1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quần thể di tích lịch sử văn hóa đền hùng với hoạt động du lịch phú thọ

64 64 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quần Thể Di Tích Lịch Sử-Văn Hóa Đền Hùng Với Hoạt Động Du Lịch Phú Thọ
Tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền
Người hướng dẫn Th.S. Trần Thị Thủy
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Du lịch
Thể loại khóa luận tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2012
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đền Hùng là khu di tích lịch sử văn hóa đặc biệt quan trọng của quốc gia, được xây dựng trên núi Hùng thuộc đất Phong Châu vốn là đất kế đô của nhà nước Văn Lang 4000 năm trước đây.. Quầ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA LỊCH SỬ

- -

NGUYỄN THỊ THU HIỀN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

QUẦN THỂ DI TÍCH LỊCH SỬ-VĂN HÓA ĐỀN HÙNG VỚI HOẠT ĐỘNG

DU LỊCH PHÚ THỌ

CHUYÊN NGÀNH: DU LỊCH

VINH, 2012

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

KHOA LỊCH SỬ



KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

QUẦN THỂ DI TÍCH LỊCH SỬ-VĂN HÓA ĐỀN HÙNG VỚI HOẠT ĐỘNG

DU LỊCH PHÚ THỌ

CHUYÊN NGÀNH: DU LỊCH

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian nghiên cứu và thực hiện đề tài tôi đã hoàn thành khoá luận tốt nghiệp đại học Đây cũng là kết quả phấn đấu trong suốt 4 năm học tập và rèn luyện dưới giảng đường đại học của tôi và công sức giảng dạy của biết bao thầy cô trong suốt thời gian qua

Để có được kết quả và những thành công đó em xin gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc nhất tới giảng viên Trần Thị Thuỷ giảng viên trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành khoá luận này cùng các thầy cô trong tổ bộ môn

Du lịch- Khoa Lịch Sử

Đồng thời tôi xin gửi lời cảm ơn đến Sở văn hoá thể thao và du lịch tỉnh Phú Thọ, Ban quản lý di tích lịch sử- văn hoá Đền Hùng, thư viện Trường Đại Học Vinh đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình tìm hiểu và tổng hợp tư liệu phục vụ cho đề tài

Qua đây tôi cũng gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và người thân đã luôn động viên khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Sinh viên Nguyễn Thị Thu Hiền

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Mục đích nghiên cứu 7

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4 Phương pháp nghiên cứu 7

5 Bố cục khóa luận 8

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ QUẦN THỂ DI TÍCH LỊCH SỬ- VĂN HOÁ ĐỀN HÙNG 9

1.1 Vị trí địa lý 9

1.2 Quá trình hình thành và phát triển Quần thể di tích Đền Hùng 11

1.3 Các di tích liên quan tới quần thể di tích Đền Hùng 12

1.3.1 Cổng đền 12

1.3.2 Đền Hạ và chùa Thiên Quang Tự 13

1.3.3 Đền Trung 16

1.3.4 Đền Thượng và lăng Hùng Vương 17

1.3.5 Đền Giếng 19

1.3.6 Đền Lạc Long Quân 20

1.3.7 Đền thờ Tổ Mẫu Âu Cơ 21

1.4 Lễ hội đền Hùng 22

1.4 Giá trị của quần thể di tích Đền Hùng 24

1.5 Vai trò vị thế của Quần thể di tích Đền Hùng trong sự phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ 26

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KHAI THÁC HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI QUẦN THỂ DI TÍCH ĐỀN HÙNG PHÚ THỌ 28

2.1 Thực trạng cơ sở hạ tầng 28

2.1.1 Giao thông 28

Trang 5

2.1.2 Thông tin liên lạc 29

2.1.3 Điện nước 30

2.2 Thực trạng về cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch 30

2.2.1 Cơ sở lưu trú 31

2.2.2 Cơ sở ăn uống 32

2.2.3 Cơ sở vui chơi giải trí 34

2.2.4 Cửa hàng lưu niệm 35

2.2.5 Cơ sở phục vụ các dịch vụ bổ sung khác 36

2.3 Thực trạng nguồn lao động 36

2.4 Thực trạng môi trường du lịch tại Quần thể di tích Đền Hùng 37

2.5 Thực trạng công tác bảo tồn, tu bổ 39

2.6 Kết quả kinh doanh du lịch 40

2.6.1 Thực trạng khách du lịch 40

2.6.2 Thực trạng doanh thu du lịch 43

CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP VÀ ĐỀ XUẤT TRONG VIỆC KHAI THÁC QUẦN THỂ DI TÍCH ĐỀN HÙNG VÀO HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TỈNH PHÚ THỌ 45

3.1 Đường lối chính sách phát triển khu di tích 45

3.2 Giải pháp 47

3.2.1 Đào tạo phát triển hơn nữa nguồn nhân lực 47

3.2.2.Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, vật chất kĩ thuật 49

3.2.3 Xây dựng và nâng cao chất lượng các hoạt động dịch vụ 49

3.2.4 Đa dạng hóa các loại hình dịch vụ du lịch 50

3.2.5 Đa dạng sản phẩm du lịch, thiết kế tour du lịch về nguồn 51

3.2.6 Tăng cường các hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch cho quần thể di tích 53

3.3 Một số kiến nghị 55

Trang 6

3.3.1 Kiến nghị với Ủy ban nhân dân tỉnh, các sở ban ngành và chính quyền địa phương 55 3.3.2 Đề xuất với cộng đồng dân cư và các doanh nghiệp, những người làm du lịch 56

KẾT LUẬN 57 TÀI LIỆU THAM KHẢO……….53

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Phú Thọ là tỉnh có địa hình bán sơn địa, nhịp cầu nối liền giữa thủ đô

Hà Nội với các tỉnh biên giới phía Bắc Nơi đây đã từng là kinh đô, nhà nước đầu tiên, chiếc nôi của người Lạc Việt Mỗi địa danh trên quê hương Phú Thọ như còn in đậm những dấu ấn lịch sử của một thời dựng nước và giữ nước Phú Thọ- mảnh đất giàu truyền thống lịch sử với tiềm năng về tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn tạo cho mình một sức hấp dẫn lớn đối với du khách trong và ngoài nước Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của ngành du lịch trong cả nước ngành du lịch Phú Thọ cũng

có bước chuyển mình to lớn Du lịch đã mang lại nguồn lợi nhuận đáng kể cho ngân sách của tỉnh, góp phần nâng cao đời sống nhân dân, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương

Phú Thọ cũng như nhiều tỉnh khác trên cả nước đều mang trong mình những tiềm năng về du lịch riêng Tuy nhiên mỗi tỉnh, mỗi địa phương lại có cách thức khai thác tài nguyên du lịch vào hoạt động du lịch khác nhau Hiện nay vấn đề khai thác tài nguyên du lịch nhân văn di tích lịch sử văn hoá là vấn

đề được các cấp, ngành và nhiều người quan tâm Tại Phú Thọ Quần thể di tích lịch sử- văn hoá Đền Hùng đã và đang được khai thác phục vụ cho hoạt động du lịch và ngày càng hấp dẫn du khách gần xa

Nhưng trên thực tế trong thời gian gần đây cho thấy sự phát triển du lịch ở Quần thể di tích vẫn chưa tương xứng với tiềm năng du lịch vốn có và bộc lộ nhiều hạn chế nhất định Điển hình như khách du lịch, hành hương tới khá đông nhưng doanh thu chưa thực sự cao, hiệu quả kinh tế du lịch còn nhiều bất cập, cơ sở vật chất kỹ thuật chưa đáp ứng hết nhu cầu của khách vào dịp lễ chính…

Trang 8

Vì những lý do trên tôi quyết định chọn đề tài “Quần thể di tích lịch sử- văn hoá Đền Hùng với hoạt động du lịch Phú Thọ” Với mong muốn

tìm hiểu thực trạng phát triển du lịch từ đó đưa ra những giải pháp, đề xuất thích hợp nhằm thay đổi cải thiện và thúc đẩy du lịch ở đây phát triển

2 Mục đích nghiên cứu

Khoá luận khái quát được những giá trị lớn mà Quần thể di tích Đền Hùng chứa đựng Đánh giá thực trạng khai thác Quần thể di tích vào hoạt động du lịch ở Phú Thọ Bên cạnh đó, khoá luận cho thấy thực trạng cấp bách

về đầu tư phát triển du lịch ở Quần thể di tích Đền Hùng

Từ đó đề ra những phương hướng, giải pháp và đề xuất mang tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả trong việc tổ chức khai thác Quần thể di tích vào hoạt động du lịch

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề liên quan tới Quần thể di tích Đền Hùng Bao gồm: Cổng đền, bốn đền (đền Hạ, đền Trung, đền Thượng và đền Giếng), chùa Thiên Quang, lăng mộ Hùng Vương, bảo tàng Hùng Vương, đền Quốc Tổ Mẫu Âu Cơ , đền Quốc Tổ Lạc Long Quân và lễ hội Đền Hùng Tất cả đều có tác động ít nhiều vào mục đích phát triển du lịch ở nơi đây

