây lõm vào, ở mặt trước đắp nổi hình rồng, dưới rồng là cá chép đang quẫy mình theo tích cá vượt vũ môn hay cá hóa rồng

Rồng ở cột nanh của đền Bạch Mã được các nghệ nhân thể hiện một cách sống động, rồng có đủ các bộ phận, rồng có 4 vuốt nhọn, bờm rồng dựng râu vểnh trông có vẻ dữ tợn, trên mình rồng được khảm vảy bằng sứ màu xanh ngọc, làm tăng thêm vẻ đẹp cho công trình Nhìn vào hai cột nanh du khách có cảm giác như hai con Thanh Long (rồng xanh) đang lao từ trên xuống để canh giữ ngôi Đền Nếu như hai con rồng ở cột trước đầu chúc xuống thì ở đằng sau cột các nghệ nhân lại thể hiện hai con rồng bay lên Hai cột đối diện của hai cột nanh là hai câu đối bằng chữ Hán:

+ “Địa chuyển thuyên tuyền vị liệt, lịch triều bao biển phí long chường” + “Sơn thanh thủy tú chung linh hoàn vũ, điện yên nguy cảnh phúc”

Xây nối với hai cột nanh ở hai phía là bức tường gạch, tường này phía trên cây chờm, lợp ngói phía dưới Mặt trước đắp nổi con hổ (dài 127m, cao 0,95m) trong tư thế chân sau duỗi thẳng, chân trước duỗi cao nâng đỡ phần đầu khá dữ tợn

Trang 18

Ngăn cách giữa bảng hổ và bảng ngựa là bảng phụ cuốn văn xây bằng gạch, vôi, cát ( rộng 1,1m, cao 1,65m), cột cổng cao 2,2m, rộng 0,48m × 4 cạnh, ba mặt có cạnh chỉ, trên vòm cổng là lớp chóp hình chữ nhật, xung quanh

có cạnh chỉ, giữa có trổ song nhỏ làm cho cửa phụ nhẹ nhàng Trên cùng là mái uốn cong hình chiếc khánh, xung quanh có cạnh chỉ, các họa tiết trang trí, ở giữa viết chữ Hán dạng chữ triện Mặt sau chiếc khánh ghi niên đại trùng tu bằng chữ Hán

+ “ Tân Tỵ niên trọng kiến, Bính Thân nguyệt thượng hoàn thành”

Tạm dịch: Tu sửa lớn năm Tân Tỵ, hoàn thành vào khoảng tháng Bính Thân (1941)

Đoạn tường giắc từ cổng phụ đến cột trụ ngoài dài 3,5m, cao 1,65m, phía trên cùng xây chờm lợp ngói mũi Mặt tường phía trước được các nghệ nhân đắp nổi hình phù điêu con ngựa có kích thước dài 1,65m, cao 1,37m, ngựa có

đủ yên cương với tư thế đứng bình thản

Cuối bức tường là cột trụ cao 3,37m, rộng 0,36m × 4 cạnh, thân trụ được đắp trên một bệ vuông, trên cùng là hình con nghê với tư thế ngồi quay về phía cổng đền, nghê được khảm sứ màu xanh ngọc

Tam quan của đền Bạch Mã tồn tại giữa đất trời lộng gió, tam quan tạc cho ngôi đền sự bề thế, nghiêm trang bởi hình khối kiến trúc đẹp, vững chắc, các hình tượng rồng, chim, người, thú mỗi loại một cách vẽ hết sức có hồn và sống động

* Nghi môn:

Nghi môn là công trình kiến trúc lớn thứ hai trong tổng thể kiến trúc của đền Bạch Mã Trước khi đến cổng nghi môn du khách sẽ bắt gặp một công trình kiến trúc nhỏ bé trước khu di tích đó là nhà thiên hương xây dựng vào năm

Trang 19

1941 Nhà thiên hương rộng 0,79m, cao 1,65m có 4 trụ ở 4 góc, xung quanh để trồng, mái cong vút, bốn góa trên cùng là đế vuông thót đáy, ở giữa có lỗ thông hơi, hai góc đối diện có họa tiết trang trí hình lá sen, xung quanh mái trang trí hoa văn có hình rồng mây

Nghi môn xây dựng có chiều dài là 7,11m, rộng 2,4m xây bằng gạch, vôi, cát, có 3 cửa là chính môn, tả môn và hữu môn Cửa chính rộng 3m, từ vòm xuống mặt đất là 3,16m, hai mặt đối diện cửa chính môn có đắp nổi hình quan văn, quan võ, cửa tả và cửa hữu liên kết với chính môn bằng hệ thống tường bao mỗi bên dày 1,36m, cao 1,31m Phía trên tường xây gờ và gắn ngói múi tạo thành mái che Cửa tả và cửa hữu có kích thước ngang nhau, mỗi cửa rộng 1,2m, cao 2,2m, dày 0,8m cửa cuốn vòm, trên vòm là mái cong và chồng diêm 2 tầng, trên lợp ngói múi, mái cong, bờ nóc đắp thẳng, bờ dải đắp uốn cong, các họa tiết trang trí và cạnh chỉ sắc sảo làm cho nghi môn không những

là bức bình phong che chở cho ngôi đền mà còn là một công trình làm hài hòa cảnh quan với khung cảnh chung

* Nhà Tả vu – Hữu vu:

Nhà tả vu và hữu vu là nơi cất giữ đồ thờ lớn, nơi nghỉ ngơi và chuẩn bị

các thứ trước khi vào hành lễ Nhà tả vu và nhà hữu vu có kiểu dáng, kích thước, chất liệu xây dựng giống nhau Diện tích xây dựng mỗi nhà dài 7,6m, rộng 5,5m, nhà có 3 gian, 4 vì được làm bằng gỗ lim, mít, trên lợp ngói mũi hài phía trước để trống, 3 phía thưng ván, nền nhà láng xi măng và cát

Gian giữa dài 2m, rộng 3,2m, hai gian hai bên bằng nhau mỗi gian dài 2m rộng 3,2m

Kết cấu vì kèo: hai vì giữa kết cấu theo kiểu giá chiêng, hai vì kèo hồi kết cấu theo kiểu chồng rường đấu, các dường xà, thượng ốc, hoành, địa thu

