1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm nghệ thuật bản dịch chinh phụ ngâm hiện hành

58 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 640,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu đặc điểm nghệ thuật của bản dịch Chinh phụ ngâm hiện hành là nhằm đi sâu tìm hiểu những đặc sắc về phương diện nghệ thuật được dịch giả sử dụng khi tiến hành diễn nôm một tác

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA NGỮ VĂN

-

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT BẢN DỊCH CHINH PHỤ NGÂM HIỆN HÀNH

Người hướng dẫn : PGS.TS Trương Xuân Tiếu Người thực hiện : Nguyễn Thị Yến

Lớp : 49A1 - Ngữ văn

Trang 2

Năm 2012

Trang 3

Đồng thời, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa, các thầy giáo,

cô giáo trong khoa Ngữ văn trường Đại học Vinh đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, rèn luyện, tu dưỡng tại khoa và nhà trường

Tuy nhiên, vì thời gian và năng lực có hạn nên chắc chắn đề tài không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý của các thầy giáo, cô giáo và bạn bè để chất lượng đề tài được hoàn chỉnh hơn

Trang 4

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 5

5 Phạm vi nghiên cứu 6

6 Cấu trúc khóa luận 6

B NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ TÁC PHẨM CHINH PHỤ NGÂM( TỪ NGUYÊN TÁC ĐẾN BẢN DỊCH) 7

1.1 Đặng Trần Côn - Chinh phụ ngâm 7

1.1.1 Tác giả Đặng Trần Côn 7

1.1.2 Nguyên tác Chinh phụ ngâm 8

1.2 Bản dịch Chinh phụ ngâm hiện hành 9

1.2.1 Xung quanh vấn đề xác định dịch giả Chinh phụ ngâm 9

1.2.2 Vài nét về dịch giả 12

1.2.2.1 Đoàn Thị Điểm 12

1.2.2.2 Phan Huy Ích 14

CHƯƠNG 2 : ĐẶC SẮC THỂ LOẠI CỦA BẢN DỊCH CHINH PHU NGÂM HIỆN HÀNH 15

2.1 Khái lược về thể loại ngâm khúc 15

2.1.1 Khái niệm 15

2.1.2 Đặc trưng thể loại 17

2.2 Từ thể thơ trường – đoản cú trong nguyên tác đến thể thơ song thất lục bát trong bản dịch hiện hành 19

Trang 5

2.2.1 Đặc trưng thẩm mĩ của thể thơ trường - đoản cú 19

2.2.2 Đặc trưng thẩm mĩ của thể thơ song thất lục bát 20

2.2.3 Hiệu quả của việc sử dụng thể thơ song thất lục bát để dịch Chinh phụ ngâm 23

CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT NGÔN TỪ VÀ MỘT SỐ THỦ PHÁP NGHỆ THUẬT KHÁC TRONG BẢN DỊCH CHINH PHỤ NGÂM HIỆN HÀNH 29

3.1 Nghệ thuật ngôn từ 29

3.1.1 Sử dụng văn tự dân tộc : Chữ Nôm 29

3.1.2 Sử dụng từ thuần Việt 31

3.1.3 Từ láy 32

3.1.4 Điển cố 36

3.2 Một số thủ pháp nghệ thuật khác 40

3.2.1 Nghệ thuật đối ngẫu 40

3.2.2 Câu hỏi tu từ 46

C KẾT LUẬN 50

TÀI LIỆU THAM KHẢO 51

Trang 6

A MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Văn học trung đại là một bộ phận lớn trong nền văn học Việt Nam Dòng văn học này phát triển theo qui luật vừa tiếp thu, vừa dân tộc hóa tinh hoa văn học nước ngoài, chủ yếu là văn học Trung Quốc Sự tiếp nhận đã phát huy cá tính sáng tạo trong cả nội dung và hình thức biểu hiện Hàng loạt những tác

giả và tác phẩm lớn: Nguyễn Gia Thiều - Cung oán ngâm, Đặng Trần Côn -

Chinh phụ ngâm, Nguyễn Du – Truyện Kiều, Hồ Xuân Hương…là những

minh chứng rõ nét cho việc sử dụng bút pháp ước lệ và việc sáng tạo, cải biến

để xây dựng nền văn học dân tộc

Chinh phụ ngâm – Đặng Trần Côn và Cung oán ngâm – Nguyễn Gia

Thiều là những khúc ngâm nổi tiếng trong văn học dân tộc Tuy đề tài có khác nhau nhưng cả hai tác phẩm đều là tiếng nói đòi quyền sống, quyền hạnh phúc

cá nhân của người phụ nữ Cái tạo nên giá trị cho hai tác phẩm không đơn thuần là tiếng nói nhân đạo mà còn là giá trị nghệ thuật độc đáo Vượt lên trên những công thức, những khuôn mẫu mang tính qui phạm, tác phẩm đã thể hiện tâm trạng của người phụ nữ bằng những dòng thơ mang sắc thái nội tâm, giàu cảm xúc, khơi gợi âm điệu cảm thương

Chinh phụ ngâm – Đặng Trần Côn là tác phẩm viết bằng chữ Hán gồm

408 câu, được nhiều dịch giả nổi tiếng dịch ra chữ Nôm Toàn bộ tác phẩm là nỗi lòng của người chinh phụ có chồng đi lính phương xa Đề tài chiến tranh, chinh phu, chinh phụ vốn là một đề tài phổ quát và truyền thống của nhiều nền văn học Ra đời vào nửa đầu thế kỉ XVIII với nguyên tác bằng Hán văn của Đặng Trần Côn, liền sau đó được Hồng Hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm diễn

nôm Chinh phụ ngâm đã mau chóng đi vào lòng độc giả Việt Trải qua hơn hai thế kỉ rưỡi cho đến nay, Chinh phụ ngâm luôn giữ nguyên giá trị của một

Trang 7

viên ngọc văn chương sáng ngời, một sản phẩm đáng tự hào của xứ sở vốn

"nổi tiếng thi thư"

Nguyên tác Chinh phụ ngâm bằng Hán văn của Đặng Trần Côn là một

tác phẩm văn chương đặc sắc Không những giới nho sĩ Việt Nam mà cả các bậc văn nhân Trung Hoa, đều yêu thích và khâm phục tác phẩm này Bằng

văn tài xuất sắc, Đặng Trần Côn sử dụng thể thơ "cổ phong" trong "Nhạc

phủ" để viết nên một tác phẩm trữ tình hiếm có, mô tả tâm sự sâu xa của một

thiếu phụ xa chồng

Thời vua Lê (Cảnh Hưng) - Chúa Trịnh (Trịnh Giang, Trịnh Doanh) là một thời kì nhiễu nhương và thối nát Bọn vua chúa hoang dâm, ích kỉ và tàn bạo đã đẩy dân chúng vào cảnh lầm than, điêu đứng Đất nước chìm đắm triền miên trong cảnh loạn lạc, máu lửa và binh đao Hàng ngàn vạn gia đình phải rơi vào tình cảnh chia li tan tác, tạo nên số phận bi thảm của những chinh phu,

chinh phụ Chinh phụ ngâm ra đời như tiếng than thống thiết của con người,

của tình yêu đôi lứa, của gia đình trong thời đại đen tối ấy

Văn chương trong Chinh phụ ngâm vô cùng diễm lệ, chứa chan tình cảm,

uyển chuyển và đầy nhạc điệu Trong số thi phẩm Hán văn của nền văn học

nước ta, hiếm có tác phẩm sánh ngang được với Chinh phụ ngâm Với bản dịch Chinh phụ ngâm hiện hành, xưa nay nhiều bậc thức giả uyên bác đã phân

tích và đánh giá về nhiều phương diện Vậy mà ngày nay những khám phá mới mẻ và sâu sắc hơn vẫn tiếp tục ra đời Điều đó chứng tỏ sự thành công của bản dịch cả về giá trị nội dung lẫn giá trị nghệ thuật