Phạm vi nghiên cứu của đề tài về không gian là các các di tích ở xã Hy Cương, thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ có liên quan tới khu di tích Đền Hùng Phạm vi nghiên cứu về thời gian là trong khoảng thời gian từ năm 2006- 2010

4 Phương pháp nghiên cứu

Khi thực hiện nghiên cứu đề tài này, tôi thực hiện nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, như:

Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng

nhằm phân tích, tổng hợp các tư liệu, thông tin liên quan đến đề tài giúp chủ

Trang 9

thể khái quát hóa, mô hình hóa các vấn đề nghiên cứu đạt được mục tiêu đề

ra

Phương pháp thống kê: Các số liệu, tư liệu được sưu tầm ở nhiều

nguồn khác nhau và thời gian dài ngắn cũng không giống nhau vì thế các tài liệu đó cần được thống kê lại và xử lý có hệ thống, phục vụ cho quá trình nghiên cứu đạt được kết quả cao

Phương pháp khảo sát thực địa: Sử dụng phương pháp này để lấy được

các số liệu, thông tin phục vụ cho việc trình bày luận cứ, đồng thời kiểm nghiệm độ chính xác, để kết quả nghiên cứu có tính thuyết phục Phương pháp này đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến độ chính xác của đề tài

Phương pháp phỏng vấn: Đưa ra những câu hỏi đối thoại liên quan đến

lễ hội của địa phương đối với những vị khách tham gia lễ hội, những người quản lý, cán bộ văn hóa, những người cao tuổi, người làm du lịch để thu thập thêm thông tin

5 Bố cục khóa luận

Ngoài mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo và phục lục, nội dung của khoá luận được trình bày qua ba chương:

Chương 1: Giới thiệu chung về quần thể di tích Đền Hùng

Chương 2: Thực trạng khai thác hoạt động du lịch tại Quần thể di tích Đền Hùng Phú Thọ

Chương 3: Các giải pháp và đề xuất, kiến nghị nhằm khai thác hoạt động du lịch tại Quần thể di tích Đền Hùng Phú Thọ

Trang 10

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ QUẦN THỂ DI TÍCH

LỊCH SỬ- VĂN HOÁ ĐỀN HÙNG 1.1 Vị trí địa lý

Khu di tích lịch sử Đền Hùng thuộc thôn Cổ Tích, xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Đây là nơi thờ các vua Hùng có công dựng nước,

tổ tiên của dân tộc Việt Nam Ngay từ xa xưa vùng đất này là khu vực trung tâm của nước Văn Lang nằm giữa hai dòng sông giống như hai dãy hào thiên nhiên khổng lồ bao bọc lấy cố đô xưa của các vua Hùng Vùng đất này có nhiều sông ngòi ao hồ, đồi núi, lại có những cánh đồng màu mỡ phì nhiêu do phù xa của ba con sông bồi đắp vừa thuận lợi cho cuộc sống định canh định

cư, vừa thuân lợi cho việc phòng thủ hay rút lui của các cuộc xung đột bộ lạc

Quần thể di tích Đền Hùng nằm ở tọa độ địa lý từ 210

24’08” – 21o28’ 76” vĩ độ Bắc Từ 104077’55’’- 104081’68 ” kinh độ Đông Phía Đông giáp xã Nghi Đức và xã Vân Phú (thành phố Việt Trì), phía Tây giáp xã Tiên Kiên, phía Nam giáp xã Chu Hóa và thị trấn Hùng Sơn (huyện Lâm Thao) Phía Bắc giáp xã Phù Ninh (huyện Phù Ninh) Di tích lịch sử đền Hùng nằm cách đường quốc lộ hai 3km, có đường quốc lộ 32C và đường tỉnh lộ 309 đi qua, cách tuyến đường sắt Hà Nội- Lào Cai 5km ở ga Tiên Kiên Vì thế về thăm đền Hùng rất thuận lợi hàng năm cứ đến ngày hội, đền Hùng lại vinh dự đón hàng triệu con cháu từ khắp nơi về làm giỗ Tổ

Đền Hùng là khu di tích lịch sử văn hóa đặc biệt quan trọng của quốc gia, được xây dựng trên núi Hùng thuộc đất Phong Châu vốn là đất kế đô của nhà nước Văn Lang 4000 năm trước đây Núi Hùng còn gọi là núi Cả theo tiếng địa phương hay còn có các tên khác như : núi Nghĩa Lĩnh, Hy Cương,

Hy Sơn, Bảo Thiếu Lĩnh, Bảo Thiếu Sơn…có độ cao 175m so với mặt nước biển Núi Hùng trông xa giống như đầu của một con rồng lớn hướng về Nam

Trang 11

mình rồng uốn lượn thành núi Trọc, núi Vặn và núi Pheo.Núi Vặn cao 170m xấp xỉ núi Hùng, núi Trọc nằm giữa cao145m ba đỉnh núi theo truyền thuyết tạo thành “Tam sơn cấm địa” được dân gian thờ rất lâu đời Phía sau núi Hùng có những quả đồi lớn san sát nối liền dài tới 10km giống như đàn voi chầu về Đất Tổ, phía trước là ngã ba Bạch Hạc với sự hợp lưu của ba dòng sông lớn nhất miền Bắc: sông Hồng, sông Lô, sông Đà tạo ra một vùng nước lớn mênh mông, từ đó có những quả đồi thấp lô nhô giống như một đàn rùa nước bò lên trầu về Nghĩa Lĩnh Phía Đông xa mờ là dãy Tam Đảo trùng điệp (núi mẹ), xa về phía nam là dãy Ba Vì (núi cha) tụ lại Sát núi Hùng còn có những quả đồi như phượng cặp như Tiên Kiên, hổ phục Khang Phù - Chu Hóa Cảnh thế ngoạn mục hùng vĩ đất này khí thiêng của sơn thủy tụ hội Đứng trên đỉnh núi cao Nghĩa Lĩnh ta có thể bao quát toàn bộ một vùng rộng lớn với cảnh đẹp sơn thủy hữu tình Tương truyền vua Hùng đi khắp mọi miền và đã chọn nơi đây làm đất đóng đô

Hiện nay dấu vết cư trú của cư dân thời đại các vua Hùng còn để lại trong hang chục di chỉ khảo cổ học được phân bố dày đặc từ huyện Lâm Thao tới ngã ba Bạch Hạc Những di chỉ khảo cổ học đó là minh chứng một thời đại với nghề luyện kim đồng thau và trồng lúa nước của một nền văn minh nông nghiệp đã từng tồn tại trước công nguyên hàng nghìn năm

Đền Hùng là di tích lịch sử văn hóa đặc biệt của quốc gia nơi thờ tự Tổ tiên của cộng đồng dân tộc Việt Nam Quần thể di tích bao gồm :

Khu vực núi Hùng: Là nơi thờ Thần núi, thờ các vua Hùng và vợ con tướng lĩnh, gồm: đền Hạ, đền Trung, đền Thượng, lăng Hùng Vương, cột đá thề và đền Giếng, chùa Thiên Quang thờ Phật theo phái Đại Thừa

Khu vực Đền thờ Tổ Mẫu Âu Cơ được xây dựng trên núi Vặn, tên chữ

Ốc Sơn

Khu vực Đền thờ Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân xây dựng ở đồi Sim

Trang 12

Khu vực Bảo tang Hùng Vương xây dựng trên đồi Công Quán đây là nơi lưu giữ trưng bày hàng nghìn hiện vật Khảo cổ học để góp phần nghiên cứu, tìm hiểu về thời đại các vua Hùng và nhà nước Văn Lang cổ đại

1.2 Quá trình hình thành và phát triển Quần thể di tích Đền Hùng

Tương truyền rằng thuở hồng hoang dựng nước, các vua Hùng thường lên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh để thực hiện nghi thức tín ngưỡng tế trời, thờ thần Lúa cầu mong cho mưa thuận, gió hoà, mùa màng tươi tốt muôn dân no ấm

Do đó Đền Thượng có tên là “Kính Thiên Lĩnh Điện” (tức điện thờ trời núi Nghĩa Lĩnh), ngày nay các nghi thức lễ hội, tục hèm thờ cúng phồn thực nông nghiệp còn bảo lưu ở nhiều làng xã dưới chân núi Nghĩa Lĩnh và theo dọc sông Hồng Xã Hy Cương có tục thờ đá ông, đá bà (còn gọi là cối xay), làng

Vy Trẹo vào đêm mùng 6 tháng Giêng có tục “Chạy Tùng dí” tháng Giêng hàng năm tại miếu Trám để cầu mong vạn vật sinh sôi nảy nở, sáng hôm sau

tổ chức “Rước lúa thần” rồi biểu diễn trò “Tứ dân chi nghiệp” (bốn nghề chính của địa phương: sỹ- nông- công- thương)

