1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự thể hiện vấn đề thân phận con người trong tiểu thuyết nguyễn đình tú

66 25 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 615,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SỰ THỂ HIỆN VẤN ĐỂ THÂN PHẬN CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN ĐÌNH TÚ NHÌN TỪ BÌNH DIỆN NỘI DUNG 2.1.. NHỮNG ĐẶC SẮC VỀ HÌNH THỨC THỂ HIỆN VẤN ĐỀ THÂN PHẬN CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾ

Trang 1

1

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài………

2 Lịch sử vấn đề………

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát………

4 Nhiệm vụ nghiên cứu………

5 Phương pháp nghiên cứu………

6 Cấu trúc của đề tài………

CHƯƠNG 1 SỰ THỂ HIỆN VẤN ĐỀ THÂN PHẬN CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN NAY 1.1 Về khả năng thể hiện vấn đề thân phận con người của thể loại tiểu thuyết 1.1.1 Giới thuyết chung về khái niệm tiểu thuyết………

1.1.2 Vấn đề thân phận con người – một trong những đối tượng thể hiện chính của thể loại tiểu thuyết………

1.2 Tổng quan về việc thể hiện vấn đề thân phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến nay 1.2.1 Bối cảnh lịch sử – xã hội, văn hoá – thẩm mỹ cho sự thể hiện vấn đề thân phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến nay 1.2.1.1 Bối cảnh lịch sử – xã hội………

1.2.1.2 Bối cảnh văn hoá – thẩm mỹ………

1.2.2 Nhìn chung về thành tựu của tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến nay trên phương diện thể hiện vấn đề thân phận con người………

1.2.2.1 Tiếp cận và phơi bày nhiều vấn đề về thân phận con người………

1.2.2.2 Đa dạng hoá bút pháp nghệ thuật trong việc thể hiện vấn đề thân phận con người……….………

Trang 2

2

1.3 Cái nhìn khái quát về Nguyễn Đình Tú và vấn đề thân phận con người

trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú

1.3.1 Vài nét về nhà văn Nguyễn Đình Tú……… 1.3.2 Thân phận con người – cảm hứng chủ đạo trong tiểu thuyết Nguyễn

Đình Tú……… CHƯƠNG 2 SỰ THỂ HIỆN VẤN ĐỂ THÂN PHẬN CON NGƯỜI TRONG TIỂU

THUYẾT NGUYỄN ĐÌNH TÚ NHÌN TỪ BÌNH DIỆN NỘI DUNG

2.1 Bênh vực, chiêu tuyết cho thân phận những con người bị hắt hủi……… 2.2 Đi sâu vào quyền sống, quyền được hưởng hạnh phúc của con người……… 2.3 Day dứt về trách nhiệm xã hội đối với thân phận con người………

CHƯƠNG 3 NHỮNG ĐẶC SẮC VỀ HÌNH THỨC THỂ HIỆN VẤN ĐỀ THÂN PHẬN CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN ĐÌNH TÚ

3.1 Nghệ thuật kết cấu trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú và vai trò của kết cấu này trong việc làm nổi bật vấn đề thân phận con người……… 3.2 Vấn đề thân phận con người thông qua hệ thống nhân vật……… 3.3 Vấn đề thân phận con người trong mối quan hệ với ba đề tài Tôn giáo, chiến tranh và sex………

KẾT LUẬN……… TÀI LIỆU THAM KHẢO………

Trang 3

1.2 Là nhà văn thuộc thế hệ 7X, Nguyễn Đình Tú thuộc trong số không nhiều

những cây bút đang khá sung sức, thể hiện được dấu ấn phong cách, cá tính sáng tạo của mình ở cả hai thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết Đặc biệt với năm cuốn tiểu thuyết đã ra mắt công chúng, nhà văn trẻ này đã để lại dấu ấn đậm nét trong đời sống văn học những năm gần đây Tuy nhiên, các bài nghiên cứu về tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú dù khá nhiều song lại chưa có nhiều thành tựu, trong đó nhiều cuộc tranh luận về tác phẩm của nhà văn này còn chưa đi đến hồi kết Tìm hiểu sự thể hiện vấn đề thân phận con người trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú, chúng tôi muốn góp thêm một tiếng nói khám phá tài năng, sáng tạo nghệ thuật và những đóng góp của tác giả cho nền văn học nước nhà

1.3 Thế giới tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú phản ánh cái nhìn đa chiều về con

người và hiện thực đương đại, thể hiện những tìm tòi, thể nghiệm của tiểu thuyết Việt Nam những năm gần đây Vì vậy, tìm hiểu về vấn đề này không chỉ để hiểu tài năng cá tính sáng tạo của một nhà văn, mà còn gợi mở nhiều vấn đề mang ý nghĩa

lý luận trong sáng tác tiểu thuyết Việt Nam hiện đại

1.4 Một lý do khá quan trọng nữa khiến tôi tìm đến với đề tài này là do hứng

thú cá nhân Nguyễn Đình Tú là một trong số ít những tác giả trẻ để lại trong tôi

Trang 4

4 nhiều ấn tượng sâu sắc khi được tiếp cận với tác phẩm của anh Đọc những trang văn ấy, có một vấn đề luôn trở đi trở lại trong tôi ấy là sự băn khoăn, trăn trở của nhà văn về thân phận những kiếp người trong xã hội đương đại Và vì thế, lựa chọn đề tài này, với tôi, còn là sự tri ân cho một cây bút trẻ mà tôi vô cùng yêu mến

2 Lịch sử vấn đề

Điểm qua những công trình nghiên cứu về tác phẩm của Nguyễn Đình Tú, chúng tôi nhận thấy phần lớn mới chỉ dừng lại ở một vài bài viết, được đăng rải rác trên một số trang báo mạng Nhìn chung, những bài viết đó đã ít nhiều khai mở được lộ trình sáng tác và cho thấy những khuynh hướng phản ánh đời sống đa chiều trong đó có sự thể hiện vấn đề thân phận con người của tác giả Tuy vậy, những bài viết này mới chỉ dừng lại ở cái nhìn bề mặt mang tính chất khái quát – tổng hợp, chưa thực sự bám sát, đi sâu thâm nhập vào hình tượng của tác phẩm Trước một khả năng sáng tạo nghệ thuật như Nguyễn Đình Tú, chắc chắn tác phẩm

sẽ còn nhiều điều đáng để chúng ta lưu tâm khám phá đặc biệt trên phương diện thể hiện vấn đề thân phận con người

Đoàn Ánh Dương, trong Phiên bản hay hồ sơ một thanh tẩy, đã viết: “Không

chú ý đi sâu xây dựng những tình huống, tình tiết giàu kịch tính, những hình ảnh ly

kỳ, gay cấn giống như những tác phẩm trinh thám hay hồ sơ tội phạm thường thấy,

ở cả Hồ sơ một tử tù và Phiên bản, Nguyễn Đình Tú đã cố gắng đi vào thể hiện tâm

trạng của nhân vật, thái độ và xúc cảm của nhân vật trong cái nhìn hồi cố Cái khác biệt ở hai tiểu thuyết, và là nỗ lực đổi mới ngòi bút của Nguyễn Đình Tú, nằm trong cấu trúc hồi cố ấy Ở thời điểm khi cái thiện đã được đánh thức, để cho nhân

vật tự thú về hành động của mình, Hồ sơ một tử tù cố gắng phác họa một diện mạo

đầy đủ về khía cạnh giá trị nhân bản đã có và sẽ còn tồn tại trong kẻ tử tù khi nó được đón nhận trong vòng tay của cái thiện Vẻ đẹp nhân bản của tác phẩm hiện diện trong niềm tin vào khát vọng hướng thiện của con người, vào khả năng cứu rỗi của cái thiện trước nguy cơ con người bị dồn đuổi vào cái xấu, cái ác”[8] Như vậy,

dù còn ở dạng sơ lược nhưng nhận xét trên đây của Đoàn Ánh Dương cũng đã bắt

Trang 5

5

đầu chạm vào cái gọi là “thân phận con người” trong hai tiểu thuyết Hồ sơ một tử

tù và Phiên bản của Nguyễn Đình Tú

Khuất Quang Thụy trong Một khái niệm mới về tiểu thuyết từ “Hồ sơ một tử tù” nhận định: “Đọc xong cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú, ta không có được cảm

giác kiểu như “thế là đã rõ”, “thế là xong việc”, và rồi chúng ta có thể yên tâm bỏ cuốn sách xuống để chìm vào giấc ngủ hay thanh thản bước vào những công việc thường nhật mà không còn bất kỳ sự vương vấn nào về số phận của nhân vật hay về những vấn đề mà cuốn sách đã xới lên Cái cảm giác gột rửa ấy xuất hiện khi đọc xong cuốn sách, chúng ta bỗng hiểu rằng, dường như kẻ bị đưa lên cọc xử bắn kia cũng là một nạn nhân mà mỗi chúng ta, ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp đều có lỗi, đều tham gia xô đẩy hắn ta vào con đường tội lỗi để dẫn tới kết cục bi thảm này Trong cuộc đời nhiều khi chúng ta vô tình gây ra tội ác, hoặc gieo những mầm

mống tội ác mà không biết Đến khi cái mầm ác ấy nảy cành, xanh lá gây hoạ cho

đời thì chúng ta lại dửng dưng, coi như mình là kẻ ngoài cuộc vô can, thậm chí chúng ta lại nhân danh pháp luật và đạo đức để phán xử chính những tội ác mà chúng ta đã góp phần gieo mầm và nuôi dưỡng mà không hề hay biết?”[51] Đây chính là những cảm nhận rất rõ ràng về vấn đề thân phận con người trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú Dù mới chỉ dừng lại ở một bài viết chứ chưa phải một công trình nghiên cứu chuyên sâu song những nhận định của Khuất Quang Thụy giữ một vai trò quan trọng trong việc gợi mở cho chúng tôi bắt tay vào thực hiện đề tài này

Tiểu thuyết Phiên bản ngay khi vừa ra mắt đã được người đọc chào đón rất

nồng nhiệt và cũng được nhiều nhà phê bình đánh giá cao Hà Linh trong bài phỏng

vấn tác giả Nguyễn Đình Tú “Tác phẩm của tôi không chỉ có bạo lực + sex” đã viết: “ Hơn 400 trang Phiên bản của Nguyễn Đình Tú đậm đặc những cảnh hành

động, các pha chém giết và mãnh liệt, dữ dội những trường đoạn làm tình Nhưng nhà văn khẳng định, đằng sau chuyện bạo lực và giường chiếu, anh gắng sức hướng người đọc đến những tình cảm nhân văn của con người” Cũng trong bài trả lời

Trang 6

6 phỏng vấn này, khi phải trả lời câu hỏi về sex trong tác phẩm của mình, Nguyễn Đình Tú đã tâm sự : “Có người còn nói một cách gọn lỏn rằng, tác phẩm của tôi đều theo một công thức chung, đó là: bạo lực + sex! Tôi chỉ nghĩ đơn giản thế này, đằng sau những cái gọi là bạo lực và sex đó, bạn đọc của tôi có vài ba phút ngồi thẫn thờ rưng rưng nghĩ về kiếp người, thì đó là lúc tôi đã chạm tay đến được cái nghĩa đích thức của hai chữ: Nhà văn!”[26] Qua những lời tâm sự ấy, chúng ta biết được rằng thân phận con người chính là một trong những chủ đích ban đầu mà Nguyễn Đình Tú hướng đến khi cầm bút Những đề tài như bạo lực và sex sẽ chỉ giữ vai trò như một phương tiện giúp nhà văn chuyển tải thông điệp về thân phận con người mà thôi

