1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch nghệ an giai đoạn 2011 2015

93 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng, phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố tác động và ảnh hưởng đến ngành du lịch tỉnh Nghệ An, bao gồm những nhân tố ảnh hưởng đến lĩnh vực phát triển du lịch củ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA LỊCH SỬ

-

CHU THỊ THANH THỦY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỊA HỌC

THỰC TRANG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU

LỊCH NGHỆ AN GIAI ĐOẠN 2011 - 2015

NGÀNH: VIỆT NAM HỌC

Giáo viên hướng dẫn: Võ Thị Anh Mai

Vinh – 2012

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Khoá luận tốt nghiệp được xem như một công trình nghiên cứu khoa học, đánh dấu quá trình học tập trong thời gian mấy năm đại học của mỗi sinh viên

Bài khoá luận của tác giả được hoàn thành tốt nhờ sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của giảng viên Võ Thị Anh Mai, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cô giáo Võ Thị Anh Mai đã hướng dẫn em hoàn thành bài khoá luận này, cùng với sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong khoa Lịch Sử đã truyền đạt nguồn kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho em trong thời gian em học tập tại trường

Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn tới các cô chú, anh chị trong Sở văn hoá - thể thao và du lịch Nghệ An, Sở kế hoạch và đầu tư Nghệ An đã giúp đỡ trong quá trình tác giả tìm hiểu tài liệu, cảm ơn sự giúp đỡ của gia đình và bạn bè tạo mọi điều kiện để tác giả hoàn thành tốt bài khoá luận này

Mặc dù đã nỗ lực hết mình, nhưng do khả năng, kiến thức và thời gian

có hạn nên không thể tránh khỏi những sai sót trong lúc thực hiện khoá luận

Em mong được thầy cô chỉ dẫn, giúp đỡ để em ngày càng hoàn thiện hơn vốn kiến thức của mình

Em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên

Chu Thị Thanh Thuỷ

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Đóng góp của đề tài 3

6 Bố cục đề tài 4

NỘI DUNG 5

Chương 1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ DU LỊCH NGHỆ AN 5

1.1 Điều kiện tự nhiên 5

1.1.1 Vị trí địa lý 5

1.1.2 Đất đai - thổ nhưỡng 6

1.1.3 Khí hậu, thuỷ văn 7

1.2 Đặc điểm văn hoá xã hội 10

1.3 Tài nguyên du lịch 13

1.3.1.Tài nguyên du lịch tự nhiên 13

1.3.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 17

1.4 Các loại hình du lịch chủ yếu 25

Tiểu kết chương 26

Chương 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH NGHỆ AN GIAI ĐOẠN 2005 – 2010 28

2.1 Tác động của các nhân tố bên ngoài – cơ hội và thách thức đối với du lịch Nghệ An 28

2.1.1 Tác động của một số nhân tố bên ngoài 28

Trang 4

2.1.2 Cơ hội và thách thức đối với du lịch Nghệ An 31

2.2 Thực trạng hoạt động du lịch Nghệ An 35

2.2.1 Thực trạng cơ sở vật chất – cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch 35

2.2.2 Thực trạng nguồn nhân lực du lịch 38

2.2.3 Thực trạng doanh thu du lịch 40

2.2.4 Thực trạng công tác marketing, quảng bá du lịch 42

2.2.5 Thực trạng công tác quản lý nhà nước về du lịch 43

2.3 Nhận xét chung về thực trạng phát triển du lịch Nghệ An thời gian qua 45

2.3.1 Những kết quả đạt được 45

2.3.2 Những vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân 49

Tiểu kết chương 52

Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH NGHỆ AN GIAI ĐOẠN 2011 – 2015 53

3.1 Quan điểm và phương hướng phát triển du lịch Nghệ An giai đoạn 2011 – 2015 53

3.1.1 Quan điểm phát triển 53

3.1.2 Phương hướng phát triển 54

3.2 Nội dung kế hoạch phát triển du lịch Nghệ An giai đoạn 2011 – 2015 55

3.2.1 Mục tiêu phát triển du lịch Nghệ An giai đoạn 2011 – 2015 55

3.2.2 Nhiệm vụ phát triển du lịch Nghệ An giai đoạn 2011 – 2015 57

3.3 Một số giải pháp phát triển du lịch Nghệ An giai đoạn 2011 – 2015 58

3.3.1 Giải pháp về công tác quy hoạch, đầu tư phát triển du lịch 58

3.3.2 Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, quảng bá xúc tiến du lịch 60

3.3.3 Đa dạng hoá và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch Nghệ An 65

3.3.4 Giải pháp đào tạo, phát triển nguồn nhân lực 70

3.3.5 Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về du lịch 71

3.4 Một số kiến nghị 73

Trang 5

3.4.1 Kiến nghị đối với Bộ văn hoá - thể thao và du lịch 73

3.4.2 Kiến nghị với Sở văn hoá - thể thao - du lịch và UBND tỉnh Nghệ An 73

Tiểu kết chương 75

KẾT LUẬN 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

PHỤ LỤC 78

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Trang

Bảng 1: thống kê số lượng khách du lịch tới Nghệ An qua các năm 45 Bảng 2: doanh thu du lịch theo giá trị thực tế trên địa bàn 46 Bảng 3: số lượng lao động trong ngành du lịch Nghệ An năm 2009 47

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngành du lịch đã có lịch sử phát triển từ lâu trên thế giới nhưng đối với Việt Nam thì đây là một ngành còn rất non trẻ Đến với Việt Nam ngày nay

du khách không chỉ mong muốn được nghỉ ngơi, thư giãn, thưởng thức ẩm thực mà còn muốn khám phá về văn hoá, con người Việt Nam thông qua các

di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh Để đáp ứng sự phát triển và đòi hỏi chung của xu thế thế giới, Đảng và nhà nước ta đã có chính sách thúc đẩy sự phát triển cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, đưa ra các chính sách về quy hoạch, đầu tư phát triển du lịch trên cơ sở khai thác và bảo vệ nguồn tài nguyên du lịch

Trong xu hướng phát triển chung của du lịch Việt Nam, địa phương nào cũng khai thác những tiềm năng du lịch của mình một cách tối đa nhất dựa trên những tài nguyên du lịch mà địa phương có Nghệ An cũng vậy, Nghệ

An có tài nguyên du lịch rất phong phú và đa dạng, diện tích 16 490 km2 hơn 12.000 km2 rừng núi tạo ra những thảm thực vật với nhiều khu rừng nguyên sinh đáp ứng nhu cầu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, leo núi và nhiều loại hình

du lịch khác Đặc biệt là vườn quốc gia Pù Mát, khu bảo tồn rừng nguyên sinh

Pù Hoạt là những kho tàng bảo tồn đa dạng sinh học rất hấp dẫn du khách du lịch trong nước và quốc tế Bờ biển Nghệ An dài 82 km, có nhiều bãi tắm đẹp, đặc biệt là bãi tắm Cửa Lò sóng hiền, nền phẳng, cát mịn, nước trong, cảnh quan và môi trường hấp dẫn Nghệ An có trên 1 ngàn di tích lịch sử văn hoá, trong đó có 131 di tích lịch sử văn hoá được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử quốc gia Đặc biệt, mảnh đất địa linh, nhân kiệt, khí thiêng sông núi, cùng truyền thống lịch sử văn hoá muôn đời đã kết tinh trong một người con kiệt xuất của quê hương - Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh hùng giải phóng dân

Trang 8

tộc, danh nhân văn hoá thế giới Với nguồn tài nguyên du lịch và vị trí địa lý thuận lợi, du lịch Nghệ An đã có những bước phát triển mạnh mẽ, đạt được nhiều kết quả tích cực Tuy nhiên, nếu xét trong bối cảnh chung của nền kinh

tế và so với tiềm năng du lịch của Nghệ An thì các kết quả đạt được của ngành du lịch Nghệ An vẫn chưa được như mong muốn Đây là lý do em lựa chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch Nghệ An giai đoạn

2011 - 2015” để làm đề tài luận văn tốt nghiệp

2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nhằm mục đích nghiên cứu nội dung cơ bản về du lịch, nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của du lịch Nghệ An, trên cơ sở phân tích thực trạng phát triển ngành du lịch tỉnh Nghệ An để đưa ra các giải pháp góp phần phát triển du lịch Nghệ An đến năm 2015

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố tác động và ảnh hưởng đến ngành du lịch tỉnh Nghệ An, bao gồm những nhân tố ảnh hưởng đến lĩnh vực phát triển

du lịch của Nghệ An như: tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn, công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực nói chung và lĩnh vực du lịch nói riêng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ quản lý, đội ngũ nhân viên, hướng dẫn viên du lịch của Nghệ An

- Phạm vi nghiên cứu: Các lĩnh vực liên quan đến du lịch trên địa bàn tỉnh đó là nghiên cứu, khảo sát những tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên

du lịch nhân văn, những yếu tố môi trường xã hội có tác động đến du lịch Nghệ An hiện nay

+ Về không gian: được giới hạn trên địa bàn tỉnh Nghệ An trong mối quan hệ với các địa phương lân cận

Trang 9

+ Về thời gian: Luận văn nghiên cứu sâu về hoạt động du lịch của tỉnh Nghệ An giai đoạn 2000 – 2010 (chủ yếu là giai đoạn 2005 – 2010) và đề xuất các giải pháp thực hiện giai đoạn 2011 - 2015