Khi chưa chế ngự được tự nhiên, người Việt cổ đã thờ các thế lực siêu nhiên để phục vụ cho cuộc sống Càng về sau vai trò của con người càng tác động lại tự nhiên để góp phần giải thích và chế ngự thiên nhiên Điều đặc biệt

là những tín ngưỡng nông nghiệp xa xưa cùng với thời gian hoà quyện vào việc thờ nhân thần, thờ những người có công dựng nước và giữ nước Đền Hùng xa xưa là nơi thờ các thần tự nhiên để hỗ trợ cho cuộc sống con người cầu mong sự sinh sôi phát triển Về sau thờ các Vua Hùng có công dựng nước bên cạnh việc thờ các thần tự nhiên

Quá trình chuyển dịch tín ngưỡng tại Đền Hùng từ việc thờ thần tự nhiên đến việc thờ những người có công với nước liên quan tới quá trình chuyển dịch hệ tư tưởng Việt Nam qua các thời kỳ Thời Hùng Vương quan niệm con người khi chết đi sang thế giới bên kia cũng phải sinh hoạt, lao

Trang 13

động Nhiều ngôi mộ cổ Đông Sơn khai quật lên có chôn theo rất nhiều đồ tuỳ táng, điều đó xuất phát từ sự thương tiếc đối với người thân, một phần cầu mong những linh hồn sang thế giới bên kia phù hộ Vào thời kỳ đầu công nguyên Nhà nước ta bị nhà Hán đô hộ nhưng dân ta vẫn luôn nhớ về cội nguồn dân tộc Tương truyền rằng khi dấy binh khởi nghĩa Hai Bà Trưng đã

có lời thề được lưu truyền đến ngày nay

“Một xin rửa sạch quốc thù Hai xin nối lại nghiệp xưa họ Hùng”

Với tấm lòng thành kính coi trọng ông bà, cha mẹ tổ tiên nên Đền Hùng

và việc thờ cúng các vua Hùng đã trở thành tâm thức của dân tộc Việt Nam từ xưa đến nay

1.3 Các di tích liên quan tới quần thể di tích Đền Hùng

Tên gọi cổ xưa của cư dân địa phương về ngọn núi cao nhất trong vùng này là núi Cả, tương truyền vào thời Hùng Vương nơi đây vua Hùng thường cùng các Lạc Hầu, Lạc Tướng tiến hành các nghi thức tín ngưỡng cổ của cư dân nông nghiệp Cầu tế trời đất để mong mưa nắng thuận hòa, mùa màng tươi tốt, muôn dân ấm no hạnh phúc Sau này khi các ngôi đền được xây dựng trên núi để thờ vua Hùng và vợ con tướng lĩnh nên nhân dân gọi là núi Hùng

Cư dân địa phương có công trông nom đền thờ vua Hùng được gọi là Trung Nghĩa, núi có đền Hùng thì được gọi là núi Nghĩa hay Nghĩa Lĩnh Các ngôi đền, chùa trên núi Hùng là một quần thể kiến trúc, tín ngưỡng gồm: Cổng chính, đền Hạ, chùa Thiên Quang, đền Trung, đền Thượng, lăng Hùng Vương, cột đá thề và đền Giếng

1.3.1 Cổng đền

Cổng đền được xây dựng vào năm Khải Định thứ 2 (1917), kiến trúc kiểu vòm cuốn, có hai tầng, 8 mái Tầng dưới có một cửa vòm cuốn Tầng trên có cửa vòm nhỏ, 4 góc trang trí hình rồng trên nóc đắp nổi hình “Lưỡng

Trang 14

long chầu nguyệt” theo phong cách nghệ thuật thời Nguyễn Hai bên cổng có hai cột trụ, trên đỉnh đắp nổi hai con nghê chầu Giữa cột và cổng đắp nổi tượng hai võ sĩ, mình mặc áo giáp giữa ngực có trang trí hình tượng Hổ phù Một tượng tay cầm giáo tượng kia tay cầm rìu chiến

Cổng đền có gắn một tấm bia đá nhỏ nội dung viết là: Bà Phạm Thị Thịnh hiệu Hiền Viên, chủ cửa hàng Đồng Thuận- Hà Nội công đức tiền xây dựng cổng vào năm Khải Định thứ 2 (1917)

1.3.2 Đền Hạ và chùa Thiên Quang Tự

Từ chân núi Hùng rẽ qua Đại môn leo qua 225 bậc thang xây bằng gạch

và đá là lên đến đền Hạ và chùa Thiên Quang tự Đền Hạ được xây dựng vào thời Hậu Lê (thế kỷ 17- 18) Đền Hạ do dân làng Vi Cương xã Chu Hóa (nay

là thị trấn Hùng Sơn) huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ xây dựng Dân làng Vi vốn có quan hệ mật thiết với làng Triệu Phú (làng Trẹo) xã Hy Cương Hai làng xưa kia có chung nguồn gốc, cùng dựng đình Cả trên đất làng Vi Cương

để thờ 18 đời Hùng Vương, có chung các nghi lễ và tục hèm cầu cúng như:

“lấy tiếng hú” vào đêm 30 tháng Chạp, chạy “Tùng rí, săn lợn, chạy địch…”

có chung các kỳ cầu tế vào tháng Giêng và tháng tám âm lịch với lễ vật gồm tam sinh: Trâu, dê, lợn Hai làng cùng tổ chức lễ hội “rước chúa gai”, và diễn trò “Bách nghệ khôi hài”, rước Lúa Thần và tổ chức lễ Hạ đền …

Một số cụ già kể lại rằng: đền Hạ trước kia nằm trước cửa chùa Thiên Quang theo kiểu kiến trúc “Tiền Thần, hậu Phật” Đến khi Bà Chúa Chè lên cầu tự ở chùa vè sinh được con trai, lên trả lễ chùa xin dân làng cho chuyển dịch đền sang vị trí bây giờ và cúng một cỗ kiệu, dấu vết nền móng cũ của đền tới nay vẫn còn ở phía trước chùa Hiện nay còn một nền nhà khá lớn kích thước khoảng 5,5m x 9m (tương đương với diện tích của đền Hạ bây giờ)

Tương truyền khu vực đền Hạ là nơi mẹ Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng

nở thành 100 người con trai, 50 theo Mẹ Âu Cơ lên núi 49 theo Cha Lạc Long

Trang 15

Quân xuống biển để lại người con trưởng ở lại làm vua hiệu là Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu đặt tên nước là Văn Lang.Và nghĩa của từ “Đồng bào” mà dân ta thường dùng có lẽ cũng bắt nguồn từ đây

Đền Hạ kiến trúc kiểu chữ Nhị gồm 2 tòa: Tiền tế và Hậu cung Mỗi tòa 3 gian, cách một khoảng lộ thiền 1.5m Kiến trúc đơn sơ kèo cầu suốt, bẩy gối vào đầu kèo làm cho mái sau dài hơn mái trước Ở gian tiền tế hai bên đốc xây liền tường với có trang trí đắp nổi hình một bên voi, một bên ngựa Bờ nóc đền phẳng không trang trí mỹ thuật Mái đền lợp ngói mũi (loại ngói được

sử dụng rộng rãi trong những công trình thời Lê)

Trong hậu cung đền Hạ có ba ban thờ chính cái bài vị thờ ghi: Đột ngột Cao Sơn cổ Việt Hùng thị nhập bát thế truyền thánh vương thánh vị (Ban giữa) Ất Sơn thánh vương thánh vị (Ban bên trái) Viễn Sơn thánh vương thánh vị (Ban bên phải) Cỗ long ngai phía đầu đốc bên phải đền không có bài

vị, trong văn tế có ghi thờ hai nàng công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa con gái vua Hùng thứ 18

Ngay chân đền Hạ là nhà bia với kiến trúc kiểu hình trụ có 6 mái trên đỉnh có đắp hình nậm rượu 6 mái được lợp bằng gạch bìa bên trong bên ngoài láng xi măng có 6 cột bằng gạch xây tròn dưới chân có lan can Nhà bia này được xây dựng vào năm 1917 trước đây nhà bia ghi lại việc tu sửa đường lên núi Hùng và đến nay nhà bia đặt tấm bia khắc ghi lời căn dặn của Chủ tịch

Hồ Chí Minh khi về thăm đền Hùng ngày 19 tháng 9 năm 1954 :

“ Các vua Hùng đã có công dựng nước

Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước.”

