1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa đền cuông và lễ hội đền cuông để phát triển du lịch

84 64 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo Tồn Và Phát Huy Giá Trị Di Tích Lịch Sử Văn Hóa Đền Cuông Và Lễ Hội Đền Cuông Để Phát Triển Du Lịch
Tác giả Cao Thị Huyền
Người hướng dẫn GV. Dương Thị Vân Anh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Du Lịch
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp Đại Học
Năm xuất bản 2012
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

15 Chương 2: NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA ĐỀN CUÔNG VÀ LỄ HỘI ĐỀN CUÔNG ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH ..... Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về Đền Cuông và lễ hội Đền

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA LỊCH SỬ

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian nghiên cứu và thực hiện đề tài, em đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học Đây cũng là kết quả phấn đấu trong suốt 4 năm học tập và rèn luyện dưới giảng đường đại học của em và công sức giảng dạy của biết bao thầy cô trong suốt thời gian qua

Trong quá trình thực hiện đề tài này em đã nhận được rất nhiều sự giúp

đỡ của các thầy cô khoa Lịch Sử và đặc biệt là cô giáo hướng dẫn Dương Thị

Vân Anh giảng viên trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành khóa luận này Qua

đây em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các quý thầy cô đã luôn tận tâm dạy dỗ, đem hết tri thức và khả năng của mình để truyền thụ cho em và giúp em hoàn thành xong đề tài khóa luận này

Tiếp theo, em xin gửi lời cảm ơn đến các cán bộ nhân viên của Ban Quản

lý di tích danh thắng Nghệ An đã giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình tìm hiểu và tổng hợp tư liệu

Em xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè và người thân những người đã luôn giúp đỡ và động viên em trong suốt thời gian qua

Trang 3

Và lời cảm ơn cuối cùng em muốn giành cho bố mẹ em là những người

đã có công sinh thành, nuôi dưỡng, dạy dỗ và giúp em có được những thành quả như hôm nay

Do thời gian có hạn cho nên không tránh khỏi thiếu sót, vì vậy em rất mong nhận được sự góp ý của các quý thầy cô và các bạn đọc Em xin chân thành cảm ơn

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Bố cục khoá luận 4

NỘI DUNG 5

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀN CUÔNG VÀ LỄ HỘI ĐỀN CUÔNG 5 1.1 Đền Cuông 5

1.1.1 Vị trí địa lý và cảnh quan di tích lịch sử - văn hóa đền Cuông 5

1.1.1.1 Vị trí 5

1.1.1.2 Đường đến di tích 5

1.1.1.3 Cảnh quan đền Cuông 6

1.1.2 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển di tích lịch sử - văn hóa đền Cuông 7

1.1.3 Tổng thể kiến trúc 10

1.2 Lễ hội đền Cuông 11

1.2.1 Thời gian và địa điểm tổ chức lễ hội 11

1.2.1.1 Thời gian tổ chức lễ hội 11

1.2.2 Quá trình diễn ra lễ hội 12

1.2.2.1 Quá trình chuẩn bị 12

1.2.2.2 Quá trình diễn ra lễ hội 15

Chương 2: NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA ĐỀN CUÔNG VÀ LỄ HỘI ĐỀN CUÔNG ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH 25

2.1 Các giá trị của khu di tích lịch sử - văn hóa đền Cuông và lễ hội đền Cuông 25

2.1.1 Giá trị lịch sử 25

2.1.2 Giá trị văn hóa, tâm linh 29

Trang 5

2.1.3 Giá trị kiến trúc nghệ thuật 38

2.1.4 Giá trị giáo dục, tư tưởng 48

2.1.5 Giá trị tinh thần, tín ngưỡng 49

2.2 Khai thác và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa đền Cuông và lễ hội đền Cuông vào phát triển du lịch 53

2.2.1 Thực trạng khai thác và phát triển 53

2.2.1.1 Tình hình khai thác giá trị di tích và lễ hội để phục vụ du lịch 53

2.2.1.2 Tình hình khách du lịch đến với di tích đền Cuông và lễ hội đền Cuông 55

2.2.2 Điều kiện phục vụ du lịch 57

2.2.1.1 Hệ thống giao thông 57

2.2.2.2 Các dịch vụ du lịch 57

2.2.2.3 Cơ sở vật chất kỹ thuật 57

2.2.2.4 Một số tồn tại yếu kém 59

Chương 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CỦA DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA ĐỀN CUÔNG VÀ LỄ HỘI ĐỀN CUÔNG VÀO PHÁT TRIỂN DU LỊCH 62

3.1 Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật 62

3.2 Đa dạng hóa các loại hình dịch vụ du lịch 64

3.3 Thiết kế các tour du lịch có điểm đến là khu di tích lịch sử - văn hóa đền Cuông 65

3.4 Tăngcường hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch cho khu di tích đền Cuông và lễ hội đền Cuông 66

3.5 Xã hội hóa việc bảo tồn và phát huy các giá trị của khu di tích đền Cuông và lễ hội đền 68

3.6 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 69

KẾT LUẬN 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

PHỤ LỤC 75

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH

Bảng 2.1: Tình hình lượt khách đến tham dự lễ hội Đền Cuông 55 Hình 2.1: Biểu đồ thể hiện số lượt khách đến với Đền Cuông và lễ hội Đền Cuông 56

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nghệ An là tỉnh có diện tích lớn nhất Việt Nam thuộc vùng Bắc Trung

Bộ Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Vinh, cách thủ đô Hà Nội

291 km về phía bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 1.424 km về phía nam Nghệ An được xác định là tỉnh có tiềm năng phát triển du lịch, với hơn 1.000 di tích lịch sử, trong đó có 131 di tích được xếp hạng quốc gia; 82km

bờ biển, có nhiều bãi tắm đẹp, nhất là bãi tắm Cửa Lò – một trong những bãi tắm đẹp nhất vùng biển phía Bắc Việt Nam…

Tuy có nhiều tiềm năng thuận lợi để phát triển du lịch nhưng chưa được đầu tư thích đáng để phát triển đúng tiềm năng vì thế đề tài này nhằm mục đích phát triển những tiềm năng của khu đền và lễ hội đền

Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về Đền Cuông và lễ hội Đền Cuông cũng như có rất nhiều sách và tạp chí đăng bài về Đền Cuông và lễ hội Đền Cuông nhưng chỉ mới tiếp cận dưới góc độ lịch sử văn hóa chứ chưa đi sâu tìm hiểu về tiềm năng du lịch và những chính sách chiến lược nhằm phát triển du lịch tại đây

Trang 8

Xuất phát từ nhận thức trên mà em chọn đề tài “Bảo tồn và phát huy

giá trị di tích lịch sử - văn hóa đền Cuông và lễ hội đền Cuông để phát triển du lịch” để nghiên cứu

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Về các giá trị của các ngôi đền và lễ hội đền ở Việt Nam nói chung và ở Nghệ An nói riêng đã được các nhà khoa học nghiên cứu cũng như nhiều tổ chức, cơ quan tìm hiểu, nghiên cứu và đã cho ra những công trình những tác phẩm có giá trị như:

- Đinh Gia Khánh: “Văn học dân gian”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia

Hà Nội – 1995 Tác giả đã nghiên cứu những nét văn hóa đặc sắc của việt Nam

- Phạm Văn Đồng: “Văn hóa và đổi mới” – Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội,1994

- Một số ấn phẩm của Sở văn hóa thể thao và du lịch tỉnh Nghệ An như:

- “Địa chí lễ hội Nghệ An” – Nhà xuất bản Nghệ An năm 2005 Tác phẩm đã khái quát sơ lược về những đền và lễ hội đền tại Nghệ An

Trên cơ sở kế thừa và tiếp nhận những công trình nghiên cứu trên mà em

đã tiến hành nghiên cứu vấn đề này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng:

Đối tượng nghiên cứu chính là ngôi Đền Cuông thuộc xã Diễn An huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An Đền nằm trên quốc lộ 1A và cách thành phố Vinh 30km về phía Bắc Và lễ hội Đền Cuông được tổ chức vào ngày 14 – 16 tháng

2 âm lịch hàng năm

- Phạm vi nghiên cứu:

Trong công trình nghiên cứu em sẽ tập trung làm rõ các giá trị lịch sử, văn hóa, tư tưởng, giáo dục của ngôi đền và lễ hội đền để từ đó nhấn mạnh đề

Trang 9

xuất một số giải pháp và nhận xét để khai thác hiệu quả hơn các giá trị của ngôi đền vào hoạt động du lịch ở Nghệ An nói riêng và cả nước nói chung

4 Phương pháp nghiên cứu

- Hồi cứu số liệu: Thu thập, hệ thống, phân tích tổng hợp các số liệu đã

được công bố có liên quan bao gồm:

+ Các sách giáo trình về văn hóa du lịch được dùng giảng dạy, học tập trong các trường đại học, cao đẳng ở Việt Nam

+ Các sách chuyên khảo về văn hóa, du lịch, về đời sống tâm linh, về lễ hội đền ở Việt Nam

+ Các bài nghiên cứu về lễ hội đền nói chung và ở Nghệ An nói riêng được công bố trên các tạp chí Văn hóa – Thể thao – Du lịch

+ Các bài có liên quan trên các trang website rõ nguồn gốc

+ Một số luận văn cao học thạc sỹ, khóa luận tốt nghiệp đại học có liên quan đến vấn đề này

+ Những văn kiện của Đảng và Chính sách nhà nước về bảo vệ di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh Việt Nam

+ Những bài báo điện tử và những điều luật của Ban chỉ đạo nhà nước về

du lịch và của tổng cục du lịch

- Phương pháp phỏng vấn không chính thức: Để thu được các thông

tin trực tiếp từ các cá nhân bằng việc áp dụng các câu hỏi rộng để định hướng cuộc trao đổi, trong đó cho phép đưa ra các câu hỏi nhằm nâng cao kết quả thảo luận bao gồm việc xác định mục tiêu và nhu cầu thông tin cần hỏi và thiết lập Thống nhất về đối tượng phỏng vấn Sử dụng các câu hỏi trước khi phỏng vấn để đảm bảo phù hợp và hiệu quả Phân tích thông tin thu được từ các cuộc phỏng vấn Lấy ý kiến của những người cao tuổi trong các làng gần khu đền, những người trong ban quản lý khu di tích và những người trong