Bên cạnh đó, do hoạt động du lịch chịu tác động mạnh và không ngừng biến động theo thời gian và xu thế của thời đại Vì vậy, đề tài sẽ cố gắng không ngừng nắm bắt những vận động phát triển của hệ thống du lịch theo hướng hội nhập, toàn cầu hóa và nền kinh tế tri thức để đề xuất các giải pháp phát triển du lịch tỉnh Nghệ An một cách hiệu quả nhất

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã sử dụng một số phương pháp sau:

- Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

- Phương pháp khảo sát thực địa

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp phân tích tổng hợp

5 Đóng góp của đề tài

- Với cách tiếp cận có hệ thống, đề tài sẽ góp phần đem lại những phương pháp phân tích tổng thể để nhận diện, phân tích toàn diện thực trạng phát triển ngành du lịch và đưa ra các giải pháp thiết thực nhằm phát triển ngành du lịch tại một địa phương

- Kết quả thực tế của đề tài sẽ nhận diện được các hạn chế từ phát triển

du lịch của tỉnh Nghệ An, đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế này góp phần giúp du lịch Nghệ An phát triển tương xứng với tiềm năng hiện có của tỉnh

- Đề tài cũng góp phần làm tài liệu tham khảo cho những ai muốn nghiên cứu, tìm hiểu về sự phát triển du lịch Nghệ An trong thời gian tới

Trang 10

6 Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, mục lục, phụ lục, tài liệu tham khảo bố cục của luận văn bao gồm 3 chương

Chương 1 Giới thiệu khái quát về du lịch Nghệ An

Chương 2 Đánh giá thực trạng phát triển du lịch Nghệ An giai đoạn

2005- 2010

Chương 3 Một số giải pháp phát triển du lịch Nghệ An giai đoạn 2011 -

2015

Trang 11

NỘI DUNG Chương 1: GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ DU LỊCH NGHỆ AN 1.1 Điều kiện tự nhiên

160 km) Tỉnh có tuyến đường sắt Bắc - Nam dài 94 km chạy qua

Nghệ An nằm trong hành lang kinh tế Đông - Tây nối liền Myanma - Thái Lan - Lào - Việt Nam - Biển Đông theo đường 7 đến cảng Cửa Lò Nằm trên các tuyến du lịch quốc gia và quốc tế (tuyến du lịch xuyên Việt; tuyến du lịch Vinh - Cánh đồng Chum - Luôngprabang - Viêng Chăn - Băng Cốc và ngược lại qua Quốc lộ 7 và đường 8)

Với vị trí như vậy, Nghệ An đóng vai trò quan trọng trong giao lưu kinh

tế, thương mại, du lịch, vận chuyển hàng hoá với cả nước và các nước khác

Trang 12

trong khu vực, nhất là các nước Lào, Thái Lan và Trung Quốc, là điều kiện thuận lợi để kêu gọi đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, vị trí địa lý này cũng tạo điều kiện thuận lợi cho Nghệ An phát triển du lịch

1.1.2 Đất đai - Thổ nhưỡng

- Về diện tích:

Nghệ An có diện tích tự nhiên là 16.490,25 km2, chiếm 5,01% diện tích

tự nhiên cả nước Hơn 80% diện tích là vùng đồi núi nằm ở phía tây gồm 10 huyện, và 1 thị xã; Phía đông là phần diện tích đồng bằng và duyên hải ven biển gồm 7 huyện, 1 thị xã và thành phố Vinh

- Thổ nhưỡng: Phân chia theo nguồn gốc hình thành thì có các nhóm đất như sau:

+ Đất thuỷ thành: Phân bố tập trung chủ yếu ở các huyện đồng bằng, ven biển, bao gồm 5 nhóm đất: đất cát, đất phù sa, đất mặn, đất phèn mặn, đất bạc màu và biến đổi do trồng lúa

Đất cát ven biển: 21.428 ha (tập trung ở vùng ven biển), đất có thành phần cơ giới thô, kết cấu rời rạc, dung tích hấp thụ thấp Các chất dinh dưỡng như mùn, đạm, lân đều nghèo, kali tổng số cao, nhưng kali dễ tiêu nghèo, thích hợp và đã được đưa vào trồng các loại cây như: rau, lạc, đỗ, dâu tằm,… Đất phù sa thích hợp với canh tác cây lúa nước và màu: Bao gồm đất phù

sa được bồi hàng năm, đất phù sa không được bồi đắp hàng năm, đất phù sa lầy úng, đất phù sa cũ có sản phẩm Feralit Nhóm này có diện tích khoảng 163.202 ha, trong đó đất phù sa không được bồi hàng năm chiếm khoảng 60%

Ngoài hai loại đất chính còn có đất cồn cát ven biển và đất bạc màu, tuy nhiên, diện tích nhỏ và có nhiều hạn chế trong sản xuất nông nghiệp

Trang 13

+ Đất địa thành: Loại đất này tập trung chủ yếu ở vùng núi (74,4%) và bao gồm các nhóm đất sau: đất đỏ vàng phát triển trên đá phiến thạch sét, đất vàng nhạt phát triển trên sa thạch và cuội kết, đất vàng đỏ phát triển trên các

đá axít, đất đỏ nâu trên đá vôi, đất nâu đỏ trên bazan, đất Feralit đỏ vàng trên núi, đất mùn trên núi cao

- Địa hình:

Nằm ở Đông Bắc dãy Trường Sơn, Nghệ An có địa hình đa dạng, phức tạp, bị chia cắt mạnh bởi các dãy đồi núi và hệ thống sông, suối Về tổng thể, địa hình nghiêng theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, với ba vùng sinh thái rõ rệt: miền núi, trung du, đồng bằng ven biển Trong đó, miền núi chiếm tới 83

% diện tích lãnh thổ Địa hình có độ dốc lớn, đất có độ dốc lớn hơn 80

chiếm gần 80% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, đặc biệt có trên 38% diện tích đất có độ dốc lớn hơn 250

Nơi cao nhất là đỉnh Pulaileng (2.711m) ở huyện Kỳ Sơn, thấp nhất là vùng đồng bằng các huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Yên Thành, có nơi chỉ cao 0,2 m so với mặt nước biển (xã Quỳnh Thanh, Quỳnh Lưu) Đặc điểm địa hình trên là một trở ngại lớn cho việc phát triển mạng lưới giao thông đường bộ, đặc biệt là các tuyến giao thông vùng trung du và miền núi, gây khó khăn cho phát triển lâm nghiệp và bảo vệ đất đai khỏi bị xói mòn, gây lũ lụt cho nhiều vùng trong tỉnh Tuy nhiên, hệ thống sông ngòi có độ dốc lớn, với 117 thác lớn, nhỏ là tiềm năng lớn có thể khai thác để phát triển thuỷ điện và điều hoà nguồn nước phục vụ sản xuất và dân sinh

1.1.3 Khí hậu, thuỷ văn

Nghệ An nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh và chia làm hai mùa rõ rệt: mùa hạ nóng, ẩm, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa

- Khí hậu:

+ Chế độ nhiệt:

Trang 14

Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 23 – 24 0C, tương ứng với tổng nhiệt năm là 8.700 0C Sự chênh lệch nhiệt độ giữa các tháng trong năm khá cao Nhiệt độ trung bình các tháng nóng nhất (tháng 6 đến tháng 7) là 33 0C, nhiệt

độ cao tuyệt đối 42,7 0C; nhiệt độ trung bình các tháng lạnh nhất (tháng 12 năm trước đến tháng 2 năm sau) là 19 0C, nhiệt độ thấp tuyệt đối - 0,5 0C Số giờ nắng trung bình/năm là 1.500 - 1.700 giờ Tổng tích ôn là 3.500 0

C - 4.0000C

+ Chế độ mưa:

Nghệ An là tỉnh có lượng mưa trung bình so với các tỉnh khác ở miền Bắc Lượng mưa bình quân hàng năm dao động từ 1.200 - 2.000 mm/năm với

123 - 152 ngày mưa, phân bổ cao dần từ Bắc vào Nam và từ Tây sang Đông

và chia làm hai mùa rõ rệt:

Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa chỉ chiếm 15 - 20% lượng mưa cả năm, tháng khô hạn nhất là tháng 1, 2; lượng mưa chỉ đạt

độ ẩm trung bình tháng ẩm nhất và tháng khô nhất tới 18 - 19%; vùng có độ

ẩm cao nhất là thượng nguồn sông Hiếu, vùng có độ ẩm thấp nhất là vùng núi phía Nam (huyện Kỳ Sơn, Tương Dương) Lượng bốc hơi từ 700 - 940

Trang 15

Gió phơn Tây Nam là một loại hình thời tiết đặc trưng cho mùa hạ của vùng Bắc Trung Bộ Loại gió này thường xuất hiện ở Nghệ An vào tháng 5 đến tháng 8 hàng năm, số ngày khô nóng trung bình hằng năm là 20 - 70 ngày Gió Tây Nam gây ra khí hậu khô, nóng và hạn hán, ảnh hưởng không tốt đến sản xuất và đời sống sinh hoạt của nhân dân trên phạm vi toàn tỉnh + Các hiện tượng thời tiết khác:

