1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quần thể kiến trúc nhà thờ phát diệm kim sơn ninh bình với hoạt động du lịch

74 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quần Thể Kiến Trúc Nhà Thờ Phát Diệm Kim Sơn – Ninh Bình Với Hoạt Động Du Lịch
Tác giả Thái Thị HềA
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Du Lịch
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp Đại Học
Năm xuất bản 2012
Thành phố Ninh Bình
Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

với nguồn gen phong phú và tính đa dạng sinh học cao, thu hút nhiều du khách, các nhà nghiên cứu tham quan; du lịch biển: bãi biển sần sơn _một trong những bãi biển thu hút đông đảo du k

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA LỊCH SỬ

- -

THÁI THỊ HềA

Khóa luận tốt nghiệp đại học

QUầN THể KIếN TRúC NHà THờ PHáT DIệM KIM SƠN – NINH BìNH VớI HOạT ĐộNG DU LịCH

CHUYấN NGÀNH: DU LỊCH

VINH, 2012

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cùng với sự phát triển của xã hội, cuộc sống của con người ngày càng được nâng cao Khi đã thỏa mãn được nhu cầu vật chất, thì người ta sã mong muốn có một cuộc sống tinh thần phong phú, mới mẻ Hơn nữa trong nhịp sống hiện đại, đôi khi mọi người phải gồng mình trước những áp lực đến từ công việc, gia đình, xã hội, thậm chí là cả không gian sống, môi trường làm việc…Con người ta mong muốn có một khoảng thời gian nghỉ ngơi, để thư giãn, thay đổi không khí, môi trường sống…để rồi sau đó khi quay về cuộc sống hằng ngày với tinh thần thoải mái giúp họ thêm yêu cuộc sống hơn

Du lịch và các hoạt động du lịch: nghỉ dưỡng, tham quan du lịch, các hoạt động vui chơi giải trí…đã ra đời đáp ứng và thỏa mãn các nhu cầu của con người, ngày càng trở nên cần thiết trong cuộc sống ở xã hội hiện đại Nhu cầu du lịch của con người ngày càng tăng thì các sản phẩm du lịch ngày càng

đa dạng và dần hoàn thiện nhằm đáp ứng những mong muốn của khách hàng

Sự hình thành và lớn mạnh không ngừng của hệ thống doanh nghiệp du lịch, cơ sở hạ tầng, các trung tâm, điểm đến du lịch, khu nghĩ dưỡng, khách sạn, khu vui chơi giải trí, các tuyến điểm du lịch, lễ hội du lịch đa dạng đã đóng góp vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của mỗi con người cũng như khẳng định vai trò của ngành du lịch trong nền kinh tế quốc dân Ngành

du lịch đã đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an ninh xã hội, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, bảo vệ môi trường và giữ vững an ninh quốc phòng Đồng thời góp phần nâng cao dân trí, tuyên truyền và quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thị trường thế giới và là phương tiện để kéo các nền văn hóa trên thế giới lại với nhau

Thanh Hóa là tỉnh nằm ở cực Bắc Miền Trung, là tỉnh có tài nguyên

du lịch và có tiềm năng du lịch Với ba loại hình du lịch mũi nhọn như du lịch

Trang 3

sinh thái: Vườn Quốc Gia Bến En, Cúc Phương, Suối cá Thần Cẩm Thủy với nguồn gen phong phú và tính đa dạng sinh học cao, thu hút nhiều du khách, các nhà nghiên cứu tham quan; du lịch biển: bãi biển sần sơn _một trong những bãi biển thu hút đông đảo du khách tới nghĩ dưỡng vào bậc nhất khu vực miền Bắc Việt Nam; du lịch văn hóa với khu di tích lam Kinh, Cầu Hàm Rồng…và trong đó tiêu biểu là Thành Nhà Hồ_di sản văn hóa được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới

Trong hoạt động du lịch của tỉnh và hệ thống các điểm tham quan du lịch, Thành Nhà Hồ được xem là mấu chốt trong chiến lược phát triển du lịch Tuy nhiên hiện nay vẫn chưa được khai thác triệt để, chưa thực sự thu hút du khách và tạo ra nguồn thu lớn cho tỉnh Thanh Hóa Việc khai thác những lợi thế sẵn có là điều kiện cần thiết bởi không chỉ giúp tăng trưởng nền kinh tế của tỉnh mà còn để Thành Nhà Hồ trở thành điểm đến hấp dẫn, không thể bỏ qua đối với du khách trong nước và quốc tế

Còn nằm ở dạng tiềm năng chưa được khai thác một cách có hiệu quả

Số lượng khách tới tham quan Thành chưa nhiều, các hoạt động kinh doanh

và phát triển du lịch còn manh mún, nhỏ lẻ, hiệu quả thấp Ban quản lý di tích

và tỉnh Thanh Hóa chưa có chính sách, biện pháp cụ thể để phát triển du lịch cho tương xứng với tiềm năng của di sản

Từ thực trạng hoạt động du lịch nêu trên việc đưa ra các biện pháp, giải pháp cụ thể nhằm đẩy mạnh hoạt động du lịch Thành Nhà Hồ và các di tích phụ cận là cấp thiết Từ những lý do như trên tôi chọn đề tài nghiên cứu “Một

số giải pháp phát triển hoạt động du lịch Thành Nhà Hồ” với mong muốn sẽ đóng góp một phần nào cho sự phát triển du lịch của Thành Nhà Hồ nói riêng

và Tỉnh Thanh Hóa nói chung

Trang 4

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Từ lâu những con người trên thế giới nói chung và người Việt nói riêng đã biết tới Thành Nhà Hồ, Triều đại nhà Hồ với Hồ Quý Ly một giai đoạn lịch sử như một nốt nhạc trong bản hùng ca của toàn bộ tiến trình lịch sử dân tộc Có rất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu, các đề tài về Thành Nhà

Hồ, về triều đại nhà Hồ, đặc biệt từ khi được công nhận di sản văn hóa Thế Giới:

Trần Bá Chí, Nguồn gốc Hồ Quý Ly và dòng họ Hồ, Tạp chí NCLS, số 5,

1992 Tác giả nói rõ nguồn gốc xuất thân của Hồ Quý Ly và dòng họ Hồ

Phạm Xuân Huyên, Những tên gọi của Thành Nhà Hồ, Tạp chí NCLS,

số 5,1992 Tạp chí nêu rõ những tên gọi của thành từ khi được xây dựng, nó gắn với các thời kỳ, địa điểm và nội dung cụ thể

Lưu Trần Tiêu, Thành Nhà Hồ nhìn từ góc độ di sản văn hóa, Tạp chí

NCLS, số 5, 1992

Sở VHTT Thanh Hóa, Thanh Hóa di tích và thắng cảnh, Nxb Thanh

Hóa, 2001 Đây được xem là cuốn sách mô tả một cách đầy đủ nhất các danh lam thắng cảnh của Tỉnh Thanh Hóa

Ngoài ra còn nhiều bài viết có liên quan đăng tải trên các tạp chí Du lịch

và các trang Website

Các tác phẩm và công trình nghiên cứu ở trên mới nghiên cứu Thành Nhà Hồ dưới góc độ lịch sử, kiến trúc chưa nghiên cứu Thành Nhà Hồ dưới góc độ du lịch

Trên cơ sở kế thừa thành tựu của các học giả đi trước, tôi đi sâu nghiên cứu các giá trị về văn hóa – lịch sử, kiến trúc của Thành Nhà Hồ và việc khai thác di sản đó vào hoạt động du lịch ở nơi đây, huyện Vĩnh Lộc, và tỉnh Thanh Hóa Qua đó mà đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc khai thác di sản vào hoạt động du lịch

Trang 5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là Thành Nhà Hồ và cấu trúc quần thể liên quan, hoạt động du lịch tại đây

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn bởi:

Về mặt nội dung: khóa luận tập trung vào nghiên cứu, đánh giá thực trạng hoạt động du lịch tại Thành Nhà Hồ Từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển du lịch nơi đây

Về mặt không gian: đề tài được tiến hành nghiên cứu tại Thành Nhà

Hồ, các di tích phụ cận và những di tích liên quan tới Thành ở tỉnh Thanh Hóa

Về mặt thời gian: đề tài được nghiên cứu trong khoảng thời gian từ

2007 tới năm 2012

4 Nhiệm vụ khóa luận

Khóa luận khái quát được những giá trị lớn mà di sản chứa đựng Đánh giá thực trạng khai thác khu di tích vào hoạt động du lịch ở Thanh Hóa Bên cạnh đó, khoá luận cho thấy thực trạng hết sức cấp bách về vấn đề đầu tư phát triển du lịch ở di sản văn hóa Thành Nhà Hồ Đồng thời đề ra các phương hướng và giải pháp mang tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả trong việc tổ chức khai thác khu di tích vào hoạt động du lịch

5 Nguồn tài liệu tham khảo và phương pháp nghiên cứu

 Nguồn tài liệu

Để tiến hành nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng những nguồn tài liệu cơ bản sau đây:

Các sách giáo trình về du lịch, kiến trúc, khảo cổ học, lịch sử được dùng giảng dạy trong các trường đại học, cao đẳng ở Việt Nam

Các bài nghiên cứu về lịch sử Triều Hồ, Thành Nhà Hồ trên sách báo

và các tạp chí Văn hóa – Thể thao – Du lịch

Trang 6

Một số luận văn cao học thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp đại học có liên quan đến vấn đề này

Ngoài ra còn nhiều bài viết có liên quan đăng tải trên các tạp chí Du lịch và các trang Website

 Phương pháp nghiên cứu

Để đề tài nhanh chóng được hoàn thiện và đạt kết quả cao, trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau:

