Du lịch văn hóa hiện đang là một trong những loại hình du lịch thu hút nhiều khách nhất trong thời gian gần đây, và điểm hấp dẫn khách du lịch của loại hình du lịch này là những nơi có b
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA LỊCH SỬ
- -
TRẦN THỊ NGA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CỦA DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA CHÙA KEO TỈNH THÁI BÌNH
ĐỂ PHỤC VỤ DU LỊCH
CHUYÊN NGÀNH: DU LỊCH
Vinh, 2012
Trang 21
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu và thực hiện đề tài, tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học của mình Đây cũng là kết quả phấn đấu trong suốt quá trình học tập và rèn luyện dưới giảng đường đại học của bản thân và công sức giảng dạy của biết bao thầy cô trong suốt thời gian qua
Để có được kết quả đó tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới giảng viên Dương Thị Vân Anh đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận này cùng các thầy cô trong tổ bộ môn Du lịch, các thầy cô trong khoa lịch sử đã tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện
đề tài
Đồng thời tôi xin gửi lời cảm ơn đến Sở văn hóa thể thao và du lịch Thái Bình, Ban quản lý di tích lịch sử văn hóa Chùa Keo, Thư viện tổng hợp Thái Bình, Thư viện Trường Đại học Vinh đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình tìm hiểu và tổng hợp tư liệu phục vụ cho đề tài
Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và người thân đã động viên khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên Trần Thị Nga
Trang 32
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cuộc sống của con người ngày càng được nâng cao do đó nhu cầu của con người cũng trở nên phong phú hơn Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi để ngành du lịch phát triển và trở thành một nhu cầu thiết yếu, có ý nghĩa, tác động ngày càng lớn tới đời sống
Tại Việt Nam trong hơn một thập kỷ qua, du lịch Việt Nam đã đạt được những bước phát triển mạnh mẽ dưới tác động của các chính sách phát triển kinh tế, hội nhập với thế giới của Đảng và Nhà nước cùng tiềm năng du lịch phong phú và sự an toàn của môi trường xã hội Hoạt động du lịch phát triển với tốc độ tăng trưởng cao, mang tính chất bùng nổ, mang lại rất nhiều tác động tích cực
Trong bối cảnh như vậy, tỉnh Thái Bình đứng trước cơ hội và tiềm năng, điều kiện thuận lợi để có thể khai thác tối đa tiềm năng du lịch của tỉnh, thu hút khách du lịch, đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong cơ cấu kinh tế địa phương, tạo thành động lực góp phần chuyển dịch cơ cấu, thúc đẩy các ngành kinh tế liên quan phát triển, tạo thêm công ăn việc làm, và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân
Du lịch văn hóa hiện đang là một trong những loại hình du lịch thu hút nhiều khách nhất trong thời gian gần đây, và điểm hấp dẫn khách du lịch của loại hình du lịch này là những nơi có bề dày lịch sử, có nhiều di vật có giá trị văn hóa truyền thống lâu đời, hoặc là nơi sinh ra và phát triển các tín ngưỡng, tôn giáo…Tài nguyên du lịch văn hóa được coi là một thế mạnh của ngành du lịch Việt Nam bởi Việt Nam có bề dày lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước với những nét văn hóa đặc trưng của nền nông nghiệp lúa nước Nét văn hóa này được thể hiện dưới hình thái vật thể và phi vật thể khác nhau như các công trình kiến trúc, các đình làng, các lễ hội, các tập tục tôn giáo…Trong
đó các hoạt động lễ hội, tôn giáo là một hình thức biểu hiện nhiều nhất các giá trị văn hóa vật chất và tinh thần đang ngày càng thu hút được nhiều khách du
Trang 43
lịch Một trong những lễ hội được biết đến rất nhiều đó là lễ hội Chùa Keo Thái Bình được tổ chức vào vào mồng 4 tháng 1 và từ mồng 10 tới 15 tháng 9
âm lịch hàng năm
Sự phát triển của du lịch lễ hội Chùa Keo đã đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế, văn hóa của xã Duy Nhất, Vũ Thư, tỉnh Thái Bình Mỗi năm thu hút hàng vạn lượt du khách Chùa Keo là một ngôi cổ tự, gắn với biểu tượng của miền quê “năm tấn”, là di tích lịch sử, văn hóa, trường tồn với thời gian - một công trình kiến trúc, điêu khắc gỗ nổi tiếng thế kỷ XVII thờ Phật và Đức thiền sư Dương Không Lộ Chùa Keo gồm 17 công trình, 128 gian nhà, toàn bộ các công trình và tháp chuông hoàn toàn được làm bằng vật liệu gỗ Các cấu kiện liên hoàn với nhau bằng mộng gỗ chính xác gần như tuyệt đối Ngoài những tác phẩm điêu khắc gỗ tinh xảo, chùa Keo còn lưu giữ những cổ vật quý hiếm, những giá trị văn hóa phi vật thể như rước kiệu, hát múa và các trò chơi dân gian trong lễ hội hàng năm Chùa Keo
và lễ hội chùa Keo từ lâu đã trở thành điểm du lịch lịch sử, văn hóa thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước
Tuy nhiên, kết quả hoạt động du lịch, dịch vụ thời gian qua của Chùa Keo chưa phát triển tương xứng với tiềm năng Các hạng mục công trình đầu
tư cơ sở hạ tầng còn hạn chế, các hoạt động du lịch phát triển chậm, các dịch
vụ còn nghèo nàn, đơn điệu, chủ yếu tập trung vào bán hàng lưu niệm, ăn uống phục vụ du khách nên hiệu quả chưa cao
Đó là lý do em chọn đề tài “Tìm hiểu về di tích lịch sử văn hóa chùa
Keo với hoạt động du lịch tỉnh Thái Bình” làm đề tài nghiên cứu của mình
Phương hướng của đề tài là nghiên cứu về di tích lịch sử - văn hóa chùa Keo, đánh giá thực trạng hoạt động du lịch lễ hội Chùa Keo để xây dựng các giải pháp nhằm khai thác tiềm năng, phát triển bền vững khu du lịch Chùa Keo tương xứng với giá trị mà ngôi chùa mang lại, tạo động lực thúc đẩy kinh tế
xã hội trong tỉnh phát triển
Trang 54
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đã có nhiều tác giả nghiên cứu về Chùa Keo Thái Bình, và tài liệu chép tay cũng như bia ký được lưu giữ có viết về ngôi Chùa này trong sự phát triển
của Phật Giáo Việt Nam Trong đó có Lịch sử chùa Keo Thái Bình của Giáo
hội Phật giáo Việt Nam, tỉnh hội Phật giáo Thái Bình (2007), đây là công trìmh nghiên cứu về lịch sử hình thành và phát triển của Chùa Keo Thái Bình,
lễ hội Chùa Keo và phân tích những giá trị đặc sắc trong kiến trúc Chùa Keo
Thái Bình Cùng với đó, trong Văn hóa Việt Nam tổng hợp(1989-1995) tác
giả Trần độ cũng nêu lên những giá trị văn hóa nổi bật của Chùa Keo Thái Bình, nhấn mạnh tới những giá trị văn hóa phi vật thể của ngôi Chùa, và nét đặc sắc của nét văn hóa đó trong tổng thể văn hóa sinh hoạt sộng đồng Việt Nam, mà cụ thể là văn hóa lễ hội và văn hóa bảo tồn di sản của cư dân địa
phương Ngoài ra trong Các lớp văn hóa trong sự tích Thánh Dương Không
Lộ đăng trên Tạp chí di sản văn hóa – số 2(11/2005) tác giả Phạm Thị Thu
Hương còn phân tích rất rõ những giá trị lịch sử của di tích lịch sử văn hóa Chùa Keo trong giá trị tổng thể của ngôi Chùa Ngoài ra tác giả còn có những nghiên cứu về cuộc đời của vị Quốc sư Dương Không Lộ - vị đại sư đang
được thờ tại Chùa Keo, và được nhân dân khắp nơi tôn Thánh Trong Mỹ
thuật Phật giáo, tác giả Khiêm Đạt của ĐH Đông Phương – California – USA
còn nêu bật giá trị văn hóa mỹ thuật trong các trang trí của Chùa Keo như một mảnh ghép quan trọng trong nghệ thuật trang trí trong chùa Phương Đông cũng như kiến trúc chùa Việt Nam, mang lại ý nghĩa vô giá cho mỹ thuật Tất
cả những nghiên cứu đó đều đề cập tới việc bảo tồn những giá trị của Chùa Keo, phát huy những giá trị đó để làm giàu cho địa phuơng, đất nước
Chùa Keo là điểm nhấn quan trọng của du lịch Thái Bình, nhưng vấn
đề bảo tồn các giá trị của Chùa Keo, lễ hội Chùa Keo và phát huy các giá trị
đó để phục vụ du lịch thì chưa có đề tài hay công trình nghiên cứu nào Vì vậy
Trang 65
tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài nghiên cứu này mong góp một phần công sức vào việc phát triển du lịch Chùa Keo