Là tỉnh có diện tích rộng, có đủ các dạng địa hình: miền núi, trung du, đồng bằng và ven biển nên khí hậu tỉnh Nghệ An đa dạng, đồng thời có sự phân hoá theo không gian và biến động theo thời gian Bên cạnh những yếu tố chủ yếu như nhiệt độ, lượng mưa, gió, độ ẩm không khí thì Nghệ An còn là một tỉnh chịu ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới Trung bình mỗi năm có

2 - 3 cơn bão, thường tập trung vào tháng 8 và 10 và có khi gây ra lũ lụt Sương muối chỉ có khả năng xảy ra ở các vùng núi cao và một vài vùng trung du có điều kiện địa hình và thổ nhưỡng thuận lợi cho sự thâm nhập của không khí lạnh và sự mất nhiệt do bức xạ mạnh mẽ của mặt đất như khu vực Phủ Quỳ

Nhìn chung, Nghệ An nằm trong vùng khí hậu có nhiều đặc thù, phân dị

rõ rệt trên toàn lãnh thổ và theo các mùa, tạo điều kiện cho nhiều loại cây

Trang 16

trồng phát triển Khí hậu có phần khắc nghiệt, đặc biệt là bão và gió Tây Nam gây trở ngại không nhỏ cho sự phát triển chung, nhất là sản xuất nông nghiệp Trong đó cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển du lịch

- Thuỷ văn:

Tỉnh Nghệ An có 7 lưu vực sông (có cửa riêng biệt), tuy nhiên 6 trong số này là các sông ngắn ven biển có chiều dài dưới 50 km, duy nhất có sông Cả với lưu vực 15.346 km2, chiều dài 361 km Địa hình núi thấp và gò đồi chiếm

tỷ trọng lớn nên mạng lưới sông suối trong khu vực khá phát triển với mật độ trung bình đạt 0,62 km/km2

nhưng phân bố không đều trong toàn vùng Vùng núi có độ dốc địa hình lớn, chia cắt mạnh, mạng lưới sông suối phát triển mạnh trên 1 km/km2, còn đối với khu vực trung du địa hình gò đồi nên mạng lưới sông suối kém phát triển, trung bình đạt dưới 0,5 km/km2

Tuy sông ngòi nhiều, lượng nước khá dồi dào nhưng lưu vực sông nhỏ, điều kiện địa hình dốc nên việc khai thác sử dụng nguồn nước sông cho sản xuất và đời sống gặp nhiều khó khăn

1.2 Đặc điểm văn hoá – xã hội

Nghệ An với diện tích rộng 16.490,25 km2, trong một vùng lãnh thổ như vậy, thiên nhiên xứ Nghệ thật đa dạng, phong phú và khắc nghiệt Đặc điểm thiên nhiên này đã để lại những dấu ấn trong đời sống kinh tế, xã hội và văn hoá của xứ Nghệ

Nghệ An thuộc vùng có con người sinh sống sớm và vùng tạo dựng nền văn hoá văn minh Việt Nam Các nhà khảo cổ học đã phát hiện di chỉ khảo cổ

ở hang Thẩm Ồm, họ đã tìm thấy răng người và xương cốt động vật thời cách tân, cách ngày nay từ 3 triệu đến một vạn năm, đó là di tích đánh dấu quá trình chuyển biến từ vượn thành người khôn ngoan

Trang 17

Cùng với văn hoá Sơn Vi ở Bắc Bộ (hậu kỳ đá cũ), Nghệ An đã tìm thấy các di chỉ khảo cổ cùng thời như đồi Trũng (Thanh Đồng), đồi Rạng (Thanh Hương – Thanh Chương) cách ngày nay từ hai vạn đến một vạn năm Tiếp theo, các di chỉ khảo cổ thuộc văn hoá Hoà Bình cũng tìm thấy ở các hang động đá vôi ở Quế Phong, Con Cuông, Tương Dương, Tân Kỳ, Quỳ Châu

…cách ngày nay trên dưới một vạn năm, khi con người từ săn bắn, hái lượm chuyển sang trồng trọt

Thuộc giai đoạn hậu kỳ đá mới, địa bàn sinh tụ của con người mở rộng ra

cả núi và đồng bằng ven biển Cùng thời với di tích Bàu Tró (Quảng Bình), người ta đã tìm thấy những di tích khảo cổ ở Nghệ An như Diễn Châu, Quỳng Lưu …Cư dân hậu kỳ đá mới đã biết trồng trọt, làm gốm, mài và khoan đá hoàn hảo, chuẩn bị bước vào thời kim khí

Trên mảnh đất xứ Nghệ, người ta đã tìm thấy nhiều di tích khảo cổ thuộc văn hoá tiền Đông Sơn và Đông Sơn, như Trại Ôi (Quỳnh Lưu), Đồi Dền (Tương Dương), Lèn hai vai (Diễn Châu), Rú Trăn (Nam Đàn) Đó là khởi đầu cho văn hoá Đông Sơn phát triển ở Sông Lam như Làng Vạc (Nghĩa Đàn), Đồng Mỏm (Diễn Châu) Vào giai đoạn Đông Sơn, nghề đúc đồng ở đây phát triển cực thịnh Ở Làng Vạc, đã tìm thấy khuôn đúc rìu và dao găm bằng sa thạch, ở Đồng Mỏm tìm thấy môi đúc đồng bằng đất nung còn dính nhiều xỉ đồng Các công cụ kim khí có nhiều loại như lưỡi cày, cuốc, xẻng, rìu, đục, mũi nhọn …; Nhiều loại đồ đựng như âu, thố thạp, chảo sanh, những

đồ dùng đẹp như khoá, thắt lưng, môi, lục lạc có trang trí đẹp, ngoài ra còn tìm được nhiều đồ trang sức khuyên tai, vòng tay, vòng ống chân có chuông

và lục lạc Di vật tượng trưng cho văn hoá Đông Sơn, các lò luyện sắt ở Đồng Mỏm (Diễn Châu) cũng đã được phát hiện Với những cứ liệu trên chứng tỏ Nghệ An cũng đã từng là một trong các trung tâm văn hoá Đông Sơn

Trang 18

Con người sinh sống trên mảnh đất xứ Nghệ thời Đông Sơn chắc hẳn là người Việt Cổ, mà địa bàn cư trú của nó là đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung

Bộ, cùng với láng giềng của họ ở phía Nam là người Sa Huỳnh, miền núi phía Tây là cư dân Môn – Khơme cổ, phía Bắc là người Tày - Thái cổ Nếu ở đồng bằng và ven biển của xứ Nghệ là nơi sinh sống của người Kinh (Việt), thì miền đồi núi trùng điệp phía Tây lại là địa bàn sinh tụ của các tộc người thiểu

số như: Thái, Khơ mú, Thổ, Ơ Đu, Hmông …, trong đó người Thái, Hmông

là những tộc người di cư từ nơi khác đến cách nay mấy chục thế kỷ, còn các tộc người nói ngôn ngữ Việt – Mường, Môn – Khơ me là các tộc bản địa, sinh sống lâu đời với người Việt Điều đó nói lên rằng Nghệ An vốn xưa là vùng không chỉ đa dạng môi trường tự nhiên, mà còn đa dạng chủng tộc, tộc người, tạo nên bức tranh đa dạng văn hoá

Nếu nền văn hoá Việt Nam là một bức tranh nhiều màu sắc thì văn hoá

xứ Nghệ là một mảng màu lớn góp phần làm phong phú, đa dạng hơn cho bức tranh nền văn hoá Việt Nam

Với du lịch thì văn hoá được xem như là tài nguyên du lịch đặc biệt hấp dẫn, văn hoá thu hút du khách bởi tính phong phú, đa dạng, độc đáo và tính truyền thống cũng như tính địa phương của nó Các đối tượng văn hoá – tài nguyên du lịch nhân văn là cơ sở để tạo nên các loại hình du lịch văn hoá phong phú

Đối với Nghệ An cũng vậy, chính văn hoá nơi đây đã tạo một sức hút nhất định đối với du khách khi muốn tìm hiểu về những di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, các yếu tố văn hoá cùng với tính cách con người nơi đây đã tạo ra sự khác biệt về văn hoá của Nghệ An so với các địa phương khác, nó làm cho các du khách tò mò muốn khám phá, du khách không chỉ muốn

Trang 19

thưởng thức các ẩm thực, các di tích, danh thắng mà du khách còn muốn biết

về “chi, mô, răng, rứa” mà không nhiều địa phương có được

1.3 Tài nguyên du lịch

Theo luật du lịch Việt Nam (năm 2005) quy định tại điều 4 chương I thì

“ tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử

văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch ”

Tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản để tạo thành các sản phẩm du lịch và đáp ứng nhu cầu của du khách, là cơ sở quan trọng để phát triển các loại hình

du lịch Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn

1.3.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên

Tài nguyên du lịch tự nhiên là các đối tượng và hiện tượng trong môi trường tự nhiên bao quanh chúng ta Ở một địa phương nào đó, tự nhiên tác động đến người quan sát qua hình dạng của bản thân nó, cái nhìn đó gọi là phong cảnh Ngoài ra, đóng vai trò quan trọng đối với nhiều loại hình du lịch

là khí hậu, địa hình, nguồn nước và tài nguyên thực động vật

Theo luật du lịch Việt Nam (2005), quy định tại chương II, điều 13: “tài

nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch”