Năm 2010, Kín đã ra mắt bạn đọc với bản in trang trọng, bắt mắt Cuốn tiểu

thuyết đã đi một dòng riêng, từ đề tài đến bút lực và kỹ thuật đều cho thấy một khả năng dồi dào trong suy ngẫm và chiêm nghiệm của Nguyễn Đình Tú về cuộc sống

và thân phận những kiếp người Nguyễn Xuân Diện trong bài viết "Kín" - một dòng tiểu thuyết miên man, nhấn mạnh: “Cuộc sống nhân vật tiểu thuyết của Nguyễn

Đình Tú, phải chăng như đoá sen đầu mùa hạ còn phong kín nhuỵ hương? Hay là cuộc viết tiểu thuyết của Tú, phải chăng, đến cuốn thứ năm, vẫn là một dòng mải miết miên man nhằm xâm nhập thám hiểm vào tận ngóc ngách thế giới bên trong đầy hoang vu rợn ngợp, đầy khắc khoải đan cài vô số chuyển động ngược chiều: các nhân vật trẻ tuổi của Tú vừa tự đập tan nát mình vỡ vụn, vừa ráng chịu đau đớn, tự tay “khâu vá” lại những mảnh vụn nát ấy cho lành lặn?”[7]

Năm 2011, trên webside: www.phongdiep.net đăng tải bài viết “Từ kết cấu của một cuốn tiểu thuyết cho đến cảm thức về thân phận lạc loài, hoang hoải trong Kín của Nguyễn Đình Tú” được viết bởi bạn đọc Lê Quốc Hiếu Trong đó, Lê Quốc Hiếu đã đưa ra những lời nhận xét như sau :“Nếu như ở Nháp, ta thấy nó nồng nặc

mùi sex, chuyện sex thì ở Phiên bản lại đề cập chủ yếu đến vấn đề bạo lực Còn ở

Kín, cuốn tiểu thuyết được trình làng gần đây nhất lại “dàn trải” ra nhiều vấn đề

đang còn tồn tại một cách bức bối trong giới trẻ đương đại như: sex, quần hôn, bụi

Trang 7

7

đời, lên đồng, chuyện về mẫu Liễu Hạnh… Tuy nhiên, từng đấy vấn đề trong Kín,

theo tôi, cũng chỉ nhằm tập trung nổi bật lên vấn đề: thân phận lạc loài, hoang hoải đến hoài nghi vỡ mộng của giới trẻ trong xã hội hiện đại.”[12] Như vậy, có thể

khẳng định rằng, cho đến khi tiểu thuyết Kín ra đời, các nhà nghiên cứu cũng đã có

những nhận định sát thực hơn về vấn đề thân phận con người trong tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú Ngoài những bài kể trên, có thể kể đến một số bài viết của các tác giả khác như Phí Thủy Hương, Bùi Việt Thắng, Đoàn Minh Tâm, Nguyễn Thanh Tú Các tác giả này cũng đã có những phát hiện độc đáo đáng ghi nhận về tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú ở phương diện thể hiện vấn đề thân phận con người Như vậy số lượng các bài viết về Nguyễn Đình Tú và các tiểu thuyết của nhà văn này là khá nhiều Trong đó, những bài viết đề cập tới vấn đề thân phận con người tuy chưa phải ở mức toàn diện, sâu sắc nhưng đều là những gợi ý bổ ích, tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi hoàn thành công trình của mình

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi tư liệu khảo sát

3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự thể hiện vấn đề thân phận con người

trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú

3.2 Phạm vi tư liệu khảo sát của đề tài là bốn cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Đình

Tú bao gồm :

- Hồ sơ một tử tù (Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2002)

- Nháp (Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2008)

- Phiên bản (Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2009)

- Kín (Nxb Văn học, Hà Nội, 2010)

Ngoài ra, để làm rõ vấn đề được đặt ra trong đề tài, chúng tôi còn liên hệ so sánh, mở rộng ở một chừng mực nhất định với một số tiểu thuyết khác có thể hiện vấn đề thân phận con người

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Tìm hiểu sự thể hiện vấn đề thân phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến nay

Trang 8

8 4.2 Tìm hiểu sự thể hiện vấn đề thân phận con người trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú ở hai bình diện nội dung và hình thức

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng những phương pháp sau:

5.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp

Đây được xác định là phương pháp chủ đạo của đề tài Trên cơ sở phân tích bốn cuốn tiểu thuyết đã được chọn làm đối tượng nghiên cứu, chúng tôi sẽ tổng hợp để chỉ ra những đặc sắc trong việc thể hiện vấn đề thân phận con người trong tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú trên cả hai bình diện nội dung và nghệ thuật

5.2 Phương pháp thống kê, miêu tả

Chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê, miêu tả để có được những dẫn chứng cụ thể chứng minh cho vấn đề mà đề tài quan tâm

5.3 Phương pháp đối chiếu, so sánh

Trong quá trình nghiên cứu, phương pháp đối chiếu, so sánh là không thể thiếu Trong khả năng của mình, chúng tôi so sánh, đối chiếu việc thể hiện vấn đề thân phận con người trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú với sáng tác của một số nhà văn Việt Nam cũng như nước ngoài để thấy những tiếp thu, học hỏi và những tìm tòi, sáng tạo trong cách viết của tác giả Nguyễn Đình Tú về vấn đề này

5 Cấu trúc của đề tài

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, đề tài của chúng tôi được cấu

trúc qua ba chương

Chương 1 : Sự thể hiện vấn đề thân phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến nay

Chương 2 : Sự thể hiện vấn đề thân phận con người trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú nhìn từ bình diện nội dung

Chương 3 : Những đặc sắc về hình thức thể hiện vấn đề thân phận con người trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú

Trang 9

9

Chương 1

SỰ THỂ HIỆN VẤN ĐỀ THÂN PHẬN CON NGƯỜI TRONG

TIỂU THUYẾT VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN NAY 1.1 Về khả năng thể hiện vấn đề thân phận con người của thể loại tiểu thuyết

1.1.1 Giới thuyết chung về khái niệm tiểu thuyết

Tiểu thuyết là một thể loại văn học vô cùng quen thuộc với chúng ta, tuy ra đời muộn hơn so với các thể loại khác nhưng lại có vai trò hết sức quan trọng trong lịch sử văn học Thật ra, chúng ta không nên một mực cho rằng định nghĩa tiểu thuyết là cái gì bất biến, hay là phải khái quát vấn đề một cách cụ thể, bởi vì tiểu thuyết là một thể loại không ngừng phát triển, và vì thế, trong tư duy chúng ta, nó cũng nên là một quan niệm phát triển không ngừng

Có rất nhiều công trình của các nhà nghiên cứu quan tâm đến thể loại văn học này

và đã đưa ra được những khái quát chung nhất về tiểu thuyết Tuy nhiên, như đã nói, tiểu thuyết là “ thể loại văn chương duy nhất đang biến chuyển và còn chưa định hình” [2,21] nên tùy theo từng góc nhìn, từng hoàn cảnh phát ngôn mà các nhà lý luận có những khái quát riêng về thể loại này

Ở phương Tây và Nga, từ lâu nay, khái niệm tiểu thuyết đã được đưa ra tranh luận rất sôi nổi Hêghen gọi tiểu thuyết là “ sử thi tư sản hiện đại” và nhấn mạnh tính chất “ văn xuôi” của thể loại này Nhà lý luận phê bình văn học Nga Bielinxki thì cho rằng : “ Tiểu thuyết là sử thi của đời tư”, “ Anh hùng ca của thời đại ta là tiểu thuyết ( ) Nhưng khác với thời cổ đại: ở đây không có tính thần thoại Tính cách các nhân vật anh hùng không còn những gương mặt khổng lồ dường như không có thực” [dẫn theo 36, 79] Eikhenbaum, nhà tự sự học thuộc trường phái Hình thức Nga phân biệt tiểu thuyết với truyện ngắn từ góc độ hình thức trần thuật:

“ Tiểu thuyết là một hình thức tổng hợp, còn truyện ngắn là hình thức sơ yếu của văn xuôi Tiểu thuyết có xuất phát từ lịch sử, từ ghi chép và nhật ký những chuyến

du hành; còn truyện ngăn thì xuất phát từ cổ tích và giai thoại” [Dẫn theo 42,

Trang 10

33-10 34] N.A.Gulalev lại đưa ra định nghĩa: “ Tiểu thuyết l một hình thức tự sự lớn, mô tả hình thức riêng của con người trong những mối quan hệ rộng lớn với xã hội” [10,244] Ngoài ra, khái niệm tiểu thuyết còn được đề xuất bởi một số nhà văn, nhà nghiên cứu như: Stendhal, Turghênhep, M.Kundera, H Bénac

Song đáng chú ý nhất là những luận điểm của M.Bakhtin vào những năm 70 của thế kỷ XX về tiểu thuyết Trên cơ sở quan niệm thể loại là nhân vật chính của lịch sử văn học chứ không phải trào lưu, trường phái hay phương pháp sáng tác, ông cho rằng, tiểu thuyết là sản phẩm tinh thần tiêu biểu nhất của thời đại mới, bởi vì nó thể hiện được tư duy văn học mới gắn với thời hiện tại, tư duy này gắn với một thứ triết học mới nhân bản về con người, nhìn nhận về con người như những cá thể độc lập, những cá nhân tồn tại với bản ngã của nó và đối thoại với những bản ngã khác Nó là một thể loại ở thời hiện tại, một thể loại đang vận động và phát triển; nó tồn tại với tư cách như một thể loại chủ đạo của văn học hiện đại, nó giễu nhại và thu hút các thể loại khác vào nó Ngôn ngữ tiểu thuyết là ngôn ngữ có tính

đa thanh Thời gian trong tiểu thuyết là thời gian hiện tại, trong đó khoảng cách giữa người trần thuật và đối tượng trần thuật được rút ngắn tối đa, cho phép người trần thuật có thể hiểu được nhân vật bằng chính kinh nghiệm sống của mình Nhân vật trong tiểu thuyết là nhân vật không trùng khít với chính nó, con người có thể cao hơn thân phận hoặc có thể nhỏ bé hơn tính người của mình Và nguồn gốc của tiểu thuyết chính là từ lễ hội carnaval thời trung cổ ở phương Tây [2]

Ở Việt Nam, trước Cách mạng tháng Tám 1945, Phạm Quỳnh là người bàn về

tiểu thuyết sớm nhất Trong bài Khảo về tiểu thuyết đăng trên tạp chí Nam phong,

ông viết : “ Tiểu thuyết là một truyện viết bằng văn xuôi đặt ra để tả tình tự người

ta, phong tục xã hội hay là những sự lạ tích kỳ, đủ làm cho người đọc có hứng thú”

[32,123] Sau Phạm Quỳnh, các tác giả như: Trọng Khiêm (trong lời tựa Kim Anh

lệ sử - 1924), Nguyễn Văn Ngọc (trong Dân ta với tiểu thuyết – 1933), Thiếu Sơn (trong Nói chuyện tiểu thuyết – 1933, Nhà viết tiểu thuyết - 1935), Thạch Lam (trong Vài ý kiến về tiểu thuyết – 1938, Theo dòng - 1941), Hải Triều (trong Đi tới

Trang 11

Sau 1945, các nhà lý luận, nhà văn ở nước ta tiếp tục đưa ra những ý kiến khác

nhau về tiểu thuyết Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học, tiểu thuyết được định

nghĩa là “Tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng” [11,328]