Trang 10

trung tâm văn hóa huyện Diễn Châu… Khảo sát thực địa về kiến trúc và quy

mô của khu đền cũng như tham gia vào lễ hội đền Cuông 2012…

- Điều tra trực tiếp trên thực địa theo phương pháp quan sát, chụp ảnh

5 Bố cục khoá luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục thì khoá luận gồm có 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về đền Cuông và lễ hội Đền Cuông

Chương 2: Những giá trị của Di tích Lịch sử - Văn hóa đền Cuông và

lễ hội đền Cuông đối với phát triển du lịch

Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá

trị của Di tích Lịch sử - Văn hóa đền Cuông và lễ hội đền Cuông vào phát triển du lịch

Trang 11

NỘI DUNG Chương 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀN CUÔNG VÀ LỄ HỘI ĐỀN CUÔNG

Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, đền thuộc xã Quang Trung, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An Năm 1956, xã Quang Trung chia làm hai xã là Diễn Trung và Diễn An Đền Cuông thuộc địa phận xóm Đông, xã Diễn An, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An Từ năm 1976 đến năm 1991, đền thuộc địa phận tỉnh Nghệ Tĩnh do hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh sát nhập vào nhau Từ sau năm 1991 đến nay, đền thuộc địa phận xóm Đông, xã Diễn An, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An

Ngày 21 tháng 2 năm 1975, Bộ văn hóa đã có quyết định 09 công nhận

di tích đền Cuông là di tích lịch sử văn hóa quốc gia Sự kiện đó đã chứng tỏ đền Cuông có giá trị lớn lao về nhiều mặt, có vị trí nhất định trong nền văn hóa Việt Nam

1.1.1.2 Đường đến di tích

Đền Cuông nằm sát phía Đông đường quốc lộ 1A, là cực Nam huyện Diễn Châu Đến với di tích có thể đi bằng đường bộ, đường biển hay đường sắt đều thuận tiện

Trang 12

Nếu xuất phát từ thành phố Vinh, chúng ta đi theo quốc lộ 1A về hướng Bắc đến km30, khu di tích nằm ngay bên phải Quốc lộ

Ngoài ra có thể đi bằng tàu hỏa dọc theo tuyến đường sắt Hà Nội – TP

Hồ Chí Minh, tới ga Mỹ Lý ( Diễn Châu) chỉ cần đi bộ 1km quý khách có thể vãn cảnh đền Còn bằng đường biển quý khách neo thuyền tại cửa Hiền, qua 3km du ngoạn trên núi Mộ Dạ, Đền Cuông sẽ ở ngay trước mắt các bạn

1.1.1.3 Cảnh quan đền Cuông

Ở Nghệ An thuở đầu, tại Cửa Hiền, Thục An Dương Vương được thờ phụng trong một miếu nhỏ, xinh xắn nhưng uy nghiêm, lưng đền tựa vào núi, mặt hướng ra biển Đông

Ngày nay, khi đặt chân đến Diễn An, chúng ta sẽ bắt gặp đền Cuông Một ngôi đền thâm nghiêm cổ kính ở lưng chừng núi Mộ Dạ Sau núi là biển

cả mênh mông, ngày đêm sóng vỗ, và cứ mỗi ban mai vầng dương từ biển biếc nhô lên phủ cho cảnh vật những ánh hào quang rực rỡ

Có thể xem đền Cuông là điểm đầu của rừng thông bạt ngàn Trước cửa đền là quốc lộ 1A trải nhựa mịn màng, là đường sắt xuyên Việt uốn lượn mềm mại giữa những đồi thông Ô tô, tàu hỏa, xe khách, xe đạp, khách bộ hành hoạt động náo nhiệt ngày đêm

Tồn tại cùng đền Cuông, không xa có kênh nhà Lê, một dòng kênh lịch

sử, vua Lê Đại Hành táo bạo vạch kế hoạch đào kênh từ Yên Định đến phía Nam huyện Tĩnh Gia nhập vào sông Bá Hòa để mở đường vào trấn giữ vùng đất phên dậu Năm Kiến Trung thứ 7(1231) hoạn quan Nguyễn Bang Cốc được lệnh Trần Thái Tông huy động binh sỹ tạo thêm kênh hào, kênh trầm từ Tĩnh Gia vào phía Nam Diễn Châu, rồi lại tiếp tục mở luồng kênh sắt khoảng

15 dặm từ phía Đông Bắc Hưng Nguyên xuyên tới địa phận Phủ Diễn Toàn

bộ dòng kênh ấy, người ta thường gọi là ” kênh nhà Lê” Đoạn chạy qua đền

Trang 13

Cuông gọi là kênh sắt, vì đây là vùng bãi thải của quặng sắt làng rèn Nho Lâm

1.1.2 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển di tích lịch sử - văn hóa đền Cuông

Đền Cuông là đền thờ Thục An Dương Vương Tên thường gọi: Đền Cuông hay Đền Công

Đền được lập nên để thờ vị vua, vị anh hùng dân tộc có họ Thục, tên Phán, danh hiệu An Dương Vương đã trị vì đất nước vào khoảng nửa sau thế

kỷ 3 TCN

Di tích có tên gọi là Đền Công hay Đền Cuông vì rằng:

Từ xa xưa, Mộ Dạ chỉ có núi là núi, chim muông và thú dữ, cách đây khoảng 100 năm còn có hàng ngàn đàn khỉ tràn xuống phá hoại hoa màu ở những cánh đồng hoang mới vỡ, có cả hổ về đồng nội và nghe các cụ truyền lại, Mộ Dạ có rất nhiều chim Công Công mái, Công trống rủ nhau tình tự trên tảng đá cạnh bờ biển Công xòe đuôi múa rực rỡ sắc màu Không chỉ núi có nhiều chim Công mà thế núi Mộ Dạ trông xa gần giống một con chim Công khổng lồ đang múa, đuôi Công xòe ra tận làng La Vân ( huyện Nghi Lộc), hai cánh giang rộng với điệp trùng những ngọn núi lúp xúp Đầu Công chính là nơi dựng đền thờ Thục An Dương Vương Vì thế đền thờ Thục An Dương Vương cũng được gọi là đền Công Tiếng địa phương gọi là đền Cuông Tên gọi đền Công hay đền Cuông hình thành từ đó

Thuở đầu, Thục An Dương Vương được thờ phụng trong một miếu nhỏ tại cửa Hiền, một cửa biển đẹp cách đền Cuông ngày nay 3km về phía Đông thuộc địa phận xã Diễn Trung, Diễn Châu, Nghệ An ngày nay Theo truyền thuyết, lúc cùng đường An Dương Vương đã tự vẫn tại cửa Hiền Thương tiếc ông nhân dân đã lập miếu thờ nhưng nay miếu đã không còn nữa

Trang 14

Trong ký ức của nhân dân lúc bấy giờ, đền được xây cất rất đơn giản

Phạm Đình Hổ trong (Vũ Trung tùy bút) đã ghi nhận điều đó: ”nhân việc nhà,

tôi đi qua đền Cuông, đứng trên đầu hạc nhìn xuống biển, đền Thục An Dương Vương nằm sát chân núi, nhìn Tây thấy cổ Hạc xanh rì, đàn Công múa rất đẹp, qua trung điện xuống hạ điện mái lợp tranh, qua ba cấp là xuống núi”

Các cụ cao tuổi trong vùng cho biết: Vào đời vua Gia Long lúc mới lên ngôi (1802) đã cho tu sửa đền, tu sửa ra sao thì không tài liệu nào chép lại Năm Giáp Tý niên hiệu Tự Đức 1864, đền Cuông được trùng tu lại quy mô như ngày nay Hiện còn chữ khắc ở ván ấp nhà hạ điện Cũng qua lời kể của các cụ thì đến thời vua Thành Thái vị vua thứ 10 của triều nhà Nguyễn(1897) nhà thượng điện được xây dựng lại cho xứng đáng là nơi thờ phụng vị vua chủ

Niên hiệu Khải Định(1916), đền Cuông lại được tu lý phần nền bên ngoài, tô vẽ bên trong thay sơn thuốc đã phai nhạt

Năm 1947, Xã Quang Trung di chuyển ra khỏi khuôn viên của ngôi đền Năm 1956, Ủy ban Hành Chính tỉnh Nghệ An cho xây thêm hai nhà tả vu

và hữu vu Đồng thời cho sửa chữa hệ thống của ván nhà trung điện

Năm 1963, Bộ Văn hóa đã cấp kinh phí tu sửa được hệ thống cổng ngoài, xây thêm tắc môn, di chuyển nhà bia và bia đá (vị trí sát tường rào phía Bắc đến vị trí ngày nay)

Tháng 10/1971, Ty Văn hóa Nghệ An cho tu sửa và đảo ngói hạ điện, trung điện và thượng điện

Năm 1972, Ty Văn hóa Nghệ An cho đảo ngói nhà tả vu và hữu vu Năm 1975, Ty Văn hóa Nghệ An đã tổ chức trùng tu lại đền Cuông với các phần việc chủ yếu: trùng tu nhà thượng điện, trung điện, hạ điện, tả vu và

Trang 15

hữu vu Trùng tu hệ thống tam quan, tường giắc, tường bao quanh khuôn viên, trụ cổng nhà voi và nhà ngựa

Năm 1979, Ty Văn hóa Thông tin Nghệ Tĩnh cho đảo ngói nhà hạ điện nhà tả vu và hữu vu, sửa sang nhà thượng điện

Năm 1989 – 1990, Bảo tàng Nghệ Tĩnh cho đóng lại một số cửa ván, đảo ngói nhà trung điện và thượng điện

Năm 1993, Bảo Tàng Nghệ An phối hợp với Trung Tâm Văn hóa Thể thao huyện Diễn Châu và Ủy Ban Nhân Dân xã Diễn An đã tiến hành:

1 Đảo ngói lại nhà hạ điện, trung điện, thượng điện, tả vu và hữu vu

2 Sữa chữa trần nhà trung điện

3 Thay cánh cửa nách bên trái nhà trung điện

4 Đào thêm một giếng nước

5 Thay bào ngang ngạch cửa

6 Tô lại các câu đối

7 Đắp, vá lại tượng voi

8 Mua mới 1 hương án, 1 hạc gỗ, 1 giường, 1 bàn, 1 ghế

Ngày 16 tháng 12 năm 1996, ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An có quyết định số 4570/QĐ-UB phê duyệt dự án đầu tư, tôn tạo và nâng cấp khu di tích đền Cuông Dự án này được tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc UNESSCO tài trợ 10.000USD,bộ văn hóa thông tin hỗ trợ 200.000.000 để tu sửa di tích và phục hồi lễ hội đền Cuông

Ngày 5 tháng 3 năm 1999, ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An có quyết định

số 788/QĐ-UBKH và quyết định số 793/QĐ - UB về phê duyệt quy hoạch chi tiết khu du lịch lịch sử văn hóa Đền Cuông - Cửa Hiền và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng cầu Cấm - đền Cuông thời kỳ 1996-2010 do trung tâm khoa học công nghệ và kiến trúc Hà Nội - hội kiến trúc sư Việt Nam lập

Trang 16

Ngày 19 tháng 11 năm 2003, ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An có công văn

số 5070/CV – UBVX của ủy ban nhân dân tỉnh gửi bộ văn hóa thông tin về chủ trương lập dự án bảo tồn, tôn tạo di tích đền Cuông Ngày 27 tháng 2 năm

2004, bộ văn hóa thông tin có công văn số 576/CV-BHTT-KHTC gửi ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An về việc thỏa thuận chủ trương lập dự án bảo tồn, tôn tạo di tích đền Cuông Sau khi có chủ trương của bộ văn hóa thông tin, ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An, sở văn hóa thông thông tin tỉnh Nghệ An chọn công

ty mỹ thuật Trung ương lập dự án khả thi bảo tồn, tôn tạo di tích đền Cuông Năm 2006, dự án đã được khởi công và hoàn thành với các hạng mục chính là: bảo tồn, tôn tạo, nâng cấp đền Cuông; xây dựng nhà làm việc của ban quản

lý di tích và nhà lưu niệm; xây dựng hệ thống bãi đậu xe; nâng cấp, mở rộng sân lễ hội

Tháng 1 năm 2009, ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An đã cho thay mới toàn

bộ nội thất ở trong đền đã bị hư hỏng, đặt bàn thờ Phật vào gian tả vu và chuyển bàn thờ công chúa Mỵ Châu từ tả vu sang hữu vu Kiệu của vua An Dương Vương cũng được chuyển từ hữu vu sang tả vu còn kiệu công chúa vẫn ở để hữu vu, ở phía bên trái bàn thờ công chúa

1.1.3 Tổng thể kiến trúc

Khu di tích đền Cuông hiện nay được cấu thành bởi 10 công trình kiến trúc, nằm trong tổng thể diện tích 2552m Các công trình được bố trí trên mặt bằng tổng thể hoàn mỹ, hài hòa Tọa theo độ dốc của sườn núi Mộ Dạ

Nếu quan sát từ ngoài quốc lộ 1A lên dần đến nhà Thượng điện chúng ta

sẽ bắt gặp hệ thống cổng số 1(cổng ngoài), tắc môn, qua hệ thống cổng số 2 tới nhà Bia, qua sân điện vượt qua 16 bậc lên đến tam quan, sát sau tam quan

là nhà hạ điện với hai bên là tả vu và hữu vu Qua Trung điện tới Thượng điện

và sau cùng là hệ thống tường bao quanh khuôn viên

Trang 17

Toàn bộ các công trình này được liên kết với nhau bởi các khoảng sân, vườn hoa cây cảnh trông thật hợp lý

Đền Cuông được xây dựng với quy mô khá đồ sộ ở vị trí rất đẹp chim phượng ngậm thư Từ dưới lên các công trình được bố cục hết sức hợp lý tạo thành đường nét hài hòa nhưng từng công trình có những nét đẹp riêng mang dấu ấn riêng

Cả khu đền được hệ thống tường xây bao quanh ngăn cách với rừng cây bên ngoài, chu vi lên tới 229km Tường xây bao bọc khu di tích đền Cuông là công trình làm tăng thêm vẻ uy nghiêm của đền vừa bảo vệ đền khỏi mọi sự xâm hại

1.2 Lễ hội đền Cuông

1.2.1 Thời gian và địa điểm tổ chức lễ hội

1.2.1.1 Thời gian tổ chức lễ hội

Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, hàng năm bốn thôn là Tập Phúc, Cao Ái, Cao Quan, Yên Phụ tổ chức lễ tế thần, mỗi năm có một kỳ đại tế gọi

là quốc tế vào 15 tháng 2 âm lịch chứ không tổ chức lễ hội như Cổ Loa Lý do tại sao lại lấy ngày 15 tháng 2 âm lịch làm ngày đại tế thì hiện nay không có

ai biết nữa cả Những vị cao tuổi nhất, phục vụ lâu nhất cũng không biết và sử sách cũng không ghi lại Ngày 15 tháng 2 âm lịch đến nay chưa xác định được

là có gắn với sự kiện quan trọng nào trong cuộc đời của vua An Dương Vương hay công chúa Mỵ Châu

Ngoài ngày 15 tháng 2 âm lịch, Tứ Thôn còn một kỳ tế lễ nữa vào ngày

16 tháng 5 âm lịch Ngoài những kỳ tế lễ như trên và những ngày “ sóc vọng tuần tiết” do ban phụng sự cúng lễ, hàng ngày vẫn có người đến tế thần cầu ban phúc Nhưng lễ cầu lớn nhất là lễ cầu đảo Những năm hạn hán to dân Tứ Thôn, có khi dân cả huyện phải lập đàn tế cầu với thần lên tâu với trời xin mưa

Trang 18

Mùa xuân năm Quý Dậu (1993), Huyện ủy và ủy ban nhân dân huyện Diễn Châu đã quyết định lấy ngày 15 tháng 2 âm lịch làm ngày tổ chức lễ hội Đền Cuông hàng năm Thế nhưng lễ hội bắt đầu từ ngày 14 tháng 2 âm lịch đến hết ngày 16 tháng 2 âm lịch thì kết thúc Lễ hội Đền Cuông ra đời từ đó nhưng có nguồn gốc từ những kỳ đại lễ lâu đời

1.2.1.2 Địa điểm tổ chức lễ hội

Lễ hội Đền Cuông được tổ chức ở Đền Cuông thuộc xã Diễn An, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An Khuôn viên giành cho lễ hội rất lớn bao gồm đền, khoảng sân đối diện đền cho các hoạt động hội với diện tích lên tới 21 000m2

Trong đó, khuôn viên của đền chiếm 2400m2, đất dự trữ 1600m2, sân lễ hội phụ phía đông đường quốc lộ 1A chiếm 12 000m2, các công trình công cộng khác 5000m2

Hiện nay, Huyện Diễn Châu đang có dự án khôi phục lại miếu Mỵ Châu

và giếng Trọng Thủy đã bị phá hoại trong chiến tranh với tổng diện tích khoảng 2000m2

Ngoài ra, huyện cũng đang dự định xây thêm hòn Thần, lầu Kim Quy, và mở rộng diện tích sân phụ làm bãi cắm trại trong lễ hội Sau khi hoàn thành thì không gian cho lễ hội diễn ra sẽ lên tới 26 400m2

Sau khi nhận được công văn của lãnh đạo cấp trên, xã Diễn An sẽ tiến hành chọn lựa những người tham gia vào phần tế lễ ở đền và lên kế hoạch cho

họ luyện tập Những người tham gia vào phần lễ bao gồm: ban hành lễ, ban

âm nhạc và đội rước kiệu

Trang 19

Ban hành lễ bao gồm một ông chủ tế, hai ông bồi tế, một người đọc văn, hai ông Đông xướng và Tây xướng, từ sáu đến mười người dâng hương tùy từng năm Những người đại diện hành lễ đều là những cụ trong hội người cao tuổi xã Diễn An

Đội âm nhạc phục vụ lễ khoảng 15 người, họ sử dụng rất nhiều loại nhạc

cụ dân tộc như trống, kèn, chiêng, đàn bầu, đàn tranh… và một đội ca trù Đội rước kiệu bao gồm hàng chục người mà phần lớn là thanh niên trai tráng Đây là những người sẽ cầm cờ, lọng, biển nhỏ sơn son thiếp vàng, rước kiệu… trong lễ rước kiệu

Trước khi lễ hội diễn ra khoảng vài ngày, ban tổ chức sẽ cử một đội dọn dẹp lại đền Cuông, đình Xuân ái, lau chùi bàn thờ, đồ tế khí và sửa sang lại kiệu Về phần xã Diễn Thọ thì nơi đây là quê hương Cao Lỗ và trong lễ hội có phần rước kiệu từ nhà thờ họ Cao ra đền nên họ phải chuẩn bị phần lễ của mình Phần việc này do ban tộc cán nhà họ Cao và ủy ban nhân dân xã Diễn Thọ phụ trách Từ đầu tháng 2 âm lịch hàng năm, họ phải chuẩn bị đội hành

lễ ở đền, văn tế và đội rước kiệu Ngoài ra, họ còn phải dọn dẹp lại nhà thờ, lau chùi và sửa sang lại kiệu rước Cao Lỗ

b Chuẩn bị phần hội

Công việc chuẩn bị cho phần hội lâu dài và phức tạp hơn cho phần lễ rất nhiều Đây không phải là công việc của một người mà là của rất nhiều người, nhiều tổ chức, nhiều đoàn thể khác nhau

Trước khi lễ hội diễn ra ban tổ chức sẽ cho dọn dẹp lại toàn bộ khuôn viên dành cho hội Để chuẩn bị cho trò chơi đu, hàng năm cứ đến ngày 13 âm lịch thì sẽ có một chiếc đu được dân làng Diễn An dựng lên ở sân hội Với trò chơi chọi gà, các cá nhân có gà muốn đem về thi tài trong lễ hội phải đăng ký với ban tổ chức để ban tổ chức tổ chức bốc thăm, sắp xếp lịch thi đấu

Trang 20

Trước lễ hội, ban tổ chức sẽ thông báo cho các xã những môn thể thao được tổ chức thi đấu ở lễ hội năm đó thường là bóng đá và bóng chuyền cho