Nhiều nhà nghiên cứu đã đi sâu khai thác những nét đặc sắc về mặt nghệ thuật của bản dịch dưới nhiều khía cạnh khác nhau với những quan điểm riêng của mình Nhưng, nhìn chung những đăc điểm nghệ thuật của bản dịch hiện hành chưa được trình bày một cách có hệ thống Việc tìm hiểu đặc điểm

Trang 8

nghệ thuật của bản dịch có ý nghĩa rất quan trọng đối với toàn bộ tác phẩm

Đó là lí do chúng tôi chọn đề tài này để tiến hành nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đặc điểm nghệ thuật của bản dịch Chinh phụ ngâm hiện hành

là nhằm đi sâu tìm hiểu những đặc sắc về phương diện nghệ thuật được dịch giả sử dụng khi tiến hành diễn nôm một tác phẩm văn học được viết bằng chữ Hán Từ đó, thấy được những đóng góp to lớn của bản dịch khi đưa tác phẩm đến gần với độc giả Việt mà vẫn giữ được những giá trị đặc sắc của nguyên tác

Tìm hiểu những nét đặc sắc về nghệ thuật của bản dịch còn giúp độc giả

có cái nhìn tổng quan hơn về tác phẩm trong sự đối sánh giữa nguyên tác và bản diễn Nôm Từ đó thấy được những điểm thống nhất cũng như sự sáng tạo

về mặt nghệ thuật của bản dịch so với nguyên tác bằng chữ Hán

3 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Một trong những tác phẩm đỉnh cao của nền văn học trung đại Việt Nam

cuối thế kỉ XVIII – nửa đầu thế kỉ XIX là Chinh phụ ngâm của Đặng Trần

Côn Tác phẩm từ khi ra đời đã gây tiếng vang lớn trên văn đàn, cũng như trong giới nghiên cứu, phê bình văn học Tác phẩm đánh dấu sự ra đời của ngâm khúc, là tác phẩm mở đầu cho trào lưu nhân đạo chủ nghĩa của văn học giai đoạn này

Trong văn học trung đại Việt Nam, cùng với Truyện Kiều của Nguyễn

Du và thơ Hồ Xuân Hương, bản dịch Chinh phụ ngâm là tác phẩm phổ biến

trong tầng lớp văn nhân, nho sỹ, cũng như đa số độc giả lúc bấy giờ Thành công tuyệt vời của bản dịch có giá trị làm cho khúc ngâm được phổ biến rộng rãi, nó trở thành tiếng nói tâm tình sâu lắng ăn sâu vào tiềm thức của người

Trang 9

dân Việt, đặc biệt là những người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa có chồng đi chinh chiến ngoài chiến trường

Trong suốt hai thế kỷ qua, kể từ bản dịch Chinh phụ ngâm được giới

thiệu cho đến nay, có nhiều người tìm hiểu về nó trên các bình diện khác nhau

như: Thiên nhiên trong Chinh phụ ngâm, Tiếng nói phản chiến, Nghệ thuật

diễn tả tâm trạng của người chinh phụ, Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình, Tâm trạng nhân vật trữ tình, Kết cấu tác phẩm hay thi pháp Qua theo dõi một số

công trình, chúng tôi thấy có nhiều khía cạnh, nhiều phương diện của khúc ngâm đã được đề cập đến: tác giả, dịch giả, thể thơ, đặc điểm nghệ thuật của nguyên tác và bản dịch Đã có nhiều công trình có quy mô lớn và chất lượng cao nghiên cứu về tác phẩm này

Trong công trình Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII- hết thế kỷ

XIX, Nguyễn Lộc đã đề cập một số vấn đề về nghệ thật của nguyên tác và bản

dịch Chinh phụ ngâm như: Nghệ thuật ước lệ tượng trưng, Thể trường - đoạn

cú, Thể song thất lục bát, Nghệ thuật biển hiện tâm trạng

Nhóm tác giả Đăng Thanh Lê – Hoàng Hữu Yên – Phạm Luận trong

sách Văn Học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX đã quan tâm những vấn đề về mặt thi pháp và nghệ thuật của tác phẩm như: quan niệm

nghệ thuật về con người bản năng, mối quan hệ tự sử và trữ tình, thời gian nghệ thuật trong tác phẩm: “Chinh phụ ngâm xuất hiện với chiều dài 477 câu, 3129 chữ ( bản dịch hiện hành 408 câu, 2856 chữ) cao giá trị như một bài thơ trữ tình trường thiên”, “ Ba , bốn năm không phải dài lắm nhưng đây không chỉ là thời gian lịch sử mà còn là thơi gian ý thức nảy sinh từ độc thoại nội tâm của nhân vật.”[14;58]

Trong công trình Văn học phân tích toàn thư, Thạc Trung Giả đã đề cấp đến nghệ thuật tả tình trong Chinh phụ ngâm Ở đây tác giả đã quan tâm đến yếu tố ngoại cảnh đối với tâm trạng của người chinh phụ: “ Đặng Trần

Trang 10

Côn đã sử dụng ngoại cảnh nhưng biến diến nó để đạt mục đích tả tình”[6;204] Ngoài ra tác giả cuốn sách còn quan tâm đến các khía cạnh

nghệ thuật khác như: thể trường – đoản cú và thể song thất lục bát, Quá trình

diễn biến tâm trạng của người chinh phụ[6,205]

Tác giả Bùi Đức Tịnh trong cuốn Lược khảo lịch sử văn học Việt Nam (

Từ khởi hưng đến cuối thế kỷ XX) cũng đã chỉ ra những đặc điểm nghệ thuật

của cả nguyên tác và bản dịch thơ Chinh phụ ngâm như nghệ thuật đối, tập

cổ

Có thể nói Chinh phụ ngâm là tác phẩm làm đối tượng của nhiều công

trình nghiên cứu, trong đó đã có nhiều công trình đề cập tới những đặc điểm của nghệ thuật của cả nguyên tác và của bản dịch Tuy nhiên, đó chỉ là những

ý kiến riêng lẻ, hoặc là những ý kiến mang tính tổng bình hay khơi gợi một số

vấn đề của tác phẩm Với việc tìm hiểu đặc điểm của bản dịch Chinh phụ

ngâm hiện hành, thì hầu như chưa có công trình nào giải quyết trọn vẹn và hệ

thống Vận dụng thành tựu của những người đi trước, chúng tôi đi sâu tìm hiểu vấn đề cụ thể được đặt ra ở đề tài khóa luận: “Đặc điểm nghệ thuật bản

dịch Chinh phụ ngâm hiện hành”

4 Phương pháp nghiên cứu

Để có cách tiếp cận vấn đề một cách sâu sắc hơn, chính xác hơn chúng tôi vận dụng và kết hợp các phương pháp sau:

Trang 11

thống văn học mà còn là tác phẩm của hoàn cảnh lịch sử xã hội nhất định Cho nên việc tìm hiểu lịch sử sinh ra nó đã trở thành điều kiện cơ bản cho điều kiện phân tích, đánh giá tác phẩm chính xác

5 Phạm vi nghiên cứu

Khi tiến hành nghiên cứu bản dịch Chinh phụ ngâm hiện hành, chúng tôi

dựa vào bản dịch được cho là của nữ sĩ của Đoàn Thị Điểm in trong cuốn

Tổng tập văn học Việt Nam – tập 13B, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997

do Nguyễn Quảng Tuân khảo đính và chú giải

6 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung chính của khóa luận được triển khai trong ba chương:

Chương I: Khái quát về tác phẩm Chinh phụ ngâm ( từ nguyên tác đến

bản dịch)

Chương II: Đặc sắc thể loại của bản dịch Chinh phụ ngâm hiện hành

Chương III: Nghệ thuật ngôn từ và một số thủ pháp nghệ thuật khác

trong bản dịch Chinh phụ ngâm hiện hành

Trang 12

Về tác giả của Chinh phụ ngâm bằng Hán văn, từ trước tới nay, giới

nghiên cứu thống nhất khẳng định là Đặng Trần Côn Thế nhưng cho đến nay, chúng ta biết về cuộc đời Đặng Trần Côn còn quá sơ sài Theo Phan Huy Ích

trong Dụ Am ngâm tập, Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí, nhất là theo Phạm Đình Hổ trong Tang thương ngẫu lục, người viết tương đối

nhiều hơn về Đặng Trần Côn, và giới thiệu Đặng Trần Côn là bạn của bố mình, thì Đặng quê ở làng Nhân Mục (tục gọi là làng Mọc), huyện Thanh Trì, phía tây thành Thăng Long, là ngưới sống cùng thời với chúa Uy vương Trịnh Giang, nghĩa là vào đầu thế kỉ XVIII, nhưng cụ thể ông sinh năm nào và mất năm nào không thấy nói rõ.Theo Hoàng Xuân Hãn thì Đặng Trần Côn có thể sinh vào khoảng 1710 – 1720, mất vào khoảng 1750.Ông Hoàng Xuân Hãn căn cứ vào: Một là bức thư Đặng Trần Côn gửi cho Phan Kính mời thưởng xuân, đoán tuổi ông xấp xỉ tuổi Phan Kính (Phan Kính sinh năm 1715) Hai là

trong sách Tang thương ngẫu lục, Phạm Đình Hổ nói có lần Đặng Trần Côn

đưa thư ra mắt Đoàn Thị Điểm Bà cười chê ông là trẻ con, Đoàn Thị Điểm sinh năm 1705 Kết hợp hai sự kiện lại, Hoàng Xuân Hãn đoán Đặng Trần

Côn “sinh vào khoảng 1710 – 1720” và “thọ chưa đến 40 tuổi”[15,143] Đặng Trần Côn là người thông minh hiếu học: “trong khoảng trường ốc,

văn chương của ông tiếng lừng thiên hạ”[15;143] Ông thi hương đậu hương

cống và hỏng kỳ thi hội có lẽ do tính ông đểnh đoảng, phóng túng “không

Trang 13

muốn ràng buộc về chuyện thi cử” Ông nhận chức Huấn đạo ở một trường

phủ, sau đổi sang chính thức làm tri huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông cũ,nay thuộc Hà Tây, Hà Nội Cuối đời mới chuyển về Kinh làm Ngự sử đài chiếu khám

Về sáng tác văn học, ngoài Chinh phụ ngâm là tác phẩm nổi tiếng, Đặng

Trần Côn còn sáng tác một loạt bài thơ chữ Hán về cảnh đẹp ở Tiêu Tương

(Tiêu Tương bát cảnh) và một số bài phú chữ Hán như: Trương Hàn tư thuần

lô (Trương Hàn nhớ rau thuần cá vượt), Khấu môn thanh (tiếng gõ cửa)

Theo Nguyễn Lộc thì “những thơ phú này nói chung đẽo gọt, trau chuốt

nhưng không có nội dung thiết thực” [15, 144] Ngoài ra trong Tang thương ngẫu lục, Phạm Đình Hổ còn chép Đặng Trần Côn là tác giả của truyện Bích câu kỳ ngộ trong Chinh phụ ngâm bị khảo Hoàng Xuân Hãn nói ông có thể là

tác giả của truyện: Tùng bách thuyết thoại (kể chuyện về cây tùng, cây bách),

Long hổ đấu kỳ (rồng và hổ đấu phép lạ) và Khuyển miêu đối thoại (Chó và

mèo nói chuyện), tất cả đều viết bằng chữ Hán

1.1.2 Nguyên tác Chinh phụ ngâm

Chinh phụ ngâm là một trong những tác phẩm tiêu biểu của nền văn học

trung đại Việt Nam Có thể nói ngay từ lúc ra đời nó đã gây tiếng vang lớn

trong văn đàn Việt Nam lúc bấy giờ Phạm Đình Hổ trong Tang thương ngẫu

lục đã thể hiện thái độ trọng thị một cách gián tiếp qua những giai thoại có

phần huyền bí: “Khoảng năm về già, ông làm khúc Chinh phụ ngâm, cả thảy

hết mấy nghìn lời” hay “tinh thần trút cả vào đây”

Về thời điểm sáng tác Chinh phụ ngâm, ta thấy trong Thoái thực kí văn, Trương Quốc Dụng (1801 – 1864) có ghi lại : “cuối đời Lê, Đặng Trần Côn

làm bản Chinh phụ ngâm có ý phúng thích họ Trịnh toan đánh Miền Nam ”

Ý kiến của Phan Huy Chú được xem là có lí hơn, trong Lịch triều hiến

chương loại chí, ông nói : “Sách Chinh phụ ngâm là bởi hương cống Đặng

Trang 14

Trần Côn soạn Nhân đầu đời Cảnh Hưng việc binh nổi dậy, người ta đi đánh phải lìa nhà, ông cảm thời thế mà làm ra”

Niên hiệu Cảnh Hưng bắt đầu từ năm Canh thân (1740) “việc binh đầu

thời Cảnh Hưng” kéo dài cho tới năm Tân Mùi (1751) Như vậy theo câu nói

của Phan Huy Chú, Chinh phụ ngâm được viết trong khoảng những năm 40

của thế kỉ XVIII Đó là những năm bão táp chưa từng thấy của phong trào nông dân khởi nghĩa ở Đàng ngoài Lúc này xã hội Việt Nam bày ra cảnh

tượng như Phan Huy Chú nói trong Lịch triều hiến chương loại chí “bốn

phương đều nổi loạn to” Khâm định Việt sử thông giám cương mục có chép :

trên hầu khắp các địa bàn cai trị của chúa Trịnh “chỗ nào cũng tụ dấy quân” Chỉ cần có người đứng ra hô hào thế là dân chúng “ít, cũng hàng ngàn, hàng

trăm, nhiều có đến hơn vạn, người đeo bừa, kẻ vác gậy đi theo” Nói như vậy

để ta thấy rằng trong Chinh phụ ngâm có dấu vết thời đại đã sinh ra nó Như Phan Huy Chú đã nói “Đặng Trần Côn nhân cảm thời thế mà làm ra”

Về dung lượng tác phẩm, đây được xem là một tác phẩm trữ tình có qui

mô tương đối lớn Tuy nhiên trong quá trình khảo cứu vẫn còn ý kiến khác

nhau xung quanh việc xác định qui mô của nguyên tác Chinh phụ ngâm Các tác giả cuốn Từ điển thuật ngữ văn học cho rằng có 483 câu, còn Trương

Đình Nguyên lại cho rằng có 476 câu thơ

Viết Chinh phụ ngâm, Đặng Trần Côn chọn lọc, sử dụng nhiều thi liệu Hán

học trong kho tàng văn học cổ điển Trung Quốc như : Sở từ, nhạc phủ, tản khúc đời Nguyên Và bản thân lịch sử Việt Nam hồi bấy giờ cũng là nguồn thi liệu

phong phú cho tác giả sử dụng vào việc sáng tác Chinh phụ ngâm

1.2 Bản dịch Chinh phụ ngâm hiện hành

1.2.1 Xung quanh vấn đề xác định dịch giả Chinh phụ ngâm

Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn ra đời được xem là một sự kiện

quan trọng trong đời sống văn học dân tộc lúc bấy giờ Người ta chú ý tới nó

Trang 15

trước hết là vì Chinh phụ ngâm thể hiện một khuynh hướng mới trong văn học, mang rõ nét dấu ấn của thời đại Nhưng Chinh phụ ngâm là một tác

phẩm viết bằng chữ Hán giữa một thời kì mà chữ Nôm đang phát triển rực rỡ Bởi thế, một số người đã tiến hành dịch nó ra quốc âm để mọi người có thể tiếp nhận dễ dàng hơn Phan Huy Ích từng ca ngợi :

Nhân mục tiên sinh Chinh phụ ngâm

Cao tinh dật điệu bá từ lâm

Cận lai khoái trá tương truyền tụng

Đa hữu thôi xao vi diễn âm

(Khúc Chinh phụ ngâm của tiên sinh làng nhân Mục

Tình cao điệu lạ rải khắp rừng văn

Gần đây truyền tụng lấy làm thích lắm

Đã có nhiều kẻ trau dồi lời mới mà diễn âm )

7 bản dịch và phỏng dịch này, bản lưu hành rộng rãi nhất và thành công nhất

do ai dịch, thì vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau Trước đây, mọi người đều cho

là của Đoàn Thị Điểm Nhưng càng về sau, có nhiều ý kiến cho rằng bản dịch hiện hành là của Phan Huy Ích (như : Phan Huy Chiêm (bài trên báo Nam

Phong, số 106, tháng 6 năm 1926), Hoàng Xuân Hãn ( Chinh phụ ngâm bị

khảo, Paris,1952), Lại Ngọc Cang (Chinh phụ ngâm, Hà Nội, 1964) )

Trang 16

Hầu hết các nhà nghiên cứu và giảng dạy văn học đều cho rằng bản dịch

Chinh phụ ngâm hiện hành là của Đoàn Thị Điểm Người đầu tiên khẳng định

vấn đề này là Vũ Hoạt ở trong bài tựa bản Chinh phụ ngâm bị lục bằng chữ Nôm : “Tư tích: Đặng Tiên Sinh sở tác, Đoàn phu nhân diễn âm”, (Nhớ xưa:

Đặng tiên sinh làm sách ấy, Đoàn phu nhân diễn ra quốc âm) Và ở đầu bản

còn ghi rõ: “Thanh Trì, Nhân Mục, Đặng Trần tiên sinh Côn trứ Văn Giang,

Trung Phú Đoàn phu nhân Điểm diễn âm”[15; 145], (Ông Đặng Trần Côn ở

làng Nhân Mục, huyệnThanh Trì viết, bà Đoàn Thị Điểm ở xã Trung Phú, huyện Văn Giang diễn ra quốc âm) Đến năm 1926, Phan Huy Chiêm, một người trong dòng họ Phan Huy gửi thư cho tạp chí Nam Phong nói bản dịch

Chinh phụ ngâm lâu nay là của Phan Huy Ích Từ lúc này giới nghiên cứu đặt

lại vấn đề xác định dịch giả Chinh phụ ngâm Những công trình sưu tầm,

nghiên cứu công phu xác định dịch giả của bản dịch hiện hành diễn ra Nổi bật có các nghiên cứu của Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Văn Xuân, Lại Ngọc Cang đều đưa ra kết luận bản dịch hiện hành là của Phan Huy Ích Tuy nhiên, những luận cứ của các tác giả này đưa ra nhằm xác minh bản dịch

Chinh phụ ngâm hiện hành là của Phan Huy Ích thì mới chỉ là các khả năng

và là những tài liệu tham khảo tốt, chứ chưa thể căn cứ vào đó để kết luận một cách dứt khoát được Sau này, Lại Ngọc Cang có kế thừa những thành tựu của

Hoàng Xuân Hãn, tiếp tục “khảo sát, đối chiếu các yếu tố về hiện thực nghệ

thuật như thể loại, ngôn ngữ trong các bản dịch”[1,26] và đi đến kết luận

“Tôi đã tin rằng Phan Huy Ích là dịch giả bản Chinh phụ ngâm hiện

hành”[1,74]

Tuy vậy cũng cần xem xét lại những kết luận này để tăng sức thuyết

phục cho độc giả, bởi có những “cứ liệu khoa học mà các tác giả này đưa ra

vẫn chưa đủ sức thuyết phục Vì thế khuynh hướng chung của nhiều người

Trang 17

nghiên cứu giảng dạy văn học vẫn muốn giữ thuyết truyền thống, coi Đoàn Thị Điểm vẫn là tác giả của bản dịch hiện hành” [14,49]

1.2.2 Vài nét về dịch giả

1.2.2.1 Đoàn Thị Điểm

Cho dù bản dịch hiện hành không phải là của Đoàn Thị Điểm như lâu nay vẫn nghĩ, thì cũng cần khẳng định thêm rằng Đoàn Thị Điểm vẫn là người

đầu tiên dịch Chinh phụ ngâm, và bản dịch của bà có sức ảnh hưởng thực sự

trong sự phát triển của văn học chữ Nôm lúc bấy giờ Bởi thế, ở đây chúng tôi

xin trình bày vài nét về tiểu sử Đoàn Thị Điểm, người dịch Chinh phụ ngâm

và Phan Huy Ích – có thể là dịch giả của bản hiện hành

Đoàn Thị Điểm (1705-1748) có tên hiệu là Hồng Hà nữ sĩ, quê ở làng Giai Phạm (sau đổi thành Hiến Phạm), trấn Kinh Bắc ( nay thuộc huyện Yên

Mỹ, tỉnh Hưng Yên), sinh trưởng trong một gia đình nhà nho nghèo Tiên tổ của bà vốn họ Lê, đến đời cha của bà là Đoàn Doãn Nghi, đi thi hội không đỗ

mới đổi sang họ Đoàn “Tương truyền sau khi thi hội bị trượt, Đoàn Doãn

Nghi nằm mộng thấy có vị thần bảo nên đổi sang họ Đoàn, ông đổi theo Từ

đó họ này mới thành họ Đoàn Năm 1943 ở nhà thờ họ Đoàn, Trúc Khê còn đọc được đôi câu đối nói về việc đổi họ này như sau:

Võ liệt, văn khôi,quang thế phả,

Lê tiền, Đoàn hậu, ký thần ngôn

(Nghĩa là : Võ nên công lớn, văn chiếm khôi khoa, làm rạng rỡ cuốn sách chép dòng dõi Trước họ Lê sau đổi họ Đoàn để ghi nhớ lời thần dạy)”[15;148]

Cha của bà đậu Hương cống, anh đậu đầu khoa thi Hương, nhưng không ra làm quan mà đều sống bằng nghề dạy học ở những vùng quê xa nhà Bản thân bà, sau khi cha rồi anh qua đời,cũng tự đứng ra mở trường, phần vì cảnh nhà túng thiếu, một mình bà phải cáng đáng việc phụng dượng mẹ già,

Trang 18

giúp người chị dâu tàn tật nuôi dạy hai đứa cháu nhỏ, phần khác bà cũng

muốn thử nghiệm một công việc thường dành cho nam giới Bà nói: “Xem

qua các chuyện con gái thời xưa thì thấy không hiếm kẻ có tài học nhưng chưa từng thấy kẻ dạy học trò đậu đạt” Học trò bà rất đông, sau này có người

đậu đến đại khoa

Thiếu thời, bà nổi tiếng thông minh “hay chữ”, lại có “dung sắc kiêu

lệ” Thượng thư Lê Anh Tuấn nhận bà làm con nuôi, định tiến cử vào cung

cho chúa Trịnh, bà dứt khoát từ chối Cũng có nhiều người hỏi bà làm vợ, trong đó có những người quyền quí, nhưng bà đều từ chối Mãi đến năm ba mươi bảy tuổi, bà mới nhận lời làm vợ kế Nguyễn Kiều, một ông tiến sĩ đậu đạt khi còn rất trẻ và nổi tiếng hay chữ Lấy nhau chưa đầy một tháng, thì Nguyễn Kiều đi sứ Trung Quốc Cuộc sống xa chồng tưởng chỉ hơn một năm,

đã kéo dài tới ba năm đằng đẵng Thời gian này, bà ở nhà, vừa lo cho gia đình nhà chồng, vừa trông nom cho gia đình mình, nhớ chồng và thấy tâm sự của

mình giống tâm sự của người chinh phụ, nên bà dịch Chinh phụ ngâm của

Đặng Trần Côn ra quốc âm Năm 1745, Nguyễn Kiều về nước, vợ chồng sum họp được ba năm, thì đột ngột bà bị cảm bệnh mà mất, thọ bốn mươi tuổi Trong bài văn tế bằng chữ Hán của Nguyễn Kiều, ông hết lời ca tụng văn tài

của bà: “Ganh lời hùng với Tô tiểu muội, nối tuyệt bút của Ban Chiêu, Vẫy

ngọn bút đề phong cảnh, chan chứa mối tình Nhớ người cổ chép chuyện xưa, cảm động hồn thiêng ”[15;149]

Một bậc tài hoa như Đoàn Thị Điểm chắc hẳn đã trước tác nhiều, gia

phả nhà họ Đoàn chép: “Trong khi nhàn hạ, ngâm nên thiên hay, câu đẹp, kể

đã hàng chục, hàng trăm” Đó là nói về thơ văn của bà khi chưa lấy chồng

Sau ngày lập gia đình, theo lời kể của Nguyễn Kiều trong một bài văn tế, sáng

tác vẫn là công việc chính yếu của bà: “việc bút nghiên, tài lạ hằng xuyên, xếp

đặt thơ văn thành tập”, nhưng số lớn các tập ấy đã bị thất lạc

Trang 19

Tác phẩm của Đoàn Thị Điểm, ngoài bản dịch Chinh phụ ngâm còn có tập truyện Truyền kì tân phả, kể lại những chuyện truyền kỳ, theo truyền thống của Nguyễn Dữ Phan Huy Chú khen Truyền kỳ tân phả: “lời văn hoa

mĩ, dồi dào” nhưng chê “khí phách hơi yếu”, không bằng nguyễn Dữ

1.2.2.2 Phan Huy Ích

Phan Huy Ích tự là Dụ Am, trước tên là Phan Công Huệ, vì trùng tên với Đặng Thị Huệ, vợ của Trịnh Sâm, nên mới đổi ra Huy Ích Ông sinh năm

1750 ở lành Thu Hoạch, huyện Thiên Lộc, tỉnh Hà Tĩnh

Ông là con cả của tiến sĩ Phan Cẩn, khi còn nhỏ thì ở nhà học với cha sau lớn lên học với Ngô Thì Sĩ Về sau ông lấy con gái của Ngô Thì Sĩ , là em của Ngô Thì Nhậm Khi 22 tuổi ông đậu kỳ thi Hương ở Nghệ An, hai sáu tuổi đậu Hội nguyên, vào thi đình đậu đồng Tiến sĩ

Dưới thời chúa Trịnh Sâm, Phan Huy Ích được ủy nhiệm vào Nam trao

ấn kiếm và phong tước cho Nguyễn Nhạc Sau đó ông giữ các chức Đốc đồng Thanh Hóa, Thiêm sai tri hình, Thị lang bộ hình, được vua Quang Trung giao cho cùng Ngô Thì Nhậm lo việc giao thiệp với nhà Thanh, giữ chức Thị trung ngự sử ở tòa nội các, Lễ bộ thượng thư Về cuối đời, ông lui về dạy học cho đến năm 1819 mới nghỉ hẳn, và ba năm sau, tức năm 1822 thì mất, thọ bảy ba tuổi

Trong thời gian làm quan cho triều Tây Sơn, Phan Huy Ích sáng tác và thảo khá nhiều chiếu, dụ, hịch, văn tế bằng quốc âm cho nhà Tây Sơn, tập

trung ở Dụ Am ngâm tập và Dụ Am văn tập

Trang 20

CHƯƠNG 2 : ĐẶC SẮC THỂ LOẠI

CỦA BẢN DỊCH CHINH PHỤ NGÂM HIỆN HÀNH

2.1 Khái lược về thể loại ngâm khúc

2.1.1 Khái niệm

Xã hội Việt Nam đầy biến động từ khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà

Lê (năm 1527) sau đó nhiều biến cố lớn xảy ra chiến tranh Nam - Bắc triều; Trịnh - Nguyễn tranh nhau một dải sơn hà, rồi Tây Sơn nổi lên quét tan các thế lực đánh đuổi ngoại bang, đến khi Gia Long lên ngôi hoàng đế (năm 1802) Ở triều Tự Đức nông dân khắp nơi nổi dậy chống lại triều đình, trong

đó có cuộc khởi nghĩa của Lê Duy Mật ở Bắc Ninh, có Cao Bá Quát (chú ruột của Ca Bá Nhạ) tham gia Sự biến động của triều đình phong kiến diễn ra mấy trăm năm đã kéo theo sự chuyển biến đáng kể về ý thức hệ của nhiều tầng lớp trong xã hội, trong đó có lực lượng sáng tác, những Nho sĩ từng theo “cửa Khổng sân Trình” Văn hoá cũng có những thay đổi từ văn hoá vật chất đến văn hoá tinh thần, mà cụ thể là thị hiếu thẩm mỹ và những quan niệm nghệ thuật về con người Con người với cá tôi cá nhân đã mạnh mẽ phá bỏ những

giềng mối mà Nho giáo và nhà nước phong kiến áp đặt từ lâu

Tất cả những điều kiện ấy, đã làm cho cho thể thơ song thất lục bát góp mặt vào văn học viết Việt Nam từ những năm cuối thế kỷ XVI Đến giai đoạn nửa sau thế kỷ XVIII, thể thơ này bắt gặp được những nỗi lòng, những tâm trạng đau khổ day dứt triền miên của các văn gia thi sĩ Thế là thể loại ngâm khúc dùng hình thức thơ song thất lục bát nhanh chóng khẳng định dấu ấn của mình trên văn đàn văn học dân tộc Theo thống kê thì hiện nay có khoảng 500

bản viết bằng thể thơ này, trong đó có những kiệt tác như Cung oán ngâm (Nguyễn Gia Thiều); Chinh phụ ngâm (bản dịch Nôm của Đoàn Thị Điểm

Trang 21

(?)), Trần tình khúc (tên gọi khác của Tự tình khúc - người viết chú thêm) (Cao Bá Nhạ); Ai tư vãn (Lê Ngọc Hân)

Từ góc nhìn của các nhà ngôn ngữ học thì khái niệm thể ngâm khúc

được hiểu: Nguyễn Văn Khôn viết: “ Ngâm: tiếng than thở, tiếng rên” [12; 624], “Khúc: bản đàn, bản nhạc”, [12; 506] Nguyễn Như Ý cho rằng “Ngâm

khúc: Bài văn vần diễn tả nỗi buồn, thường theo thể song thất lục bát” [33;

1187]

Ngâm khúc dưới góc nhìn của các nhà nghiên cứu văn học lại được hiểu

như một thể loại văn chương Bùi Duy Tân quan niệm: “Sự phong phú về mặt

đề tài và thể loại văn học biểu hiện những xu thế mới của xã hội Đại Việt từ

TK XVI nửa đầu TK XVIII đã viết do khả năng trữ tình phong phú, điệu thơ này (tức điệu thơ song thất lục bát - người viết chú thêm) lúc đầu được dùng

để viết cả khúc ca lạc quan, hùng tráng nữa, nếu như sau này nó chủ yếu được dùng để viết các khúc ngâm buồn thương, oán vọng” [29;7]; Lê Bá Hán

- Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi cho rằng “Ngâm khúc: Thể thơ trữ tình

dài hơi, thường được làm theo thể song thất lục bát để ngâm nga, than vãn nhằm bộc lộ những tâm trạng, tình cảm buồn phiền đau xót triền miên day dứt Vì thế ngâm khúc còn được gọi là khúc, vãn hay thán Trong văn học Việt Nam, ngâm khúc giữ một vị trí quan trọng và đặc biệt phát triển từ giữa thế kỉ XVIII đến giữa thế kỉ XIX” [8; 198] Nguyễn Khắc Phi quan niệm: “Khúc còn gọi là tản khúc, một hình thức thơ ca cổ điển của Trung Quốc, gắn với âm nhạc có nội dung trữ tình, ra đời trên cơ sở những lời ca điệu hát dân gian đời Kim (1115 - 1234) và phát triển mạnh vào đời Nguyên (1280 - 1368) Khúc gồm có hai loại: tiểu lệnh và sáo sổ (…) Ở Việt Nam chữ khúc được dùng trong thuật ngữ ngâm khúc để chỉ những tác phẩm bằng thơ dài theo thể lục bát hoặc song thất lục bát, có nội dung trữ tình (Chinh phụ ngâm khúc,

Trang 22

Cung oán ngâm khúc, …) Tuy nhiên đó không phải là những tác phẩm mang đặc điểm của thể loại khúc Trung Quốc.[8,199]

Trần Đình Sử cho rằng: ngâm khúc là một thể loại văn học trung đại Việt

Nam Tinh thần bi kịch thể hiện ở chỗ tìm lại giá trị nhân sinh mà không được, không cam chịu mất mát giá trị mà đành bất lực và do bất lực mà lòng bất lực càng mạnh thêm, day dứt hơn, [26;187] và nhấn mạnh chức năng của

thể loại này như sau: “Có thể nói khúc ngâm có nhiệm vụ phơi trải lòng đau

xót, sầu tủi, tiếc hận của mình” [27; 185]

2.1.2 Đặc trưng thể loại

Bản dịch Chinh phụ ngâm hiện hành được viết bằng thể song thât lục bát,

một thể thơ có nhịp điệu theo tính chất chu kỳ, thích hợp với việc miêu tả một đối tượng ít biến động, phù hợp với việc biểu lộ tâm trạng trữ tình của tác giả Ngâm khúc ra đời sau khi đã có thể thơ song thất lục bát Thể thơ này đã

được ông Hoàng Sỷ Khải dùng để viết Tứ thời khúc vịnh (thế kỷ XVII) Tuy

nhiên cách gieo vần chưa tạo được âm hưởng hài hoà của câu thơ(chữ cuối câu bát ở khổ thơ trên, hiệp vần với chữ thứ ba câu thất khổ dưới)

Bản dịch tác phẩm Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm đã mở đầu cho

việc sáng tác các khúc ngâm, những bản trường ca trữ tình bằng thể song thất lục bát của dân tộc

Tiếp theo Chinh phụ ngâm là sự ra đời của hàng loạt tác phẩm ngâm khúc khác được viết bằng thể song thất lục bát (Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, Ai tư vãn của Ngọc Hân Công Chúa, Tự tình khúc của

Cao Bá Nhạ ) Các tác phẩm đó đánh dấu một khuynh hướng phát triển mới của văn học dân tộc: Khuynh hướng đi sâu vào nội tâm con người, thể hiện những tâm trạng buồn bã, bi kịch, bế tắc, trăn trở, hy vọng, khát khao tạo nên một sắc thái riêng, một nét độc đáo của loại ngâm khúc

Trang 23

Các tác giả những khúc ngâm đã biết khai thác triệt để đặc điểm kết cấu của thể thơ song thất lục bát Mỗi khổ thơ gồm một cặp hai câu bảy chữ ( ngắt nhịp 3/4) và một cặp câu lục bát( với cách ngắt nhịp đa dạng) Ở thể song thất lục bát, hai câu song thất bao giờ cũng ngắt nhịp theo lối 3/4 (khác với khổ thơ thất ngôn Đường luật ngắt nhịp 4/3) Các khổ thơ song thất lục bát nối tiếp nhau, tạo thành một âm hưởng có tính chất chu kỳ Do đó, thơ song thất lục bát thường mang cảm giác đều đều, buồn buồn Điều đó thích hợp với việc miêu tả một đối tượng có tính chất đứng yên, ít biến động Trong các tác phẩm ngâm khúc hình tượng phong phú là ở bề dày, bề sâu chứ không phải ở

bề cao

Trần Đình Sử cho rằng: “ Hình thức của khúc ngâm là thể song thất lúc

bát, điều đó đúng nhưng chưa đủ ngâm khúc đã phát triển tốc độ quan niệm trữ tình trung đại Chính việc kể lệ tình cảm mới tạo được sáng tác khúc ngâm dài mà không cần đến cốt truyện.”[27;183]

Đề tài trong những khúc ngâm thường là những bi kịch về tâm trạng, trong đó nhân vật tự bộc lộ tâm trạng của mình Cái tôi trữ tình ở đây có khi là

cái tôi của nhân vật được tác giả hư cấu (như người chinh phụ trong Chinh

phụ ngâm, người cung nữ trong Cung oán ngâm khúc), nhưng có khi là cái tôi

của chính tác giả ( như Ngọc Hân trong Ai tư vãn hay Cao Bá Nhạ trong Tự

tình khúc )

Thể thơ song thất lục bát là thể thơ có khả năng tạo sự cân đối hài hòa Những phương tiện nghệ thuật chủ yếu mà tác giả sử dụng là kết cấu trùng điệp, phép đối và dùng từ láy Tuy nhiên vần của khuôn thơ song thất lục bát

làm cho tình cảm càng nổi bật, và do vậy nó có tác dụng với loại thơ “ngâm”

Đặc biệt, biện pháp trữ tình của thể ngâm khúc là nêu câu hỏi ( ở thể tự

sự ít dùng đến câu hỏi); vì thế giới tự sự là một chỉnh thể, còn trong trữ tình thì thế giới tách thành cái tôi với xã hội, cho nên câu hỏi trong thể ngâm khúc

Trang 24

là không thể thiếu Câu hỏi trong thơ trữ tình ít hơn so với thể ngâm khúc Đọc ngâm khúc chúng ta bắt gặp một hệ thống câu hỏi dày đặc: hỏi về số phận, về nguyên nhân, về thời gian, không gian ; cùng với các câu hỏi là câu cảm thán,

Nếu kết thúc của truyện Nôm là kiểu kết thúc có hậu, thì kết thúc của khúc ngâm thuần túy là mong ước thầm kín Trong kiểu kết thúc tự thân ấy của các khúc ngâm, thì tấm lòng nhớ thương, đau xót, cô đơn, được đặt lên hàng đầu

2.2 Từ thể thơ trường – đoản cú trong nguyên tác đến thể thơ song thất lục bát trong bản dịch hiện hành

2.2.1 Đặc trưng thẩm mĩ của thể thơ trường - đoản cú

Chinh phụ ngâm được sáng tác vào một giai đoạn lịch sử rối ren, chiến

tranh kéo dài liên miên làm cho cuộc sống nhân dân trở nên điêu đứng Phần nguyên bản được Đặng Trần Côn sáng tác bằng chữ Hán theo thể thơ trường – đoản cú, có độ dài 478 câu Viết bằng chữ Hán, Đặng Trần Côn đã vận dụng hết sức khéo léo các bài thơ trong “Nhạc phủ”, thơ Đường để truyền tải nội

dung tư tưởng của mình, quan niệm về con người và cuộc đời “ Bao nhiêu

những văn liệu điển cố liên quan đến việc chinh chiến, đến cảnh ngộ của chinh phụ, chinh phu ở chốn buông the hay ở chiến trường, ông đã chọn lấy đưa vào khúc mới một cách linh hoạt”[7;9]

Đặc trưng thẩm mỹ của thể thơ trường – đoản cú là các câu dài, ngắn khác nhau, xen kẻ lẫn nhau Đây là thể thơ tương đối tự do, không bị gò bó về

số lượng câu thơ, và số chữ trong mỗi câu cũng không bắt buộc, cách gieo vần, niêm luật cũng không bị gò bó Do đặc trưng của thể thơ trường - đoản

cú như vậy, cho nên nó phù hợp với việc thể hiện tâm trạng cá nhân của con người, đặc biệt là người phụ nữ có chồng đi chinh chiến Điều này lý giải vì sao Đặng Trần Côn đã chọn cho khúc ngâm cách diễn đạt bằng thể thơ trường

Trang 25

- đoản cú Chinh phụ ngâm ( phần Hán văn ) được tác giả họ Đặng viết theo thể trường - đoản cú, với đặc điểm, câu ngắn nhất chỉ có ba chữ: Sầu vạn hải;

Khắc như niên; Câu dài nhất có 11 chữ:

“Kiêm dã vô tình, tỷ dực tương tùy quá nhất sinh” Như vậy, việc lựa chọn thể thơ trường - đoản cú cho Chinh phụ ngâm là

một dụng ý nghệ thuật của Đặng Trần Côn, nhằm phô diễn tâm trạng phức tạp nỗi buồn nhớ, nỗi cô đơn, lẻ loi, sầu tủi triền miên của cá nhân người chinh phụ Nguyễn Lộc đã đề cao hiệu quả thẩm mỹ của thể thơ trường - đoản cú

mà tác giả Đặng Trần Côn sử dụng trong khúc ngâm: “Trong nguyên tác chữ

Hán, Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn viết bằng thể trường - đoản cú, nghĩa là một thể thơ xen kẽ câu dài với câu ngắn, cốt làm sao cho hài hòa, ngoài ra không có một quy định nào khác Câu ngắn có khi ba, bốn chữ, câu dài có khi mười, mười một chữ Với một thể thơ như vậy, nhà thơ có thể linh hoạt trong diễn đạt, có thể tạo nên những âm hưởng, những nhịp điệu phong phú, sinh động”.[15;171]

Trên đây là những khái quát đặc trưng về thể thơ trường - đoản cú mà

Đặng Trần Côn đã diễn đạt trong Chinh phụ ngâm Sự lựa chọn hình thức cho

tác phẩm có ý nghĩa vô cùng quan trọng Nó thể hiện quan niệm của nhà thơ

về con người và cuộc đời Đồng thời, nó còn góp phần quan trọng trong việc chuyển tải nội dung tư tưởng của tác phẩm đến với độc giả Mặt khác, hình thức thể loại còn thể hiện sự vận động của văn học, sự thay đổi trong tư duy của nhà văn về con người, cuộc sống

2.2.2 Đặc trưng thẩm mĩ của thể thơ song thất lục bát

Văn học trung đại Việt Nam có số lượng thể loại nội sinh không nhiều Trong số ít đó, thể song thất lục bát được sử dụng tương đối nhiều, đặc biệt là văn học giai đoạn từ thế kỷ XVIII – đến thế kỷ XIX Đây là thể thơ có cấu trúc âm luật bao gồm bốn yếu tố là: Tổ hợp các dòng, cách gieo vần, cách

Trang 26

ngắt nhịp, và phối hợp nhịp điêu Các dòng trong thể song thất lục bát gồm bốn dòng tạo thành một khổ thơ Trong đó có hai dòng đầu và mỗi dòng bảy tiếng tao thành một cặp song thất; Hai dòng sau một dòng sáu tiếng và một dòng tám tiếng tạo thành một cặp lục bát Mặt khác, các khổ thơ trong thể song thất lục bát ở một thi phẩm không bị hạn chế về số lượng, nghĩa là một, hoặc nhiều khổ thơ song thất lục bát ( theo ý đồ của tác giả) Tuy vậy, việc ngăn tách các dòng thì không được tùy tiện, mà phải theo quy tắc của thể loại Theo Phan Diễm Phương thì việc tách dòng trong thể song thất lục bát phải

theo quy tắc sau: “Tiếng thứ bảy của dòng thất – trên là vị trí của vần sau vị

trí đó có một chỗ nghĩ ngơi tương đối rõ; từ vị trí này sẽ chấm dứt một chu kỳ luân phiên thanh điệu T – B –T (Ví dụ:Trộm nhớ thuở gây hình tạo hóa) Tiếng thứ bảy của dòng thất dưới cũng là vị trí gieo vần; sau vị trí đó cũng có một chỗ nghỉ hơi tương đối rõ; từ vị trí này cũng chấm dứt một chu kỳ luân phiên thanh điệu B – T – B ( Vẻ phù dung một đóa khoe tươi ), để chuyển sang dòng lục và tiếp nữa là dòng bát, có quy tắc tổ hợp như một dòng bát”.[25;61]

Về cách gieo vần ở thể thơ song thất lục bát cũng phải tuân theo một quy tắc nhất định, có sự liên kết chặt chẽ giữa hai dòng thất và dòng lục và dòng bát; liên kết giữa hai khúc đoạn song thất và lục bát Về thanh điệu ở khổ thơ song thất lục bát vừa có vần trắc, vừa có vần bằng, vần trắc hiệp với vần trắc, vần bằng hiệp với vần bằng Còn vị trí gieo vần thì có vần chân và vần lưng Trong đó vần chân ở dòng thất trên phải là vần trắc hiệp vần với vần lưng ở dòng thất dưới là vần trắc; ngược lại vần chân ở dòng thất dưới là vần bằng hiệp vần với dòng lục cũng là vần bằng, rồi dòng lục lại hiệp vần với dòng bát cũng là vần bằng Như vậy, chúng ta dễ nhận thấy trong việc gieo vần, thể thơ song thất lục bát có số lượng vần tham gia hiệp vần nhiều hơn so với thể lục bát, do đó cách gieo vần cũng có phần phức tạp hơn

Trang 27

Về cách ngắt nhịp cũng đa dạng, tùy vào từng bài, từng khổ có cách ngắt nhịp hai và có cách ngắt nhịp ba, trong đó cặp song thất có cặp ba tiếng và nhịp hai tiếng, còn cặp lục bát có cách ngắt nhịp như ở thể lục bát Về quy tắc

tổ chức nhịp, Phan Diễm Phương cho rằng: "căn cứ thứ nhất là sự luân phiên

thanh điệu: ở dòng thất trên là một nhịp trắc (gồm ba tiếng), đến nhịp bằng (gồm hai tiếng), cuối cùng lại một nhịp trắc ( cũng gồm hai tiếng ) Ở dòng thất dưới là một nhịp bằng ( gồm ba tiếng ) đến một nhịp trắc ( gồm hai tiếng ) cuối cùng lại một nhịp bằng ( cũng gồm hai tiếng ) Hai dòng lục bát là : nhịp bằng – nhịp trắc – nhịp bằng và nhịp bằng – nhịp trắc – nhịp bằng bổng( hoặc trầm) – nhịp bằng trầm ( hoặc bổng ) Căn cứ thứ hai là sự nhấn mạnh các tiếng thứ (3) và thứ (5) và thứ (7) thuộc dòng thất và các tiếng thứ (2), thứ (4), thứ (6) và thứ (8) thuộc hai dòng lục bát”[25;66-67] Như vậy cách ngắt

nhịp ở cặp song thất là lẻ trước, chẵn sau (khác so với thơ Đường luật)

Về phối hợp thanh điệu ở song thất lục bát cũng là vấn đề phức tạp Đối với dòng thất trên, tiếng thứ 3 là thanh trắc, tiếng thứ 5 là thanh bằng và tiếng thứ 7 thanh trắc; còn dòng thất dưới thì ngược lại với dòng thất trên Đối với dòng lục thì tiếng thứ hai là thanh bằng, tiếng thứ tư là thanh trắc và tiếng thứ sáu là thanh bằng; dòng bát giống thanh với dòng lục, thêm tiếng thứ tám là thanh bằng Sự khác nhau của các thanh ở cặp song thất tạo nên sự đối lập, sự thống nhất ở cặp lục bát, tạo nên sự kết dính cần thiết cho khổ thơ Một điều cần chú ý nữa là tiếng thứ 7 của dòng thất dưới phải là thanh bằng bổng (thanh ngang), đặc điểm này tạo nên đặc trưng thẫm mĩ của thể thơ song thất

lục bát, “có thể thấy thanh ngang (bổng) ở tiếng thứ 7 có khả năng tạo nên

âm điệu du dương, nhẹ nhàng hơn là thanh huyền (trầm) cũng ở vị trí ấy Đây

là một biểu hiện tinh vi, tế nhị trong cách phối điệu của thể thơ”[25;71]

Trang 28

Về đối, thì theo Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức: thể song thất lục bát :

“không buộc phải đối, nhưng thỉnh thoảng cũng có đối để làm nổi bật ý của câu văn Thông thường, trong thể này có ba cách đối:

- Tiểu đối trong một câu (đối trung cú)

- Hai câu đối nhau (đối cách cú)

- Hai trổ (đoạn) đối với nhau (đối cách đoạn)”.[22;184]

Hay cũng có thể xen đối trong nội bộ dòng gọi là tiểu đối; còn đối giữa dòng thất trên và dòng thất dưới gọi là bình đối

Như vậy, thể thơ song thất lục bát là sự tổ hợp giữa hai thể thơ thất ngôn

và thể lục bát Tuy nhiên, so với hai câu thơ thất ngôn của Trung Quốc, thì câu thơ thất ngôn của Việt Nam có những điểm khác biệt Thứ nhất, câu thơ thất ngôn Trung Quốc chỉ có vần chân, còn câu thơ thất ngôn của Việt Nam vừa có vần chân, vừa có vần lưng Thứ hai, về cách ngắt nhịp, thì thơ thất ngôn Trung Quốc thường ngắt nhịp 4/3 hoặc 2/2/3, còn câu thơ thất ngôn Việt Nam thường ngắt nhịp 3/4 hoặc 3/2/2 Thứ ba, về luật bằng trắc, thì câu thơ

thất ngôn Trung Quốc luôn tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc: “nhị tứ lục phân

minh”, còn thất ngôn của Việt Nam lại tương đối thoải mái, linh động hơn

Song thất lục bát với đặc trưng thẫm mĩ nêu trên, thường được lựa chọn cho lối ngâm khúc Bởi vì thể loại ngâm khúc thuộc về phương thức trữ tình, cho nên sử dụng thể thơ song thất lục bát sẽ thuận lợi cho việc biểu lộ cảm xúc của con người trước cuộc đời Đó cũng là lí do mà dịch giả đã chọn thể

song thất lục bát cho bản dịch của mình trong tác phẩm Chinh phụ ngâm

2.2.3 Hiệu quả của việc sử dụng thể thơ song thất lục bát để dịch Chinh phụ ngâm

Kết hợp giữa thể loại ngâm khúc hoặc các dạng thức gần với ngâm khúc như thán; vãn; khúc; … với thể thơ song thất lục bát dựa trên các tiêu chí về

Trang 29

nội dung, chức năng và thi pháp thể loại, chúng tôi tổng hợp lại diễn trình của thể loại ngâm khúc song thất lục bát trong bảng tổng hợp dưới đây:

Thời điểm

ra đời

Thể loại có trên tiêu đề

Ghi chú

Chinh phụ ngâm

khúc, 408 dòng STLB

Đoàn Thị Điểm (?)

1705 -

1748

Ngâm khúc Dịch Nôm

Chinh phu ngâm

1741 -

1798

Ngâm khúc Nôm

Lữ trung ngâm (?

dòng STLB) Lê Huy Giao

Cuối

TK XVIII

Ngâm khúc Nôm

1874 -

1929 Ngâm

Nguyên tác Hán, Học Canh dịch Nôm

Ngày đăng: 16/09/2021, 17:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w