Ngoài ra, một số nhà nghiên cứu như Lại Nguyên Ân, Nguyễn Thái Hòa, Hoàng Ngọc Hiến cũng đưa ra những ý kiến cá nhân về khái niệm tiểu thuyết Nói chung, những ý kiến đó đều chỉ ra được những đặc trưng của thể loại này ở những khía cạnh khác nhau gắn với những quan niệm khác nhau Vì là thể loại đang trong quá trình vận động và biến đổi không ngừng nên hiện tại, chưa thể đưa ra một định nghĩa hoàn toàn chính xác và có thể bao quát được toàn bộ thực tiễn sáng tác đa dạng, sinh động của thể loại này

1.1.2.Vấn đề thân phận con người – một trong những đối tượng thể hiện chính của tiểu thuyết

Con người là chủ thể, là đối tượng đồng thời là mục đích của văn học Vì vậy, tầm vóc, chiều sâu và ý nghĩa của một nền văn học chẳng những phụ thuộc vào lý tưởng, vào mục đích phục vụ của nó mà còn phụ thuộc vào cách hiểu biết, tiếp cận và sáng tạo con người

Sáng tác văn học là một hoạt động nhận thức nên bao giờ cũng mang tính quan niệm: phản ánh và thể hiện con người Suy cho cùng, giá trị của văn học chính là ở chỗ nó đã hiểu, đã cảm nhận và chiếm lĩnh con người sâu sắc đến mức độ nào Do đó, vấn đề thân phận con người có thể nói là một trong những đối tượng

Trang 12

12 thể hiện chính của văn học I.P.Eremin, một trong những nhà phê bình, nghiên cứu nổi tiếng về văn học Nga cổ, đã cho rằng: “ Con người trong sự miêu tả của nhà văn là một trong những tâm điểm mà qua đó phong cách nhà văn được thể hiện sáng rõ hơn hết Và chính những nguyên tắc miêu tả con người đã cung cấp chìa khóa để giúp ta hiểu được phương pháp sáng tạo của nhà nghệ sỹ” [Dẫn theo 42, 26] Như vậy, qua số phận nhân vật mà tác giả dụng công thể hiện trong tác phẩm của mình, độc giả hoàn toàn có thể cảm nhận được những thông điệp mà nhà văn gửi gắm bởi nhân vật chính là nơi thể hiện một cách tập trung nhất, sâu đậm nhất quan niệm nghệ thuật về con người của tác giả

Nhìn từ góc độ thể loại, đặc điểm tiêu biểu nhất của tiểu thuyết chính là cái nhìn cuộc sống từ góc độ đời tư Chính dung lượng phản ánh hiện thực rộng lớn đã giúp cho tiểu thuyết có được khả năng đi sâu vào từng hoàn cảnh, từng nhân vật, số phận cụ thể một cách đầy đủ, toàn diện và tỉ mỉ

Ở phương diện khác, tiểu thuyết là thể loại có cấu trúc linh hoạt, không chỉ cho phép mở rộng về thời gian, không gian, nhân vật, sự kiện mà còn ở khả năng dồn nhân vật và sự kiện vào một khoảng không gian và thời gian hẹp, đi sâu khai thác cảnh ngộ riêng và khám phá chiều sâu số phận cá nhân nhân vật Nhà văn Bùi

Hiển trong bài tiểu luận Cánh cửa sổ mở ra cõi mung lung, từng nói : “ Đúng ra có

thể nói: mở vào Vì cái chốn mung lung cần phải soi rọi vào ấy, lại chính là tâm hồn, tâm thức, tâm linh, là những điều gì diễn ra trong tầng sâu ý thức, trong bộ não, trái tim con người trước khi thể hiện ra ngoài (mà cũng có thể không thể hiện) bằng cử chỉ và hành động ( ) Văn học, với chức năng của nó là khám phá bản thể con người (song song với việc khám phá ngoại giới), lẽ tự nhiên nó rất khát khao soi tìm vào những miền uẩn áo của nội tâm, vào những động cơ thầm kín đến mức

tăm tối của những ứng xử ý thức: các hiện tượng mà người ta gọi siêu tâm lý” [Dẫn

theo 51] Đó cũng chính là lý do khiến tiểu thuyết trở thành thể loại có ưu thế nhất trong việc thể hiện vấn đề về thân phận con người

Trang 13

đi không phải là con đường bằng phẳng, mà chông gai, gập ghềnh, “vấp váp và trả giá” (Nguyên Ngọc) Khi vết thương chiến tranh còn chưa lành, chúng ta lại phải gồng mình bước vào cuộc kiến thiết thời hậu chiến với muôn vàn khó khăn, thử thách Nhìn từ thực tiễn hoàn cảnh đất nước, mới thấy nhà văn Nguyễn Minh Châu nói thật chí lý: “Cái mảnh đất bao lớp người liên tiếp đổ xương máu giành được độc lập, xưa nay đất dưới chân người thắng giặc có bao giờ nở sẵn đầy hoa” Nền kinh tế sau chiến tranh bị khủng hoảng trầm trọng: những mặt trái của xã hội không ngừng bộc lộ, phát triển, len lỏi vào tất cả mọi ngõ ngách của đời sống, nhiều tiêu cực của cơ chế quản lý bao cấp đã góp phần tạo nên sự trì trệ Mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn giữa các tầng lớp xã hội ngày càng nổi rõ khó bề giải quyết được Tâm lý con người hẳn không tránh khỏi những băn khoăn, hoang mang lo lắng khi đối diện với những biến động khủng hoảng của xã hội Đó là môi trường thích hợp cho những tiêu cực có thể xảy đến bất cứ lúc nào Đời sống văn hoá văn nghệ chững lại, độc giả dửng dưng với người viết, nhiều nhà văn lâm vào tình trạng bế tắc, không tìm được phương hướng sáng tác Ý thức nghệ thuật của số đông người viết và công chúng chưa thực sự bắt nhịp với thời đại, những quan niệm và cách tiếp cận hiện thực vốn quen thuộc trong thời kỳ trước tỏ ra bất cập, lỗi thời trước hiện thực mới và thị hiếu độc giả Đây là thời gian mà nhà văn Nguyên Ngọc gọi là “khoảng chân không trong văn học” Nhưng cũng chính trong khoảng thời gian này đã diễn

Trang 14

14

ra sự vận động có chiều sâu trong đời sống văn học Văn học đã chuyển từ “cuộc chiến đấu cho quyền sống của cả một dân tộc” sang một cuộc chiến đấu mới, dù âm thầm nhưng quyết liệt không kém Đó là “cuộc chiến đấu cho quyền sống của từng cá nhân”, mà theo cách nói của nhà văn Nguyễn Minh Châu: “không có gì ồn ào nhưng xảy ra từng giờ, từng ngày ở khắp mọi lĩnh vực của đời sống” Văn học đặt trong mối quan hệ với hiện thực đời sống thường nhật đã bộc lộ tất cả sự phức tạp,

đa dạng, đa chiều của nó trong guồng máy vận động không ngừng nghỉ Đây quả là bước chuyển không hề giản đơn với một nền văn học đã được mặc định với “bè cao” trong một thời gian dài Nhà văn Nguyễn Khải cũng phải thừa nhận: “Chiến tranh ồn ào náo động mà lại có sự yên tĩnh, giản dị của nó, hoà bình mà lại chất chứa những sóng ngầm, những gió xoáy ở bên trong” Khó khăn lớn của một đất nước vừa mới được giải phóng như là một lời thách thức, “như một thứ chiến trường mới, lập tức mở ra trên vùng chiến trường cũ”, đòi hỏi con người phải đầy đủ bản lĩnh, nghị lực, trí tuệ mới vượt qua được Những vận động chiều sâu của đời sống văn học, những trăn trở kiếm tìm âm thầm mà quyết liệt, “điềm đạm mà dũng cảm” ở một số nhà văn mẫn cán với nghề, bước đầu đã mang lại những kết quả đáng ghi nhận

Năm 1986, Đảng ta tiến hành Đại hội Đảng lần thứ VI Đây là Đại hội đổi mới toàn diện trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và tư duy Đặc biệt, vào tháng 10 năm 1987, cuộc giao lưu văn hóa, văn nghệ giữa Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và các anh em văn nghệ sĩ được diễn ra trong không khí dân chủ, cởi mở Tại diễn đàn này, đi kèm với chủ trương cách tân là những trao đổi thẳng thắn, một cánh cửa lớn đã mở ra cho văn học nghệ thuật nước nhà Nối tiếp sau đó là sự ra đời của Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị về công tác văn hóa văn nghệ (1987), nhân thêm vị trí và chức năng mới cho văn nghệ: “Văn học nước ta phải đổi mới tư duy, đổi mới cách nghĩ, cách làm” Tất cả đã tạo động lực quan trọng thúc đẩy sự đổi mới, cách tân trong văn học Là bộ phận nhạy cảm nhất của xã hội, văn học nghệ thuật hưởng ứng kịp thời và hết sức mạnh mẽ đường lối đổi mới của Đảng, đồng thời nhanh chóng hiện thực hoá tư tưởng đổi mới trong sáng tác của mình

Không những thế, trong thời kỳ đổi mới, Việt Nam mở cửa hội nhập giao lưu kinh tế, văn hoá với nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là với phương Tây Do đó, giai đoạn này có nhiều luồng tư tưởng mới từ bên ngoài tràn vào, nhiều trào lưu,

Trang 15

15 khuynh hướng văn học và lý luận nghệ thuật hiện đại của thế giới đã được giới thiệu ở Việt Nam Đón nhận những luồng tư tưởng ấy, các nhà văn có dịp “hiểu mình” hơn trên cơ sở “hiểu người” Đồng thời, công tác dịch thuật phát triển, nhiều tác phẩm văn học nước ngoài, nhất là văn học Xô viết đã đến tay các nhà văn Việt Nam Tất cả đã tạo ra một cú hích, khuyến khích các nhà văn tìm toi, đổi mới, sáng tạo và làm biến đổi cả thị hiếu tiếp nhận của công chúng

Ngoài ra, sau 1975, sự bùng nổ của nhiều thế hệ nhà văn, sự ra đời của nhiều hội văn nghệ, sự phát triển của báo chí, in ấn, xuất bản, internet….cũng góp phần quan trọng làm cho văn học phát huy được chức năng của nó, đưa văn học trở về đúng nghĩa “phản ánh hiện thực”, đồng thời tạo điều kiện để văn học được giao lưu rộng rãi, giúp tác phẩm nhanh chóng đến được với công chúng

Như vậy, có thể nói, hiện thực đất nước sau chiến tranh, nhất là sau đổi mới (1986) ngày càng có sự thay đổi toàn diện và sâu sắc Đất nước ta chính thức bước sang một thời đại mới Thực tế cuộc sống đó khiến những người cầm bút không thể tiếp tục viết theo cách cũ, không thể nhìn cuộc sống bằng “đôi mắt cũ” mà phải đặt

nó trong sự biến động, đổi thay phức tạp, phải thay đổi cách viết của mình Đây chính là tiền đề quan trọng cho sự phát triển, đổi mới văn học nghệ thuật nói chung và tiểu thuyết nói riêng Trong đó, vấn đề thân phận con người cá nhân sau 30 năm dài vắng bóng trên văn đàn đã chính thức có một hoàn cảnh lịch sử thuận lợi để quay trở lại

1.2.1.2 Bối cảnh văn hóa – thẩm mỹ

Chúng ta dễ dàng nhận thấy, bất kỳ một tác phẩm, một trào lưu, một nền văn học nào, xét đến cùng, cũng không thể đứng đứng ngoài sự vận động của nền tảng của xã hội, thị hiếu, lý tưởng thẩm mỹ của mảnh đất đã sinh ra nó, tức là sự vận động của nền tảng xã hội mà trên cơ sở đó nó hình thành và phát triển Và như vậy, việc đổi mới của văn xuôi Việt Nam giai đoạn sau 1986 không nằm ngoài quy luật trên