 Phương pháp thực địa

 Phương pháp thu thập, phân tích và xử lý số liệu

 Phương pháp bản đồ

Phương pháp thống kê

6 Ý nghĩa và đóng góp của đề tài

Khóa luận sẽ tạo dựng một bức tranh tổng thể về các giá trị của quần thể kiến trúc Thành Nhà hồ và thực tiễn hoạt động du lịch ở Khu di tích này trong thời gian qua, từ đó đưa ra một số đề xuất về các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong việc đưa Khu di tích vào hoạt động Du lịch Đồng thời, hi vọng khóa luận sẽ cung cấp chút ít tư liệu cho những người quan tâm

7 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, phần nội dung khóa luận gồm có 3 chương như sau:

Chương 1 Giới thiệu khát quát chung về Thành Nhà Hồ

Chương 2 Thực trạng hoạt động du lịch của Thành Nhà Hồ

Chương 3 Các giải pháp nhằm phát triển hoạt động du lịch tại Thành Nhà Hồ

Trang 7

NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THÀNH NHÀ HỒ

1.1 Vị trí địa lý

Vĩnh lộc là một huyện nhỏ thuộc miền Tây Bắc Thanh Hóa, là huyện

có bề dày lịch sử lâu đời với truyền thống yêu nước và tinh thần bất khuất chống giặc ngoại xâm đã sản sinh ra nhiều anh hùng hào kiệt, các bậc khai quốc công thần đã được ghi vào trang sử vẻ vang của dân tộc qua các thời kỳ dựng nước và giữ nước Tuy là huyện có diện tích nhỏ song nơi đây lại có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng, nhiều di tích gắn với lịch sử dân tộc như: Thành Cổ Nhà hồ và Đàn Tế Nam Giao, Hang Nàng, Chùa Giáng, Phủ Trịnh, Quần Thể Động Kim Sơn và Tiên Sơn trong hệ thống các di tích đó thì Thành nhà Hồ được công nhận di sản văn hóa thế giới Thành nhà hồ trở thành điểm tham quan được du khách đến nhiều nhất trong toàn bộ hệ thống

di tích và danh lam thắng cảnh ở Vĩnh Lộc nói riêng và toàn tỉnh Thanh Hóa nói chung

Thành Nhà Hồ là tên thường gọi của tòa thành bằng đá còn khá nguyên vẹn giữa vùng đồng bằng lưu vực sông Mã và sông Bưởi, thuộc địa phận thôn Tây Giai, Xuân Giai (xã Vĩnh Tiến), Đông Môn ( xã Vĩnh Long), huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hóa thuộc miền Bắc Việt Nam Thành cách thủ

đô Hà Nội 150km về phía Bắc, cách Thành Phố Thanh Hóa khoảng 45km ở phía Tây Bắc, từ Hà Nội theo quốc lộ 1A tới Thành Phố Thanh Hóa, sau đó

có thể theo tỉnh lộ số 45 để tới khu di tích, nếu đi đường thủy có thể từ biển theo sông Lèn hay sông Mã vào hoặc từ các huyện miền núi Quan Hóa, Bá Thước cũng theo sông này xuôi xuống

Thành đã được người xưa xây dựng bằng việc lợi dụng tự nhiên cùng với các công trình xây dựng để tạo nên một cảnh quan địa – văn hóa hài hòa

Trang 8

với thiên nhiên và đem lại nhiều lợi ích về công năng Xung quanh thành là các đồng lúa và hoa màu, với các điểm làng xóm dân cư tập trung ở các cửa thành Phía ngoài những cánh đồng này là các quả núi đứng riêng lẻ hoặc thành dãy có nhiều ngọn, được coi là những yếu tố phong thủy của thành

Thành Tây Đô

Ngày 15.3 năm Mậu Thân ( 1398 ) xa giá vua Trần Thiếu Đế về thành An Tôn, từ đó thành được gọi là Tây Đô, tức kinh đô ở phía Tây

Tên gọi thành Tây Giai

Năm 1802 Nguyễn Ánh lập nên triều Nguyễn, đóng đô ở Phú Xuân ( Huế ngày nay) Nhiều địa danh về tỉnh, huyện, thành, lỵ, sở ở thời ấy được thay đổi cho phù hợp với chế độ chính trị của triều Nguyễn Thành cổ này không còn mang tên Tây Đô hay Tây kinh, mà được mang tên mới của một làng ở phía cửa Tây thành là Tây Nhai Đến đời vua Thành Thái, từ Nhai được đổi thành Giai, Vì vậy còn có tên gọi là thành Tây Giai

Trang 9

Tên gọi thành Nhà Hồ

Tên gọi này mới có từ sau cách mạng tháng Tám, sau khi nhận thức đúng đằn về các triều đại phong kiến, và triều Hồ được coi như một triều đại chính thống trong lịch sử dân tộc ta

Ngoài các tên gọi phổ biến trên, Tây Đô còn gọi được nhắc tới dưới những cái tên khác như: Thạch Thành, Tây kinh, Tây Việt Kinh

1.2.2 Lịch sử hình thành

Cuối thời nhà Trần, xã hội Đại Việt lâm vào khủng hoảng ngày càng sâu sắc, toàn diện ngoại xâm từ phía Nam và các thế lực phương bắc quấy rối nhiều lần và từng ba lần đốt phá kinh đô Thăng Long Trong bối cảnh xã hội rối ren như vậy Hồ Quý Ly đã từng bước nắm lầy binh quyền và trở thành người điều hành cao nhất của đất nước

Năm 1397 Để cứu vãn xã hội Đại Việt thời đó, Hồ Quý Ly đã tiến hành hàng loạt cải cách chính trị, tư tưởng, kinh tế và quân sự Một giải pháp cấp bách nữa cũng được quyết định là Thiên Đô từ Thăng Long về Tây Đô ở Thanh Hóa Khu vực được chọn làm kinh đô mới là động An Tôn, Phủ Thanh Hóa, nay là khu vực các xã Vĩnh Tiến, Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa Như vậy Thành nhà Hồ được bắt đầu xây dựng vào năm 1397

Lúc đầu ông định đặt vị trí kinh đô mới ở ngay tại hương Đại Lại (gần

Đò Lèn, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa), sau đó lại chuyển lên vị trí ở huyện Vĩnh Lộc ngày nay cũng cho thấy quá trình suy nghĩ trăn trở

Sự kiện xây dựng kinh đô mới trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, tập II , trang 45 có ghi: “Đinh sửu (Quang Thái) năm thứ mười (1397) …Mùa xuân,

tháng riêng sai lại thượng thư kiêm thái sử lệnh Đỗ Tỉnh (có sách chép là Mẫn) đi xem đất và đo đạc động An Tôn phủ Thanh Hóa, đắp thành, đòa hòa, lập nhà tông miếu, dựng đàn Xã Tắc, mở đường phố, có ý đồ muốn dời kinh

đô đến nơi đó, tháng 3 thì công việc hoàn tất”

Trang 10

Như vậy thời gian xây dựng kinh đô là 3 tháng, nhưng nhìn tòa thành

đá đồ sộ với hàng loạt cung điện, đền đài, phố xá được xây dựng trong điều kiện xã hội và kỹ thuật thời đó, các sử gia hiện đại đều nghĩ đó phải là một quá trình kéo dài hàng năm

Trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, tập II, trang 56 nói về quá trình xây

dựng thành:

Năm 1399 “ Sai Trần Ning Đốc xuất người Thanh Hóa trồng tre gai

ở phía tây ngoài Thành, phía Nam từ Đốn Sơn, Phiá Bắc từ An Tôn đến tận cửa Bảo Đàm, phía Tây từ chợ Khả Lãng ở Vực Sơn đến sông Lỗi Giang, vây quanh làm tòa thành lớn bọc phía ngoài”

Năm 1402: “Hán Thương đắp sửa đường sá từ thành Tây Đô đến Hóa

Châu Dọc đường đặt phố xá và trạm truyền thư, gọi là đường Thiên Lý”

Năm 1402: “ Hán Thương cho đắp đàn Giao ở Đốn Sơn làm lễ tế Giao”

Thành Nhà Hồ chính thức trở thành kinh đô của nhà Trần từ năm (1398 – 1407), nhà Hồ ( 1400 – 1407) Các quyết sách xây dựng và bảo vệ đất nước khoảng năm 1398 – 1407 đều được đưa ra tại đây Với tư cách là kinh

đô của đất nước, Đàn Nam Giao đã được dựng lên, các tuyến giao thông được hình thành cùng với sự phát triển của phố phường, chợ và các ngành nghề thủ công chắc chắn đã biến đổi bộ mặt của một làng quê dần trở thành một trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa của đất nước

Tháng 11 năm 1407, vì nhiều lý do khác nhau, Hồ Quý Ly và Đội quân trăm vạn bị thất bại trước nạn xâm lăng từ phương Bắc Thành Tây Đô trở thành nơi chiếm đóng của quân Minh Từ 1408 trở đi Thành Nhà Hồ trở thành Kinh đô, tòa thành, trung tâm quân sự và vị trí chiếm đóng của quân Minh, quân Lam Sơn, nhà Lê – Trịnh

Trang 11

Đầu thế kỷ XIX, Thành Nhà Hồ vẫn là một địa chỉ quan trọng thu hút

sự chú ý của các sử gia thời Nguyễn Thành Nhà Hồ được mô tả trong Lịch

triều hiến chương loại chí viết trong khoảng thời gian 1809- 1819, trong Đại Nam Nhất Thống Chí thời Tự Đức ( 1848 – 1883 ), trong Thanh Hóa Vĩnh Lộc huyện chí năm 1816, trong Hồ Thành Chân Bản năm Tự Đức thứ 21