Trang 20

liên kết dọc với các vì kèo tạo nên sự vững chắc của nhà Hai vì kèo hồi có kết cấu giống nhau: chồng rường đấu, vì kèo này kết cấu khá đơn giản gồm 3 con rường dài ngắn khác nhau kê lên nhau qua những đấu vuông mỏng, giữa các con rường được đệm thêm một lớp ván tương đối dày tạo cho vì kèo thêm vững chắc, kín đáo rất phù hợp với vì kèo hồi, các chi tiết gỗ đều bào vát thân sống khế trông nhẹ nhàng, thanh thoát

Tất cả các chi tiết gỗ như: xà, hạ, cầu đầu được bào vát thân sống khế, mặt dưới và trên phẳng, phần cuối các câu đầu được được chạm hình vân mây, tất cả các kèo đều được chạm hình long với nét chạm mập, khỏe nhưng đơn giản

* Nhà hạ điện:

Nhà hạ điện được xây dựng trên một mặt bằng dài 5,4m, rộn 5,4m, nền nhà hình vuông nằm lọt giữa sân đền Nhà hạ điện có kiến trúc độc đáo so với các công trình tổng thể khu di tích Diện tích sử dụng thu gọn lại nhưng phát triển về chiều cao, nhà hạ điện xây kiểu chồng diêm 8 mái, lợp ngói mũi hài, tầng dưới 4 góc bờ đạo có đắp vuốt đầu đao, ở tầng trên cũng vậy, bờ thượng đắp lưỡng long chầu nguyệt, các nghệ nhân thời xưa đã tạo nên các họa tiết trang trí này làm cho nhà hạ điện càng thêm đẹp và cổ kính

Phần tường bao và hai đốc của chồng diêm được xây bằng vữa vôi, cát, gia trát phẳng và cạnh chỉ sắc sảo Mặt trước có viết dòng chữ nổi bằng chữ

Hán “ Đức báo trung hưng”, tường bên phải là “ Yên tế phổ hướng”, tường bên trái ghi “Hồng nhuận hoằng hạp” Tạm dịch: Đằm thắm bao dung, giữ

vững trung hưng, làm nên tình huống

Xung quanh nhà hạ điện tầng dưới để trống, ngoài tường nhà có xây tường giắc thông gió, phía trước và phía sau có trừ cửa vào ra, tường cao 0,8m, dài mỗi bên 5,3m

Trang 21

Nhà hạ điện kết cấu kiểu tứ trụ, thượng xông hạ bẩy, một gian hai hồi văn Nhà có 4 cột vuông đứng suốt chịu lực cho cả chồng diêm, các chi tiết gỗ liên kết ngang dọc bằng nhau làm cho kết cấu nhà vững chắc

Hệ thống kẻ, chuyên đỡ mái hồi văn của chồng diêm, riêng hồi văn dưới rộng hơn nên có bốn cột trụ tròn nâng đỡ bốn góc mái Ở giữa bốn kẻ dưới có kết cấu tám đầu dư buông thõng tự nhiên, phần cuối các đầu dư được các nghệ nhân tạo hoa văn hình búp sen, phía trên đầu dư các cánh sen nở xòe ôm lấy thân dầu dư, hoa sen được vẽ màu hồng nhạt trông rất đẹp Toàn bộ gỗ, cột, xà, của nhà hạ điện được sơn màu đỏ, trên nền đỏ được các họa sỹ trang trí hình tượng rồng trong mây bằng sơn màu trắng làm tăng thêm vẻ đẹp và hài hòa màu sắc

Bài trí nội thất : Đặt giữa nhà hạ điện là kiệu long hành, sơn son thiếp vàng Kiệu dài 3,80m cao 1,80m Kiệu long hành (kiệu rồng) đặt trên một giá gỗ cao 0,80m, rộng mỗi chiều 1,20m Kiệu gồm có 2 bộ phận: Thân kiệu và Bành kiệu, Thân kiệu được tạo thành từ hai thanh gỗ dài 3,40m, hai thanh gỗ được các nghệ nhân thời xưa bằng kỹ thuật đục chạm công phu và điêu luyện tạo thành hai con rồng, rồng rất sống động, uyển chuyển, sơn son thiếp vàng, hai đầu rồng ngẩng cao về phía trước, thân rồng thẳng, đuôi vênh cao về phía sau

Bành kiệu được đặt ở vị trí thân rồng, bành kiệu cao 1,80m dài 1,33m rộng 0,93m Mặt trước để trống, ba phía đóng ván trên là mái cong Mặt trước bành kiệu được các nghệ nhân chạm lộng, chạm bong hình rồng, mây, hoa lá Bốn chân của bành kiệu là 4 đầu rồng tạo thành thế đứng vững chắc cho bành kiệu Trong lòng bành kiệu phía trước đặt một bát hương, chính giữa đặt một mâm ngũ quả, trên mâm ngũ quả đặt hai trản đựng trầu sơn son, hai bên đặt mỗi bên hai cọc sáp

Trang 22

* Nhà Trung điện:

Nhà Trung điện xây dựng tiếp nối với nhà Hạ điện Từ thềm phía sau nhà

Hạ điện chỉ bước qua khoảng cách 0,46m là đến thềm nhà Trung điện Nhà Trung điện có mặt bằng xây dựng dài 9,50m, rộng 5,50m Vật liệu xây dựng chủ yếu bằng gỗ lim, mít, nhà có ba gian 4 vì kèo, mái rải rui bản, lợp ngói mũi hài, bờ thượng và bờ giải được đắp thẳng cạnh chỉ sắc sảo chính giữa bờ thượng có đắp bức đại tự bằng vôi vữa dài 0,50m, rộng 0,40m khảm bằn sứ

màu xanh ngọc hai chữ Hán “Tối Linh” nghĩa là rất linh thiêng Hai đầu bờ

thượng và bờ giải đắp nổi con xô, con kìm với đường nét thanh thoát mềm mại hài hòa với quy mô của mái nhưng bền chắc chịu đựng được với thiên nhiên và thời gian

Xung quanh thưng ván phía trước đặt địa thu, phía trước lắp toàn bộ hệ thống cửa bàn khoa Độ cao từ nóc nhà xuống mặt đất là 4,80m, độ cao từ mái nhà xuống mặt đất là 2,10m Khẩu độ các gian: gian giữa dài 2,70m, hai gian hai bên bằng nhau mỗi gian dài 2,30m, rộng mỗi gian 3,30m