Trang 16

16 Cuộc kháng chiến chống Mĩ của nhân dân ta toàn thắng đã đưa đất nước tới ngày thống nhất Nhưng ngày vui chưa trọn vẹn: những tàn dư của hai cuộc kháng chiến, những thách thức, yếu kém về kinh tế do sự tác động của những nhân tố khách quan và chủ quan, đời sống của người lao động gặp nhiều khó khăn, lòng người bất an, niềm tin với Đảng có lúc bị lung lay Những yếu tố đó ít nhiều đều

tác động đến đời sống văn học Nhà văn Nguyễn Minh Châu trong bài Hãy đọc lời

ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa (1987) đã nhấn mạnh: “ Thời kì này

diễn ra một cuộc đối chứng giữa nhân cách và phi nhân cách, giữa hoàn thiện và phi hoàn thiện, giữa ánh sáng và khoảng bóng tối còn rơi rớt bên trong mỗi tâm hồn, mỗi con người” Đó chính là mảnh đất màu mỡ để văn học khám phá

Trước hết, trên bình diện ý thức và quan niệm nghệ thuật, từ những năm 90 của thế kỉ trước văn học nói chung, tiểu thuyết nói riêng đã có những biến đổi quan trọng theo hướng dân chủ hóa Ở giai đoạn trước, do sự chi phối của chiến tranh, văn học được nhìn nhận như là vũ khí tư tưởng, tự nguyện gánh vác nhiệm vụ tuyên truyền, thiên về chiến thắng, về cái anh hùng vĩ đại của dân tộc Ngày nay những tác phẩm viết theo lối tư duy cũ không còn hấp dẫn độc giả Trước đây cách viết sử thi là khuynh hướng cơ bản, đến nay nó không còn đáp ứng được nhu cầu phản ánh hiện thực đa dạng, đa chiều của cuộc sống sau chiến tranh Yêu cầu đổi mới nền văn học một cách toàn diện càng trở nên bức thiết, từ quan niệm nghệ thuật, quan niệm hiện thực về con người, các thủ pháp nghệ thuật Giờ đây, nhiệm vụ khám phá thực tại được coi trọng, ý thức sâu hơn về sự thật Văn học hướng đến tiếp cận đời sống trên bình diện thế sự - đời tư, nhất là từ nửa đầu những năm 80 trở đi, nhiều cây bút đã đi vào thể hiện mọi khía cạnh của đời sống cá nhân và những quan hệ thế sự đan dệt nên cuộc sống đời thường phồn tạp mà vĩnh hằng Có

lẽ do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường cái nhìn về văn học cũng thoáng và cởi mở hơn Không những thế văn học còn đóng vai trò như một thứ hàng hóa đặc biệt, viết văn được xem như một trò chơi tinh thần, không vụ lợi nhằm để thưởng thức và giải trí lành mạnh nhất Vì thế, quan niệm về kiểu nhà văn đã có sự thay đổi

Trang 17

17 Nếu như trước đây chúng ta quá đề cao các chức năng nhận thức, giáo dục, và cho rằng “mỗi nhà văn là một chiến sĩ trên mặt trận văn hóa” có nhiệm vụ diễn đạt tiếng nói chung của dân tộc thì bây giờ, người ta coi văn học như một phát ngôn của người nghệ sĩ, là tiếng nói của cá nhân, là sự can dự của người trí thức vào thời đại mình làm phong phú và giàu có hơn đời sống tinh thần của xã hội Để không bị công chúng đối xử với những trang viết của mình bằng một thái độ thờ ơ, lạnh nhạt, các nhà văn buộc phải thay đổi cách viết Đó là lí do tại sao nền văn học dân tộc sau 1975, đặc biệt từ 1986 đến nay xuất hiện nhiều cây bút độc đáo như Bảo Ninh, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Khắc Trường, Dương Hướng, Hồ Anh Thái, Võ Thị Hảo, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương, Thuận, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Đình Tú…

Đứng về phía bạn đọc mà xét, sau 1986 trong hoàn cảnh hoà bình, nhu cầu thẩm

mĩ của bạn đọc đã thay đổi Nếu như trong chiến tranh con người đối mặt giữa sự sống và cái chết, anh dũng và hèn nhát, thì trong thời bình con người lại phải đối mặt với bao biến cố của cuộc sống thường nhật Trong guồng quay của nền kinh tế thị trường, sự bon chen, xô bồ của đời sống mưu sinh, nội tâm con người sẽ trở nên bí ẩn và khó nắm bắt hơn Thế nên thị hiếu, khả năng nhận thức của con người cũng không hề đơn giản dẫn đến cách thẩm định văn học cũng gai góc hơn Độc giả ngày nay “không bằng lòng với hiện thực khách quan được phản ánh, họ đòi hỏi ở nhà văn tinh thần nghiền ngẫm, suy luận nghiêm túc Bởi vậy cái nhìn giản đơn một chiều về cuộc sống không còn hấp dẫn Thậm chí người đọc hôm qua còn mặn mà là thế, bỗng dưng hờ hững quay lưng lại với văn học nước nhà vì lối viết không mới mẻ, vì những vấn đề hiện thực đã quá cũ mòn Đòi hỏi từ phía người tiếp nhận, sự tự ý thức phải thay đổi từ phía người sáng tạo cộng với đường lối chính sách

thông thoáng đã tạo đà cho văn học Việt Nam chuyển mình mạnh mẽ” [3, 9] Công

chúng đòi hỏi mỗi nhà văn phải đáp ứng thị hiếu, nhìn nhận hiện thực cuộc sống của đất nước một cách toàn diện chứ không phải một chiều như văn học thời chiến Điều này đòi hỏi các nhà văn buộc phải thay đổi cách viết, thay đổi tư duy nếu

Trang 18

18 không muốn bị độc giả bỏ quên Người ta bắt đầu nhìn nhận lại nhiều giá trị cũ, bàn bạc lại một số chân lý của thời đã qua, dường như mọi thứ đều muốn được đo đạc bằng những tiêu chí mới Hiện thực cuộc sống sau chiến tranh và diễn biến tâm lý phức tạp của con người, đòi hỏi các lĩnh vực của xã hội phải có cơ chế quản lí thích hợp Đối với văn học, người nghệ sỹ phải nhìn nhận lại mọi vấn đề đa dạng, phức tạp của cuộc sống Người nghệ sỹ, qua thực tế của đời sống văn học phải phản ánh đúng bản chất của hiện thực, phải nói thẳng, nói thật mới mong đáp ứng nhu cầu thẩm mĩ của người đọc Hơn bao giờ hết, tầm quan trọng của thị hiếu người đọc là cái nôi cho tác phẩm ra đời và sống được Trong bối cảnh đó, cảm hứng về vấn đề con người cá nhân, đời tư xuất hiện trở lại sau 30 năm dài vắng bóng Nhiệm vụ bức thiết của văn học giai đoạn này là phải phản chiếu, soi tỏ chiều sâu con người cá nhân Sự thật phải được nhìn nhận như những gì nó vốn có và vì thế, vấn đề về thân phận con người với những tất cả những niềm vui, nỗi buồn, những uất ức, đớn

đau, giằng xé trở thành một cảm hứng lớn trong văn học thời kỳ này

1.2.2 Nhìn chung về thành tựu của tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến nay trên phương diện thể hiện vấn đề thân phận con người

1.2.2.1 Tiếp cận và phơi bày nhiều vấn đề về thân phận con người

Trong nền văn học thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, con người luôn là một đề tài muôn thuở Văn học phản ánh cuộc sống của con người, văn học vì con người và cho con người Một tác phẩm văn học được xem là đích thực khi nó phản ánh được những khía cạnh bản chất của cuộc sống Con người là đối tượng khám phá, phát hiện và tái hiện trung tâm của văn học Quan niệm nghệ thuật về con người chính là thước đo sự tiến bộ, phát triển nghệ thuật từ xưa đến nay Bởi

nó là yếu tố chi phối các yếu tố khác của nghệ thuật biểu hiện Mỗi thời kỳ lịch sử, văn học lại có những cái nhìn mới về vấn đề thân phận con người

Thân phận con người được văn học quan tâm từ rất sớm Ở phương Tây trong

thời kỳ Phục hưng, con người được xem là trung tâm của cuộc sống, là “kiểu mẫu của muôn loài”( Hămlet, hồi II, cảnh 2) Sau một thời gian dài phải chịu sự đè nén

Trang 19

19 của giai cấp phong kiến và giáo hội Cơ đốc, thời đại Phục hưng như một cơn gió mạnh thổi luồng sinh khí mới vào đời sống người dân phương Tây, làm bừng dậy tất cả các mặt của đời sống, trong đó đặc biệt có sự thức tỉnh của con người cá nhân Họ ý thức được về bản thân mình, về thế giới xung quanh mình, từ đó ý thức

được sứ mệnh của mình trước lịch sử Và họ chính là những người “khổng lồ” của

thời đại tiền tư bản chủ nghĩa Điều này đã được phản ánh rõ nét trong văn học qua những hình tượng nhân vật như Otenlo, Hămlet, Đônkihôtê

Trong lịch sử văn học Việt Nam, phải đến nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế

kỷ XIX khi chủ nghĩa nhân văn xuất hiện và trở thành một trào lưu thì con người mới được xem là một chủ thể, một đối tượng chính của văn học Với những cây bút thấm đẫm tinh thần nhân văn cao cả như Đặng Trần Côn, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát vấn đề về thân phận con người đã được đặt ra một cách sâu sắc, bức thiết Hàng loạt các sáng tác văn học thời kỳ này ra đời đã cho độc giả thấy được tầm quan trọng của việc thể hiện vấn đề thân phận con người trong văn học Chúng ta đã sống quá lâu trong thời đại mà cái Tôi cá nhân của con người bị đè nén, áp bức Đã đến lúc phải trả cho con người cái vị thế cần phải có của nó trong văn học

Sang thế kỷ XX, với sự nở rộ của các trào lưu văn học đặc biệt là văn học lãng mạn và văn học hiện thực phê phán, vấn đề thân phận con người tiếp tục được các nhà văn, nhà thơ quan tâm thể hiện Có thể nói rằng, chưa khi nào vấn đề về con người cá nhân được khắc họa nhiều như giai đoạn văn học này Những trang thơ thấm đẫm tinh thần cái tôi cá nhân của các nhà thơ Mới như Thế Lữ, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Huy Cận cũng như những trang văn của các tác giả trào lưu văn học hiện thực phê phán như Nam Cao, Nguyên Hồng, Ngô Tất Tố đã cho ta thấy được những thân phận con người cá nhân trong xã hội thực dân nửa phong kiến, trong buổi giao thời hai nền văn hóa Đông – Tây Ở họ có sự bế tắc, cùng quẫn của người dân mất nước, của con người với nỗi lo cơm áo gạo tiền và khát khao chối bỏ thực tại Nhưng tới khi Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, để đáp ứng nhu cầu

Trang 20

20 lịch sử đất nước, con người cá nhân ấy đã hòa nhập vào cái ta chung của cộng đồng Những nhà nghệ sỹ đã hòa mình vào nền văn học Cách mạng với chủ trương phục vụ chính trị, cổ vũ chiến đấu Vì thế, văn học từ đây trở thành vũ khí chiến đấu, nhân vật trung tâm của văn học lúc này phải là người chiến sỹ trên mặt trận vũ trang và những lực lượng trực tiếp phục vụ chiến trường Đặc điểm nổi bật và hết sức quan trọng của văn học giai đoạn này chính là nền văn học sáng tác theo khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn Có thể nói rằng chính đặc điểm này đã khiến cho vấn đề thân phận con người hoàn toàn vắng bóng trong văn học giai đoạn 1945 – 1975