(1868), và qua các tài liệu địa bạ thời Nguyễn

Ngày nay, sau hơn 600 năm thăng trầm lịch sử, tòa thành vẫn hiện diện uy nghi với các tường thành và các cửa thành còn khá nguyên vẹn Các kết quả khai quật khảo cổ học đã bước đầu làm xuất hiện nhiều thành phần kiến trúc của kinh đô cổ này Do xác định đúng giá trị lịch sử, văn hóa to lớn của di tích, ngày 28/ 4/1962 Bộ Văn Hóa đã quyết định xếp hạng di tích Thành Nhà Hồ là di tích lịch sử cấp Quốc gia Ngày 27/ 6/2011 Thành Nhà

Hồ được công nhận di sản văn hóa thế giới Năm 2007, ủy ban Nhân Dân tỉnh Thanh Hóa đã quyết định thành lập Ban Quản Lý di tích Thành Nhà Hồ để tăng cường việc quản lý, bảo vệ, tôn tạo và phát huy giá trị của di tích Thành Nhà Hồ

1.3 Khái quát về cấu trúc Thành Nhà Hồ

Thành Tây Đô là một công trình đồ sộ hoành tráng Đồ án thành được chia làm hai khu vực : khu thành ngoại còn gọi là La thành, và khu thành nội còn gọi là Hoàng Thành Thành ngoại đắp bằng đất và trồng tre gai Thành nội là nơi triều rộng, cùng với lớp hào thiên nhiên là sông Mã, sông Bưởi bao bọc lấy kinh thành

1.3.1 Thành Nội (Hoàng Thành)

Thành nội được xây dựng hết sức công phu bằng những khối đá xanh khổng lồ Chính nét đặc trưng trong nghệ thuật kiến trúc thành Tây Đô tập trung ở bốn cổng thành và dãy tường thành, đã kiến cho tòa thành trở nên đặc biệt hấp dẫn các nhà nghiên cứu lịch sử và nghệ thuật Qua các công trình

Trang 12

nghiên cứu của mình, họ muốn làm cho những khối đá xanh câm lặng kia phải bật lên tiếng nói hào hùng của một thời Tây Đô từng được đứng ở vị trí kinh đô của đất nước

Thành nội còn gọi là Hoàng Thành, nơi vua cùng các quan ở và làm việc, được xây dựng kiên cố vững chắc, thành có bình đồ gần vuông, mặt chính quay về hướng Đông Nam, với đường trục chính theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, hai tường thành phía Nam và phía Bắc dài 877,1m và 877m, hai tường thành phía Đông và phía Tây dài 879,3m và 880 m, thành có chu vi 3515,4m và diện tích 769.086m, (khoảng 77ha)

Thành có 4 cửa , được mở ra từ chính giữa của 4 bức tường thành Các cửa này được gọi tên theo bốn hướng chính: Cửa Bắc, Cửa Nam , Cửa Đông, Cửa Tây Hiện nay, hai con đường trục chính nối giữa cửa Bắc với cửa Nam cửa Đông và cửa Tây, gặp nhau tại tâm điểm của tòa thành Qua khỏi các cửa, các con đường tiếp tục tỏa về 4 phía Dấu tích khảo cổ học của con đường chạy về hướng Nam cho thấy đây cũng hướng đi của con đường cổ đi tới Đàn Nam Giao trên núi Đốn Sơn

Từ hiện trạng còn gần như nguyên vẹn của tòa thành và các kết quả nghiên cứu khảo cổ học, trong những năm gần đây, bước đầu có thể xác định được những phần kiến trúc cơ bản của Hoàng Thành là: Tường thành , hào thành, cửa thành, dấu tích các hồ nước và kiến trúc bên trong

1.3.1.2 Tường Thành và hào thành

Từ bên ngoài có thể thấy toàn bộ các bức tường của tòa thành được xây bằng các khối đá khổng lồ có hình khối chữ nhật hoặc gần vuông, xếp không trùng mạch theo hình chữ “I” Trên thực tế, tường thành được cấu tạo bởi 3 lớp gắn kết chặt chẽ với nhau bằng một kỹ thuật xây dựng đặc biệt

Tường thành được xây dựng bằng những khối đá vôi to lớn, được đẽo gọt và ghép một cách tài tình thành những khối vuông thành sắc cạnh, với

Trang 13

kích thước trung bình 2,2 x 1,5 x 1,2m, cá biệt có khối có kích thước tới 4,2x1,7x1,5m và 5,1x1x1,2m Những khối đá nặng khoảng 26,7 tấn Nhìn từ mặt ngoài từng khối đá này được lắp ghép chồng lên nhau theo phương thẳng đứng, hơi thu nhỏ lên phía trên, những khối đá to lớn nhất được xếp dưới thấp, càng lên cao, kích thước của chúng càng giảm đi, để liên kết chặt chẽ các khối đá với nhau và làm khít lỗ trống thì các đá răm, đất sét trộn với sỏi

và cát được đổ vào đầy các khoảng trống của những khối đá này

Lớp giữa (lõi trong) được đắp bằng đá mồ côi (các khối đá rời tự nhiên), chèn ốp bên trong theo từng lớp đá bên ngoài

Lớp trong là lũy đất đắp bằng đất sét trộn cát sỏi, nện kỹ thành từng lớp, có độ dốc thoải dần vào phía trong thành Cứ dày khoảng 60cm -70cm lại

có một lớp cát mỏng trộn với sỏi

Bao quanh các bức tường thành đồ sộ là hệ thống hào thành hay còn gọi là hệ thống bảo vệ, như thường thấy ở các tòa thành Đông Á Khoảng cách từ hào tới tường thành khoảng 65m – 70m, và khu vực này nay là các thửa ruộng sâu có độ thấp hơn xung quanh 0,8m Giáp với hào là đất thổ cư của dân làng Xuân Giai Khoảng cách từ hào vào chân thành nội là một cự ly đáng sợ cho quân địch từ ngoài muốn vượt vào để tấn công vào thành Ngày nay nhiều phần của hào thành bị lấp cạn Tuy nhiên vẫn có thể nhận thấy dấu tích của hào thành ở phía Bắc, phía Đông và một nửa phía Nam của thành

1.3.1.2 Các cửa Thành

Thành Nhà Hồ có 4 cửa: Cửa Nam , Cửa Bắc, Cửa Đông và Cửa Tây Các cửa đểu được mở ở chính giữa tường thành và được xây theo kiểu vòm cuốn, có kỹ thuật xây dựng tương đối giống nhau: bên dưới đặt những khối đá lớn làm nền, các khối đá hình chữ nhật xếp bên trên tạo thành thân cửa Phần vòm cửa được xây bằng các viên đá được chế tác hình múi bưởi (hay hình thang cân), tạo nên phần vòm cuốn hình bán viên Các cửa này được xây, xếp

Trang 14

với độ chính xác cao tạo nên nét đặc sắc của tòa thành Trong 4 cửa, Cửa Nam được xây lớn nhất ở ba vòm cửa, các cửa khác chỉ có một vòm

Cửa phía Nam hay còn gọi là cửa Tiền dài 34,850m, độ cao hiện còn

từ nền hiện tại 7,65m, dày 15m, được xây thành 3 vòm cuốn, vòm giữa cao 8,5m, rộng 5,850m hai vòm bên cao 7,8m, rộng 5,455 và 5,470m

L.Bezacier nhận xét: “ Cửa phía Nam kiểu tam quan, vòng trung tâm,

quan trọng hơn hai cửa bên một chút Cửa tam quan này và các cửa ở mặt khác xây dựng toàn bằng đá đuợc đẽo gọt rất khéo…Các cửa này hơi nhô lên trên tường thành, do các vòm hình bán nguyệt với đá xây trụ vòm hơi nghiêng

có cải tiến Các vòm này hình thành những viên đá xây cuốn rất quan trọng…” Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, tập II, trang 75

Cửa Nam với vị trí và quy mô của cửa chính mang tính bề thế và công phu hơn nhiều lần so với các cửa khác Lầu cửa Nam ngoài việc mang chức năng một lầu canh, còn là nơi nhà vua thường ngự duyệt quân trước khi xuất chinh và chủ trì các nghi lễ khác, có thể đoán rằng lầu này phải được xây hai lớp mái chồng diêm, bờ nóc phải trang trí rồng phượng công phu để tương ứng với bộ mặt kiến trúc của quốc đô

Cửa phía Bắc dài 21,342m, cao vòm 8,098m, sâu 13,55m tạo một

vòm cuốn cao 5,425m, rộng 5,80m Trên nóc vòm cuốn lát đá tạo một mặt bằng rộng 12,7m, dài 20m

Cửa phía Đông dài 23,3m, sâu 13,4m, rộng 5,8m, vòm cuốn chiều

cao còn lại 6,8m

Cửa phía Tây dài 19,3m, sâu 13,4m, rộng 5,7m, vòm cuốn cao 6,16m

Xưa kia các cửa được đóng mở bởi những bộ cánh cửa bằng gỗ lim và

có then cài, phía dưới có bánh xe lăn bằng đá rất to bản và dày Khối lượng lớn các cánh cửa được thể hiện qua dấu vết để lại của những lỗ đục vào đá và những lỗ cối lắp ngưỡng cửa, hiện nay các cánh cửa gỗ đều không còn