Đối với đêm hội hát ca trù thì hàng năm, trước mùa lễ hội sẽ có những đoàn hát ca trù của tỉnh, huyện và các xã về đăng kí biểu diễn với ban tổ chức

để ban tổ chức sắp xếp chương trình

Trước khi diễn ra lễ hội, ban tổ chức lễ hội sẽ tổ chức khoanh vùng lô đất trong khu đất trống đối diện đền và trên đường mòn lên đỉnh núi Mộ Dạ để cho các gia đình, các nhân, doanh nghiệp thuê để bán hàng trong dịp lễ hội Năm nào ở đền Cuông cũng có rất nhiều xã về tham gia cắm trại trong dịp

lễ hội Huyện Diễn Châu có 39 xã và 1 thị trấn nên mỗi năm ban tổ chức lại chia

ra mười xã cắm trại Và mỗi xã bốn năm mới được cắm trại một lần Sau đó, ban

tổ chức quy hoạch đất đai và quy định phần đất cắm trại cho từng xã

Các trò chơi giải trí khác do các cá nhân đứng ra kinh doanh cũng phải đăng kí ban tổ chức để thuê một khu đất cho mình Chiều ngày 13 tháng 2, họ

Trang 21

bắt đầu dựng gian hàng tổ chức trò chơi của mình lên để chuẩn bị cho lễ hội ngày mai

1.2.2.2 Quá trình diễn ra lễ hội

vệ sinh xung quanh đền

Lễ cáo trung thiên

Sau khi kết thúc công việc dọn dẹp đền và xung quanh đền, lễ cáo trung thien sẽ được tổ chức Thường thường, lễ diễn ra vào 8 giờ sáng ngày 14 tháng 2 âm lịch hàng năm Lễ cáo trung thiên do ban hành lễ đảm nhiệm, không có sự tham gia của đội âm nhạc Lễ diễn ra khá đơn giản và nhanh chóng, chỉ trong khoảng 30 phút

Nội dung của lễ là báo với các vị là công việc dọn dẹp đã hoàn thành, mời các vị về đền tham dự lễ hội và lắng nghe những nguyện vọng, mong ước

và chứng giám cho lòng thành kính của nhân dân

Lễ yết

Đây là lễ thứ ba trong phần lễ cũng là lễ có tính chất mở đầu cho lễ hội Đền Cuông Lễ được diễn ra vào khoảng 17 giờ chiều ngày 14 tháng 2 âm

lịch

Trang 22

Khoảng 3 giờ chiều, lễ vật do ban tổ chức chuẩn bị được đưa lên bàn thờ

ở cả hạ điện, trung điện, thượng điện và tả vu Gần đến giờ tiến hành lễ yết, tất cả mọi người bao gồm ban hành lễ, đội âm nhạc và đại diện các đoàn về dâng hương đều phải tập trung trước hạ điện để chuẩn bị làm lễ Trước khi lễ yết được bắt đầu, ban tổ chức sẽ cho đóng cửa tam quan, không cho nhân dân vào đền để không ồn ào, ảnh hưởng đến không khí trang nghiêm của buổi lễ Khoảng 5 giờ chiều thì lễ yết được bắt đầu Đầu tiên, trước khi ban hành

lễ làm việc, một người hướng dẫn chương trình do ban tổ chức cử ra sẽ đọc diễn văn Nội dung của diễn văn là ca ngợi công lao của vua An Dương Vương và nói lên tầm quan trọng của đền

Sau đó, người dẫn chương trình sẽ lần lượt giới thiệu các đoàn có đại diện về dự lễ lên thắp hương và dâng lễ vật theo nguyên tắc từ cao xuống thấp, nghĩa là từ các cơ quan của tỉnh đến huyện, các huyện ban, xã Diễn An

và cuối cùng là các xã khác

Sau phần dâng hương của ban tổ chức là phần hành lễ của ban hành lễ

Lễ yết gồm sáu bước được tiến hành qua ba mươi lăm lần xướng trong đó chỉ

có một lần xướng ở mỗi bước

Nội dung của lễ yết là xin phép các vị cho mở lễ và mời các ngài về dự

lễ Không khí trong suốt buổi lễ rất trang nghiêm Trong suốt buổi lễ, đội âm nhạc làm việc liên tục khiến cho buổi lễ càng trang nghiêm, cổ kính hơn

Lễ sẽ kết thúc vào khoảng tám giờ tối Sau khi lễ yết kết thúc, phần lớn

lễ vật được đưa xuống khỏi bàn thờ, chỉ để lại một vài mâm ngũ quả trên bàn thờ Kết thúc phần hành lễ của ban hành lễ là phần dâng hương Sau đó, cửa tam quan được mở để cho nhân dân lên dâng hương

Lễ rước kiệu

Tương truyền rằng ngày xưa rất xưa, một buổi sáng dân làng chài ra biển thấy một chiếc kiệu từ biển Đông trôi vào cửa Hiền Sóng đẩy kiệu lên bờ

Trang 23

Dân làng ven ấy ra khiêng nhưng không sao khiêng nổi Nhưng đến khi dân làng Cao Ái ra khiêng thì khiêng nổi Và kiệu được rước về đình Xuân Ái Đó

là hồn thiêng của vua Thục từ biển Đông về nhập điện Ngài đã chọn dân Cao

Ái ra rước kiệu về

Từ truyền thuyết đó, hàng năm trong lễ hội đền Cuông mới có lễ rước kiệu Lễ diễn ra vào khoảng 23 giờ tối ngày 14 tháng 2 âm lịch Việc đầu tiên trong quá trình diễn ra lễ là phải làm lễ xin vua và công chúa cho phép nhân dân được mang linh vị lên kiệu để đưa về đình Xuân Ái phục vụ cho lễ rước kiệu ngày mai Công việc này do ban hành lễ đảm nhiệm

Nhà thờ họ Cao là nhà thờ của dòng họ Cao con cháu của tướng quân Cao Lỗ, một vị tướng tài ba trong thời đại An Dương Vương, đã có công chế tạo ra nỏ thần và đánh đuổi ngoại xâm Việc rước kiệu từ nhà thờ họ Cao ra đền nhằm thể hiện lòng thành kính của nhân dân với vị tướng tài ba ấy khi tưởng nhớ về một thời hào hùng đã qua của dân tộc

Sáng sớm tinh mơ ngày 15 tháng 2 âm lịch, các vị trong ban hành lễ và đội âm nhạc, đội rước kiệu phải có mặt ở đình Xuân Ái để chuẩn bị làm lễ Ở nhà thờ họ Cao thì từ bốn giờ sáng đã chuẩn bị làm lễ rước kiệu về đình Xuân

Ái để khoảng sáu giờ sáng có mặt ở đình để cùng làm lễ về đền

Bốn giờ sáng, các vị chức sắc trong nhà thờ họ Cao bắt đầu làm lễ xin ngài Cao Lỗ cho phép rước linh vị ngài ở nhà thờ đưa lên kiệu về đền Sau đó,

vị trưởng dòng họ Cao đại tôn sẽ rước bài vị của ngài Cao Lỗ lên kiệu và bắt đầu rước kiệu về đình

Đi đầu đám rước là những người cầm cờ lễ, những nhạc cụ như trống, kèn, sáo, chiêng… rồi đến kiệu, một số vị chức sắc và sau cùng là dân làng Đoàn rước kiệu vừa đi, những người cầm nhạc cụ vừa gõ trống chiêng… rất sôi nổi, rộn ràng Khi đến đình Xuân Ái, đoàn rước kiệu dừng lại và đưa kiệu vào trong sân đình Lúc này thì ở đình Xuân Ái cũng đã chuẩn bị xong Kiệu

Trang 24

của vua và công chúa đã được đưa ra sân đình, lễ vật là mâm ngũ quả, mâm xôi, con gà đã được đưa lên bàn thờ Khi kiệu của nhà thờ họ Cao đến, tất cả cùng vào làm lễ ở đình Lúc này là khoảng sáu giờ sáng

Nội dung của lễ là xin các vị cho phép nhân dân rước kiệu về đền Kết thúc lễ là khoảng bảy giờ sáng Sau đó cả ba kiệu được rước về đền Đi đầu đám rước là cờ lễ của cả đình và nhà thờ, ban âm nhạc, tiếp đến là kiệu của vua An Dương Vương, sau đó là kiệu của công chúa Mỵ Châu, và tiếp theo nữa là kiệu của tướng Cao Lỗ Những người trong ban hành lễ sẽ chia nhau đi xen vào giữa ba kiệu, nhân dân sẽ đi sau cùng, cửa chính của tam quan sẽ được mở ra để cho đoàn rước kiệu đi vào Kiệu được đặt ở sân trước bái đường để chuẩn bị làm lễ

Kiệu tướng Cao Lỗ và công chúa Mỵ Châu được đặt ở phía trước, bên phải nhà bái đường Sau khi về đến đền, việc đầu tiên là chủ tế rước bài vị của các vị, đầu tiên là vua An Dương Vương, sau đến công chúa Mỵ Châu và sau cùng là của tướng Cao Lỗ về bàn thờ của mỗi người

Sau khi đại lễ ở đền kết thúc, nhân dân lại tiếp tục rước kiệu từ đền về nhà thờ họ Cao Lễ rước kiệu về vẫn bao gồm đội ngũ, trật tự như lúc rước kiệu đi, chỉ khác là còn ít nhân dân đi theo kiệu vì nhân dân ở lại đền thắp hương, khấn vái và tham gia hội

Đại lễ tại đền

Lễ đại là lễ chính trong phần lễ của lễ hội Đền Cuông, đây là lễ lớn nhất, kéo dài nhất và đông người tham gia nhất Lễ đại diễn ra vào sáng ngày 15 tháng 2 âm lịch Lễ đại do ban hành lễ, ban âm nhạc đảm nhiệm

Sau khi rước kiệu từ đình Xuân Ái về đền, ban hành lễ bắt đầu chuẩn bị cho đại lễ Lễ vật được đưa lên gian tả của hạ điện để chuẩn bị hành lễ, bái đường được quét dọn sạch sẽ Những đại diện cho ban ngành, đoàn thể về dự cũng phải tập trung về trước hạ điện từ 9 giờ rưỡi sáng Sau đó cổng tam quan