Nằm trên bờ tây Thái Bình Đương, phía Bắc giáp Thanh Hóa, phía Nam giáp Hà Tĩnh, bờ biển phía Đông dài 82km, đường biên giới giáp nước bạn Lào, phía Tây dài 419km, Nghệ An có tổng diện tích 16.490 km2, phần lớn

Trang 20

lãnh thổ Nghệ An nằm trong hệ uốn nếp Trường Sơn, 2/3 là núi, đồi và trung

du Địa bàn không bằng phẳng, bị cắt xẻ nhiều bởi các dòng sông Nghệ An là một đất nước Việt Nam thu nhỏ có đủ rừng, biển, đồng bằng và đô thị Thiên nhiên ưu đãi cho Nghệ An có nhiều danh thắng thu hút du khách về tham quan và nghiên cứu Đó là bãi biển Cửa Lò, rừng nguyên sinh Pù Mát, thác Khe Kèm, lên nữa có đỉnh PuLaiLeng cao nhất của hệ Trường Sơn (độ cao 2.711m) và hệ thống di tích danh thắng hang động ở đường 48 với Thẩm Ồm, Hang Bua (Quỳ Châu), Hang Poòng (Quỳ Hợp)

Các loại tài nguyên du lịch tự nhiên ở Nghệ An bao gồm:

- Địa hình:

Địa hình có vai trò quan trọng đối với du lịch Trước hết, bề mặt địa hình

là nơi diễn ra các hoạt động của du khách, đồng thời cũng là nơi xây dựng các công trình thuộc cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch Địa hình là thành phần chủ yếu của tự nhiên tạo nên phong cảnh

Nằm ở Đông Bắc dãy Trường Sơn, Nghệ An có địa hình đa dạng, phức tạp, bị chia cắt mạnh bởi các dãy đồi núi và hệ thống sông, suối Ở đây vừa có núi cao, núi trung bình, đồng bằng ven biển Về đại thể, địa hình Nghệ An chủ yếu mang tính chất đồi núi thấp, với độ cao phần lớn từ 500m đến 1.000m Đồng bằng chỉ chiếm diện tích nhỏ

Đồi núi chiếm trên 3/4 diện tích của tỉnh Khu vực cao hơn cả là các dãy núi Trường Sơn và Pù Hoạt Dãy Trường Sơn chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam với các sống núi bị chia cắt phức tạp, có nhiều đỉnh cao trên 2000m Dãy Pù Hoạt có mức độ chia cắt lớn, với mạng lưới sông suối chằng chịt Ngoài đỉnh Pù Hoạt cao 2.452m còn có nhiều đỉnh khác cao trên 1.500m

Trang 21

Địa hình casxtơ ở Nghệ An có những đặc điểm riêng, không kéo dài liên tục thành dải, mà thường nằm rải rác và được dân địa phương gọi là “lèn” Quá trình casxtơ đã tạo nên một số hang động đẹp như hang đá Mặt Trắng ở Bài Sơn - Đô Lương, hang Bua và hang Thẩm Ồm ở Quỳ Châu

Địa hình đồng bằng tập trung ở phía Đông và Đông Nam của Nghệ An Đồng bằng tương đối rộng do núi lùi xa về phía Tây và hệ thống sông Cả lớn, nhiều phù sa bồi đắp

Địa hình bờ biển Nghệ An thuộc loại bờ biển thấp, bằng phẳng, kéo dài

từ Nam Thanh Hoá vào, có nhiều cửa sông cắt xẻ và một số nhánh núi đâm ra sát biển Với chiều dài bờ biển, Nghệ An có nhiều điều kiện để hình thành một số cảng biển và bãi tắm phục vụ du lịch, nhất là khu vực từ Cửa Lò đến Cửa Hội Một số bãi biển đẹp được biết đến như Cửa Lò, Bãi Lữ đã và đang thu hút rất nhiều du khách

- Khí hậu:

Nghệ An thuộc đới khí hậu gió mùa chí tuyến, á đới có mùa đông lạnh Khí hậu có sự phân hóa theo chiều Bắc - Nam, chiều Đông - Tây và theo độ cao của địa hình Hằng năm, Nghệ An nhận được lượng bức xạ mặt trời phong phú với tổng bức xạ là 131,8 kcal/cm2/năm Tổng nhiệt độ trong năm hơn 8.5000C Số giờ nắng trung bình năm đạt 1.500-1.700 giờ Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 23,90C, cao nhất là 430C và thấp nhất là 200C, lượng mưa trung bình năm là 1.800 – 2.000 mm Về chế độ nhiệt có sự phân hóa theo hai mùa rõ rệt là mùa nóng và mùa lạnh Tháng lạnh nhất là tháng 1 do chịu ảnh hưởng của đới khí hậu á đới và gió mùa Đông Bắc Đặc biệt, kiểu khí hậu này tạo ra tính mùa vụ trong du lịch ở Nghệ An nói riêng và ở các tỉnh miền Bắc nói chung Tháng nóng nhất là tháng 7 do chịu ảnh hưởng của gió Tây mang hiệu ứng phơn làm nhiệt độ tăng đột ngột, gây nên tình trạng

Trang 22

khô nóng nghiêm trọng, tuy nhiên các tháng này lại thuận lợi cho du lịch biển, làm giảm bớt cái nóng tại các bãi biển như: Quỳnh Phương (Quỳnh Lưu), Diễn Thành, Cửa Hiền (Diễn Châu), Bãi Lữ (Nghi Lộc ), Cửa Lò, Cửa Hội Nghệ An cũng là một trong những địa phương có nhiều bão nhất trong năm, 3-4 cơn/ năm, đồng thời cũng là vùng chịu ảnh hưởng của hầu hết các cơn bão vào Việt Nam Các cơn bão thường có cường độ lớn, gây thiệt hại nghiêm trọng cho đời sống và sản xuất, trong đó cũng ảnh hưởng nghiêm trọng tới các hoạt động du lịch

- Nguồn nước:

Tài nguyên nước phục vụ hoạt động du lịch ở vùng tương đối phong phú Mạng lưới sông ngòi trên địa bàn tỉnh Nghệ An phần lớn chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, phù hợp với độ nghiêng của địa hình Phần lớn sông ngòi của tỉnh nằm trong hệ thống sông Cả Sông ngòi có giá trị lớn đối với việc phát triển kinh tế – xã hội Đó là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho nông nghiệp, là tuyến giao thông tiện lợi và ở mức độ nhất định là nguồn thuỷ điện phục vụ nội tỉnh

Bên cạnh nguồn nước trên mặt, nguồn nước ngầm ở Nghệ An tương đối phong phú, ước tính khoảng 42 tỉ m3

Hải phận rộng 4.230 hải lý vuông, từ độ sâu 40m trở vào, nhìn chung đáy biển tương đối bằng phẳng, từ độ sâu 40m trở ra có nhiều đá ngầm, cồn cát Vùng biển Nghệ An là nơi tập trung nhiều loài hải sản có giá trị kinh tế cao Biển Nghệ An có tới 267 loài cá, trong đó có nhiều loại có giá trị kinh tế cao

và trữ lượng cá lớn như cá thu, cá nục, cá cơm ; tôm biển có nhiều loại như tôm he, tôm sú, tôm hùm…

Bờ biển Nghệ An có chiều dài 82 km, có 6 cửa lạch thuận lợi cho việc

Trang 23

không chỉ nổi tiếng về các loại hải sản quý hiếm mà còn được biết đến bởi những bãi tắm đẹp và hấp dẫn như bãi biển Cửa Lò, bãi Nghi Thiết, bãi biển Diễn Thành, bãi biển Cửa Hiền… trong đó nổi bật nhất là bãi tắm Cửa Lò có nước sạch và sóng vừa phải, độ sâu vừa và thoải, là một trong những bãi tắm hấp dẫn của cả nước

Ngoài ra, Nghệ An cũng có nhiều nguồn nước khoáng nhưng chưa được khảo sát, trong đó suối nước nóng - nước khoáng Bản Khang (Quỳ Hợp) có chất lượng tốt, thuộc nhóm CO2 với lưu lượng 0,5l/s Các nguồn khác ở Bản Hạt, Bản Bò, Bản Lạng (Quỳ Hợp), Cồn Soi (Nghĩa Đàn), Vinh Giang, Giang Sơn (Đô Lương) có thể khai thác để phục vụ du lịch

1.3.2 Tài nguyên du lịch nhân văn

Tài nguyên du lịch nhân văn do con người tạo ra, hay nói cách khác nó là đối tượng và hiện tượng được tạo ra một cách nhân tạo Đây cũng là nguyên nhân khiến cho loại tài nguyên này có những đặc điểm khác biệt so với nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên

Theo luật du lịch Việt Nam (2005) quy định tại điều 13, chương II: “tài

nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hoá, các yếu tố văn hoá, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch”

Nghệ An là một trong những địa chỉ văn hoá đặc biệt của cả nước với hệ thống di tích - danh thắng đa dạng, phong phú, nhiều chủng loại, có niên đại trải dài từ thời khởi thuỷ con người có mặt trên trái đất đến ngày nay

Từ thuở đất nước có tên gọi Văn Lang, Nghệ An đã là một trung tâm của nền văn hoá Đông Sơn nổi tiếng và là một bộ phận tạo thành của nước Văn

Trang 24

Lang Từ đó, nhân dân xứ Nghệ luôn vươn lên trong lao động và đấu tranh, góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ quê hương

Trong con mắt của các nhà chiến lược, Nghệ An là “phên dậu” của nước nhà với địa bàn trọng yếu về quốc phòng, từng là căn cứ địa vững vàng của nhiều cuộc kháng chiến giữ nước và đấu tranh giải phóng dân tộc

Nghệ An là quê hương của nhiều anh hùng hào kiệt mà tên tuổi và sự nghiệp còn vang mãi với non sông đất nước Đó là Mai Thúc Loan, Nguyễn

Xí, Nguyễn Xuân Ôn, Phan Bội Châu, Lê Hồng Phong, Hồ Tùng Mậu Nơi đây cũng là quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ thiên tài của cách mạng Việt Nam, danh nhân văn hoá thế giới Nghệ An là quê hương của cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh anh hùng đã viết nên trang sử vàng rạng rỡ mở đầu cho lịch sử cách mạng Việt Nam Trong cuộc kháng chiến dựng nước và giữ nước (nhất là hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ), nhân dân xứ Nghệ đã có nhiều đóng góp lớn lao cho đất nước và cho sự nghiệp cách mạng của Đảng

Hệ thống di tích - danh thắng Nghệ An được sinh ra và nuôi dưỡng bằng tín ngưỡng, đạo lý và phong tục truyền thống của dân tộc nên có sức sống, sức lan tỏa lâu bền, mãnh liệt Từ những di tích khảo cổ, di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật, cách mạng, danh nhân hay di tích - danh thắng đều phải chống đỡ với sự tàn phá của thời gian, của thiên nhiên khắc nghiệt và của con người (cả kẻ thù và cả những người dân thiếu ý thức trách nhiệm) Mặc dù có những biến cố thăng trầm, song nhìn chung, từ các triều đại phong kiến Việt Nam đến chế độ ta hiện nay, nhân dân vẫn nhận thức được rằng: di tích - danh thắng là một trong những chứng cứ thể hiện cội nguồn, truyền thống và bản sắc văn hoá xứ Nghệ Vì thế, nhiều di tích được xây dựng sớm, bảo vệ và tôn

Trang 25

tạo chu đáo Tiêu biểu: đền Cuông, đền Còn, đền thờ và miếu mộ Mai Hắc

Đế, đền Quả Sơn, đền Bạch Mã, khu di tích Kim Liên

Đặc biệt, từ khi có Pháp lệnh Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử - văn hoá

và danh lam thắng cảnh của Hội đồng Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành (năm 1984) đến nay, ngành Văn hóa - Thông tin đã có nhiều biện pháp để bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị của các di tích, góp phần vào giáo dục truyền thống, chấn hưng văn hoá dân tộc Đó là những cơ

sở pháp lý quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho việc tôn tạo và phát huy tác dụng di tích lịch sử - văn hoá và danh lam thắng cảnh trên địa bàn của tỉnh

Với một hệ thống di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh phong phú về số lượng, độc đáo về nội dung, đa dạng về loại hình, Nghệ An đang là miền đất hứa, là địa chỉ du lịch hấp dẫn đối với du khách

- Các loại tài nguyên du lịch nhân văn:

+ Di tích lịch sử - văn hoá:

Là những sản phẩm của lịch sử để lại, bao gồm những nơi ghi dấu về sự hình thành dân tộc, ghi dấu những sự kiện chính trị quan trọng, chiến công chống giặc ngoại xâm, những chứng tích tội ác của kẻ thù, nơi lưu niệm danh nhân

Hiện nay, Nghệ An còn 474 di tích lịch sử, trong đó 89 di tích đã được xếp hạng quốc gia và được chia làm 3 loại: di tích lịch sử văn hoá, di tích cách mạng và di tích lưu niệm danh nhân

Di tích lịch sử văn hoá tiêu biểu có đền Cuông, đền thờ Mai Thúc Loan, đền Bạch Mã, đền thờ Nguyễn Xí, núi Lam Thành, núi Dũng Quyết - Phượng Hoàng Trung Đô, thành cổ Vinh Di tích lịch sử Nghệ An phản ánh lịch sử

Trang 26

đấu tranh dựng nước và giữ nước của người dân xứ Nghệ trong từng giai đoạn lịch sử của dân tộc; đồng thời, qua hệ thống di tích này, chúng ta có thể hiểu

và khẳng định vai trò, vị trí của Nghệ An trong lịch sử dân tộc Việt Nam

Di tích cách mạng là di tích ghi dấu những cơ sở cách mạng, những phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân Nghệ An dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam Tiêu biểu cho loại hình di tích này ở Nghệ An là hệ thống di tích Xô Viết Nghệ Tích như: mộ các chiến sỹ hy sinh trong ngày 12/9 ở Thái Lão - Hưng Nguyên, đình Võ Liệt, đình Quỳnh Đôi, làng Đỏ - Hưng Dũng, di tích Tràng Kè ở Yên Thành, di tích nhà cụ Vi Văn Khang ở Môn Sơn, Con Cuông; Ngã ba Bến Thuỷ Những di tích thời kỳ chống Mỹ cứu nước tiêu biểu có Truông Bồn, cột mốc số 0 - đường mòn Hồ Chí Minh

Di tích lưu niệm danh nhân: thiên nhiên và con người xứ Nghệ luôn gắn bó với nhau Thiên nhiên cùng lịch sử đã hun đúc nên con người xứ Nghệ Những con người xứ Nghệ đã góp công sức, trí tuệ của mình tạo cho văn hoá

xứ Nghệ có bản sắc dân tộc độc đáo Đó là những con người mang trong mình những đức tính: khi xông pha lửa đạn thì anh dũng hy sinh, khi chịu đựng gian khổ thì gan góc lầm lì; khi theo việc lớn, việc nghĩa thì thuỷ chung son sắt Chính họ đã hy sinh trọn cuộc đời mình cho độc lập của Tổ quốc tự do của nhân dân và đã để lại cho quê hương một hệ thống các di tích lưu niệm danh nhân Trong số 26 di tích lưu niệm danh nhân, tiêu biểu: Khu di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Kim Liên, nhà cụ Phan Bội Châu ở Nam Đàn, nhà đồng chí Lê Hồng Phong ở Hưng Nguyên, nhà đồng chí Phan Đăng Lưu

ở Yên Thành, nhà thờ cụ Hồ Án Nam và nhà Hồ Tùng Mậu ở Quỳnh Lưu

Hầu hết các di tích lưu niệm danh nhân của Nghệ An đều được bảo tồn

và phát huy tốt tác dụng giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ Đặc biệt, Khu

Trang 27

di tích Kim Liên hàng năm phục vụ hàng chục triệu lượt khách thập phương hành hương về quê Bác

Đến với Nghệ An du khách không chỉ tham quan các danh lam thắng cảnh mà du khách còn có thể tham quan các di tích lịch sử văn hoá Với những tiềm năng còn to lớn về phát triển du lịch, Nghệ An được Chính phủ xác định là một trong những trọng điểm du lịch của cả nước trong chiến lược phát triển du lịch của quốc gia

+ Các di tích khảo cổ:

Là những di chỉ khảo cổ lưu giữ những dấu tích về quá trình hình thành, phát triển của người Việt cồ trên đất Nghệ An Di tích khảo cổ học bao gồm: hang động, gò đồi, bãi đất các hiện vật phần lớn được lưu giữ trong lòng đất, cũng có trường hợp tồn tại trên mặt đất (ví dụ các bức chạm trên vách đá ) Di chỉ khảo cổ học được phân chia thành di chỉ cư trú và di chỉ mộ táng

Di chỉ khảo cổ học ở Nghệ An được phân bố rộng từ miền núi, trung du, đồng bằng và ven biển, song tập trung đậm nhất là dọc triền sông Lam Qua

hệ thống di tích được phát hiện cho thấy, di chỉ khảo cổ học ở Nghệ An có niên đại thời kỳ đồ đá (đã cũ, đá giữa, đá mới), thời kỳ đồ đồng và sơ kỳ đồ sắt với các di chỉ tiêu biểu nổi tiếng trong nước và trên thế giới

Khi nghiên cứu những chiếc răng và xương động vật, răng của người vượn cổ hoá thạch, công cụ đá bằng thạch anh được ghè đẽo khá thô sơ thuộc thời kỳ Cách Tân được tìm thấy Ở hang Thẩm Ồm bên suối bản Thắm, xã Châu Thuận huyện Quỳ Châu, các nhà khảo cổ học khẳng định, Nghệ An là một trong những nơi sinh ra của người vượn cổ cách ngày nay khoảng 20 vạn năm

Trang 28

Các di chỉ khảo cổ học thuộc nền văn hoá Sơn Vi như Đồi Dùng, Đồi Rạng (Thanh Chương) Trong nhiều hang động ở các huyện Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Tân Kỳ, Con Cuồng, Tương Đương đã phát hiện được các di chỉ khảo cổ học thuộc văn hoá Hòa Bình Cồn Sò Điệp (Quỳnh Văn, Quỳnh Lưu) là di chỉ khảo cổ học tiêu biểu của thời kỳ đá mới có niên đại cách ngày nay 2000 đến 2500 năm Phong phú và có mặt tương đối rộng rãi là các di tích khảo cổ học thuộc thời kỳ đồ đồng, có niên đại cách ngày nay trên dưới

2000 năm (Đồi Đền ở Tương Dương, rú Trăn ở Nam Đàn, Bảo Thành - Yên Thành, Đồng Mỏm – Diễn Châu ) Di chỉ khảo cổ học làng Vạc (xã Nghĩa Hoa, Nghĩa Đàn) đã đạt đến đỉnh cao, ở vào thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của nền văn hoá Đông Sơn Với hàng nghìn hiện vật được phát hiện, trong đó có nhiều hiện vật quý như rìu, dao găm cán tượng người phụ nữ, dao găm cán tượng người đàn ông bằng đồng, dao găm cán hình rắn quấn chân voi, bao chân bao tay có lục lạc, các loại trang sức bằng đá, thuỷ tinh được chế tác tinh xảo, các loại khuôn đúc đặc biệt có một loại hiện vật mới phát hiện được duy nhất ở làng Vạc mà các di chỉ văn hoá Đông Sơn khác chưa có được - đó

là lẫy nỏ

Những di tích khảo cổ học Nghệ An vừa khẳng định vị trí của Nghệ An trong quá trình sinh trưởng và phát triển người Việt cổ, đồng thời khẳng định vùng đất này có một nền văn hoá truyền thống lâu đời, góp phần xứng đáng vào tiến trình lịch sử trọng đại của dân tộc, tạo nên dòng chảy văn hoá Việt Nam

+ Lễ hội:

Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hoá cộng đồng, là một thành tố, một nhu cầu tất yếu không thể thiếu vắng trong đời sống xã hội Lễ hội còn là

Trang 29

quảng bá hình ảnh đất nước con người, lịch sử văn hoá của mỗi địa phương, mỗi vùng miền

Nghệ An còn lưu giữ được nhiều lễ hội văn hoá truyền thống - đó là những yếu tố thuận lợi giúp cho du lịch Nghệ An phát triển Theo Sở văn hoá

- thể thao và du lịch Nghệ An, hàng năm trên địa bàn toàn tỉnh có đến 24 lễ hội gồm: lễ hội cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện Các lễ hội diễn ra tại hầu khắp các địa bàn trong tỉnh từ miền núi tới đồng bằng, từ thành thị đến nông thôn Thời gian diễn ra lễ hội từ tháng giêng đến tháng 10 âm lịch Lễ hội ở Nghệ An có hội làng hoặc liên làng, lễ hội của dòng họ hoặc tôn giáo…Trong đó, lễ hội dân gian chiếm tỉ lệ khá lớn và tiêu biểu hơn cả, thường đóng vai trò trung tâm

Nghệ An là xứ sở của những lễ hội cổ truyền diễn ra trên sông nước như

lễ hội Cầu Ngư, Rước hến, Đua thuyền… Lễ hội làm sống lại những kỳ tích lịch sử được nâng lên thành huyền thoại, giàu chất sử thi, đậm đà tính nhân văn như lễ hội đền Cuông, lễ hội làng Vạn Lộc, làng Sen, làng Vạc, lễ hội Đền Cờn … Miền núi có các lễ hội như Hang Bua, lễ hội Xàng Khan, lễ Mừng nhà mới, lễ Uống rượu cần

Một số lễ hội tiêu biểu ở Nghệ An như:

Lễ hội làng Sen (15 – 20/5 dương lịch) tại khu di tích Kim Liên – Nam Đàn

Lễ hội vua Mai Hắc Đế (13 – 16/1 âm lịch) tại Nam Đàn - Nghệ An

Lễ Hội đền Cờn (19 – 21/1 âm lịch) tại xã Quỳnh Phương, Quỳnh Lưu

Lễ hội đền Quả Sơn (19 – 21/1 âm lịch) tại xã Bồi Sơn, Đô Lương

Lễ hội đền Cuông (14 – 16/2 âm lịch) tại xã Diễn An, Diễn Châu

Lễ hội sông nước Cửa Lò (29/4 – 1/5 dương lịch) tại thị xã Cửa Lò

Trang 30

Lễ hội đền Ông Hoàng Mười (8 – 10/10 âm lịch) tại xã Hưng Thịnh, huyện Hưng Nguyên …

Nhìn chung, các lễ hội ở Nghệ An mang nhiều sắc thái địa phương đặc sắc và độc đáo, là một sản phẩm du lịch đặc trưng Nó đã góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, truyền thống cách mạng và làm phong phú đời sống tinh thần cho nhân dân địa phương, đồng thời đóng góp tích cực vào việc bảo tồn, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc Lễ hội đã thu hút nhiều du khách khắp trong và ngoài tỉnh, trong tương lai gần sẽ kết hợp đẩy mạnh phát triển các loại hình du lịch như du lịch tâm linh, du lịch tham quan nghiên cứu…

+ Làng nghề thủ công truyền thống:

Nếu so sánh với các tỉnh khác trong cả nước thì ai cũng nghĩ rằng Nghệ

An có ít hoặc không có làng nghề truyền thống nổi tiếng nào Nhưng ít ai biết Nghệ An có tới hơn 100 làng nghề thủ công truyền thống đã qua nhiều đời, lưu giữ những giá trị riêng của con người và mảnh đất xứ Nghệ

Một số làng nghề của Nghệ An có từ lâu đời như Làng Vĩnh Đức xưa (nay là xóm 10 - thị trấn Đô Lương) với nghề bánh đa bánh mướt, kẹo cũi, đường phên và bánh khảo Hưng Châu, Hưng Nguyên, Nghệ An là một xã nằm ven sông Lam nổi tiếng với nhiều làng nghề truyền thống Người dân Hưng Châu mỗi lần đi xa lại nhớ mãi hương vị kẹo lạc bánh đa Đông Nhật và

da diết vị nồng rượu Phú Mỹ thân quen Ngoài ra còn có làng nghề mây tre đan xuất khẩu ở xã Thọ Thành (Yên Thành), nghề dệt vải ở Phượng Lịch và Diễn Kim, nghề đan lát ở Diễn Hoa ( Diễn Châu)…các làng nghề này đang được khôi phục và phát triển để phục vụ du lịch

Hiện nay nhà nước đã có chủ trương bảo tồn, phát triển làng nghề truyền thống gắn với hoạt động du lịch, nhiều địa phương trong cả nước như Huế,

Hà Nội cũng đã thực hiện khá thành công mô hình này Với tỉnh Nghệ An,

Trang 31

nhiều sản phẩm làng nghề đã có lịch sử lâu đời chứa đựng những giá trị văn hóa và lịch sử riêng từng vùng miền, như hương trầm Quỳ Châu, nghề rèn và làm nón Thanh Chương, dệt thổ cẩm Con Cuông, Quế Phong, Quỳ Châu, mây tre đan Nghi Lộc… Hơn 100 làng nghề truyền thống - Đó là những tiềm năng không nhỏ của Nghệ An cần được bảo tồn và thích ứng để phục vụ phát triển

du lịch

+ Các tài nguyên du lịch nhân văn khác :

Bên cạnh các di tích văn hoá – lịch sử, lễ hội du lịch còn có nhiều tài nguyên du lịch nhân văn khác như các hoạt động văn hoá, văn nghệ dân gian,

ẩm thực, các điểm thăm quan, bảo tàng, … hát phường vải, dân ca xứ Nghệ vẫn được lưu truyền và bảo tồn trong dân gian Bên cạnh đó còn có các đặc sản nổi tiếng như: nhút Thanh Chương, tương Nam Đàn, cháo lươn Vinh, cam

di tích Kim Liên, quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh – “Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới”

Trang 32

Ngày 22/7/2002, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 97/2002/QĐ-TTg về phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam, giai đoạn 2001 – 2010 Với chiến lược này, hiện nay Nghệ An là một trong 14 trọng điểm quốc gia phát triển du lịch trong cả nước Dựa trên những lợi thế

mà Tỉnh có được, đồng thời trên cơ sở đánh giá các nguồn tài nguyên du lịch của tỉnh và Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Nghệ An đến năm 2020 để tập trung phát triển các loại hình du lịch như du lịch lễ hội - tâm linh, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch về văn hoá lịch sử, đặc biệt nổi bật nhất là loại hình du lịch biển, du lịch sinh thái Nghệ An đang tiếp tục khai thác và phát triển các loại hình du lịch mới như du lịch làng nghề, thương mại – công vụ, du lịch văn hoá – sự kiện, hội nghị hội thảo, du lịch sinh thái và nông nghiệp, du lịch bằng thuyền, du ngoạn, câu mực đêm ở biển Cửa Lò … Tuy nhiên, các loại hình du lịch này chưa được khai thác và phổ biến nhiều tại Nghệ An

Tiểu kết chương:

Vị trí địa lý của Nghệ An khá thuận lợi, với hệ thống giao thông đường

bộ, đường sắt, đường hàng không, đường thuỷ tương đối phát triển Nguồn tài nguyên thiên nhiên của Nghệ An cũng khá dồi dào với rừng, núi, biển và hải đảo, với tiềm năng dầu khí ở thềm lục địa… Những điều kiện trên cho phép Nghệ An phát triển một nền kinh tế tổng hợp đa ngành, trong đó du lịch được coi là một trong những ngành có vai trò đặc biệt quan trọng