Điều đáng chú ý nữa là ngay gần đền Hạ có một ngôi chùa xưa có tên

là Sơn Cảnh Thừa Tự Long sau đổi thành Thiên Quang Thiền Tự Chùa được xây dựng để thờ Phật theo phái Đại thừa Qua quá trình nghiên cứu các nhà khoa học cho rằng chùa được xây dựng vào thời nhà Trần (thế kỷ 18-19)

Trang 16

Trước đây chùa có kiến trúc kiểu “Nội công ngoại quốc”, nhưng hiện nay kiến trúc của chùa lại mang kiểu chữ Công gồm ba tòa: tiền đường 5 gian, tam bảo 3 gian và hậu đường 3 gian Chùa Thiên Quang có hệ thống tượng Phật tương đối đầy đủ, phong phú

Nhiều pho tượng được chạm khắc bằng sơn son thiếp vàng rất đẹp và tinh xảo mang giá trị nghệ thuật cao Chùa còn có 1 gác chuông được xây dựng vào thời Hậu Lê (thế kỷ 17), kiến trúc kiểu dáng giống như các gác chuông thông thường gồm 3 gian, 2 tầng và 8 mái Tầng trên ở gian giữa có lát sàn gỗ là nơi để treo chuông và ngồi ngắm cảnh Trên gác chuông treo một quả chuông có đường kính 0,8m cao 1,5m nặng khoảng 1 tấn Có thể đoán định niên đại quả chuông được đúc vào thế kỷ 17

Gác chuông là một công trình kiến trúc nghệ thuật đẹp, 4 mái trên đầu đao cong vút, các tay vượn ở các cột cái đõ kẻ mái được che bởi một mặt hổ phù chạm khắc bằng gỗ rất tinh xảo Trên bờ nóc đắp lưỡng long chầu nguyệt Mái gác chuông được xây bít đốc, có 4 cột trên mỗi cột đắp quả giành và hình

tứ linh Đặc biệt các hàng dui được đóng đinh ở chân dui bằng đồng, mũi đinh được tán thành hình bong hoa cúc có đường kính 4cm Đây cũng là một nét độc đáo trong nghệ thuật kiến trúc ở Tam quan chùa Thiên Quang mà chưa thấy có ở các chùa, đình khác trên địa bàn

Hai bên trước sân chùa có 2 tháp sư được xây dựng để thờ các vị Hòa thượng đã tu hành và viên tịch tại chùa Thiên Quang trước đây Tháp có kiểu dáng hình trụ, cao tầng, trên nóc tháp đắp hình bong hoa sen nổi Trong long tháp xây rỗng tầng dưới cũng bên trong có đặt bát hương và một tấm bia đá nhỏ, nội dung bia ghi vể việc các nhà sư đã tu hành tại chùa

Ngay trước cửa chùa Thiên Quang có một cây Vạn tuế độc đáo có 3 ngọn tuổi gần 800 năm Ngày 19 tháng 9 năm 1954 Chủ tịch Hồ Chí Minh khi thăm viếng đền Hùng đã gồi dưới gốc cây này để nghê đồng chí Thanh

Trang 17

Quảng-Chánh Văn phòng Quân ủy Trung ương và đồng chí Song Hào- Chính

ủy Đại đoàn quân Tiên phong báo cáo với Bác về tình hình của đại đoàn và kế hoạch đưa bộ đội về tiếp quản Thủ đô Hà Nội

1.3.3 Đền Trung

Từ đền Hạ leo thêm 168 bậc đá nữa là tới đền Trung, tương truyền đây

là nơi vua Hùng thường họp bàn việc nước với các Lạc hầu, Lạc tướng Đền Trung có tên chữ là “Hùng Vương Tổ Miếu”, vào thời Hùng Vương thứ 6 Lang Liêu đã được vua cha chọn để lên ngôi kế vị qua một cuộc thi tài Tuy là người con út, nhưng bằng sự thông minh hiếu nghĩa, Lang Liêu đã sáng tạo ra bánh chưng và bánh dầy, tượng trưng cho Trời- Đất thể hiện cho triết lý tư duy về vũ trụ với mong ước về sự phát triển toàn vẹn của người Việt cổ

Căn cứ vào nhiều nguồn tài liệu có thể đoán định niên đại xây dựng của đền Trung vào khoảng thế kỷ 14 gắn với kiến trúc tôn giáo và tín ngưỡng Đến thế kỷ 15 khi giặc Minh xâm lược nước ta đã phá hủy đền Trung và tàn sát nhân dân làng Cả Sauk hi tan giặc đền Trung được nhân dân xây dựng lại

để phụng thờ tổ tiên Đến thời nhà Nguyễn thế kỷ 18 đền Trung được xây dựng lại, kiến trúc có 3 gian kiểu chữ nhất Tháng 9 năm 2009 được sự đầu tư của nhà nước đền Trung được tu bổ, tôn tạo và mở rộng them phần hậu cung Kiến trúc đền hiện nay có hai lớp kiểu chữ nhị gồm nhà tiền tế và hậu cung Cách bài trí thờ tự ở đền Trung giống như đền Hạ Trong hậu cung của đền có

ba ban thờ chính có bài vị thờ ghi: Đột ngột Cao Sơn cổ Việt Hùng thị nhập bát thế truyền thánh vương thánh vị (Ban giữa) Ất Sơn thánh vương thánh vị (Ban bên trái đền) Viễn Sơn thánh vương thánh vị (Ban bên phải đền) Cỗ long ngai phía đầu đốc bên phải đền không có bài vị, trong văn tế có ghi thờ hai nàng công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa con gái vua Hùng thứ 18

Trang 18

1.3.4 Đền Thượng và lăng Hùng Vương

Từ đền Trung leo 102 bậc đá lên tới đền Thượng, đền có tên chữ là “ Kính Thiên Lĩnh Điện” nghĩa là: Điện thờ trời trên núi Nghĩa Lĩnh Xưa kia đền còn có tên là “Cửu trùng thiên điện” (Điện thờ trời trên chin tầng mây) Tương truyền: thời Hùng vương trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh là nơi vua Hùng tế

lễ trời đất tiến hành các nghi lễ nông nghiệp, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, nhân khang vật thịnh Xưa kia trong hậu cung đền Thượng

có đặt thờ một hạt lúa to bằng chiếc thuyền nan được làm bằng gỗ gắn với câu chuyện truyền thuyết về “hạt lúa thần” với mong ước về sự phát triển của mùa màng nông nghiệp, đem lại cho con người một cuộc sống ấm no, hạnh phúc

Xa xưa nhân dân ta dựng một tòa miếu đá để thờ tự đến thế kỷ 15 nhân dân xây dựng thành ngôi đền thờ các vua Hùng Đến thời nhà Nguyễn đền được xây dựng lại kiến trúc kiểu chữ vương Trải qua thời gian đền Thượng tiếp tục được nhiều lần trùng tu, tôn tạo song vẫn giữ nguyên dáng kiến trúc

cổ Năm 2008 đền được tu bổ đồng bộ và khang trang về kiến trúc cũng như nội thất thờ tự Được xây dựng theo lối kiến trúc chữ Vương đền được chia thành 3 cấp: Phía trước là nghi môn rồi đến đại bái (cấp 1), tiền tế (cấp 2) và hậu cung (cấp 3) Nghi môn: Kiến trúc mang phong cách thời Nguyễn, Nghi môn có 4 trụ biểu lớn tạo thành 3 cổng mái vòm Chính giữa là cổng lớn rộng 2,25m, cao 3,7m và hai cửa phụ hai bên rộng 1,6m cao 4,2m Các cột trụ phía trên đắp theo kiểu lồng đèn, 4 mặt đắp hình tứ linh, đỉnh cột đắp 4 con nghê chầu Phía trên nóc cổng giữa đắp trang trí kiểu rồng thời Nguyễn, mình có gắn các mảnh gốm vỡ để trang trí Hai bên có tượng võ sĩ phía trên là hình phượng cặp thư

Đại bái, tiền tế và hậu cung: Kết cấu được xây thành 3 cấp nối tiếp nhau Mặt bằng có cấu trúc ba gian hai hàng cột Khung cột bằng gỗ lim có đường kính 420cm, bộ vì mái theo dạng vì kéo giá chiêng, khung vì chịu lực

Trang 19

gia công bằng gỗ lim, bào trơn đóng bén, sơn son thiếp vàng phần gờ chỉ Cửa bức bàn đóng bằng gỗ lim, kiểu thưởng song hạ bản Mái lợp ngói mũi hài, bờ nóc chảy gắn gạch hoa chanh Hai bên hồi xây gạch kiểu thu hồi bít đốc có đắp nổi họa tiết hổ phù Trên bờ nóc nhà Tiền tế và Hậu cung có gắn trang trí hình lưỡng long chầu nhật Hậu cung đền Thượng là nơi thâm nghiêm, bên trong có 4 ban thờ ở 3 ban thờ chính diện có long ngai và bài vị thờ được đặt trong khám thờ Tất cả đều được chạm trổ công phu lộng lẫy Các bài vị thờ

có nội dung ghi: Đột ngột Cao Sơn hiền Hùng ngao thống thủy, điện an, hoàng tế, chiêu liệt, ứng thuận, phả hộ, thần minh, thọ quyết, ứng quảng huệ y diễn vệ hàm công thánh vương vị (Ban giữa) Ất Sơn Thánh vương vị (Ban bên trái đền) Viên Sơn Thánh vương vị (Ban bên phải đền) Cỗ long ngai thứ

tư không có bài vị được đặt ở phía đầu đốc bên phải đền Trong văn tế có ghi thờ hai nàng công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa con gái vua Hùng thứ 18