Kết cấu vì kèo nhà Trung điện kiểu giá chiêng chồng rường, hai vì kèo hồi phía dưới rường cánh cung là bức ván nong chạm lộng hình bát quái, các chi tiết gỗ như rường cánh cung chạm mặt hổ phù, mũi phồng, mắt lồi, trán dô, râu vểnh trông rất dữ tợn Các con rường phía ngoài cũng để nâng đỡ các đường hoành chạm thô hình rồng cách điệu, thân rường và các câu đầu được chạm vát thân sống khế

Hai vì kèo giữa giống nhau, giá chiêng kẻ chuyền, rường cánh cung của

vì kèo giữa chạm bong kênh và chạm hình long phượng ngậm cuốn thư, chim phượng cánh giang rộng, đầu vươn cao, mỏ quắp, chân xoãi, móng chân nhọn trông rất sống động Tất cả các kẻ đều chạm lộng, chạm bong kênh với nhiều đề

Trang 23

tài phong phú như cá hóa rồng, cá vượt vũ môn, phượng ngậm cuốn thư, rùa đội hoa sen, hình tượng long mã

Ngoài những mảng chạm khắc ở nhà Trung điện, các nghệ nhân thời xưa rất chú ý đến mặt thẩm mỹ, đã tạo nên những bức tranh trang nhã, sinh động với nhiều đề tài, màu sắc làm tôn thêm vẻ đẹp và sự tôn nghiêm nơi đền đài Phía trước nhà Trung điện toàn bộ cột, khung cửa và cửa được các nhà họa sỹ quét sơn màu đỏ, trên nền đỏ được trang trí các đề tài hoa lá, các con vật trong

bộ tứ linh, tứ quý Cả thân cột to lớn đồ sộ chỉ trang trí thể hiện một hình rồng trọn vẹn, rồng trong tư thế uốn lượn mềm mại, uyển chuyển trông rất sống động, tất cả các đề tà pha lẫn màu sắc đã tạo nên một tác phẩm hội họa, một bưacs tranh đẹp tuyệt vời ở phía trước nhà Trung điện Tác phẩm hội họa này tuy đã tồn tại qua nhiều thế kỷ nhưng vẫn giữ nguyên lớp màu, điều đó chứng

tỏ kỹ thuật pha chế màu của người xưa đã đạt đến trình độ cao

Bài trí nội thất: Nhà Trung điện có rất nhiều đồ tế khí nhưng đây không

phải là nhà thờ chính Phần lớn các đồ thờ đều tập trung vào gian giữa

Gian giữa đặt hai bàn thờ và một hương án Từ ngoài vào đặt một bàn thờ hình chữ nhật được bài trí hết sức đơn giản chỉ có một bát hương bằng sứ Bàn thờ thứ hai đặt sau bàn thờ thứ nhất có kích thước dài 1,70m, rộng 1,25m, cao 0,67m sơn son Chính giữa bàn thờ phía ngoài đặt thêm một mâm cỗ bông, trên mâm cỗ bông để hai đài đựng chén, một trán đựng cau trầu, tiếp theo đặt một mâm ngũ quả sơn son, trên mâm ngũ quả để một cái trán sơn son Bên phải bàn thờ phía ngoài đặt hai cọc sáp sơn son, phía trong đặt một mâm cỗ bông sơn son, trên mâm có đặt hai cái trán Bên trái bàn thờ đặt hai cọc sáp và một trán sơn son Trong cùng đặt một hương án sơn son thiếp vàng, có kích thước dài 1,60m, cao 1,52m, rộng 0,81m Hương án được chia

Trang 24

làm nhiều ô, được chạm trổ hết sức công phu, mỗi ô được thể hiện một con rồng hết sức trọn vẹn, chính giữa hương án chạm hoa văn hình lưỡng long triều nguyệt Trên hương án chính giữa đặt một mâm ngũ quả sơn son, hai bên

để hai nhà vàng nhà bạc sơn son thiếp vàng Nhà vàng nhà bạc xung quanh để trống, trên mái cong, bốn góc mái có bốn đầu rồng, trên đỉnh nhà vàng bạc đặt một bình hình củ hành màu vàng càng làm tăng thêm vẻ đẹp cho các hiện vật trong di tích Phía trên hương án trên xà dọc mặt chính diện gian giữa treo một tấm biển gỗ sơn màu đỏ xài 1,80m, rộng 0,60m ghi công lao của vị thần được thờ bằn chữ Hán màu vàng Hai bên các gian thờ đặt ở gian giữa có hai tượng hạc rùa sơn son thiếp vàng Tượng hạc đưng trên lưng rùa, rùa và chân hạc sơn màu đỏ, đùi và cổ hạc sơn màu trắng, thỉnh thoảng điểm dải vàng làm ngấn cổ hạc, mình và đuôi hạc sơn son thiếp vàng, mỏ hạc dài màu vàng, cổ hạc vươn cao đang hướng vào bàn thờ trông rất sống động

Hai gian hai bên bài trí giống nhau: sát đầu hồi đặt một bàn thờ hai bậc Bậc ngoài thấp hơn đặt một bát hương bằng sứ, bậc bên trong cao hơn đặt chính giữa một mâm cỗ bồng sơn son, trên cỗ bồng đặt đài trán Hai bên để hai cọc sáp và mỗi bên dựng ba thanh kiếm gỗ sơn son

* Nhà Thượng điện:

Nhà Trung điện và nhà Thượng điện được xây dựng kiểu trùng thềm điệp

ốc, giáp giới giữa hai nhà có chung máng nước, đỡ hệ thống máng nước này có

4 cột xây bằng vữa vôi cát, cột cao 1,70m, đường kính 0,20m

Nhà Thượng điện có 3 gian 4 vì kèo, diện tích xây dựng khẩu độ các gian

và liên kết ngang, dọc gần giống như nhà Trung điện Khác nhà Trung điện ở chỗ cột có đường kính lớn hơn ( cao 3,20m, đường kính 0,45m) Kết cấu vì kèo giống nhà Trung điện, các mảng chạm trổ, các họa tiết trang trí giống nhà