Trang 15

1.3.1.3 Các kiến trúc và công trình trong thành nội

Theo tài liệu cũ cho biết, trong thành nội có nhiều công trình kiến trúc quan trọng như Điện Hoàng Nguyên (nơi nhà vua ngự triều), cung Nhân Thọ (nơi ở của Hoàng Hậu), Đông Thái Miếu (nơi thở tổ họ Hồ), tây Thái Miếu (nơi thờ họ ngoại Trần Minh Tông và Trần Nghệ Tông), đàn xã Tắc….Nối giữa các công trình này là những con đường lát đá

Những cung điện lầu gác xưa nay không còn nữa, chỉ còn lại vết tích trên các nền móng là bờ của các thửa ruộng với kích thước khác nhau Nếu đứng từ trên cao nhìn xuống thì thấy những bờ ruộng nổi lên rất cân đối Những bờ ruộng này đều nằm trên những móng tường cũ của các công trình Dựa vào hình các bờ ruộng cũng có thể hình dung ra phần nào sự phân bố các cung điện, đền miều thời Tây Đô còn đang thịnh

Ở khoảng trung tâm tòa thành, hiện còn lại đôi rồng đá, được phát hiện năm 1938 trong lúc làm con đường xuyên từ cửa Nam lên cửa Bắc

Đôi rồng này vốn là một cặp thành bậc cửa của một kiến trúc quan trọng trong thành, chúng đã bị dịch chuyển khỏỉ vị trí ban đầu Đôi Rồng đã

bị mất phần đầu do chiến tranh, phần còn lại có thân dài uốn lượn hình sin, mình phủ vảy hoa, bờm dài , bốn chân có móng sắc nhọn…là đặc điểm của rồng tượng trưng cho quyền lực nhà vua ở thời Trần và thời Hồ nói riêng, cho vương triều Việt Nam nói chung Đây cũng là cặp rồng kiến trúc Hoàng cung sớm nhất của Việt Nam được phát hiện cho đến nay

Ngoài các kiến trúc trên theo truyền thuyết dân gian còn có những dấu tích hồ nước còn lại ngày nay Trong đó, đáng chú ý nhất là dấu tích của bốn

hồ nước lớn ở bốn góc thành: hồ Bán Nguyệt, hồ Dục Thúy, Hồ Dực Tượng,

hồ Bơi Chải

Trang 16

1.3.2 La Thành

La thành là vòng thành ngoài bảo vệ toàn bộ các kiến trúc và dân cư trong kinh thành La thành dài khoảng 10km, được xây dựng dựa theo địa hình tự nhiên, cách thành trong khoảng 1- 3km, từ núi Đốn Sơn (thuộc xã Vĩnh Thành) đến núi Hắc Khuyển (thuộc xã Vĩnh Long), các núi Xuân Đài, Trắc Phong, Tiến Sỹ (thuộc xã Vĩnh Ninh), núi Kim Ngọ (thuộc xã Vĩnh Tiến), núi Kim Ngưu, Tượng Sơn (thuộc xã Vĩnh Quang) và hai con sông là sông Bưởi và sông Mã Vòng thành này dựa trên địa hình tự nhiên sẵn có, người xưa chỉ gia cố thêm một số đoạn, đắp đất, trồng tre, nối liền những dãy núi, con sông lại với nhau

La thành được xây vào tháng 9 năm 1399 Đại Việt Sử Ký toàn thư chép Hồ Quý ly “ Sai Trần Ninh đốc suất người phủ Thanh Hóa trồng tre gai

ở phía Tây thành, phía Nam từ Đốn Sơn, phía Bắc từ An Tôn đến tận cửa Bào Đàm, phía Tây từ chợ Khả Lãng ở Vực Sơn đến sông Lỗi Giang (sông Mã), vây quanh làm tòa thành lớn bọc phía ngoài Dân chúng ai lấy trộm măng thì

bị xử tử

Có lẽ do sự chuyển dòng của sông và sự xâm hại của thiên nhiên, của con người, nhiều đoạn của La Thành không còn nhận thấy nữa Dấu tích La Thành hiện còn lại khá rõ ở hai khu vực thuộc cánh đồng xã Vĩnh Phúc (phía Đông Nam) và cánh đồng xã Vĩnh Long (phía Đông Bắc), với chiều dài tổng cộng 3km Phần còn nguyên vẹn thuộc cánh đồng xã Vĩnh Long đã được khoanh vùng bảo vệ nguyên trạng

1.3.3 Các công trình liên quan

Bên cạnh cấu trúc quần thể liên quan tới thành như La Thành, Hoàng Thành, hệ thống đường đi, các cổng thành thì quần thể cấu trúc Thành Nhà

Hồ còn có các công trình khác liên quan như đền thờ Nàng Bình Khương,

Trang 17

Đàn Nam Giao, Hang Nàng và núi An Tôn, đền trần Khát Chân, đình Đông

Tại Thành Tây Đô hơn 400 năm trước, một triều đại phong kiến mới

ra đời: Triều đại nhà Hồ, với sự kiện Hồ Quý Ly lên ngôi lấy niên hiệu là Thánh Nguyên Từ đó lịch sử bước sang trang mới với biết bao biến động của thời cuộc, và đến khi kết thúc những năm tháng trị vì ngắn ngủi của triều đại nhà Hồ, người đời sau đã xem quãng thời gian đó như một nốt trầm trong bản hùng ca của lịch sử dân tộc

Tuy là một thành lũy được xây dựng theo lối kiến trúc nặng về tính chất quân sự, nhưng một trong những mục đích của Hồ Quý Ly khi cho xây dựng tòa thành này là nhằm dời đô về Thanh Hóa Vì Vậy Tây Đô còn đóng vai trò của một quốc đô, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của đất nước Bên trong thành là một hệ thống cung điện nguy nga, xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng, hệ thống đường xá, mang dấu ấn của một đô thị cổ

Tuy là một quốc đô chỉ tồn tại vẻn vẹn trong vòng 7 năm, nhưng nơi đây đã chứng kiến những sự kiện chính trị quan trọng: Đó là những cuộc cải cách lớn về chế độ chính trị, giáo dục, tiền tệ, thuế khóa, quân sự với tham vọng lớn là nhanh chóng làm cho nước Đại Ngu được cường thịnh, thoát khởi những khủng hoảng trầm trọng

Tây Đô có vinh dự là một trong ba nơi được mở khoa thi Đình và làm

lễ tế Giao trong suốt hàng ngàn năm lịch sử dân tộc (thành Thăng Long, thành

Trang 18

phú Xuân và thành Nhà Hồ), hai kỳ thi Đình tổ chức vào năm 1400 và 1405,

lễ tế giao được tổ chức trên núi Đốn Sơn ở phía trước kinh thành vào năm

1403

Là một dấu chấm trong lịch sử dân tộc, triều Hồ với Thành Nhà Hồ đã nối tiếp chặng đường của các giai đoạn lịch sử của nước nhà, góp phần phát huy các giá trị của lịch sử của một triều đại tồn tại trong bảy ư năm nhưng đã

để lại những giá trị to lớn về tinh thần yêu nước cho các thế hệ sau

Về chất liệu xây dựng thành: Nếu như thành Cổ Loa được xây bằng đất và đá cuội, thành Hoa Lư đắp từ đất, gạch, phần móng có kê đá tảng và đóng cọc gỗ lớn, thành Thăng Long cũng bằng gạch, có vòng La thành đắp đất thì thành Tây Đô hoàn toàn khác biệt Chất liệu chính xây thành là những khối đá xanh khổng lồ đẽo vuông thành sắc cạnh, được dựng khắp bốn mặt tường thành Đó là một hiện tương chưa từng gặp ở bất cứ một công trình kiến trúc quân sự cổ nào trên đất nước ta

Như vậy có thể khẳng định rằng, thành Tây Đô được làm từ loại vật liệu xây dựng vững chắc đương thời là đá xanh với kích thước rất lớn Vì thế đây được xem như là một công trình quân sự bền vững nhất trong số các thành lũy Việt Nam

Về kỹ thuật xây dựng thành: Nếu như các thành lớn như Cổ Loa, Hoa

Lư, Thăng Long được xây lên bởi các vật liệu là: đất, gạch, và đá cuội, đá

Trang 19

viên…thì vấn đề kỹ thuật xây dựng thành không phải bàn cải, bởi công việc được tiến hành bình thường Còn riêng thành Tây Đô, đi dọc bốn phía tường thành, nhìn những phiến đá lớn chồng khít lên nhau tạo thành bức tường đồ

sộ, chúng ta không khỏi đặt câu hỏi thắc mắc rằng: làm thế nào người xưa đã

có thể vận chuyển đá từ công trường về nơi xây dựng và nâng cao những khối

đá lớn như vậy, trong điều kiện lao động thủ công Những biện pháp đơn giản mà hiệu quả, được phỏng đoán là sử dụng để đưa đá từ xa về và nâng lên cao như: phương pháp dùng “cộ” “bi” đắp đất thoai thoải, đã chứng tỏ óc sáng tạo tuyệt vời, bàn tay tài hoa và khả năng lao động bền bỉ của con người Việt Nam ở cuối thế kỷ XIV, phương pháp này trước đó chưa từng được sử dụng trong xây thành ở Việt Nam, nó khiến ta liên tưởng tới cách mà người

