Năm 1991-1992, trên tạp chí văn hóa dân gian, tác giả Trương Thị Nhàn có hai bài viết Giá trị biểu trưng nghệ thuật của một số vật thể nhân tạo trong ca dao và Tìm hiểu ngôn ngữ nghệ th
Trang 1Em xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 5/2012
Sinh viên: Nguyễn Thị Lam
Trang 2MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 1
3 Đối tượng nghiên cứu 4
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của đề tài 5
7 Cấu trúc luận văn 5
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 6
1.1 Khái niệm và đặc trưng của ca dao 6
1.1.1 Khái niệm ca dao 6
1.1.2 Đăc trưng của ca dao 9
1.1.3 Phân biệt ca dao với tục ngữ 20
1.1.4 Phân loại ca dao 24
1.1.5 Sự tồn tại của từ Trăng và Mặt trời trong ca dao người Việt 27
1.2 Nghĩa của từ 29
1.2.1 Khái niệm nghĩa của từ 29
1.2.3 Nghĩa của từ trong ca dao 31
Chương 2 NGHĨA CỦA TRĂNG TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT 32
2.1 Nghĩa của trăng trong từ điển 32
2.2 Nghĩa của trăng trong ca dao 35
2.2.1 Kết quả thống kê 35
2.2.2 Các nghĩa của trăng trong ca dao người Việt 35
Chương 3 NGHĨA CỦA MẶT TRỜI TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT 69
3.1 Nghĩa của mặt trời trong từ điển 69
3.2 Nghĩa của mặt trời trong ca dao 69
3.2.1 Kết quả thống kê 69
3.2.2 Nghĩa của mặt trời trong ca dao 70
KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Ca dao dân ca là nguồn đề tài nghiên cứu bất tận cho bao thế hệ người Việt Các nhà nghiên cứu ca dao đã tiếp cận, nghiên cứu, phát hiện những cái hay, cái đẹp, những giá trị thể hiện đậm đà bản sắc dân tộc ẩn chứa trong lớp ngôn từ giản dị mà súc tích của câu hát dân gian Ca dao là tiếng hát yêu thương tình nghĩa, lời than vãn về thân phận tủi nhục đắng cay, về niềm lạc quan tin tưởng vào tương lai, là lời phản kháng vào các thế lực, là tình yêu nam nữ, tình yêu quê hương đất nước…Đó là một nguồn tư liệu vô cùng quý giá và phong phú
1.2 Do vị trí đặc biệt của ca dao trong kho tàng văn học dân gian cũng như trong lòng độc giả thưởng thức, cho nên việc tìm hiểu ca dao trong bất kỳ phương diện nào cũng được xem là khám phá rất có ý nghĩa Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về ca dao từ nhiều góc độ nhưng việc tìm hiểu về hình
ảnh Trăng và Mặt trời thì nhìn chung chưa được đề cập nhiều và đây đang
được xem là hướng đi mới mẻ cần được khai thác
1.3 Hơn nữa việc nghiên cứu về ý nghĩa của Trăng và Mặt trời góp
phần quan trọng vào việc cung cấp tư liệu ý nghĩa để phục vụ cho công tác giảng dạy môn văn học dân gian trong nhà trường phổ thông được tốt hơn
Chính vì những lí do trên, tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài “Nghĩa của
Trăng và Mặt trời trong ca dao người Việt”
2 Lịch sử vấn đề
Ca dao luôn là đối tượng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu Đã có nhiều công trình nghiên cứu ca dao từ nhiều góc độ khác nhau như: Văn học dân gian, thi pháp hoc, văn hóa học, ngữ dụng học…
Đặc biệt việc nghiên cứu biểu tượng nghệ thuật trong ca dao Việt Nam
đã và đang là vấn đề được nhiều người quan tâm, khám phá, phát hiện nhiều điều mới mẻ, thú vị từ thế giới các biểu tượng của kho tàng ca dao Việt Nam
Trang 4Người đầu tiên đề cập trực tiếp đến vấn đề biểu tượng trong ca dao là
Vũ Ngọc Phan – soạn giả của bộ sách Tục ngữ, ca dao Việt Nam Trong công trình này, tác giả nhấn mạnh “Một đặc điểm trong tư duy hình tượng của
nhân dân Việt Nam về cuộc đời, đời người là so sánh với đời con cò và con bống” [67] Người lao động đã lấy những hình ảnh ấy biểu trưng cho vài nét
đời sống của mình
Tác giả Đặng Văn Lung trong bài viết Những yếu tố trùng lặp trong ca
dao trữ tình, khi nghiên cứu biểu tượng trong ca dao lại xem nó là những yếu
tố trùng lặp về hình ảnh và ngôn từ [58]
Năm 1991-1992, trên tạp chí văn hóa dân gian, tác giả Trương Thị
Nhàn có hai bài viết Giá trị biểu trưng nghệ thuật của một số vật thể nhân tạo
trong ca dao và Tìm hiểu ngôn ngữ nghệ thuật ca dao qua một tín hiệu thẩm
mỹ, tác giả đã tìm hiểu ý nghĩa biểu trưng của các vật thể như khăn, áo,
giường, chiếu… và tín hiệu thẩm mỹ sông Từ đó tác giả kết luận khả năng
biểu trưng văn hóa nghệ thuật của các vật thể trong ca dao góp phần tạo nên một nét đặc trưng rất cơ bản trong ngôn ngữ nghệ thuật ca dao tính khái quát cao, tính hàm súc và ý tại ngôn ngoại [61]; Sông là một yếu tố mang ý nghĩa thẩm mỹ giàu sức khái quát nghệ thuật, tham gia vào hệ thống biểu hiện của ngôn ngữ nghệ thuật ca dao, sông có giá trị của một tín hiệu thẩm mỹ[62]
Năm 1992, trong công trình nghiên cứu về thi pháp ca dao [50].Tác giả
Nguyễn Xuân Kính giành hẳn một chương để viết về các biểu tượng như: trúc, mai, hoa nhài, sông, trăng… và so sánh ý nghĩa của các biểu tượng đó trong văn học viết Từ đó, tác giả gợi lên một vấn đề cần được quan tâm khi
xác định nghĩa của biểu tượng: Tuy cùng viết về một biểu tượng nhưng dòng
thơ dân gian và bác học đã miêu tả khác nhau [50]
Năm 1995, luận án Phó tiến sĩ Sự biểu đạt bằng ngôn ngữ các tín hiệu
thẩm mỹ không gian trong ca dao của Trương Thị Nhàn [64] tiếp tục nghiên
cứu một loạt biểu tượng không gian như: núi, rừng, sông, ruộng, bến,
Trang 5đình,chùa…góp phần đáng kể trong lĩnh vực nghiên cứu biểu tượng ca dao
trên cả hai phương diện: lý thuyết và thực hành
Bài viết Công thức truyền thống và đặc trưng cấu trúc của ca dao trữ
tình, Đăng trên Tạp chí Văn học, 1977 của Bùi Mạnh Nhị là sự tiếp nối mạch
nghiên cứu về biểu tượng của những người đi trước.Theo tác giả, công thức truyền thống của ca dao có nhiều loại, biểu tượng là một trog số đó và biểu tượng chính là chìa khóa mở bí mật cấu trúc của những sáng tác thơ ca trữ tình dân gian
Năm 1998, tác giả Phạm Thu Yến trong những cuốn Những thế giới
nghệ thuật ca dao đã khảo sát, nghiên cứu biểu tượng trong thơ ca trữ tình
dân gian tương đối toàn diện (khái niệm biểu tượng, phân biệt biểu tượng với
ẩn dụ, khẳng định biểu tượng – yếu tố nghệ thuật đặc thù gắn với đặc trưng thể loại, sự hình thành và phát triển của biểu tượng thơ ca dân gian…) Tuy
nhiên, như tác giả đã viết Những điều trình bày trên vẫn mang ý nghĩa mở, ý nghĩa đặt vấn đề chứ chưa giải quyết triệt để
Năm 1999, Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Diệp trong bài Tìm hiểu nguồn
gốc biểu tượng trong ca dao Việt Nam đã phân chia các biểu tượng chủ yếu
- Những biểu tượng xuất phát từ quan sát trực tiếp hàng ngày của nhân dân: hoa sen, hoa đào, con cò, con bống, trăng, thu…
Như vậy, theo tác giả biểu tượng trăng, mặt trời là biểu tượng hình thành từ nguồn thứ hai Đây là một tư liệu quan trọng cho chúng tôi khi thực hiện đề tài
Trang 6Trong những năm gần đây, một số biểu tượng đã được nghiên cứu tương đối kỹ ở bình diện văn hóa cũng như bình diện văn học đem lại cho
người đọc nhiều hiểu biết thú vị và sâu sắc như các bài viết: Biểu tượng nhìn
từ cấp độ văn hóa ngôn ngữ, in trong ngữ học trẻ, 2002 [40]; và sự phát triển
ý nghĩa của một biểu tượng – qua ngữ liệu Trăng trong thơ Hàn Mặc Tử; Biểu tượng con chim quyên của Triều Nguyên[61]; Biểu tượng chiếc áo trong đời sống tinh thần người Việt[37]; Biểu tượng đôi giày trong văn học và trong ngôn ngữ thơ ca Việt Nam[38] của Nguyễn Thị Ngân Hoa; Biểu tượng hoa trong ca dao người Việt của Đỗ Thị Hòa[43], đã cung cấp cho chúng tôi