Trang 25

Trung điện Khác Nhà Trung điện ở chỗ rường nhà Trung điện chạm hình chim phượng thì nhà Thượng điện chạm hình vân mây

Bài trí nội thất: Nhà Thượng điện là nơi thờ chính của đền Phía ngoài

thềm ( trước cửa gian giữa ) đặt một rương gỗ có kích thước dài 1,54m, rộng 1,20m, cao 1,10m Rương gỗ này được dùng để đựng đồ thờ cúng của đền nay

sử dụng làm bàn thờ Trên rương gỗ để các loại đồ thờ như: mâm cỗ bồng, đài trán đựng trầu cau, cọc đèn tất cả đều được sơn son

Gian chính giữa đặt hai bàn thờ: Từ ngoài vào đặt một bàn thờ chính giữa đặt một bát hương bằng sứ, hai bên đặt hai mâm ngũ quả sơn son có trang trí hình bát quái, trên mâm ngũ quả đặt ba chiếc trán Ngoài cùng đặt hai bên hai cọc sáp

Bàn thờ trong cùng đặt long ngai thờ Phan Đà Chính giữa bàn thờ đặt long ngai đầu rồng, long ngai có ba bậc Bậc thứ nhất là để một khối hình vuông được chạm trổ hết sức công phu với các loại hoa lá, tùng, trúc, cúc mai, các con vật trong bộ tứ linh Viền ngai xung quanh đế ngai là hai hình rồng, đầu rồng hướng ra phía trước thân và đuôi vòng bao quanh mặt sau của đế Trên đế ngai hồm có các tay ngai là hai đầu rồng Bài vị thờ Phan Đà được đặt trên một đế vuông nhỏ hơn đế ngai được chạm trổ rất công phu, sơn son thiếp vàng, giữa ghi thần hiệu của Phan Đà bằng chữ Hán màu vàng có nột dung:

“ Đô thiên đại đế, long vương trợ thuận, báo quốc báo dân, linh triều phong tặng Thượng, thượng, thượng đẳng phúc thần”

Gian bên phải thờ một vị thần linh ứng trong xã nhưng không rõ lai lịch

Từ ngoài vào đặt một bàn thờ dài 1,70m, rộng 1,25m, cao 0,6m Trên bàn thờ phía trước đặt một bát hương bằng sứ, chính giữa đặt một mâm ngũ quả, trên đặt

ba đài trán sơn son, hai bên đặt hai cọc sáp Bên trái đặt một giá gương sơn son

Trang 26

Bàn thờ trong cao hơn bàn thờ ngoài, chính giữa đặt một mục chú được chạm trổ công phu, sơn son thiếp vàng giữa lòng văn không ghi thần chú Bên trái đặt một chiếc mũ bằng lưới

Gian bên trái: Bài trí tương tự giống gian bên phải ngoài cùng đặt một bàn thờ tương đối lớn có kích thước giống bàn thờ ngoài gian bên phải Bài trí giống gian bên phải chỉ khác là không có mũ đặt ở bàn thờ trong

1.3.3 Mộ Tướng Phan Đà

Sau khi bị giặc chém bị thương, con ngựa trắng đã đưa Phan Đà vượt sông sang hữu ngạn Đến xóm Lai Thành một dòng máu chảy xuống và lên tới xóm Công Trung thì toàn thân Phan Đà ngã xuống Theo thói quen, con ngựa chiến một mạch phi về căn cứ nghĩa quân để báo tin Biết là có sự chẳng may với Phan Đà, Lê Lợi cho quân đi tìm kiếm xác ngay trong đêm Quân lính đến nơi Phan Đà ngã kể cả nơi có dòng máu chảy thì mối đã vùi lấp thành mộ, người ta gọi là Thiên táng Vì vậy đến nay trong nhân dân vẫn còn câu truyền

lại: “Mồ ông mả giả, Mồ cả mả thật” Tại hai xứ Mồ này trước đây cây to và

rậm rạp những người đi chặt cây, đốn củi không ai dám vào.

Trang 27

Hiện nay mộ của Phan Đà được xác định thuộc xóm 4 xã Thanh Long, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An cách đền Bạch Mã khoảng 5km về phía Nam

1.3.4 Một số di tích trong tổng Võ Liệt có liên quan đến đền Bạch Mã

- Đền trấn áp tại Chợ Rộ, xã Võ Liệt

- Đền Tam Lang tại xã Võ Liệt

- Đền Hắc Y tại xã Võ Liệt

- Đền Thạch Sơn tại xã Võ Liệt

- Đền Tiến Sơn tại xã Thanh Long

- Phủ nhà Bà tại xã Võ Liệt

Ngày xưa vào dịp lễ tế Hiệp vào tháng 3 (âm lịch) hằng năm tại Đền Bạch

Mã, nhân dân trong vùng rước các vị thần của các đền này về chầu tại đền

1.4 Lễ hội đền Bạch Mã

1.4.1 Thời gian, địa điểm tổ chức lễ hội

Lễ tế tại đền Bạch Mã đứng vào hàng “Quốc tế” Theo tập “Đô Thiên

đại đế linh từ văn” của tác giả Hoàng Bá Đạt, trước đây lễ tế tại đền Bạch Mã

được tổ chức hai lần trong năm Lễ tế điển (Quốc tế) được tổ chức vào tháng 2

và lễ tế hiệp (tế bách thần trong vùng) vào tháng 3 âm lịch

Lễ tế điển được tổ chức vào ngày Đinh cuối cùng của tháng 2 (Âm Lịch), vào ngày này nhà Vua cử các quan trong triều về tại đền để tổ chức lễ tế Còn vào lễ tế hiệp thì nhân dân trong vùng tự tổ chức, vào ngày này nhân dân trong vùng rước các vị thần trong tổng về tế tại đền

Từ năm 2001, được sự nhất trí của Ủy ban nhân dân Tỉnh, Sở Văn hóa – Thể thao, Ủy ban nhân dân huyện đã phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Võ Liệt

Trang 28

hằng năm tổ chức lễ hội thu hút được đông đảo nhân dân và khách thập phương tham gia, bước đầu thể hiện được tính xã hội hoá hoạt động lễ hội, có tác dục thiết thực trong việc giáo dục truyền thống cho nhân dân Tuy nhiên, hàng năm chúng ta tổ chức lễ hội vào ngày 13/6 (ngày chính giỗ của tướng quân Phan Đà) đều gặp thời tiết không thuận lợi và trái với mùa lễ hội của nhân dân