Bên phía tay trái đền có một cột đá thề tương truyền do Thục Phán dựng lên khi được vua Hùng thứ 18 truyền ngôi để thề nguyện bảo bệ non sông đất nước mà Hùng Vương trao lại và đời đời hương khói trông nom miếu vũ họ Vương Cột đá cao 1,3m, rộng 0,3 có hình vuông Thời gian trôi qua dấu tích cột đã bị vùi lấp, tới năm 1968 các nhà nghiên cứu tìm thấy những cột đá cổ nằm sâu trong long đất tại khu vực đền Thượng và đã cho tôn tạo dựng lại cột đá thề ở vị trí như hiện nay Năm 2003 cột đá thề được trùng

tu lại năm 2009 được tu bổ tôn tạo khang trang đồng bộ với việc tu bổ đền Thượng

Cũng nằm ở vị trí trên cao của núi Hùng lăng Hùng Vương tương truyền là mộ của Hùng Vương thứ 6 Lăng mộ được đặt ở phía trái đền Thượng quay theo hướng Đông Nam, ở thế đầu đội sơn chân đạp thủy Xưa là

mộ đất thời Tự Đức năm thứ 27 (1870) cho xây dựng lăng và được nhiều lần

tu bổ tôn tạo vào các năm 1909, 1912, 1922 Năm 2009 lăng mộ Hùng Vương

Trang 20

được trùng tu tôn tạo khang trang song vẫn giữ nguyên kiểu dáng cổ kính vốn

có Lang Hùng Vương kiến trúc hình vuông có 3 cửa vòm quay theo 3 hướng Bắc – Đông – Nam của lăng, phía trên các cửa vòm đều đắp hình mặt Hổ phù ngậm chữ Thọ Phần mái giả ngói ống cổ có 2 tầng 8 mái Các góc mái uốn cong hình đầu đao, tạo trang trí họa tiết hình rồng uốn ngược Đỉnh lăng đắp hình Cửu long tranh châu

1.3.5 Đền Giếng

Từ lăng mộ Hùng Vương theo lối con đường được mở từ năm 1990 đi xuống phía Đông Nam chân núi Hùng, qua hơn 700 bậc đá là tới khu vực đền Giếng Tương truyền nơi đây hai nàng công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa con gái vua Hùng thứ 18 thường đến soi gương, chải tóc ở Giếng ngọc khi theo cha đi kinh lý qua vùng này Để tưởng nhớ công ơn hai nàng đã giúp dân trị thủy, trồng lúa nước nhân dân đã xây dựng đền để thờ phụng muôn đời

Trong hậu cung của đền hiện nay vẫn còn một giếng nước hình tròn được gọi là Giếng Ngọc (tên chữ là Ngọc Tỉnh) Giếng sâu gần 2m, quanh năm có nước rất trong và mát Lòng giếng được kè đá tang giếng có đường kính 0,09m cao 0,70m được làm từ một khối đá liền đục ra Qua thời gian, đền Giếng được nhiều lần trung tu tôn tạo Kiến trúc hiện nay theo phong cách thời Nguyễn thế kỷ 18 Đền được xây dựng dưới chân núi Hùng quay theo hướng Đông Nam Hậu cung và tiền tế theo kiến trúc kiểu chuôi vồ

Hậu cung là nơi đặt khám thờ được chạm trổ đẹp sơn son thếp vàng lộng lẫy bên trong có tượng thờ hai nàng công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa Phía dưới là tượng Kim Đồng và Ngọc Nữ theo hầu Tại đền Giếng cũng là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ngồi nói chuyện với cán bộ chiến sỹ Đại đoàn quân Tiên phong và giao nhiệm vụ tiếp quản Thủ đô sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954

Trang 21

Nhằm quy tụ các giá trị văn hóa tâm linh thời đại các vua Hùng và tưởng nhớ công ơn các bậc thủy tổ đã có công khai thiên lập quốc, đền thờ Lạc Long Quân là một thiết chế văn hóa mới nằm trong quân thể Di tích lịch

sử đền Hùng được khởi công xây dựng ngày 26 tháng 3 năm 2007 tại đồi Sim

xã Chu Hóa huyện Lâm Thao tỉnh Phú Thọ Và khánh thành vào ngày 29 tháng 3 năm 2009 đúng dịp lễ giỗ Tổ Hùng Vương năm Kỷ Sửu

1.3.6 Đền Lạc Long Quân

Kiến trúc đền Lạc Long Quân bao gồm: Đền chính, cổng, trụ biểu, cổng biểu tượng, phương đình, tả vu, hữu vu, lầu hóa vàng, các công trình phụ trợ và hạ tầng kỹ thuật với tổng diện tích đất là 13,79ha Đền chính có diện tích xây dựng 210m2 Kiến trúc kiểu chữ đinh kết cấu bộ khung được làm bằng gỗ lim theo kiểu kiến trúc cổ truyền thống Nhà tiền tế có 1 gian trái, 2 hàng chân, đại bái có 3 gian, 2 gian trái, 4 hàng chân Hậu cung có 3 gian, 4 hàng chân, tường xây bít đốc sau cửa kiểu bức bàn

Cổng đền kiến trúc truyền thống cổng có 4 cột trụ cổng chính rộng 4,2m cổng phụ rộng 2,05m Kết cấu cột bê tong cốt thép bên ngoài ốp đá xanh đục chạm họa tiết hoa văn trên trống đồng cách điệu cả 4 mặt Trụ biểu cao 9,2m kết cấu bằng bê tong cốt thép ốp đá xanh được đục chạm họa tiết hoa văn chim lạc cách điệu Phương đình nằm sau nghi môn kích thước 5,9mx 5,9m cao 6,1m

Kết cấu làm bằng gỗ mái chồng diêm nền lát gạch Bát Tràng Tả vu hữu vu: nhà 5 gian, 2 hàng chân diện tích xây dựng 54m2 Kiến trúc cổ truyền thống kết cấu cột gỗ có đường kính 29cm cao 2,8m cửa bức bàn nền lát gạch Bát Tràng Hậu cung là nơi đặt tượng thờ của Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân Tượng được đúc bằng đồng nặng 1,5 tấn cao 1,98m ở tư thế ngồi trên ngai, đặt trên bệ đá được gia công bằng đá khối chạm khắc hoa văn theo mô típ văn

Trang 22

hóa Đông Sơn Hai bên là 2 pho tượng Lạc hầu, lạc tướng mỗi pho nặng 0,5 tấn, cao 1,80m tạc ở tư thế đứng chầu

1.3.7 Đền thờ Tổ Mẫu Âu Cơ

Đền thờ Tổ Mẫu Âu Cơ cũng là một công trình kiến trúc mới nằm trong quần thể di tích đền Hùng được bắt đầu xây dựng vào ngày 19 tháng 9 năm 2001 và khánh thành vào ngày 18 tháng 1 năm 2005 Kiến trúc đền được xây dựng theo kiểu truyền thống các cột cái, khung, sườn, mái, vách ngăn đều bằng gỗ lim, mái lợp ngói mũi hài, tường xây gạch bát Các họa tiết trang trí được mô phỏng theo các hoa văn trên trống đồng Đông Sơn Đền có kiến trúc kiểu chữ Đinh quay theo hướng Đông- Nam bao gồm: đền chính, nhà tả vu, nhà hữu vu, nhà bia, trụ biểu và tam quan

Đền chính có diện tích 137m2, gồm 2 tòa tiền tế và hậu cung Tiền tế gồm 5 gian, 2 dĩ các cột cái và cột trốn làm bằng gỗ lim tường xây gạch mộc cửa bức bàn Hậu cung là nơi đặt khám thờ được sơn son thếp vàng trạm trổ tinh xảo Bên trong đặt tượng mẹ Âu Cơ được đúc bằng chất liệu đồng Đây là bức tượng đẹp thể hiện sự hội tụ kết tinh những nét đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam: thông minh, hiền dịu, phúc hậu, đoan trang Đứng hai bên chầu dưới tượng mẫu là tượng cung nữ theo hầu

Ngoài ra khi đến thăm viếng tại quần thể di tích đền Hùng chúng ta có thể tới Bảo tàng Hùng Vương là nơi cất giữ với hơn 700 hiện vật, 102 bức ảnh, 4 bức tranh bằng gốm tráng men, 5 bức tranh sơn mài, 9 bức gò đồng, 5 hộp hình, một nhóm tượng bằng đồng và nhiều hiện vật bổ trợ Bảo tàng được xây dựng năm 1986 do Hội kiến trúc sư Việt Nam thiết kế phỏng theo truyền thuyết bánh Chưng, bánh Dầy phán ánh quan niệm của người Việt cổ về vũ trụ trời tròn, đất vuông Năm 1993 bảo tàng mở cửa đón khách thăm quan và được sự chú ý của nhiều du khách