Phó Thủ tướng Vũ Khoan đã nói: “…Trên đất nước ta, không ít vùng

miền được coi là địa linh nhân kiệt, song xứ Nghệ là một trong những địa linh hàng đầu Bên cạnh những di tích vô giá về Bác Hồ, ở Nghệ An còn không ít những di tích lịch sử khác vì nơi đây thời nào cũng có danh nhân, vùng nào cũng có anh hùng Với thế mạnh nổi trội ấy, Nghệ An phải trở thành điểm đến

Trang 33

về du lịch lịch sử vào loại đệ nhất giang sơn…”(Phó thủ tướng Vũ Khoan –

Bài phát biểu năm du lịch Nghệ An năm 2005)

Với tiềm năng về du lịch, Nghệ An đã, đang và sẽ trở thành một trong những điểm du lịch hấp dẫn của du khách

Trang 34

Chương 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH NGHỆ

AN GIAI ĐOẠN 2005 - 2010

2.1 Tác động của các nhân tố bên ngoài – cơ hội và thách thức đối với du lịch Nghệ An

2.1.1 Tác động của một số nhân tố bên ngoài

* Tình hình phát triển du lịch trên thế giới và khu vực:

Trước những diễn biến phức tạp của kinh tế chính trị thế giới và khu vực thì ngành du lịch đã chịu những tác động nhất định: UNWTO cho rằng những nhân tố như kinh tế suy thoái, thất nghiệp tăng lên, tiền lương giảm sút, vật giá leo thang, tỉ giá thay đổi, thiên tai, dịch bệnh, hoạt động khủng bố đã làm cho bài toán du lịch các nước trở nên nan giải

Theo “Thời báo kinh tế” (Anh), thu nhập bình quân đầu người thế giới

2009 giảm 3,7%, trong khi đó tỉ lệ thất nghiệp ở các thị trường du lịch lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản đều leo cao Tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ lên tới 10%, tỉ lệ thất nghiệp của 16 nước EU năm 2009 cũng tới 9% Tổng Thư ký UNWTO Tabeb Farid cho biết trong năm 2009, dịch cúm A H1N1 đã lan tràn tới 75 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, khiến khách du lịch không dám đến nhiều nước Dịch bệnh này làm ngành du lịch giảm 25% - 30%, tổn thất tới 2.200 tỉ USD

Đối với các quốc gia Đông Nam Á: do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu cũng như những bất ổn trong tình hình chính trị ở một số nước trong

khu vực mà du lịch cũng chịu ảnh hưởng nặng nề Theo Hiệp hội Lữ hành

Châu Á - Thái Bình Dương (PATA), lượng du khách đến các nước trong khu vực Đông Nam Á sẽ giảm mạnh hơn nữa vào cuối năm 2010 Mới đây, PATA

đã điều chỉnh dự báo tăng trưởng của ngành du lịch Đông Nam Á, theo đó

Trang 35

4,2%, thay vì tăng 6,8% như từng được dự báo Ngoài ra, ở các nước trong khu vực thì lượt khách du lịch cũng như doanh thu du lịch đều giảm

* Tình hình kinh tế - chính trị Việt Nam:

Tình hình kinh tế thế giới những tháng đầu năm 2011 có những diễn biến hết sức phức tạp và chịu tác động sâu sắc của các biến động chính trị ở Bắc Phi, Trung Ðông và thảm họa động đất, sóng thần ở Nhật Bản Trong bối cảnh chung đó, kinh tế Việt Nam không tránh khỏi chịu ảnh hưởng tiêu cực

và gặp phải một số khó khăn Trong đó, nổi lên là vấn đề lạm phát tăng cao

trở thành thách thức đối với công tác điều hành vĩ mô cả năm 2011 Những

biến động của tình hình chính trị và kinh tế thế giới kết hợp với những khó khăn nội tại của kinh tế Việt Nam đã tác động trực tiếp tới công tác bảo đảm

an ninh trật tự, các thế lực thù địch lợi dụng hiệu ứng từ các biến cố chính trị tại Bắc Phi, Trung Ðông, những khó khăn về kinh tế - xã hội ở trong nước để đẩy mạnh thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”; Về kinh tế: lạm phát tăng cao, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) liên tục thay đổi ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống của nhân dân trong đó có nhu cầu nghỉ ngơi du lịch Trên thị trường tài chính, lãi suất thị trường duy trì ở mức cao so với khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế đã khiến cho dòng tiền thu hẹp và gia tăng rủi ro thanh khoản của

hệ thống ngân hàng thương mại, đồng thời gây ra khó khăn cho các doanh nghiệp (nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ) dẫn đến thất nghiệp, một số doanh nghiệp đứng trước nguy cơ phá sản Trước tình hình chung đó, các doanh nghiệp du lịch cũng gặp nhiều khó khăn trong việc mở rộng thị trường khách, đầu tư phát triển một số tour du lịch mới …

* Tình hình phát triển du lịch Việt Nam:

Năm 2011, tình hình kinh tế - xã hội nước ta diễn ra trong bối cảnh kinh

tế thế giới vẫn chưa thoát khỏi khủng hoảng và suy thoái Du lịch Việt Nam

Trang 36

cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn: tình hình lạm phát trong nước còn cao, thời tiết diễn biến phức tạp, lũ lụt xảy ra liên tiếp tại miền Trung Những yếu

tố bất lợi trên đã tác động mạnh đến hoạt động kinh doanh du lịch của Việt Nam

Tuy nhiên, trong năm 2011 ngành Du lịch đã thu hút 6 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 30 triệu lượt khách nội địa, thu nhập từ du lịch đạt 130 ngàn

tỉ đồng với tỉ lệ tăng trưởng tương ứng so với năm 2010 là 19%, 7,14% và 30% Hoạt động du lịch đã trở thành một trong những điểm sáng về kinh tế trong bối cảnh đất nước có nhiều khó khăn thách thức

Tổng cục Du lịch tiếp tục duy trì triển khai các nhiệm vụ thường xuyên liên quan quản lý lữ hành, khách sạn Đến năm 2011, cả nước có 960 doanh nghiệp lữ hành quốc tế, trong đó chỉ có 15 doanh nghiệp nhà nước, 323 công

ty cổ phần, 16 công ty liên doanh, 603 công ty TNHH và 04 công ty tư nhân

Về công tác quản lý cơ sở lưu trú du lịch: Tính đến tháng 12/2011, cả nước có khoảng 12.000 cơ sở lưu trú du lịch với 265 000 buồng (trong đó 48 khách sạn 5 sao với 12.121 buồng; 126 khách sạn 4 sao với 15.517 buồng; 273 khách sạn 3 sao với 18.990 buồng) Đầu tư xây dựng các khách sạn, resort có qui mô lớn, chất lượng cao đã trở thành xu hướng chủ đạo trong thu hút đầu

tư phát triển cơ sở dịch vụ của ngành du lịch

Bên cạnh đó, du lịch Việt Nam còn gặp phải những khó khăn: tình trạng chèo kéo, lừa đảo, ép khách du lịch tại một số điểm du lịch ở Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Nha Trang… Sự phối hợp, liên kết giữa các doanh nghiệp

du lịch với doanh nghiệp của các ngành khác còn bất cập nên sản phẩm du lịch còn nghèo nàn, giá cả cao, chất lượng dịch vụ du lịch còn thấp, không đồng đều ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của du lịch Việt Nam so với

Trang 37

một số nước trong khu vực, làm giảm khả năng cạnh tranh của du lịch Việt Nam

Như vậy, tình hình kinh tế chính trị thế giới có nhiều biến động làm ảnh hưởng đến sự phát triển của du lịch thế giới nói chung và ảnh hưởng đến phát triển du lịch Việt Nam nói riêng Du lịch Nghệ An là một khối thống nhất và không thể tách rời của du lịch Việt Nam, chính vì vậy mà du lịch Nghệ An cũng gặp không ít khó khăn Du lịch Nghệ An cần phải tận dụng những điểm mạnh cũng như cơ hội có được để khắc phục khó khăn trước mắt tạo tiền đề phát triển kinh tế xã hội của tỉnh nói chung cũng như ngành du lịch nói riêng

2.1.2 Cơ hội và thách thức đối với du lịch Nghệ An

Một số dự án đầu tư như: khu du lịch Cửa Hiền (Diễn Châu), biển Quỳnh Phương (Quỳnh Lưu), phát triển đảo Lan Châu (Cửa Lò), bãi biển Nghi Thiết (Nghi Lộc) hay khu du lịch nghỉ dưỡng, sinh thái Phà Lài (Con Cuông), khu

du lịch sinh thái hồ Tràng Đen (Nam Đàn)….Các dự án đầu tư này sẽ là điểm nhấn tạo ra sản phẩm du lịch mới, hấp dẫn độc đáo của du lịch Nghệ An Bên cạnh đó còn có các dự án xây dựng trung tâm thương mại, dịch vụ mua sắm, thể dục thể thao, công viên vui chơi giải trí, các trò chơi dưới nước…nhằm

Trang 38

tạo nên một trung tâm du lịch hoàn chỉnh đáp ứng mọi nhu cầu của khách du lịch Như vậy, sản phẩm du lịch Nghệ An sẽ đa dạng, phong phú hơn, có cơ hội cạnh tranh với các sản phẩm du lịch của các địa phương khác, đồng thời góp phần kéo dài thời gian lưu trú của khách Để Nghệ An không chỉ là điểm dừng chân của du khách trên hành trình du lịch mà còn là một điểm đến hấp dẫn đối với du khách