Trang 25

bị đóng lại, những cán bộ bảo vệ được giao nhiệm vụ giữ hai con đường mòn lên núi, không cho nhân dân từ trên núi xuống đền để không làm ảnh hưởng đến không khí trang nghiêm của buổi lễ Đến 10 giờ sáng thì tất cả mọi người

đã sẵn sàng cho lễ diễn ra

Đầu tiên như trong lễ yết, người dẫn chương trình sẽ đọc diễn văn ca ngợi công lao của vua và nói lên tầm quan trọng của đền Sau đó, những đoàn

có cử đại diện về dự lễ tại đền lại lên dâng hương như trong lễ yết chỉ khác là

lễ vật bây giờ là mâm xôi và con gà Các cô thanh niên sẽ đội mâm cỗ lên đầu

và đưa lên bàn thờ Trình tự của buổi hành lễ vẫn giống như lễ yết cáo, nội dung cũng tương tự nhưng chỉ thêm hai phần là dâng hương rượu nữa thành

ba tuần hương rượu Như vậy đại lễ bao gồm tám bước

Buổi lễ là sự phối hợp nhịp nhàng giữa ông đông xướng, tây xướng, những nhạc công và những người hành lễ

Kết thúc phần hành lễ của ban hành lễ, cũng như trong lễ yết là phần dâng hương Đầu tiên, đại diện của các ban ngành mỗi người cầm một que hương lên thắp Sau đó cửa tam quan được mở để cho nhân dân lên dâng hương

Sau khi làm xong lễ, kiệu của vua và công chúa được đưa vào tả vu và lễ vật cũng được hạ xuống chỉ để lại một vài mâm ngũ quả

Lễ tất

Đến 8 giờ sáng ngày 16 tháng 2 âm lịch, lễ tất được tiến hành Lễ tất được tiến hành rất đơn giản Lễ vật là mâm ngũ quả và lễ chỉ có một bước Nội dung của lễ là cảm ơn các vị đã về dự lễ Sau lễ kết thúc, tất cả lễ vật trên bàn thờ được hạ xuống để mọi người hưởng lộc vua ban Sau lễ tất, phần lễ của lễ hội xem như kết thúc nhưng phần hội còn kéo dài cho đến hết ngày 16 mới kết thúc

Trang 26

Lễ túc trực

Trong suốt thời gian diễn ra lễ hội, luôn có một ban túc trực do ban tổ chức cử ra để trông nom hương khói trên bàn thờ trong suốt thời gian diễn ra

lễ hội Do số lượng người về dự hội quá đông nên ban tổ chức không thể cho

họ thắp hương trong đền được mà chỉ được thắp hương ở khu vực sân đền Việc thắp hương, dọn dẹp bàn thờ trong suốt thời gian diễn ra lễ hội cả ngày lẫn đêm do ban túc trực chịu trách nhiệm

b Phần hội

Hội có thể nói là phần đặc sắc nhất của lễ hội đền Cuông Hội được diễn

ra từ ngày 14 cho đến hết ngày 16 tháng hai âm lịch Hội bao gồm rất nhiều trò chơi dân gian, nhiều hoạt động văn hóa, thể thao, nhiều hoạt động giải trí… Không gian của hội chính là khoảng đất trống đối diện đền Hội thu hút không chỉ trẻ em, thanh niên mà tất cả nhân dân ở mọi lứa tuổi

Các trò chơi dân gian

Trong lễ hội đền Cuông, có rất nhiều trò chơi dân gian độc đáo như chọi

gà, chơi cờ thẻ, chơi đu

Trong những ngày hội, nhân dân khắp nơi đều có thể chơi đu, hết người này lại đến những người khác Mọi người tự xếp hàng, đến lượt mình thì lên

đu, ai không chơi thì đứng ngắm mọi người chơi và bình phẩm xem ai đu cao nhất, đẹp nhất

Lễ hội đền Cuông năm nào cũng có trò chơi chọi gà Đến lễ hội, mọi người sẽ được chiêm ngưỡng những con gà nòi đẹp nhất, khỏe nhất mà nhân dân khắp nơi đưa về

Không chỉ thế, hầu như năm nào trong lễ hội đền Cuông cũng có chơi cờ người Các cuộc thi không phải là giữa những xã với nhau như những trò chơi thể thao khác mà là cuộc thi giữa một số huyện trong tỉnh có đoàn về tham gia trò chơi này trong lễ hội Sân chơi cờ người được kẻ như một bàn cờ thật,

Trang 27

dưới mỗi ô có lỗ để cắm biển Thể lệ cuộc chơi như sau: những huyện đăng

kí có đoàn về tham gia trò chơi này sẽ được bốc thăm để đấu với nhau Mỗi đội về dự thi sẽ có ba người Mỗi trận đấu có ba hiệp, mỗi hiệp do một người trong đội chơi, đội nào thắng hai hiệp thì sẽ thắng trận đấu đó Sau đó, những đội thắng lại tiếp tục thi đấu với nhau để tìm ra người vô địch Đầu sân, sẽ có một ban giám khảo gồm bốn vị được huyện cử ra để giám sát trận đấu

Nhưng trò chơi cờ tướng trong lễ hội không chỉ dành cho những người được chọn thi đấu cho huyện Những người dân khác cũng có thể chơi cờ tướng ở những bàn cờ thật xung quanh sân chơi cờ người Chỉ có điều, họ phải trả phí chí cho những người tổ chức dịch vụ này

Những phong trào thể thao

Lễ hội đền Cuông năm nào cũng sôi nổi với những phong trào thể thao như: bóng đá, bóng chuyền, kéo co…

Hoạt động thể thao sôi nổi nhất trong lễ hội đền Cuông là bóng chuyền

Có cả phong trào bóng chuyền cho nam và cho nữ Những người tham gia thi đấu bóng chuyền chủ yếu là thanh niên hoặc cũng có thể là những người đã có gia đình nhưng chủ yếu là trong độ tuổi từ 18 đến 35 tuổi Cuộc thi đấu bóng chuyền giữa các xã bắt đầu từ ngày 14 tháng 2 âm lịch - ngày ngày đầu của lễ hội Các xã sẽ thi đấu theo hình thức loại trực tiếp nghĩa là đội nào thua trận nào thì loại ngay Sau vòng loại sẽ chỉ còn lại 4 đội sẽ bước vào bán kết rồi vào tiếp chung kết

Hoạt động kéo co cũng là hoạt động thi đấu giữa các xã trong huyện và hình thức thi đấu vẫn là loại trực tiếp Có năm những cuộc thi đấu kéo co là

do ngẫu hứng giữa những đoàn khách khác nhau về dự lễ và rất sôi nổi vui vẻ

Có những loại hình kéo co: kéo co nam, kéo co nữ và có thể là cả nam và nữ Các hoạt động thể thao trong dịp lễ hội chủ yếu là giao lưu giữa các xã trong huyện và mang tinh thần thể thao rất cao Đây là những hoạt động thể

Trang 28

thao lành mạnh và cổ vũ thêm tinh thần khỏe mạnh để xây dựng đất nước trong nhân dân

Các hoạt động văn hóa, văn nghệ

Trong dịp lễ hội đền Cuông, các hoạt động văn hóa, văn nghệ là một phần thú vị của lễ hội Các hoạt động này bao gồm: biểu diễn nghệ thuật, chiếu phim, thi nét đẹp đền Cuông, hát chầu văn …

Các hoạt động biểu diễn nghệ thuật trong dịp lễ hội đền Cuông rất phong phú Hầu hết các hoạt động biểu diễn này là do những đoàn nghệ thuật ở các tỉnh khác về đăng ký với ban tổ chức để biểu diễn Họ không chỉ biễu diễn một đêm mà biểu diễn cả ba đêm của lễ hội làm cho lễ hộ càng sôi động hơn Các đoàn nghệ thuật không chỉ hát, múa mà còn làm xiếc, ảo thuật … cực kỳ hấp dẫn nhân dân

Hoạt động chiếu phim tuy không phải năm nào cũng có nhưng đây là một hoạt động thực sự có ý nghĩa Các bộ phim được chiếu chủ yếu là phim tài liệu về đền Cuông, lễ hội đền Cuông, Vua An Dương Vương, quê hương

xứ Nghệ…

Hát chầu văn là hoạt động văn hoá độc đáo và mang đậm tính dân gian nhất trong lễ hội Đây là một loại hình nghệ thuật ca hát cổ truyền của Việt Nam, đang trong giai đọan hồi phục sau một thời gian bị mai một Loại hình hát chầu văn trong lễ hội đền Cuông là hát thi, một trong ba loại của hát chầu văn Hội thi hát chầu văn trong lễ hội đền Cuông sẽ được tổ chức vào đêm 14 tháng 2 âm lịch, bắt đầu từ khoảng 20h và kết thúc khoảng 23h đêm

Hội thi nét đẹp đền Cuông là một hoạt động văn hóa trong lễ hội đền Cuông có tầm quan trọng và ảnh hưởng lớn đến nhân dân trong huyện Đây là hội thi sắc đẹp duy nhất trên quy mô huyện ở huyện Diễn Châu Hội thi nét đẹp đền Cuông được tổ chức hàng năm trong lễ hội đền Cuông vào đêm 15 tháng 2 âm lịch tức là đêm chính của lễ hội Cuộc thi được diễn ra vào khoảng

Trang 29

20h tối ngày 15 tháng 2 âm lịch Đây là đêm chính của lễ hội và cũng là đêm thu hút đông người dân về dự hội nhất Hội thi sẽ có ba phần thi là: biểu diễn trang phục, thể hiện tài năng và phần thi ứng xử

ra những sản phẩm tò he làm bao du khách say mê

Các sản phẩm ăn nhanh như phở, bánh mì, các loại bánh truyền thống, kem, hoa quả…luôn là sản phẩm bán rất chạy trong ngày lễ hội

Những đồ uống giải khát như nước ngọt, nước mía, chè…luôn thu hút nhiều du khách Những sản phẩm thủ công của các làng nghề và các sản phẩm lưu niệm luôn được gắn với chủ đề đền Cuông, lễ hội đèn Cuông, quê hương Nghệ An Các sản phẩm này có thể được làm từ mây, tre, sứ, nhựa… nhưng đều được chế tạo rất khéo léo, tinh xảo và làm hài lòng du khách Những sản phẩm đơn giản nhất như tượng vua Thục, tượng công chúa Mỵ Châu và tướng quân Cao Lỗ, kiệu rang để rước linh vị vua trong lễ hội… đều được làm bằng nhiều chất liệu khác nhau