Trang 23

Như vậy, trên đây là sự trình bày một cách cơ bản nhất về quần thể di tích đền Hùng với các đền, chùa, lăng, miếu Đó là một sự tổng hòa hợp lý đã được quy tụ về nới đây, tất cả đều thế hiện sự tôn kính đối với một thế hệ, thể hiện tâm thức đạo hiếu của con người đất Việt

1.4 Lễ hội đền Hùng

Ngày giỗ Tổ Hùng Vương mồng 10 tháng 3 âm lịch hàng năm đã trở thành lễ hội của toàn dân tộc ngày hội văn hóa tâm linh lớn nhất trong cả nước Đền Hùng trở thành nơi hội tụ sức mạnh và khối đại đoàn kết toàn dân,

là nơi giáo dục và thể hiện rõ nét truyền thống đạo lý “ uống nước nhớ nguồn” của cả dân tộc Từ xa xưa lễ hội đền Hùng đã có vị thế đặc biệt trong tâm thức của người Việt Trong ngọc phả Hùng Vương(1470) đã chép “Từ đời nhà Đinh, nhà Lê, nhà Lý, nhà Trần rồi đến triều đại ta bây giờ là Hồng Đức Hậu

Lê vẫn cùng hương khói trong ngôi đền ở làng Trung Nghĩa (Cổ Tích), ở đây nhân dân toàn quốc đều đến lễ bái để tưởng nhớ công lao của đấng Thánh Tổ xưa”

Đến đời nhà Nguyễn vào năm Khải Định thứ 2 (1917) tuần phủ Phú Thọ Lê Trung Ngọc đã trình bộ lễ định ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch hàng năm là ngày quốc tế Tức là trước ngày giỗ tổ Hùng Vương một ngày, còn ngày giỗ tổ 11 tháng 3 âm lịch do dân sở tại tế lễ

Sau cách mạng tháng 8 năm 1945 Đảng, Nhà nước ta rất quan tâm đến tình hình Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đều

về viếng thăm Tại Nghị định 82/2001/NĐ-CP ngày 6 tháng 11 năm 2001 của Chính phủ về nghi lễ Nhà nước và đón tiếp khách nước ngoài quy định cụ thể như sau : Năm chẵn (năm có chữ số cuối cùng là 0) Bộ văn hóa thông tin và

Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức lễ hội, mời đại diện lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban trung ương mặt trận tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể dự lễ dâng hương và tổ chức các hoạt động trong lễ hội

Trang 24

Ngày 2/4/2007 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã phê chuẩn sửa đổi, bổ sung Điều 73 của Luật lao động cho người lao động được nghỉ làm việc hưởng nguyên lương ngày giỗ tổ Hùng Vương

Lễ hội Đền Hùng còn gọi là giỗ tổ Hùng Vương là một lễ hội lớn mang tầm vóc Quốc gia ở Việt Nam, tưởng nhớ và tỏ long biết ơn công lao lập nước của các Vua Hùng, những vị vua đầu tiên của dân tộc Lễ hội diễn ra vào ngày 10/3 âm lịch tuy nhiên thực chất lễ hội đã diễn ra từ hàng tuần trước đó với những phong tục như đâm đuống của dân tộc Mường hành hương tưởng niệm các vua Hùng và kết thúc vào ngày 10/3 âm lịch với lễ rước kiệu và lễ dân hương trên đền Thượng Lễ hội đền Hùng hiện được nhà nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam nâng lên thàng quốc giỗ tổ chức lớn vào những năm chẵn

Lễ hội đền Hùng cũng như bao lễ hội khác ở Việt Nam được chia thành thành 2 phần là phần lễ và phần hội Tuy nhiên phần lễ được tổ chức công phu và nặng hơn phần hội Ở phần lễ có 2 lễ được cử hành cùng thời điểm ngày chính hội: Lễ rước kiệu vua và lễ dâng hương Trước hết là lễ rước kiệu vua đám rước kiệu với màu sắc sặc sỡ của bạt ngàn cờ hoa, lọng, kiệu, trang phục truyền thống xuất phát từ chân núi rồi lần lượt qua các đền để tới đền Thượng nơi làm lễ dâng hương Đám rước như một con rồng uốn lượn trên những bậc đá dưới những tán cây để tới đỉnh núi Thiêng

Lễ dâng hương: Người hành hương tới đên Hùng chủ yếu vì nhu cầu của đời sống tâm linh Mỗi người đều thắp lên vài nén hương khi tới đất Tổ

để nhờ làn khói thơm nói hộ những điều tâm niệm của mình với tổ tiên Trong tâm hồn người Việt thì mỗi nắm đất gốc cây nơi đây đều linh thiêng và chẳng

có gì khó hiểu khi nhìn thấy những gốc cây hốc đá cắm đỏ những chân hương

Trang 25

Phần hội diễn ra tưng bừng náo nhiệt với nhiều hoạt động văn hóa phong phú trong phạm vi không gian từ khu vực đền Hùng đến thanh phố Việt Trì và vùng phụ cận của huyện Lâm Thao và Phù Ninh, trong thấy muôn vàn chấn động đủ màu sắc hòa lẫn cây xanh như một rừng hoa tươi tắn trước gió xuân Dịp lễ mọi người già trẻ, trai, gái náo nức lúc đi, hân hoan lúc đến

và lưu luyến lúc ra về, cảnh trí tình người thân thương tha thiết vô cùng Đây cũng là dịp để đồng bảo cả nước: miền ngược miền xuôi, miền Nam miền Bắc gặp nhau sum họp trên đất Tổ quê hương bộc lộ những tình cảm thiêng liêng

tự đáy lòng.đó trung tâm là di tích đền Hùng Các hoạt động hội bao gồm nhiều hoạt động phong phú như: Các trò chơi dân gian, các hoạt động thể thao, hội chợ và các tour du lịch gắn với chương trình “Du lịch về nguồn” Tại di tích lịch sử đền Hùng các hoạt động văn hóa dân gian được tổ chức tại khu vực nhà Công Quán- Bảo tàng Hùng Vương và khu Trung tâm

Lễ hội bao gồm: rước kiệu truyền thống của các xã vùng ven khu di tích, thi nấu cơm, thi giã bánh dày gói bánh chưng, tổ chức đánh trống đồng, đâm đuống của các nghệ nhân Mường (Thanh Sơn- Phú Thọ) Tổ chức hát Xoan, hát Ghẹo, múa Sư Tủ, biểu diễn văn nghệ của các đoàn nghệ thuật trong và ngoài nước Tại khu văn hóa thể thao của trung tâm lễ hội sẽ tổ chức các hoạt động: Thi bóng chuyền nam, thi bắn nỏ, thi đấu cờ tướng, đấu vật, liên hoan văn nghệ dân gian, đêm thơ về đền Hùng, hội trại văn hóa, thi bơi chải trên sông Lô, tổ chức bắn pháo hoa…

Vào những ngày hội chính đền Hùng đứng trên đỉnh núi nhìn xuống xung quanh sẽ thấy từ mọi con đường tới đền Hùng người ta về chẩy hội đông đúc như những dòng sông đổ về biển cả Đứng từ xa nhìn lên núi sẽ

1.4 Giá trị của quần thể di tích Đền Hùng

Đất nước ta có 54 dân tộc anh em cùng chung sống trên mọi miền tổ quốc Tuy mỗi nơi có một phong tục, một lối sống, cũng như trình độ phát

Trang 26

triển, công nghiệp hóa hiện đại hóa khác nhau những dường như những điểm khác biệt đó được xóa tan và hòa quyện lại với nhau khi chúng ta cùng hướng

về cội nguồn, tổ tiên cha ông Đó là ngày mồng 10 tháng 3 ngày giỗ Tổ Hùng Vương Đã là người Việt Nam thì đều mang trong mình dòng máu con Lạc cháu Hồng Từ thủa nhỏ các em đi học đã được biết đến truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ, sự tích bánh trưng bánh dầy…Đó cũng là cách giáo dục nhằm giữ gìn truyền thống văn hóa bản sắc dân tộc ta Tổ chức lễ hội giỗ

Tổ Hùng Vương- Lễ hội đền Hùng nhằm giáo dục truyền thống yêu nước

“Uống nước nhớ nguồn” biết ơn sâu sắc các vua Hùng đã có công dựng nước

và các bậc tiền nhân kiên cường chống giặc ngoại xâm

Ngày nay cả nước cùng hướng về vùng đất Tổ không chỉ người dân mà các cấp các ngành các đoàn thể cũng quan tâm đặc biệt hơn tới vùng đất này Hướng về cội nguồn tổ tiên người Việt luôn nhắc nhở con cháu: ai ai cũng nên làm tròn bổn phận, nhiệm vụ chức năng của mình giữ đúng kỉ cương thì gia đình sẽ yên ổn xã hội được an cư phồn vinh và phát triển