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
♦ Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Chùa Keo thuộc xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình
♦ Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Về mặt nội dung: Khóa luận tập trung vào nghiên cứu đánh giá về giá trị của di tích lịch sử văn hóa Chùa Keo, nhằm đưa ra các biện pháp bảo tồn
và phát huy các giá trị của di tích để phục vụ cho phát triển du lịch
Về mặt không gian: đề tài được nghiên cứu tại di tích lịch sử văn hóa Chùa Keo tại xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình
Về mặt thời gian: đề tài bắt đầu nghiên cứu từ tháng 1/2012 đến tháng 4/2012
4 Nguồn tài liệu
Nguồn tài liệu được thu thập từ: số liệu của Ban quản lý di tích Chùa Keo, Phòng văn hóa huyện Vũ Thư, sở văn hóa thể thao và du lịch tỉnh Thái Bình, các sách báo, tài liệu bia ký, tài liệu thư tịch, tài liệu chép tay có đề cập tới di tích lịch sử văn hóa Chùa Keo
Các sách giáo trình về văn hóa du lịch được dùng giảng dạy, học tập trong các trường đại học, cao đẳng ở Việt Nam
Các sách chuyên khảo về văn hóa, du lịch, về đời sống tâm linh, về lễ hội
ở Việt Nam
Các bài viết có liên quan trên các website
Một số luận văn cao học, thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp đại học có liên quan đến đề tài
5 Phương pháp nghiên cứu
Khi thực hiện khóa luận này, tôi thực hiện nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau như:
Trang 76
♦ Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng nhằm phân tích, tổng hợp các tư liệu, thông tin liên quan đến đề tài giúp chủ thể khái quát hóa, mô hình hóa các vấn đề nghiên cứu đạt được mục tiêu đề ra
♦ Phương pháp thống kê: Các số liệu, tư liệu được sưu tầm ở nhiều nguồn khác nhau và thời gian dài ngắn cũng không giống nhau vì thế các tài liệu đó cần được thống kê lại và xử lý có hệ thống, phục vụ cho quá trình nghiên cứu đạt được kết quả cao
♦ Phương pháp khảo sát thực địa: Sử dụng phương pháp này để lấy được các
số liệu, thông tin phục vụ cho việc trình bày luận cứ, đồng thời kiểm nghiệm
độ chính xác, để kết quả nghiên cứu có tính thuyết phục Phương pháp này đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến độ chính xác của đề tài
♦ Phương pháp phỏng vấn: Đưa ra những câu hỏi đối thoại liên quan đến lễ hội của địa phương đối với những vị khách tham gia lễ hội, những người quản
lý, cán bộ văn hóa, những người cao tuổi, người làm du lịch để thu thập thêm thông tin
6 Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liêu tham khảo, và phần phụ lục thì nội dung khóa luận gồm 3 chương
Chương 1: Khát quát về di tích lịch sử – văn hóa chùa Keo
Chương 2: Giá trị của di tích lịch sử - văn hóa chùa Keo
Chương 3: Thực trạng và các giải pháp phát triển du lịch của di tích lịch sử - văn hóa chùa Keo
Trang 87
NỘI DUNG CHƯƠNG 1 KHÁT QUÁT VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ – VĂN HÓA CHÙA KEO
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Chùa Keo Thái Bình
1.1.1 Nguồn gốc chùa Keo
Thái Bình – mảnh đất của những cánh đồng phì nhiêu, tươi tốt Nằm bên bờ sông Hồng, một trong hai con sông lớn nhất Việt Nam (sông Hồng, Sông Cửu Long) Bởi vậy Thái Bình luôn đón nhận được những lớp phù sa phì nhiêu bồi tụ Đó chính là chất liệu để làm nên đặc trưng truyền thống nông nghiệp lúa nước nơi đây, để rồi những đặc trưng đó đã quy định những giá trị văn hóa của vùng đất này – văn hóa nông nghiệp lúa nước
Là một trong những cái nôi của nền nông nghiệp lúa nước Bởi vậy, bên cạnh những đặc trưng riêng thì Thái Bình còn mang trong mình những đặc trưng văn hóa chung, trong đó dấu ấn của Phật Giáo là rất đậm nét Dấu
ấn Phật Giáo không chỉ được thể hiện trong đời sống tinh thần của người dân,
mà nó còn được cụ thể hóa thành hình thức bên ngoài - đó chính là những ngôi chùa Việc xây dựng những ngôi chùa với mục đích phục vụ tín ngưỡng tôn giáo, nhưng đồng thời ngoài ý muốn chủ quan nó đã tạo nên một phong cách kiến trúc rất độc đáo, góp phần tạo nên sự đa dạng, phong phú hơn cho
hệ thống kiến trúc Việt Nam Trong số những đóng góp độc đáo về mặt kiến trúc mà Phật giáo để lại, thì chùa Keo Thái Bình là một minh chứng điển hình Được xây dựng dưới thời kì phát triển cực thịnh của Phật giáo (thời Lý – Trần), chùa Keo Thái Bình được đánh giá là “một kiệt tác nghệ thuật bằng
gỗ, tiêu biểu cho kiến trúc cổ Việt Nam thế kỉ XVII” [7, tr.168]
Trang 98
Chùa Keo (tên chữ: Thần Quang Tự) là một ngôi chùa ở xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, Việt Nam Đây là một ngôi chùa cổ ở Việt Nam được bảo tồn hầu như còn nguyên vẹn với kiến trúc 400 tuổi
Tương truyền, nguyên thuỷ chùa do Thiền sư Dương Không Lộ xây dựng ở ven sông Hồng từ năm 1061 dưới thời Lý Thánh Tông, tại hương Giao Thuỷ, phủ Hà Thanh (nay thuộc huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định) Ban đầu, chùa có tên là Nghiêm Quang Tự, đến năm 1167 mới đổi tên thành Thần Quang Tự Vì Giao Thủy có tên nôm là Keo, nên ngôi chùa cũng được gọi là chùa Keo
Sau gần 500 năm tồn tại, năm 1611, nước sông Hồng lên to, làm ngập làng Giao Thủy, nơi có chùa Một bộ phận dân cư dời đi nơi khác, lập thành làng Hành Thiện (nay là xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, Nam Định) Một bộ phận dân cư dời sang tả ngạn sông Hồng, lập làng Dũng Nhuệ trên đất Thái Bình và cũng dựng lên một ngôi chùa, gọi là chùa Keo Trên (Keo Thượng), chính là ngôi chùa Keo đang nói tới ở đây
Ngược dòng lịch sử cách ngày nay trên 1000 năm, nơi đây còn là một vùng đất phù sa hoang vu nằm dọc theo hạ lưu sông Hồng, do quá trình biển tiến bồi tụ lên Nơi đây có hai ngôi chùa cùng có tên nôm là chùa Keo và tên chữ là Nghiêm Quang tự, đến tháng 3 năm Đinh Hợi, niên hiệu Chính Long Bảo ứng thứ 5 (1167) đời Lý Anh Tông được đổi là chùa Thần Quang Bởi vì, với tên gọi Thần Quang tự nó gần gũi, thích hợp với quần chúng hơn Thần Quang là ánh sáng của đạo pháp, là ánh sáng “từ tâm” để mở “thiện căn”
Theo Các lớp văn hoá trong sự tích thánh Dương Không Lộ của Phạm
Thị Thu Hương Hai chùa này, ngoài thờ Phật còn thờ một vị thánh là Dương Không Lộ - một vị thiền sư kiêm đạo sĩ thời Lý Đó là chùa Keo thuộc làng Hành Dũng Nghĩa (tức Hành Nghĩa và Dũng Nghĩa) nay là xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình và chùa Keo thuộc làng Hành Thiện nay là xã
Trang 109
Xuân Hồng, huyện Xuân Thuỷ, tỉnh Nam Định (theo các văn bia cổ ở hai chùa, thì chùa Keo Thái Bình xã Dũng Nhuệ, còn chùa Keo Nam Định thuộc
xã Hành Cung, cả hai xã này đều thuộc huyện Giao Thuỷ, phủ Thiên Trường,
trấn Sơn Nam xưa) [10, tr.70-82]
Truyền thuyết và tư liệu bia ký lưu ở hai chùa Keo đều nói: Chùa có từ thời Lý, ở thời Trần có cả nghìn mẫu ruộng Hẳn lúc này đất mới bồi rất rộng, người còn thưa và do đó chùa làng cũng đơn sơ Đến thời Hậu Lê, làng lớn dần, dân đông, bộ mặt khởi sắc hẳn lên Trong chùa Keo Thái Bình, ở gian thờ Hậu có bài vị Phạm Tráng, đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, khoa
Kỷ Mão, đã làm tới chức Lại bộ thị lang
Sách Các nhà khoa bảng Việt Nam cho biết, Phạm Tráng người Dũng
Nhuệ, huyện Giao Thuỷ, có học vị và chức tước như ở bài vị, chỉ khác một chút là đỗ khoa Nhâm Tuất niên hiệu Cảnh Thống 5 (1502), (nếu Kỷ Mão thì
là 1519) Như vậy, đầu thế kỷ XVI nơi đây đã là vùng quê văn hiến Năm
1588 và 1611, những trận vỡ đê, lụt lớn, đất lở khiến cho nhân dân vùng này phải chia đôi, rồi tái lập làng mới Hành Cung ở hữu ngạn, Dũng Nhuệ ở tả ngạn sông Hồng, đồng thời cũng xây hai chùa Thần Quang mới mà gọi theo tên Nôm của hai làng đều là chùa Keo