Những sản phẩm lưu niệm khác như đồ trang sức, trang phục… cũng là những sản phẩm được bán chạy trong dịp lễ hội Đây là những sản phẩm thiết yếu hàng ngày cho nhu cầu sống và sinh hoạt của người dân

Trang 30

Như vậy có thể thấy lễ hội đền Cuông là một lễ hội đi sâu vào đời sống của nhân dân rất gần gũi với nhân dân chứ không xa lạ và câu nệ hình thức như nhiều lễ hội khác

Những hoạt động khác

Ngoài những trò chơi dân gian, những trò chơi giải trí mới cũng là những hoạt động thu hút đông đảo nhân dân về dự hội Những trò chơi này cũng chiếm một vị trí xứng đáng trong lễ hội cả về không gian trên mặt đất và không gian trong lòng người

Những trò chơi giải trí mới có thể kể đến như những trò chơi có thưởng như: ném lon, bắn súng, ném vòng, nén bóng, xóc đũa… Ngoài ra còn có những trò chơi như chiếc nón kì diệu Những trò chơi này mang tính chất may rủi rất cao và chủ yếu để giải trí

Ngoài những trò chơi may rủi dành cho người lớn còn có những trò chơi rất quen thuộc với trẻ em như tô tượng, vẽ tranh cát, đu quay, cưỡi ngựa… Những trò chơi này là để dành những đứa trẻ về dự hội vui chơi nhưng cũng thu hút không ít người lớn sà vào những hàng vui chơi này

Lễ hội như vậy là một sân chơi cho mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi Mọi người về dự hội đều có những trò chơi riêng của mình dể giải trí sau những tháng ngày lao động mệt mỏi.Ngoài những trò chơi trên, trong lễ hội nhân dân còn có một thú vui khác là trèo lên miếu nhỏ trên đỉnh núi thắp hương Sau

đó, họ đứng trên cao nhìn xuống, ngắm cảnh ruộng đồng chạy dài một màu xanh tít tắp, biển Cửa Hiền sang vỗ rì rào

Sáng ngày 14 tháng 2 âm lịch, các xã có quyền cắm trại sẽ về sân hội để cắm trại chuẩn bị cho những ngày vui chơi ở hội Trại do đoàn thanh niên của

xã cắm và sẽ là nơi dừng chân cho những du khách là người của xã đó nghỉ ngơi khi đi chơi lễ hội

Trang 31

Chương 2 NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA

ĐỀN CUÔNG VÀ LỄ HỘI ĐỀN CUÔNG ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH

2.1 Các giá trị của khu di tích lịch sử - văn hóa đền Cuông và lễ hội đền Cuông

Lịch sử và truyền thuyết ghi nhận: Nước Âu Lạc dưới sự trị vì của người anh hùng dân tộc Thục An Dương Vương tồn tại 50 năm, từ năm 257 – 208 TCN Xung quanh thời gian tồn tại của nước Âu Lạc có rất nhiều ý kiến khác nhau nhưng tất cả đều ghi nhận khoảng nửa sau thế kỷ thứ 3 đến nửa đầu thế

kỷ thứ 2 TCN [11, tr 392]

Câu đối được dịch từ đền Cuông khẳng định Thục An Dương Vương làm vua 50 năm:

“Đế vương ngũ thập niên, Công tại sinh linh tại sử”

Dịch nghĩa: Năm chục năm làm vua, công ở lòng dân, tiếng tăm ở sử sách

“Nhiều tài liệu lịch sử xưa nhất của nước ta cũng như thư tịch cổ Trung Quốc như: “Giao Châu ngoại vực ký”, “Quảng Châu ký”… đều chép An Dương Vương là “con Vua Thục” (Thục Vương tử) nhưng không cho biết vị trí của nước Thục và cả tên An Dương Vương Bộ sử xưa nhất của nước ta là

Trang 32

“Việt sử lược” ghi chép một câu về nguồn gốc của An Dương Vương: Cuối đời Chu, Hùng vương bị con vua Thục tên Phán đánh đuổi và lên thay Từ thế

kỷ 15 với “Đại Việt sử ký toàn thư” và “Lĩnh Nam chích quái” thì An Dương Vương xuất hiện một cách rõ ràng trong sử sách: Họ Thục, tên Phán, người đất Ba Thục Từ đó, An Dương Vương Thục Phán được coi là con vua Thục người Ba Thục và niên điểm thành lập nước Âu Lạc được xác định là năm Giáp Thìn, Chu Noãn Vương thứ 58(năm 257 TCN) Có thể nói đó là thuyết chính thống của các sử gia phong kiến đời Lê và đời Nguyễn” [2, tr.171] Nói rõ hơn về nhân vật An Dương Vương, các nhà sử học hiện đại nhận

xét: “ An Dương Vương Thục Phán là một tù trưởng miền núi (gốc tích miền

núi phía Bắc) Điều chắc chắn khẳng định An Dương Vương không phải là người ngoại tộc mà là một anh hùng dân tộc của lịch sử Việt Nam” [11,

Sau khi đánh thắng giặc Tần thì vua Thục dời đô từ Phong Châu đến Cổ Loa và xây thành Cổ Loa tại đây Thành Cổ Loa được xây nên đã phản ánh tập trung sự phát triển nhiều mặt của nước Âu Lạc thời An Dương Vương Nó không những chứng tỏ tài năng sáng tạo, những tiến bộ kỹ thuật xây dựng, về

Trang 33

kỹ thuật và nghệ thuật quân sự của người Việt Cổ mà còn biểu thị một bước phát triển mới của nhà nước Âu Lạc dưới sự lãnh đạo của vua Thục

Thế nhưng, mặc dù An Dương Vương biết xây thành Cổ Loa kiên cố, dù biết chăm lo chế tác vũ khí, xây dựng lực lượng quốc phòng, dù đã biết chủ động đánh bại quân xâm lược Triệu nhiều lần, song từ chỗ không nhận ra bản chất nham hiểm, thâm độc của kẻ thù đi đến mắc mưu chúng, rồi bị dồn vào tình thế cô lập, suy yếu, bị động nên cuối cùng thất bại đau đớn trước kẻ thù xâm lược

“Cuộc kháng chiến của nhân dân Âu Lạc chống quân xâm lược Triệu cuối cùng bị thất bại Đó là cuộc kháng chiến đầu tiên trong lịch sử giữ nước,

chống ngoại xâm của dân tộc ta” [7, tr.221]

“Lịch sử dân tộc ghi nhận công lao to lớn và đánh giá An Dương Vương

là một nhân vật vĩ đại của lịch sử Việt Nam, một trong những vị vua của thời

kỳ dựng nước, một anh hùng đã nhiều lần lãnh đạo nhân dân Lạc Việt đánh Tần đuổi Triệu, lập nên những chiến công lừng lẫy một thời” [11, tr.422]

Lịch sử dân tộc ghi nhận: “cả một thời đại dựng nước, giữ nước dưới

thời Hùng Vương – An Dương Vương, với nền văn minh Đông Sơn rực rỡ, đã tạo lập cho dân tộc ta một nền tảng bền vững về vật chất và tinh thần để vượt qua mọi thử thách của lịch sử” [7, tr 222]

Ngày nay khi nghiên cứu các văn bia, câu đối, các bài thơ còn lưu giữ ở đền Cuông chúng ta thấy ở đây là nguồn tư liệu quý Khi tìm hiểu về thân thế

sự nghiệp của Thục An Dương Vương

Khi điểm qua hơn 20 câu đối bằng chữ Hán từ các cột nanh ngoài cổng vào đến nhà thượng điện giúp chúng ta thấy rõ hơn tình cảm của các bậc danh nho đối với Thục An Dương Vương, đã được gửi gắm vào trong đó

Trang 34

Trong đó có câu:

Vạn cổ văn minh khai cố quốc Cửu trùng cung điện đối cao sơn Dịch nghĩa:

Ngàn năm văn hiến khai quốc cổ Chín trùng cung điện sánh cao sơn

(Tác giả Hoàng giáp Đặng Văn Thụy) Hoặc câu:

Đế vương thống kỹ khai toàn Việt Kim cổ Sơn hà điện ngã Hoan

Đền Cuông được xây dựng được xem là một chứng tích lịch sử lưu giữ một thời lịch sử của dân tộc, thời kỳ Thục An Dương Vương làm vua nước

Âu Lạc (257TCN – 208TCN) Đây cũng là nơi đánh dấu mốc cuối cùng của vương triều khi Thục An Dương Vương kết thúc cuộc đời tại đây

Chính vì được xem là chứng tích lịch sử cũng như là nơi ghi dấu lịch sử một thời của đất nước thuở sơ khai nên đền Cuông có ý nghĩa lịch sử vô cùng

to lớn và có sức hút đối với du khách thập phương muốn tìm hiểu cũng như hiểu rõ về vị vua vĩ đại cũng như một thời lịch sử của dân tộc

Đến với đền Cuông chúng ta còn được tìm hiểu về lịch sử nghề rèn mà tổ

sư nghề là một vị công thần của Thục An Dương Vương là tướng Cao Lỗ

Trang 35

Ngoài ra đến với đền Cuông là đến với ngôi đền có lịch sử xây dựng lâu đời

và có ý nghĩa lớn với tất cả người dân trong nước

2.1.2 Giá trị văn hóa, tâm linh

Đền thờ Thục An Dương Vương được xây dựng ở vị trí cảnh quan đẹp nên thơ Bên núi đồi bạt ngàn thông reo, biển muôn đời song vỗ Nơi có đường Quốc lộ 1A và đường sắt xuyên Việt chạy qua trước cửa đền Cạnh đền là cánh đồng làng quê đang ngày đêm khởi sắc Xa hơn nữa là các di tích danh thắng như làng rèn Nho Lâm, Lèn Hai Vai… cũng là niềm tự hào của nhân dân xứ Nghệ