Thông qua ngày giỗ Tổ, Tổ tiên ta còn có hoài bão muốn nhắc nhở hậu thế những kế sách giữ nước an dân Đó là nỗi lo muôn thủa là tấm lòng bao dung tha thiết của Chư Tổ còn vang mãi khắp núi sông “Hãy chon ta trên núi

Cả, để đứng trên núi cao ta còn trông nom bờ cõi cho con cháu”

Cây có gốc, nước có nguồn, chim có tổ và người tìm về tông Trở về đền Hùng chúng ta như giọt máu trở về tim có gì đó thân quen và ấm áp Có thể nói quần thể di tích đền Hùng mang trong mình những giá trị tư tưởng giáo dục khá sâu đậm Nó dạy cho người Việt ta nên làm gì có trách nhiệm và bổn phận như thế nào để cuộc sống này thêm ý nghĩa

Trang 27

1.5 Vai trò vị thế của Quần thể di tích Đền Hùng trong sự phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ

Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển chung của ngành du lịch cả nước tỉnh Phú Thọ đã đưa ra những chính sách đường lối thích hợp để

du lịch phát triển theo guồng máy chung đó Với nhiều khu du lịch được hình thành, nhiều di tích lịch sử- văn hoá được bảo tồn, khôi phục và đưa vào khai thác du lịch Và hơn nữa nhờ vào chính sách, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất

kĩ thuật hạ tầng ngày càng hoàn thiện, du lịch của tỉnh đã đạt được nhiều bước phát triển tương xứng với tiềm năng của tỉnh và ngang tầm với những tỉnh khác

Trong chiến lược phát triển du lịch dài hạn của tỉnh Quần thể di tích Đền Hùng sẽ là một điểm nhấn quan trọng của thành phố Việt Trì- tỉnh Phú Thọ Người ta biết đến Phú Thọ với một Đền Hùng thiêng liêng cổ kính là cội nguồn dân tộc là nơi mà mỗi người dân đất Việt đều muốn đến một lần thắp nén hương để tỏ lòng thành kính với cha ông ta Nằm ở vị trí vô cùng thuận lợi cùng với hệ thống di tích tín ngưỡng thờ Hùng Vương lâu đời mảnh đất

Hy Cương càng có tiềm năng cho phát triển du lịch Khu di tích này đóng một

vị trí quan trọng trong việc phát triển du lịch của địa phương nói riêng và của tỉnh Phú Thọ nói chung chính vì thế cần có những định hướng phát triển đúng đắn để khai thác nới đây vào du lịch một cách bền vững xứng đáng với vị trí

“Di tích lịch sử- văn hoá quốc gia đặc biệt”

Những năm qua du lịch Đền Hùng phát triển làm cho diện mạo Quần thể di tích thay đổi rất nhiều so với trước Thay đổi ở quy mô ngày càng rộng lớn và được quy hoạch quy củ hơn trước, du lịch gắn với phát triển bền vững, chú ý nhiều hơn tới chất lượng và môi trường xung quanh khu di tích Điều đáng chú ý nữa là du lịch Đền Hùng phát triển giúp cho đời sống của người dân quanh vùng được cải thiện Hoạt động du lịch đã thúc đẩy kinh tế địa

Trang 28

phương tạo khả năng tiêu thụ tại chỗ một lượng hàng hoá, dịch vụ khá lớn Lễ hội Đền Hùng được giữ gìn, phát huy và quảng bá hình ảnh của mình hơn nữa thông qua các hoạt động du lịch để bạn bè trong nước và quốc tế biết đến

Quần thể di tích Đền Hùng mở ra cho địa phương khá nhiều ngành nghề, tạo việc làm cho người lao động, đời sống nhân dân được nâng cao Mức chi tiêu tăng trưởng kinh tế tăng, du lịch đóng góp một phần lớn trong tổng thu nhập GDP của tỉnh Việc thu hút đông đảo khách tới nơi đây cũng góp phần hình thành củng cố môi trường cho nền kinh tế mở, đẩy mạnh sự giao lưu văn hoá vùng miền

Đền Hùng là một địa điểm lý tưởng cho những người yêu quê hương đất nước hành hương về miền đất Tổ Kết hợp với những khu di tích khác trong tỉnh như: Đền Mẫu Hạ Hoà, Đền Mẫu Lăng Xương Các khu nghỉ dưỡng như: Khu suối khoáng nóng Thanh Thuỷ, Đầm Ao Châu, Vườn quốc gia Xuân Sơn tạo nên một hệ thống xuyên suốt các địa điểm nổi tiếng trong tỉnh khai thác phù hợp vào du lịch tăng doanh thu cho địa phương

Như vậy, Quần thể di tích lịch sử- văn hoá Đền Hùng giữ trong mình một vị trí quan trọng trong du lịch của tỉnh Phú Thọ Chính vì thế mà các cơ quan nhà nước, chính quyền địa phương và cộng đồng cư dân cần giữ gìn và phát huy hơn nữa giá trị của tài sản vô giá này

Tiểu kết chương 1: Mảnh đất Tổ cố kính thiêng liêng mang trong mình

những giá trị tiềm ẩn để mỗi người dân đất Việt muốn hành hương về đó một lần để viếng thăm và tìm về những giá trị truyền thống Với hệ thống lăng, chùa, đền và miếu thờ quy mô, kiến trúc độc đáo đền Hùng tạo cho mình một

vị thế đặc biệt trong mỗi người dân Việt Nam

Trang 29

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KHAI THÁC HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI

đã và đang có những chính sách tu bổ tôn tạo và phát triển hơn nữa mạng lưới xung quanh khu vực

Đến Quần thể di tích Đền Hùng du khách có nhiều lựa chọn phương tiện cho mình, du khách có thể đi xe máy, ô tô tàu hoả Trong những năm gần đây tỉnh Phú Thọ nói chung đang dự kiến trong giai đoạn 2011-2020 định hướng tới 2030 sẽ đầu tư 93,449 tỷ cho mục tiêu phát triển giao thông vận tải

Hi vọng với sự phát triển hơn nữa về giao thông, phương tiện giao thông thì khu di tích Đền Hùng sẽ có những thuận lợi riêng đón được nhiều khách du khách xa gần Hệ thống giao thông thuận lợi cả về đường bộ, đường sắt và đường thuỷ Qua địa bàn tỉnh có quốc lộ 2, quốc lộ 32, quốc lộ 70, đường sắt tuyến Hải Phòng- Hà Nội- Lào Cai đang được mở thành tuyến liên vận quốc

tế Đường cao tốc Nội Bài- Phú THọ- Lào Cai, đường xuyên Á và đường Hồ Chí Minh đang khởi công xây dựng Đường thuỷ có cảng Việt Trì (sông Hồng, sông Lô) là một trong ba cảng lớn ở miền Bắc, cảng Yến Mao (sông Đà), cảng Bãi Bằng (sông Lô) lưu thông về cảng Hải Phòng và Hà Nội Với

hệ thống giao thông thuận tiện đa dạng rất thuận lợi cho kinh tế nói chung phát triển và du lịch cũng phát triển theo xu thế đó

Trang 30

Đến với Quần thể di tích lịch sử- văn hoá Đền Hùng du khách có thể đi bằng rất nhiều cách đó là đi theo tuyến đường quốc lộ 2, quốc lộ 32, hoặc đi theo đường sắt dừng lại ở ga Tiên Kiên (Lâm Thao), ga Việt Trì…Xung quanh khu di tích tất cả các tuyến đường đều được dải nhựa và được mở rộng làn đường nhằm đáp ứng nhu cầu đi lại ngày càng cao của người dân địa phương cũng như du khách nhất là vào dịp chính hội

Một điều đáng chú ý Quần thể di tích Đền Hùng nằm sát quốc lộ 2 trục đường chính nối Hà Nội với các tỉnh biên giới phía Bắc càng thuận tiện cho việc đi lại của du khách ở xa Đối với những khách du lịch ở gần ngoài việc tổ chức đi tham quan bằng phương tiện gia đình còn có xe buýt đưa đón cũng khá thuận lợi

Trong xu thế phát triển chung phương tiện giao thông cũng được nâng cấp và hiện đại phục vụ du khách xa gần với chất lượng đảm bảo mang tới sự hài lòng nhất

2.1.2 Thông tin liên lạc

Trong đời sống hiện đại nói chung cũng như ngành du lịch không thể thiếu được các phương tiện thông tin đại chúng Mạng lưới bưu chính viễn thông Xung quanh Quần thể di tích Đền Hùng đều được phát triển với tốc độ nhanh theo hướng hiện đại hoá, đa dạng và rộng khắp đáp ứng được nhu cầu thông tin liên lạc trong nước và quốc tế Quanh khu di tích được bố trí các cột điện thoại công cộng, ở các xã lân cận đều có bưu điện để đáp ứng nhu cầu của người dân và du khách