Ngày nay, hai chùa này theo đường chim bay cách nhau khoảng 3 km, nếu đi đò không quá 5 km Cả hai chùa Keo đã qua nhiều lần tu bổ, song trong chùa còn nhiều bia cho biết quá trình phát triển của từng chùa, qua đó
có thể đối chiếu lịch sử và hiện trạng của hai công trình để thấy sự gắn bó đặc biệt của cặp song sinh này
Những tư liệu văn tự ấy cùng với Hồ sơ di tích đã đề cập đến sự tích
đức Thánh và quá trình tu bổ chùa Chùa Keo Thái Bình được dựng từ đầu thế
kỷ XVI, đến đầu thế kỷ XVII được trùng tu với quy mô lớn, nhưng lũ lụt năm
1611 (?) làm cho ngôi nhà trôi dạt Từ tháng 8 năm Canh Ngọ (1630) đến
Trang 1110
tháng 11 năm Nhâm Thân (1632) chùa được dựng lại với quy mô lớn, gồm Phật điện, hành lang, gác chuông, nhà oản, tam quan, nhà am, nhà bia tất cả
21 dãy gồm 154 gian, có tường vách bao quanh bốn phía Đến năm Tân Hợi (1671), chùa lại được tu sửa thêm, to đẹp hơn trước Năm 1698, đúc lại quả chuông to, cao hơn 180 cm Năm 1796, dân xã Dũng Nhuệ đúc thêm hai quả chuông nữa Từ tháng 3 năm Giáp Thân (1884) đến tháng 3 năm ất Dậu (1885) tu sửa hai toà Hộ Pháp (Tiền đường) và Tiền Thần (điện Thánh) Ngoài ra, còn có những lần sửa chữa ở khoảng giữa và cuối thế kỷ XX: Năm
1941, sửa lại Gác chuông và toà Giá roi Tháng 2 năm 1954, Gác chuông bị đạn pháo của Pháp bắn đổ 2 tầng trên, cuối năm 1957 được sửa chữa lại như
cũ Năm 1991 và 1994 trùng tu dãy hành lang phía Tây và phía Đông Năm
1996, trùng tu toà Giá roi Năm 1997, kè đá lại bờ các hồ xung quanh chùa Năm 2002 trùng tu tam quan và nhà kiệu Năm 2004 đến nay trùng tu khu chùa Phật và Gác chuông Bên cạnh đó, nhiều câu đối có lạc khoản rõ ràng, được làm vào các năm 1842, 1860, 1873, 1874, 1875, 1889, 1902 cùng đó là một số hoành phi có lạc khoản “can chi”, thuộc các năm 1865, 1867, 1870,
1882, 1886 Trong những đồ thờ có ghi niên đại, đặc biệt có đôi chân đèn gốm thời Mạc làm năm 1581, một số đồ đồng khắc rõ tên người hoặc tập thể cung tiến như các hội Tân Hưng, hội Phú Thọ, hội Nghĩa Phúc vào các năm can chi: Giáp Dần (1914) và Bính Dần (1926) [4, tr.56-61]
Chùa Keo Nam Định hiện còn 3 tấm bia tạc năm 1612, 1671, 1704, một tấm bị vỡ dọc mất phần ghi niên đại, nhưng căn cứ vào các hình trang trí, có thể thuộc đầu thế kỷ XVII và 2 quả chuông đồng đúc năm 1895 cùng một chiếc khánh đồng [8, tr.32]
Hệ thống thư tịch cho biết: chùa Keo Nam Định được dựng ở xã Hành Cung Khoảng năm 1612, một số người đã bỏ tiền làm thêm các toà Tiền đường, Thiêu hương, Bảo điện (Thượng điện) Mấy chục năm sau, chùa được
Trang 1211
xây dựng lại với các toà Tiền và Hậu Phật đường, hành lang hai bên và Gác chuông rộng rãi Nhưng rồi ngôi chùa chạm khắc quy mô, nguy nga ấy bị đê
vỡ làm đổ nát Vào năm 1671, quan và dân ở đây đã trùng tu lại, tốn hơn vạn quan tiền Đến năm 1704, đúc tượng Thánh, năm 1861 (?) đúc khánh và năm
1895 đúc hai quả chuông, trong đó có quả cao tới 166 cm [4, tr.52-54]
Như vậy, cả hai chùa Keo ở Thái Bình và Nam Định đều từ một gốc chung là ngôi chùa thuộc các thời Lý - Trần đến thời Lê đã tách đôi theo dân
đi tái lập làng ở Dũng Nhuệ và ở Hành Cung, cùng được làm lại ở các thập niên đầu thế kỷ XVII, mở rộng và làm mới khang trang hơn ở thập niên 30, đến đầu thập niên 70, từ đó đến nay tương đối ổn định Những năm cuối thế
kỷ XVII trở đi cho đến suốt các thế kỷ XVIII - XIX và XX chỉ có sửa chữa, đúc tượng, chuông, khánh và làm nhiều hoành phi, câu đối cùng những đồ thờ quý giá
1.1.2 Quá trình xây dựng chùa Keo
Theo Hồ sơ di tích lịch sử văn hóa Chùa Keo thì công việc xây dựng
ngôi chùa Keo Thượng được bắt đầu từ năm 1630 và hoàn thành vào năm 1632 theo phong cách kiến trúc thời Lê, nhờ sự vận động của bà Lại Thị Ngọc, vợ Tuần Thọ hầu Hoàng Nhân Dũng và Đông Cung Vương phi Trịnh Thị Ngọc Thọ Chùa do Cường Dũng hầu Nguyễn Văn Trụ vẽ kiểu, phỏng theo kiến trúc của chùa Keo Hành Thiện Sau khi xây dựng xong, chùa được trùng tu nhiều lần, vào các năm 1689, 1707, 1941 Lần trùng tu năm 1941,
có sự giúp đỡ của Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp [11, tr.10-17]
Căn cứ vào nội dung hai tấm bia đá đặt trước của Toà Ông Hộ Chùa Keo hiện nay thì Chùa Keo có tên là Thần Quang và có xuất xứ liên quan đến chùa Nghiêm Quang do Thiền Sư Không Lộ làm năm 1061 tại làng Giao Thủy – Nam Định, văn bia ghi như sau:
Trang 1312
“Nghiêm Quang Tự làm năm Tân Sửu (1061), niên hiệu Chương Thánh Gia Khánh thứ 3, đời vua Lý Thánh Tông Năm Đinh Hợi (1167), niên hiệu Chính Long Bảo Ứng thứ 5, đời vua Lý Anh Tông ban chiếu đổi tên chùa là Thần Quang Tự”
Mô tả quang cảnh chùa Thần Quang thời Lý ở ấp Giao Thuỷ văn bia còn ghi lại:
“Nơi thờ Phật nước Nam đâu đâu cũng có, nhưng chỉ có chùa Thần Quang ở vùng Dũng Nhuệ làng Giao Thuỷ ( có nghĩa là vùng nước keo sơn gắn bó – tên nôm là làng Keo ) là nơi danh thắng bậc nhất từ Bắc chí Nam
Phía chu tước ( trước) dòng xà giang chầu vào bao la vạn khoảnh Phía huyền vũ ( sau) sông Hoàng Giang vòng lại mênh mông ngàn tầm
Bể Nam Hải uốn quanh từng khúc phô hình dải lụa xanh lam
Dây rừng cây tua tủa vươn cao như búi tóc mây sắc lục
Thật là một cõi Tây Trúc trong chốn Tùng Lâm vậy
Đoạn văn bia “ Hưng Công tín thí” tại chùa Keo ghi rõ: Tín chủ hưng công xây dựng là ông Hoàng Nhân Dũng (quê Từ Quán – Nam Trực – Nam Định ngày nay), ông giữ chức Dực vận tán trị công thần, đặc tiến kim tử Vĩnh
Trang 1413
Lộc đại phu Người thủ hoạ là ông Nguyễn Văn Trụ (quê huyện Ngọc Sơn) làm tán trị công thần tước cường dũng hầu, đô chỉ huy sứ
Bắt đầu từ đó dân làng bắt đầu cuộc vận động xây dựng lại hai ngôi chùa Keo ở hai làng Ngày nay hai làng có hai làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định nhân dân làng đó cũng xây dựng lên một ngôi chùa Keo mới
Tại làng Hành Dũng Nghĩa có chùa Thần Quang mà hiện nay quen gọi
là chùa Keo Về thời gian xây dựng chùa Keo trên văn bia ghi rõ: Công trình khởi công tháng 8 năm Canh Ngọ (1630) niên hiệu Đức Long thứ 2, đời vua
Lê Thần Tông; hoàn thành vào tháng 11 năm Nhâm Thân (1632) Đó là tính thời gian thợ mộc và thợ nề xây dựng, còn thời gian đào ao, vượt thổ đã được tiến hành cách đó gần 19 năm
1.2 Kiến trúc Chùa Keo
1.2.1 Kiến trúc chùa Keo
Chùa Keo có một phong cách kiến trúc rất độc đáo Với chất liệu chủ yếu bằng gỗ và với những đường nét chạm trổ rất tinh xảo đã tạo cho nơi đây một phong cách riêng Chùa Keo là một quần thể kiến trúc bao gồm nhiều hạng mục công trình Bên cạnh những hạng mục công trình còn khá nguyên vẹn, thì do thời gian tàn phá nên nhiều công trình đã được trùng tu, tôn tạo, thay thế nên mang tính hiện đại hơn Nhưng dù có sự biến đổi nó vẫn giữa được những nét đặc sắc riêng của phong cách kiến trúc một thời
Theo Lịch sử Chùa Keo Thái Bình, khi chuyển địa điểm mới, xây dựng
Chùa sang tả ngạn sông Hồng (nay thuộc xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình), hưng công Hoàng Nhân Dũng cùng thủ hoạ Nguyễn Văn Trụ nhận thấy đây là vị trí đắc địa theo thuật phong thuỷ Phía trước dòng sông Hồng uốn quanh với một khoảng đất dài hàng chục dặm không hề có án ngữ
Trang 1514
trước mặt Chiếu thẳng sang bên hữu ngạn sông Hồng cũng là đồng bãi bao la phù sa màu mỡ, nơi đó cũng là tiếp nối với sông Ninh Cơ cùng đưa nước xuôi
về biển cả Hai bên đông và tây có Thanh Long, Bạch Hổ phù giúp, phía Chu Tước (trước) dòng xà giang chầu vào, phía Huyền Vũ (sau) cây cối xóm làng trù phú tốt tươi [2, tr.18-35]
Trục thần đạo theo phương tý - ngọ (nam - bắc) trở thành trục, đối xứng toàn bộ công trình kiến trúc Từ cột phướn đến trung quan của Tam quan ngoại, Tam quan nội, lư hương, bàn thờ Phật, thờ Thánh, gác chuông đều nằm trên đường thần đạo này Qua khoảng sân rộng với cổ thụ tươi tốt bao quanh, theo bờ hồ nam vào thăm Tam quan nội Đường đi xuất nhập của công trình đều thành hình chữ Á
Văn bia và địa bạ chùa Keo còn ghi lại diện tích toàn khu kiến trúc chùa rộng khoảng 58.000m², gồm nhiều ngôi nhà làm thành những cụm kiến trúc khác nhau Hiện nay toàn bộ kiến trúc chùa còn lại 17 công trình gồm
128 gian xây dựng theo kiểu “Nội công ngoại quốc”
Nói về quy mô và vẻ đẹp của chùa Keo khi mới hoàn thành trên bia đá lớn trước cửa Toà Ông Hộ chùa Keo có ghi rõ:
“Từ đông sang tây Nguy nga, lộng lẫy Hai chục lâu đài Sáng trong như ngọc
Ba ngàn thế giới Không chút bụi trần Phong cảnh trời Nam Vun về Chùa Thần Quang là đệ nhất”
Trang 1615
Tính đến nay đã gần 400 năm, nhưng toàn bộ các hạng chính của chùa Keo vẫn còn gần như nguyên vẹn
Đó là hai lớp Tam Quan, Chùa Phật, Đền Thánh, gác chuông, hành lang và một số công trình nhỏ nữa Ngoài 17 công trình gồm 128 gian, những năm gần đây có sự đầu tư của Nhà nước và lòng hảo tâm đóng góp của Phật
tử thập phương, chùa Keo đã xây dựng thêm một nhà Tổ 5 gian và một khu thờ Thánh Mẫu, phía sau gác chuông nhằm đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của Phật tử, nhân dân cũng như quý khách thập phương
Từ cột cờ bằng gỗ chò thẳng tắp cao 25m ở ngoài cùng, đi qua một sân
đá, sẽ tới tam quan ngoại, hồ sen, tam quan nội với bộ cánh cửa cao 2m, rộng 2,6m chạm một ổ rồng mẹ và rồng con, chầu mặt nguyệt Nếu đôi cánh cửa ở chùa Phổ Minh tiêu biểu cho kiến trúc đời nhà Trần thì đôi cánh cửa chùa Keo tiêu biểu cho kiến trúc đời Lê
Qua tam quan, đi tiếp vào chùa, gặp ở hai bên 24 gian hành là nơi dành cho khách hành hương sắp lễ vào chùa lễ Phật và lễ Thánh
Đi đến phần chùa thờ Phật, gồm ba ngôi nhà nối vào nhau Ngôi nhà ở ngoài, gọi là chùa Hộ, ngôi nhà ở giữa gọi là ống muống và ngôi nhà trong là Phật điện Đặc biệt ở đây có tượng phật Thích Ca nhập Niết bàn, tượng Bồ Tát Quan Âm Chuẩn Đề đặt ở giữa tượng Văn Thù Bồ Tát và Phổ Hiền Bồ Tát Toàn bộ khu thờ Phật của Chùa Keo có gần 100 pho tượng
Chùa ngoài thờ Phật, còn thờ Không Lộ - Lý Quốc Sư Toàn bộ công trình đều làm bằng gỗ lim và là nơi được các nghệ nhân điêu khắc thời nhà hậu Lê chạm khắc rất tinh xảo
Sau khu thờ Phật là khu thờ Thánh Tại hội chùa Keo, sau khi đã có những nghi lễ như mọi hội chùa khác, thì diễn ra các chơi như kéo nứa lấy lửa, nấu xôi, nấu chè và nấu cơm chay để mang cúng Thánh Phía ngoài có
Trang 1716
một giếng nước Thành giếng xếp bằng 36 cối đá thủng đã từng dùng giã gạo nuôi thợ xây chùa từ xưa
Tiêu biểu và đặc sắc nhất ở ngôi chùa này chính là toà gác chuông chùa Gác chuông chùa Keo là một kiến trúc đẹp, đặc sắc, rất độc đáo với chiều cao 11.04m có ba tầng mái, kết cấu bằng những con sơn xếp chồng lên nhau Bộ khung gác chuông làm bằng gỗ liên kết với nhau bằng mộng, nâng bổng 12 mái ngói với 12 đao loan uốn cong dáng vẻ thanh thoát, nhẹ nhàng Gác chuông được dựng trên một nền gạch xây vuông vắn Ở tầng một có treo một kháh đá cao 1,20m Tầng hai có quả chuông đồng lớn đúc năm 1686 cao 1.30m đường kính 1m Hai quả chuông nhỏ treo ở tầng ba và tầng thượng cao 0.62m, đường kính 0.69m đều được đúc năm 1796 [11, tr.67-69]
Hai hành lang chạy dài từ chùa Hộ nối với nhà tổ và nhà trai sát gác chuông, bao quanh toàn bộ chùa
Đến thăm chùa, ta có thể nhìn thấy những đồ thờ quý giá tương truyền
là đồ dùng của Thiền sư Không Lộ như bộ tràng hạt bằng ngà, một bình vôi
to và ba vỏ ốc lóng lánh như dát vàng mà tương truyền rằng chính do Không
Lộ nhặt được thuở còn làm nghề đánh cá và giữ làm chén uống nước trong những năm tháng tu hành
Trải qua 400 năm tu bổ, tôn tạo, chùa Keo vẫn giữ nguyên bản sắc kiến trúc độc đáo của mình Gác chuông chùa Keo với bộ mái kết cấu gần 100 đàn đầu voi là viên ngọc quý trong gia tài kiến trúc Việt Nam Bộ cánh cửa chạm rồng là bộ cửa độc đáo mà ít ngôi chùa nào trên cả nước có được Chùa còn bảo lưu được hàng trăm tượng pháp và đồ tế thời Lê Có thể nói Chùa Keo là
một bảo tàng nghệ thuật đầu thế kỷ 17, với nhiều kiệt tác đặc sắc
Trang 1817
1.2.2 Các công trình tiêu biểu
Hiện nay chùa Keo còn 17 công trình với 128 gian Đó là các công trình kiến trúc chính như: chùa Phật, điện Thánh, gác chuông, hành lang và khu tăng xá, vườn tháp,…
1.2.2.1 Hệ thống Tam Quan
Trong kiến trúc các ngôi chùa nói riêng và nhiều hệ thống công trình khác ở Việt Nam nói chung, thì Tam Quan là một tiểu công trình không thể thiếu, Tam Quan chính là lối đi nằm ở phía trước của ngôi chùa, gồm 3 lối đi, nhưng nó không thuần túy chỉ là cái cửa ra vào, mà nhiều tam quan còn là những kiệt tác kiến trúc Hệ thống tam quan chùa Keo chính là một trong những công trình như vậy
Hệ thống tam quan chùa Keo được chia thành: Tam quan ngoại và tam quan nội Từ mặt đê theo bậc tam cấp đi xuống, qua một khoảng sân rộng sẽ đến Tam Quan Ngoại Đây là một ngôi nhà ba gian không có tường bao, không có cửa Toàn bộ hệ thống công trình được nâng đỡ bởi 4 hàng cột gỗ lim vững chắc, nó tạo nên một không gian mở, thoáng mát để du khách nghỉ chân trước khi vào lễ chùa
Đáng chú ý nhất là hệ thống Tam Quan Nội, đây là một công trình kiến trúc khá độc đáo của riêng chùa Keo Thông thường hệ thống Tam Quan hoặc
là 4 trụ biểu lớn tạo thành ba lối đi vào chính diện công trình kiến trúc, hoặc
là được xây dựng như một ngôi nhà với ba cửa vào (như Đại Cung Môn – lối vào Tử Cấm Thành trong kinh Thành Huế) Nhưng ở Tam Quan Nội chùa Keo, thoạt đầu đứng từ bên ngoài nhìn thì đây là một ngôi nhà ba gian, có hiên có cửa đàng hoàng, nhưng khi lên hiên thì thấy ngôi nhà này chỉ có ba hàng cột, toàn bộ cánh cửa, ngưỡng cửa lắp vào hàng cột cái, hàng cột cái này
Trang 1918
lại chọi thẳng vào nóc nhà Đằng trước và đằng sau chỉ còn một hàng cột, hàng cột này vừa là cột hiên cũng vừa là cột quân Vì vậy mà không có long, nhìn phía nào cũng chỉ thấy cửa, thấy hiên Đó chính là lối kiến trúc theo thuyết “sắc sắc không không” của đạo Phật
Đặc biệt bộ cánh cửa gian giữa Tam Quan, bộ cánh cửa này gồm hai cánh, mỗi cánh cao 2,2m rộng 1,3m khi khép lại tạo thành một bức phù điêu hoàn chỉnh, chạm đề tài “lưỡng long mẫu tử chầu nguyệt” Chính giữa hai cánh cửa chạm một mặt nguyệt lớn, mỗi bên cánh cửa chạm một con rồng mẹ
và một con rồng con, phía góc dưới chạm con nghê con tất cả đều đang hướng
về mặt nguyệt
Sự hài hòa được người nghệ nhân thể hiện ở chỗ: trên phiếm gỗ lim với
độ chạm sâu không quá 3cm mà người nghệ nhân vẫn thể hiện rất chuẩn xác luật xa gần, tối sáng của nghệ thuật chạm trổ truyền thống Thân rồng khúc ẩn khúc hiện, bầy rồng con xa con gần, quyện lấy nhau Rồng mẹ đầu tóc dữ dội, thân uốn nhiều lần, rồng con dáng vẻ thảnh thơi núp sau bóng mẹ Toàn bộ môi, râu, bờm rồng dường như bốc lửa Mây ám thân rồng, chỗ bốc lên thành mây lửa, chỗ chúc xuống thành rừng giáo mác, thân rồng chìm trong biển lửa cháy rực Đường chạm sắc sảo, nét khắc tinh vi, bố cục chặt chẽ khiến các con linh vật vốn không có thật trở nên sống động lạ thường
1.2.2.2 Quần thể kiến trúc bên trong chùa
Quần thể kiến trúc bên trong chùa được thiết kế theo kiểu “nội nhị công, ngoại nhất quốc”
Khu thờ Phật có 3 tòa nhà: tòa Ông Hộ và tòa Tam Bảo nối với nhau qua tòa Ông Muống thành chữ công (I) thứ nhất (theo chữ Hán)
Trang 2019
Khu đền Thánh có 3 tòa: tòa Thiêu Hương và tòa Thượng Điện nối với nhau qua tòa Phụ Quốc tạo thành chữa Công (I) thứ hai
Hai dãy hành lang mỗi bên 33 gian nối qua 2 toà tả vu, hữu vu – gác chuông và Tam Quan nội thành ô chữ quốc bao bọc bên ngoài Mỗi chữ công thờ một thân chủ Chữ công phía trước thờ Phật, chữ công phía sau thờ Thiền
Sư Dương Không Lộ Đó cũng là lối kiến trúc “Tiền Phật hậu Thánh”
Hai bên hành lang đông, tây cùng với Toà Ông Hộ bao quanh khu thờ Phật, thờ Thánh trở thành khung chữ Quốc Hai hồ lớn nằm nằm bên tả, hữu cùng hồ nam trở thành ba mặt gương trời tự nhiên soi bóng Chùa lung linh huyền ảo Cha ông ta xưa thật là tài tình, áp dụng thuật phong thuỷ trong kiến trúc cổ “thượng gia hạ trì” Không gian chốn Thiền lâm như được mở rộng hơn, hệ thống cây cổ thụ xanh tươi (hành mộc) kết hợp hồ nước (hành thuỷ) tương snh càng làm cho vượng khí gia tăng, vạn vật và con người càng phát đạt
Vào trong khu thờ Phật ta thấy Toà Ông Hộ có 7 gian với tổng chiều dài 24m, rộng 6m [11, tr.71-73] Nơi đây mái cao lồng lộng, hệ thống kẻ tiền chạm trổ công phu Kẻ góc cách điệu thành cá hoá rồng hoặc chạm rồng phượng Hệ thống chắn gió chỗ chạm rồng quỳ, chỗ chạm long ổ, long ám, long quần Rồng bay trên mây, rồng vui cùng nghê sấu Nhiều tấm chắn gió chạm hoa văn sóng nước cuốn thành hoa dây Sóng cuốn thành hoa cúc, hoa sen, thành hình con dơi theo kiểu “ ngũ phúc lâm môn”cách điệu Các đầu dư bẩy, kẻ đều chạm rồng Những đầu rồng to, khoẻ, mắt tròn trợn ngược, nanh sắc như mác, miệng ngậm viên ngọc, râu bện vào nhau, tóc bờm vút về phía sau như thế rồng bay
Toà Ống Muống và Toà Tam Bảo nhỏ hơn Toà Ông Hộ Hai toà này làm theo kiểu lòng thuyền tứ trụ, thượng giường hạ kẻ Đường soi nét bào bóng nuột tạo vẻ thanh nhã Bức cốn gian trung tâm toạ hình con phượng lớn
Trang 2120
Mào, mỏ phượng cất cao như nhụy sen cách điệu Đôi cánh xoè ra như hai cánh quạt lông đan chéo nhau Dáng phượng nửa đậu nửa bay trông thật đẹp mắt
Cách khu thờ Phật một khoảng sân nhỏ là khu Đền Thánh, nơi đây thờ Thiền Sư Dương Không Lộ, một tông đồ của Đạo Phật Nhưng Đền Thánh được xây dựng hoành tráng hơn khu Chùa Phật Riêng bộ mái đã chia thành 4 loại: Tòa Phụ Quốc mái chảy, Toà Giá Roi theo kiểu hồi diêm, hai Toà Thiêu Hương và Thượng Điện theo lối chéo đao tàu góc Trên bờ nóc chỗ trổ chìm, chỗ đắp nổi hoa chanh Bờ cánh chỗ tỉa, chỗ trổ thủng đường dây hoa thị Xô hồi, kìm nóc khá đẹp Ngạc long ôm bờ nóc, râu bờm dựng đứng, nanh nhọn, mắt tròn, đuôi cuộn ngược
Trong khu Đền Thánh, các tảng đá kê chân cột đều chạm cánh sen Các đầu củng, chắn phong đều được chạm trổ hết sức công phu Trên các chắn phong, rồng mẹ dắt díu đàn con vui đùa với thú Thú cưỡi lưng rồng, thú túm râu rồng, thú đu trên chùm mây lửa
Đặc biệt, ở đây tất cả các vẩy, kẻ đều có con sơn chống đỡ hai đầu 42 con sơn ngoại chạm 42 con rồng với các dáng vẻ khác nhau Chỗ này rồng quấn 3 vòng, 5 vòng quanh con sơn Chỗ kia rồng tỳ ngực vào cột dồn hết sức giơ đầu đỡ kẻ 42 con sơn nội nhỏ hơn nhưng chạm trổ công phu hơn Cái thì chạm rồng bốc lửa đưa đầu đội bẩy, cái lại chạm rồng đang khom lưng uốn mình cõng đấu Hoặc chạm nghê thần cõng kẻ, đội hoành, đạp đấu Đường chạm nét khắc sắc xảo tinh vi vẻ mặt hồn nhiên, khỏe mạnh
1.2.2.3 Gác chuông chùa Keo
Nói đến những công trình tiêu biểu của Chùa Keo không thể không nhắc tới gác chuông Chùa, đây là công trình kiến trúc độc đáo nhất của Chùa Keo
Trang 2221
Khác với kiến trúc của nhiều ngôi chùa trên đất nước ta, thường xây dựng bằng vôi gạch, thì Chùa Keo hoàn toàn bằng gỗ lim Thái Bình không
có rừng núi, vì vậy từ xa xưa cha ông ta đã bỏ ra bao công sức vượt núi cao, thác hiểm, để đưa gỗ theo sông suối về dựng làm Chùa Gác chuông nằm ngay phía sau Đền Thánh, có ba tầng treo chuông, tượng trưng cho ba thế giới: Dục giới, sắc giới và vô sắc giới Dưới cùng là tầng đặt cầu thang đi lên
và ba cửa đông, tây và nam
Toàn bộ khu gác chuông nhìn từ xa như một tòa sen nổi bật lên trên nền trời với độ cao 11.7 m, mái cong có đắp đao cuộn mềm mại Bốn cột cái bằng
gỗ lim đường kính 68cm, cùng nhiều hàng cột con tạo nên thành gian khung chịu lực cho toàn bộ công trình Đá tảng kê chân cột cái được các nghệ nhân xưa tạo dáng cổ bồng cách điệu hoa sen Bậc thang đi lên tầng treo chuông đầu tiên đặt ở phía tây bắc của gác chuông, đây là phương càn hợi trong bát quái với ý nghĩa tượng trưng là trời
Khi lên hết cầu thang, ta thấy ngay quả chuông đồng lớn được chính giữa tầng hai, chiều cao quả chuông đến 1.8m ; đường kính rộng 1m Các nghệ nhân đúc quả chuông này năm Bính Ngọ (1786) niên hiệu Chính Hòa thứ 7, đời Lê Huy Tông Hai quả chuông khác nhỏ hơn, chỉ cao 62cm; đường kính 69cm, mỗi quả đều có dòng chữ nhưng đều bị đúc mất chữ ghi niên hiệu Bằng cơ sở khoa học, các nhà sử học đã chứng minh đây là quả chuông đúc năm Bính Thìn (1796) Cảnh Thịnh thứ 4 Như vậy, chùa Keo có hai quả chuông đúc vào thời Tây Sơn – một triều đại ngắn ngủi nhưng huy hoàng trong lịch sử [11, tr.21-22]
Một điều đặc biệt nữa là gác chuông hoàn toàn bằng gỗ, lại được dựng với độ cao lớn nhưng kết cấu thật vững chắc Bốn cột cái khi nối chồng lên qua các tầng đều gối lên đấu gỗ; ngoài ra còn có hệ thống tay đòn đóng vai trò
xà thượng, xà hạ liên kết như một giàn giáo Những mối liên kết là mộng gỗ
Trang 2322
được tính toán rất chi tiết, nhiều chỗ các nghệ nhân tài ba dùng mộng mắt, vì vậy toàn bộ hệ thống là một khối vững chắc không bị lung lay khi gặp gió bão hay chấn động
Hệ thống tay đòn tại gác chuông chùa Keo đã tạo sự khác biệt với rất nhiều công trình Người thủ họa thiết kế khéo léo xử lý tạo điểm nhấn giữa các tầng với nhau Nằm ngay dưới mái ngói ta lợp đều là các đường kẻ bẩy cong lòng thuyền Tay đòn được khóa bên trong và bên ngoài, phần đầu phía ngoài được đưa hẳn ra, đầu cong vút, cả gác chuông với gần trăm đầu như vậy, du khách ngắm gác chuông bất cứ từ góc độ nào đều nhận thấy Giới kiến trúc còn liên tưởng trông như hàng trăm đầu ngà voi cùng hợp sức quỳ xuống, cúi đầu nâng đỡ mái gác chuông từ gần 400 năm nay Bên cạnh đó, hệ thống ánh sáng và không khí cũng được người xưa tính toán hợp lý, khoa học Cánh cửa đóng chân quay đóng mở dễ dàng, phần bảo đảm an toàn là chấn song con triện gỗ thanh thoát Cửa thông phong trạm gỗ hoa văn thoáng, đón gió và ánh sáng trời tự nhiên, khắp bốn hướng Khi thời tiết xấu như mưa bão, người ta có thể đóng lại bằng cánh cửa gỗ rất an toàn Du khách lên gác chuông đều cảm nhận nơi đây thông thoáng và mát, nhất là từ tầng thượng có thể bao quát cả một vùng rộng lớn, với sông Hồng đỏ lựng phù sa và phóng tầm mắt ra xa có thể thấy cả dãy núi đá từ Ninh Bình
Ngay đầu hồi phía đông Tòa Thượng Điện là một cái giếng Đường kính miệng giếng rộng hơn 2m, sâu gần 4m, được xếp hoàn toàn bằng đá Phía trên là 36 cối đá thủng xếp lại Đây chính là những chiếc cối mà dân làng
đã dùng đẻ giã gạo nuôi dân công, nuôi thợ làm Chùa từ khi đào ao vượt thổ tới khi hoàn thành [11, tr.82-86]
Theo kiến trúc phong thủy, gác chuông cao nhất cùng với giếng nước sâu là biểu hiện âm dương hòa hợp sinh khí, kiến tạo nên muôn loài
Trang 2423
Từ trên cao nhìn xuống, gác chuông chùa Keo trông giống như mái nhà Rông của đồng bào dân tộc Tây Nguyên Cấu trúc các tầng nhẹ nhàng, khỏe đẹp Dưới hệ thống tàu mái của mỗi tầng xếp 84 cánh rui bay thành 3 tầng, 28 cum lớn liên kết với nhau bằng những thanh xà mảnh như dàn cánh tay đỡ mái Hệ thống dàn rui bay này được được đặt trên dàn đấu củng đối trọng vào bên trong qua 3 hàng tay đòn thẳng gối tựa xà lách Ba quả chuông đồng nặng gần 2 tấn treo chính tâm gác chuông cùng sức nặng của dàn mái tạo lực trọng trường kéo các mộng luôn gắn kết chặt với nhau tạo thế vững chắc cho gác chuông
Nhờ tỉ lệ giữa các tầng cân đối, độ thu trả vừa phải giữa các tầng hiên, tầng mái, cự ly giãn cách giữa các cột chuẩn xác khỏe về lực, đẹp về dáng Vì vậy đứng ở bất kỳ vị trí nào ngắm bất kì góc độ nào gác chuông chùa Keo đều đẹp cả
Đặc biệt, một vinh dự lớn đối với chùa Keo: ngày 12/12/2007, trung tâm sách kỷ lục Việt Nam – nhà xuất bản Thông tấn xã và Website: kyluc.com.vn cấp bằng công nhận và trao cúp “ Ngôi chùa có gác chuông gỗ cao nhất Việt Nam” [11, tr.167]
1.3 Lễ hội chùa Keo
Chùa Keo hàng năm đều có hai kỳ mở hội, đó là hội xuân vào ngày mồng 4 tết Nguyên Đán và chính hội vào mùa thu từ ngày 13 đến 15 tháng 9
âm lịch
Lễ hội Chùa Keo ấn tượng với những nét thiêng liêng, thành kính, độc đáo trong phần lễ và những trò chơi dân gian đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp xúc với nếp sống, nếp nghĩ của người dân nơi đây Lễ hội là dịp để người dân trong làng đoàn tụ, sum họp, cùng chia sẻ niềm vui, cùng chơi hội Thắp nén nhang thành kính tưởng nhớ, tri ân công đức các bậc hiền nhân, giáo dục con
Trang 2524
cháu đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” [10, tr.167]
Lễ hội Chùa Keo gồm có phần lễ với những hoạt động tế, rước trang nghiêm và phần hội với những tiết mục văn hoá văn nghệ, những trò chơi dân gian độc đáo như: hát chèo, diễn quan họ, tổ tôm điếm, cờ người, thi bắt vịt dưới hồ, võ vật Quy mô và không khí lễ hội được tổ chức theo nếp sống mới vừa trang trọng, văn minh, công tác an ninh trật tự, vệ sinh môi trường được đảm bảo, không có tệ nạn bói toán, mê tín, cờ bạc
1.3.1 Hội Xuân
Vào ngày mồng 4 tháng giêng âm lịch, nhân dân làng Keo xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình lại mở hội xuân ngay ở ngôi chùa mang tên làng Hội khai xuân mồng 4 tết được mở để mọi người lên Chùa lễ Phật cầu an, vào Đền lễ Thánh để cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu - một lễ hội tiêu biểu ở vùng đồng bằng Bắc Bộ [9, tr.164]
Sau nghi thức cắt băng mở cửa thánh, làm lễ khai chỉ, các đoàn đại biểu của tỉnh, của huyện và các xã lân cận cùng các tăng ni tín đồ phật tử, du khách gần xa đã dâng hương tưởng nhớ công đức của quốc sư Dương Không Lộ cũng như những người có công xây dựng, làm nên di tích lịch sử văn hoá quốc gia đặc biệt mang đậm bản sắc kiến trúc độc đáo từ thời Lê Trung Hưng thế kỷ 17
Làng Keo xưa được chia làm tám giáp là: Đông Nhất, Đông Nhì, Đại Hữu, Vọng Động, Đoài Nhất, Vọng Đoài, Hoàng Quý và Đường Thịnh Các giáp chuẩn bị cho cuộc thi nấu cơm vào sáng mồng 4 tháng Giêng được tổ chức ngay trước cửa chùa Ông Hộ Nhưng nông phẩm tốt như gạo nếp, đỗ xanh, được chọn lọc kỹ Người thi công phu lựa chọn những thanh nứa thật già, phơi hong thật khô lên gác bếp hàng năm rất cẩn thận Những thanh nứa này dùng vào việc kéo lửa để từ đó lấy nguồn lửa nấu cơm, nấu chè cúng Phật [13, tr.62]
Trang 2625
Trong ngày chính hội, bên cạnh tín ngưỡng lễ Phật cầu may đầu năm,
du khách được tham gia các trò chơi dân gian như bắn vịt, nấu cơm, quăng pháo đất, kéo nứa lấy lửa
Dưới hồ tổ chức thi bắt vịt Người ta thả những con vịt lặn giỏi, người
dự thi cũng phải bơi tài Ai bắt được vịt, người đó được coi như gặp may mắn đầu năm
Trên cây phướn cao dựng tại sân trước Tam Quan còn tổ chức thi ném pháo, đấu roi
Hội Xuân làng Keo vừa là hội lễ nông nghiệp, vừa là hội thi tài Bởi thế ngoài việc lễ Phật, hội còn vui là nhờ có ba cuộc thi gắn bó với sinh hoạt của cư dân vùng nông nghiệp trồng lúa nước: Thi bắt vịt, thi ném pháo, thi nấu cơm
Hàng năm cứ đến ngày 10/9 các cụ làng Keo làm lễ Khai chỉ, mở cửa Chùa, hạ tải, dựng phướn Các phe, các giáp trong làng kiểm tra lại lực lượng, dụng cụ để chuẩn bị cho việc tổ chức lễ hội Các tổ chức tiến hành tổ rước tiến hành tổ chức tập dượt, hoàn tất mọi công tác chuẩn bị
Trang 2726
Giờ Dần ngày 13/9(âm lịch), chuông Chùa, trống cái gióng lên ba hồi chín tiếng Tất cả trai kiệu trong làng vào ao hồ, tắm rửa sạch sẽ, thay y phục bắt đầu tổ chức lễ rước Thánh
Cụ đồ Nguyễn Văn Hàm (một nhà nho quê làng Keo) đã viết bài thơ tả cảnh Lễ rước Thánh như sau:
“Làng Keo tôi nhất niên nhất lệ
Cứ đến kỳ tháng chín mười ba Đầu giờ dần rước bài vị Thánh ra Thi kèn trống gọi là khảo thí Chiều rước vào tới đầu giờ tý (23 giờ) Rước Thánh vào ngự giá hoàn cung Sáng mười tư cờ mở trống dong Lại rước Thánh ra Tam Quan ngoại
Đồ rước Thánh tôi xin kể lại Nào quạt dù, trống đại, trống con Nào những đồ bát biểu sơn son Nào những bộ hèo hoa, tay thước Hai con ngựa bạch, hồng, đi trước Tám lá cờ rườn rượt theo sau Người cầm đồ đứng thẳng hàng nhau
Áo vàng sát, dây lưng chói đỏ Trai đội kiệu bao trần, mũ võ Chấp hiệu thời trống gõ gióng ba Ông tổng cờ dóng dả gọi loa Quan hội chủ đi theo sau kiệu Viên tùy giá mũ văn dáng điệu Mặc áo triều, chân dận ủng giầy
Trang 2827
Trước đình tiền lại có một cây Gọi là Phướn cao gần trăm thước Dưới hồ bơi, trên bờ thì rước Ngoài sông chèo đi ngược về xuôi Lúc chèo bơi khi đã xong rồi Lại đánh trống thu quân kéo kén Kén xong rồi lại nguyên như lệ Quan hội vào làm lễ phụng nghinh Trước thuyền rồng tiểu đĩnh minh chinh Sau nhang án, long đình, cùng kiệu Rước ban đêm nến đèn đình liệu Đâu đấy xem rước kiệu hoàn cung Hồi giờ tuất rước Thánh vừa xong Lại làm lễ cáo Ngài yên vị
Trai đội kiệu kéo ra ri rỉ Cất mái chèo tức thị bơi luôn Thế mới gọi bơi cạn không thuyền Bơi ngay trước Thánh đường vui vẻ Gác chuông cao ngất ba trượng bắc Lòng giếng sâu thay chín ngũ nam
Hồ rộng mênh mang hình bể thở Cao phướn tầng cao tựa núi sam Thật là thiên hạ dưới trời
Chùa Thần Quang là thiêng hơn cả”
Chỉ qua bài thơ trên đã cho chúng ta thấy quang cảnh của lễ hội chùa Keo trang trọng, tấp nập, nhộn nhịp thế nào
Trang 2928
Trong ba ngày hội chính Tam Quan ngoại được quây kín ba mặt Kiệu chính và long đình, nhang án được đặt ở đó để Phật Tử khắp nơi đến đây lễ Thánh trước rồi mới vào Chùa lễ Phật
Vào đêm 20/9 âm lịch, sau khi lễ hội kết thúc, Đại Đức tru trì Chùa Keo đều tổ chức Đại Lễ bá thí Mông Sơn, cầu nguyện bách tính muôn nơi được hưởng an lạc, quốc thái dân an theo tinh thần “Đạo pháp – dân tộc – chủ nghĩa xã hội ”.Nhu cầu lễ bái kết hợp với du lịch, thăm quan ngày càng phát triển Vì vậy hội Chùa Keo kéo dài tới hết tháng 9 âm lịch Nhưng các phong tục cổ truyền của dân làng chỉ có ba ngày [1, tr.124]
1.3.2.2 Phần hội
Trên khúc sông Hồng uốn lượn ôm lấy làng Vũ Nghĩa, kèn trống vang trời, hàng chục chiếc thuyền chải với mấy chục tay chèo đua nhau lướt sóng, hàng nghìn người xem đứng kín hai bên bờ đê Còn khắp trên những khoảng ruộng mới gặt người ta nô nức với các cuộc tế, rước thuyền, các trò thi bắt ếch, tung lưới, thổi cơm Gác chuông chùa cao vút nổi bật giữa tám lá cờ đại phần phật bay
Tai nghe tiếng trống chèo đều đều đệm nhịp, mắt nhìn những bộ áo mớ
ba mớ bảy, áo the khăn xếp và miếng trầu cánh phượng, khách dự hội Chùa như bị say trong một không gian vừa xa xôi vừa gần gũi, lại như bị hút hồn khi nghe thấy những giọng hát chèo vang vọng Năm nào cũng vậy, cứ đến hội chùa Keo là người ta lại tổ chức thi hát những giọng hát chèo hay và thi têm trầu cánh phượng Trong cuộc thi không chỉ có những người biểu diễn chuyên nghiệp mà du khách nào biết hát đều có thể đăng ký lên hát Những lời ca giản dị đệm nhịp bằng tiếng trống da quen thuộc cùng đàn tranh, phách tre có sức quyến rũ lớn, hấp dẫn và đặc sắc mà chỉ riêng chỉ có ở nơi đây Khách hành hương chẳng mấy chốc đứng xúm quanh để xem hát chèo
Trang 3029
Cạnh đó, các đội thi têm trầu cánh phượng cũng đang thao tác thoăn thoắt tạo nên những miếng trầu cánh phượng nhìn đã muốn ăn
Lễ hội chùa Keo cũng có hầu bóng Nhưng hầu bóng ở đây người ta đem một chiếc thuyền bằng hàng mã ra hầu Trên có hai người múa hát, hai bên có hai hàng cầm mái chèo mô tả động tác chèo thuyền theo nhịp trống, tiếng đàn Một vài người khác ngồi xung quanh thuyền giấy cũng nghiêng ngả theo nhịp thuyền chèo và đưa thuyền tiến dần lên
Đặc sắc nhất trong lễ hội Chùa Keo là giải bơi chải đứng với sự tham gia của các xóm trong làng tưởng nhớ lúc sinh thời của Đức Thánh Tổ Không
Lộ làm nghề chài lưới diễn ra vào ngày 12 và 15 tháng 9 âm lịch Thời thịnh nhất, những năm đầu thập kỷ 40 của thế kỷ XX, tham dự lễ hội có 21 chải của
21 phe thuộc ba giáp: giáp Bắc có 7 phe, giáp Đông có 4 phe, giáp Nam có 10 phe Hiện nay, một số chải đã bị phá hủy bởi chiến tranh hoặc cũ nát nên chỉ còn 15 chải, được chia cho các xóm Các thuyền chải đều đóng theo mẫu thống nhất, cấu trúc theo hình con thoi, dài 12m, chia 5 khoang đều nhau Khoang giữa sâu nhất (mạn cao 40cm) và rộng nhất (120cm mặt và 90cm đáy) mũi và lái hẹp lại (mũi thuyền rộng 50cm, dài 55cm, kể cả khớp nối dài 5cm, đuôi thuyền hẹp nhất chỉ còn 33cm ở cả mặt và đáy) Hai mạn thuyền phía lái nhô cao, lượn tròn góc là tai thuyền Thích hợp nhất để đóng chải là
gỗ vàng tâm nhưng vì gỗ vàng tâm rất hiếm nên một số thuyền phải đóng bằng gỗ dổi, gỗ găng Thuyền được bọc bằng vải, lụa, đánh bóng, sơn mài nhiều lần, nên thuyền có màu đen bóng cả hai mặt trong, ngoài và viền son tươi hai bên mạn thuyền Thuyền có một mái lái và 9 mái chèo bằng gỗ nội nếp nhẹ và dẻo Mái lái dài 4,5m, mái chèo thứ 6 dài nhất 3,6m, mái ngắn nhất 2,8m, các mái khác dài ngắn hơn nhau một ít, trong giới hạn hai mức trên Quai chèo liên kết mái chèo với cọc chèo cắm so le hai bờ mạn thuyền Mạn thuyền bên phải có 5 cọc chèo và mạn thuyền bên trái có cọc lái và 4 cọc
Trang 3130
chèo còn lại Cọc lái và các cọc chèo (cao thấp khác nhau tùy vị trí) cắm chắc vào các con đỉa ở mạn thuyền, nhưng có thể tháo nắp nhanh chóng dễ dàng Tại hội thi, sau khi phát lệnh, các chải bơi biểu diễn, sau đó thi tài với nhau 3 vòng sông với chiều dài chặng đường 35 - 40km, thời gian khoảng trên 3 giờ đồng hồ Hội thi có quy chế và phần thưởng của chải thắng cuộc là tiền và bánh dày [12, tr.89] Đây là một nét riêng có của lễ hội chùa Keo
Lễ hội diễn ra suốt ba ngày đêm nhưng dân làng ở đây đã chuẩn bị và tiến hành từ một trăm ngày trước với một lòng thành kính và tự giác cao độ Rất nhiều các nghi thức phức tạp như rửa chùa, tắm và thay áo cho tượng của nhà sư với sự tham gia của hàng trăm người, cho đến các cuộc tế rước suốt cả buổi mà hầu như không thấy ai chỉ huy Buổi tối, rất nhiều người từ xa đến vào làng ăn cơm và ngủ trong các nhà dân, đầm ấm như thân quen Ngày hội lại là ngày trăng tròn, thanh niên nam nữ kéo nhau lên đê trò chuyện, bàn tán, chuẩn bị cho ngày hội hôm sau rồi quay ra hát đối thâu đêm
Nếu hội Xuân là hội lễ nông nghiệp, hội thi tài thì hội Thu ngoài tính chất là hội thi tài còn là hội lịch sử, hội văn nghệ Nhiều lễ tiết trong hội Thu làng Keo mang tính tôn giáo lại đậm đà sắc thái của những sinh hoạt văn hoá dân gian Thái Bình (diễn xướng, thi cúng, thi thổi kèn, thi đánh trống, thi bơi trải…) Đây được coi là hội lớn nhất, nổi tiếng cả vùng, thu hút hàng vạn du khách từ khắp nơi đổ về
Hiếm có lễ hội nào mà tinh thần Phật giáo lại hoà quyện với tập tục dân gian như ở đây Đặc biệt hơn nữa là tháng chín này là tháng rất đẹp trời nhưng lại là tháng có ít lễ hội nhất trong năm vì thế đây là một dịp tốt mà khách thập phương ít khi bỏ qua
“Dù cho cha đánh mẹ treo
Em không bỏ hội chùa Keo hôm rằm”
Trang 3231
Các ngày Đại Lễ - Hội ở chùa Keo
13, 14,15/ 09 20/09
Lễ khai hội chính Chính hội Chùa Keo Đại lễ Mông sơn bá thí
Tạ hội
7 17/11 Khánh đản đức A di đà
Trang 3332
CHƯƠNG 2 GIÁ TRỊ CỦA DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA CHÙA KEO
2.1 Giá trị tư tưởng
Chùa là một biểu tượng thiêng liêng thấm sâu vào lòng dân tộc Việt từ ngàn xưa, như nước thấm sâu vào lòng đất Do đó, dù đã trải qua mấy ngàn năm thăng trầm, thịnh suy, vật đổi sao dời, nhưng hình ảnh của ngôi chùa vẫn mãi mãi hiên ngang hiện hữu tồn tại trong lòng người dân Việt Ðây cũng còn
là nơi để chúng ta tôn thờ hướng lòng tri ân và báo ân đối với các bậc tiền nhân, những vị đã có công lao dựng nước và giữ nước, gần nhất là các đấng sanh thành đã dày công khó nhọc giáo dưỡng chúng ta nên người
Sau hơn mười thế kỷ chống Bắc thuộc, từ thế kỷ thứ 10, dân tộc ta giành được quyền tự chủ thì đồng thời bước vào kỷ nguyên dân tộc độc lập cả
về chính trị và văn hóa Miền đất tỉnh Thái Bình, Nam Định hôm nay - ngày xưa được coi là một vùng kinh tế mới Mọi người đến nơi đây để khai hoang lập nghiệp Cùng với cuộc sống vật chất của họ thì các nhà sư cũng đến đây
để xây dựng chùa tháp, đảm bảo cuộc sống tâm linh cho những con người nơi đây Theo sử sách có ghi thì vùng đất này được dân gian gọi là Keo hay vùng đất Giao Thủy, là nơi nước sông với nước sông, nước sông với nước biển gặp nhau tạo nên những vùng hồ nước mênh mông Ở đó, con người cảm thấy mình nhỏ bé và cần sự che chở của Thần Thánh, do đó tạo nên kiểu chùa tiền Phật, hậu Thánh
Chùa còn là một không gian văn hóa gắn với tình cảm của người Việt Nam Người ta khi đi xa về gần, đều nhắc đến chùa làng với những kỷ niệm thân thương:
Trang 3433
Mái chùa che chở hồn dân tộc Nếp sống muôn đời của tổ tông
Người làng Keo ở Vũ Thư, Thái Bình rất tự hòa với ngôi chùa vừa cổ kính vừa nguy nga của mình Và đối với những người dân Thái Bình thì đây
là biểu tượng của Thái Bình, là “ Bông hoa sen giữa biển lúa” quê hương
Khách tới Chùa Keo, ngoài việc chiêm ngưỡng những nét đẹp của không gian tôn giáo, được thể hiện qua hình thức ngoại diện như: lối kiến trúc thẩm mỹ mang tính chất nghệ thuật tuyệt hảo, biểu trưng đầy đường nét hoa văn dân tộc, mà còn nhằm nuôi dưỡng đời sống tâm linh và đóng góp xây dựng nếp sống đạo đức hiền hòa cao đẹp, hướng tới thánh thiện Ðồng thời, khách tới Chùa còn đáp ứng được những nhu cầu tín ngưỡng, thờ phụng, lễ bái, tu học, sinh hoạt xã hội Do đó, ngôi chùa thật là quan trọng mà chúng ta cần phải có bổn phận bảo tồn duy trì và phát huy mạnh mẽ tinh thần phụng sự nhân sinh, cũng là nhằm thu hút khách du lịch
2.2 Giá trị lịch sử, văn hóa
2.2.1 Giá trị lịch sử
2.2.1.1 Những truyền thuyết liên hệ đến sự ra đời của Chùa Keo
Chùa Keo được xây dựng theo phong cách kiến trúc thời Lê, nhờ
sự vận động của bà Lại Thị Ngọc, vợ Tuần Thọ Hầu Hoàng Nhân
Dũng, và Đông Cung Vương phi Trịnh Thị Ngọc Thọ Nhưng lịch sử
của ngôi chùa thì có bề dày đến hơn chín thế kỷ Theo sách Không Lộ
Thiền sư ký ngữ lục, năm (1061), Không Lộ dựng chùa Nghiêm Quang
tại làng Giao Thủy (tên nôm là làng Keo) bên hữu ngạn sông Hồng
Sau khi Thiền sư Không Lộ qua đời, chùa Nghiêm Quang được đổi tên
là Thần Quang Tự Theo thời gian, nước sông Hồng xói mòn dần nền
chùa và đến năm (1611), một trận lũ lớn đã cuốn trôi cả làng mạc lẫn
ngôi chùa Dân làng Keo phải bỏ quê cha đất tổ ra đi: một nửa dời về
Trang 3534
đông nam hữu ngạn sông Hồng, về sau dựng nên chùa Keo - Hành
Thiện (nay thuộc tỉnh Nam Định); một nửa vượt sông đến định cư ở
phía đông bắc tả ngạn sông Hồng, về sau dựng nên chùa Keo - Thái
Bình này [6,tr12-17]
Sự tích Không Lộ đã phản ánh một thời kỳ phát triển của Phật giáo ở Việt Nam góp phần giải thích tại sao đạo Phật ở thời Lý lại trở thành Quốc giáo
Quê hương của Phật giáo là Ấn Độ Người sáng lập là Thái tử Siddhartha Sau 49 ngày tu luyện dưới gốc cây Pipal (Boddhi – “Bồ Đề”) thì Ngài đã đạt đạo, tìm ra quy luật của cuộc đời và nỗi khổ đau của dân chúng
Từ đó Ngài cùng 5 người bạn đi khắp nơi để tuyên truyền tư tưởng của mình Ngài đươc tôn là Buddha (đấng sáng tạo, đấng giác ngộ, người Việt gọi là Bụt, Phật) và trở thành người sáng lập ra Phật giáo [8, tr12]
Đạo Phật du nhập vào nước ta khoảng thế kỉ thứ II (SCN) Trong lịch
sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, đạo Phật và các nhà sư đã
có đóng góp rất lớn, từ các triều đại vua chúa phong kiến trước đây, cũng như trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ vừa qua Nhiều nhà sư
đã cống hiến trọn đời mình cho nền độc lập, tự do của đất nước và sự bình yên phát triển của dân tộc.[8, tr43]
Một trong những tăng ni đó có Thánh Tổ Dương Không Lộ Thiền Sư Người đang được thờ tại khu Đền Thánh chùa Keo tại Xã Duy Nhất, huyện
Vũ Thư, tỉnh Thái Bình
Đi tìm sự tích một vị Tăng đã sống cách đây gần một nghìn năm mà nhà sư đó lại được dân gian truyền tụng như một vị thần tiên thì lại càng khó khăn Vì vậy đã có không ít người đã từng bị nhầm lẫn giữa Không Lộ Thiền
Trang 3635
Sư và Nguyễn Minh Không Thiền Sư Có người còn nhầm hai vị là một Qua việc tra cứu tỷ mỷ,, nghiêm túc các sách sử ghi chép qua các triều đại trước đây, một số sách cổ và phong tục thờ cúng của dân làng Keo xã Duy Nhất và một số nơi hiện nay đang thờ Thiền Sư Không Lộ Năm 1985, Sở văn hoá và
thông tin Thái Bình đã xuất bản cuốn sách Chùa Keo, trong đó ghi lại về sự
tích Không Lộ Thiền Sư như sau:
Thiền Sư Không Lộ người làng Dũng Nhuệ, xã Giao Thuỷ, phủ Hải Thanh Thiền Sư họ Dương, huý là Minh Nghiêm, Pháp hiệu là Không Lộ, đạo hiệu là Thông Huyền Thân mẫu của Ngài là người ấp Hán Lý, huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương ngày nay
Thiền sư sinh ngày 14 tháng 9 năm Bính Thìn(1016), niên hiệu Thuận Thiên thứ 7, đời vua Lý Thái Tổ Lúc còn nhỏ theo cha mẹ làm nghề chài lưới Vốn tính thông minh, hiền lành lại rất mộ Đạo Thiền nên đến năm 29 tuổi bỏ nghề chài lưới đi tu Lúc đầu thụ nghiệp Noãn cư sĩ ở làng Bảo Tài Ngài thường kết lá làm áo mặc, lấy quả cây làm thức ăn quên hết mọi phiền não nơi trần thế Năm 42 tuổi Thiền Sư theo học Đạo Thiền Sư phụ của Ngài
là Thảo Đường Thiền Sư ( một người đức cao vọng trọng) đã khen rằng: “ Anh này cốt cách không phải người thường, sau này tất làm pháp tự, có thể nối dõi được Đạo thiền” Trong thời gian này Thiền Sư đã kết bạn với hai vị Thiền Sư khác là Giác Hải và Từ Đạo Hạnh Ba ông thường đàm đạo chuyên tâm nghiên cứu Đạo Thiền Năm 1060, niên hiệu Chương Thánh Gia Khánh Thứ 2, đời vua Lý Thánh Tông, Thiền Sư 45 tuổi Một hôm trong lúc làm đạo phật học, Thiền Sư Không Lộ đã nói với Thiền Sư Giác Hải và Thiền Sư Từ Đạo Hạnh:
Trang 3736
“Rằng ta tu chốn tỳ thành đã lâu Phật nghe phép lạ cũng nhiều Trèo non phải đến đỉnh cao mới mừng Nghe Thiên Trúc Phật giáng sinh Kim vàng ắt dễ thông tình cho coi”
Với tinh thần ham học hỏi ấy, ba Thiền Sư đã dùng một chiếc thuyền chài nhằm hướng tây trèo thuyền tìm đến đất Phật
Tương truyền rằng: Trong chuyến đi ấy Thiền Sư đã được Phật Tổ truyền cho tâm ấn từ đó pháp thuật càng cao Khi trở về nhà, Thiền Sư bắt tay ngay vào việc tìm đất dựng Chùa Thiền Sư có bài kệ rằng:
“Trạch đắc long xà địa khả cư
Dã tình chung nhật lạc vô dư Hữu thời trực thướng cô phong đính Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư”
Tạm dịch là:
“Chọn đất long xà đến nghỉ ngơi Làng quê vui thích thú thảnh thơi Núi cao có lúc trèo lên đỉnh Hét một hơi to lạnh cả trời”
Năm Tân Sửu (1061), Thiền Sư dựng Chùa Nghiêm Quang, ngôi chùa này nằm bên hữu ngạn sông Hồng Từ đó Thiền Sư càng chuyên tâm nghiên cứu Đạo Thiền và giao du khắp nơi với nghề làm thuốc giúp đời Một cây gậy trúc trong tay, tấm áo cà sa khoác trên mình, Ngài đi khắp nơi truyền bá Đạo Thiền, bốc thuốc cứu người
“Khi Lạc Lâm ở xứ Đoài Khi chùa Đại Lãm ở ngoài Bắc Giang Khi Dương Nham ở Bắc Sơn
Trang 3837
Khi chùa Phả Lại hương đàn tụng kinh Đúc chuông để chốn Thiền quynh Đến nay pháp khí hiển linh Lục Đầu
Cà sa tích tượng đến đâu Cũng lên Phật tích làm đầu danh lam”
Ngày nay tất cả những nơi ấy đều đang thờ Thiền Sư Năm Bính Ngọ (1066) niên hiệu Long Chương Thiên Tự thứ nhất, đời vua Lý Thánh Tông, khi Vua đang ngự tại điện Tử Cổn thì trên xà nhà có tiếng hai con tắc kè kêu mãi không thôi làm Vua đau đầu sinh bệnh Các thái y trong triều không sao chữa được Triều đình sai người đem Thuyền Rồng đến Chùa để mời Thiền
sư về chữa bệnh cho Vua Trong bài “Diễn ca về hành trang của Thánh Tổ” của Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng đoạn nói về việc Thiền Sư chữa bệnh cho Vua
đã viết như sau:
“Cùng ông Giác Hải ngự tiền Vua rằng nghe tiếng pháp duyên đã nhiều Thử xem pháp thủ thế nào
Xin mang bảo phiệt độ vào mê tâm Thánh vừa nhẩm mấy câu thần Trên điện cáp giới tiếng liền lặng ngay Nhường ông Giác Hải ra tay
Niệm châu thử gõ rơi ngay xuống Đền Dần dần Thánh thể cũng an
Thưởng ngân nghìn lạng, Thưởng tiền năm trăm Quốc sư ban đến Thiền Lâm Thông minh chính giác quần tâm tôn sùng”
Vua cho mở tiệc khoản đãi linh đình Vua còn có bài thơ khen rằng:
Trang 3938
“Giác Hải tâm như hải Thông huyền đạo cánh huyền Thần thông năng biến hoá Nhất Phật nhất Thần Tiên”
Từ đó Thiền sư thường được nhà Vua mời vào kinh để luận bàn việc nước Thiền Sư là một trong những người sáng lập Phật Giáo Thảo Đường
Lý luận của Thảo Đường phát triển ý thức dân tộc, mong muốn độc lập tự cường, hoà hợp của đạo Khổng, tạo nên sự thống nhất ý chí và hành động của giới tu hành và chúng sinh Nhằm từ đó xây dựng một đất nước Đại Việt hùng mạnh, nhân dân an lạc Thái Bình
Thiền Sư luôn phò tá giúp Vua, lấy việc phụng sự dân tộc làm hành đọng thiết thực Chính vì vậy những Đức Vua anh minh thời Lý đã tìm thấy trong Phật Học triết lý sinh thành dưỡng dục theo nghĩa lâu dài nối tiếp ấy là “
tự giác”, dạy bảo muôn dân đó là “giác tha” Phát huy sức mạnh bách tính muôn dân, phụng sự cho sự phồn vinh vững bền của quốc gia, thế là “ giác hạnh viên mãn”
Thiền Sư Không Lộ là người xuất thế để nhập thế Ngài mang học vấn uyên thâm cùng tài cao y thuật, với tấm lòng từ bi, bác ái, cứu khổ cứu nạn chúng sinh
Ngày 3 tháng 6 năm Giáp Tuất, niên hiệu Hội Phong thứ 3 (1094), đời
Lý Nhân Tông, Thiền Sư thâu thần thị tịch, thọ 79 tuổi
Ngay đêm đó Thiền Sư Giác Hải cùng dân làng Keo đã thuê thợ giỏi dùng cây gỗ trầm hương đã được mua từ trước tạc tượng Thiền Sư Không Lộ
và đặt thờ tại chùa Nghiêm Quang Đến nay, pho tượng ấy vẫn đang được thờ tại Toà Cung cấm Chùa Keo[3, tr24-30 ]
Giá trị lịch sử lịch sử là một trong những yếu tố cốt lõi tạo nên sự hấp dẫn và độc đáo cho việc phát triển du lịch của di tích lịch sử văn hóa Chùa
Trang 4039
Keo Ngôi cổ tự này không chỉ có giá trị về mặt lịch sử của một vùng đất, một trấn Sơn Nam xưa Trước bao thay đổi của miền đất ấy, Chùa Keo vẫn đứng
đó “Che chở hồn dân tộc” cho người muôn đời sau tìm về và lưu giữ và truyền lại những giá trị ngàn đời của cha ông Chùa Keo còn là minh chứng quan trọng cho sự phát triển của phật giáo, hệ thống tín ngưỡng của cư dân bản địa Cũng như đóng góp lớn của Phật giáo Việt Nam trong dòng chảy của lịch sử dân tộc Lịch sử của ngôi Chùa, giá trị lịch sử của ngôi Chùa không chỉ gắn liền với mảnh đất, con người nơi đây, mà còn gắn với tên tuổi của một
vị đại sư có công lớn đối sự phát triển của dân tộc Chính vì vậy chùa Keo càng có sức hấp dẫn khách du lịch Ngoài dịp lễ hội, hàng năm Chùa Keo luôn thu hút một luợng khách du lịch lớn, tới thăm quan, lễ vọng
2.2.1.2 Những truyền thuyết liên hệ đến các đối tượng được thờ tự,
người xây dựng di tích
Ở nước ta có không ít ngôi chùa thờ Thần ngay trong điện thờ Phật theo kiểu "tiền Phật hậu Thần" như chùa Láng, chùa Thầy, chùa Trăm Gian… đặc biệt khi những vị thần ấy được tôn làm Thánh thì lễ hội càng trọng thể và hoành tráng hơn Chùa Keo cũng là một ngôi chùa theo kiểu "tiền Phật hậu
Thần" - thờ Thiền sư Không Lộ
Dù đã có nhiều nghiên cứu về Thiền sư Không Lộ, Nhưng cuộc đời ông vẫn còn là một bí ẩn còn truyền lại muôn đời sau Khi viên tịch, Thiền sư được đưa xá lợi về thờ ở chùa Nghiêm Quang, sau đổi thành chùa Thần Quang Tự (chùa Keo ở Vũ Thư - Thái Bình)
Theo Ông Tô Văn Thiện, Viện nghiên cứu Phật giáo Việt Nam cho biết: Theo sách Trùng san Thần Quang Tự Phật tổ bản hành thiền uyển ngữ lục tập yếu, Thiền sư Không Lộ đời thứ 9 Thiền phái Vô Ngôn Thông Sư họ Dương, không biết tên thật là gì quê ở làng Hải Thanh Gia đình thiền sư vốn