Sau năm 1975, đặc biệt từ giai đoạn đổi mới 1986, văn học từ tư duy sử thi chuyển sang tư duy tiểu thuyết, từ cảm hứng cao cả chuyển sang cảm hứng đời thường, thế sự Tiểu thuyết thời kỳ này phát huy được khả năng tiếp cận và phản ánh hiện thực con người thời kỳ đổi mới một cách nhanh nhạy, sắc bén

Đặc trưng của thể loại tiểu thuyết là tìm ra những tình huống tiêu biểu, có khả năng khai thác sâu những bước ngoặt của số phận, tạo cơ sở cho sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người Tiểu thuyết có thể viết về mọi chuyện, có điều kiện

đi sâu vào các trạng huống tinh thần tinh tế, nhạy cảm trong thế giới tâm linh của con người Tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 đã đề cập, phản ánh tương đối toàn diện về vấn đề thân phận con người Con người cá nhân với những mối quan hệ trong cuộc sống thường nhật được xem là đối tượng trung tâm của văn học Bối cảnh mới đã thúc đẩy sự thức tỉnh của ý thức cá nhân, đòi hỏi văn học phải quan tâm đến mỗi con người và từng số phận Sự thức tỉnh ý thức cá nhân cũng là mốc quan trọng nhất làm thay đổi quan niệm về con người ở thời kỳ đổi mới Tiểu thuyết ở thời kỳ này đã quan tâm đến mọi vấn đề của con người Đó là nỗi cô đơn của thân phận con người, nỗi đau của chiến tranh để lại, là sự mất mát của người lính bước ra khỏi cuộc chiến, là nỗi hận thù của dòng họ, gia tộc, là cái khắc nghiệt của sự đói khát

cô đơn, là những vấp váp của nhân cách trước những cám dỗ của kinh tế thời mở cửa và cả những vấn đề của cõi tâm linh, tiềm thức và vô thức… Mọi cung bậc cảm

Trang 21

21 xúc của đời sống đều sống dậy trong những câu chữ giản dị Bao nhiêu phức tạp ồn

ào, bao nhiêu dư vị đắng chát của cuộc sống thời đổi mới đều được phản ánh chân thực trên trang sách Sau năm 1986, đặc biệt là ở giai đoạn hiện nay, mọi ngóc ngách sâu kín, riêng tư nhất của con người, bằng hình thức này hoặc hình thức khác đều được đưa lên mặt giấy Những vấn đề tế nhị, thiêng liêng nhất của con người, văn học đều chạm tới và xới tung lên như một vấn đề của hiện thực chân thực Vì thế những mảnh đời riêng biệt, âm thầm lặng lẽ hay sôi động ồn ào đều được nhà văn nhìn nhận khai thác làm nên sự đa dạng, phong phú và cũng không kém phần phức tạp trong thế giới nhân vật

Tiểu thuyết thời kỳ đổi mới đi sâu vào mọi vấn đề của cuộc sống thường nhật Đó là chiều sâu triết lý và những cảm nhận về thân phận con người đan xen giữa cái ảo và cái thực, giữa cõi vô thức và ý thức Bao nhiêu dư vị, khoảnh khắc từ hạnh phúc đến đau khổ, từ đắng chát đến ngọt ngào ở mọi phương diện của đời sống đều được soi tỏ tận cùng, chân xác Sau mỗi câu chuyện ta thấy ẩn hiện thấp thoáng đâu đó một đời người, một kiếp người, và không khí của một xã hội, một thời đại Con người luôn phải đặt trong tình thế mong manh của đường phân giới hai cực đối lập vừa phải chung sống vừa phải đấu tranh với nhau Tiếp cận với thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 đến nay, chúng ta luôn thấy họ là những cá thể riêng biệt, nhưng lại là những khuôn mặt khác nhau của cuộc sống đời thường đa dạng, biến hóa sinh động

Khi các nhà văn hoà mình vào cuộc sống, cùng trải nghiệm và trăn trở với chính cuộc sống ấy thì tất yếu cảm hứng sáng tạo sẽ phong phú, đa dạng hơn Đó cũng chính là một trong các lí do khiến cho tiểu thuyết sau 1986 chuyển từ cảm hứng sử thi sang cảm hứng đời tư thế sự Xuất hiện trong tiểu thuyết lúc này không còn là những con người anh hùng với giọng điệu ngợi ca hào sảng, mà là số phận những cá nhân đời thường chân thực và gần gũi nhất

Tựu trung lại, có thể thấy, văn học sau 1975, đặc biệt là sau 1986 ngày càng

đi tới một quan niệm trọn vẹn và sâu sắc hơn về con người mà nền tảng triết học và

Trang 22

22 hạt nhân cơ bản của quan niệm ấy là tư tưởng nhân bản Con người vừa là điểm xuất phát, vừa là đối tượng khám phá chủ yếu, vừa là cái đích cuối cùng của văn học, đồng thời cũng là điểm quy chiếu, là thước đo giá trị của mọi vấn đề xã hội, mọi sự kiện và biến cố lịch sử Có thể kể đến một số tác phẩm tiêu biểu thời kỳ này

có thể hiện cảm hứng về thân phận con người như : Thời xa vắng ( Lê Lựu), Những mảnh đời đen trắng (Nguyễn Quang Lập), Đám cưới không có giấy giá thú, Côi cút giữa cảnh đời, Ngược dòng nước lũ (Ma Văn Kháng), Nỗi buồn chiến tranh (Thân

phận của tình yêu – Bảo Ninh), Bến không chồng (Dương Hướng), Mảnh đất lắm

người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường ), Thiên thần sám hối (Tạ Duy Anh), Cuốn gia phả để lại (Đoàn Lê), Cơ hội của chúa ( Nguyễn Việt Hà), T mất tích (Thuận), Cánh đồng bất tận ( Nguyễn Ngọc Tư) Rất nhiều vấn đề thể hiện cảm hứng thân

phận con người đã được các nhà văn khai thác và mang lại một diện mạo hoàn toàn mới cho văn học Việt Nam giai đoạn 1986 đến nay

1.2.2.2 Đa dạng hóa bút pháp nghệ thuật trong việc thể hiện vấn đề thân phận con người

Thay đổi đáng kể nhất trong nghệ thuật tự sự tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới là sự đa dạng và linh hoạt về bút pháp nghệ thuật Và những bút pháp này trở thành một trong những nguyên nhân chính giúp cho vấn đề thân phận con người được thể hiện một cách chân thực, sâu sắc và toàn diện nhất

Đầu tiên, có thể kể đến bút pháp tả thực mới Khái niệm tả thực trong văn học đã xuất hiện từ lâu, tuy nhiên phải đến khi chủ nghĩa hiện thực ra đời, tả thực mới trở thành nguyên tắc nghệ thuật có ý nghĩa quan trọng Trong quan niệm truyền thống, tả thực được hiểu như là sự thể hiện một cách trung thành hiện thực và hiện thực trong tác phẩm có sự đồng đẳng với hiện thực vốn có ngoài đời Quan niệm này có thể nhìn thấy trong tuyên bố của Balzac: “Nhà văn là người thư ký trung thành của thời đại” Stendhal cũng coi văn chương như là tấm gương phản ánh cuộc đời Ở Việt Nam, bút pháp và tinh thần tả thực cũng được các nhà văn hiện thực đặc biệt chú ý Vũ Trọng Phụng từng bày tỏ quan điểm nghệ thuật của mình:

“Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết Tôi và các nhà văn cùng chí hướng

như tôi coi tiểu thuyết là sự thực ở đời” (Báo Tương lai, số 9, ngày 25.3 1937)

Không thể phủ nhận những đóng góp to lớn của các nhà văn hiện thực khi họ phát huy tối đa sức mạnh bút pháp tả thực đặc sắc và trên thực tế, nhiều nhà văn đã để

Trang 23

được đưa vào Đề cương văn hóa Việt Nam 1943 và trên thực tế đã trở thành nguyên

tắc cơ bản của văn học cách mạng giai đoạn 1945-1975 Tuy nhiên, bên cạnh nhiều tiểu thuyết có giá trị nghệ thuật cao, không ít tiểu thuyết thời kỳ này rơi vào công thức, khuôn sáo Sau 1975, nhất là từ 1986 đến nay, khi văn học tự “cởi trói” để hướng tới sự đa dạng thì bút pháp tả thực mới phát huy tối đa tác dụng Điều đó gắn liền với nhu cầu “nói thẳng, nói thật” trong quá trình tiến hành đổi mới tư duy Nhu cầu nói thẳng nói thật trong văn học thời đổi mới cần được hiểu trên những phương diện: thứ nhất, không thi vị hóa đời sống mà nhìn cuộc sống trong tính phức tạp, đa chiều như nó vốn có; thứ hai, không còn những đề tài cấm kị, tất cả đều được hiện lên trong thanh thiên bạch nhật; thứ ba, nhà văn tự do nói lên chính kiến của cá nhân chứ không nhân danh tập thể, cộng đồng để trình bày quan điểm Về cơ bản, tả thực trong tiểu thuyết sau 1986 khác với tả thực theo quan niệm truyền thống Các tiểu thuyết gia hiện đại không muốn dừng lại ở vai trò “thư ký” thời đại hoặc coi văn học là tấm gương thuần túy mà cố gắng soi chiếu hiện thực từ nhiều góc nhìn khác nhau Nhà văn có thể sử dụng bút pháp tả thực bằng cái nhìn khách quan, có thể tả thực theo cái nhìn giễu nhại Điều quan trọng là bên cạnh thông tin về sự thật, người đọc phải tìm thấy trong thế giới nghệ thuật của nhà văn lượng thông tin thẩm mĩ phong phú Bởi thế, khi hai yếu tố thông tin sự thật và thông tin thẩm mĩ kết hợp hài hòa thì tác phẩm mới có thể tồn tại lâu dài Hàng loạt

tiểu thuyết của Lê Lựu (Thời xa vắng, Chuyện làng Cuội), Nguyễn Khắc Trường (Mảnh đất lắm người nhiều ma), Chu Lai (Vòng tròn bội bạc), Dương Hướng (Bến không chồng) với bút pháp tả thực mới đã đem lại cho công chúng nhiều nhận

thức mới mẻ về hiện thực, trong đó có vấn đề về thân phận con người

Ngoài ra, giai đoạn văn học sau 1986 còn có sự nở rộ của bút pháp huyền thoại Đây là bút pháp nghệ thuật được rất nhiều nhà tiểu thuyết thời kỳ đổi mới sử dụng Sự có mặt của bút pháp huyền thoại vừa cho phép nhà văn nhìn sâu hơn vào

thế giới, vừa tạo ra sự lạ hóa để thu hút người đọc Những Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), Thiên thần sám hối (Tạ Duy Anh), Cõi người rung chuông tận thế (Hồ Anh Thái), Giàn thiêu (Võ Thị Hảo) đã đem đến cho người đọc nhiều cảm xúc mới

mẻ về một hiện thực nghiệt ngã và phức tạp qua những huyền thoại giàu chất tưởng tượng Các nhà văn đã tìm đến các môtip huyền thoại như một phương tiện nghệ

Trang 24

24 thuật hữu hiệu để truyền đến người đọc những cách tiếp cận hiện thực một cách sinh động Theo đó, người đọc không nhìn về thế giới theo chiều tuyến tính mà nhận ra sự đa dạng chính là bản chất cuộc sống Trong nhiều tiểu thuyết, bút pháp huyền thoại có khả năng tạo nên những hình tượng mang tính ẩn dụ cao, và các hình tượng ẩn dụ ấy tồn hiện như một ký hiệu nghệ thuật đa nghĩa giàu chất tượng trưng Tất nhiên, khi đi vào tiểu thuyết, các huyền thoại không còn là những huyền thoại mang nghĩa nguyên thủy mà đã được cải biến để mang chứa những hàm lượng nghĩa mới Chẳng hạn ánh trăng trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương không còn là ánh trăng thơ mộng, trữ tình mà là thứ ánh sáng ma mị, nhiều khi quái

lạ Trong Thiên sứ, Phạm Thị Hoài luôn pha trộn các huyền thoại phương Đông và

phương Tây, huyền thoại cũ và huyền thoại mới nhằm tạo ra sự trùng phức hình

tượng Ở Thiên thần sám hối, Tạ Duy Anh lại tạo dựng tình huống độc đáo: đứa bé

suy ngẫm chuyện đời khi còn nằm trọng bụng mẹ và toàn bộ câu chuyện diễn ra dưới cái nhìn đó Rõ ràng, việc sử dụng bút pháp huyền thoại đã làm cho người đọc hứng thú vì họ phát hiện sự toàn vẹn và sinh động của cuộc sống thông qua tính sinh động cuả nghệ thuật Với tư cách là một phương thức nghệ thuật “biến hiện thực thành hoang đường mà không đánh mất tính chân thật”, việc đưa cái huyền ảo vào thế giới thực tại đã lấy cái phi lý để nhận thức cái hữu lý, lấy lôgic của nghệ thuật và trí tưởng tượng để nhìn thấy logic cuộc sống một cách hiệu quả Chính từ bút pháp này, vấn đề thân phận con người cũng được soi tỏ theo nhiều chiều hơn, mang lại những hiệu quả nghệ thuật sâu sắc

Ngoài sự xuất hiện của bút pháp tả thực mới và bút pháp huyền thoại, tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn sau đổi mới còn có sự xuất hiện của bút pháp giễu nhại, trào lộng Bút pháp này có ý nghĩa cân bằng sinh thái văn học sau một thời gian dài văn học ta quá nghiêm trang Đồng thời, đây còn là một nhu cầu giải tỏa áp lực đời sống hiện đại và quan trọng hơn, nhờ bút pháp này, tinh thần dân chủ hóa trong văn học được thể hiện một cách rõ nét Không nên hiểu đơn giản trào lộng và giễu nhại chỉ nhằm tới một mục đích giải thiêng mà cần hiểu sâu hơn, đó là hình thức tiếp cận các giá trị đời sống một cách dân chủ bằng cách phá vỡ các quy phạm Trong

những tiểu thuyết thời kỳ đổi mới đến nay thì Thời xa vắng (Lê Lựu), Thiên

sứ (Phạm Thị Hoài), Thượng đế thì cười (Nguyễn Khải), Cõi người rung chuông tận thế và Mười lẻ một đêm (Hồ Anh Thái), T mất tích (Thuận) là những tác

phẩm sử dụng bút pháp trào lộng, giễu nhại thành công Trong số các nhà văn đương đại, Nguyễn Khải được coi là nhà văn nhạy cảm Ngay từ sau 1975, Nguyễn

Khải đã có Gặp gỡ cuối năm, Cha và con và Ông sớm nhận ra phải nhanh chóng

từ giã thời lãng mạn, đơn giản, dễ dãi để viết những tác phẩm mang quan điểm cá

nhân Tuy nhiên, khi Thượng đế thì cười xuất hiện, người đọc vẫn bất ngờ khi nhận

Trang 25

25 thấy một Nguyễn Khải mới mẻ với chất giọng giễu nhại sắc sảo Màu sắc “tự trào” hiện ra qua cách xưng hô “lão Khải”, “anh Khải”, “thằng Khải”, “hắn” cùng với những chi tiết giàu chất hài hước, hóm hỉnh Cái cười của Nguyễn khải vừa bao dung vừa nâng tầm nhận thức về một thời giản đơn và ấu trĩ, đầy ngộ nhận Những điều vụn vặt lại tưởng lớn lao, những thứ đơn giản lại cố phức tạp và cho rằng thế mới là quan trọng Hồ Anh Thái cũng là nhà văn có ý thức sử dụng bút pháp giễu nhại thành công và phong cách trần thuật này ám cả vào giọng điệu của nhà văn Có thể nói rằng, chính nhờ bút pháp này mà vấn đề thân phận con người được nhìn nhận một cách toàn diện, đa chiều và phong phú hơn

Góp mặt trong những bút pháp nghệ thuật nở rộ sau thời kỳ đổi mới còn có bút pháp tượng trưng Đây là bút pháp được các nhà văn sử nhằm làm gia tăng chất lượng, ý nghĩa của văn chương đồng thời tăng thêm sức mê hoặc của tác phẩm Trong tiểu thuyết, màu sắc tượng trưng thường hiện ra qua những chi tiết khác lạ so

với logic thông thường Chẳng hạn nhân vật Mai Trừng trong Cõi người rung chuông tận thế của Hồ Anh Thái Mai Trừng hiện ra như một thiên sứ có sức mạnh

siêu nhiên, trừng phạt cái ác Nhưng lạ là ở chỗ, kẻ ác nhìn thấy cô đã sợ, nhưng những người yêu thương Mai Trừng cũng không thể gần cô Nhân vật này đã góp phần đắc lực trong việc bộc lộ chủ đề tác phẩm: đề cao sức mạnh của cái thiện

trong cuộc chiến chống lại cái ác và chủ trương hóa giải hận thù Trong Giàn thiêu của Võ Thị Hảo, hình ảnh Từ Vinh dù đã chết vẫn đứng trên sông chỉ tay vào

nhà Diên Thành Hầu cũng là chi tiết giàu chất tượng trưng Bút pháp tượng trưng không chỉ thể hiện qua các chi tiết giàu tính nghệ thuật mà nó còn thể hiện trong việc tổ chức cấu trúc tác phẩm và xây dựng hình tượng Để thể hiện cái nhìn mới về lịch sử, Võ Thị Hảo đã để cho các nhân vật trải qua nhiều kiếp, miêu tả tiếng vọng của những oan hồn bị giết, thậm chí xoáy sâu vào những chi tiết mà các sử gia đã bỏ qua hoặc không thật chú ý (trường hợp Ỷ Lan giết cung nữ) Nguyễn Xuân Khánh cũng xây dựng hình tượng Sử Văn Hoa như một nhân vật có quan điểm, có tiếng nói riêng không lệ thuộc vào quyền uy, không khuất phục sức mạnh của những kẻ quyền thế Rõ ràng, Nguyễn Xuân Khánh và Võ Thị Hảo có ý thức lý giải lịch sử theo cách riêng và quan điểm của nhà văn không nhất thiết lúc nào cũng trùng khít với lịch sử đã được ghi chép trong các bộ chính sử

Bút pháp tượng trưng đặc biệt hiệu quả vì nó có khả năng tạo nên tính đa nghĩa của tác phẩm, làm cho hình tượng trở nên “nhòe” nghĩa Người đọc phải có năng lực giải mã các hình tượng đẫm chất tượng trưng thì mới hiểu được chiều sâu

tư tưởng nghệ thuật của nhà văn Hiện tượng này không chỉ diễn ra với tiểu thuyết mà còn diễn ra trong truyện ngắn Các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp

như Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết, Con gái thủy thần đều mê hoặc người đọc

Trang 26

26 bởi tác giả sử dụng bút pháp tượng trưng hết sức hiệu quả Ngoài việc gia tăng chiều sâu và độ lấp lánh của hình tượng, bút pháp tượng trưng cũng có khả tăng cường sức mạnh ám chỉ trong tiểu thuyết, góp phần mở rộng biên độ của các lớp nghĩa trong cấu trúc tác phẩm

Tóm lại, sự đa dạng về bút pháp nghệ thuật đã giúp cho tiểu thuyết vượt qua lối phản ánh hiện thực thông thường để tái hiện cuộc sống trong tính chân thực, sinh động và toàn vẹn, đặc biệt ở việc thể hiện vấn đề thân phận con người Đó cũng chính là yếu tố hết sức quan trọng tạo nên khoái cảm văn bản cho người đọc khi họ tiếp xúc với thể loại này

1.3 Cái nhìn khái quát về Nguyễn Đình Tú và vấn đề thân phận con người trong tác phẩm của anh

1.3.1 Vài nét về nhà văn Nguyễn Đình Tú

Cùng với các nhà văn Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Vĩnh Tiến, Đỗ Hoàng Diệu

Nguyễn Đình Tú được biết đến từ chuyên mục Tác phẩm tuổi xanh trên báo Tiền phong cách đây hơn mười năm Có thể nói rằng, anh là cây bút viết khá đều tay ở

cả hai thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết Cho đến nay, trong gia tài văn chương của anh, ngoài những tập truyện ngắn khá nổi tiếng là sự góp mặt của năm cuốn

tiểu thuyết đó là : Hồ sơ một tử tù (2002), Bên dòng Sầu Diện (2005), Nháp (2008), Phiên bản (2009) và gần đây nhất là cuốn tiểu thuyết có cái tên nghe khá lạ tai : Kín (2010)

Nguyễn Đình Tú sinh ngày 7 tháng 7 năm 1974 tại miền đất Kiến An, Hải Phòng Anh tốt nghiệp đại học Luật Hà Nội năm 1996 và tu nghiệp sĩ quan tại trường Quân chính Quân khu 3 năm 1997 Từ năm 1997 đến năm 2001 Nguyễn Đình Tú công tác tại Viện Kiểm sát Quân sự quân khu 3 Năm 2001 anh về công tác tại Ban văn - Tạp chí Văn nghệ Quân đội Hiện nay, nhà văn Nguyễn Đình Tú là trưởng Ban văn xuôi tạp chí Văn nghệ Quân đội và là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam

Trong quá trình hoạt động ở lĩnh vực văn chương, Nguyễn Đình Tú đã gặt hái được khá nhiều thành công Ngoài sự yêu mến, đón đợi từ phía độc giả còn có thể kể đến một số giải thưởng như: Giải thưởng cuộc thi truyện ngắn Văn nghệ

Quân đội 1999 - 2000 với các tác phẩm Bên bờ những dòng chảy, Qua sông, Những chàng trai sống cùng hoa săng đắng; Giải thưởng tiểu thuyết Nhà xuất bản Công an nhân dân phối hợp với Hội Nhà văn năm 2002 với tác phẩm Hồ sơ một tử

tù, năm 2010 với tác phẩm Phiên bản; Giải thưởng văn học 10 năm Bộ Công an với tiểu thuyết Hồ sơ một tử tù; Giải thưởng văn học 5 năm Bộ Quốc phòng với tiểu thuyết Bên dòng Sầu Diện

Trang 27

27 Nhà báo Dương Tử trong một bài viết đã gọi Nguyễn Đình Tú bằng biệt

danh “ gã trai phố vác rìu” để miêu tả sự cần mẫn, chăm chỉ của anh trong nghề

viết : “Nguyễn Đình Tú là trai phố, chẳng nên ví gã với một gã tiều phu và gã cũng chẳng thích được gọi là tiều phu, thế nhưng nếu “lỡ” phải ví như thế thì tôi vẫn nghĩ đến hình ảnh một gã tiều phu miệt mài vung rìu giữa khu rừng có tên gọi cuộc sống Còn gã tiều phu ấy có tên gọi: nhà văn!”[62] Sự ví von ấy của nhà báo Dương Tử chắc hẳn nhận được sự đồng tình của rất nhiều độc giả bởi hình ảnh của Nguyễn Đình Tú cần mẫn với nghề văn chẳng khác là mấy so với hình ảnh người tiều phu chăm chỉ kia Đều đặn viết và đều đặn trình làng các sản phẩm của mình đúng với lời hẹn, Nguyễn Đình Tú đang là một cây bút rất được kỳ vọng trong nền văn mới nước nhà