Cuộc sống ngày càng được nâng cao hầu hết mỗi người đều sắm cho mình một chiếc điện thoại di động và đó cũng là cách liên lạc thuận tiện và nhanh chóng nhất Các trung tâm cung cấp internet, mạng không dây, cáp quang cũng được mọc lên ở khắp nơi để phục vụ cho nhu cầu của các cơ sở lưu trú phục vụ cho khách một cách hoàn thiện nhất

Trang 31

2.1.3 Điện nước

Điện nước là vấn đề được các cơ quan quản lý chú ý xây dựng và ngày càng hoàn thiện Tỉnh Phú Thọ đã có những định hướng đầu tư xây dựng phát triển mạng lưới điện để phục vụ cho các hoạt động sinh hoạt lao động, sản xuất của con người Hệ thống điện lưới của tỉnh tương đối ổn định và trải đều

ở các huyện Đến nay hình thành một hệ thống trạm, nguồn lưới truyền tải, các trạm trung gian và lưới điện phụ tải với tổng chiều dài đường cao áp là 990km, đường dây hạ thế 915km và 367 trạm hạ thế

Hệ thống cung cấp điện rộng lớn với nhà máy nhiệt điện Bãi Bằng đường dây 35kv, Thác Bà về nguồn 110kv (Thác Bà- Đông Anh- Bãi Bằng), đường dây 220kv (Hoà Bình- Sóc Sơn- Phú Thọ) Trong thời gian tới dự định

mở rộng trạm 110kv Việt Trì đạt công suất 80000kvA với công suất sử dụng điện như vậy rất hữu ích để phục vụ cho con người

Hệ thống cấp nước cũng ngày càng hoàn thiện và nâng cao Công suất nhà máy nước Việt Trì từ 36000m3 được nâng lên 60000m3 đáp ứng được yêu cầu sử dụng nước sạch của thành phố với chất lượng đảm bảo Lắp đặt mới dây chuyền xử lý nước tại đồi Mỏ Cú, làm mới hoàn toàn 157km đường ống từ phi 800 đến phi 80 xây dựng 2 đài nước 1.000m3 tại đồi Ong Vang và một đài nước 1.5000m3 tại đồi Cát Sứ cho phép cung cấp nước cho khu di tích lịch sử Đền Hùng Và còn rất nhiều hệ thống điện nước khác xung quanh khu di tích đảm bảo đáp ứng nhu cầu cho du khách

2.2 Thực trạng về cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch

Cơ sở vật chất kỹ thuật đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tạo ra và thực hiện sản phẩm du lịch cũng như quyết định mức độ khai thác tiềm năng du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu của khách du lịch Chính vì vậy mà việc phát triển của ngành du lịch bao giờ cũng gắn liền với việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật Quần thể di tích lịch sử văn hoá

Trang 32

Đền Hùng cũng đã và đang hoàn thiện cơ sở vật kỹ thuật hơn nữa để đáp ứng mọi nhu cầu của khách du lịch trong và ngoài nước

2.2.1 Cơ sở lưu trú

Nếu như năm 2006 xung quanh khu vực Đền Hùng có 75 cơ sở lưu trú với tổng số phòng là 1292 phòng thì tới năm 2010 ở đây đã có tới 158 cơ sở với 2266 phòng Với công suất sử dụng phòng ổn định luôn đạt mức 55.1% Doanh thu của ngành du lịch từ dịch vụ lưu trú năm 2010 đạt gần 60 tỷ đồng Với những con số thống kê như trên chúng ta thấy được sự gia tăng nhanh chóng của sơ sở lưu trú đã phần nào đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của du khách khi tới đây

Các khách sạn trên địa bàn đa dạng có khách sạn sang trọng để phục vụ những vị khách thương gia mức chi trả cao, cũng có những khách sạn gia đình bình dân để phục vụ du khách có mức chỉ trả thấp hơn Tuy nhiên hầu hết các khách sạn trong khu vực xung quanh Đền Hùng, hoặc vùng lân cận đều đáp ứng được những tiêu chí cơ bản như: Có đầy đủ các loại phòng khác nhau: phòng đơn, phòng đôi, phòng gia đình; Trong khách sạn có những thiết bị cơ bản của một khách sạn như: ti vi truyền hình cáp, máy lạnh, phòng tắm nóng lạnh, bar mini

Du khách có thể dừng chân tại các khách sạn xung quanh khu di tích như: Khách sạn Minh Ngọc (Ngã 3 Đền Hùng cách thành phố Việt Trì 11,5km), Khu sinh thái Đền Hùng- pudapest (Tổ1- Khu1- Vân Phú- Việt Trì cách trung tâm thành phố Việt Trì 11km), Khách sạn Hà Nội (2191 đường Hùng Vương), khách sạn Cầu Tây (Khu 4- Vân Phú-Việt Trì), khách sạn Hoàng Long (Phường Vân Cơ- Việt Trì), khách sạn Hồng Ngọc (1482 đại lộ Hùng Vương- Việt Trì)… Đặc biệt là khu nghỉ Mai An Tiêm nằm ngay trong Quần thể khu di tích

Ngày đăng: 16/09/2021, 17:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Nguyễn Thị Bích, (2007), Đền Hùng – lễ hội tiềm năng du lịch văn hóa cội nguồn, Nxb Tạp chí văn hóa đất Tổ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đền Hùng – lễ hội tiềm năng du lịch văn hóa cội nguồn
Tác giả: Nguyễn Thị Bích
Nhà XB: Nxb Tạp chí văn hóa đất Tổ
Năm: 2007
[2]. Vũ Kim Biên, (2010), Giới thiệu khu di tích lịch sử Đền Hùng, Nxb Văn hóa – Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu khu di tích lịch sử Đền Hùng
Tác giả: Vũ Kim Biên
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
Năm: 2010
[3]. Hoàng Hưng, (1970), Hùng Vương dựng nước – tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hùng Vương dựng nước – tập 1
Tác giả: Hoàng Hưng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1970
[4]. Hoàng Hưng, (1972), Hùng Vương dựng nước – tập 2, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hùng Vương dựng nước – tập 2
Tác giả: Hoàng Hưng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1972
[5]. Hoàng Hưng, (1973), Hùng Vương dựng nước – tập 3, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hùng Vương dựng nước – tập 3
Tác giả: Hoàng Hưng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1973
[6]. Hoàng Hưng, (1974), Hùng Vương dựng nước – tập 4, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hùng Vương dựng nước – tập 4
Tác giả: Hoàng Hưng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1974
[7]. Phạm Bá Khiêm, (2000), Đền Hùng di tích và cảnh quan, Nxb Giáo dục – Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đền Hùng di tích và cảnh quan
Tác giả: Phạm Bá Khiêm
Nhà XB: Nxb Giáo dục – Hà nội
Năm: 2000
[8]. Lê Lựu, (2005), Đền Hùng nơi hội tụ văn hóa tâm linh, Nxb Văn hóa - Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đền Hùng nơi hội tụ văn hóa tâm linh
Tác giả: Lê Lựu
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2005
[9]. Phạm Thị Ngọc Mai, (2006), Đền Hùng nơi hội tụ những giá trị văn hóa thời Hùng Vương, Nxb Tạp chí văn hóa đất Tổ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đền Hùng nơi hội tụ những giá trị văn hóa thời Hùng Vương
Tác giả: Phạm Thị Ngọc Mai
Nhà XB: Nxb Tạp chí văn hóa đất Tổ
Năm: 2006
[10]. Văn Tâm, (1973), Thời đại Hùng Vương: lịch sử - kinh tế - chính trị - văn hóa – xã hội, Nxb Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời đại Hùng Vương: lịch sử - kinh tế - chính trị - văn hóa – xã hội
Tác giả: Văn Tâm
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 1973
[11]. Lê Tượng, (2010), Đền Hùng di tích lịch sử văn hóa đặc biệt Quốc gia, Nxb Văn Hóa – Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đền Hùng di tích lịch sử văn hóa đặc biệt Quốc gia
Tác giả: Lê Tượng
Nhà XB: Nxb Văn Hóa – Thông tin
Năm: 2010
[12]. Đoàn Thị Huyền Trang, (2008), Sổ tay du lịch Việt Nam, Nxb Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay du lịch Việt Nam
Tác giả: Đoàn Thị Huyền Trang
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2008
[13]. Bùi Thị Hải Yến, (2010), Tuyến điểm du lịch Việt Nam, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyến điểm du lịch Việt Nam
Tác giả: Bùi Thị Hải Yến
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
[14]. Tổng cục du lịch, (1991), Non nước Việt Nam, Nxb Văn hóa – Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Non nước Việt Nam
Tác giả: Tổng cục du lịch
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
Năm: 1991

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ ĐỀN HÙNG – PHÚ THỌ - Quần thể di tích lịch sử   văn hóa đền hùng với hoạt động du lịch phú thọ
MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ ĐỀN HÙNG – PHÚ THỌ (Trang 60)
MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ ĐỀN HÙNG – PHÚ THỌ - Quần thể di tích lịch sử   văn hóa đền hùng với hoạt động du lịch phú thọ
MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ ĐỀN HÙNG – PHÚ THỌ (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w