những vấn đề lý thuyết cần thiết và dẫn chứng cụ thể khi nghiên cứu đề tài
Nhìn chung, hành trình nghiên cứu biểu tượng nói chung và biểu tượng trong ca dao nói riêng, chúng tôi nhận thấy chưa có một công trình nào đi sâu vào nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện và sâu sắc vấn đề nghĩa của
Trăng và Mặt trời trong ca dao Điều đó, đã gợi mở cho chúng tôi quyết định
lựa chọn đề tài này với nhiều điều mới mẻ
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là ý nghĩa biểu trưng của từ ngữ
hình ảnh Trăng và Mặt trời trong ca dao truyền thống người Việt
Thực hiện đề tài này, tôi lựa chọn tư liệu “ Kho tàng ca dao người
Việt” do Nguyễn Xuân Kính và Phan Đăng Nhật chủ biên để khảo sát Tư liệu
này gồm bốn tập, được tuyển chọn từ 37 tư liệu gốc (46 tập) vừa Hán Nôm, vừa Quốc Ngữ, chủ yếu tập hợp những lời ca dao ra đời từ trước cách mạng tháng Tám
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Khi thực hiện đề tài này, chúng tôi đã đặt ra các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất là tổng hợp tài liệu và tiến hành khảo sát sự xuất hiện của từ
ngữ, hình ảnh Trăng và Mặt trời trong ca dao
Thứ hai là phân loại các yếu tố Trăng và Mặt trời khi đi một mình và
khi đi kèm với các yếu tố khác
Trang 7Thứ ba là tiến hành tìm hiểu ý nghĩa của Trăng và Mặt trời trong ngữ
cảnh nhất định
5 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết đề tài này, chúng tôi sử dụng những phương pháp sau: 5.1 Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại
Dựa vào cuốn Kho tàng ca dao người Việt do tác giả Nguyễn Xuân
Kính và Phan Đăng Nhật chủ biên để khảo sát, thống kê những câu có từ Trăng và Mặt trời Sau đó, tiến hành phân loại những lời ca dao chứa từ
Trăng – Mặt trời làm cơ sở để phân tích nghĩa của chúng
5.2 Phương pháp phân tích ngữ nghĩa
Từ mối quan hệ ngữ nghĩa bản thể, nghĩa sự việc và nghĩa biểu tượng
chúng tôi chỉ ra các nhóm nghĩa chủ yếu của từ Trăng, Mặt trời
5.3 Phương pháp phân tích tổng hợp
Phương pháp này là một phương pháp quan trọng, luôn được chúng tôi
sử dụng suốt quá trình xử lý tư liệu, phân tích nghĩa của từ Trăng, Mặt trời
5.4 Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng các phương pháp như: Phương pháp
so sánh đối chiếu, phương pháp hệ thống và phương pháp phân tích văn học
6 Đóng góp của đề tài
Trên cơ sở tiếp thu những thành quả nghiên cứu biểu tượng ca dao của những người đi trước, chúng tôi cố gắng để có được những đóng góp mới khi thực hiện đề tài này
Có thể nói đây là đề tài đầu tiên đi sâu tìm hiểu hình ảnh Trăng, Mặt
trời trong Kho tàng ca dao người Việt trên bình diện nghĩa
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chương cụ thể như sau: Chương 1: Một số vấn đề chung liên quan đến đề tài
Chương 2: Nghĩa của hình ảnh Mặt trăng trong ca dao người Việt Chương 3: Nghĩa của hình ảnh Mặt trời trong ca dao người Việt
Trang 8Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Khái niệm và đặc trưng của ca dao
1.1.1 Khái niệm ca dao
Ca dao là một loại hình nghệ thuật có vị trí rất quan trọng đối với người Việt Nam, nó được sáng tạo nên do nhu cầu bộc lộ tình cảm, giãi bày tấm lòng, nêu lên bao điều khát khao trăn trở về hiện thực đời sống xã hội của các thành phần cư dân trên lãnh thổ Việt Nam qua các thời đại
Có rất nhiều định nghĩa về ca dao và hiện nay vẫn chưa đi đến thống nhất quan niệm
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, khái niệm ca dao được hiểu: Ca dao còn gọi là phong dao.Thuật ngữ ca dao được sử dụng với nhiều nghĩa rộng hẹp khác nhau.Theo nghĩa gốc thì ca là bài hát có khúc điệu, dao là bài hát không có khúc điệu.Ca dao là danh từ chỉ chung toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu Trong trường hợp này ca dao đồng nghĩa với dân ca
Theo tác giả Bô-ga-tư-ri-ep nhà nghiên cứu văn học Liên Xô trong lời
nói đầu của cuốn “ Sáng tác thơ ca dân gian Nga”, đã nhận định: “Ca dao nói
riêng và tác phẩm văn học dân gian nói chung thường tồn tại rất lâu, được truyền tụng từ miệng người này sang miệng người khác, thường xuyên được nhiều thế hệ xây dựng, bồi đắp…” Trong khi tác phẩm văn học thành văn về
cơ bản không có gì biến đổi sau khi tách khỏi ngòi bút của nhà văn, thì tác phẩm thơ ca dân gian được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác, thường xuyên được sửa chữa để phản ánh những sự đổi thay đang diễn ra trong tư tưởng của quần chúng nhân dân và theo những quy tắc thẩm mỹ của họ
Khi bàn về thuật ngữ ca dao, tác giả Minh Hiệu cho rằng: “ Ở nước ta, thuật ngữ ca dao vốn là từ Hán – Việt được dùng rất muộn Có thể muộn đến hàng ngàn năm so với thời gian đã có những câu ví, câu hát” [17,tr.50] Còn theo tác giả Cao Huy Đỉnh thì “Dân ca và văn truyền miệng của dân tộc Việt
Trang 9Nam ra đời rất sớm, và ở thời đại đồ đồng đã phát triển phồn thịnh Trình độ sáng tác và biểu diễn cũng tương đối cao, nghệ sỹ cũng ra đời với ca công và nhạc cụ tinh tế” [14,tr.33]
Trong giáo trình Văn học dân gian, Chu Xuân Diên định nghĩa ca dao như sau: Theo cách hiểu thông thường thì ca dao là lời của các bài hát đã tước
bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy hoặc ngược lại là những câu thơ bẻ thành những làn điệu dân ca
Về khái niệm ca dao, tác giả Vũ Ngọc Phan viết “ Ca dao là một loại thơ dân gian có thể ngâm khác được như các loại thơ khác và có thể xây dựng thành các điệu dân ca” Với định nghĩa này tác giả đã xem ca dao là một thuật ngữ chỉ một thể thơ dân gian Ông cho rằng: “ nếu xét về nguồn gốc phát sinh thì dân ca khác với ca dao là ở chỗ được hát lên trong hoàn cảnh nhất định trong những nghề nhất định, hay những địa phương nhất định Dân ca thường mang tính chất địa phương, không như ca dao là những bài ít có tính địa phương nội dung ca dao có nói về một địa phương nào thì chúng vẫn được phổ biến rộng rãi [34, tr.42-43]
Theo tác giả Nguyễn Xuân Kính: “ Ca dao được hình thành từ dân ca, khi nói đến ca dao, người ta thường nghĩ đến lời ca Khi nói đến dân ca, người
ta nghĩ đến cả làn điệu và những thể thức hát nhất định Như vậy không có nghĩa toàn bộ hệ thống câu hát của một lọai dân ca nào đó (như hát trống quân, hát quan họ…) cứ tước bớt tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi thì đều sẽ
là ca dao” Chính vì vậy mà ông định nghĩa: “Ca dao là những sáng tác văn chương được phổ biến rộng rãi, được lưu truyền qua nhiều thế hệ, mang những đặc điểm nhất định và bền vững về phong cách” [20,tr.79]
Từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 trên sách báo nước ta đã xuất hiện danh từ “ca dao mới” để phân biệt “ca dao cổ”(hay ca dao cổ truyền)
“Ca dao mới” khác “ca dao cổ” về nhiều phương diện (thời gian, hoàn cảnh, lực lượng sáng tác, hệ thống đề tài, chủ đề, phương thức và phương tiện lưu truyền, phổ biến…) Ngoài phương thức sáng tác và lưu truyền bằng
Trang 10miệng của nhân dân “ca dao mới” còn được sáng tác và phổ biến bằng văn tự của các văn nghệ sĩ chuyên nghiệp hoặc nghiệp dư.Những tập ca dao thành văn được xuất bản trong mấy chục năm qua (như ca dao kháng chiến, ca dao chống Mỹ, ca dao chống hạn hán…) thiên về truyền thống chính trị là một hiện tượng mới chưa từng có trong lịch sử ca dao trước cách mạng tháng Tám(1945) Dựa vào chức năng kết hợp với hệ thống đề tài, có thể phân “ca dao cổ” thành những loại ca dao khác nhau, ca dao ru con, ca dao tình yêu, ca dao về tình cảm gia đình…
Ca dao ra đời, tồn tại và được diễn xướng dưới hình thức những lời hát trong các sinh hoạt dân ca, trong đó các loại hát đối đáp là sinh hoạt trọng yếu
và phổ biến nhất, mặt khác ca dao cũng phần nào được hình thành từ xu hướng cấu tạo những lời có vần, có nhịp trong sinh hoạt dân gian, do đó vẫn thường được dùng trong lời nói hằng ngày Như vậy, cả trong hai lĩnh vực ca hát và lời nói hằng ngày, ca dao đều có xu hướng được dùng như một ngôn ngữ được trao đổi trực tiếp Đặc điểm về chức năng trên đây của ca dao cổ truyền sẽ chi phối nhiều đăc điểm khác về cấu tứ và cấu trúc hình thái câu thơ của ca dao [2,tr.45]
Theo Bách khoa toàn thư phổ thông[tr.1199] thì ca dao là những bài
thơ trữ tình dân gian truyền khẩu được phổ biến rộng rãi, lưu truyền qua nhiều thế hệ
Hiện nay, ca dao có ba cách hiểu:
a Ca dao là những bài hát dân ca hay – là dân ca (cả phần lời và điệu)
b Chỉ có phần lời bài hát
c Những lời hay nhất
Mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau về ca dao nhưng ở đây chúng tôi
lựa chọn khái niệm ca dao của Từ điển văn học Việt Nam: “ Ca dao (hay còn
gọi là phong dao) là danh từ chung chỉ toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian hoặc không có khúc điệu” làm cơ sở để khảo sát
Trang 111.1.2 Đăc trưng của ca dao
1.1.2.1 Đặc trưng về nội dung
Ca dao Việt Nam là nguồn thơ dân gian vô tận, có truyền thống lịch sử lâu đời Ca dao phản ánh phong tục, tập quán, tình cảm của người dân Việt
Ca dao được ví như một dòng sông lớn, bắt nguồn từ hàng trăm con sông nhỏ,
từ các nguồn ca dao dân ca ở các địa phương khác nhau trên các vùng miền đất nước Ca dao Việt Nam phản ánh phong tục, tập quán, ca dao là tiếng nói tâm hồn, tiếng nói tình cảm của nhân dân Trong ca dao có những bài tình tứ,
là khuôn thước cho lời thơ trữ tình Tình yêu của người Việt Nam biểu hiện trong ca dao về nhiều mặt Tình yêu đôi lứa, tình yêu gia đình, tình yêu đồng ruộng, tình yêu làng xóm, tình yêu đất nước, tình yêu lao động, tình yêu giai cấp, tình yêu thiên nhiên, tình yêu hòa bình…Không những thế ca dao còn biểu hiện tư tưởng đấu tranh của nhân dân Việt Nam trong cuộc sống xã hội, trong khi tiếp xúc với thiên nhiên và ca dao còn biểu hiện sự trưởng thành của
tư tưởng ấy qua các thời kỳ lịch sử.Vì vậy, ca dao được xem là kho bách khoa toàn thư đời sống tinh thần của người dân lao động Qua những câu ca dao, ta không chỉ thấy tình cảm mặn mà thắm thiết, mà còn thấy được phẩm chất đẹp
Như vậy ngoài sự biểu hiện đời sống tình cảm, đời sống vật chất của con người, ca dao còn phản ánh ý thức lao động, sản xuất của nhân dân Việt Nam và tình hình xã hội thời xưa về các mặt kinh tế và chính trị Bởi thế
người ta nói: nội dung của ca dao chủ yếu là trữ tình
Trang 121.2.2.2 Đặc trưng về hình thức
Hình thức của ca dao rất phong phú và đa dạng để thuận lợi cho việc phản ánh muôn mặt đời sống tình cảm của người dân lao động
a Thể thơ trong ca dao
Ca dao là phần lời của dân ca, do đó các thể thơ trong ca dao cũng sinh
ra từ dân ca Các thể thơ trong ca dao cũng được dùng trong các loại văn dân gian khác nhau như: tục ngữ, câu đối, vè… có thể chia các thể thơ trong ca dao làm bốn loại chính
-Thể lục bát
Đây là thể thơ đượ sử dụng rộng rãi nhất trong ca dao Nó bao gồm mỗi câu hai dòng hay hai vế trên sáu âm tiết, dưới tám âm tiết Thể thơ này được phân thành hai loại:
+ Lục bát chính thể: Loại này số âm tiết không thay đổi (6/8), vần gieo
ở tiếng thứ sáu (thanh bằng), nhịp phổ biến là nhịp chẵn (2/2/2), đôi khi nhịp thay đổi do nhu cầu thay đổi cảm xúc, tâm lý (3/3,4/4)
Ví dụ:
- Nàng về/ giã gạo/ ba trăng
Để anh/ gánh nước/ Cao Bằng/ về ngâm.(N 20)
- Trên đồng cạn/ dưới đồng sâu Chồng cày vợ cấy/ con trâu đi bừa
-Thục nữ ơi/ nàng hỡi nàng Ghi xương khắc cốt/ lời vàng hôm nay
Đưa nhau / giọt lệ / không ngừng (2/2/2) Ngó sông/ sông rộng/ ngó rừng/ rừng cao(2/2/2/2)
Trên đồng cạn/ dưới đồng sâu(3/3) Chồng cày vợ cấy/ con trâu đi bừa(4/4)
Trang 13+ Lục bát biến thể: Có hai quan niệm về lục bát biến thể
Quan niệm thứ nhất cho rằng: lục bát biến thể là hiện tượng số tiếng có thể tăng hoặc giảm ở mỗi dòng thơ và xê dịch vị trí gieo vần
Có anh hai vợ lưa khu với sườn
- Tưởng nước giếng sâu em nối sợi dây dài
Ai ngờ giếng cạn em tiếc hoài sợi dây
-Trăm năm trúc rụ còn mai Rùa đeo chân hạc, thiếp chớ nghe ai bỏ chàng
-Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo Thất bát sông cũng lội, tứ cửu tam thập lục đèo cũng qua
- Đục thì cũng nước giữa dòng
Dù trong leo lẻo cũng nước trong đồng chảy ra
- Ta rằng ta chẳng có ghen Chồng ta ta giữ, ta nghiến, ta nghiền, ta chơi
Trang 14Thể lục bát là một cống hiến lớn của ca dao trong văn học dân gian nói chung Chính lục bát chính thể với vần bằng thay đổi đều đặn, vị trí gieo vần bắt dính liên tiếp, câu lục bát trên với câu lục bát tiếp theo đã mở đường cho
sự hình thành những bài truyện thơ dài hơi của dân tộc về sau
- Thể song thất lục bát
Cứ hai dòng (vế) 7 âm lại tiếp đến hai dòng (vế) lục bát Thể này tuy không phổ biến bằng thể lục bát nhưng cũng là thể bắt nguồn từ dân ca Thể song thất lục bát tạo ra một sự biến đổi mới mẻ so với thể lục bát, rất thích hợp để diễn tả nhiều trạng thái tâm lý, cảm xúc
- Bến Cửa Tùng / bến vàng bến bạc Sông Cửa Tùng / vừa mát vừa trong Người tình ở bên kia sông Không đò em cũng băng đồng vượt sông
- Nết băng tuyết đáng khen cho đó Lòng sắt son còn khó nỗi đây
Em nghe anh hỏi lời này Cái duyên giải cấu ai bày gặp nhau?
- Đu đủ tía /giềng giềng cũng tía Khoai lang dâm/ ngọn mía cũng dâm
Củ kia chen lộn với trầm Giữ sao cho khỏi, kẻo lầm, bớ em
Thể song thất lục bát cũng có những biến thể:
- Ngày xem núi, núi xanh cao ngắt
Đêm xem trăng, trăng tắt sao mờ
Một mình em chừ lòng dạ ngẩn ngơ Đêm năm canh giường không gối lạnh biết chờ đặng không?
Trang 15- Gà lạc bầy, gà kêu nháo nhác
Cá lạc bầy, cá tìm bóng mát tựa nương Trai như anh đây chưa vợ sao em không thương
Em lại tìm nơi có vợ náu nương làm gì?
- Thể vãn
Thể vãn bao gồm: Vãn 2, vãn 3, vãn 4, vãn 5, tức là các thể thơ đơn giản thường được dùng trong đồng giao và những lời ca khẩn nguyện, phù chú Ca dao trữ tình chỉ sử dụng thể vãn 5, đôi khi có xen thể vãn 4
Ví dụ:
Ốc bực mình ốc,
Ốc vặn ốc vẹo
Bèo bực mình bèo, Lênh đênh mặt nước
Nước bực mình nước, Tát cạn cấy khoai
Khoai bực mình khoai, Đào lên cấy muống
Muống bực mình muống, Ngắt ngọn nấu canh
Anh bực mình anh,
Vợ con chưa có
Đêm nằm vò võ, Một xó giường không
Hỏi giường có bực không hỡi giường?
-Thể hỗn hợp
Trong thơ ca dân gian nói chung còn có thể hỗn hợp Thể thơ này không được dùng nhiều bằng thể lục bát nhưng nhiều hơn thể song thất lục bát Thể này là sự kết hợp tự do các thể thơ vốn có của ca dao
Trang 16Em mong sao mưa nắng thuận hòa Tình khoai nghĩa lúa, trẻ già ấm no
Nuôi anh bộ đội cụ Hồ Đánh đâu thắng đấy giữ cờ vàng sao
Tre già đan sọt Nứa tốt đan lừ Thi đua thế thóc khô
Em sắm đôi bồ tiếp vận mùa mưa Hai lần, trong kín, ngoài thưa Giữa thì úp lá, gió mưa mặc trời!
Thóc em đã quạt đã phơi
Dù đi khắp bốn phương trời vẫn khô
b Ngôn ngữ trong ca dao
Ca dao phần lớn là của dân ca, các yếu tố nhạc điệu, động tác có vai trò rất quan trọng trong dân ca, còn ở phần lời thơ thì vai trò chủ yếu thuộc về ngôn ngữ, các yếu tố khác đều trở thành thứ yếu Ca dao là một trong những lĩnh vực văn hóa thể hiện rõ nhất, đậm đà, sâu sắc bền vững tính dân tộc Tính dân tộc của ca dao thể hiện trong nhiều phương diện, yếu tố khác nhau
Trang 17như: Đề tài, chủ đề, thể thơ Nhưng quan trọng nhất và cơ bản nhất là ở ngôn ngữ
Không có ngôn ngữ dân tộc thì cũng không có cơ sở và điều kiện sáng tạo xây dựng nên các thể thơ dân tộc Nhờ biết dựa vào ngôn ngữ dân tộc, khai thác và sử dụng ngôn ngữ dân tộc đúng với đặc điểm và quy luật phát triển của nó mà nhân dân ta qua nhiều thế hệ đã tạo nên một nền thơ ca dân gian phong phú đậm đà bản sắc dân tộc Và chính nhờ nền thơ ca dân gian phong phú ấy đã góp phần làm cho ngôn ngữ dân tộc ngày càng phong phú, đựợc cũng cố và phát triển hơn Đó là quy luật phổ biến của mối quan hệ qua lại giữa văn học và ngôn ngữ các dân tộc
Ngôn ngữ trong ca dao vừa có tính dân tộc lại vừa có tính địa phương
vì vậy nó rất đa đạng, phong phú lại vừa thống nhất
Khi sáng tác ca dao nhân dân đã lựa chọn và sử dụng ngôn ngữ theo yêu cầu của nghệ thuật thơ ca để bộc lộ tình cảm và những cảm xúc thẩm mỹ
mà ngôn ngữ thông thường trong giao tiếp hàng ngày không thể nói rõ, chính xác được Vì thế ngôn ngữ trong ca dao vừa giống vừa khác với ngôn ngữ trong giao tiếp hàng ngày Ngôn ngữ trong ca dao rất giàu sắc thái biểu cảm, tính chất biểu trưng, ước lệ, ẩn dụ tượng trưng
c Đặc điểm về nhân vật trữ tình trong ca dao
Nhân vật trữ tình là nhân vật trực tiếp bộc lộ, phô diễn tình cảm của mình, tâm trạng của mình trước một số vấn đề nào đó của cuộc sống Nhân vật trực tiếp bộc lộ trong ca dao có đặc điểm:
Là nhân vật có tính chất “ phiếm chỉ”, là tiếng nói số đông chung chung cho nhân dân lao động:
Ví dụ:
Đêm qua trời sang trăng rằm
Anh đi qua ngõ em nằm không yên Ước gì sông hẹp một gang Bắc cầu giải yếm cho chàng sang chơi
Trang 18Câu ca dao đã nói rất đúng tấm lòng và nỗi khát khao đến với người yêu của cô gái, dù rằng nỗi ước ao về độ rộng hẹp của con sông này không bao giờ thành hiện thực và có trong hiện thực Nỗi khao khát của người đang yêu được đẩy lên cao khi cô gái muốn tạo ra một cây cầu bằng giải yếm để chàng sang chơi Đây cũng là một điều không thể có trong hiện thực Nhưng tất cả đều xuất phát từ một tấm lòng rất thực, rất chân thành của những người tha thiết yêu nhau Nhân vật trữ tình ở đây là “em”
Đôi khi nhân vật trữ tình là vợ, chồng, là người ông người bà, cha mẹ:
Ví dụ:
Chồng em áo rách em thương Chồng người áo gấm xông hương mặc người
Chàng ơi phụ thiếp làm chi
Em như cơm nguội những khi đói lòng
Ngó lên nuộc lạt mái nhà Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu
Hai nguồn cảm hứng chính của các nhân vật trong ca dao:
+ Nói về cuộc đời của người dân trong xã hội cũ đều vang lên tiếng hát
về đời sống đau khổ, bất hạnh, tủi nhục Vì vậy họ tìm cách phản kháng để đứng lên, không bao giờ cam chịu, điều đó tạo nên các bài ca dao than thân – chống đối
Ví dụ:
Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai
Trang 19Câu ca dao thể hiện sự bất bình, lụa đào là lụa quý, đáng lẽ ra phải được trân trọng nhưng lại bị xã hội biến họ thành hàng hóa Qua đó câu ca dao thể hiện ngấm ngầm sự bất bình của người phụ nữ
Ví dụ:
Thân em như cá rô thia
Ra sông mắc lưới, vào đìa mắc câu
+ Khi mà tất cả nhân vật trữ tình họ bộc lộ tâm trạng của mình đối với người thân, quê hương xứ sở đều mang lời nói yêu thương - tình nghĩa
Ví dụ:
Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con
d Đặc điểm về cấu trúc
Về mặt cấu trúc của ca dao là một phạm vi rất rộng, bao gồm sự tổ chức thanh điệu, vần nhịp, tổ chức nội dung cấu tạo, ý tứ, đoạn mạch, độ dài ngắn Vì thế, sự nghiên cứu một cách toàn diện các phương tiện khác nhau của cấu trúc ca dao là rất khó và đến nay mới chỉ có một số nhận xét bước đầu
về một số phương diện nhất định
Xét theo quy mô (độ dài ngắn) có thể phân ca dao (chủ yếu ca dao lục bát) bộ phận lớn nhất của ca dao thành ba loại chính
- Loại ca dao ngắn từ 1- 2 câu
- Loại ca dao trung bình 3 – 5 câu
- Loại ca dao dài từ 6 câu trở lên
Xét theo phương thức thể hiện, diễn đạt, ca dao có ba phương thức thể hiện đơn và ba phương thức thể hiện kép
Ba phương thức thể hiện đơn:
- Phương thức đối đáp
- Phương thức trần thuật
Trang 20- Phương thức miêu tả
Ba phương thức thể hiện kép:
- Trần thuật kết hợp với đối thoại
- Trần thuật kết hợp với miêu tả
- Kết hợp cả ba phương thức: Trần thuật, miêu tả, đối thoại
e Đặc điểm về biện pháp tu từ
Để phản ánh tình cảm, phong tục tập quán cũng như mọi mặt đời sống của người dân lao động, ca dao đã sử dụng rất nhiều biện pháp nghệ thuật, tiêu biểu như:
- Dùng biện pháp ẩn dụ
Theo tác giả Nguyễn Phan Cảnh: “ Ca dao lấy việc khai thác các từ đồng nghĩa lâm thời làm phương tiện biểu hiện cơ bản vì thế hình tượng ngôn ngữ ca dao trước hết là những hình tượng ẩn dụ” [4,232]
Phần lớn các bài ca dao đều có cấu trúc mang tính ẩn dụ
Có thể nói rằng mỗi câu ca dao nhất là ca dao tình yêu nam nữ, đều có cấu trúc ẩn dụ
- Đã mang lấy cái thân tằm Không vương tơ nữa cũng nằm trong tơ
- Khi đi thì bóng đang dài Bây giờ bóng đã nghe ai bóng tròn
- Dùng biện pháp so sánh
So sánh: “ là phương thức biểu đạt bằng ngôn từ một cách hình tượng dựa trên cơ sở đối chiếu hai hiện tượng có dấu hiệu tương đồng nhằm làm nổi bật đặc điểm, thuộc tính của hai hiện tượng kia” [23,237]
So sánh là một nét đặc sắc của nghệ thuật diễn tả trong ca dao Tác giả Hoàng Tiến Tựu nhận xét: “so sánh, ví von là thủ pháp nghệ thuật được sử dụng thường xuyên và phổ biến nhất trong ca dao truyền thống”
Trang 21Trong kho tàng ca dao người Việt, hình ảnh so sánh rất phong phú đa dạng, đó có thể là các vật dụng xung quanh cuộc sống con người, hay những
sự vật hiện tượng trong thế giới tự nhiên
- Sầu ta như bể nước đầy Bao giờ nước cạn, sầu này mới vơi
- Thân em như giếng giữa đường Người khôn rửa mặt, người thường rửa chân
- Tình anh như nước dâng cao Tình em như giải lụa đào tẩm hương
- Dùng biện pháp nói quá
Bên cạnh hai biện pháp ẩn dụ, so sánh, ca dao còn sử dụng biện pháp
“nói quá”
- Dù ai xấu xí như ma Tắm nước sông Đá cũng là người tiên
- Lấy ai cũng một đời chồng Lấy ta ta bế ta bồng trên tay
- Lấy anh ăn cháo hột đào Uống chè tiên tử nằm võng đào màn che
- Dầu mà nấm lở mồ mòn Hòm kia đậy nắp vẫn còn thương anh
Như vậy, ca dao và dân ca đều được chắt lọc từ ngôn ngữ giao tiếp hằng ngày, chính vì vậy ngôn ngữ ca dao đều có xu hướng dùng một loại ngôn ngữ đó là trao đổi trực tiếp như lời ăn tiếng nói của nhân dân ta trong sinh hoạt cộng đồng
Trang 221.1.3 Phân biệt ca dao với tục ngữ
Ca dao và tục ngữ là hai thành phần phong phú nhất trong văn học dân gian của dân tộc Việt Đây cũng là phần có giá trị nhất về mặt trí tuệ, tình cảm
và nghệ thuật biểu hiện
Theo Dương Quảng Hàm “Ca dao là bài hát ngắn lưu hành trong dân gian thường tả tính tình phong tục của người bình dân” còn tục ngữ là những câu ngắn gọn súc tích, giàu vần, điệu, có tính chất cân xứng Vì vậy, có thể phân biệt ca dao
và tục ngữ dựa trên các tiêu chí: hình thức, nội dung, chức năng như sau:
Đặc điểm về hình thức: Tục ngữ ngắn hơn ca dao, bài ca dao ngắn nhất
là 14 tiếng bằng câu dài nhất của tục ngữ tức là có sự khác nhau về số lượng
âm tiết
- Đêm qua trời sáng trăng rằm
Em đi qua ngõ anh nằm không yên
(ca dao)
Ca dao thường có dạng hai dòng 6/8 (còn gọi là thể lục bát, gồm 14 âm tiết) hoặc có dạng 8 đến 16 dòng thơ Giữa hai dòng lục và dòng bát luôn bị quy định chặt chẽ bởi vần chân và vần lưng:
Bây giờ mận mới hỏi đào Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?
Mận hỏi thì đào xinh thưa, Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào
Còn tục ngữ thường có số lượng lớn nhất là 23 âm tiết, ít nhất là 4 âm tiết, như: cha già con cọc; nòi nào giống ấy(4 âm tiết); Hoài hồng ngâm cho chuột vọc, hoài hạt ngọc cho ngâu vầy, hoài bánh dày cho thằng méo miệng
ăn (20 âm tiết), thậm chí có cả 23 âm tiết: Một giỏ sinh đồ, một bồ ông cống, một đống ông nghè, một bè Tiến sĩ, một bị Trạng nguyên, một thuyền Bảng nhãn (Tuy nhiên câu có số lượnh âm tiết lớn như vậy không nhiều) Tục ngữ cũng có sự quy định về vần nhưng chủ yếu là vần liền hay vần cách Tục ngữ
có vần hoặc không có vần, còn ca dao đều có vần
Trang 23Hiện tượng gieo vần liền: Con dại cái mang; Ông đi qua bà đi lại; Cha bòn con phá; Người sống đống vàng; Thăm ván, bán thuyền; Đâm bị thóc, chọc bị gạo…
Hiện tượng gieo vần cách:
Vần cách một âm tiết: Nhiều thầy thối ma, nhiều cha con khó lấy chồng; Ra đường hỏi già, về nhà hỏi trẻ; Ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau; Bói
ra ma, quét nhà ra rác; Dẫu vội, chẳng lội xuống sông…
Vần cách hai âm tiết: Đi mười bước xa hơn mười bước lội; Đi một ngày đàng, học một sàng khôn; Sống được miếng dồi chó, chết được bó vàng tâm;
Ăn mặn nói ngay hơn ăn chay nói dối…
Vần cách ba âm tiết: Lấy chồng khó giữa làng hơn lấy chồng sang thiên hạ; Nhanh chân thì đựợc, chậm chân thì trượt; Gươm để rửa máu thù, không phải để
tu thành phật; Hỏi vợ thì cưới liền tay, chớ để lâu ngày lắm kẻ dèm pha…
Vần cách năm âm tiết: Người khôn chóng già, người dại luẩn quẩn vào
ra tối ngày; Chim khôn ai nỡ bắn, người khôn ai nỡ nói nặng; Trai tơ lấy phải
nạ dòng, như nước mắm thối chấm lòng lợn thiu…
- Đặc điểm về nội dung: Ca dao phản ánh lịch sử, miêu tả khá chi tiết phong tục tập quán trong sinh hoạt vật chất tinh thần của nhân dân lao động, nhưng trước hết thể hiện đời sống tình cảm riêng tư, tình yêu gia đình, tình yêu quê hương đất nước
Thứ nhất là tình yêu của nhân dân Việt Nam trong ca dao Phong phú nhất, sâu sắc nhất là mảng ca dao về tình yêu nam nữ Trai gái gặp gỡ, tìm hiểu nhau, thổ lộ tình cảm với nhau trong khi lao động, hội hè đình đám, vui xuân:
Hôm qua trăng sáng tờ mờ,
Em đi tát nước tình cờ gặp anh
hay
Bao giờ cho đến tháng hai, Con gái làm cỏ, con trai be bờ
Trang 24Nội dung những câu ca dao này phản ánh được mọi biểu hiện sắc thái cung bậc của tình yêu Đó là những tình cảm thắm thiết trong hoàn cảnh may mắn hạnh phúc với những niềm mơ ước, với những nỗi nhớ nhung da diết, những lúc phải tâm sự với thiên nhiên, những nỗi lo lắng khi muốn bảo vệ tình yêu chung thủy, những lời oán trách, đau khổ khi thất bại trong tình yêu, những đau thương xảy ra, những cản trở làm cho ước nguyện không thành, rồi đến khi có chồng cũng xảy ra biết bao buồn tủi chỉ vì kỉ cương phong kiến…tất cả những tình cảm vui buồn ấy, nhân dân Việt Nam đã thổ lộ trong
ca dao, làm cho ca dao có tính chất trữ tình sâu sắc Bên cạnh đó, ca dao thể hiện tình yêu gia đình, cái tổ ấm cùng nhau chung sống, hay yêu quê hương làng xóm nơi chôn rau cắt rốn, lòng yêu đất nước hòa với lòng yêu đồng ruộng, cảnh chợ, con đò, bến nước, cây đa, mái đình…
Thứ hai là ý thức sản xuất lao động của nhân dân Việt Nam trong ca dao
Ý thức lao động của người nông dân Việt Nam, thể hiện trong ca dao và dân ca không chỉ ở mặt tinh thần, không chỉ dùng ca dao để phổ biến kinh nghiệm sản xuất, mà ý thức lao động còn biểu hiện trong ca dao trữ tình, những bài ca ngợi lao động, khích lệ lao động, làm cho con người yêu mến nghề nghiệp của mình, yêu mến ruộng đồng, núi rừng
Nội dung của ca dao thường hướng đến tâm trạng cảm xúc cá nhân Còn tục ngữ là lời ăn tiếng nói của nhân dân đã được đúc kết dưới những hình thức tinh giảm mang nội dung súc tích Tục ngữ thiên về biểu hiện trí tuệ của nhân dân trong việc nhận thức thế giới, xã hội và con người Đồng thời tục ngữ biểu hiện thái độ ứng xử và tình cảm của nhân dân với những vấn đề của cuộc sống Tục ngữ thể hiện kinh nghiệm sống, lối sống tư tưởng đạo đức, kinh nghiệm sản xuất Như vậy, nội dung của tục ngữ là những kinh nghiệm nhận thức về tự nhiên hay kinh nghiệm nhận thức xã hội, mang tính quy luật
Trang 25Ví dụ: Nhận thức về tự nhiên
Lúa chiêm lấp ló đầu bờ
Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên
Cơn đàng đông vừa trông vừa chạy, Cơn đàng nam vừa làm vừa chơi
- Đặc điểm về ý nghĩa: Ý nghĩa của tục ngữ chủ yếu là nghĩa đen, nghĩa bóng, đa nghĩa Tục ngữ biểu hiện cái hay, cái đẹp của ngôn ngữ dân tộc Còn
ý nghĩa của ca dao là ý nghĩa biểu cảm, ca dao thể hiện một cách cô đúc tình cảm của con người thông qua ngôn ngữ hằng ngày
Ngoài ra, ca dao và tục ngữ còn phân biệt với nhau về mặt cấu trúc, về đích tác động…Tuy nhiên ca dao và tục ngữ là hai thành phần quan trọng nhất của văn học dân gian Việt Nam Tác giả Mã Giang Lân đã nhận xét rằng:
“ Ca dao đã vận dụng mọi khả năng của ngôn ngữ dân tộc để biểu hiện một cách chính xác, tinh tế cuộc sống và hơn nữa để biểu hiện một cách sinh động
và đầy hình tượng về nguyện vọng của nhân dân về cuộc sống ấy Ở tục ngữ,
tư tưởng thường được biểu hiện qua một hình thức ngôn ngữ ngắn gọn Ở ca dao, tư tưởng và tình cảm một mặt được cô đúc dưới hình thức ngôn ngữ vững chắc và mặt khác lại còn được diễn đạt trong sự vận động phong phú và
Trang 26đa dạng Ở ca dao sự vận động rất phong phú và đa dạng ấy của tư tưởng tình cảm là cơ sở của sự vận động phong phú và đa dạng của ngôn ngữ văn học Cho nên, thông qua việc sáng tác ca dao, nhân dân đã đưa ngôn ngữ văn học đến trình độ nghệ thuật cao, nhiều khi đạt đến trình độ trong cổ điển Cảnh vật thiên nhiên, trạng thái xã hội, thể chất và tâm tình của con người đã hiện lên qua ca dao với những hình tượng văn học, từ lâu đã trở thành truyền thống và nhiều khi có tính chất mẫu mực về nghệ thuật”
1.1.4 Phân loại ca dao
Phân loại ca dao chủ yếu dựa vào đặc điểm nội dung và hình thức nghệ thuật về lời thơ trong ca dao Có thể phân chia ca dao thành các loại sau đây:
1.1.4.1 Ca dao ru con
Loại này xuất hiện khá sớm và tồn tại lâu đời trong đời sống của nhân dân nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu trong sinh hoạt gia đình Đây là loại hát trong nhà, loại dân ca chủ yếu của sinh hoạt gia đình, nên có đặc điểm chậm rãi, nhịp nhàng, êm ái lắng đọng
À…a…à…ơi Con cò mà đi ăn đêm Đậu phải…ư…cành mềm lộn cổ xuống ao
Khi ru người mẹ tác động vào con một cách toàn bộ bằng nhạc, bằng lời, bằng nhịp và bằng cả sự truyền cảm đặc biệt mà không ai thay thế được
Vì vậy vai trò của người mẹ trong hát ru con đặc biệt quan trọng
1.1.4.2 Ca dao trẻ em
Văn học dân gian của thiếu nhi người Việt phát triển khá sớm và phát triển ở cả hai lĩnh vực truyện kể và đồng dao Nhìn chung phạm vi và ranh giới truyện kể của người Việt không rõ rệt và khó xác định hơn so với phạm
vi và ranh giới của đồng dao
Đồng dao là thơ ca dân gian truyền miệng của trẻ em Bộ phận đồng dao gắn liền với công việc mà trẻ em đảm nhiệm hằng ngày như: Chăn trâu,
Trang 27giữ em, cắt cỏ…Bộ phận này có thể xếp vào ca dao lao động nhưng đó là lao động của trẻ em nông thôn
Ngoài ra còn bộ phận ca dao gắn liền với trò chơi trẻ em như: Trò bịt mắt bắt dê, trò rồng rắn, trò đánh ô quan…hay những lời sấm truyền hay sấm
ký do trẻ em hát
1.1.4.3 Ca dao sinh hoạt
Đây là loại ca dao do nhân dân lao động sáng tác, không phải chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu tình cảm mà con để thỏa mãn nhu cầu về lao động Trong lao động, những lời ca tiếng hát có tác dụng điều chỉnh tiết tấu của công việc, gây phấn chấn, làm giảm mệt nhọc, làm cho người ta quên đi mệt mỏi, làm cho công việc trở nên nhẹ nhàng và có năng suất cao Trước khi lao động, trong khi lao động, sau khi lao động ca dao đều được sử dụng với mục đích
đó Ca dao Việt Nam thuộc loại này xuất hiện rất sớm và hiện nay còn truyền lại rất nhiều Đó là những bài nói về những khó khăn trong sản xuất, những hào hứng trong sản xuất hay lòng yêu quý lao động, yêu quý nghề nghiệp, yêu những cái gắn bó quen thuộc như công cụ sản xuất Trong ca dao người dân thể hiện tình cảm với công cụ lao động của mình như:
Trâu ơi ta bảo trâu này Trâu ra ngoài ruộng, trâu cày với ta Cái cày vốn nghiệp nông gia,
Ta đây trâu đấy, ai mà quản công
1.1.4.4 Ca dao về đấu tranh giai cấp
Người nông dân quanh năm “dãi nắng dầm sương”, “đầu tắt mặt tối” nhưng vẫn phải chịu một cuộc sống thiếu thốn, cơ cực Nông thôn Việt Nam trước cách mạng tháng Tám đã bị ách áp bức, bóc lột, thống trị của chế độ thực dân nửa phong kiến Họ phải sống cái cảnh “ăn xó mó niêu”, “nhà rách vách nát” làng xóm tiêu điều, xơ xác Nội dung đó đã được nhân dân lao động phản ánh rất nhiều trong ca dao
Trang 28Ví dụ:
Chúa ăn rồi chúa lại ngồi Bắt thằng con ở dọn nồi dọn niêu Ngày trước còn khí yêu yêu,
Về sau chửi mắng ra điều tốn cơm Trước kia còn để cho đơm, Sau thì giật lấy: Tao đơm cho mày
Đối với bọn phong kiến với danh nghĩa “Quan phụ mẫu” – cha mẹ của dân, là người “cầm cân nảy mực” nhưng thực chất là lũ “lang sói” đối với nhân dân Với cái thói “ làm quan ăn gian nói dối”, cái thói “quan tha nha bắt”…đã bị nhân dân chống phá và phỉ nhổ:
Con ơi nhớ lấy câu này Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan
Con vua thì lại làm vua Con sải ở chùa thì quét lá đa Bao giờ dân nỗi can qua Con vua thất thế lại ra quét chùa
Ví dụ:
Đêm nằm thì ngáy o o Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà
Đi chợ thì chúa ăn quà Chồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơm
Trang 291.1.4.6 Ca dao trữ tình
Ca dao trữ tình là bộ phận lớn nhất , phong phú và đa dạng nhất của ca dao Nó chẳng những lời của các loại dân ca trữ tình như: Hát cò lả, trống quân, quan họ, các điệu lý…mà còn bao gồm cả những lời hát trữ tình trong các loại dân ca mà chức năng nguyên thủy (chức năng gốc) không phải là trữ tình (như các điệu hò lao động), các loại dân ca gắn liền với nghi lễ dân tộc
Dù sinh ra từ loại dân ca nào, địa phương và thời kỳ lịch sử nào thì ca dao trữ tình cũng là tiếng nói nội tâm của nhân dân, nhằm trực tiếp bộc lộ thái
độ, cảm xúc và thẫm mỹ của con người trước những đối tượng cụ thể khác nhau của tự nhiên và xã hội Có năm mảng đề tài lớn trong bộ phận ca dao trữ tình: thiên nhiên, lịh sử, gia đình, xã hội và tình yêu đôi lứa Tiêu biểu trong các mảng đề tài có thể nói đến ca dao trữ tình viết về tình yêu đôi lứa như:
- Hỡi cô cắt cỏ bên sông
Có muốn ăn nhãn thì lồng sang đây Sang đây anh nắm cổ tay Anh hỏi câu này có lấy anh không?
- Trách chàng ăn ở chấp chênh
Em như thuyền thúng lênh đênh giữa dòng
May ra trời lặng nước trong Chẳng may bão táp cực lòng thiếp thay Công thiếp vò võ đêm ngày
Mà chàng ăn ở thế này chàng ơi!
Thiếp như hoa đã nở rồi
Xin chàng che lấy mặt trời cho tươi
[t 2142]
1.1.5 Sự tồn tại của từ Trăng và Mặt trời trong ca dao người Việt
Ca dao là một loại hình văn học dân gian rất gần gũi và thân thuộc đối với người dân Việt Nam Một trong những đặc điểm nổi bật của ca dao khiến
Trang 30cho nó có sức truyền cảm mạnh mẽ và dễ đi sâu vào lòng người, đó là ca dao
đã sử dụng những sự vật, hiện tượng bình thường, thân quen, gần gũi Trong
hệ thống từ ngữ mà kho tàng ca dao người Việt sử dụng, từ Trăng và Mặt trời
xuất hiện với tần số cao, phản ánh những nội dung khác nhau:
- Đó là những bài ca dao nói về tình yêu Nội dung này chiếm số lượng
lớn nhất trong tất cả những bài ca dao nói về Trăng và Mặt trời
Thấy anh như thấy mặt trời
Chói chang khó ngó, trao lời khó trao
Thấy trăng em luống hổ với đèn
Ai cho sang cả khó hèn khác nhau
Thân em như thể trăng rằm
Mây đen có phủ chẳng làm giá trong
- Đó là những bài ca dao thể hiện ánh sáng, lý tưởng:
Trăng lên trăng sáng bờ thềm
Uốn tay cho mềm, dệt lụa cho anh Quần áo anh, em may em cắt
Em nhuộm màu vàng thắm sắc hoa vông
Trăng thanh vằng vặc giữa trời
Nhớ tình nhớ nghĩa nhớ nơi bạn nằm
Sáng trăng sáng cả trăng rằm
Nửa đêm về sáng trăng nằm ngọn cây
Mặt trời tang tảng rạng đông
Chàng ơi trở dậy đi đồng kẻo trưa Phận hèn bao quản nắng mưa Cày sâu bừa kĩ được mùa có phen
Trang 311.2 Nghĩa của từ
1.2.1 Khái niệm nghĩa của từ
Từ bao gồm hai mặt: Âm và nghĩa Ta đã biết từ là một loại kí hiệu đặc biệt, chứa trong nó nhiều mối quan hệ hơn tất cả các loại kí hiệu lấy âm thanh làm cái biểu đạt Do vậy nghĩa của từ, cái được biểu đạt trong từ là một phức thể, có được nhờ sự tổng hợp các mối liên hệ của nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài ngôn ngữ Nhân tố bên trong là toàn bộ những quan hệ về ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp, diễn ra trong lòng hệ thống ngôn ngữ Nhân tố bên ngoài là toàn bộ sự vật hiện tượng của thế giới khách quan, kể cả thế giới nội tâm của con người như tư duy, ý niệm hay khái niệm Theo Đỗ Hữu Châu: “ Nghĩa của từ là một thực thể tinh thần cùng với phương diện hình thức lập thành một thể thống nhất gọi là từ Các thực thể tinh thần đó hình thành từ một nhân tố, không đồng nhất với những nhân tố đó nhưng không có những nhân tố này thì không có nghĩa của từ Các nhân tố tự mình chưa phải là nghĩa, ở bên ngoài nghĩa nhưng để lại những dấu vết trong nghĩa, góp phần nhào nặn lên nghĩa của từ Nói cách khác, nghĩa của từ là hợp điểm, là kết quả của những nhân tố và tác động giữa những nhân tố tạo nên nghĩa Trong số những nhân tố đó, có những nhân tố ngoài ngôn ngữ và có những nhân tố nằm trong ngôn ngữ” [tr.166]
Từ không phải là một đơn vị biệt lập, nghĩa của từ không phải là một khối đơn nhất, nghĩa của từ là một phức thể gồm nhiều thành tố, có thành tố nằm trong nội bộ của từ, có thành tố nằm trong nhiều mối quan hệ phức tạp của hoạt động ngôn ngữ Mối liên hệ giữa tín hiệu và sự vật mà nó gọi tên tạo nên nghĩa biểu vật của từ, mối liên hệ giữa tín hiệu với tư duy làm nên nghĩa biểu niệm của từ, mối liên hệ giữa tín hiệu với hệ thống từ vựng, với các từ khác trên hình tuyến làm nên nghĩa cấu trúc của từ, mối liên hệ giữa tín hiệu
từ với người dùng nó làm nên nghĩa ngữ dụng của từ Các thành phần nghĩa của từ nói trên không hiện hữu như nhau trong các từ loại khác nhau của một ngôn ngữ và được bộc lộ rât khác nhau trong hoạt động
Trang 32Từ có liên hệ với nhiều nhân tố, nhiều hiện tượng Bởi thế nghĩa của từ cũng không phải chỉ có một thành phần, một kiểu loại Khi nói về nghĩa của
từ, người ta thường phân biệt các thành phần nghĩa sau đây:
Nghĩa biểu vật: Liên hệ giữa từ với sự vật (hoặc hiện tượng, thuộc tính,
hành động…) mà nó chỉ ra Bản thân sự vật, hiện tượng, thuộc tính, hành động…đó người ta gọi là biểu vật hay cái biểu vật Biểu vật có thể hiện thực hoặc phi hiện thực, hữu hình hay vô hình, có bản chất hoặc phi bản chất
Ví dụ: Đất, trời, mưa, nắng, nóng, ma, quỷ, thánh,thần, thiên đường,
địa ngục…
Nghĩa biểu niệm: Là liên hệ giữa từ với ý (hoặc ý nghĩa, ý niệm – nếu
chúng ta không cần phân biệt nghiêm ngặt mấy tên gọi này) Cái ý đó người
ta gọi là cái biểu niệm hoặc biểu niệm (sự phản ánh các thuộc tính của biểu vật vào trong ý thức của con người)
Ngoài hai thành phần nghĩa trên đây, khi xác định nghĩa của từ, người ta còn phân biệt hai thành phần nghĩa nữa Đó là nghĩa ngữ dụng và nghĩa cấu trúc
Nghĩa ngữ dụng: Còn được gọi là nghĩa biến thái, nghĩa hàm chỉ, là mối
liên hệ của từ với thái độ chủ quan, cảm xúc của người nói
Nghĩa cấu trúc: Là mối quan hệ giữa từ với các từ khác trrong hệ thống
từ vựng Quan hệ giữa từ này với các từ khác thể hiện trên hai trục: Trục đối
vị và trục ngữ đoạn Quan hệ trên trục đối vị cho ta xác định được giá trị của
từ, khu biệt từ này với từ khác, còn quan hệ trên trục ngữ đoạn cho ta xác định được ngữ vị - khả năng kết hợp của từ
Khi đi vào hoạt động ngôn ngữ, nghĩa của nó được hiện thực hóa, cụ thể hóa và được xác định Lúc đó, các thành phần nghĩa trong cơ cấu nghĩa của từ sẽ giảm dần tính trừu tượng và khái quát đến mức tối thiểu để đạt tính xác định, tính cụ thể ở mức tối đa Mặt khác cũng trong hoạt động ngôn ngữ, đồng thời với sự giảm thiểu tính khái quát thì từ lại có thể được gia tăng những sắc thái mới, nội dung mới do chính sự vật mà nó biểu thị đem lại Cái gọi là các nghĩa ngữ cảnh của từ đã được xây dựng và nảy sinh trong những
Trang 33điều kiện như vậy Và cái gọi là các phép ẩn dụ, hoán dụ tu từ học cũng được thực hiện trên cơ sở đó
Về cơ cấu nghĩa, một từ có thể có một hoặc nhiều nghĩa, nhưng đó không phải là những tổ chức lộn xộn mà giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Dựa vào mối liên hệ định danh giữa từ với đối tượng chia thành hai loại nghĩa đó là nghĩa trực tiếp (nghĩa đen) và nghĩa gián tiếp (nghĩa bóng, nghĩa biểu trưng) Một nghĩa được xem là trực tiếp khi nó phản ánh đối tượng, làm cho từ gọi tên sự vật một cách trực tiếp thì người ta gọi đó là nghĩa trực tiếp Một nghĩa được xem là gián tiếp khi nó phản ánh đối tượng làm cho từ gọi tên sự vật một cách gián tiếp (thường thông qua hình tượng hoặc nét đặc thù của nó), thì đó là ngữ chuyển tiếp
Để xây dựng, phát triển thêm nghĩa của từ, trong ngôn ngữ có nhiều cách Tuy nhiên, có hai cách quan trọng nhất thường gặp trong các ngôn ngữ là: Chuyển nghĩa ẩn dụ và chuyển nghĩa hoán dụ Ẩn dụ là một phương thức chuyển tên gọi dựa vào sự liên tưởng, so sánh những mặt, những thuộc tính…giống nhau giữa các đối tượng được gọi tên Hoán dụ là phương thức chuyển tên gọi dựa trên mối liên hệ logic giữa các đối tượng được gọi tên Trong ca dao, đây là hai phương thức cơ bản để tạo nên nghĩa biểu trưng
Tóm lại khi tìm hiểu vấn đề từ trong Tiếng Việt chúng ta cần xem xét, tìm hiểu đặc điểm của từ, cấu tạo từ và đặc biệt là nghĩa của từ Đây là cơ sở
quan trọng để chúng tôi thực hiện đề tài “ Nghĩa của Trăng và Mặt trời trong
ca dao người Việt”
1.2.3 Nghĩa của từ trong ca dao
Nghĩa của từ trong cao dao vẫn là nghĩa trong hệ thống và trong hoạt động, nhưng ca dao là sản phẩm truyền miệng mang tính nghệ thuật Vì vậy, nghĩa của từ trong ca dao gắn với ngữ cảnh, văn bản mang tính nghệ thuật nên
nó phải có nghĩa tu từ, nghĩa bổ sung
Trang 34Chương 2 NGHĨA CỦA TRĂNG TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT
2.1 Nghĩa của trăng trong từ điển
Theo Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê thì Trăng có nghĩa như sau:
Trăng: Chỉ mặt trăng nhìn thấy lúc ban đêm Trăng tròn rồi trăng lại
khuyết Bóng trăng chênh chếch Đêm trăng Trăng rằm Tháng âm lịch: Ngày
về hẹn cuối trăng
Trăng già: cũ Như nguyệt lão (hàm ý trách móc)
Trách duyên lại giận trăng già
Xe tơ lầm lỗi hóa ra chỉ mành
Trăng gió: Chỉ quan hệ yêu đương lăng nhăng, hời hợt
(nói khái quát) Buông lời trăng gió
Trăng hoa: Chỉ quan hệ trai gái lăng nhăng, không đứng đắn
(nói khái quát) Thói trăng hoa
Trăng khuyết: Trăng vào những đêm hạ tuần tháng âm lịch, mỗi đêm
một khuyết dần
Trăng lưỡi liềm: Trăng hình cong như cái lưỡi liềm, vào những đêm
đầu hay cuối tháng âm lịch
Trăng mật: Những ngày đầu tiên sau lễ cưới, về mặt thời gian là những
ngày đằm thắm, hạnh phúc nhất
Những ngày trăng mật, tuần trăng mật
Trăng non: Trăng vào những đêm thượng tuần tháng âm lịch, chưa tròn
nhưng một đêm một đầy dần
Trăng treo: Trăng nửa cuối tháng âm lịch, đêm đến đã thấy sẵn trên trời
Ở nông thôn, đêm trăng treo yên lặng
Trăng tròn: Trăng rất tròn vào những đêm giữa tháng âm lịch
Trăng trối: Như trối trăng, lời trăng trối
Theo Từ điển từ và ngữ Việt Nam do tác giả Nguyễn Lân (NXB TPHCM)
Trang 35Trăng: 1 Là vệ tinh xoay quanh trái đất:
Vầng trăng vằng vặc giữa trời Tìm trăng đáy nước, mò kim trong doành
2 Chỉ tháng âm lịch:
Lúa ba trăng
3 Khuôn mặt người phụ nữ đẹp
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang
Trăng bạc: Từ văn học chỉ bóng trăng sáng
Còn duyên may lại còn người, Còn vừng trăng bạc, còn lời nguyền xưa
Trăng đến rằm trăng tròn: Quan niệm sai lầm của bố mẹ cho rằng khi
lớn lên con cái của họ sẽ tự biết cách cư xử, không cần dạy dỗ từ khi nhỏ:
Bà cụ phê bình ông cụ là chẳng giáo dục con Ông cụ nói: “Trăng đến rằm trăng tròn”
Trăng già:(Do chữ Hán) Nguyệt hạ lão nhân, để chỉ ông tơ tức ông già
ở mặt trăng giữ sợi tơ hồng để buộc chân đôi trai gái có số tiền định thành vợ chồng Duyên số trai gái lấy nhau:
Trăng già độc địa làm sao, Cầm dây chẳng lựa, buộc vào tự nhiên
Trăng gió: 1 Nói cảnh tự nhiên:
Của trời trăng gió kho vô tận (Nguyễn Công Trứ)
2 Nói tình yêu hời hợt của trai gái:
Sớm đào tối mận lân la, Trước còn trăng gió sau ra đá vàng
Trăng hoa: Nói việc trai gái là nhân tình nhân ngãi:
Trăng hoa đâu cũng thị phi biết điều
Trăng khuyết: Mặt trăng không tròn:
Đêm khuya gió lọt song đào Nửa vành trăng khuyết, ba sao giữa trời
Trang 36Trăng khuyết rồi trăng lại tròn: Ý nói: Theo quy luật thì mọi sự vật đều
có sự đổi thay, không thể nhất thành bất biến
Trăng mật: Chỉ thời kỳ đầu sau ngày kết hôn
Trăng mờ còn tỏ hơn sao: Ý nói: Người có tài dù chưa gặp vận may
vẫn hơn kẻ bất tài
Trăng non: Trăng những ngày đầu tháng âm lịch
Trăng quầng: Mặt trăng có vòng sáng ở xung quanh
Trăng quầng thì cạn, trăng tán thì mưa
Trăng rằm: Trăng đêm ngày 15 âm lịch, tròn nhất trong tháng:
Đêm qua trời sáng trăng rằm Anh đi qua cửa, em nằm không yên
Trăng sao: Trăng và sao tỏ sự sáng
Lòng trung trinh sáng như trăng sao
Trăng suông: Nói trăng sáng giữa bầu trời lặng lẽ
Sáng trăng suông vằng vặc cái đêm hôm rằm Nửa đêm về sáng, trăng nằm ngọn tre
Trăng tà: Trăng đã xế về phương Tây:
Cất mình qua ngọn tường hoa Lấn đường theo bóng trăng tà về tây
Trăng tàn: Trăng cuối tuần trăng, đã khuyết nhiều:
Hoa tàn mà lại thêm tươi, Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa
Trăng tán: Mặt trăng có vành sáng rộng, nhiều màu bao quanh:
Trăng quầng thì cạn, trăng tán thì mưa
Trăng thanh gió mát: Tả cảnh đêm trăng êm dịu:
Kìa non nọ nước thong dong Trăng thanh gió mát bạn cùng hươu nai
(LVT)
Trang 37Trăng thâu: Nói bóng trăng chiếu khắp mọi nơi:
Đòi phen gió tựa hoa kề Nửa rèm tuyết ngậm bốn bề trăng thâu
(Truyện Kiều – Nguyễn Du)
Trăng treo: Tuần trăng từ ngày 16 đến cuối tháng âm lịch
Ở nông thôn, đêm trăng treo yên lặng
Trăng tròn: Trăng đêm rằm âm lịch
Trăng trong gió mát: Nói cảnh sáng trăng vằng vặc mà có gió êm dịu Trăng trói: Gông cỏ và trói chân tay
Trăng trối: Dặn dò cặn kẽ khi sắp chết
Đây là lời trăng trối để chia ly (Tố Hữu)
Trăng tủi hoa sầu: Trăng và hoa nói về tình duyên
(Nói cảnh buồn rầu của người tình nhân)
2.2 Nghĩa của Trăng trong ca dao
2.2.1 Kết quả thống kê
Theo kết quả thống kê trong Kho tàng ca dao Việt Nam bao gồm bốn
tập Chúng tôi đã khảo sát và tìm được hình ảnh Trăng xuất hiện khoảng 440 lần trong ca dao người Việt
Có khoảng 440 bài ca dao có hình ảnh trăng xuất hiện Trăng có khi đi một mình, có khi đi với các yếu tố khác Theo thống kê thì yếu tố trăng xuất hiện một mình khoảng 230 lần
2.2.2 Các nghĩa của Trăng trong ca dao người Việt
Trăng đã đi vào ca dao, thơ ca một cách dễ dàng và đẹp lạ lùng Trăng trong cách cảm nhận của người phương Đông, mà cụ thể là của người Việt Nam có những nét đặc biệt Quan niệm này gắn với tập tục văn hóa cũng như
tư duy phương Đông Người phương Đông do thiên về sản xuất nông nghiệp nên gắn bó mật thiết với thiên nhiên
Trang 38Hơn nữa người phương Đông nói chung, người Việt Nam nói riêng luôn có tư duy hướng nội Tâm sự, nỗi niềm của họ thường không bộc lộ trực tiếp như người phương Tây mà thường được ẩn sâu dấu kín Nỗi niềm ấy được giải tỏa khi họ sống giữa tự nhiên, gửi gắm vào thiên nhiên Cuộc sống gần gũi, gắn bó với tự nhiên đã tạo nên mối quan hệ mật thiết giữa con người
và thiên nhiên Thiên nhiên là người bạn để họ thổ lộ cảm xúc
Chính vì vậy mà trăng đã đi vào ca dao như một hình ảnh quen thuộc,
đẹp đẽ và mang nhiều ý nghĩa khác nhau Trước hết, Trăng mang ý nghĩa khái
quát, nghĩa biểu vật, biểu niệm chỉ “trăng”, thể hiện vẻ đẹp của tự nhiên, của tạo hóa, của vũ trụ Thứ hai, trăng còn mang nghĩa biểu trưng chỉ tình yêu, lời
thề nguyền trong tình yêu, tình bạn, vẻ đẹp của người phụ nữ, niềm khao khát
chiếm lĩnh cái đẹp, cái lý tưởng của con người, hay trăng còn chỉ thói trăng
hoa, trăng gió, thời gian, kinh nghiệm thời tiết…
Điều đó, được thể hiện cụ thể như sau:
2.2.2.1 Hình ảnh trăng thể hiện vẻ đẹp của tự nhiên, của tạo hóa, của vũ trụ
Hình ảnh trăng trước hết thể hiện vẻ đẹp của tự nhiên, của tạo hóa, của
vũ trụ Chị Hằng hay nàng Trăng là những danh từ rất đẹp để gọi mặt trăng
mà các văn nhân thi sĩ thường dùng Mặt trăng đem đến cho con người ta một thứ ánh sáng dịu dàng, đẹp đẽ, thơ mộng:
Trăm hoa đua nở màu hồng
Như trăng sáng tỏ ngày rằm trung thu
Ngồi tựa mạn thuyền
Trăng in mặt nước, càng nhìn non nước càng xinh
Sơn thủy hữu tình Thơ ngâm ngoài lái, rượu bình giải trí trong khoang
Đêm nay trăng bạc gió ngàn
Mượn tay thục nữ đánh đàn ta nghe
Ánh trăng lung linh huyền ảo, mỗi tháng trăng đẹp nhất là vào ngày rằm, mỗi năm trăng đẹp nhất là vào mùa thu mà nhất là vào dịp Tết trung thu
Trang 39Đã bao lần chúng ta ngắm nhìn vẻ đẹp mơ màng của trăng, đi dạo chơi dưới ánh trăng thơ mộng mới thú vị làm sao Ánh trăng đẹp nhất, viên mãn nhất, tròn trịa nhất là ánh trăng vào ngày rằm:
Trăng rằm vừa tỏ vừa cao
Cho nên ai cũng ước ao trăng rằm
Sáng trăng sáng cả trăng rằm Nửa đêm về sáng trăng nằm ngọn cây
Trăng rằm mười sáu trăng nghiêng
Thương ai chúm chím cười riêng một mình
Trăng mười sáu vành vạnh, đạt đến độ viên mãn hấp dẫn chẳng khác nào một cô gái tuổi mới lớn, đẹp làm sao với nụ cười chúm chím dễ thương đến lạ lùng
Hay hình ảnh trăng khi có gió lại tôn lên vẻ đẹp của trăng:
Trăng đưa gió trăng thanh vằng vặc
Gió đưa trăng, gió mát hiu hiu
“Gió đưa trăng”, “trăng đưa gió” đã phối hợp làm nên một khung cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp
Trong những bài ca dao nói về cảnh đẹp tự nhiên, của tạo hóa, của vũ trụ hình ảnh trăng xuất hiện rất nhiều Ánh trăng soi chiếu khắp chốn nhân gian đã tô đẹp thêm cho vạn vật
2.2.2.2 Hình ảnh trăng thể hiện vẻ đẹp của người phụ nữ
Trăng xuất hiện không chỉ thể hiện vẻ đẹp tự nhiên, vẻ đẹp của vũ trụ
mà nó còn thể hiện vẻ đẹp của con người, mà cụ thể là người phụ nữ Hình ảnh trăng xuất hiện để diễn tả vẻ đẹp của người phụ nữ khoảng 20 lần, mỗi lần với một vẽ khác nhau Vẻ đẹp của người phụ nữ không chỉ là vẻ đẹp hình thể, mà còn có vẻ đẹp tâm hồn Hình ảnh trăng được ví như hình ảnh người con gái đẹp:
Trang 40Thân em như thể trăng rằm
Mây đen có phủ chẳng làm giá trong
Thân em như thể trăng rằm
Mây đen có phủ không làm giá trong
Duyên kia đứt mối chỉ hồng
Để anh nối lại thỏa lòng ước mơ
Với biện pháp so sánh, tác giả dân gian ví thân em như thể trăng rằm Trăng đêm rằm là đêm trăng đẹp nhất trong tháng, tròn trịa, sáng soi, đẹp lạ thường cũng giống như “thân em” Dù mây có phủ, thì vẫn không làm mờ ánh trăng, không làm che khuất bóng trăng, không che khuất ánh trăng êm dịu, đẹp đẽ đó Cũng giống như em dù hoàn cảnh như thế nào đi nữa, dù có khó khăn vất vả, dù cho nghèo khó thì vẫn không làm phai mờ vẻ đẹp của em Ngoài vẻ đẹp hình thể như đêm trăng rằm thì người con gái còn mang vẻ đẹp tâm hồn, vẻ đẹp tinh khiết, trong trắng như vầng trăng
Trăng là hình ảnh của cái đẹp Khi nói đến trăng người ta liên hệ với hình ảnh của bóng hồng, của vẻ đẹp người phụ nữ Bởi nếu như trăng tượng trưng cho cái đẹp trong vũ trụ, thể hiện hình ảnh tập trung của vẻ đẹp tự nhiên thì hình ảnh người phụ nữ lại thể hiện cho cái đẹp của cuộc sống:
Trăng thanh, trăng giọi thềm đình
Em xinh, em đứng một mình cũng xinh
Tuổi em còn bé thơ măng
Giữa niềm tiết hạnh gió trăng chưa tường
Chàng mười lăm thiếp cũng mười lăm
Chàng như con bướm bạch thiếp như trăng rằm mới lên
“Trăng thanh” hình ảnh đêm trăng êm dịu, ánh trăng chiếu rọi khắp mọi nơi Thềm đình là nơi sang trọng, linh thiêng, được ánh trăng giọi vào càng thêm phần đẹp đẽ Giống như em, đã xinh lại có ánh trăng dọi vào thêm phần lung linh, rạng rỡ Ngày xưa, người ta quan niệm chốn tiên bồng là nơi đẹp