Đền Cuông là một công trình có bố cục đẹp, đền nằm ở lưng chừng núi

Mộ Dạ thuộc dãy Đại Hải, dãy núi cuối cùng của một nhánh Trường Sơn vươn ra biển, có độ cao vừa phải cùng làm tăng thêm vẻ uy nghiêm của ngôi đền Đền có thế chim phụng ngậm thư: lưng phụng là sườn núi, cánh phụng là hai mái núi, đầu phụng là khu đền, bức thư là bãi cỏ xanh phía trước Các công trình như cổng số 1, cổng số 2, tam quan, nhà bái đường, nhà trung điện, thượng điện Tất cả đều có kiến trúc vững chắc Vừa đáp ứng yêu cầu tôn nghiêm đặc biệt của nơi thờ tự một vị vua, vừa phù hợp với yêu cầu phòng chống thiên tai khắc nghiệt của vùng gió lào nắng lửa, bão lắm mưa nhiều Với những nét chạm trổ, chạm lộng truyền thống công phu và tinh xảo ở nhà bái đường, nhà trung điện, kiệu Long Đình, kiệu Mai Luyện, hương án, lư hương, long ngai Các nghệ nhân xưa đã bộc lộ tài năng đáng kính phục khi dùng chất liệu gỗ làm vật thờ Kỹ thuật đắp lộng, đắp nổi bằng vôi vữa, xi măng, mật mía ở cổng thứ hai, tam quan, nhà hạ điện, trung điện, thượng điện cũng toát lên vẻ đẹp kiến trúc có giá trị cao về mặt văn hóa nghệ thuật Các đề tài tứ linh truyền thống, phượng ngậm kim thư, lưỡng long triều nguyệt, cá vượt vũ môn, các họa tiết hoa cúc, hoa sen… ở đền Cuông không chỉ thể hiện

Trang 36

tài năng tuyệt vời của các nghệ nhân mà còn cho chúng ta thấy vai trò của họa tiết trang trí trong đồ thờ cúng tổ tiên

Để thể hiện lòng thành kính với vua An Dương Vương, công chúa Mỵ Châu, tướng Cao Lỗ hàng năm nhân dân Diễn Châu lại mở lễ hội đền Cuông

Lễ hội là một khái niệm có nhiều định nghĩa khác nhau GS Phan Đăng Nhật trong cuốn “Lễ hội cổ truyền Việt Nam” do PGS Lê Trung Vũ chủ biên (NXB khoa học xã hội và nhân văn, 1992) đã định nghĩa “hội làng là nơi biểu hiện tập trung tư tưởng và tâm lý của dân làng bao gồm lòng sùng kính những bậc có công với làng nước, ý thức cộng đồng, nguyện vọng ước mơ về cuộc sống thái bình thịnh vượng” Cũng trong cuốn này, Lê Văn Kỳ tách và định nghĩa: “ Lễ trong lễ hội là một hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của dân làng với thần linh, lực lượng siêu nhiên nói chung, với thành hoàng làng nói riêng Đồng thời, lễ cũng phản ánh những nguyện vọng, ước mơ chính đáng của con người trước đầy rẫy những khó khăn mà bản thân

họ chưa có khả năng cải tạo” “ Hội là những sự vận động hối hả, liên tục từ các trò chơi, trò diễn đến cả màu sắc, trạng thái, âm thanh Trẩy hội rất vui nhưng cũng rất mệt đúng như câu nói dân gian: vui xem hát, nhạt xem bơi, tả tơi xem hội”

Không chỉ có nhiều định nghĩa khác nhau lễ hội còn có nhiều cách phân chia khác nhau Theo PGS.TS Lê Trung Vũ thì có bốn loại lễ hội là: hội làng tái hiện các sinh hoạt tiền nông nghiệp, hội làng tái hiện các sinh hoạt nông nghiệp, hội làng tái hiện lại các sự kiện lịch sử, hội làng tái hiện lại các sự kiện khác Nếu theo cách phân chia này thì lễ hội đền Cuông thuộc nhóm lễ hội thứ ba là lễ hội tái hiện các sự kiện lịch sử Còn Lê Thị Nhâm Tuyết thì chia lễ hội thành năm lọai là: lễ hội nông nghiệp, lễ hội phồn thực giao duyên,

lễ hội văn nghệ, lễ hội thi tài, lễ hội lịch sử Nếu như theo cách phân chia này thì lễ hội đền Cuông thuộc loại lễ hội lịch sử

Trang 37

Giá trị văn hóa, tâm linh được xem là giá trị to lớn và nổi bật nhất của lễ hội đền Cuông Giá trị này được thể hiện ở nhiều mặt mà trước hết bản thân lễ hội là một sản phẩm văn hóa Lễ hội đền Cuông đã thể hiện một cách sâu sắc tín ngưỡng nhớ ơn những vị anh hùng dân tộc của nhân dân ta Đền Cuông là nơi ghi dấu sự kết thúc cuộc đời của An Dương Vương và công chúa Mỵ Châu Hàng năm, nhân dân tổ chức lễ hội là để bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc với vua, công chúa, tướng Cao Lỗ và sự khoan dung, tha thứ cho những lỗi lầm của những vị ấy Điều này đã thể hiện một lối sống cao đẹp của nhân dân ta

đó là uống nước nhớ nguồn, ghi nhớ công ơn của những vị anh hùng dân tộc

đã có công với đất nước

Lễ hội đền Cuông là nơi bảo lưu và tiếp thêm sức mạnh cho truyền thuyết về vua An Dương Vương Truyền thuyết ấy là sản phẩm sáng tạo tinh thần của nhân dân, tập trung ca ngợi công ơn của vua An Dương Vương và tướng Cao Lỗ, hướng tới mục đích khơi dậy lòng tự hào dân tộc, nhắc nhở con cháu không phụ ơn các bậc tiền bối Truyền thuyết về vua An Dương Vương, mối tình Mỵ Châu- Trọng Thủy, cái nỏ thần là một trong những truyền thuyết độc đáo, có giá trị của nhân dân, làm phong phú kho tàng truyền thuyết dã sử của nhân dân ta Truyền thuyết ấy là nền tảng, quy định nội dung

và tăng cường sự linh thiêng cho lễ hội Còn lễ hội đền Cuông cùng với lễ hội

Cổ Loa hàng năm đã minh chứng, khẳng định cho sự tồn tại của truyền thuyết

đó Cứ như thế, truyền thuyết và lễ hội kết hợp với nhau tạo thành một diện mạo văn hóa hoàn chỉnh, mang đậm dấu ấn riêng của văn hóa làng nước là một sản phẩm văn hóa độc đáo

Phần nghi lễ của lễ hội là những nghi thức tế lễ dân gian mang tính giáo dục và tưởng niệm sâu sắc Lễ hội đền Cuông có một nghi lễ với những quy định rất chặt chẽ, nghiêm túc và được chuẩn bị một cách rất công phu Nghi lễ

đã bày tỏ một cách sâu sắc lòng biết ơn của nhân dân với các vị được thờ

Trang 38

cúng và gửi gắm những mong ước của nhân dân với họ Yếu tố nghi lễ đã tạo nên giá trị linh thiêng của lễ hội, hình thành một tâm thức chung làm cho người dân tin vào sự thiêng liêng của những nhân vật được thờ cúng Chính vì thế mà dù bận rộn mấy, xa xôi mấy người ta cũng cố gắng về lễ hội thắp một nén nhang cho ngài, cầu khấn với tất cả lòng thành kính và niềm hy vọng Nghi lễ đền Cuông chịu ảnh hưởng của yếu tố truyền thống, hầu hết những nghi lễ là do từ ngày xưa truyền lại nhưng cũng mang tính thời đại khi

nó được giảm bớt những nghi lễ cho phù hợp với lối sống hiện đại Mỗi lễ hội

có những nghi lễ tế lễ riêng trong một khuôn thức chung của lễ hội truyền thống Lễ hội đền Cuông cũng như vậy Những nghi lễ tế lễ trong lễ hội vừa mang nét chung của nghi lễ tế lễ cổ truyền dân tộc vừa có những nét riêng phù hợp với đối tượng thờ cúng, đất và người nơi đây, mang đậm dấu ấn của vùng đất này, con người nơi này

Phần hội là nơi thể hiện cách sống, cách sinh hoạt thường ngày của người dân nơi đây Nó thể hiện nét văn hóa trong ẩm thực của họ Họ ăn những món ăn rất bình thường, dân dã Họ chơi những trò chơi quen thuộc, gần gũi và khi chơi thì luôn chơi hết mình, vui vẻ không quan trong chuyện thắng thua, được hơn Dù thế nào họ luôn quan niệm khi vui chơi là luôn phải chơi hết mình Những phong trào văn hóa văn nghệ, thể thao trong lễ hội luôn mang đậm tính văn hóa Đó là khi con người gián tiếp trở về với một thời hào hùng trong quá khứ để thấm thía, để tự hào Khi xem phim, khi xem những đồ lưu niệm… là khi họ đang được tiếp nhận những giá trị văn hóa Con người được giáo dục khi đến với lễ hội và từ đó lễ hội mang tính văn hóa đậm nét hơn

Lễ hội đền Cuông là nơi bảo lưu những giá trị văn hóa dân gian độc đáo

Đó là hình thức hát cổ truyền đang ngày càng vắng bóng - hát chầu văn Hát chầu văn là một loại hình nghệ thuật ca hát dân gian cổ truyền có nguồn gốc