1.3.2.Thân phận con người – cảm hứng chủ đạo trong tiểu thuyết Nguyễn Đình

Tám năm ( 2002 – 2010) với năm cuốn tiểu thuyết được ghi nhận ngay khi vừa

ra mắt, Nguyễn Đình Tú đã cho độc giả thấy được sự lao động nghệ thuật chăm chỉ và nghiêm túc của anh trong địa hạt văn chương Cũng vì lẽ đó, không khó để chúng ta tìm ra những cảm hứng chủ đạo xuyên suốt trong các tiểu thuyết của anh

Đó có thể là cảm hứng về hiện thực đương đại, về “hành trình của những người trẻ” (chữ dùng của nhà văn Dương Thụy), về những liên minh ma quỷ trong thế giới giang hồ Thế nhưng, một nguồn cảm hứng bao trùm lên toàn bộ các trang viết của anh chính là cảm hứng thể hiện vấn đề thân phận con người Đúng là có một hiện thực đương đại với ngồn ngộn những vấn đề thời cuộc được Nguyễn Đình Tú thể hiện trên tác phẩm Đúng là có cả cả một hệ thống những nhân vật trẻ tuổi được anh dựng lên đang khắc khoải, băn khoăn trên hành trình đi tìm bản ngã của riêng mình Và cũng đúng là có cả một thế giới tội phạm với biết bao âm mưu, tội ác được anh vạch trần trên những trang sách đầy tâm huyết Song bao trùm lên tất cả các tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú, vấn đề thân phận con người vẫn được đặt ra một cách cấp bách và riết róng Nó ám ảnh, day dứt tâm trí độc giả ngay cả khi trang sách đã khép lại Cuộc sống và những thân phận con người trong các tác phẩm của Tú được anh thể hiện khá đầy đủ, kỹ lưỡng và gai góc với muôn mặt hỉ, nộ, ái, ố, cùng những ngọt ngào, hạnh phúc hay bao chua xót, đắng cay Điều đó chứng tỏ tư duy sáng tác của anh luôn len lỏi, tìm tòi, đi sâu vào khắp các mảnh đời và góc cạnh của xã hội đương đại Về điều này, Nguyễn Đình Tú từng tâm sự : “ Với tư

cách là một người từng nghiên cứu luật học, tôi thường trăn trở điều này: Cái ác có phải là một đặc tính của loài người, luôn song hành cùng Cái thiện, không bao giờ

mất đi, không bao giờ triệt tiêu, không bao giờ chế ngự được? Tuy nhiên, thường

Trang 28

28 thì nhà văn bắt đầu tác phẩm của mình từ những ám ảnh Mảnh đất và con người quê tôi để lại trong tôi nhiều ám ảnh, trong đó có cái gọi là “đặc sản giang hồ Hải Phòng” Tôi lại có thời gian công tác trong ngành kiểm sát, thường ra vào các trại giam làm việc với nhiều đối tượng phạm tội khác nhau Những con người mặc áo sọc trắng bên trong các bức tường giam xám mốc và những ánh mắt chất chứa ngàn vạn tâm trạng sau song sắt nhà tù luôn trở đi trở lại trong tôi, như những cắt cứa suy tư, những đòi hỏi cắt nghĩa, và với tư cách một nhà văn thì đó chính là những thân phận có hấp lực ghê gớm.” Như vậy, qua lời tâm sự của anh, ta có thể thấy rằng vấn đề về thân phận con người chính là nguồn cảm hứng chủ đạo trong anh ngay ở quá trình sáng tác Và trong những tác phẩm của mình, Nguyễn Đình Tú đã cố gắng đi tìm những nguyên nhân đùn đẩy những số phận con người đến bước đường cùng. Anh đã cố gắng lý giải nó bằng cái nhìn nhân đạo của một nhà tiểu thuyết tâm huyết với tác phẩm và nhiệt thành với cuộc đời Không chỉ dừng lại ở

đó, nhà văn trẻ này còn cố gắng đi sâu thể hiện quyền sống, quyền hạnh phúc của thân phận những con người trong xã hôi đương đại từ đó chỉ ra được trách nhiệm

của xã hội đối với những thân phận con người

Trang 29

29

Chương 2

SỰ THỂ HIỆN VẤN ĐỀ THÂN PHẬN CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN ĐÌNH TÚ NHÌN TỪ BÌNH DIỆN NỘI DUNG 2.1 Bênh vực, chiêu tuyết cho thân phận những con người bị hắt hủi – một trong những nội dung chính của tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú

Đều đặn trong vòng tám năm (2002 - 2010), Nguyễn Đình Tú trình làng năm cuốn tiểu thuyết Cho đến nay, đó đều là những cuốn sách được đánh giá cao cùng với số lượng đầu sách bán khá chạy Nguyễn Đình Tú cũng khá tự hào khi biết rằng

có một lượng lớn độc giả trẻ rất yêu thích cách viết của anh Một trong những lý do khiến tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú nhận được sự đón đợi của độc giả chính là vì nhà văn đã luôn hướng đến, bênh vực, chiêu tuyết cho những con người bị hắt hủi trong xã hội

Không khó để tìm ra trong những cuốn tiểu thuyết của Đình Tú các nhân vật ấy bởi đối tượng mà anh hướng đến trong hầu hết các tiểu thuyết của mình đều là thế hệ trẻ, là những tội phạm – những kẻ đã từng lầm đường lạc lối và phải trả giá cho tội lỗi của mình Nhưng ngòi bút của Nguyễn Đình Tú đã không chỉ dừng lại ở việc nêu ra các nhân vật ấy, các tội lỗi ấy mà còn đi sâu vào lý giải, tìm ra nguyên nhân dẫn đến con đường phạm tội của họ Trong quá trình ấy, anh còn luôn hướng độc giả vào sự cảm thông, thấu hiểu cho các nhân vật của mình Đó cũng chính là nguyên nhân lý giải vì sao các nhân vật của Tú luôn nhận được niềm đồng cảm thực sự từ bạn đọc

Chính cách kể một cách tự nhiên, không gượng ép, không bày mẫu đã khiến cho nhân vật trong tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú được độc giả đón nhận và đồng cảm Số phận nhân vật của anh cũng vì thế mà trở thành những bài học thực sự hữu ích cho bạn trẻ ngày nay

Trong tiểu thuyết Hồ sơ một tử tù, Nguyễn Đình Tú đã rất thành công khi

dựng lên được chân dung kẻ tội phạm mang cái tên rất đặc biệt: Phạm Bạch Đàn Dõi theo từng bước chân của nhân vật, độc giả dường như bị cuốn vào một “mê lộ”

Trang 30

30 mà ở đó hành trình phạm tội của Đàn là điều hoàn toàn có thể lý giải và cảm thông được Đàn sinh ra ở một làng quê nghèo có nghề truyền thống là khai thác đá Trong cái làng nhỏ bé ấy cũng có đủ thứ chuyện do thời thế đưa lại như cải cách ruộng đất, cuộc kháng chiến chống Mỹ và thời kỳ xây dựng quản lý kinh tế, xã hội ở nông thôn… Vượt qua tất cả những khó khăn, khắc nghiệt mà hoàn cảnh đưa lại, chàng trai được sinh ra từ gốc cây bạch đàn ấy vẫn lớn lên, trở thành một học sinh giỏi và thi đỗ vào một trường đại học tại Thủ đô Số phận của Đàn từ đây rẽ sang một trang hoàn toàn khác trước Môi trường đại học mà Đàn được chứng kiến còn quá nhiều điều oái oăm, nghiệt ngã khiến một chàng trai vừa chân ướt chân ráo nhập học như Đàn không khỏi choáng ngợp Chính tính cách ngông cuồng muốn “ đòi lại công lý” của Đàn đã khiến Đàn dần sa ngã trong chính môi trường đại học Đầu tiên là chuyện Đàn bị đuổi học rồi đến chuyện Đàn thi lại, đỗ đại học nhưng lại

“vướng vào cơ chế” Chán nản, thất vọng, Đàn trở về quê hương trong bối cảnh ở

đó đang diễn ra cuộc đấu tranh giữa cơ chế cũ và cái mới đang hình thành Đàn ủng hộ cái mới nên càng ngày càng thất vọng hơn Không thể ở quê để chứng kiến mãi cái cảnh “ Đói Đói dài rạc Đất ấy, ruộng ấy, màu mỡ thế, tươi tốt thế mà thóc cứ lép, sản cứ thấp, sống trên đất lúa mà cứ thèm gạo, sống bên núi đá mà cứ nhà tranh vách đất ”[54, 80], Đàn đã buông trôi số phận theo bạn bè đi đào vàng để tìm vận may nơi rừng thiêng nước độc Và cái kết cục của cuộc đời Đàn bên đoạn đầu đài là điều độc giả hoàn toàn có thể hình dung được Không chỉ dừng lại ở viêc dựng lên cuộc đời nhiều bi kịch của Đàn, Nguyễn Đình Tú còn đi sâu vào lý giải những nguyên nhân đẩy Đàn vào vòng tội lỗi Rõ ràng, bên cạnh việc vạch ra những nguyên nhân từ chính bản thân nhân vật khi không đủ bản lĩnh vượt lên thử thách, Nguyễn Đình Tú còn chỉ rõ sự vô tâm, thiếu trách nhiệm của những người xung quanh đến số phận của Đàn và cao hơn cả đó chính là hoàn cảnh xã hội dồn đuổi con người

Nếu như miền quê Áng Sơn dù còn nghèo khó nhưng vẫn nuôi lớn bao ước

mơ, khát vọng cho một chàng trai đa cảm như Đàn thì môi trường Đại học lại chính

Trang 31

31 là nơi đầu tiên đẩy Đàn vào vòng tội lỗi Những gì Đàn được chứng kiến ở trường Đại học có quá nhiều điều vô lý, cứng nhắc khiến Đàn bất mãn và dần hình thành bản tính “yêng hùng” để “đi dẹp hết bất công” Nếu những người bạn cùng phòng chịu hiểu Đàn hơn, biết cảm thông với hoàn cảnh của Đàn thì có lẽ tính cách ấy không có dịp để trỗi dậy trong Đàn Hay như thầy Quý – một người thầy mà Đàn rất yêu quý và hết mực kính trọng biết nhìn xa hơn những trang sách và cuộc sống của riêng thầy thì hẳn một cậu sinh viên ngoan ngoãn, hiếu học như Đàn sẽ không rơi vào tuyệt vọng Người anh trai giỏi giang của Đàn cũng vậy Nếu như anh biết quan tâm hơn tới Đàn, lắng nghe và chia sẻ cùng em mình những khó khăn trong những ngày ấy thì chắc chắn Đàn cũng sẽ không sa ngã Hay như chính môi trường Đại học ngày ấy cũng thế Nếu như họ biết siết chặt hơn sự quản lý sinh viên thì những cảnh tượng tưởng như chỉ xảy ra ngoài chốn giang hồ ấy không thể nào có ở một trường Đại học và Đàn cũng sẽ không vì quá bất mãn mà từ một anh đội phó đội xung kích trở thành kẻ bị đuổi học Và nếu như cơ chế cũ không quá khắt khe về chuyện sinh viên bị đuổi học thì chắc chắn Đàn đã có cơ hội để làm lại

từ đầu Trong bài viết “ Một khái niệm mới về tiểu thuyết từ “Hồ sơ một tử tù”, nhà

văn Khuất Quang Thụy đã bày tỏ: “ Tôi không khỏi ngạc nhiên và thán phục trước sự dũng cảm, chân thành của tác giả khi chỉ với vài chục trang sách tác giả đã cho

ta thấy sự băng hoại đến như thế nào của “nền văn hóa và đạo đức học đường”, của

xã hội ta”[51] Đó có lẽ cũng là cảm xúc chung của rất nhiều độc giả Đọc Hồ sơ một tử tù, tôi cũng chỉ ước ao giá như có nhiều hơn một người như Dịu để kéo Đàn

hòa nhập lại cuộc sống cộng đồng Trước và kể cả sau khi đã “nhúng chàm”, Đàn vẫn cho bạn đọc thấy được rằng trong bản chất con người anh, phần nhân tính vẫn trội hơn phần thú tính Khi đã trở thành một bưởng vàng khét tiếng, một tên tội phạm nguy hiểm, Đàn vẫn chiếm được cảm tình của độc giả với cách hành xử rất đẹp, rất nghĩa hiệp Cái cách mà Đàn cư xử với những người xung quanh mình thật sự rất đáng nể trọng Đàn hành xử với đàn em trong bãi đào vàng như những người anh em ruột thịt, Đàn giang tay cứu vớt Nhung, chữa bệnh cho cô, chấp nhận lấy cô

Trang 32

32 về làm vợ và cùng cô xây đắp hạnh phúc lứa đôi Đàn vẫn biết khóc, những giọt nước mắt khổ đau, hối hận, giằng xé khi biết tin Lân đã chết Và nhất là trong

những lần “đối ẩm”, “đối thi” với Tâm cận, ta vẫn thấy hiện lên ở Đàn cái bản chất

tốt đẹp của một chàng trai rất giỏi văn thơ và am hiểu cuộc sống Đàn đã ước ao chốn nhà chùa có thể là nơi mình phục thiện dù rằng sự sám hối ấy của Đàn rõ ràng đã quá muộn màng Khi bị bắt, Đàn nhận tội, khai hết tất cả, từ chối luật sư bào chữa Trước sau Đàn cũng vẫn là một con người với những nét tính cách rất dễ nhận được sự cảm thông, đồng cảm Rõ ràng, Nguyễn Đình Tú đã giải thích một cách cặn kẽ, thấu đáo những nguyên nhân đẩy Đàn vào bi kịch cuộc đời qua đó bênh vực, chiêu tuyết cho nhân vật giúp nhân vật có được sự cảm thông sâu sắc từ độc giả

Không chỉ với riêng Đàn, trong Hồ sơ một tử tù, sự bênh vực cho thân phận

những con người bị hắt hủi trong xã hội của Nguyễn Đình Tú còn thể hiện khá rõ nét ở nhân vật Nhung Nhung được giới thiệu là một gái làng chơi có nhan sắc dạt về bãi đào vàng Lũng Sơn và trở thành món hàng hóa trao đổi giữa các nhóm đào vàng Sự xuất hiện có phần đường đột ấy của Nhung không chỉ khiến cho mạch truyện chuyển hướng mà còn cho bạn đọc thấy được những cố gắng của tác giả Nguyễn Đình Tú trong việc bênh vực cho số phận những con người bị hắt hủi Những lời tâm sự của Nhung với Đàn đã hé lộ cuộc đời nhiều nỗi đau và nước mắt của cô Hình ảnh của Nhung vì thế luôn gắn liền với sự thanh khiết, thánh thiện bên cây thánh giá và những đóa mân côi chứ không phải hình ảnh của một gái điếm mạt hạng, bệnh tật Cũng từ đây, Nhung chính là người đã gieo vào lòng Đàn niềm ước mơ, khát vọng về hạnh phúc lứa đôi nơi rừng thiêng nước độc này

Cuốn tiểu thuyết thứ hai của Nguyễn Đình Tú mang cái tên khá đặc biệt

Nháp cùng với lời đề từ “ Cuộc đời nháp tôi bằng những số phận” Anh cũng đã

dựng lên cả một thế giới nhân vật với rất nhiều những cuộc đời, những số phận éo

le, nhiều bi kịch Tiêu biểu nhất trong thế giới nhân vật ấy là Thạch và Đại Đại hiện lên ngay từ những trang sách đầu tiên qua hình dung của Thạch từ lời kể của

Trang 33

33 bạn bè là: một thằng Đại “hâm”, một thằng tâm thần, một kẻ hoang tưởng, một gã chập mạch, một người khác thường, một dạng dặt dẹo, một tên khố bện, một kiểu

ma cô vật vờ nơi giảng đường - những từ ngữ không khỏi khiến người đọc có những ác cảm ngay từ ban đầu với nhân vật này Và hơn cả những từ ngữ ấy, Nguyễn Đình Tú cũng qua lời nhân vật Thạch còn khẳng định ngay rằng Đại đã từng giết người, từng trốn trại và “đã chết đâu đó nơi rừng xanh núi đỏ bao quanh cái trại cải tạo ấy” Từng ấy chi tiết không khỏi khiến chúng ta giật mình Thế nhưng lần giở theo từng trang sách, người đọc phát hiện ra rằng Đại chẳng hề như những gì chúng ta đã hình dung ban đầu Như rất nhiều những đứa trẻ khác, Đại có một tuổi thơ rất đẹp, rất ngọt ngào Tuổi thơ của Đại gắn liền với phố Núi yên bình, nguyên sơ và lãng mạn, gắn với những người bạn một thời cùng nhau cắp sách đến trường, chia cho nhau từng bắp ngô, miếng bánh Lớn lên, Đại đi học trường Chuyên của tỉnh, có một tình yêu rất đẹp với Duyên và sau đó thi đậu vào một trường Đại học danh tiếng ở Thủ đô Cuộc sống của Đại chỉ có một thay đổi đó là sự ám ảnh từ đôi mắt nâu của người bạn gái từng đến rồi xa phố Núi năm nào Vì đôi mắt ấy, Đại sẵn sàng bất chấp tất cả để mong tìm lại Thảo Đó cũng chính là lý

do khiến Đại trở nên “ biêng biêng”, khác người trong mắt những người bạn cùng lớp Để chống lại cái ác, Đại đã dùng dao đâm chết nhiếp ảnh gia Hòa – kẻ định làm hại Duyên bằng trò tống tiền bỉ ổi Đại phải trả giá bằng những năm tháng sống trong tù tội Dù vậy, hình ảnh của Đại vẫn hiện lên thật đẹp trong mắt bạn đọc Sự trả giá của Đại cho hành động ấy là hoàn toàn đúng dù nó xuất phát từ mục đích cao đẹp là bảo vệ cái thiện và loại trừ cái xấu ra khỏi cuộc sống này Tình cảm mà Thạch dành cho Đại có lẽ cũng chính là tình cảm của rất nhiều độc giả muốn hướng đến nhân vật này Sự nhớ nhung, tin tưởng ấy của Thạch về Đại cuối cùng cũng được đền đáp bằng sự giác ngộ chân lý nhà Phật và quay trở về của Đại Những trải nghiệm đã qua trong cuộc đời được coi là một lần nháp của số phận Đại hoán đổi số phận cho Thạch và trở thành một nhà báo ở Hà Nội Sự phát triển ấy của cốt truyện là hoàn toàn hợp lý với số phận của nhân vật

Ngày đăng: 16/09/2021, 17:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hồ Huy Hoàng Anh (2008), “ Nguyễn Đình Tú và Nháp” http://www.tienphong.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đình Tú và "Nháp"”
Tác giả: Hồ Huy Hoàng Anh
Năm: 2008
2. Bakhtin.M(1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết (Phạm Vĩnh Cư dịch). Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: Bakhtin.M
Năm: 1992
3. Lê Huy Bắc (1998), “Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”, Văn học, (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: Văn học
Năm: 1998
4. Nguyễn Thị Bình (1996), Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975 (Khảo sát trên nét lớn), Luận án tiến sĩ Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975 (Khảo sát trên nét lớn)
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 1996
5. Nguyễn Thị Bình (2003), Một vài nhận xét về quan niệm hiện thực trong văn xuôi nước ta từ sau 1975, Văn học, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài nhận xét về quan niệm hiện thực trong văn xuôi nước ta từ sau 1975
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Văn học
Năm: 2003
6. Nguyễn Lệ Chi (2009), “Nhà văn Nguyễn Đình Tú: Tôi muốn xây dựng hình ảnh nữ giang hồ thời đại mới”, http://dichgianguyenlechi.blogspot.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Nguyễn Đình Tú: Tôi muốn xây dựng hình ảnh nữ giang hồ thời đại mới
Tác giả: Nguyễn Lệ Chi
Năm: 2009
7. Nguyễn Xuân Diện (2010), “ Kín – một dòng tiểu thuyết miên man”, http://www.phongdiep.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kín – một dòng tiểu thuyết miên man
Tác giả: Nguyễn Xuân Diện
Năm: 2010
8. Đoàn Ánh Dương (2009), “Phiên bản hay hồ sơ một thanh tẩy?”, http://evan.vnexpress.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phiên bản" hay hồ sơ một thanh tẩy?”
Tác giả: Đoàn Ánh Dương
Năm: 2009
9. Hà Minh Đức (chủ biên, 1997), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
10. Gulalev.N.A(1982), Lý luận văn học ( Lê Ngọc Tân dịch), Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Gulalev, N. A
Nhà XB: Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp
Năm: 1982
11. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên, 2004), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
12. Lê Quốc Hiếu (2011), “Từ kết cấu của một cuốn tiểu thuyết cho đến cảm thức về thân phận lạc loài, hoang hoải trong Kín của Nguyễn Đình Tú”,http://phongdiep.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ kết cấu của một cuốn tiểu thuyết cho đến cảm thức về thân phận lạc loài, hoang hoải trong Kín của Nguyễn Đình Tú
Tác giả: Lê Quốc Hiếu
Năm: 2011
13. Nguyễn Hòa (2005), “Tiểu thuyết: Khoảng cách giữa khát vọng và khả năng thực tế”, http://vietnamnet.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết: Khoảng cách giữa khát vọng và khả năng thực tế
Tác giả: Nguyễn Hòa
Năm: 2005
14. Nguyễn Chí Hoan (2010), “Dịch chuyển tiêu cực trong tiểu thuyết Nháp”, http://evan.vnexpress.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch chuyển tiêu cực trong tiểu thuyết Nháp
Tác giả: Nguyễn Chí Hoan
Năm: 2010
15. Nguyễn Ngọc Hoàn (2010), “Tại sao ông Bùi Công Thuấn lại khiếp sợ Nháp đến thế?”, http://www.phongdiep.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tại sao ông Bùi Công Thuấn lại khiếp sợ Nháp đến thế
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hoàn
Năm: 2010
16. Hoa Tử Huyền (2009), “Nhà văn Nguyễn Đình Tú và tiểu thuyết Phiên bản”, http://vannghequandoi.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Nguyễn Đình Tú và tiểu thuyết "Phiên bản"”
Tác giả: Hoa Tử Huyền
Năm: 2009
17. Mai Hương (chủ biên, 2011), Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam, tập 3, Nxb Giáo dục Việt nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt nam
18. Phí Thủy Hương (2011), “Kín hay cái bánh văn chương Nguyễn Đình Tú”, http://www.phongdiep.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kín hay cái bánh văn chương Nguyễn Đình Tú
Tác giả: Phí Thủy Hương
Năm: 2011
19. Inrasara (2011), “Kín, chấm dứt một hành trình để mở ra một hành trình khác”, http://lethieunhon.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kín, chấm dứt một hành trình để mở ra một hành trình khác
Tác giả: Inrasara
Năm: 2011
20. ItaExpress (2008), “Nguyễn Đình Tú và những ám ảnh mang tên Nháp”, http://www.itaexpress.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đình Tú và những ám ảnh mang tên Nháp
Tác giả: ItaExpress
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w