Ai Cập đã sử dụng để vận chuyển đá xây dựng Kim Tự Tháp vĩ đại

Kỹ thuật xây tường thành và xây cả vòm cuốn còn cho chúng ta bài học: không cần vôi vữa làm chất kết dính mà chỉ cần gia công cho đá thành từng khối thích hợp, được đặt đúng chỗ thì tự trọng lượng của chúng sẽ ép chặt Nhiều thế kỷ trôi qua, thời gian đã khẳng định sự vững vàng của kỷ thuật xây dựng thành này, và càng xác định vẻ đẹp vốn lẫn trong từng khối đá

và đường ghép

1.4.3 Giá trị Văn hóa – nghệ thuật của Thành Nhà Hồ

Khi nghiên cứu về nghệ thuật kiến trúc xây dựng thành lũy ở Việt Nam, nhận xét về Thành Tây Đô, L.Bơdaxie – một nhà nghiên cứu người pháp đã

khẳng định rằng: “ Chúng tôi kết thúc bằng cách nhấn mạnh rằng công trình

này là một trong những tác phẩm đẹp nhất của nền kiến trúc An Nam” Cho

đến nay ý kiến này vẫn còn giữ nguyên giá trị của nó

Đối với nền văn hóa khu vực, Đông Nam Á là khu vực nổi tiếng một nền văn hóa đa dạng đặc sắc, nền văn hóa và nghệ thuật của Việt Nam đã đóng góp một vai trò không nhỏ làm sinh động thêm vẻ đẹp của văn hóa, nghệ thuật Đông Nam Á Khi nói về nghệ thuật kiến trúc của ĂngCoVat chúng ta không thể bỏ quên một kiến trúc độc đáo của Việt Nam đó là thành

Trang 20

Tây Đô Nếu ĂngCoVat mang tầm vóc di sản văn hóa thế giới , là đỉnh cao của một tác phẩm kiến trúc đồ sộ, một công trình tưởng niệm phật giáo thì thành Tây Đô mang một vẻ đẹp độc đáo riêng của mình Thành Tây Đô là thành lũy quân sự kiên cố nhất, kỹ thuật xây dựng thành mang tính độc đáo riêng là ở chất liệu xây dựng, kích thước, cách cải thiện tự nhiên và sức lao động bền bỉ của con người Việt

Tòa thành đá có vòng hào sâu bao lấy tường thành, hình khối rõ ràng, đường nét thẳng tắp, góc cạnh dứt khoát, mặt tường phẳng, rộng với những mảnh ghép đá như đường kẻ trang trí, ở khoảng giữa nhô ra các hệ thống cửa

tò vò, với những tường đứng ở thành cửa, và những đường cong ở vòm cửa, làm đường nét thay đổi nhưng vẫn mạch lạc Các công trình kiến trúc bên trong được quy hoạch theo sự đăng đối hai nữa phải trái, tạo nên sự trang nghiêm, chững chạc nơi chính quyền trung ương đã thể hiện một tư duy toán học Số gạch và những đồ dùng tìm được trong qua trình khai quật cho chúng

ta thấy một tư duy nghệ thuật, nghệ thuật trang trí, lắp ghép thô sơ

Với công trình kiến trúc và đồ án xây dựng cùng tư duy nghệ thuật như trên, thành Tây Đô đã thể hiện một giá trị thẩm mỹ đặc biệt và một cảm quan nghệ thuật cao của con người thời bấy giờ

Tiểu kết: Từ những nội dung trình bày trong chương một đã khái quát

một cách đầy đủ và gắn gọn về vị trí địa lý, về lịch sử hình thành và phát triển của thành Tây Đô Mô tả sơ lược về thành quách kiến trúc của tòa thành cùng với các công trình kiến trúc liên quan tới tòa thành gúp cho người đọc có thể cảm nhận, hình dung một cách có hệ thống về Thành Nhà Hồ Triều đại nhà

Hồ cùng với tòa thành đã làm nổi bật lên các giá trị tiêu biểu của Thành Nhà

Hồ, đưa nó trở thành di sản văn hóa thế giới được nhiều người biết tới Với tiềm năng của một di sản văn hóa thế giới mọi hoạt động du lịch ở đây đang từng bước được đẩy mạnh, đưa di sản trở thành điểm tham quan du lịch quen thuộc đối với du khách trong nước và quốc tế

Trang 21

Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH CỦA

Hệ thống đường đi: Các đoạn đường chính từ bốn phía cổng thành tới

đường đi vào trong làng đã được trải nhựa nhưng còn nhỏ hẹp và hiện nay đã

bị xuống cấp nặng nề, xuất hiện nhiều ổ gà tương đối khó đi, mùa khô thì bụi mùa mưa thì bẩn và lầy lội

Từ cổng thành phía Nam ra con đường chính vốn xưa là trục Hoàng Đạo, hay là con đường chính dẫn tới Đàn Nam Giao, thì ngày nay đã trở thành con đường liên xã Các phương tiện giao thông và người dân thường sử dụng Trục Hoàng Đạo này để đi lại, lưu thông trong nội thành Vì vậy con đường chính ngày càng xuống cấp, hư hỏng, làm mất đi giá trị cảnh quan của

di sản

Bên cạnh hệ thống đường đi các bãi đỗ xe chưa có, xung quanh khu vực thành và khu vực thị trấn Vĩnh Lộc hiện chưa có bãi cho xe khách, xe du lịch lớn đỗ xe

Cơ sở y tế: hiện tại ở xã Vĩnh Tiến có một sở sở y tế phục vụ khám

chữa bệnh cho người dân Tuy nhiên cơ sở y tế này còn nghèo nàn về vật chất

và phương tiện kỹ thuật, trình độ tay nghề chuyên môn của các y bác sỹ, các nhân viên y tế còn kém Sự phục vụ khám chữa bệnh cho người dân địa phương và khách du lịch chưa đảm bảo yêu cầu

Trang 22

Thông tin liên lạc: hệ thống thông tin liên lạc phục vụ nhu cầu của

người dân tương đối đầy đủ.Tuy nhiên để phục vụ nhu cầu du lịch thì ở đây chưa có các trạm điện thoại công cộng, các bưu điện gần khu vực thành chưa

có, gây khó khăn trong việc liên lạc của du khách

Hệ thống điện nước: nguồn điện phục vụ cho nhu cầu cuộc sống của

người dân đang được nâng cấp dần, các trạm điện đã được xây dựng Lấy điện theo đường 10KV từ trạm Núi Đụn đi Vĩnh Yên; dự kiến khối lượng công trình đầu tư: 1 trạm biến áp 180 KVA; 1km đường dây điện từ trục 10KV đến trạm

Nhưng thực trạng đặt ra là xung quanh khu vực thành và các đường đi chính dẫn tới thành chưa có hệ thống đèn cao áp chiếu sáng, khu vực trong

2.1.2.1 Cơ sở phục vụ ăn uống

Nhìn chung các cơ sở phục vụ nhu cầu ăn uống của khách du lịch còn hạn chế Xung quanh khu vực Thành chưa có quán ăn hay nhà hàng đặc sản

có thể phục vụ tốt nhất cho khách du lịch Tại khu vực thị trấn Vĩnh lộc có hai hay ba nhà hàng nhỏ chỉ phục vụ được 20 tới 25 khách trở xuống

Tại các nhà hàng những món ăn đặc trưng riêng của Huyện Vĩnh Lộc như: dê núi, cà tím rán, bánh răng bừa, bánh mật, kẹo lạc chưa được sử dụng trong việc phục vụ du khách Chỉ có một số quán lẻ tẻ bên đường bán chủ yếu phục vụ cho nhu cầu của người dân bản địa, chưa được khai thác vào hoạt động du lịch

Trang 23

Về chất lượng phục vụ tại các nhà hàng: nhân viên của nhà hàng hầu hết không được đào tạo chuyên nghiệp trong việc phục vụ nhu cầu của khách Những đầu bếp ở đây chưa qua các lớp đào tạo nấu ăn, tay nghề không cao Nhân viên phục vụ bàn là những người trong gia đình, họ chưa trải qua các khóa học, các nghiệp vụ phục vụ bàn Vì vậy nhân viên không có chuyên môn

và không khéo léo trong giao tiếp với khách Sự yếu kém về chất lượng làm giảm khả năng phát triển du lịch nơi đây

2.1.2.2 Cơ sở lưu trú

Hiện tại xung quanh thành và thị trấn Vĩnh Lộc các cơ sở phục vụ nhu cầu lưu trú của khách còn rất ít, chưa đảm bảo yêu cầu và chưa tương xứng với tiềm năng của khu du lịch

Trên địa bàn thị trấn Vĩnh lộc hiện có hai, ba nhà nghỉ phục vụ nhu cầu của khách như: nhà khách Vĩnh Lộc, nhà nghỉ Tây Hồ - khu 3- thị trấn Vĩnh Lộc, ngay trên đoạn đường giao thông thuận lợi trong tour du lịch Thành Nhà Hồ- Đàn Tế Nam Giao – Động Hồ Công hay Thành Nhà Hồ - Đàn Nam Giao- Phủ Trịnh – Nghè Vẹt

Chất lượng cơ sở vật chất kỹ thuật trong các nhà nghỉ còn nghèo nàn

và lạc hậu Các dịch vụ bổ sung như: Giặt là, xông hơi, massage, khu vui chơi giải trí, các bãi đỗ xe cho khách chưa có, chưa đáp ứng được nhu cầu thiết yếu của khách

Chất lượng phục vụ của nhân viên tại các nhà nghỉ còn yếu kém về chuyên môn, nhân viên lễ tân, nhân viên phục vụ buồng chưa có nghiệp vụ cơ bản, chưa trải qua các chương trình đào tạo, các khóa học lễ tân và phục vụ buồng Vì vậy các nhân viên ở các nhà nghỉ còn hạn chế trong trình độ chuyên môn, khả năng giải quyết tình huống, khả năng ngoại ngữ còn rất yếu Chính từ sự yếu kém về cơ sở phục vụ lưu trú kéo theo sự yếu kém trong vấn

đề phát triển du lịch nơi đây

Trang 24

2.1.2.3 Phương tiện đưa đón khách tham quan du lịch

Hiện tại hệ thống phương tiện phục vụ khách tham quan trong tỉnh nói riêng và khách ngoài tỉnh nói chung còn rất hạn chế Trong tỉnh từ trung tâm thành phố Thanh Hóa có tuyến xe buýt số 2 chạy tới thị trấn Vĩnh Lộc, tuy nhiên để tới được thành Nhà Hồ thì du khách phải đi thêm xe ôm, đi bộ hay taxi

Hệ thống xe nhỏ, xe du lịch hay xích Lô đưa khách từ Thành Nhà Hồ tới các di tích lân cận như đền thờ nàng Bình Khương, Phủ Trịnh, Nghè Vẹt, Đàn Nam Giao hiện tại chưa có Sự yếu kém này tạo nên bất cập cho việc phát triển du lịch và phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch

2.1.2.4 Các dịch vụ bổ sung

Bên cạnh cơ sở phục vụ lưu trú, ăn uống thì khách tham quan du lịch còn đỏi hỏi các dịch vụ bổ sung như vui chơi giải trí, mua sắm

Khu vui chơi giải trí: Một số khách đi du lịch ngoài mục đích chính là

tham quan, tìm hiểu, nghiên cứu thì họ còn có các nhu cầu khác về vui chơi giải trí Tuy nhiên vấn đề đặt ra là ở đây chưa có những cơ sở phục vụ nhu cầu vui chơi giải trí cho khách tham quan

Dịch vụ mua sắm: Xung quanh khu vực thành các cửa hàng tạp hóa

bán các sản phẩm, các vật dụng còn rất ít Từ cổng thành phía Nam đi ra con đường chính chỉ có một số cửa hàng bán hàng tạp hóa, hàng nước Từ đó chúng ta có thể thấy rằng hệ thống các cửa hàng phục vụ nhu cầu cho du khách còn rất hạn chế

Tại khu vực Thành có một căn phòng nhỏ chuyên bán các sản phẩm

ẩm thực liên quan tới hình ảnh Thành Nhà Hồ như: Chè Lam Phủ Quảng, kẹo lạc, thuốc lá… trên mỗi sản phẩm đều in hình ảnh về Thành nhà Hồ Thông qua những món quà hình ảnh Thành nhà Hồ và du lịch Thành nhà Hồ sẽ được nhiều du khách biết tới Tuy nhiên một thực trạng đặt ra là tại sao ở đây

Trang 25

không bán các sản phẩm thủ công , mỹ nghệ được làm bằng đá như: mô hình Thành Nhà Hồ, tượng người Việt Cổ,

Thành Nhà Hồ đã xây dựng được nhà trưng bày hiện vật, giới thiệu các hiện vật, các sản phẩm liên quan tới Thành Nhà Hồ, các hiện vật trưng bày trong nhà trưng bày như: sa bàn toàn bộ diện tích tòa thành, vũ khí sử dụng, các loại đạn, các tác phẩm điêu khắc, cùng với các hiện vật khai quật đều được trưng bày trong nhà trưng bày này Tuy nhiên số hiện vật trưng bày còn ít, hiện vật thô sơ khi giới thiệu cho khách tham quan ít để lại ấn tượng trong lòng khách

Tại Thành Nhà Hồ có một trung tâm Bảo Tồn di sản Trung tâm hoạt động cách Tòa thành khoảng chừng 5km, khi tới đây chúng ta khó có thể tìm thấy địa chỉ hay cơ sở hoạt động của trung tâm này, bởi vì hiện tại trung tâm đang hoạt động trên vị trí của nhà văn hóa của thôn thuộc xã vĩnh tiến Vì chưa có địa bàn cơ sở lưu trú nên trung tâm đã mượn nhà văn hóa của thôn để làm địa bàn hoạt động

Từ những thực trạng nêu trên ta thấy rằng các sơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho nhu cầu du lịch còn nghèo nàn, lạc hậu và tồn tại nhiều hạn chế Chính sự hạn chế của các cơ sở vật chất kỹ thuật đã làm giảm khả năng phát triển du lịch của vùng Một yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải có các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng của các cơ sở vật chất kỹ thuật để hoạt động du lịch nơi đây phát triển tương xứng với tiềm năng của khu du lịch

2.1 Thực trạng doanh thu và thị trường khách

Thành nhà Hồ với tiềm năng của một di sản được nhiều du khách trong và ngoài nước biết tới Tuy nhiên số lượng khách tham quan tại khu di tích nhìn chung chưa nhiều Nguyên nhân một phần là do các sản phẩm du lịch tại di tích chưa đa dạng, các dịch vụ bổ sung chưa nhiều Trong những

Trang 26

năm gần đây, cùng với sự phát triển chung của ngành du lịch Việt Nam, số lượng khách tới tham quan đã có dấu hiệu tăng lên

Có thể thấy cho đến thời điểm hiện tại, số lượng khách tới tham quan

di sản còn hạn chế Tuy nhiên với các kế hoạch bảo tồn tôn tạo các di sản, các chiến lược quảng bá hình ảnh, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật Thành Nhà Hồ sẽ là một điểm trọng tâm trong mạng lưới phát triển du lịch của tỉnh Thanh hóa nói riêng và của miền Trung nói chung Sự phát triển du lịch nơi đây sẽ đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu của du khách như: phục vụ nhu cầu học tập nghiên cứu lịch sử, kiến trúc, khảo cổ học, du lịch, tham quan và nghỉ dưỡng của người dân Việt Nam và quốc tế Với các chiến lược như trên thì hiện nay số lượng khách tới tham quan ngày càng gia tăng cụ thể như sau:

Bảng 2.1: Doanh thu từ du lịch năm 2008 tới năm 2011

Doanh thu năm 2011

6 tháng đầu năm 6 tháng cuối năm

Trang 27

Bảng 2.4 Bảng thống kê số lượng khách năm 2011

42 ( Trong đó Trung Quốc: 10, Pháp: 7, Lào:20, Hàn Quốc:1, Thụy Điển:1, Thụy Sĩ: 2)

50, Đức: 15, Úc: 15, Campuchia:11, Mỹ:15, Anh:15, Hàn Quốc:5, AiLen:2, BaLan:2, mexico:1)

Trang 28

Theo thống kê của Sở Văn Hóa Thể Thao Du Lịch (VHTTDL) Thanh Hóa cung cấp mỗi ngày có 300 khách du lịch tới đây tham quan, con số này thực sự chưa hấp dẫn cho dù đây là di tích mới được công nhận di sản văn hóa thế giới Nó gần như trái ngược với Phong Nha – Kẻ Bàng, nơi đang nườm nượp khách kéo đến sau hàng loạt công bố kỷ lục về hang động, giá trị di sản thiên nhiên của thế giới về nơi này

Ông Nguyễn Hữu Nhẫn, Phó GĐ Sở VHTTDL Thanh Hóa cho biết:

"Chúng tôi đã mời nhiều công ty lữ hành xây dựng tour, dẫn khách đến đây

Nhưng thời gian cho thấy không hiệu quả và cuối cùng khách đến chủ yếu vẫn

là vãng lai, tây “ba lô” và những người yêu thích giá trị lịch sử”

Căn cứ vào bảng số liệu ở trên ta thấy

Số lượng khách tham quan: Từ năm 2008 tới năm 2011 số lượng khách tới tham quan có sự gia tăng qua các năm, tuy nhiên sự gia tăng không cao Từ năm 2011 số lượng khách gia tăng, cụ thể là trong 6 tháng đầu năm thành Tây Đô chưa được công nhận là di sản văn hóa thế giới thì số lượng khách tới tham quan còn rất ít Còn 6 tháng cuối năm khi tòa thành được công nhận di sản văn hóa của thế giới thì khách du lịch thế giới đã biết tới tòa thành nhiều hơn

Doanh thu của khu di tích đều tăng ổn định qua các năm, năm 2011 tăng vượt bậc hơn các năm trước Kể từ khi được công nhận di sản văn hóa Thế giới, Thành Nhà Hồ được tỉnh Thanh Hóa và Ban quản lý đầu tư kinh phí xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, phục hồi lại kiến trúc xưa, đẩy mạnh tuyên truyền và quảng bá, đưa ra các chiến lược và giải pháp cụ thể nhằm đẩy mạnh hoạt động du lịch, tăng doanh thu cho khu di tích

Mục đích và thành phần khách tới tham quan: Trong tổng số khách quốc tế đến với di tích chủ yếu là khách tới tham quan, nghiên cứu, chiêm ngưỡng công trình kiến trúc, thành quách được xây dựng và hoàn thành chỉ

Trang 29

trong 3 tháng Còn khách nội địa tới tham quan chủ yếu là học sinh, sinh viên, các chuyên gia, các nhà nghiên cứu lịch sử và khảo cổ học đến tham quan tìm hiểu mang tính chất tự phát không qua hãng lữ hành Trong thành phần khách tới tham quan số lượng khách Việt chiếm vị trí quan trọng, khách quốc tế chủ yếu là khách Trung Quốc, Nhật Bản, Lào, Mỹ…

Như vậy với sự đầu tư nâng cấp hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, chiến lược quảng bá cụ thể, hoạt động du lịch khu di tích đã có doanh thu, số lượng khách tới tham quan ngày càng nhiều, đa dạng hơn trong thành phần khách Huyện Vĩnh Lộc và tỉnh Thanh Hóa đã có một phần thành công bước đầu, trong việc hướng di sản trở thành một trong những điểm thu hút số lượng khách du lịch nhiều nhất đến với Thanh Hóa

Ông Doãn Văn Phú, phó giám đốc Sở văn hóa thể thao và du lịch

Thanh Hóa cho biết rằng “ nhờ xác định và có sự đầu tư đúng hướng, biết

khai thác lợi thế để tập trung cho sự phát triển du lịch tương xứng với tài nguyên và lợi thế địa phương các chính sách cụ thể cho phát triển du lịch, vấn đề quy hoạch được quan tâm đầu tư Hiệu lực và quản lý nhà nước ngày càng có chuyển biến tiến bộ, đã và đang tạo dựng nên được các sản phẩm du lịch, dịch vụ dựa trên yếu tố tài nguyên đặc trưng và lợi thế so sánh Sở Văn Hóa Thể Thao và Du Lịch tỉnh Thanh Hóa phấn đấu đưa xứ Thanh trở thành địa bàn trọng điểm du lịch quốc gia vào năm 2015 đón 19,264 triệu lượt khách, phục vụ 36,268 triệu lượt ngày khách, doanh thu đạt 10,931 tỷ đồng”

và di sản văn hóa thành Nhà Hồ trở thành điểm du lịch trọng tâm trong mục tiêu và định hướng đặt ra

Tùy vào từng mục đích tham quan, nghiên cứu khác nhau khách tới đây thường tham quan và lưu lại trong 1h hay 2h đồng hồ rồi đi ngay tới các điểm tham quan khác Trừ một số khách tới đây nghiên cứu lịch sử, khai quật

Trang 30

khảo cổ học, tìm hiểu kiến trúc thành quách có ở đây 2 hặc 3 ngày Như vậy

số lượng khách lưu lại ở đây là không đáng kể

Có thể nói trong những năm gần đây, đặc biệt là từ sau khi được công nhận di sản văn hóa thế giới thì số lượng khách tới tham quan Thành Nhà Hồ ngày càng đông và gia tăng cao Tuy nhiên khách tới đây tham quan và thường không lưu trú lại, với số lượng khách như vậy chưa tương xứng với tiềm năng của một di sản Yêu cầu đặt ra là phải đầu tư xây dựng hệ thống trang thiết bị phục vụ cho hoạt động du lịch, đẩy mạnh công tác tuyên truyền quảng bá hình ảnh nhằm nâng cao hoạt động du lịch Thành Nhà Hồ

2.3 Thực trạng nguồn nhân lực

Hiện tại nguồn nhân lực phục vụ cho việc phát triển du lịch Thành Nhà Hồ và khách tham quan tương đối đầy đủ về số lượng, tuy nhiên lại yếu

về chất lượng và trình độ chuyên môn

Tại địa bàn tỉnh Thanh Hóa, các trường Đại học, cao đẳng và trung cấp đã mở các lớp đào tạo chuyên ngành du lịch nhằm phục vụ cho nhu cầu

du lịch của tỉnh như trường đfại học Hồng Đức, trường đại học văn Hóa Thể Thao và Du Lịch Thanh Hóa và các trường khác Từ thực trạng chung của tỉnh ta thấy rằng các trường đào tạo chưa mang tính chuyên sâu, hệ thống đào tạo mang tính lý thuyết, đào tạo trên sách vở, chưa có sự vận dụng vào thực

tế Nhà trường chưa liên kết với các khách sạn, các trung tâm lữ hành và các điểm du lịch cụ thể để sinh viên được cọ xát thực tế, tập dượt với nghề nghiệp Bên cạnh đó việc đào tạo ngoại ngữ cho sinh viên còn rất yếu, sinh viên yếu trong năng lực giao tiếp, trong kiến thức ngoại ngữ, kỹ năng tin học

Tại trung tâm bảo tồn di sản Thành nhà Hồ gồm các ban quản lý , các phòng nghiệp vụ khác nhau, trong đó nguồn nhân lực gồm có 43 viên chức và lao động hợp đồng, trong đó: 01 cán bộ trình độ trên đại học (Tiến sĩ); 02 cán

Trang 31

bộ trình độ Thạc sĩ; 16 cán bộ có trình độ đại học; 02 cán bộ cao đẳng và 16 lao động hợp đồng làm công tác Bảo vệ - Vệ sinh môi trường.

Ở khu vực trung tâm thành luôn có 5 hướng dẫn viên thay phiên nhau làm việc, những hướng dẫn viên ở đây làm việc các buổi trong ngày, không

có ngày nghỉ, không nghỉ trưa Bên cạnh sự đầy đủ của cán bộ nhân lực cùng với khả năng làm việc tích cực thì ta lại thấy mặt trái của vấn đề là những hướng dẫn viên này còn yếu về nghiệp vụ chuyên môn, chưa được đào tạo bài bản trong việc phục vụ khách tham quan, chưa khéo léo trong cách giải quyết tình huống mà khách đưa ra, cũng như khả năng về ngoại ngữ còn yếu kém

Nói tới nguồn nhân lực phục vụ du lịch còn phải kể tới người dân thôn xóm khu vực quanh thành, chính mỗi người dân là một người làm du lịch, phục vụ cho du lịch, phục vụ cho khách tham quan Tuy nhiên người dân ở đây trình độ văn hóa thấp, chưa được đào tạo bài bản trong phục vụ du khách, làm hạn chế khả năng làm du lịch của người dân Ở một khía cạnh khác khi xem xét về người dân làm du lịch tại Phố Cổ Hội An thì tại khu vực Thành Nhà Hồ cần phải tuyên truyền, giải thích nhiều cho người dân hiểu được các giá trị của di tích

2.4 Thực trạng hoạt động tuyên truyền và quảng bá du lịch

Thành Nhà Hồ đã trở thành Di sản văn hóa Thế giới, tỉnh Thanh Hóa tự hào và vinh dự là địa phương sở hữu di sản này của nhân loại Bên cạnh việc quản lý thật tốt di sản, vấn đề quảng bá những giá trị văn hóa, lịch sử, kiến trúc có giá trị nổi bật toàn cầu của Di sản Thế giới Thành Nhà Hồ đến với công chúng trên toàn thế giới là một yêu cầu cấp bách và lâu dài của Việt Nam trong việc tham gia Công ước Di sản Thế giới 1972 Thông qua việc giới thiệu di sản sẽ góp phần quan trọng cho việc quảng bá du lịch đến Việt Nam nói chung và tỉnh Thanh Hóa nói riêng

Trang 32

Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch đã xây dựng kế hoạch, hướng dẫn hệ thống văn hóa cơ sở, các địa phương, đơn vị tổ chức các hoạt động tuyên truyền, quảng bá di sản văn hóa thế giới Thành Nhà Hồ kịp thời, hiệu quả bằng nhiều hình thức: tuyên truyền trên website, bảng Led, pa nô tấm lớn,…

Thư viện tỉnh đã tổ chức sưu tầm, tập hợp trên 300 bài viết, công trình nghiên cứu, tác phẩm nghệ thuật về vương triều Hồ và Hồ Quý Ly

Bảo tàng tỉnh chuẩn bị tư liệu và tổ chức trưng bày chuyên đề “Cổ vật Thanh Hóa thời Trần – Hồ”; Trung tâm Triển lãm và Xúc tiến Du lịch chuẩn

bị tổ chức các sự kiện “Hội chợ quê”, cuộc thi ảnh “Khoảnh khắc Thành Nhà Hồ”

Trung tâm Bảo tồn Di sản Thành Nhà Hồ đang triển khai thực hiện dự

án nâng cấp Website Thành Nhà Hồ (http://www.thanhnhaho.com.vn), căng

treo biển quảng cáo tấm lớn trên các tuyến đường Quốc lộ và tỉnh lộ thuộc địa bàn tỉnh Thanh Hóa, tổ chức cuộc thi sáng tạo lô gô cho Thành Nhà Hồ

Sở Thông tin Truyền thông đã xây dựng kế hoạch tuyên truyền; Các đơn vị báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình tiếp tục tuyên truyền, mở các chuyên mục, chuyên đề riêng, các bài viết, phóng sự về sự kiện đón bằng, lịch

sử và kiến trúc của Thành Nhà Hồ, triều Hồ, …

Kết quả đạt được đến hết tháng 2 /2012 đã có hơn 2500 tin, bài viết về Thành Nhà Hồ được đăng tải trên báo in và trang tin điện tử, chỉnh sửa 5 tập phim về Thành Nhà Hồ và biên tập mới 3 tập phim về Hồ Quý Ly

Mặc dù hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch được tiến hành một cách đầy đủ và chuyên sâu Tuy nhiên lại chưa có một ấn phẩm, sách hay tạp chí nào cung cấp một cách đầy đủ nhất các thông tin liên quan để giới thiệu về Thành Nhà Hồ cho du khách biết, hầu hết các sách báo, các bài viết chỉ viết được một khía cạnh nào đấy trong toàn bộ thông tin mà khách muốn biết, công tác tuyên truyền còn mang tính chất manh mún, nhỏ lẻ

Trang 33

Việc đẩy mạnh sự kết nối giữa điểm du lịch với các trung tâm du lịch

lữ hành đã được tiến hành, đã có sự kết nối các điểm du lịch cụ thể trong tỉnh với Thành Nhà Hồ như Lam Kinh- Động Kim Sơn - Thành Nhà Hồ - suối cá Cẩm Thủy, hay sự thiết lập tour giữa tỉnh Thanh Hóa với các tỉnh khác Ngay trong việc kết nối giữa Thành nhà Hồ với các di tích phụ cận được thiết lập Tuy nhiên một thực trạng là sự kết nối này mạng tính lý thuyết, có văn bản, có sự liên kết với các trung tâm lữ hành, nhưng sự liên kết chưa chặt chẽ Các hãng lữ hành chỉ đưa khách du lịch tới tham quan di sản một hai lần Kết quả như trên là do sự yếu kém trong việc phục vụ khách tham quan của điểm

du lịch, hay sự yếu kém trong việc giao tiếp giữa trung tâm bảo tồn di sản Thành Nhà Hồ với các trung tâm lữ hành

Lãnh đạo Sở VHTTDL Thanh Hóa cho biết: “đã mời nhiều công ty lữ

hành tới khảo sát trực tiếp và xây dựng tour để đưa khách đến đây nhưng xem

ra động thái này chưa đem lại hiệu quả mong muốn” Vì hầu hết khách tới

đây cũng chỉ ngắm nhìn tòa Thành và đi, chủ yếu là khách lẻ, khi tới đây khách không được tham gia vào bất kỳ hoạt động gì, tạo nên sự đơn địu và nhàm chán

2.5 Thực trạng công tác quản lý và bảo tồn di sản

Trong quá trình trình hồ sơ để Thành Nhà Hồ được công nhận là di sản văn hóa thế giới, đã có sự hoạt động mạnh mẽ của ban quản lý di sản cũng như sự hoạt động của trung tâm bảo tồn di sản Thành Nhà Hồ, sở văn hóa Thể thao và Du lịch Thanh Hóa Sự hoạt động của các ban quản lý, các cấp các ngành đã góp phần đưa Thành Nhà Hồ trở thành di sản văn hóa thế giới, được nhiều người biết tới, mọi hoạt động du lịch tại di sản đã được chú trọng đầu tư xây dựng

Trang 34

Tuy nhiên mọi hoạt động của sở Văn Hóa Thể Thao và Du Lịch,

Trung tâm Triển lãm và Xúc tiến Du lịch, Trung tâm Bảo tồn Di sản Thành Nhà Hồ hoạt động còn rời rạc, không có sự liên kết chặt chẽ với nhau

Để quản lý và bảo tồn di sản, gần di sản có một trung tâm chịu trách nhiệm quản lý mọi công tác đó chính là Trung Tâm Bảo Tồn Di Sản Thành Nhà Hồ Trung tâm chịu trách nhiệm quản lý mọi hoạt động của Thành Nhà

Hồ như: Hoạt động trong việc đón tiếp khách tham quan, tới hướng dẫn viên, việc quy hoạch và bảo tồn di sản, tại trang web của trung tâm cung cấp các thông tin liên quan tới Thành nhà Hồ Những hoạt động cụ thể của như sau:

Từ năm 2007 đến năm 2009 sử dụng các biện pháp bảo vệ nền móng kiến trúc, cảnh quan của khu di tích (khắc phục tưới nước và lập dự án chống thấm dột ở cửa Nam, cấm các phương tiện cơ giới đi qua thành, phát quang cây dại trên tường thành )

Trong 2 năm 2008, 2009 tiến hành các dự án: Khai quật khảo cổ khu vực cửa Nam Thành Nhà Hồ và đường Hoa Nhai; khai quật đàn tế Nam Giao lần thứ 2, 3, 4; tu bổ di tích lịch sử văn hóa đền thờ Bình Khương; xây dựng Trang thông tin điện tử về di tích Thành Nhà Hồ

Từ 01/5/2009 tiến hành thu phí tham quan khu di tích

Công tác bảo vệ và quản lý di sản đã được tiến hành nhưng còn nhiều thiếu sót, thực trạng bảo tồn và bảo quản di sản hiện tại như sau

 Phức hợp di sản hiện nay bao gồm ba bộ phận hợp thành đó là Thành Nhà Hồ, La Thành, Đàn Nam Giao Trải qua hơn 600 năm bị các cuộc chiến tranh, các tác động của tự nhiên và con người, một số thành phần của khu di tích đã bị tác động, xâm hại và biến dạng

 Tường Thành nhiều đoạn còn nguyên vẹn nhưng nhiều đoạn đã bị hư hỏng Những đoạn nguyên vẹn nhất khoảng 3 – 4 hàng đá, nhiều đoạn bị vùi lấp chỉ còn 1- 2 hàng đá, rất nhiều khối đá xây thành bị rơi vãi nằm bên ngoài

Trang 35

bãi đất trống ngoài thành Do ảnh hưởng của các dòng nước ngầm một số đoạn tường thành đã bị sụt lỡ, phần gạch xây phía trên không còn nhận thấy dấu vết, đất đắp thành ở nhiều đoạn đã bị trôi sụt, lợi dụng một số quảng sụt

lỡ, người dân quanh vùng đã mở các lối đi vào thành để tiện việc sản xuất nông nghiệp, trên tường thành cây cối mọc lên um tùm

 Tòa Thành không còn nguyên vẹn hình dáng ban đầu, phần lớn bị san lấp khá nhiều trong quá trình canh tác trồng lúa Dấu vết hào thành ở cửa phía Đông, làng Đông Môn là rõ nhất Những phần khác có thể nhận thấy được theo những khoảnh ruộng trũng, đặc biệt là vào mùa mưa

 Trong khu vực thành nội, những hồ nước còn lại dưới dạng những hồ

ao nằm rải rác, toàn bộ công trình xây dựng trên mặt đất đã bị biến mất, các nền móng kiến trúc còn nhận thấy nhờ các gò đất cao nổi lên giữa các thửa ruộng, ở hai bên trục chính Bắc Nam Tuy nhiên, việc xây dựng hệ thống thủy nông, chia đất làm ruộng, phần thửa ruộng trồng hoa màu và sự san lấp để canh tác khiến các dấu vết nền móng kiến trúc đã bị biến dạng Nhiều di vật liên quan đến thành như gạch xây thành, bi đá, các viên đá nhỏ bị nhân dân quanh vùng lấy làm vật liệu xây dựng

đồ dùng, dựng các quán nước ven tường thành

 La Thành được tạo dựng thành bằng cách đắp các lũy đất cao, nối các

gò đồi tự nhiên, bên ngoài có trồng tre gai, thì hiện nay nhiều đoạn La Thành được mô tả trong sử liệu không còn nhận thấy Nhiều đoạn lũy đất có thể do sông đổi dòng nên đã mất

 Phần bậc nền của Đàn Nam Giao gần chân núi, một số người dân đã

sử dụng để đặt mộ của người thân Phần nền phía dưới giáp khu dân cư có trồng các loại cây lấy gỗ

Trang 36

Từ thực trạng trên ta thấy rằng công tác quản lý bảo vệ di sản còn manh mún, chưa khoa học, làm di sản ngày càng mất đi giá trị vốn có của nó Yêu cầu đặt ra là phải có các biện pháp cụ thể nhằm bảo vệ và phát triển di sản một cách bền vững

Tiểu kết chương 2: Như vậy mọi hoạt động du lịch của Thành Nhà

Hồ nói riêng, huyện Vĩnh Lộc nói chung đã đạt được một số kết quả như: cơ

sở hạ tầng vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch ngày càng được cải thiện và phần nào đáp ứng được nhu cầu tham quan của du khách Vấn đề bảo tồn, bảo vệ di sản đã được chú trọng Hoạt động tuyên truyền quảng bá hình ảnh Thành Nhà Hồ bước đầu đã có kết quả, được thể hiện cụ thể trong doanh thu và thị trường khách ngày càng tăng Sự phát triển trong hoạt động du lịch đã góp phần cải thiện đời sống nhân dân, đem lại nguồn thu nhập, giải quyết vấn đề việc làm, nâng cao trình độ hiểu biết và dân trí cho người dân trong huyện

Tuy nhiên từ những phân tích ở trên, ta thấy các hoạt động du lịch tại Thành Nhà Hồ còn tồn tại một số hạn chế làm ảnh hưởng tới sự phát triển của hoạt động du lịch như: tình trạng thiếu thốn và lạc hậu về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, làm giảm khả năng thu hút du khách tới tham quan Tình trạng nguồn nhân lực còn thiếu và yếu về trình độ chuyên môn, sự yếu kém trong công tác quản lý và bảo vệ di sản, vấn đề quy hoạch chưa được tiến hành cụ thể…

Vì vậy yêu cầu đặt ra là cần phải có các biện pháp, các chiến lược, giải pháp cụ thể để khắc phục các khó khăn nêu trên, nhằm phát triển du lịch tại khu di tích Thành Nhà Hồ đi đôi với việc bảo vệ di sản cho thế hệ mai sau

Trang 37

Chương 3 CÁC GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN HOẠT

Tăng thu nhập từ hoạt động du lịch: lấy mục tiêu hiệu quả kinh tế là

trọng tâm, coi chất lượng tăng trưởng ngày càng được nâng cao, không chạy theo số lượng mà kiểm soát số lượng tương xứng với quy mô, sức chứa đảm bảo chất lượng ổn định và bền vững về xã hội và môi trường Hoạt động du lịch phải mạng lại lợi ích cho cộng đồng dân cư đồng thời góp phần giữ gìn tài nguyên, bảo vệ di sản

Đảm bảo sự hài lòng của du khách: hoạt động du lịch đặt mục tiêu

định hướng đến việc gia tăng giá trị trải nghiệm của khách trong từng hoạt động du lịch làm phương châm hoạt động để xây dựng sản phẩm, chương trình du lịch, tổ chức dịch vụ đón tiếp phục vụ đáp ứng nhu cầu, mong đợi của khách Phát triển các công trình dịch vụ du lịch gắn liền với từng bước không ngừng nâng cao chất lượng hưởng thụ, giá trị trải nghiệm du lịch của du khách

Trong quy hoạch phát triển du lịch: cần phải xác định mục tiêu phát

triển cụ thể dựa trên tiềm năng, thế mạnh, nguồn lực và sự quan tâm của trung tâm bảo tồn di sản, của sở văn hóa, chính quyền và cộng đồng dân cư của tỉnh

Ngày đăng: 16/09/2021, 17:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w