Trang 39

từ vùng đồng bằng Bắc bộ gắn với phức hợp tín ngưỡng của người Việt từng rất phát triển vào khoảng cuối thế kỉ thứ 19, đầu thế kỉ 20 Đây là hình thức lễ nhạc trong nghi thức hầu đồng của tín ngưỡng tứ phủ, một tín ngưỡng dân gian của Việt Nam Hát văn cùng với tục hầu bóng tiêu biểu cho một loại hình sinh hoạt tín ngưỡng dân gian độc đáo tồn tại ở nhiều tộc trong nước Ngoài yếu tố tâm linh, sự hấp dẫn của phần ca nhạc xưa đã khiến cho nhiều người say mê Ngày nay, những điệu hát văn được giới thiệu với nội dung mới vẫn

là những tiết mục được công chúng yêu thích Loại hình nghệ thuật ca hát dân gian cổ truyền này đã vắng bóng đang trong quá trình hồi phục mà lễ hội đền Cuông vẫn bảo lưu được quả là một điều đáng mừng Năm nào cũng vậy cứ đều đặn thế, đêm đầu tiên của lễ hội luôn là đêm của những tiết mục hát chầu văn của những đoàn từ khắp nơi về Những lễ hội như lễ hội đền Cuông thật

sự là động lực cho loại hình ca nhạc dân gian này hồi phục

Lễ hội đền Cuông là nơi bảo lưu nhiều trò chơi dân gian độc đáo của dân tộc như chọi gà, chơi cờ thẻ, đánh đu… Những trò chơi dân gian này thường ngày kể cả trong nhịp tết cổ truyền cũng rất ít thấy xuất hiện trong vùng Kể

cả một số vùng trong cả nước những trò chơi dân gian độc đáo này cũng đang dần vắng bóng Thế nhưng, trong lễ hội đền Cuông những trò chơi dân gian này lại đều đặn xuất hiện làm bao du khách phải ngạc nhiên, say mê và hứng khởi Như vậy có thể nói lễ hội đền Cuông là nơi bảo tồn một cách hiệu quả những trò chơi dân gian độc đáo này

Hội thi “nét đẹp đền Cuông” là một sinh hoạt văn hóa của người dân ở

đó cái đẹp trở về hình thức lẫn nội tâm, tri thức được tôn vinh Và trong cuộc thi ấy người ta tôn vinh những giá trị mà văn hóa luôn hướng đến và mong muốn con người đạt đến đó là chân, thiện, mĩ Hội thi ấy đã trở thành nơi tuyên truyền những giá trị văn hóa để con người phấn đấu đạt đến và từ đó hướng con người đến lối sống văn hóa, cách sống văn hóa

Trang 40

Không chỉ vậy, trong ngày hội là một cơ hội giao lưu văn hóa cho nhân dân giữa các vùng miền, cho nhân dân hiểu thêm về văn hóa của nhiều vùng, miền khác nhau Những đoàn nghệ thuật, du khách khi về nơi đây biểu diễn

đã mang đến cho nhân dân nơi này những nét văn hóa của những vùng miền khác trong cả nước, làm cho nhân dân hiểu thêm văn hóa của những nơi khác Rồi khi họ ra đi lại mang theo những nét văn hóa họ được tiếp nhận ở đây đến nơi khác và về quê họ

Chính vì những giá trị ấy mà lễ hội quy định một phần những giá trị trong cách sống, cách suy nghĩ của người dân vùng đất này Và lễ hội đền Cuông vì thế mà có giá trị văn hóa to lớn

Lễ hội là một sản phẩm văn hóa, một loại hình sinh hoạt văn hóa độc đáo của dân tộc, Mỗi lễ hội đều mang trong mình những giá trị lớn lao về văn hóa, tinh thần

Giá trị văn hóa của lễ hội được thể hiện ở việc trước hết nó là một sản phẩm văn hóa Lễ hội là một loại hình sinh hoạt văn hóa do con người sáng tạo ra trong quá trình tồn tại, đấu trnh với tự nhiên, xã hội để sinh tồn Lễ hội

là nơi phản ánh những tín ngưỡng dân gian, tâm thức, cách sống, suy nghĩ của người dân vùng ấy Lễ hội còn là nơi bảo lưu những giá trị văn hóa truyền thống quý báu của dân tộc Trong những mùa lễ hội con người được sử dụng

và sáng tạo văn hóa

Lễ hội có những giá trị tinh thần to lớn Lễ hội là nơi con người gặp gỡ, giao lưu sau những tháng ngày làm việc vất vả, mệt nhọc Lễ hội là nơi cố kết cộng đồng, làm cho con người không còn tồn tại lẻ loi nữa mà có cảm giác được hòa nhập vào cộng đồng Lễ hội là nơi họ gửi gắm những mơ ước, trút

bỏ những gánh nặng tâm lý, cho họ có niềm tin và cầu mong vào những điều

họ mong muốn rồi sẽ đạt được Lễ hội quy định một phần nếp nghĩ, cách sống của những con người trong cùng một cộng đồng Sau một mùa lễ hội con

Ngày đăng: 16/09/2021, 17:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Ban nghiên cứu lịch sử và địa lý Nghệ Tĩnh (1984), Lịch sử Nghệ Tĩnh tập 1, NXB Nghệ Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Nghệ Tĩnh tập 1
Tác giả: Ban nghiên cứu lịch sử và địa lý Nghệ Tĩnh
Nhà XB: NXB Nghệ Tĩnh
Năm: 1984
[2]. Ban quản lý di tích và danh thắng Nghệ An (2010), Lý lịch đền thờ An Dương Vương, Diễn An, Diễn Châu, Nghệ An, NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý lịch đền thờ An Dương Vương, Diễn An, Diễn Châu, Nghệ An
Tác giả: Ban quản lý di tích và danh thắng Nghệ An
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 2010
[3]. Phan Kế Bính (1990), Việt Nam phong tục, NXBTH Đồng Tháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: NXBTH Đồng Tháp
Năm: 1990
[4]. Huyện ủy – HĐND – UBND Huyện Diễn Châu (2007), Diễn Châu kể chuyện 1380 năm, NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn Châu kể chuyện 1380 năm
Tác giả: Huyện ủy – HĐND – UBND Huyện Diễn Châu
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 2007
[5]. Bùi Dương Kịch (1993), Nghệ An ký, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội [6]. Phan Huy Lê (1990), Bàn về quá trình hình thành dân tộc trong lịch sử Việt Nam, Giáo trình Lịch sử Việt Nam, Khoa Sử ĐHTH Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ An ký", NXB Khoa học xã hội, Hà Nội [6]. Phan Huy Lê (1990), "Bàn về quá trình hình thành dân tộc trong lịch sử Việt Nam, Giáo trình Lịch sử Việt Nam
Tác giả: Bùi Dương Kịch (1993), Nghệ An ký, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội [6]. Phan Huy Lê
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1990
[7]. Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh (1983), Lịch sử Việt Nam tập 1, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam tập 1
Tác giả: Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh
Nhà XB: NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1983
[8]. Hoàng Trọng Miên (1959), Việt Nam văn học học toàn thư, NXB Sài Gòn [9]. Bùi Văn Nguyên (1978), Dã sử nói về An Dương Vương, Tạp chí khảo cổ học số , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học học toàn thư", NXB Sài Gòn [9]. Bùi Văn Nguyên (1978), "Dã sử nói về An Dương Vương, Tạp chí khảo cổ học số
Tác giả: Hoàng Trọng Miên (1959), Việt Nam văn học học toàn thư, NXB Sài Gòn [9]. Bùi Văn Nguyên
Nhà XB: NXB Sài Gòn [9]. Bùi Văn Nguyên (1978)
Năm: 1978
[10]. Nguyễn Nghĩa Nguyên (2003), Từ Cổ Loa đến Đền Cuông, NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ Cổ Loa đến Đền Cuông
Tác giả: Nguyễn Nghĩa Nguyên
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 2003
[11]. Nhiều tác giả (1974), Hùng Vương dựng nước tập 4. NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hùng Vương dựng nước tập 4
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1974
[12]. Lê Văn Siêu (1972), Việt Nam Văn minh sử lược khảo (Tập Thượng), NXB Bộ Giáo dục – Trung tâm học liệu. Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam Văn minh sử lược khảo (Tập Thượng)
Tác giả: Lê Văn Siêu
Nhà XB: NXB Bộ Giáo dục – Trung tâm học liệu. Sài Gòn
Năm: 1972
[13]. Sở VHTT Nghệ An (2001), Địa chí lễ hội Nghệ An, NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí lễ hội Nghệ An
Tác giả: Sở VHTT Nghệ An
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 2001

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.2.1.2 Tình hình khách du lịch đến với di tích đền Cuông và lễ hội đền Cuông - Bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử   văn hóa đền cuông và lễ hội đền cuông để phát triển du lịch
2.2.1.2 Tình hình khách du lịch đến với di tích đền Cuông và lễ hội đền Cuông (Trang 61)
Hình 2.1 Biểu đồ thể hiện số lượt khách đến với đền Cuông và lễ hội đền Cuông - Bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử   văn hóa đền cuông và lễ hội đền cuông để phát triển du lịch
Hình 2.1 Biểu đồ thể hiện số lượt khách đến với đền Cuông và lễ hội đền Cuông (Trang 62)
Hình ảnh 1. Toàn cảnh di tích lịch sử - văn hóa đền Cuông - Bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử   văn hóa đền cuông và lễ hội đền cuông để phát triển du lịch
nh ảnh 1. Toàn cảnh di tích lịch sử - văn hóa đền Cuông (Trang 81)
Hình ảnh 2. Đền Cuông - Bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử   văn hóa đền cuông và lễ hội đền cuông để phát triển du lịch
nh ảnh 2. Đền Cuông (Trang 81)
Hình ảnh 3. Tam quan - Bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử   văn hóa đền cuông và lễ hội đền cuông để phát triển du lịch
nh ảnh 3. Tam quan (Trang 82)
Hình ảnh 4. Thượng điện - Bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử   văn hóa đền cuông và lễ hội đền cuông để phát triển du lịch
nh ảnh 4. Thượng điện (Trang 82)
Hình ảnh 5. Lễ rước kiệu - Bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử   văn hóa đền cuông và lễ hội đền cuông để phát triển du lịch
nh ảnh 5. Lễ rước kiệu (Trang 83)
Hình ảnh 6. Lễ dâng hương - Bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử   văn hóa đền cuông và lễ hội đền cuông để phát triển du lịch
nh ảnh 6. Lễ dâng hương (Trang 83)
Hình ảnh 7. Ông Cao Ngọc Xuân và xác ướp con Hạc tại đền Cuông - Bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử   văn hóa đền cuông và lễ hội đền cuông để phát triển du lịch
nh ảnh 7. Ông Cao Ngọc Xuân và xác ướp con Hạc tại đền Cuông (Trang 84)
Hình ảnh 8. Lễ hội đền Cuông - Bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử   văn hóa đền cuông và lễ hội đền cuông để phát triển du lịch
nh ảnh 8. Lễ hội đền Cuông (Trang 84)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm