1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan niệm của người nghệ về hôn nhân và quan hệ gia đình trong ca dao

89 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 633,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiệm vụ Với đề tài này chúng tôi nhằm thực hiện các mục đích sau: - Khảo sát, phân tích các phương thức ngôn ngữ biểu đạt ý niệm, quan niệm của người Nghệ Tĩnh về hôn nhân và quan hệ g

Trang 1

vì, đối với những con người trọng tình trên đất Việt thì hôn nhân và gia đình là phần không thể thiếu trong đời sống của họ, quyết định đến nhân cách, lẽ sống, cách ứng xử của người Việt Nam

Trong từng vùng miền khác nhau, ca dao lại có những nét đặc sắc riêng thể hiện dấu ấn đặc trưng của cộng đồng sử dụng ngôn ngữ đó Xứ Nghệ được xem là mảnh đất “địa linh nhân kiệt” Chính hồn đất, hồn sông, hồn núi đã sản sinh ra những anh hùng dân tộc và cũng là mạch nguồn để tạo dựng một nền văn học dân gian đáng tự hào, trong đó không thể không nói đến ca dao Rất nhiều nhà nghiên cứu, nhiều công trình đã đưa ra những nét đẹp khác nhau của sản phẩm văn hoá này Tuy nhiên cũng như ca dao người Việt, ca dao Nghệ Tĩnh là nguồn tài nguyên vô tận, càng khai thác lại càng tìm thấy những nét hấp dẫn mới Nghiên cứu ca dao xứ Nghệ từ bình diện tri nhận - một bình diện ngôn ngữ nghiên cứu nhận thức của con người được thể hiện qua ngôn ngữ là con đường để chúng ta kết nối ngôn ngữ và văn hoá của những con người trên mảnh đất giàu truyền thống này

Mặt khác, tìm hiểu ca dao người Nghệ từ bình diện tri nhận sẽ khẳng định một cách tiếp nhận văn hoá của cộng đồng, đồng thời góp phần giữ gìn và phát triển nhận thức của người Nghệ An, Hà Tĩnh

Vì những lẽ trên chúng tôi chọn “ Quan niệm của người Nghệ về hôn nhân và quan hệ gia đình trong ca dao Nghệ Tĩnh ” để làm đề tài cho

Luận văn

Trang 2

2 Đối tƣợng và mục đích nghiên cứu

2.1 Đối tƣợng

Trong luận văn này đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là ý niệm của người Nghệ về hôn nhân và quan hệ gia đình Để thực hiện tốt nhiệm vụ

mà luận văn yêu cầu chúng tôi chọn mảng ca dao về hôn nhân và quan hệ

gia đình của người Việt, xứ Nghệ trong “Kho tàng ca dao xứ Nghệ” của

các tác giả Ninh Viết Giao, Nguyễn Đổng Chi, Võ Văn Trực, Nxb Nghệ

An, 1996 Đây là công trình sưu tập, biên soạn công phu và có giá trị rất lớn đối với người Nghệ Tĩnh nói riêng và đối với nền văn hoá – văn nghệ của dân tộc nói chung

2.2 Nhiệm vụ

Với đề tài này chúng tôi nhằm thực hiện các mục đích sau:

- Khảo sát, phân tích các phương thức ngôn ngữ biểu đạt ý niệm, quan niệm của người Nghệ Tĩnh về hôn nhân và quan hệ gia đình trong ca dao, từ đó, đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu, xác định quan niệm và nhận thức của người Nghệ từ bình diện ngôn ngữ học tri nhận

- Góp phần xác định đặc trưng về văn hoá ứng xử của người Nghệ Tĩnh nhằm giữ gìn và phát triển đặc trưng nhận thức của người Nghệ

3 Lịch sử vấn đề

Lâu nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về ca dao với những quy

mô và hướng tiếp cận khác nhau Tìm đọc những công trình nghiên cứu về

ca dao chúng tôi thấy có ba xu hướng nghiên cứu: dưới góc độ Văn học, dưới góc độ Thi pháp học và nghiên cứu dưới góc độ Ngôn ngữ học Dưới góc độ ngôn ngữ học, từ các bình diện cấu trúc, từ vựng, ngữ dụng, đã có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị như Nguyễn Nhã Bản, Đỗ Hữu Châu, Hoàng Văn Hành, Đinh Trọng Lạc, Đỗ Thị Kim Liên…và nhiều chuyên luận, luận văn Những năm gần đây có một số tác giả đã tiếp cận ca

Trang 3

dao người Việt từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận như “Ý niệm của người Việt về hôn nhân và quan hệ vợ chồng trong ca dao từ bình diện tri nhận” của thạc sĩ Lê Thị Thắm (Đại học Vinh, 2008), “Ý niệm của người Việt về tình yêu lứa đôi trong ca dao từ bình diện tri nhận” của Nguyễn Thị Hà

(Đại học Vinh, 2008) Đây là một con đường mới cho những ai yêu thích tiếp tục tìm hiểu

Ở Việt Nam, ngôn ngữ học tri nhận được nghiên cứu trong các công

trình Ngôn ngữ học tri nhận- từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt (Lý Toàn Thắng, 2005, Nxb KHXH, HN), Hệ hình nhận thức trong ngôn ngữ (Nguyễn Hoà, Ngôn ngữ, 2007, số 1) Về những vấn đề cụ thể trong lĩnh vực này có các bài báo Ba giới từ tiếng Anh at, on, in (thử nhìn từ góc

độ cơ chế tri nhận không gian (trong sự so sánh đối chiếu với tiếng Việt)

(Lê Văn Thanh và Lý Toàn Thắng, Ngôn ngữ , 2002, số 9), Tìm hiểu ý niệm “buồn” trong tiếng Nga và tiếng Anh (Trần Trương Mỹ Dung, Ngôn ngữ, 2005, số 8), Bước đầu khảo sát ẩn dụ tình yêu trong tiếng Anh và tiếng Việt (Nguyễn Thị ý Nhi, Ngữ học Trẻ, 2006), Thử phân tích một bài

ca dao hài hước từ bình diện ngôn ngữ học tri nhận (Lê Đình Tường, Ngôn

ngữ, 2008, số 9), v.v Ngoài ra, có một số công trình nghiên cứu khác tuy không nhắc đến ngôn ngữ học tri nhận, nhưng tinh thần và thực chất nằm trong phạm vi trung tâm chú ý của NNHTN Chẳng hạn, tác phẩm của

Nguyễn Đức Tồn Tìm hiểu đặc trưng văn hoá- dân tộc của ngôn ngữ và tư duy người Việt (trong sự so sánh với những dân tộc khác) (Nxb ĐHQG, H.,

2002), trong đó tác giả nghiên cứu Sự phạm trù hoá hiện thực và bức tranh ngôn ngữ về thế giới, ngữ nghĩa các từ chỉ bộ phận cơ thể người, công trình

nghiên cứu của Trần Ngọc Thêm Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam (Nxb

Tổng hợp Tp HCM, 2004) (x chương Hai- Văn hoá nhận thức), bài viết

Về một cách giải thích nghĩa của thành ngữ từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận, đăng trên Ngữ học trẻ- 2006 của tác giả Nguyễn Ngọc Vũ góp phần

Trang 4

đáng kể trong lĩnh vực nghiên cứu biểu tượng ca dao trên cả hai phương diện: lý thuyết và ứng dụng thực hành

Về ca dao xứ Nghệ cũng đã có một số công trình nghiên cứu như:

Bản sắc văn hoá của người Nghệ Tĩnh (Trên dẫn liệu ngôn ngữ) (Nguyễn Nhã Bản, Nxb Nghệ An, 2001), Một số phương tiện và biện pháp tu từ trong ca dao tình yêu đôi lứa xứ Nghệ ( Nguyễn Văn Liên, Luận văn Thạc

sĩ, Đại học Vinh, 1999), Thi pháp ca dao người Việt xứ Nghệ, (Tăng Thu Hiền, Luận văn thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Vinh, 1999), Sự khác nhau giữa

xứ Nghệ và xứ Bắc (Nguyễn Phương Châm, Văn học dân gian, số 3,

1997)… Các công trình này đã nghiên cứu ca dao Nghệ Tĩnh dưới nhiều góc độ song chưa có tác giả nào tìm hiểu quan niệm của người dân xứ Nghệ dưới góc độ tri nhận

Tuy nhiên, các nghiên cứu nêu trên, nhất là nghiên cứu cụ thể về một bình diện cụ thể như hôn nhân và gia đình được thể hiện trong ca dao xứ Nghệ từ bình diện nhận thức của cộng đồng sử dụng ngôn ngữ hầu như chưa được quan tâm Chính vì vậy, Luận văn là công trình thể nghiệm việc vận dụng những hiểu biết bước đầu của chúng tôi về một đường hướng ngôn ngữ mới để nghiên cứu một vấn đề không mới nhưng đầy thú vị

“Quan niệm của người Nghệ về hôn nhân và quan hệ gia đình trong ca dao Nghệ Tĩnh”

4 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành mục đích và nhiệm vụ đề ra, các phương pháp nghiên cứu được sử dụng bao gồm:

- Thu thập số liệu

Số liệu thu thập cho Luận văn được thu thập trong “Kho tàng ca dao

xứ Nghệ” của các tác giả Ninh Viết Giao, Nguyễn Đổng Chi, Võ Văn Trực,

Nxb Nghệ An, 1996 và dựa trên các trường nghĩa chỉ quan hệ hôn nhân (vợ chồng) và gia đình (cha mẹ với con cái, con cái với cha mẹ)

Trang 5

- Phân tích và xử lí số liệu

Số liệu được phân loại dựa trên các loại cấu trúc nghĩa phản ánh của câu và dựa trên các trường nghĩa phổ quát nhất của chúng Kết quả phân tích và xử lý số liệu là cơ sở để xác định ý niệm về hôn nhân và gia đình của cộng đồng sử dụng ngôn ngữ

- Tổng hợp khái quát hoá

5 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội

dung gồm có ba chương:

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về lý thuyết liên quan đến đề tài Chương 2: Quan niệm của người Nghệ Tĩnh về hôn nhân và quan

hệ gia đình qua cấu trúc nghĩa biểu hiện

Chương 3: Quan niệm của người Nghệ Tĩnh về quan hệ gia đình được phản ánh qua phạm trù từ vựng

Trang 6

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ THUYẾT

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Ca dao và đặc trưng của ca dao

1.1.1 Khái niệm ca dao

Ca dao vốn là một thuật ngữ Hán Việt Thời trước, người ta còn gọi

ca dao là phong dao vì có những bài ca dao phản ánh phong tục của mỗi địa phương, mỗi thời đại

Ca dao, theo “Từ điển tiếng Việt”, là loại: “1 Thơ ca dân gian truyền miệng dưới hình thức những câu hát, không theo một điệu nhất định 2 Thể loại văn vần, thường làm theo thể lục bát, có hình thức giống như ca dao cổ truyền” [56, 96]

Cũng như các thể loại khác của văn học dân gian, ca dao là những sáng tác tập thể và truyền miệng của nhân dân lao động, ra đời và phục vụ trực tiếp cho các sinh hoạt cộng đồng Là sản phẩm của tập thể, ca dao là tiếng nói của cả cộng đồng, là “cây đàn muôn điệu của tâm hồn quần chúng”

1.1.2 Những đặc trưng cơ bản của ca dao Việt Nam

1.1.2.1 Những đặc trưng cơ bản về nội dung

Đến với ca dao, chúng ta có thể nắm bắt được thế giới tâm hồn, tình cảm của người dân Việt Nam Ca dao Việt Nam là những bài tình tứ, là khuôn thước cho lối thơ trữ tình của ta Tình yêu của người lao động Việt Nam được biểu hiện trong ca dao về nhiều mặt: tình yêu giữa đôi bên trai gái, yêu gia đình, yêu xóm làng, yêu đồng ruộng, yêu đất nước, yêu lao động, yêu giai cấp, yêu thiên nhiên, yêu hòa bình Không những thế, ca dao còn biểu hiện tư tưởng đấu tranh của nhân dân Việt Nam trong cuộc sống

xã hội, trong những khi tiếp xúc với thiên nhiên và ca dao còn biểu hiện sự trưởng thành của tư tưởng ấy qua các thời kì lịch sử

Trang 7

Như vậy, ngoài sự biểu hiện đời sống tình cảm, đời sống vật chất của con người, ca dao còn phản ánh ý thức, quan niệm lao động, sản xuất của nhân dân Việt Nam và tình hình xã hội thời xưa về các mặt kinh tế và chính trị Bởi thế người ta nói: nội dung của ca dao chủ yếu là trữ tình

Từ việc cảm nhận được thế giới tâm hồn, tình cảm của người bình dân, phẩm chất, con người Việt Nam cũng đã bộc lộ một cách rõ nét Quá trình đấu tranh để cải tạo thiên nhiên, đấu tranh chống lại những ngang trái trong xã hội, đấu tranh dành lại hạnh phúc đã giúp chúng ta cảm nhận một cách rõ nét về tính chiến đâu, tính phản phong, tính nhân đạo chủ nghĩa của

ca dao

Tóm lại, ca dao là phương thức tích lũy và phản ánh một cách phổ quát kinh nghiệm trong mọi lĩnh vực đời sống của cộng đồng sử dụng ngôn ngữ qua nhiều thế hệ khác nhau

1.1.2.2 Những nét cơ bản về nghệ thuật

- Thể thơ: Ca dao thường sáng tác theo hai thể thơ truyền thống là lục bát và song thất lục bát Ngoài ra còn có thể lối nói (nói bằng văn vần, mỗi câu gồm hai ba, bốn đến nhiều tiếng)

Mỗi thể thơ trong ca dao đều có những quy định riêng về số tiếng trong câu, về cách gieo vần và thanh điệu Nếu có sự thay đổi trong các yếu

tố này được gọi là biến thể

- Cách diễn ý và lập ý: Ca dao thường diễn ý bằng các hình ảnh so sánh và ẩn dụ, thường lập ý bằng cách đối đáp, hình thức mở đầu bằng cách miêu tả khung cảnh thiên nhiên, khung cảnh sinh hoạt, hình thức điệp ngữ…

- Ngôn ngữ: Ngôn ngữ trong ca dao là sự kết hợp giữa ngôn ngữ thơ với ngôn ngữ trong đời sống hằng ngày Tính chất phương ngữ thể hiện rất

rõ trong ca dao, in đậm dấu ấn phong cách nói năng của từng cộng đồng người ở mỗi vùng miền quê trên đất nước

Trang 8

1.2 Xứ Nghệ và ca dao xứ Nghệ

1.2.1 Vài nét về vùng văn hóa xứ Nghệ

Nghệ Tĩnh là mảnh đất lâu đời Đất nước Việt Nam xảy ra bao nhiêu thăng trầm thì đất Nghệ cũng trải qua chừng ấy biến cố Đây là vùng lãnh thổ rộng lớn kéo dài từ khe nước Lạnh đến Đèo Ngang Thiên nhiên ở đây rất tươi đẹp và hết sức đa dạng

Tuy nhiên, đây là vùng có khí hậu vô cùng khắc nghiệt, như nhiều người đã nhận xét: đây là vùng đất không được tạo vật cưu đương Mùa hè, hạn hán kéo dài cùng với gió Lào rát bỏng làm khô héo cả vạn vật, thu sang, lũ lụt lại hoành hành, mùa đông đến, heo rét hàng tháng, gió mùa đông bắc tràn về mang theo cả mưa dầm gây khá nhiều khó khăn cho sản xuất Điều kiện ấy ảnh hưởng rất lớn đời sống sinh hoạt của người dân đất Hồng Lam Song, trước thiên nhiên khắc nghiệt, con người nơi đây đã thể hiện được tinh thần, ý chí của mình

Bên cạnh đó, Nghệ Tĩnh là vùng đất cuối cùng của lãnh thổ Đại Việt ngày xưa, và là vùng đất có truyền thống chống lại giai cấp thống trị rất tích cực, hơn nữa lại khá xa trung tâm phong kiến tập quyền tức là thủ đô nên việc giao lưu văn hóa, truyền bá cái mới rất khó thực hiện Đã thế, sự ảnh hưởng của hai luồng văn hóa chính vào nước ta là Ấn Độ và Trung Quốc với xứ Nghệ là rất yếu ớt Tất cả những điều này đã làm cho văn hóa của Nghệ Tĩnh còn giữ nguyên những nét đặc thù riêng của vùng bản địa

Nghệ Tĩnh từ xưa được các vị anh hùng lựa chọn là vùng căn cứ địa Người dân đất Lam Hồng trước các cuộc đấu tranh chống lại giặc ngoại xâm đều tỏ ra hết sức ngoan cường, bất khuất và oanh liệt

Đặc biệt, Nghệ Tĩnh có một kho tàng văn học dân gian rất phong phú với rất nhiều loại hình và có những loại hình mang tính đặc thù Mỗi loại hình văn học dân gian xứ Nghệ ngoài những đặc điểm mang mạch nguồn chung của văn học dân gian Việt Nam, song luôn có những nét riêng mang tính đặc thù của bản sắc văn hóa nơi đây

Trang 9

1.2.2 Những đặc điểm cơ bản về ca dao xứ Nghệ

1.2.2.1 Đặc điểm về nội dung

Tuy mang những nét riêng mang đặc trưng của vùng miền nhưng ca dao xứ Nghệ vẫn thể hiện những đặc điểm chung, phổ biến của cả nước Vì vậy, tuy cách biểu hiện và nội dung có nét khác nhưng ca dao xứ Nghệ vẫn xoay quanh các chủ đề chính: thiên nhiên, đấu tranh giai cấp, quê hương đất nước, tình yêu trai gái, hôn nhân và quan hệ gia đình

(i) Phản ánh thiên nhiên xứ Nghệ

Chúng ta đã biết rằng thiên nhiên xứ Nghệ hết sức khắc nghiệt Trong điều kiện ấy, người nông dân đã xác định “muốn no thì phải chăm làm, một hột thóc vàng chín giọt mồ hôi” nên cần cù trong lao động:

Thân em khó nhọc trăm bề, Sớm đi cấy lúa chiều về hái dâu

Có gương không kịp rẽ đầu,

Có cau không kịp têm trầu mà ăn

Thân em khó nhọc trăm phần, Hết đi ruộng đậu lại lần ruộng dưa

Vội đi quên cả cơm trưa, Vội về quên cả cơm trưa ướt đầu

Vì sự sống, vì miếng cơm manh áo, trước thiên nhiên khắc nghiệt, người dân xứ Nghệ đã phải làm suốt ngày đầu tắt mặt tối

Những ngày nắng rát bỏng vào mùa hè làm thiêu đốt tất cả, mùa mưa đến lũ lụt lại hoành hành Khó khăn chồng chất khó khăn:

- Chớ về Đồng Nứa, Cồn Trăm,

Cả đời vất vả quanh năm đói nghèo

- Ai về Tràng Các mà coi, Khoai hai tháng rưỡi đã moi hết rồi

Vô vàn gian khổ như thế nhưng con người xứ Nghệ đã không khoanh tay Họ luôn tin vào khả năng lao động của mình Người nông dân

Trang 10

xứ Nghệ luôn ý thức rõ: có khó mới có miếng ăn Sự cần cù chịu khó cùng với nghị lực phi thường đã giúp người nông dân xứ Nghệ đương đầu với thiên nhiên và tạo dựng một cuộc sống no đủ:

Ai lên Bãi Sậy mà coi, Lúa reo trước mặt ngô cười sau lưng

(ii) Phản ánh cuộc đấu tranh giai cấp

Thiên nhiên đã thế, kẻ bóc lột nơi đây lại vô cùng thâm độc Ca dao Nghệ Tĩnh một mặt cho ta thấy sự xót thương điêu đứng trước sự bóc lột của giai cấp thống trị, mặt khác cho ta thấy lòng căm thù sâu sắc trước dã tâm của bọn người này:

Vua chi mà vua, Quan chi mà quan, Lọng vàng thì có, lòng vàng thì không

Trước sự bất nhân của bọn thống trị, người dân xứ Nghệ đã thể hiện rất rõ thái độ căm phẫn, uất ức của mình một cách mạnh mẽ Chính vì thế, một khi bão tố nổi lên, với khí phách hào hùng cộng thêm bao căm hờn chất chứa, họ sẵn sàng:

Hai tay vác một gươm vàng, Oai linh đến chặt ngai vàng nhà vua…

Bao trùm lên tất cả khát vọng này chính là khát vọng tự do, khát vọng bình đẳng trong xã hội bất công của những con người hết sức kiên cường và đầy bản lĩnh

Như vậy, trước sự khắc nghiệt của thiên nhiên, từ trong gian khổ và đặc biệt nhất là khi đối mặt với tầng lớp thống trị nhũng nhiễu, người dân

xứ Nghệ đã cho ta thấy được tinh thần quả quyết, nghị lực bền bỉ, lòng tự tin vô bờ, ý chí cao siêu và bản lĩnh sắt đá

Bên cạnh sự gân guốc, rắn rỏi người Nghệ Tĩnh còn có đời sống tình cảm vô cùng phong phú Điều này được bộc lộ rõ nét trong những câu ca

Trang 11

nói về thiên nhiên, quê hương, đất nước, đặc biệt nhất là trong chủ đề tình yêu, hôn nhân và quan hệ gia đình

(iii) Phản ánh tình cảm đối với thiên nhiên và quê hương

Thưởng thức cảnh đẹp của thiên nhiên, tình cảm của con người nơi đây dâng lên những cảm xúc khó tả:

Non Hồng ai đắp mà cao, Sông Lam ai bới, ai đào mà sâu

Đặc biệt, gắn với mỗi tên đất, tên sông, tên làng là những chiến công đầy tự hào:

Bình Tây ai dựng công đầu, Hồng Lam danh tiếng mai sau còn truyền

Với làng quê, nơi chôn rau cắt rốn, tình cảm của người dân xứ Nghệ lại thật mặn nồng:

Làng ta phong cảnh hữu tình, Khen trời khéo đẻ ra mình ra ta

Trưa nồng nằm gốc cây đa, Chiều về tắm mát ngã ba sông Bùng

Đặc biệt, trong ca dao Nghệ Tĩnh, xuất hiện rất nhiều những địa danh Những tên đất, tên sông, tên núi, tên làng đều thể hiện lòng tự hào và tình yêu mặn nồng vô bờ bến với quê hương xứ sở:

- Bao giờ Rú Cấm hết cây,

Hồ Sen hết nước họ này hết quan

- Kinh kì dệt gấm thêu hoa, Quỳnh Đôi tơ lụa thủ khoa ba đời

… Tất cả những địa danh trong ca dao Nghệ Tĩnh đều rất thật nhưng đọc lên vẫn vang trong lòng người đọc một cảm xúc bâng khuâng khó tả

Ẩn chứa trong đó chính là tình yêu quê hương mặn mà, sâu sắc, nồng thắm,

Trang 12

là cơ sở cho tình yêu đất nước lớn lao, cho tinh thần lao động, xây dựng và

ý chí chiến đấu để bảo vệ quê hương đất nước

(iv) Phản ánh tình yêu, hôn nhân và quan hệ gia đình

Tính cách và tâm hồn người dân xứ Nghệ trong ca dao được thể hiện

rõ nhất ở chủ đề về tình yêu, hôn nhân và quan hệ gia đình

Ninh Viết Giao đã nhận xét: “Tình yêu của trai gái xứ Nghệ, của con người xứ Nghệ như một núi lửa hơi đầy Nó âm ỉ, nung nấu, sục sôi trong lòng song ngoài mặt vẫn điềm tĩnh, trầm lặng, cái trầm lặng của hỏa diệm sơn chưa đến ngày phụt lửa, cái trầm lặng của mặt nước biển hồ trong những ngày im gió nhưng dưới đáy vẫn có vô số sóng ngầm, hay nói cách khác, đó là cái trầm lặng của một trận giao chiến trước giờ khai hỏa” [19, 67]

Tình yêu của những đôi nam nữ xứ Nghệ biểu hiện trong ca dao thật nồng say:

Bao giờ Hồng Lĩnh đá mòn, Hoành Sơn mây phủ dạ còn nhớ anh

Cành Lê thấp thoáng sau nhà, Bóng trăng dọi lại, anh tưởng là bóng em

Cũng như ca dao toàn quốc, trong tình yêu nam nữ, chúng ta gặp những lời ướm hỏi tình tứ, những câu trao duyên tế nhị, những câu thề nguyền gắn bó, những lời than thở nhớ nhung….Ta cũng gặp những cảnh ngộ éo le trong tình yêu với những nỗi giận hờn lo lắng, đau xót nhưng lại

ấm áp tình đời, dạt dào sức sống…Tất cả đều trong sáng, lành mạnh với phong cách suy nghĩ có cái bản sắc riêng của người xứ Nghệ

Khi đã thành vợ thành chồng, thể hiện trong ca dao là những con người trọng tình, trọng nghĩa, sống với nhau theo đạo lí của nhân dân: thủy chung, son sắt và sẵn sàng chia ngọt sẻ bùi, đồng cam cộng khổ, hi sinh vì nhau Cách biểu hiện những điều này trong ca dao rất đỗi chân thành, mộc mạc nhưng dứt khoát và hết sức sâu sắc:

Trang 13

- Khi em chưa có chồng thì anh nỏ dốc lòng gắn bó, Bây giờ em có chồng rồi thì anh đón ngõ trao thư

Ới anh ơi! Đừng trao thư mà hư tờ giấy,

Em có chồng rồi nỏ lấy anh mô

- Đua nhau ta cấy ta cày, Cho cao bồ thóc cho đầy bồ khoai

Người dân xứ Nghệ đã xem gia đình và hôn nhân có một vai trò hết sức quan trọng Vì thế, các mối quan hệ trong gia đình luôn ấm áp tình nghĩa Gia đình trở thành điểm tựa hết sức vững chắc cho mọi thành viên trước mọi biến cố trong cuộc đời

Tất cả những điều trên khiến chúng ta có những cảm nhận đầu tiên từ

ca dao về những con người xứ Nghệ là: mặc dù đời sống sinh hoạt của họ rất khắc khổ nhưng họ có đời sống tâm hồn lí tưởng kết hợp với sự kiên trung trong bản chất và khắc khổ trong giao lưu

1.2.2.2 Một số nét về hình thức của ca dao xứ Nghệ

(i) Thể thơ chủ yếu là ca dao và biến thể của lục bát

Nguyễn Phương Châm trong khi nhận xét về thể thơ trong ca dao xứ Nghệ và xứ Bắc đã viết: “Cùng mang đặc điểm chung của ca dao Việt Nam, ca dao xứ Nghệ và ca dao xứ Bắc được sáng tác theo thể thơ lục bát

là chính nhưng điều khác nhau cơ bản giữa ca dao 2 vùng là ca dao xứ Nghệ có nhiều biến thể và ít có lời ca dao được sáng tác theo thể lục bát hơn ca dao xứ Bắc” [11, 24] Nói cách khác, giống như ca dao Việt Nam, được sáng tác theo hai thể chính là lục bát, song thất lục bát và lối nói, song trong ca dao xứ Nghệ có rất nhiều biến thể

(ii) Ngôn ngữ đời thường phổ biến

Chúng tôi đồng ý với nhận xét của Nguyễn Phương Châm: “Cả ca dao xứ Nghệ, xứ Bắc trong ngôn ngữ đều có sự kết hợp giữa ngôn ngữ thơ

và ngôn ngữ đời thường nhưng sự hoạt động của ngôn ngữ đời thường mạnh mẽ hơn trong ca dao xứ Nghệ Ở nơi này, ngôn ngữ đời thường đi

Trang 14

vào ca dao một cách tự nhiên làm cho một số lời ca dao có cái chất phác, gần với hiện thực đôi khi còn hơi thô” [11, 25]

(iii) Cách diễn ý và lập ý có tính bộc trực cao

Ca dao Việt Nam thường diễn ý bằng các hình ảnh so sánh và ẩn dụ, thường lập ý bằng cách đối đáp, hình thức mở đầu bằng cách miêu tả khung cảnh thiên nhiên, khung cảnh sinh hoạt, hình thức điệp ngữ… Ca dao xứ Nghệ cũng vậy, nhưng cách diễn ý và lập ý trong ca dao Nghệ Tĩnh thường

ít bóng bẩy hơn ca dao Việt Nam và thường đi thẳng nói, thật nhiều hơn là cách nói vòng vo, giàu hình ảnh

1.3 Ca dao về hôn nhân và quan hệ gia đình của người Nghệ Tĩnh

Ca dao về hôn nhân và quan hệ gia đình chiếm một tỷ lệ không

nhỏ trong ca dao xứ Nghệ Trong đó phần lớn thể hiện quan niệm của người dân xứ Nghệ về hôn nhân, về bổn phận xây dựng gia đình của con người trưởng thành trong xã hội: Đó là bổn phận lấy vợ, lấy chồng, bổn phận của con cái đối với cha mẹ và ngược lại

1.3.1 Hôn nhân, gia đình và quan hệ gia đình

Theo Từ điển tiếng Việt, “Hôn nhân là việc nam nữ chính thức lấy

nhau làm vợ làm chồng” [56, 461], và “Gia đình là tập hợp những người sống chung thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, thường gồm có vợ, có chồng, cha mẹ và con cái” [56, 381]

Theo truyền thống, gia đình Việt Nam có những đặc điểm cơ bản: + Gia đình Việt Nam là một tổ chức bao gồm những người sống với nhau dựa trên cơ sở huyết thống và tình nghĩa

+ Tổ chức gia đình có mục đích thiêng liêng là xây dựng tổ ấm cả về tinh thần lẫn vật chất Gia đình là đơn vị cơ sở, là tế bào của xã hội Gia đình có yên ấm, hạnh phúc thì xã hội mới ổn định, phát triển

Trang 15

+ Tổ chức gia đình có nhiều chức năng: duy trì nòi giống, chức năng giáo dục, góp phần vào sự phát triển của xã hội Tổ chức gia đình Việt Nam còn có nhiệm vụ sản sinh và giữ gìn văn hoá dân tộc Gia đình Việt Nam luôn gắn với làng với nước Đối với sinh hoạt văn hoá của làng và đối với vận mệnh của nước, gia đình Việt Nam có một vai trò hết sức quan trọng

Nói tóm lại, gia đình Việt Nam là một tổ chức cơ sở gắn bó với nhau bằng huyết thống, nghĩa tình, xây dựng thành một tổ ấm tinh thần và vật chất để giáo dục con cái, đóng góp và giữ gìn văn hóa dân tộc Quan hệ gia đình gồm có quan hệ vợ chồng, quan hệ giữa cha mẹ đối với con cái, ông

bà đối với cháu chắt và ngược lại, quan hệ anh em, quan hệ giữa con dâu với gia đình chồng, giữa rể với gia đình vợ… Trong phạm vi của một luận

văn, chúng tôi chỉ tập trung vào quan hệ vợ chồng và quan hệ giữa cha mẹ đối với con cái của người dân xứ Nghệ và ngược lại Cùng với việc tìm hiểu những mối quan hệ này chúng tôi cũng bước đầu tìm ra quan niệm của người Nghệ Tĩnh về hôn nhân

1.3.2 Ca dao về hôn nhân và quan hệ gia đình của người Nghệ Tĩnh

Hôn nhân và gia đình là một trong những mảng đề tài quan trọng, thường xuyên, là nguồn cảm hứng vô tận cho các sáng tác dân gian đặc biệt

là trong thể loại ca dao trong đó có ca dao xứ Nghệ Tìm hiểu ca dao người Việt xứ Nghệ chúng tôi thấy có 457 bài ca dao được xếp vào mảng quan hệ gia đình và hôn nhân Trong số những bài ca dao đó chúng tôi đã chọn những bài ca dao nói về quan hệ giữa vợ với chồng, quan hệ giữa cha mẹ với con cái và những bài ca dao nói về hôn nhân Chúng tôi cho rằng người Việt xứ Nghệ chiếm số lượng lớn nên sẽ tiêu biểu cho người dân Nghệ Tĩnh nói chung Vì vậy, theo chúng tôi, tìm hiểu ý niệm của người Việt xứ Nghệ chính là tìm đến với quan niệm của người Nghệ về những vấn đề này

Với đặc trưng riêng của một vùng đất giàu truyền thống văn hóa, người dân xứ Nghệ đã thể hiện được bản sắc riêng của mình trong mạch

Trang 16

nguồn chung của cả dân tộc về hôn nhân, về những mối quan hệ trong gia đình Chúng ta sẽ nhận ra ngay tình cảm mộc mạc mà hết sức sâu sắc của người phụ nữ xứ Nghệ trong câu ca dao:

- Anh đứng bên ni sông,

Em đứng bên kia bờ, Trăm năm em không bỏ nghĩa anh mô, Anh đừng sầu não, mà héo khô con người

Người Nghệ mới bộc lộ quan niệm về hôn nhân một cách bộc trực và thẳng thắn:

- Ham chi bó ló (lúa) quan tiền,

Mụ gia dễ ở chồng hiền là hơn

- Xưa kia em chưa có chồng thì anh nỏ dốc lòng gắn bó, Nay em có chồng rồi thì anh đón ngõ trao thư

Ới anh ơi! Đừng trao thư mà hư tờ giấy,

Em có chồng rồi nỏ lấy anh mô

Phần lớn những câu ca dao viết về tình cảm vợ chồng thể hiện cách nghĩ về hôn nhân là lời của những người phụ nữ, những người làm vợ Đó

là lời của những người vợ tảo tần, lam lũ, đảm đang, luôn biết hi sinh và nhẫn nhịn vì chồng, vì hạnh phúc gia đình Bên cạnh tình cảm vợ chồng, tình cảm giữa cha mẹ và con cái cũng được diễn tả một cách xúc động qua

ca dao người Việt xứ Nghệ:

- Mẹ già là mẹ già chung, Anh lo thang thuốc, em giùm áo cơm

- Mỗi đêm thắp ngọn đèn trời Cầu cho cha mẹ ở đời với con

Tuy có những nét chung trong mạch nguồn ca dao của dân tộc nhưng những câu ca dao về hôn nhân và quan hệ gia đình của người Việt xứ Nghệ

có những nét riêng thể hiện cách nghĩ, quan điểm của người dân nơi đây

Vì vậy, tuy chỉ là một mảng trong kho tàng ca dao xứ Nghệ nhưng đến với

Trang 17

nó chúng ta vẫn cảm nhận rõ nét về thế giới tâm hồn của những người con

ở đất Lam Hồng

1.4 Những nguyên lí cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận

Ngôn ngữ học tri nhận là một trường phái mới của ngôn ngữ học hiện đại, tiến hành nghiên cứu ngôn ngữ trên cơ sở vốn kinh nghiệm và sự cảm thụ của con người về thế giới khách quan cũng như cái cách thức mà con người tri giác và ý niệm hoá các sự vật và sự tình của thế giới khách quan đó Tuy nhiên, để có được sự hình dung đầy đủ về ngôn ngữ học tri nhận, chúng tôi xin trình bày một số nguyên lí và quan điểm cơ bản của

ngôn ngữ học tri nhận dựa trên các công trình nghiên cứu: Ngôn ngữ học tri nhận - từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt (Lý Toàn Thắng), Tìm hiểu đặc trưng văn hoá dân tộc của tư duy và ngôn ngữ ở người Việt (trong sự so sánh với các dân tộc khác) (Nguyễn Đức Tồn), Về khuynh hướng ngữ nghĩa học tri nhận (Lê Quang Thiêm), Hệ hình nhận thức trong nghiên cứu ngôn ngữ (Nguyễn Hoà), Ngôn ngữ học tri nhận là gì? (Trần

Văn Cơ)…

1.4.1 Ngôn ngữ không phải là một khả năng tri nhận tự trị

Ngữ pháp tạo sinh cho rằng ngôn ngữ là một khả năng tri nhận tự trị hay một “module” biệt lập với các khả năng tri nhận phi ngôn ngữ; trong khi đó ngôn ngữ học tri nhận cho rằng sự biểu hiện của tri thức ngôn ngữ

về cơ bản giống y như sự biểu hiện của các cấu trúc ý niệm khác, các quá trình trong đó tri thức được sử dụng không khác về cơ bản với các khả năng tri nhận mà con người sử dụng ngoài lĩnh vực ngôn ngữ Nói cách khác không nên coi khả năng ngôn ngữ là bộ phận thiên bẩm hoàn toàn độc lập với khả năng tri nhận phổ quát, cơ chế tri nhận ngôn ngữ chỉ là một phần của cơ chế tri nhận phổ quát Nguyên lí này có hai hệ luận quan trọng:

- Thứ nhất là: tri thức ngôn ngữ (tri thức về ý nghĩa và hình thức) về

cơ bản là cấu trúc ý niệm và biểu hiện ý niệm Hơn nữa, các biểu hiện về cú

Trang 18

pháp, từ pháp và âm vị học về cơ bản cũng mang tính ý niệm, bởi vì các âm thanh và các phát ngôn phải được tạo sinh ở đầu ra và nhận hiểu ở đầu vào của các quá trình tri nhận chi phối sự nói viết và nghe đọc - vốn là hai quá trình của giao tiếp ngôn ngữ đều liên quan đến trí não

- Bên cạnh đó, sự tổ chức và trừu xuất tri thức ngôn ngữ không khác

gì nhiều sự tổ chức và trừu xuất các tri thức khác trong trí não và những khả năng tri nhận mà chúng ta ứng dụng khi nói và viết cũng không khác gì những khả năng tri nhận mà chúg ta ứng dụng cho những nhiệm vụ tri nhận khác như tri giác bằng mắt, hoạt động suy luận hay vận động Do đó ngôn ngữ là một khả năng tri nhận của con người và theo quan điểm tri nhận thì ngôn ngữ là sự tri giác thời gian thực và sự tạo sinh theo thời gian các chuỗi đơn vị biểu trưng phân lập được cấu trúc hoá

1.4.2 Ngữ nghĩa và ngữ pháp là sự ý niệm hoá

Ngôn ngữ học tri nhận cho rằng không thể quy cấu trúc ý niệm vào

sự tương ứng đơn giản về điều kiện chân nguỵ đối với thế giới, rằng một phương diện chủ yếu của khả năng tri nhận của con người là sự ý niệm hoá kinh nghiệm để giao tiếp và sự ý niệm hoá các tri thức ngôn ngữ mà chúng

ta có được Cho nên cần nghiên cứu tất vả các phương diện của cấu trúc ý niệm như cấu trúc của các phạm trù, tổ chức của các tri thức và đặc biệt là vai trò chủ đạo của các biến tố và các kết cấu ngữ pháp trong việc cấu trúc kinh nghiệm theo những cách riêng biệt; cũng như quá trình ý niệm hoá ở các hiện tượng ngữ nghĩa từ vựng như đa nghĩa và một số quan hệ từ vựng ngữ nghĩa khác Chính vì vậy, ý kiến, quan niệm của con người về những vấn đề trừu tượng thường được biểu đạt bằng ngôn ngữ thông qua các phương thức ẩn dụ và so sánh

1.4.3 Tri thức ngôn ngữ nảy sinh ra từ việc sử dụng ngôn ngữ

Nguyên lí này đối lập với cả ngữ pháp tạo sinh lẫn ngữ pháp ngữ nghĩa (lôgic), điều kiện chân nguỵ vốn cho rằng sơ đồ và các phạm trù chung, trừu tượng (đôi khi được coi như bẩm sinh) là cái chi phối sự tổ

Trang 19

chức các tri thức ngôn ngữ và quy cho nhiều hiện tượng ngữ pháp và ngữ nghĩa chỉ có tư cách ngoại biên “Ngôn ngữ học tri nhận là (…) một mô hình đầy đủ định hướng vào sự sử dụng và người sử dụng (ngôn ngữ) bao quát các bình diện chức năng,dụng học, tương tác và xã hội – văn hoá của ngôn ngữ trong sử dụng” (Dirven 2003:3, dẫn theo Lý Toàn Thắng – Ngôn ngữ học tri nhận….) Các nhà ngôn ngữ học cho rằng phạm trù và các cấu trúc trong ngữ nghĩa, ngữ pháp, từ pháp và âm vị học đều được xây dựng trên cơ sở sự tri nhận của chúng ta về các phát ngôn riêng biệt trong khi sử dụng chúng

Đó chính là ba nguyên lí cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận Để hiểu

rõ thêm về khuynh hướng ngôn ngữ học này, có thể nêu thêm một số quan điểm sau:

- Ngôn ngữ học tri nhận có một mục đích là nghiên cứu một cách bao quát và toàn diện chức năng tri nhận của ngôn ngữ Theo cách tiếp cận này ngôn ngữ vừa là sản phẩm vừa là công cụ của hoạt động tri nhận của con người

- Nếu trước đây, ngôn ngữ học truyền thống quan niệm rằng ngôn ngữ mở ra cho ta cánh cửa đi vào thế giới khách quan quanh ta thì bây giờ ngôn ngữ học tri nhận cho rằng ngôn ngữ là cửa sổ để đi vào thế giới tinh thần của con người, đi vào trí tuệ của nó, là phương tiện để đạt đến những

bí mật của các quá trình tư duy Với cách tiếp cận mới, các hình thức ngôn ngữ (các đơn vị, các phạm trù…) cần phải được nghiên cứu trong các mối tương liên của chúng với các cấu trúc tri nhận và sự giải thích mang tính tri nhận Đồng thời cần phải chuyển trọng tâm nghiên cứu từ tư duy sang ý thức trong cách hiểu ý thức như là nơi tập trung tất cả vốn kinh nghiệm tinh thần mà một con người tích luỹ được trong suốt đời mình và nó phản ánh những ấn tượng, những cảm giác, những biểu tượng và những hình ảnh dưới dạng các ý niệm hay các ý của một hệ thống ý niệm thống nhất Ý thức ngôn ngữ như là tổng thể của các ý (được gắn kết với hình thức ngôn

Trang 20

ngữ) chỉ là một bộ phận của ý thức nói chung, giống như tư duy chỉ là một

bộ phận bao hàm các quá trình tinh thần được thực hiện trong ý thức Chính trong khi nghiên cứu ý thức, người ta phải khảo sát mối liên hệ của nó với hiện thực được lĩnh hội qua các ý niệm và khảo sát bản chất của các ý niệm đặc trưng cho ý thức này; nói cách khác, người ta phải quan tâm đến các quá trình ý niệm hoá và phạm trù hoá thế giới khách quan – là những lĩnh vực được nghiên cứu kĩ lưỡng nhất và thành công nhất của ngôn ngữ học tri nhận nói chung và ngữ nghĩa học tri nhận nói riêng

- Ngữ nghĩa không phải được xây dựng trên cơ sở các điều kiện khách quan có giá trị chân nguỵ, nó không hề đối ứng với thế giới khách quan bên ngoài mà đối ứng với thế giới phi khách quan được phóng chiếu lại trong ý thức và đồng thời có quan hệ trực tiếp với cấu trúc ý niệm được ước định trong đó Sự hình thành các cấu trúc ý niệm này có quan hệ chặt chẽ với kinh nghiệm và các chiến lược tri nhận của con người

- Ý nghĩa của ngôn ngữ không hạn chế trong nội bộ hệ thống ngôn ngữ mà nó có nguồn gốc sâu xa từ kinh nghiệm được hình thành trong qúa trình con người và thế giới tương tác với nhau, và từ tri thức và hệ thông niềm tin của con người Vì thế trong nghiên cứu ngữ nghĩa không nên hoàn toàn tách rời tri thức ngữ nghĩa “đời thường” với tri thức bách khoa bởi ngữ nghĩa là một bộ phận của hệ thống ý niệm tổng thể chứ không phải là một “module” tự trị độc lập

- Vì chức năng cơ bản của ngôn ngữ là chuyển tải ý nghĩa nên những

sự khác biệt về hình thức phải phản ánh những sự khác biệt về ngữ nghĩa

Cú pháp không tự trị hay độc lập như ngữ pháp tao sinh quan niệm mà chịu

sự tác động của các nhân tố ngữ nghĩa, ngữ dụng, tri nhận…; cấu trúc cú pháp bề mặt có quan hệ đối ứng trực tiếp với cấu trúc ngữ nghĩa bề sâu Kết cấu ngữ pháp là sự kết hợp giữa ý nghĩa và hình thức, có vị trí tri nhận đích thực chứ không phải là hiện tượng phụ được tạo ra trong quá trình thực hiện các quy tắc tạo sinh hay quy tắc phổ quát Ngữ pháp do đó nên không

Trang 21

được coi là một hệ thống quy tắc mà là một bảng danh mục các biểu hiện

có cấu trúc nội tại được tạo thành bởi sự kết hợp ý nghĩa và hình thức

1.5 “Ý niệm” và ẩn dụ ý niệm trong ngôn ngữ học tri nhận

1.5.1 Khái niệm “ý niệm” trong ngôn ngữ học tri nhận

Theo Ju.X.Xtepanov: “Ý niệm tựa như một khối kết đông của nền văn hoá trong ý thức của con người, dưới dạng của nó nền văn hoá đi vào thế giới ý thức (tư duy) của con người, và, mặt khác, ý niệm là cái mà nhờ

đó con người bình thường, không phải là người “sáng tạo ra những giá trị văn hoá”; và trong một số trường hợp nhất định có tác động đến văn hoá” [Dẫn theo 15, 61] Ý niệm khác với quan niệm Theo Trần Trương Mỹ Dung (tr 62), ý niệm và quan niệm khác nhau ở những nội dung cơ bản sau:

- Ý niệm là sự kiện của lời nói, được hiện thực hoá qua lời nói Ý niệm gắn chặt với người nói và luôn định hướng đến người nghe Người nói và người nghe là hai bộ phận cấu thành nên ý niệm

- Ý niệm mang tính chủ quan với nghĩa nó là một mảng của “bức tranh thế giới”, nó phản ánh thế giới khách quan qua lăng kính của ý thức ngôn ngữ dân tộc Do đó, ý niệm mang tính dân tộc một cách sâu sắc

- Ý niệm là đơn vị của tư duy (ý thức) của con người Hai thuộc tính không thể tách rời nhau của ý niệm là trí nhớ và tưởng tượng Khác với khái niệm, ý niệm không chỉ mang đặc trưng miêu tả mà còn có cả đặc trưng tình cảm - ý chí và đặc trưng hình ảnh (hình tượng) Ý niệm không chỉ suy nghĩ mà còn cảm xúc Nó là kết quả của sự tác động qua lại của một loạt những nhân tố như truyền thống dân tộc, sáng tác dân gian, tôn giáo, hệ tư tưởng, kinh nghiệm sống, hình tượng nghệ thuật, cảm xúc và hệ thống giá trị Ý niệm tạo ra một lớp văn hoá trung gian giữa con người và thế giới Ý niệm chứa đựng ba thành tố: thành tố khái niệm, thành tố cảm

Trang 22

xúc - hình tượng và thành tố văn hoá Hai thành tố sau mang tính dân tộc sâu sắc

Như vậy, ý niệm là đơn vị tinh thần hoặc tâm lí của ý thức chúng ta,

là đơn vị nội dung của bộ nhớ động, của từ vựng tinh thần và của ngôn ngữ

bộ não, của toàn bộ bức tranh thế giới được phản ánh trong tâm lí con người Các ý niệm nảy sinh trong quá trình cấu trúc hoá thông tin về một sự tình khách quan trong thế giới, cũng như về những thế giới tưởng tượng và

về sự tình khả dĩ trong những thế giới đó Các ý niệm quy cái đa dạng của những hiện tượng quan sát được và tưởng tượng về một cái gì đó thống nhất, đưa chúng vào một hệ thống và cho phép lưu giữ những kiến thức về thế giới

Ý niệm được sử dụng trong Luận văn chúng tôi đồng nhất với nghĩa quan niệm Vì vậy, chúng tôi đã sử dụng quan niệm có nghĩa là nó được soi

chiếu từ góc độ ý niệm của ngôn ngữ học tri nhận

1.5.2 Ẩn dụ ý niệm

Ẩn dụ là một phương thức tư duy Ẩn dụ nhờ sự giống nhau giúp ta nhìn thấy đối tượng này thông qua đối tượng khác Chức năng nhận thức của ẩn dụ thể hiện ở chỗ nó không chỉ hình thành biểu tượng về đối tượng

mà còn quy định cả phương thức và phong cách tư duy về đối tượng

Ẩn dụ là quá trình tri nhận phổ biến nhất, nổi trội nhất nhằm liên kết khái niệm với ngôn ngữ, nó không tồn tại trong bản thân ngôn ngữ mà trong chính tâm trí chúng ta Theo quan niệm của Ngôn ngữ học tri nhận,

ẩn dụ không chỉ là một phương thức phát triển nghĩa của từ mà nó còn là một công cụ tri nhận mạnh mẽ để ý niệm hoá các phạm trù trừu tượng

Theo tác giả của công trình Ngôn ngữ học tri nhận (ghi chép và suy nghĩ): “Ẩn dụ tri nhận (hay còn gọi là ẩn dụ ý niệm - cognitive/conceptual metaphor) - đó là một trong những hình thức ý niệm hoá, một quá trình tri nhận có chức năng biểu hiện và hình thành những ý niệm mới và không có

Trang 23

nó thì không thể nhận được tri thức mới Về nguồn gốc, ẩn dụ tri nhận đáp ứng năng lực của con người nắm bắt và tạo ra sự giống nhau giữa những cá thể và những lớp đối tượng khác nhau Ẩn dụ là một cơ chế tri nhận nhờ đó những tri giác liên tục, tương tự đã trải qua quá trình phạm trù hoá được đánh giá lại trong những bối cảnh ý niệm mới ( ), ẩn dụ đựơc xem như là cách nhìn một đối tượng này thông qua một đối tượng khác và với ý nghĩa

đó, ẩn dụ là một trong những phương thức biểu tượng tri thức dưới dạng ngôn ngữ” [14, 293 – 294]

Lakoff và Johnson (1980) cho rằng: “Ẩn dụ toả khắp đời sống hàng ngày, không chỉ trong ngôn ngữ mà cả trong tư tưởng, hành động Xét về cách chúng ta suy nghĩ và hành động, hệ thống khái niệm thông thường của chúng ta về bản chất mang tính ẩn dụ” [32, 12]

Như vậy, từ góc độ tri nhận luận, ẩn dụ ý niệm là một sự “chuyển di” (transfer) hay một sự “đồ hoạ” (mapping) cấu trúc và các quan hệ nội tại của một lĩnh vực hay mô hình tri nhận nguồn (source) sang một lĩnh vực hay mô hình tri nhận đích (target) [Lakoff và Johnson; Dẫn theo 53, 223]

Lakoff, Johnson chia ẩn dụ ý niệm thành nhiều loại khác nhau: ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ bản thể, ẩn dụ kênh liên lạc Ẩn dụ cấu trúc (structural metaphor - một loại ẩn dụ ý niệm) là loại ẩn dụ khi nghĩa (hoặc giá trị) của một từ hay một biểu thức này được hiểu (được đánh giá) thông qua cấu trúc của một từ (hoặc một biểu thức khác) Kiểu ẩn dụ này thường sử dụng kết quả của quá trình biểu trưng hoá (vật thể và ngôn ngữ) và của sự liên tưởng [Dẫn theo 13, 294 – 295]

Ẩn dụ cấu trúc xuất hiện với tần suất cao trong ca dao người Việt xứ Nghệ viết về quan hệ gia đình và hôn nhân Kiểu ẩn dụ này góp phần phản ánh một cách sâu sắc quan niệm của người Việt xứ Nghệ về mối quan hệ này

Trang 24

Tiểu kết

Ca dao xứ Nghệ là sản phẩm tinh thần vô giá, sản phẩm nghệ thuật ngôn từ của người dân xứ Nghệ Ngoài những nét chung trong mạch nguồn của dân tộc, với những đặc thù về thiên nhiên, con người và truyền thống văn hóa, ca dao Nghệ Tĩnh đã phản ánh những nét độc đáo riêng, mang bản sắc của những người dân ở mảnh đất Lam Hồng

Ngôn ngữ là phương tiện của giao tiếp, là công cụ của tư duy và nhân thức Với tư cách vừa là sản phẩm, vừa là công cụ trong hoạt động tri nhận của con người, ngôn ngữ đã phản ánh quan niệm của cộng đồng sử dụng ngôn ngữ về từng vấn đề trong các lĩnh vực cụ thể Ca dao xứ Nghệ trong chủ đề về quan hệ gia đình và hôn nhân đã cho chúng ta thấy được quan niệm của người dân nơi đây về vấn đề đó Ý niệm niệm về hôn nhân

và quan hệ gia đình được phản ánh bằng nhiều phương tiện ngôn ngữ khác nhau như từ, cấu trúc nghĩa biểu hiện, trường từ vựng ngữ nghĩa…bằng các phương thức khác nhau như ẩn dụ, so sánh…

Quan niệm của cộng đồng sử dụng ngôn ngữ phản ánh mối quan hệ mật thiết giữa ngôn ngữ - văn hoá – tư duy, nhận thức Nó chính là kết quả của quá trình trải nghiệm và nhận thức và cũng là cách nhìn thế giới của con người Quan niệm được hiện thực hoá qua ngôn ngữ thông qua các phương tiện khác nhau: từ, ngữ, câu, văn bản, thể hiện qua các phương thức

so sánh, ẩn dụ Vì vậy, muốn xác định quan niệm của một cộng đồng ngôn ngữ - văn hoá nào đó, không thể không xuất phát từ việc tìm hiểu phương tiện ngôn ngữ

Trang 25

Chương 2 QUAN NIỆM CỦA NGƯỜI NGHỆ TĨNH VỀ HÔN NHÂN VÀ QUAN

HỆ GIA ĐÌNH QUA CẤU TRÚC NGHĨA BIỂU HIỆN

2.1 Câu – đơn vị nghiên cứu nghĩa

Câu là một đối tượng nghiên cứu được đặt ra từ rất lâu Trong ngữ pháp truyền thống, thuật ngữ “câu” được dùng để chỉ cái đơn vị ngữ pháp lớn nhất là đối tượng nghiên cứu của ngữ pháp Câu đơn vốn được hiểu là đơn vị được làm thành từ một mệnh đề, câu ghép thì được làm thành từ hơn một mệnh đề Nhưng “mệnh đề” là thuật ngữ của lôgic Hai nhà ngữ pháp Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê đã cố gắng tách “mệnh đề của ngôn ngữ” ra khỏi “mệnh đề của lôgic” bằng cách dùng tên gọi “cú” như là một tên gọi của mệnh đề ngôn ngữ [Dẫn theo 1, 15]

Theo cách hiểu chung nhất hiện nay câu (sentence) là đơn vị lớn nhất của mặt cấu trúc trong tổ chức ngữ pháp của một ngôn ngữ Còn cú (clause) được làm thành từ một khúc đoạn ngôn ngữ tập trung chung quanh một vị tố, và được dùng để diễn tả một sự thể (sự việc) “Câu hay cú đều có thể định nghĩa gồm ba yếu tố như sau: câu (hay cú) là đơn vị lớn nhất của mặt cấu trúc trong tổ chức ngữ pháp của một ngôn ngữ, được làm thành từ một khúc đoạn ngôn ngữ tập trung chung quanh một vị tố, và được dùng để diễn đạt một sự thể (hay một sự việc) Định nghĩa này không tính đến đặc thù của ngôn ngữ cụ thể, không gắn với dạng nói hay dạng viết của ngôn ngữ và cũng chưa tính đến các chức năng khác, ngoài chức năng nghĩa biểu hiện” [1, 17]

Trong Luận văn này, nghĩa phản ánh, nghĩa biểu hiện của “câu” được chúng tôi sử dụng đồng nhất với nghĩa biểu hiện của “cú”

2.1.1 Câu và nghĩa biểu hiện của câu

“Câu là đơn vị cơ bản của lời nói, của ngôn từ, của văn bản” (Benveniste, 1961), [Dẫn theo 24, 12] Nó là đơn vị nhỏ nhất có thể sử

Trang 26

dụng vào việc giao tiếp Nói cách khác, câu là ngôn bản (văn bản) nhỏ nhất

Về phương diện cấu trúc, nó là cái phạm vi lớn nhất của những mối quan hệ ngữ pháp chính danh “Tất cả các quan hệ ngữ pháp có thể có được đều chỉ có trong phạm vi câu Trong những ngôn từ hay văn bản gồm hai câu trở lên, giữa câu này với câu kia có thể có nhiều mối quan hệ về đề tài,

về ý tứ, nhưng không thể có mối quan hệ ngữ pháp, nhưng nó không thể làm thành tố ngữ pháp trong một đơn vị nào lớn hơn” (Bloomfield 1933: 170), [Dẫn theo 23, 12]

Về phương diện chức năng, câu là “sự thể hiện ngôn ngữ học của một mệnh đề (proposition) Nó là đơn vị mà ngôn ngữ dùng để biểu hiện một nhận định gồm có một chủ đề được kết hợp với một điều nói về chủ đề đó” (Sapir 1921 : 35), [Dẫn theo 23, 28]

Đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về câu Theo quan niệm của giáo sư Đỗ Thị Kim Liên : „„Câu là đơn vị dùng từ đặt ra trong quá trình suy nghĩ nhằm thực hiện chức năng thông báo hay bộc lộ thái độ, cảm xúc Câu có cấu tạo ngữ pháp độc lập, có ngữ điệu kết thúc và được gắn với ngữ

cảnh nhất định” (Bài giảng chuyên đề Ngữ pháp đại cương cho Cao học

khoá 17, Trường Đại học Vinh)

Phần lớn các tác giả phương Tây đều cho rằng nội dung của bình diện nghĩa của câu (và của ngôn ngữ) là cái phần phản ánh (biểu hiện, miêu tả) những cái mảng của thế giới hiện thực (hay một thế giới nào khác ở bên ngoài ngôn ngữ) Đây thật ra chỉ là một mặt của nghĩa - mặt cảm thụ và mặt

tư duy – nhưng bao giờ cũng được phản ánh trong ngôn ngữ xuyên qua hai mặt này

Nghĩa biểu hiện phản ánh cái sự tình của thế giới được nói đến trong câu Tất nhiên câu nói (câu văn) không sao phỏng y nguyên cái sự tình đó Khi đã được sắp xếp lại theo các tri giác của người nói, được tổ chức lại thành một cấu trúc lôgíc ngôn từ, được tuyến tính hoá lại theo những quy

Trang 27

tắc ngữ pháp của câu, được tình thái hoá ở nhiều cấp theo thái độ của người nói, cái hình ảnh mà người nói dùng để truyền đạt sự tình cho người nghe một mặt được giản lược đi và mặt khác lại được trang trí thêm nhiều yếu tố chủ quan của người nói

2.1.2 Các bình diện nghĩa trong câu

Câu là đơn vị nhỏ nhất của ngôn từ bao hàm ba bình diện: bình diện nghĩa học, bình diện cú pháp và bình diện dụng pháp

Bình diện dụng pháp là bình diện của việc sử dụng ngôn từ trong những tình huống giao tiếp cụ thể, trong những cuộc đối thoại cụ thể, trong những văn cảnh cụ thể

Bình diện cú pháp là bình diện tổ chức câu theo các quy tắc thuần tuý, là “bình diện của những khái niệm được xác định bằng các tiêu chuẩn hình thức thuần tuý” [23, 21]

Bình diện nghĩa học là bình diện phản ánh thế giới khả hữu thông qua nhận thức của con người “Bình diện nghĩa học theo quan niệm này là bình diện của “sự tình” được biểu thị và những “vai trò” tham gia cái sự tình ấy Ở đây, ta sẽ có những tham tố (participants) của sự tình, gồm có những diễn tố (actants) và những chu tố (circumstants - “những kẻ đứng xung quanh”) Các diễn tố là những vai trò tất yếu được giả định sẵn trong nghĩa từ vựng của vị từ ( ) Các chu tố làm thành cái cảnh trí ở xung quanh các tham tố, nó không được giả định một các tất nhiên trong khung

vị ngữ” [23, 21] Bản chất của phần nghĩa này là miêu tả thế giới khách quan trong nhận thức của người nói, viết Nội dung này được gọi chung là kinh nghiệm

Kinh nghiệm của con người bao gồm kinh nghiệm “bên ngoài” (outer experience) và kinh nghiệm “bên trong” (inter experience) “Hình thức nguyên sơ của kinh nghiệm “bên ngoài” là kinh nghiệm về các hành động và sự kiện: đó là những điều xảy ra, là con người hoặc những hành thể khác thực hiện hành động, hay tác động làm cho chúng xảy ra Kinh

Trang 28

nghiệm “bên trong” khó phân loại hơn; nhưng một phần nó là một kiểu thể hiện lại kinh nghiệm bên ngoài, ghi lại nó, phản ứng lại nó và một phần, nó

là ý thức riêng biệt về trạng thái tồn tại của con người” (Halliday, 1994), [Dẫn theo 74, 15] Loại kinh nghiệm thứ ba được phản ánh trong ngữ pháp chức năng là mối liên hệ giữa mảng này và mảng kia của thế giới kinh nghiệm vừa nêu Đó là quá trình phân loại (classifying) và đồng nhất (indentifying) hay quá trình quan hệ (relational)

2.1.3 Các loại câu xếp theo cấu trúc nghĩa

Theo các tiêu chí khác nhau, nghĩa biểu hiện của câu được phân thành các loại khác nhau Với các tiêu chí động và tiêu chí chủ ý, tác giả cuốn “Tiếng Việt - Sơ thảo ngữ pháp chức năng” xác định bốn loại câu xếp theo cấu trúc nghĩa: (i) Câu chỉ hành động,(ii) Câu chỉ quá trình,(iii) Câu chỉ trạng thái và (iv) Câu chỉ quan hệ

Nghĩa biểu hiện của loại câu chỉ quan hệ chứa đựng những vấn đề lí thú về phương diện lô-gích cũng như về phương diện ngôn ngữ học Thường thường các câu chỉ quan hệ được các nhà ngôn ngữ học xếp thành những tiểu loại trong đó loại câu định tính, định vị, đẳng thức, hoặc giả một trong những quan hệ ý nghĩa được tách ra thành một loại riêng ngang hàng với các loại lớn “Một câu chỉ quan hệ nhất thiết phải có hai vế” [23, 448]

và “Đề chỉ quan hệ, tiếng Việt dùng những vị từ chỉ quan hệ như hơn, kém, bằng, (cũng) như, giống, khác, đồng nhất (với), xa, gần, sát và những danh

từ chỉ quan hệ như trên, dưới, trong, ngoài, trước, sau, giữa” [23, 448]

Nghĩa biểu hiện của câu chỉ quan hệ được phân chia thành nhiều loại

khác nhau Theo tác giả Tiếng Việt: Sơ thảo ngữ pháp chức năng gồm các

loại sau:

 Quan hệ giữa một thực thể với một thực thể

 Quan hệ giữa một thực thể với một chu cảnh

 Quan hệ giữa hai sự tình

 Quan hệ giữa sự tình với chu cảnh

Trang 29

Chúng tôi dựa vào cách phân loại này để nghiên cứu quan hệ hôn nhân và gia đình trong ca dao Nghệ Tĩnh

Quan hệ giữa một thực thể với một thực thể gồm ba loại: (i) quan hệ

so sánh (A cũng như B, A giống B, A bằng B…), (ii) quan hệ đồng nhất (A

là B, A không phải là B…) và (iii) Quan hệ tương liên (A là của B, A ở trong B, A ở bên B…)

Quan hệ giữa hai sự tình có thể là: (a) Quan hệ thời gian (X diễn ra đồng thời với Y, X diễn ra sau Y…) và (b) Quan hệ tương tác (X làm cho

Y, X là mục đích của Y…)

Trong ca dao về hôn nhân và quan hệ vợ chồng, câu chỉ quan hệ có hiện tượng đặc biệt nhưng khá phổ biến Đó là quan hệ này được phản ánh bằng cấu trúc chỉ quan hệ so sánh, nhưng không hoàn toàn là so sánh giữa một thực thể với một thực thể mà mỗi thực thể (A hoặc B) được biểu đạt bằng một ngữ đoạn và phản ánh một sự tình Chính vì vậy, cấu trúc này được hiểu như là quan hệ so sánh giữa hai sự tình với nhau

Trai chưa vợ như chợ chưa có đình,

Khi mưa to gió nậy (lớn) biết ẩn mình vào nơi đâu

Yếu tố (cái so sánh) A được biểu đạt bằng ngữ đoạn trai chưa vợ và yếu tố B (cái được so sánh) được biểu đạt bằng ngữ đoạn chợ chưa có đình

Câu chỉ quan hệ là hiện tượng phổ biến trong trong mảng ca dao chỉ

quan hệ hôn nhân và vợ chồng trong Kho tàng ca dao xứ Nghệ, trong đó

câu chỉ quan hệ so sánh là loại có cấu trúc đặc biệt (như đã nêu ở trên) và chiếm tỷ lệ cao nhất Cấu trúc này cũng phản ánh rõ nét nhất quan niệm của người dân xứ Nghệ về hôn nhân

Trong câu chỉ quan hệ giữa một thực thể với một thực thể, giữa hai

sự tình có kiểu câu chứa vị tố là từ chỉ quan hệ không dùng độc lập Theo

tác giả cuốn Ngữ pháp tiếng Việt (2005): “Các vị tố do những từ chỉ quan

hệ không dùng độc lập đảm nhiệm có thể gọi chung là vị tố - hư từ, phân biệt với trợ động từ là và hư từ không làm vị tố Trong câu với chức năng

Trang 30

vị tố, các hư từ này vẫn là động từ chính (main verb) của câu; xét về từ loại, chúng có tư cách của những động từ thứ (minor verb) Các kiểu quan

hệ do các vị tố hư từ diễn đạt khá phong phú và gắn với những hư từ cụ thể ” [1, 97 – 98]:

- Thương ai nước mắt nỉ non,

Như vợ chú lính, đứng hòn núi trông

- Áo không khô bởi vì áo ướt,

Vì chàng chậm bước, nên thầy mẹ gả trước em đi

Hai câu ca dao trên đều sử dụng vị tố - hư từ “như” và “vì…nên” với hai kiểu quan hệ

Thương ai nước mắt nỉ non, như vợ chú lính đứng hòn núi trông chứa đựng quan hệ A như B, trong đó A và B là hai sự tình Áo không khô bởi vì áo ướt, vì chàng chậm bước, nên thầy mẹ gả trước em đi có cặp vị tố

- hư từ “vì…nên” Đây là cặp vị tố - hư từ chỉ quan hệ nguyên nhân – kết

quả với hai sự tình cụ thể

Trong số các kiểu quan hệ do các vị tố hư từ diễn đạt đó, ở mảng ca dao viết về hôn nhân của người Việt xứ Nghệ, vị tố hư từ “như” và cặp vị

tố hư từ “vì… nên”, “có… thì…” có tần số xuất hiện cao nhất Ở đây, chúng tôi chỉ trình bày một số vấn đề liên quan đến câu chứa các vị tố này

2.2 Quan niệm của người Nghệ Tĩnh về hôn nhân biểu hiện qua cấu trúc nghĩa phản ánh

Trong tâm thức của người Việt nói chung và người dân xứ Nghệ nói riêng hôn nhân và tổ ấm gia đình luôn giữ vai trò vô cùng quan trọng, không chỉ là cơ sở để duy trì nòi giống mà là điểm tựa vững chắc cho tương lai mỗi con người Trong ca dao, nhân vật trữ tình có thể tự độc thoại nội tâm, cũng có thể là sự bày tỏ với người xung quanh hoặc phản ánh quan niệm, cách nhìn nhận, cách đánh giá cả cộng đồng xã hội nhưng tất cả đều

Trang 31

là những nỗi niềm sâu lắng những thổn thức từ tận đáy lòng và đã trở thành

Có khi, lời bộc bạch của người dân xứ Nghệ lại thể hiện một cách chân thành, trực tiếp mà không kém phần sâu sắc:

Nỏ tham chi lúa chi tiền, Tham anh một chút mẹ hiền mà thôi

Người con gái xứ Nghệ đã giải thích rõ nguyên nhân để đi đến hôn

nhân ở đây chính là vì mẹ hiền, vì đạo đức, vì nhân cách của con người

Trên cỏ sở đó, chủ thể trữ tình ở đây đã phủ nhận quan điểm hôn nhân vì

vật chất, hôn nhân có sự sắp đặt của cha mẹ và vì môn đăng hộ đối

Như vậy, tất cả những điều này đều là những lời bộc bạch của người dân xứ Nghệ, phản ánh cách nghĩ, cách tư duy hay nói chính xác hơn là quan điểm của người dân đất Lam Hồng đối với hôn nhân

Mỗi một ý niệm, mỗi một cảm xúc đòi hỏi một phương thức biểu hiện của ngôn ngữ Phương thức biểu đạt ý niệm của người Nghệ về hôn nhân rất phong phú và đa dạng Tuy nhiên, trong khuôn khổ của phần này chúng tôi chỉ tìm hiểu quan niệm của người Nghệ qua một số cấu trúc nghĩa có tần số xuất hiện cao nhất

Khảo sát hơn 400 bài ca dao trong phần hôn nhân và quan hệ gia đình chúng tôi đã thấy cố 1 số câu ca dao đề cập rõ về hôn nhân Trong số

đó có 15 câu so sánh A như B và 20 câu tồn tại dưới dạng nguyên nhân -

Trang 32

kết quả (vì A nên B) Từ các nội dung phản ánh đó, quan niệm, cách nghĩ của người dân xứ Nghệ được bộc lộ một cách rõ nét

2.2.1 Hôn nhân có tính tất yếu đối với con người

Tất yếu có nghĩa là: “1 Tất phải như thế, không thể khác được (nói

về những cái có tính quy luật) 2 Nhất thiết phải có, không thể thiếu để có được một kết quả, một tác dụng nào đó” [56, 902] Đặc tình này thể hiện

rõ trong tâm thức người Nghệ qua cấu trúc so sánh “A như B” và cấu trúc

có nghĩa so sánh không có “như”

2.2.1.1 Tính tất yếu của hôn nhân được biểu đạt qua cấu trúc

so sánh “A như B”

Kiểu quan hệ so sánh được thiết lập trên cơ sở mối quan hệ giữa cái

so sánh A và cái được so sánh B Dựa vào sự tương đồng nào đó về các nét nghĩa hiện hữu chung trong A và B cấu trúc so sánh này làm nổi bật bản chất của A, giúp người nghe có sự tri nhận cụ thể, sinh động hơn về các đặc trưng của thực thể A

Tuy nhiên, như chúng tôi đã đề cập, khác với dạng so sánh thực thể

A và thực thể B thông thường, xét những câu so sánh nói về hôn nhân của người dân xứ Nghệ, chúng tôi thấy hầu hết A và B đều được được đạt bằng ngữ đoạn và phản ánh các sự tình khác nhau

…Gái không chồng như cóc có đuôi

Cóc có đuôi cóc còn nhảy được

Gái không chồng chạy ngược chạy xuôi

- Trùng triềng như nón không quai,

Như thuyền không lái như ai không chồng

A (gái không chồng) như B (cóc có đuôi)

Cấu trúc so sánh “sự tình A như sự tình B” trong ca dao về hôn nhân

và gia đình có hai trường hợp phổ biến: (i) “Sự tình A như sự tình B”, trong

đó sự tình A (cái so sánh) là sự tình chỉ tình trạng hôn nhân (gái không chồng, trai chưa vợ…) còn sự tình B (cái được so sánh) chỉ sự tình không

Trang 33

phải là quan hệ này (cóc có đuôi, chợ chưa có đình…) và (ii) “sự tình A

như sự tình B”, trong đó A (cái so sánh) chỉ một nhận định về sự tồn tại

khách quan ngoài quan hệ hôn nhân (trùng triềng như nón không quai, như thuyền không lái…) và B (cái được so sánh) chỉ quan hệ hôn nhân (ai không chồng…)

(i) Trường hợp thứ nhất: sự tình A (cái so sánh chỉ tình trạng hôn nhân) như sự tình B (cái được so sánh là hiện thực ngoài hôn nhân)

Trong trường hợp này chúng ta cần tìm hiểu B để thấy được A Giá trị của A có được là nhờ đặt trong sự so sánh với giá trị B, toát lên từ B

…Gái không chồng như cóc có đuôi…

Cóc là loài vật không có đuôi “Cóc có đuôi” là hiện tượng lạ lùng, trái với quy luật tự nhiên Chính vì vậy, cấu trúc so sánh này phản ánh “gái không chồng” là chuyện khác biệt, là hiện tượng bất bình thường đối với mọi người Điều này khẳng định tính tất yếu phải kết hôn, phải có chồng của người con gái đến tuổi trưởng thành

“Cóc có đuôi” cũng chỉ mới phản ánh được tính bất bình thường về

bề ngoài của nó trong nhận thức của con người; “gái không chồng” còn

không như “cóc có đuôi” ở bình diện hoạt động

… Cóc có đuôi vẫn còn nhảy được Gái không chồng chạy ngược chạy xuôi

Sự dị dạng bất thường của “cóc có đuôi” là khó có thể chấp nhận được song nó vẫn tiếp tục tồn tại, vẫn có ích vẫn làm chủ được chính mình Thế nhưng người phụ nữ không chồng lại trở nên mất phương hướng, không đơn giản là “dị dạng” ở hình thể mà còn bất thường trong cả hành động, sinh hoạt - “chạy ngược chạy xuôi”, hoạt động không định hướng của chủ thể Điều đó càng khẳng định mức độ cao của tính tất yếu phải có chồng đối với người con gái trong xã hội

Tính tất yếu có chồng đối với người con gái trong ca dao xứ Nghệ con được thể hiện:

Trang 34

…Gái không chồng như nón không quai…

Cái được so sánh với “gái không chồng” ở đây là “nón không quai”

Nón vốn được xem là một trong những đặc trưng văn hóa của người Việt

Nam Nón lá dùng để che mưa, che nắng, gắn liền với các hoạt động lao động xản suất của người dân Việt Nam Mặt khác nó còn là vật trang sức rất có duyên mang nét trữ tình thầm kín của người con gái Việt Nam và gắn

với trang phục truyền thống của người dân Việt Nam Nón chỉ thực hiện

được chức năng và giá trị của nó khi có đầy đủ hai bộ phận là phần nón và quai nón Mặc dù phần nón đóng vai trò chính trong việc che nắng, che mưa và tạo nên linh hồn của nét duyên thầm kín nhưng nó khó có thể thực hiện được nếu không có quai nón Chiếc quai bé nhỏ có phần giản đơn nhưng lại đóng vai trò là sợi dây kết nối giữa con người với nón Người phụ nữ không chồng được so sánh với “nón không quai”, so sánh này đã khẳng định một điều rằng, không có hôn nhân người phụ nữ trở nên mất giá trị và thậm chí là vô dụng Giá trị của người phụ nữ cũng như chiếc nón kia chỉ có thể khẳng định khi có “quai” – nghĩa là phải có chồng, phải gắn với hôn nhân

Gái phải có chồng, có đôi, có cặp được coi như là một tất yếu trong

ca dao Nghệ Tĩnh Người con trai cũng cần có đôi, có cặp

Trai chưa vợ như chợ chưa có đình,

Khi mưa to gió nậy (lớn) biết ẩn mình vào nơi đâu

“Đình” là một bộ phận của chợ và tạo nên sự hoàn chỉnh cho chợ

Yếu tố chưa tiền giả định tính tất yếu của có Chợ phải có đình Có đình, chợ mới là chợ Đình tạo nên giá trị cho chợ Bởi đình là vị trí trung tâm

nhất, là nơi được trưng bày các sản phẩm hàng hóa có giá trị Những loại hàng hóa nhỏ lẻ khác thường được trưng bày ở các lều nhỏ hoặc ở giữa sân chợ.Vì thế chợ không có đình thì không được xem là chợ lớn, có vị thế và sức hút So sánh “trai chưa vợ” với “chợ chưa có đình” – người dân muốn khẳng định rằng chưa có hôn nhân người con trai chưa được xem là người

Trang 35

trưởng thành Mặt khác, hôn nhân với người con trai còn là điểm tựa tinh thần rất quan trọng:

Khi mưa to gió nậy biết ẩn mình vào nơi đâu

Cuộc đời có biết bao biến cố, thăng trầm, có lúc gặp mưa to gió lớn,

có khi phải đối mặt với biết bao khó khăn trắc trở, gian truân, chính những lúc ấy gia đình là bến đỗ bình an nhất cho người con trai trú ngụ và tiếp thêm sức mạnh để vượt qua tất cả Như vậy, trong hành trình bôn ba lập công, ghi danh để họ có thể trả nợ tang bồng gia đình cũng đóng vai trò hết sức quan trọng đối với người đàn ông

Như vậy, với cấu trúc so sánh A như B khi A (cái so sánh chỉ tình trạng

hôn nhân) như sự tình B (cái được so sánh là hiện thực ngoài hôn nhân), ca dao xứ Nghệ đã thể hiện rõ tính tất yếu có vợ đối với người con trai và có

chồng đối với người con gái

(ii) Trường hợp thứ hai: “sự tình A như sự tình B”, trong đó A (cái

so sánh) chỉ một nhận định về sự tồn tại khách quan ngoài quan hệ hôn nhân và B chỉ quan hệ hôn nhân

Trùng triềng như nón không quai,

Như thuyền không lái như ai không chồng

Ở đây có sự thay đổi kết cấu so với cấu trúc trên và tồn tại ở dạng so sánh chùm Đối tượng được nhắc hai lần là A So sánh này đã dựa trên sự

đồng nhất giữa đặc tính A và B là “trùng triềng” Trùng triềng có nghĩa là

“ở trạng thái nghiêng qua nghiêng lại, không giữ được thăng bằng” [56,

1039] Trùng triềng là đặc tính của nón không quai và thuyền không lái, nhưng đồng thời cũng phản ánh trạng thái của ai không chồng Ai với nghĩa

là mọi người, nó là cách khẳng định rằng tất cả những người (con gái)

không chồng đều có trạng thái trùng triềng của nón không quai, của thuyền

không lái Cách nói giàu giá trị tạo hình và biểu cảm này giúp chúng ta thấy

rõ sự chống chếnh, mất cân bằng trong cuộc sống và trong tâm hồn của người phụ nữ khi không đi theo quy luật bình thường trong cuộc sống

Trang 36

Chính vì thế, khi đến với hôn nhân, giá trị của con người thực sự được thừa nhận:

Tục rằng: gấm có thêu hoa, Như loan có phượng, như ta có mình

Cũng giống như cấu trúc so sánh phủ định (không chồng, không có

hôn nhân) đã khảo sát ở trên, gấm có thêu hoa và loan có phượng được so sánh với ta có mình Tuy nhiên cấu trúc này lại phản ánh giá trị của tình trạng có hôn nhân Gấm là sản phẩm hàng hóa vô cùng quý giá của con người Nó được dệt bằng tơ, có nhiều màu, có hình hoa lá Gấm thường không thể thiếu hoa bởi vì chỉ có hoa trong gấm mới làm nên giá trị và mới tôn vinh được sản phẩm hàng hóa này Cũng như thế, chim phượng là chúa của loài chim Loan là chim phượng hoàng mái Loan – phượng luôn ở bên

nhau và từ rất lâu nó là biểu tượng của hạnh phúc, của cái đẹp Hai sự tình

này được so sánh với “ta có mình” Hạnh phúc khi có nhau trong hôn nhân

được ví với những gì cao quý nhất, đẹp đẽ nhất trong những cặp đôi không thể chia cắt Chính sự tồn tại thành từng đôi, từng cặp này là cơ sở để nâng giá trị cho nhau

Với cấu trúc so sánh ẩn dụ A như B và bằng cách chuyển vị trí của

hôn nhân từ yếu tố A sang yếu tố B và ngược lại, dựa trên những nét tương đồng nhất định, cộng đồng người dân xứ Nghệ đã bày tỏ quan điểm của mình: hôn nhân có tính tất yếu đối với con người Đến với hôn nhân khi đã trưởng thành là tuân thủ theo quy luật của cuộc sống Không hôn nhân con người sẽ bất thường và mất giá trị

2.2.1.2 Tính tất yếu của hôn nhân đƣợc biểu đạt qua cấu trúc so sánh không có “nhƣ”

Ngoài việc khẳng định hôn nhân có tính tất yếu với con người qua cấu trúc A như B, đặc trưng này của con người xứ Nghệ còn được thể hiện quan niệm này qua cấu trúc nghĩa so sánh không có hư vị từ so sánh “như”:

Cau không buồng ra tuồng cau đực,

Trang 37

Gái không chồng có bực không cô

A ở đây được biểu đạt là (cau không buồng thì/là cau đực) (cũng) nhƣ B (gái không chồng thì gái (có thể) bực bội, khó chịu) Như không

xuất hiện nhưng chúng ta vẫn ngầm hiểu có một cấu trúc với nghĩa so sánh

có nó (cau không buồng - cau đực (giống) như gái không chồng – bực) Cau hồi xua được trồng để lấy buồng Cau không có buồng là cau đực thì

việc trồng cau trở nên vô ích, vô nghĩa Người trồng cau chờ đợi, hy vọng,

trông mong và rồi cuối cùng là không buồng Thất vọng và buồn bực là

không tránh khỏi Điều này ngầm so sánh với “gái không chồng” Tuy tồn tại dưới dạng câu hỏi (có giá trị khẳng định) nhưng tác giả dân gian đã tinh

tế thể hiện thái độ của chủ thể và khách thể trong câu ca dao

Tính tất yêu phải có hôn nhân cũng được khẳng định một cách rõ ràng qua cấu trúc so sánh ẩn dụ:

Gương không có thủy gương mờ, Chàng không có thiếp bơ vơ một mình

Đây cũng là cấu trúc so sánh không có như A = Gương không có thủy (ngân) (thì) gương mờ Đây là một tất yếu “Gương” là vật thường

bằng thủy tinh, có một mặt nhẵn bóng, phản xạ ánh sáng tốt, dùng để tạo ảnh các vật Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng “gương” luôn cần “thủy”

để làm sáng, để phát huy hết chức năng, giá trị của mình Tính tất yếu của

A dẫn đến tính tất yếu của B: chàng không có thiếp (thì chàng) bơ vơ một mình Không có “thiếp”, “chàng” trở nên bơ vơ, lạc lõng, mất phương

hướng, không nơi nương tựa Một lần nữa chúng ta thấy rằng hôn nhân không chỉ là nơi người con gái khẳng định giá trị, bổn phận của mình mà với cả những trang nam nhi, gia đình cũng là một điểm tựa hết sức quan trọng Mục đích sống, khát vọng lớn của những trang nam tử thời xưa là lập công, ghi danh để trả nợ tang bồng Thế nhưng, nếu không có gia đình, không có hôn nhân họ không có điểm tựa và trở nên hết sức khó khăn để tạo dựng vị thế, sự nghiệp cho chính mình

Trang 38

Cũng vì sự tất yếu của hôn nhân nên chỉ cần “muộn chồng”, tức là người con gái trưởng thành mà chưa tiến đến hôn nhân thì giá trị của người

trị khi bị bóng đêm che phủ, còn “gỏi tươi” đậm đà, ngon lành như thế nhưng dường như mất hẳn hương vị khi đã nguội Tất cả điều này được ví với “gái thuyền quyên” – cao quý, xinh đẹp, đài các nhưng lại “muộn chồng” Như vậy, vì mang tính tất yếu, như là một quy luật của cuộc sống nên nó phải tuân theo khi đã đến độ chín nhất định Nếu không đi theo quy luật này tất cả giá trị hầu như không còn

Cũng chính vì tính tất yếu phải “có chồng” nên ngày “bén duyên” trở thành một mốc son trong cuộc đời của mỗi con người:

Từ ngày thiếp bén duyên chàng, Bướm ong sum họp, phượng hoàng sóng đôi

Cấu trúc có nghĩa so sánh không có như ở trên đã được thể hiện qua

sự so sánh ẩn dụ giữa các hoàn cảnh, hiện thực ngoài hôn nhân đứng sau còn “bén duyên” để đi đến hôn nhân là cái so sánh và đứng trước Và nếu như việc “muộn” chồng làm héo mòn hết các giá trị tươi đẹp ban đầu của người con gái thì “bén duyên” lại ngược lại “(Cảnh thiếp) từ ngày bén duyên chàng (giống như/là cảnh) bướm ong sum họp, phượng hoàng sánh

đôi” Đó là những sự tình có tính chất viên mãn, đủ đầy, hạnh phúc

Nói tóm lại, trong quan điểm của người dân xứ Nghệ, lập gia đình khi đến tuổi trưởng thành là lẽ tự nhiên và có tính tất yếu Gia đình chính là yếu tố để con người (con trai, con gái) thể hiện giá trị và là điểm tựa tinh thần vững chắc cho mỗi bước đi trong hành trình của mình

Trang 39

2.2.2 Hôn nhân cần đạo đức, nhân cách

Hôn nhân có tính tất yếu với con người nên nó là vấn đề muôn thuở nhưng lại luôn mới mẻ trong từng thời đại Quan điểm về một cuộc hôn nhân hạnh phúc và những yếu tố quyết định đến cuộc hôn nhân bền vững phụ thuộc vào nhiều yếu tố Với người dân xứ Nghệ, điều kiện hết sức quan trọng quyết định đến sự tác thành của cuộc hôn nhân chính là đạo đức, nhân cách của con người

Khảo sát những câu ca dao nói về yếu tố quyết định đến hôn nhân, chúng tôi thấy xuất hiện rất nhiều cấu trúc câu chỉ mối quan hệ nguyên nhân – kết quả Có một dạng cấu trúc có tần số xuất hiện cao là “A vì B”

trong đó A là kết quả - hôn nhân được thể hiện qua cấu trúc với vị từ có

Kết quả đó có được từ B, tức là từ nguyên nhân Khảo sát cấu trúc này chúng tôi thấy nguyên nhân có tính quyết định đến kết quả A là đạo đức, của con người

Cũng như cấu trúc chỉ quan hệ so sánh, cấu trúc các yếu tố A và B trong “A vì B” đều chỉ các sự tình và được biểu đạt bằng các ngữ đoạn:

- Chẳng tham bồ lúa cao chồng,

` Tham vì bụng ở vừa lòng người ta

A B

Tham ở đây được sử dụng với nghĩa là ham/ muốn và chủ thể

(nghiệm thể) của nó không được xác định Nhiều khi (nhất là trong ca dao) việc ẩn chủ thể là phương thức khẳng định tính phổ biến của hiện tượng được nêu ra Câu ca dao có: A (con người không tham bồ lúa cao chồng)

mà tham vì B (bụng ở vừa lòng người ta) Điều được phủ định ở đây là những yếu tố vật chất Kết quả A đã ẩn đi trong từ “tham” Người dân xứ Nghệ đã khẳng định rằng một điều kiện để quyết định hôn nhân nữa là

“bụng ở vừa lòng người ta”, là đạo đức là nhân cách, là tâm hồn Nhân tố quan trọng để người con trai và người con gái quyết định lựa chọn người

Trang 40

bạn đời của mình là phẩm chất, tư cách tốt đẹp của họ Đó là cơ sở đầu tiên

để họ cảm thấy “vừa lòng” - để rồi gắn bó với nhau trong “duyên - ngãi”:

Phải lòng vì duyên vì ngãi,

A B Đâu phải vì lúa bảy tiền ba

“Duyên” ở đây được hiểu là “phần cho là trời định dành cho mỗi người, về khả năng có quan hệ tình cảm (thường là quan hệ nam nữ, vợ chồng) hòa hợp gắn bó nào đó trong cuộc đời” [56, 268] “Ngãi” là “nghĩa, tình nghĩa” [56, 667] – “Tình nghĩa” được hiểu là “Tình cảm thủy chung, hợp với lẽ phải, với đạo lí làm người” [56, 997]… Như vậy hôn nhân trong quan điểm của người Nghệ xuất phát từ khát vọng tìm bạn đời , tìm người tri kỷ, tri âm kề vai sát cánh bên nhau, sướng vui buồn khổ có nhau Đạo nghĩa của con người đóng vai trò quyết định đến sự tác thành và cả sự bền vững của hôn nhân Điều này đã phần nào cho chúng ta thấy rằng, với người dân xứ Nghệ, sự rung động của trái tim luôn gắn với lí trí Họ hoàn toàn tỉnh táo khi lựa chọn bạn đời cho mình Tình yêu với người dân xứ Nghệ phải hợp với lẽ phải, hợp với đạo lí làm người Nhân cách, đạo đức hay nói chính xác hơn là phẩm chất, tư cách tốt đẹp của con người luôn là cầu nối bắt nhịp cho trái tim đến với trái tim Trường từ chỉ vật chất “lúa bảy tiền ba” xuất hiện trong vế sau với ý nghĩa giải thích rõ về nguyên nhân

A đã phủ nhận hoàn toàn quan điểm hôn nhân vì “môn đăng hộ đối” Có lẽ

Ngày đăng: 16/09/2021, 17:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w