Thể theo nguyện vọng của đông đảo nhân dân, cũng như nhằm đưa hoạt động lễ hội của Đền về đúng với thời gian mà cha ông ta xưa đã tổ chức, trên

cơ sở những tài liệu cổ mới được sưu tầm, Ủy ban nhân dân Huyện đã lập tờ trình gửi các ban, ngành chức năng xin phép chuyển thời gian tổ chức lễ hội Ngày 07/3/2007 Sở Văn hoá thông tin Nghệ An đã có Công văn số

289/SVHTT-QLVH về việc quy định thời gian tổ chức lễ hội đền Bạch Mã kể từ

năm 2007 được tổ chức vào hai ngày 9 và 10 tháng 2 âm lịch hàng năm

Lễ hội được tổ chức tại Trung tâm tổ chức lễ hội tại đền Bạch Mã, các hoạt động thể dục thể thao, văn nghệ, hội trại được tổ chức tại sân đền Bạch

Mã, sân vận động xã Võ Liệt, sân trường Trung học cơ sở xã Võ Liệt

1.4.2 Tiến trình tổ chức lễ hội

Lễ hội đền Bạch Mã gồm 2 phần là phần lễ và phần hội

* Diễn biến phần Lễ gồm:

- Lễ khai quang tại Đền Bạch Mã

- Lễ dâng hương tại phần mộ tướng Phan Đà tại xóm 4 xã Thanh Long – Thanh Chương – Nghệ An (9/2 âm lịch)

- Lễ dâng hương tại Phủ Ngoại, thôn Khai Tiến , xã Võ Liệt – Thanh Chương – Nghệ An (9/2 âm lịch)

Trang 29

- Lễ rước từ Đền Bạch Mã về Phủ Ngoại (9/2 âm lịch)

- Lễ yết cáo tại Đền (9/2 âm lịch)

- Lễ mít tinh tổ chức tại sân Đền Bạch Mã, thôn Tân Hà, xã Võ Liệt – Thanh Chương – Nghệ An (10/2 âm lịch)

- Lễ tế thần tại Đền Bạch Mã, thôn Tân Hà, xã Võ Liệt – Thanh Chương – Nghệ An (10/2 âm lịch)

- Lễ tạ tại Đền Bạch Mã (10/2 âm lịch)

Diễn biến phần Hội gồm:

Sáng ngày 9/2 (âm lịch) khai mạc phần Hội, tổ chức các hoạt động thể dục, thể thao

Phối hợp với Huyện đoàn và Trung tâm Văn hóa Huyện tổ chức thi văn nghệ quần chúng và thi người đẹp lễ hội vào đêm ngày 09/2 âm lịch

Tổ chức các giải thể thao và trò chơi dân gian như: bóng chuyền thanh niên khối Trung học phổ thông, vật cù (gồm các xã: Võ Liệt, Thanh Chi, Thanh Khê, Thanh Thuỷ, Thanh Long, Thanh Hà, và các xã khác trên địa bàn huyện),

cờ thẻ, kéo co nữ, chọi gà, trưng bày tranh, ảnh chuyên đề, chiếu phim…

Tổ chức sinh hoạt thơ, bình thơ

Tổ chức cắm trại khối các trường Trung học phổ thông, các Đoàn xã (5 năm một lần)

Tổ chức lễ hội truyền thống đền Bạch Mã là một việc làm thể hiện đạo lý

“uống nước nhớ nguồn”, tỏ lòng biết ơn của thế hệ sau đối với các bậc tiền

nhân có công với muôn dân, trăm họ Đây là việc làm thiết thực, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của quê hương, có tác dụng giáo dục sâu sắc đối với

Trang 30

các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ Đồng thời, việc tổ chức tốt các hoạt động

lễ hội cũng là điều kiện để Thanh Chương giao lưu, hoà nhập với mọi miền của đất nước

Đền thờ Bạch Mã là nơi nhân dân, các thế hệ con cháu về sau bày tỏ lòng

ngưỡng vọng của mình đối với “Thần Bạch Mã” – vị anh hùng cứu nước Đồng

thời đây cũng là nơi ghi dấu các hoạt động bí mật của xã bộ nông trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp thời kỳ 30 – 31 và Xô Viết Nghệ Tĩnh

Nghiên cứu thần phả, sắc phong, câu đối, hiện vật lưu giữ tại đền, các truyền thuyết về cuộc chiến đấu gian khổ chống quân Minh ở vùng đất Võ Liệt – Thanh Chương, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy ở đây nhiều sử liệu quý để viết về cuộc đời cống hiến của Phan Đà, về lịch sử chống ngoại xâm ở vùng đất Thanh Chương

Chính sách lập đền, phong thần đối với nhưng vị anh hùng có cong với nước, với dân lúc báy giờ vừa có thể đáp ứng được lòng dân, vừa củng có sự tồn tại của chế độ phong kiến

1.5.2 Giá trị kiến trúc – nghệ thuật

Nghiên cứu vị trí của đền Bạch Mã trong mối qua hệ mật thiết với các đền đài thờ các nhân thần trong vùng chúng ta thấy rằng di tích này thực sự có giá trị

về kiến trúc

Trang 31

Đền được xây dựng để bày tỏ lòng ngưỡng vọng của nhân dân đối với vị anh hùng đã có công với nước, các cụ ngày xưa đã chọn và tạo nên cho đền Bạch Mãcos một vị trí, cảnh quan đẹp Di tích được xây dựng trên một vùng đất cao ráo, sạch sẽ, có đồng ruộng, sông nước, xóm làng bao quanh Đền nằm gần đường, gần sông nên thuận lợi cho nhân dân đi lại viếng thăm bốn mùa

Mặt bằng xây dựng đền được bố trí hợp lý, hài hòa Phía ngoài vườn đền trồng nhiều cây xanh Bên trong các công trình chính như tam quan, nghi môn, hạ điện, trung điện, thượng điện liên kết chặt chẽ với nhau tạo cho ngôi đền rộng, thoáng nhưng cũng rất thâm nghiêm

Điều đáng ghi nhận ở đền Bạch Mã còn thể hiện ở cách tạo dựng hình khối kiến trúc và kỹ thuật xây dựng, kết cấu công trình

Chỉ với những vật liệu đơn giản, sẵn có như gạch, vôi, gỗ, cát, nhưng với đầu óc tư duy sáng tạo thiết thực các nghệ nhân xưa đã xây dựng tam quan, nghi môn đền đẹp về hình khối, vững chắc về kết cấu để trụ vững với thời tiết khắc nghiệt ở miền Trung

Các bộ khung nhà của từng công trình đều được sử dụng các loại gỗ quý như lim, mít, dổi, được khai thác ở khu vực miền núi Thanh Chương Mỗi công trình đều có những điểm chung như cùng chung một loại gỗ, mộng sàm chắc khít, mái ngói cong, hệ thống bờ nóc, bờ chảy đều đắp cao, đầu đao cong vút Bên cạnh những điểm giống nhau còn có các điểm khác như kết cấu vì kèo: Nếu như nhà tả

vu, hữu vu kết cấu theo kiểu giá chiêng chồng rường đấu để tạo cho di tích có chiều sâu và tăng diện tích sử dụng, tạo thế vững chắc cho công trình thì nhà hạ điện kết cấu theo kiểu thượng xông hạ bẩy, chồng di diêm tám mái, tạo cho ngôi nhà thoáng đãng, phát triển về chiều cao, tăng thêm vẻ đẹp cho kiến trúc ngôi đền

Trang 32

Nhà trung điện và thượng điện có kết cấu vì kèo khác nhà tả vu, hữu vu, hạ điện, hai công trình này kết cấu kiểu giá chiêng chồng rường cụt nhằm tăng diện tích sử dụng và tạo thêm thế vững chắc cho công trình, các nghệ nhân đã tận dụng những con rường, hệ thống giá chiêng và các kè, các đầu dư để chạm khắc nổi những hình tượng, những đề tài trang trí hoa, lá, các con vật trong bộ tứ linh, tứ quý bằng kỹ thuật chạm lộng, chạm bong kênh, các nghệ nhân đã tạo nên hình tượng con chim phượng mặt hổ phù ở rường cánh cung, hình rồng cách điệu, hình vân mây ở các con rường trên hệ thống giá chiêng

Các nghệ nhân đã phối hợp hài hòa giữa chạm và vẽ các đề tài, đồ án trang trí được chạm hình khối nổi, chạm sâu nét chạm tinh tế, thanh thoát tạo nên sự nhệ nhàng Trên các chi tiết gỗ của bộ khung nhà thượng điện và trung điện được trang trí nhiều đề tài: rồng trong mây, cá hóa rồng, rồng chầu mặt nguyệt, phượng ngậm cuốn thư, phượng đang bay

Khi nói đến giá trị nghệ thuật của đền Bạch Mã không thể không nhắc đến nghệ thuật hội họa Toàn bộ cột, xà, quá giang, bẩy của nhà hạ điện đều được sơn màu đỏ và trang trí đề tài rồng trong mây bằng sơn màu trắng trần nhà hạ điện, trung điện và thượng điện đều được sơn và vẽ các đề tài như tứ linh, tứ quý, dùng màu để thể hiện nét vẽ mềm mại, màu rực rỡ Ngoài kỹ thuật sử dụng sơn và màu

để chống thấm nước, mối mọt thì đây là những tác phẩm nghệ thuật tạo thêm sự rực rỡ lung linh cho ngôi đền

Ngoài ra các hiện vật, đồ tế khí còn lưu giữ trong đền cũng thể hiện tính nghệ thuật rất cao Mỗi loại, mỗi kiểu khác nhau đều được các nghệ nhân chạm khắc tinh xảo, đường nét mềm mại, trang trí đề tài hoa lá, các con vật trong bộ tứ linh, tất cả đều được thể hiện trọn vẹn, sơn son thiếp vàng màu sắc rực rỡ làm tăng thêm vẻ đẹp huyền bí của đền

Trang 33

Với những giá trị nói trên Ngày 24/3/1994, Bộ Văn hoá-Thông tin đã có

quyết định số 226/QĐ-BVH xếp hạng đền Bạch Mã là “Di tích lịch sử văn hoá -

kiến trúc nghệ thuật” cấp Quốc gia

lễ hội văn hóa đặc sắc

Với những lợi thế trên trong tương lai đền Bạch Mã sẽ trở thành một điểm

du lịch tâm linh hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước khi đến với Xứ Nghệ

Trang 34

Chương 2: THỰC TRẠNG KHAI THÁC HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI DI

Du lịch tâm linh là nột hình thức du lịch đang phát triển mạnh mẽ ở nhiều quốc gia trên thế giới Khách du lịch theo loại hình này thường đến các đền, chùa các thắng tích tôn giáo để vãn cảnh, cúng bái và cầu nguyện Tại đây

du khách cảm nhận được vẻ yên bình và thanh thản

Việt Nam là một quốc gia có rất nhiều thánh tích như Chùa Hương, Yên

Tử, Bái Đính, Chùa Thiên Mụ… Hiện nay ở Việt Nam du lịch tâm linh đang ngày càng phát triển, các điểm du lịch tâm linh ngày càng hấp dẫn du khách trong nước cũng như quốc tế, các tour du lịch tâm linh được đông đảo khách du lịch lựa chọn

Nghệ An là một mảnh đất có rất nhiều điểm du lịch tâm linh như Đền Cờn, Đền Hoàng Mười…Đền Bạch Mã là một trong tứ linh của mảnh đất xứ Nghệ, là một địa chỉ khá quen thuộc đối với du khách ưa thích loại hình du lịch tâm linh Khi lựa chọn du lịch tâm linh tại Nghệ An thì rất ít khách du lịch không lựa chọn đền Bạch Mã là một điểm đến trong chuyến du lịch của mình

Trang 35

Theo Phòng Văn hóa huyện Thanh Chương và ban quản lý di tích đền Bạch Mã thì lượng khách đến đền ngày càng tăng và tăng với số lượng khá lớn Mặc dù đền Bạch Mã chưa phải là một điểm du lịch được quy hoạch bài bản như Khu di tích Kim Liên, bãi biển Cửa Lò, Vườn Quốc gia Pù Mát hay một số điểm du lịch khác Nhưng theo đánh giá của Ban quản lý đền thì lượng khách đến đền hằng năm cũng khá đông:

Năm 2009 lượng khách đến đền ước tình khoảng 45000 người

Năm 2010 lượng khách đến đền ước tính khoảng gần 80000 người

Vào các tháng trong năm thì lượng khách có sự chênh lệch đáng kể Vào tháng giêng lượng khách đến đền khá đông ước tính khoảng gần 100 lượt một ngày, đặc biệt là những ngày đầu năm đến Rằm tháng giêng Lượng khách đến đền trong tháng này khá đông bởi nhân dịp đầu năm mọi người đều muốn đến đền cầu cho gia đình, bè bạn có một năm mới an khang, thịnh vượng

Vào tháng 2 (âm lịch) thì lượng khách đến đền có thể nói là đông nhất, bởi vào 2 ngày 9,10/2 diễn ra lễ hội đền Bạch Mã thu hút khá đông du khách thập phương về tham dự

Năm 2009 lượng khách đến tham dự lễ hội đền ước lượng khoảng 6000 người

Năm 2010 lượng khách khoảng 12000 người

Năm 2012 lượng khách khoảng 11200 người

Lượng khách đến tham dự lễ hội đền đông nhất vào năm 2010 bởi lễ hội năm này được tổ chức với quy mô cấp huyện, với sự tham gia của nhiều cơ quan, đoàn thể trong huyện Thường thì cứ 5 năm một lần Phòng Văn hóa Thể thao - Du lịch huyện đứng ra tổ chức lễ hội còn các năm khác giao cho xã Võ Liệt cùng các xã lân cận tổ chức lễ hội

Trang 36

Vào tháng 7, tháng chạp (âm lịch) lượng khách đến đền ước tính khoảng

500 lượt người

Còn vào các tháng khác trong năm thì lượng khách đến đền khá ít khoảng hơn 100 lượt khách tập trung chủ yếu vào các ngày mồng một và ngày rằm còn vào những ngày thường thì chỉ khoảng 3 đến 4 lượt khách đến đền, vào các ngày này chủ yếu là các đoàn khách muốn tham quan, tìm hiểu vẻ đẹp

về kiến trúc nghệ thuật của đền Bạch Mã

* Cơ cấu khách

Khách du lịch đến đền Bạch Mã chủ yếu là khác nội địa Khách nội địa ở đây cũng chủ yếu là khách từ các huyện trong tỉnh Nghệ An, còn ở các tỉnh khác hầu như chưa có, có chăng cũng chỉ là con em của quê hương đi làm ăn xa

về tham quan, thắp hương tại đền và các nhà nghiên cứu có nhu cầu tìm hiều về kiến trúc nghệ thuật cũng như sự linh thiêng của ngôi đền này

Khách đến đây cũng chủ yếu là khách lẻ, họ thường đi với gia đình còn khách đoàn thì rất ít, có thì cũng chỉ ở dịp đầu năm

2.1.2 Đặc điểm, nhu cầu khách du lịch

Khách du lịch đến với đền Bạch Mã thường bởi các nhu cầu như:

- Nhu cầu tâm linh: Người dân địa phương và du khách gần xa đến với

đền để cầu an, cầu phúc cho người thân và bạn bè Các em học sinh thì đến đền thắp hương cầu cho mình đạt được thành tích học tập tốt hoặc là đạt kết quả cao trong các kì thi

- Nhu cầu tỏ lòng biết ơn: Du khách đến đây còn với mục đích là tự tay

mình thắp lên ban thờ một nén hương thơm để tỏ lòng biết ơn của mình đối tướng quân Phan Đà - vị anh hùng đã có công với dân, với nước

Trang 37

- Nhu cầu tìm hiểu nghệ thuật: Khách du lịch đến đền Bạch Mã không

chỉ đơn thuần là nhu cầu tâm linh hay để tỏ lòng biết ơn đối với tướng quân Phan Đà mà còn để tìm hiểu về kiến trúc, nghệ thuật của đền Bạch Mã cũng như tìm hiểu về đời sống sinh hoạt tâm linh của người dân địa phương

Sự chênh lệch này do nhiều nguyên nhân Đền Bạch Mã là một ngôi đền linh thiêng của Nghệ An, người dân đến đền chủ yếu nhằm mục đích cầu an, cầu phúc, là điểm sinh hoạt văn hóa tâm linh Chính vì vậy chỉ vào những ngày rằm hay mồng một (Âm lịch) mới đông du khách

Tính mùa vụ của khách du lich ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh du lịch Để khắc phục tính mùa vụ của khách du lịch cũng như nhằm thu hút ngày càng đông khách du lịch tới tham quan và sinh hoạt văn hóa tâm linh tại đền thì Phòng Văn hóa huyện, ban văn hóa xã Võ Liệt phải không ngừng đưa ra các chính sách đa dạng hoá sản phẩm du lịch và nâng cao chất lượng của các dịch vụ du lịch

2.2 Thực trạng doanh thu du lịch

Doanh thu du lịch bao gồm các khoản do khách chi trả như lưu trú, ăn uống, quà lưu niệm, phí vận chuyển khách và các dịch vụ khác từ vui chơi giải trí…

Trang 38

Trên thực tế các nguồn thu từ khách du lịch không phải do nghành du lịch trực tiếp thu mà do nhiều ngành khác có tham gia hoạt động du lịch hoặc

do người dân phục vụ thu Do vậy việc thống kê hoàn chỉnh các khoản thu từ khách du lịch là hết sức khó khăn và chỉ mang tính tương đối

Trong thời gian qua Di tích đền Bạch Mã đã thu hút ngày một lượng lớn

du khách tới thăm Song với ý nghĩa và vai trò chính của khu di tích là giới thiệu cho du khách về kiến trúc nghệ thuật của đền, đồng thời là một điểm sinh hoạt văn hóa tâm linh cho người dân địa phương cũng như du khách xa gần Du khách đến tham quan đền không mất tiền vé, có chăng chỉ là góp một ít tiền làm công đức cho đền thể hiện tấm lòng của mình đối với tướng quân Phan Đà, đồng thời góp một phần nhỏ bé vào việc trùng tu, tôn tạo lại di tích Theo Phòng Văn hóa huyện và ban quản lý di tích thì số tiền công đức từ trước đến nay là 839.101.573 đồng

Mặt khác tại đây chưa có cơ sở lưu trú và các dịch vụ vui chơi giải trí, trung tâm thương mại… nên khó khăn cho việc phát triển du lịch cũng như đưa lại nguồn thu cho ngành du lịch của huyện

Trong tương lai không xa, khi nền kinh tế phát triển đời sống của nhân dân được cải thiện thì nhu cầu đi du lịch không thể thiếu đối với người dân Mặt khác thì hiện nay du lịch tâm linh cũng đã khá phát triển mà đền Bạch Mã lại là một trong tứ linh của Xứ Nghệ Vì vậy nhà nước cùng các cấp chính quyền ở nước ta sẽ có những biện pháp đầu tư, tôn tạo hơn nữa để xây dựng các

cơ sở vật chất kỹ thuật và cơ sở hạ tầng phục vụ cho việc phát triển du lịch ở ở đền Bạch Mã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho mọi nhu cầu của du khách từ

ăn uống, tham quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí, tìm hiểu văn hóa Chắc chắn rằng doanh thu du lịch sẽ ngày càng được nâng lên

Trang 39

2.3 Thực trạng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch

Cơ sở vật chất kỹ thuật đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tạo ra và thực hiện sản phẩm du lịch cũng như quyết định mức độ khai thác tiềm năng du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu của khách du lịch Đồng thời cơ

sở vật chất kỹ thuật cũng tạo ra sự khác biệt giữa các điểm du lịch Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lich được thể hiện ở các mặt như: cơ sở lưu trú, cơ sở

ăn uống, vui chơi giải trí, lưu niệm

Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ hoạt động du lịch phải hội đủ các tiêu chí sau:

- Đảm bảo những điều kiện tốt cho nghỉ ngơi du lịch

- Đạt hiệu quả kinh tế tối ưu trong quá trình xây dựng và khai thác cơ sở vật chất kỹ thuật

- Thuận tiện cho việc đi lại của khách từ các nơi đến

2.3.1 Thực trạng cơ sở lưu trú

Cơ sở lưu trú là một thành phần quan trọng trong hệ thống cơ sở vật chất

kỹ thuật phục vụ du lịch Chúng đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi của khách du lịch khi họ đến tham quan một điểm du lịch nào đó Cơ sở lưu trú phục vụ hoạt động du lịch được hiểu là các khách sạn, nhà khách, nhà nghỉ, Motel, Camping, Bungalow, Nhà trọ thanh niên…

Theo thống kê của Phòng Văn hóa Thể thao và Du lịch huyện Thanh Chương thì hiện nay trên địa bàn huyện có 11 khách sạn, nhà nghỉ với hơn 200 phòng nghỉ, 300 giường phục vụ du khách gần xa lưu trú như: Khách Sạn Đại Việt, khách sạn Phương Thảo, nhà nghỉ Ngọc Minh, nhà nghỉ Bảy Tuyết Hầu hết các cơ sở lưu trú này đều nằm tại thị trấn Dùng

Nhìn chung thì đến năn 2010 hoạt động kinh doanh lưu trú trên địa bàn huyện cũng như tại di tích đền Bạch Mã cũng chưa có sự chuyển biến mạnh

Ngày đăng: 16/09/2021, 17:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Nguyên Đát (1988), Con ngựa trắng, Nhà xuất bản Măng non Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con ngựa trắng
Tác giả: Hoàng Nguyên Đát
Nhà XB: Nhà xuất bản Măng non
Năm: 1988
2. Ninh Viết Giao (2008), Từ điển nhân vật Xứ Nghệ, Nhà xuất bản tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển nhân vật Xứ Nghệ
Tác giả: Ninh Viết Giao
Nhà XB: Nhà xuất bản tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2008
3. Ninh Viết Giao (1974), Thanh Chương như tôi biết, Tạp chí văn nghệ - Hội văn nghệ Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh Chương như tôi biết
Tác giả: Ninh Viết Giao
Năm: 1974
4. Hippolyte Le Breton (2005), An Tĩnh cổ lục, Cty in Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: An Tĩnh cổ lục
Tác giả: Hippolyte Le Breton
Năm: 2005
5. Huyện ủy – HĐND - UBND – UBMTTQ huyện Thanh Chương (2010), Thanh Chương xưa và nay, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh Chương xưa và nay
Tác giả: Huyện ủy – HĐND - UBND – UBMTTQ huyện Thanh Chương
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội
Năm: 2010
6. Phan Huy Lê – Phan Đại Doãn (1977), Khởi nghĩa Lam Sơn, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khởi nghĩa Lam Sơn
Tác giả: Phan Huy Lê – Phan Đại Doãn
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội
Năm: 1977
7. Ngô Sĩ Liên (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn thư
Tác giả: Ngô Sĩ Liên
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội
Năm: 1993
9. Nhiều tác giả (2005), Thanh Chương đất và người, Công ty in Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh Chương đất và người
Tác giả: Nhiều tác giả
Năm: 2005
10. Ngữ văn 6 – Ngữ văn Nghệ An (2009), Sự tích thần đền Bạch Mã, Công ty in VINASA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự tích thần đền Bạch Mã
Tác giả: Ngữ văn 6 – Ngữ văn Nghệ An
Năm: 2009
11. Trần Thanh Tâm – Ninh Viết Giao (1975), Nghệ Tĩnh trong lòng tổ quốc Việt Nam, Ty giáo dục Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ Tĩnh trong lòng tổ quốc Việt Nam
Tác giả: Trần Thanh Tâm – Ninh Viết Giao
Năm: 1975
12. Trần Đức Thanh (1998), “Nhập môn khoa học du lịch”, Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn khoa học du lịch”
Tác giả: Trần Đức Thanh
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 1998
14. Bùi Thị Hải Yến (2006), Quy hoạch du lịch, Nhà xuất bản Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch du lịch
Tác giả: Bùi Thị Hải Yến
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo Dục
Năm: 2006
13. Ủy ban nhân dân Huyện Thanh Chương , Kế hoạch tổ chức Lễ hội đền Bạch Mã năm 2010 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w