+ Nằm trong vùng du lịch Bắc Trung Bộ, Nghệ An đang tổ chức các hoạt động du lịch hưởng ứng chương trình du lịch “năm du lịch quốc gia Bắc Trung Bộ 2012” Đây là cơ hội cho các địa phương trong vùng Bắc Trung Bộ nói chung, Nghệ An nói riêng phát huy thế mạnh về di tích – danh thắng để phát triển du lịch Du lịch Nghệ An sẽ có cơ hội liên kết hợp tác giữa các địa phương trong vùng để tạo ra nguồn lực tổng hợp, phát huy lợi thế và kinh nghiệm để hình thành các sản phẩm du lịch liên vùng có sức cạnh tranh cao Đồng thời liên kết triển khai xúc tiến thương mại và quảng bá, từng bước xây dựng thương hiệu cho du lịch Nghệ An

+ Năm 2009 UNESCO đã tiến hành thực hiện dự án Phát huy tập quán địa phương trong quản lý tài nguyên thiên nhiên tại 9 khu Dự trữ sinh quyển

và Di sản thiên nhiên Thế giới ở Việt Nam, trong đó có khu dự trữ sinh quyển

miền Tây Nghệ An Tại Hội thảo "Phát huy tập quán địa phương tại các khu

Dự trữ sinh quyển và Di sản thiên nhiên thế giới Việt Nam" do Văn phòng

UNESCO tại Việt Nam tổ chức, nhóm nghiên cứu của UNESCO cho biết Khu dự trữ sinh quyển Tây Nghệ An có gần 2/3 tổng dân số sinh sống với những nét văn hóa đặc sắc của cộng đồng người Thái đóng vai trò vô cùng quan trọng trong bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa đặc trưng Việc đưa bản sắc văn hóa vào phát triển du lịch sẽ góp phần vào việc cải thiện mức sống mức sống của người dân thông qua các hoạt động dịch vụ và bảo tồn

Trang 39

Đặc biệt, việc phát triển du lịch lồng ghép các nội dung du lịch văn hóa, có sự tham gia tích cực của cộng đồng tộc người bản địa là một trong những thế mạnh thúc đẩy phát triển kinh tế toàn vùng Hoạt động du lịch với các mục tiêu nâng cao nhận thức bảo tồn thiên nhiên và tôn vinh các giá trị văn hóa truyền thống đem lại những lợi ích an sinh thực sự cho địa phương sinh sống trong khu vực dự trữ sinh quyển

Mặt khác, phát triển du lịch cộng đồng dựa trên những lợi thế sẵn có ngoài việc biến loại hình này thành điểm nhấn cho du lịch tại miền Tây Nghệ

An, đó cũng là cơ hội lớn để giao lưu, quảng bá những giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc Thái ở Nghệ An Đồng thời đây cũng là những giải pháp nhằm xóa đói giảm nghèo bằng việc thực hiện các hoạt động du lịch, dịch vụ trên những giá trị di sản, bản sắc văn hóa nơi cộng đồng mình sinh sống

Miền Tây Nghệ An có sự đa dạng về những nét văn hóa đặc trưng của đồng bào Thái còn được lưu giữ, như kiến trúc nhà sàn, các làng văn hóa Thái

cổ, sinh hoạt cộng đồng như múa lam vông, hát dân ca, dệt thổ cẩm…tạo điều kiện lập đề án quy hoạt tổng thể về phát triển du lịch, thiết lập tour du lịch dựa vào cộng đồng, như lựa chọn vào khu điển hình, nổi bật về bản sắc văn hóa của đồng bào Thái để thiết lập tour du lịch làm điểm nhấn Cụ thể là Bản

Vi - Bắc Sơn - Quỳ Hợp; Bản Nưa - Yên Khê; Bản Yên Thành - Lục Dạ - Con Cuông…

Cùng với việc phát triển du lịch sinh thái Tây Nghệ An không những giúp người dân nơi đây phát triển kinh tế, cải thiện đời sống, mà Nghệ An còn khai thác được tiềm năng du lịch của tỉnh, phát triển thêm loại hình du lịch mới – du lịch cộng đồng

* Thách thức:

+ Trước tình hình kinh tế thế giới đang lâm vào tình trạng suy thoái, lạm phát tăng cao ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều ngành nghề, trong đó có ngành

Trang 40

du lịch Hiện nay, việc đi du lịch, nghỉ dưỡng của nhiều khách du lịch đến Việt Nam đều có phần suy giảm Theo nhận định và đánh giá chung của giới chuyên môn, các công ty du lịch, lữ hành quốc tế và trong nước, tình hình những tháng cuối năm 2010, chiều hướng xấu tiếp tục ảnh hưởng không nhỏ đến ngành du lịch Và tất nhiên là du lịch Nghệ An cũng nằm trong xu thế phát triển chung đó, điều đó đã tạo ra thách thức và ảnh hưởng không nhỏ đến

sự phát triển của du lịch Nghệ An

+ Sức ép cạnh tranh ngày càng gay gắt, đặc biệt là với ngành du lịch Nghệ An đang hội nhập và phát triển, còn nhiều hạn chế Sự cạnh tranh giữa các điểm đến trong vùng, cạnh tranh giữa các địa phương trong đó có cả sự cạnh tranh về dòng vốn đầu tư và thu hút khách, cả về chất lượng và hiệu quả kinh doanh, xây dựng hình ảnh và thương hiệu du lịch của tỉnh Những yếu tố cạnh tranh đòi hỏi Nghệ An phải đầu tư nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm du lịch

+ Do điều kiện tự nhiên, thời tiết khắc nghiệt, có một mùa đông lạnh, đặc biệt là vùng rừng núi về mùa đông có nơi rét đậm rét hại, du lịch biển là một thế mạnh của Nghệ An nhưng về mùa đông hầu hết các khu du lịch biển như Cửa Lò, Bãi Lữ … đều không hoạt động hoặc hoạt động cầm chừng Mùa hè thì thời tiết khô nóng, thường chịu ảnh hưởng của các cơn bão Chính điều này là một thách thức không nhỏ cho du lịch Nghệ An trong việc hạn chế tính mùa vụ trong du lịch để ngành du lịch của tỉnh trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn

+ Nhu cầu du lịch hiện nay có nhiều thay đổi, khách du lịch thường hướng tới những giá trị mới được thiết lập trên cơ sở giá trị văn hoá truyền thống (tính độc đáo, nguyên bản), giá trị tự nhiên (tính nguyên sơ, hoang dã), giá trị sáng tạo và công nghệ cao (tính hiện đại, tiện nghi) Du lịch bền vững,

du lịch xanh, du lịch có trách nhiệm, du lịch cộng đồng gắn với xoá đói giảm

Ngày đăng: 16/09/2021, 17:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Dương Thị Vân Anh, Marketing địa phương - Chiến lược cho du lịch Nghệ An, Tạp chí khoa học và công nghệ Nghệ An, số 6 – 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Marketing địa phương - Chiến lược cho du lịch Nghệ An
6. Nguyễn Thị Hoài, Du lịch Nghệ An - thực trạng và những vấn đề đặt ra, Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 3B – 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch Nghệ An - thực trạng và những vấn đề đặt ra
7. Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên) (2010), Địa lý du lịch Việt Nam, Nxb giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý du lịch Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên)
Nhà XB: Nxb giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
8. Trần Đức Thanh (2005), Nhập môn khoa học du lịch, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn khoa học du lịch
Tác giả: Trần Đức Thanh
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
9. Lê Trung Vũ (2005), Lễ hội Việt Nam, Nxb Văn hoá thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội Việt Nam
Tác giả: Lê Trung Vũ
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 2005
10. Bùi Văn Vượng (2002), Làng nghề thủ công Việt Nam, Nxb văn hoá thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng nghề thủ công Việt Nam
Tác giả: Bùi Văn Vượng
Nhà XB: Nxb văn hoá thông tin
Năm: 2002
11. Luật du lịch Việt Nam (2005), Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật du lịch Việt Nam
Tác giả: Luật du lịch Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
1. Cục thống kê Nghệ An, niên giám thống kê các năm 2005 – 2010 Khác
2. Dữ liệu cơ bản về môi trường đầu tư tỉnh Nghệ An 2011 Khác
3. Sở văn hoá, thể thao và du lịch Nghệ An, chương trình phát triển du lịch Nghệ An giai đoạn 2011 – 2015 Khác
12. Các website tham khảo: - cualo.vn - nghean.vn Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Thống kê số lượng khách du lịch tới Nghệ An qua các năm. - Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch nghệ an giai đoạn 2011   2015
Bảng 1 Thống kê số lượng khách du lịch tới Nghệ An qua các năm (Trang 51)
Bảng 2: Doanh thu du lịch theo giá trị thực tế trên địa bàn. - Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch nghệ an giai đoạn 2011   2015
Bảng 2 Doanh thu du lịch theo giá trị thực tế trên địa bàn (Trang 52)
Bảng 3: số lượng lao động trong ngành du lịch Nghệ An năm 2009. - Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch nghệ an giai đoạn 2011   2015
Bảng 3 số lượng lao động trong ngành du lịch Nghệ An năm 2009 (Trang 53)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w