Tìm hiểu đoạn văn kết thúc trong truyện tiếu lâm, chúng tôi mong muốn tìm được những cứ liệu xác đáng, những điều bất ngờ thú vị để từ đó chỉ ra được những đặc điểm về nội dung và hình t
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện, đề tài luận văn chúng tôi đã nhận được sự dạy dỗ, quan tâm giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo trong tổ ngôn ngữ, khoa Ngữ văn, đặc biệt là PGS.TS Phan Mậu Cảnh - người đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này Chúng tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới tất cả các thầy cô giáo, gia đình và bạn bè thân hữu
Vinh, tháng 12 năm 2011
Người thực hiện Nguyễn Ngọc Huyên
Trang 2MỤC LỤC
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Lịch sử vấn đề 6
3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu 9
4 Phương pháp nghiên cứu 10
5 Đóng góp mới của luận văn 10
6 Cấu trúc của luận văn 10
Chương I NHỮNG KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 11
1.1 Đặc điểm, vai trò của truyện tiếu lâm 11
1.1.1 Khái niệm 11
1.1.2 Đặc điểm, vai trò truyện tiếu lâm Việt Nam 12
1.2 Nội dung truyện tiếu lâm 12
1.3 Bố cục truyện tiếu lâm 13
1.4 Văn bản 13
1.4.1 Khái niệm 14
1.4.2 Sự phân đoạn trong văn bản 15
1.5 Đoạn văn 16
1.5.1 Các ý kiến về đoạn văn 16
1.5.2 Phân loại đoạn văn 21
1.6 Đoạn văn kết thúc truyện tiếu lâm 32
Chương II ĐẶC ĐIỂM VỀ MẶT HÌNH THỨC ĐOẠN VĂN KẾT THÚC TRUYỆN TIẾU LÂM 37
2.1 Đoạn văn có cấu tạo bình thường 37
2.1.1 Đoạn văn kết thúc theo lối móc xích 38
2.1.2 Đoạn văn kết thúc theo lối song hành 39
2.1.3 Đoạn văn kết thúc theo lối diễn dịch 40
2.2 Đoạn văn có cấu tạo đặc biệt 43
2.3 Các kiểu câu trong đoạn văn kết thúc truyện tiếu lâm 49
Trang 32.3.1 Các kiểu câu theo cấu tạo 50
2.3.2 Các kiểu câu theo mục đích nói 56
2.4 Các kiểu lời trong đoạn văn kết thúc truyện tiếu lâm 65
2.4.1 Đoạn lời người trần thuật 65
2.4.2 Đoạn đối thoại 67
2.5 Các dấu hiệu hình thức ngôn ngữ trong liên kết đoạn ở đoạn văn kết thúc truyện tiếu lâm 71
Chương III MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VỀ NỘI DUNG CỦA ĐOẠN KẾT TRONG TRUYỆN TIẾU LÂM VIỆT NAM 88
3.1 Nội dung phản ánh của đoạn kết trong truyện tiếu lâm 88
3.1.1 Đoạn kết mang nội dung đã kích, châm biếm 88
3.1.2 Đoạn kết là tiếng cười mua vui, giải trí 95
3.2 Các loại nghĩa được thể hiện trong đoạn kết truyện tiếu lâm 98
3.2.1 Nghĩa hiển ngôn 99
3.2.2 Nghĩa hàm ngôn 101
3.3 Các kiểu kết thúc 105
3.3.1 Kiểu đoạn kết thúc khép 105
3.3.2 Kiểu đoạn kết thúc mở 108
3.4 Quan hệ giữa đoạn văn kết thúc với các yếu tố khác thuộc văn bản 110 3.4.1 Quan hệ giữa đoạn văn kết thúc với tiêu đề 110
3.4.2 Quan hệ giữa đoạn mở với đoạn kết 112
3.4.3 Quan hệ giữa đoạn văn kết thúc và đoạn văn trước nó 114
3.4.4 Quan hệ giữa đoạn kết với chhủ đề 117
KẾT LUẬN 123
TÀI LIỆU THAM KHẢO 126
MỞ ĐẦU
Trang 41 Lý do chọn đề tài
1.1 Văn bản là chỉnh thể thống nhất và phong phú Một trong các bộ phận cấu thành nên văn bản là đoạn văn Đoạn văn có mối quan hệ đa chiều với các yếu tố khác
và hướng tới mục đích giao tiếp
Ở mỗi vị trí trong văn bản, đoạn văn có các chức năng khác nhau Dù dung lượng dài hay ngắn, dù là đoạn văn có cấu tạo bình thường hay bất thường thì nó đều chứa lượng thông tin tạo nên tính hoàn chỉnh cho văn bản Đoạn văn kết thúc xét về mặt chức năng có vai trò đóng khép văn bản, xét về mặt ngữ nghĩa bao giờ nó cũng chứa lượng thông tin quan trọng Đoạn văn kết thúc ở mỗi kiểu văn bản có các dạng khác nhau thể hiện mối quan hệ với toàn cục
1.2 Trong các văn bản phi nghệ thuật, đoạn văn kết thúc thường mang tính khuôn mẫu Trái lại trong các văn bản nghệ thuật đoạn văn kết thường có nhiều sáng tạo và mang dấu ấn riêng, dù đó là sáng tác của các tác giả dân gian hay của các tác giả đương đại Truyện tiếu lâm là sáng tác tập thể, dùng những cái bất ngờ, phi lí, ngược đời để cười nhằm thực hiện chắc năng mua vui, giải trí hay châm biếm, đả kích…Việc tạo ra tiếng cười ấy, tác giả dân gian đã sử dụng các phương thức gây cười khác nhau và có nhiều công trình quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên vấn đề đoạn văn kết thúc thì chưa được quan tâm nhiều Tìm hiểu đoạn văn kết thúc trong truyện tiếu lâm, chúng tôi mong muốn tìm được những cứ liệu xác đáng, những điều bất ngờ thú vị để từ đó chỉ ra được những đặc điểm về nội dung và hình thức của đơn vị ngôn ngữ này Đây là cơ sở để lí giải mối quan hệ đa chiều giữa đoạn văn kết thúc văn bản với các yếu tố ngoài nó Đồng thời góp phần vào việc phân tích và tạo lập văn bản trong nhà trường
Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi cố gắng làm nổi bật đặc điểm đoạn văn kết thúc truyện tiếu lâm bằng cách khảo sát, phân tích, đưa ra những kết luận ở các mặt: hình thức, nội dung, kiểu kết, quan hệ, từ đó có cái nhìn sâu sắc hơn về đơn vị ngôn ngữ này
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Khái quát về tình hình nghiên cứu đoạn văn
Trang 5Là đơn vị trực tiếp tham gia văn bản, đoạn văn đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Có thể kể đến một số nhà nghiên cứu nước ngoài như: N.Spospelop, L.Abulakhovskij, I.RGalperin, Loseva, O.Imoskalskaja Trong những công trình nghiên cứu của mình các tác giả đưa ra những kiến giải về hình thức và cấu trúc đoạn Bên cạnh
đó họ còn bày tỏ quan điểm về sự trùng hợp hay không trùng hợp giữa đoạn văn và chính thể thống nhất trên câu Nhìn chung các ý kiến còn nhiều tranh cải và chưa đi dến thống nhất
Trong nước từ những năm 80 của thế kỷ XX trở lại đây vấn đề đoạn văn được nhiều người đi sâu tìm hiểu
Trần Ngọc Thêm trong bài: “Bàn về đoạn văn như một đơn vị ngôn ngữ” (Tạp chí ngôn ngữ số 3/1984) xuất phát từ việc phân tích đoạn văn cho rằng: Để trở thành một
đơn vị cần có những điều kiện:
1 Nó phải có khả năng khu biệt: Có hình thức nhất định và ranh giới rõ ràng
2 Theo F.De Saussure một đơn vị ngôn ngữ là “sự phân chia trên dòng âm thanh phải tương ứng với sự phân chia trên dòng khái niệm” tức giữa nội dung và hình thức
phải có sự thống nhất Sự thống nhất này xảy ra hệ quả: Mỗi cấp độ chỉ có đơn vị duy nhất tương ứng (chứ không thể có nhiều đơn vị trong cùng một cấp độ)
3 Một đơn vị phải có khả năng sản sinh và có tính biến thể Với những điều kiện như thế, tác giả cho rằng: Đoạn văn là một đơn vị ngôn ngữ, một đơn vị nằm trong văn bản, tạo lập nên văn bản
Công trình ngữ pháp văn bản và việc dạy tập làm văn (Nguyễn Trọng Báu,
Nguyễn Quang Ninh, Trần Ngọc Thêm - NXBGD 1985) cũng bàn nhiều về đoạn văn và chỉnh thể trên câu Các tác giả cho rằng đoạn văn và chỉnh thể trên câu là những khái niệm khác nhau
Giáo trình “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt” (Bùi Tất Tươm, Nguyễn Văn Bằng, Hoàng Xuân Tâm - Nxb GD 1997) quan niệm: “Đoạn văn là một tập hợp nhiều câu thể hiện một chủ đề.”
Diệp Quang Ban xác nhận “Đoạn văn thường được hiểu là một phần của văn bản tách từ chỗ viết hoa thường lui vào ở đầu dòng cho đến chỗ chấm xuống dòng”
Trang 6Phan Mậu Cảnh trong cuốn “Lý thuyết và thực hành văn bản Tiếng Việt” cho rằng: “Đoạn văn là một bộ phận của văn bản do câu tạo thành theo một cấu trúc nhất định, biểu thị một nội dung tương đối độc lập, có hình thức rõ ràng.”
Nhìn chung, hiện nay vẫn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về đoạn văn, song các nhà nghiên cứu đã thống nhất với nhau ở mấy điểm:
Đoạn văn là một bộ phận của văn bản, gồm một câu hoặc một chuỗi câu được xây dựng theo một câu trúc có hình thức rõ ràng, biểu thị một nội dung nhất định, tương đối độc lập trong văn bản
2.2 Lịch sử nghiên cứu truyện tiếu lâm Việt Nam
Trong quá trình tìm hiểu vấn đề để nghiên cứu luận văn này chúng tôi thấy truyện tiếu lâm Việt Nam được các nhà nghiên cứu đề cập tới ở nhiều độ khác nhau Sau đây chúng tôi xin điểm qua một vài công trình, bài viết có liên quan tới truyện tiếu lâm Việt Nam và đề tài mà chúng tôi đang thực hiện
Giáo trình “Văn học dân gian” (tập hai), Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ
Quang Nhơn biên soạn đã đề cập đến vấn đề nội dung, nghệ thuật trong truyện tiếu lâm Nhưng đó mới chỉ là những nhận xét, đánh giá, phân tích của các tác giả xuất phát từ quan điểm văn học và ở mức khái quát chứ chưa đi sâu vào đặc điểm về đoạn kết thúc truyện tiếu lâm một cách cụ thể
Trong cuốn “Hành trình vào xứ sở cười”, Vũ Ngọc Khánh đã nghiên cứu tương đối toàn diện và khái quát các vấn đề như:“Lịch sử tiếng cười”, “Có những vùng cười”,
“ Những lĩnh vực cười” Đồng thời, tác giả cũng đã đề cập tới nguyên nhân và một số
phương pháp gây cười của người Việt Nhưng những nhận xét, đánh giá, phân tích của tác giả đều xuất phát từ quan điểm văn học dân gian
Tác giả Nguyễn Đức Dân quan tâm tới truyện cười bằng phương pháp phân tích
ngôn ngữ Trong các công trình nghiên cứu của mình, ông đã đề cập tới: “ Ngôn ngữ lôgíc và những nụ cười”, “ Tiền giả định, tiêu điểm và câu mơ hồ trong truyện cười”,
“Ngôn ngữ và tiếng cười” Khi nghiên cứu truyện cười, tác giả đã khẳng định cơ chế
gây cười trong đó là những yếu tố, biện pháp thuộc về ngôn ngữ Có những truyện cười thể hiện trí tuệ thuần tuý qua ngôn từ Người ta cười vì nó tạo ra khoái cảm qua nghệ
Trang 7thuật ngôn từ Với cách tiếp cận như vậy, tác giả đã khẳng định được vai trò của ngôn ngữ trong truyện cười, đặc biệt là hàm ý và xây dựng các lối nói mơ hồ Nhưng đây vẫn chỉ là những bài viết riêng lẻ trên các tạp chí chứa chưa phải là công trình nghiên cứu đầy đủ về truyện tiếu lâm
Tác giả Đỗ Thị Kim Liên trong các cuốn: “Ngữ nghĩa lời hội thoại”, “Giáo trình ngữ dụng học” cũng đã sử dụng một số truyện tiếu lâm để làm ngữ liệu cho công trình
của mình Tác giả đã đề cập nhiều đến vấn đề nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn cùng với việc chỉ ra các phương thức gây cười Tuy nhiên ở đây tác giả chỉ khai thác truyện tiếu lâm với tư cách là ngữ liệu để làm dẫn dụ cho lý thuyết hội thoại chứ không phải là một công trình nghiên cứu chuyên biệt về truyện tiếu lâm
Tác giả Nguyễn Thị Thân khi nghiên cứu: “Phương thức gây cười trong truyện cười Việt Nam” đã sử dụng rất nhiều các ví dụ của truyện tiếu lâm và chỉ dừng lại ở cấp
độ từ và câu chứ chưa đi vào đoạn văn kết thúc văn bản
Ngoài ra có rất nhiều các bài báo viết về truyện tiếu lâm Việt Nam và tìm hiểu trên nhiều phương diện Tuy nhiên để đi vào tìm hiểu sâu hơn về đoạn văn kết thúc với
tư cách là một công trình khoa học chuyên biệt thì chưa có
Chúng tôi cho rằng một trong những đặc trưng nổi bật của truyện tiếu lâm Việt Nam đó chính là đoạn văn kết thúc Vì vậy nghiên cứu truyện tiếu lâm Việt Nam với tư cách là nghiên cứu phần kết thúc văn bản và chỉ ra những đặc điểm của nó là vấn đề đang bỏ ngỏ luận văn này sẽ đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu, xác lập hệ thống các đặc điểm trong phần kết thúc văn bản nghệ thuật Thông qua đó chỉ ra những đặc điểm về nội dung và hình thức của truyện tiếu lâm Việt Nam
3 Đối tƣợng và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Luận văn lấy đối tượng khảo sát là đoạn văn kết thúc trong truyện tiếu lâm và đặt đối tượng này trong mối quan hệ với các yếu tố khác thuộc phạm trù nội dung và hình thức nghệ thuật của văn bản Tư liệu khảo sát chính của đề tài là:
- Kho tàng truyện tiếu lâm Việt Nam - Nguyễn Cừ, Phan Trọng Thưởng biên soạn NXB văn học Hà Nội 2002
Trang 8- Tiếu lâm Việt Nam hiện đại Đặng Việt Thủy NXB Thanh Hóa 2002
Ngoài ra luận văn còn lấy tư liệu của một số nhà văn khác làm cơ sở để so sánh, đối chiếu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Khảo sát đoạn văn kết thúc truyện tiếu lâm ở các mặt: Cấu tạo, vai trò ngữ nghĩa, quan hệ kiểu kết làm sáng tỏ đơn vị này
Thống kê, phân loại, phân tích chứng liệu, số liệu thu thập được từ đó nhận xét tổng quát về đặc điểm đoạn văn kết thúc truyện tiếu lâm dân gian và tiếu lâm hiện đại (hình thức, nội dung, quan hệ, kiểu kết)
Tìm hiểu nghiên cứu đoạn văn, đặc biệt là đoạn văn kết thúc chúng tôi mong muốn góp phần tích cực vào việc phân tích, bình giá văn bản nghệ thuật nói chung, nhất
là văn bản thuộc loại hình tự sự đồng thời góp phần vào việc dạy và học môn tập làm văn trong nhà trường
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn này chúng tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp phân loại:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp,
- Phương pháp so sánh, đối chiếu,
Từ kết quả khảo sát chúng tôi khái quát thành các luận điểm, tiến hành phân tích, miêu tả, chứng minh và đưa ra nhận xét
5 Đóng góp mới của luận văn
Làm sáng tỏ bản chất đặc trưng của đoạn văn kết thúc truyện tiếu lâm
Chứng minh sự đa dạng, phong phú của đoạn văn kết thúc văn bản nghệ thuật ở các mặt: Hình thức biểu đạt và nội dung ngữ nghĩa
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn được triển khai trong ba chương
Chương 1: Những khái niệm liên quan đến đề tài
Trang 9Chương 2: Đặc điểm về mặt ngữ pháp của đoạn kết trong truyện tiếu lâm Việt
Nam Chương 3: Một số đặc điểm về nội dung của đoạn kết trong truyện tiếu lâm
Trang 10Chương 1
NHỮNG KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Đặc điểm vai trò của truyện tiếu lâm
1.1.1 Khái niệm
Truyện tiếu lâm thực chất là truyện cười dân gian, bao gồm cả truyện khôi hài và truyện trào phúng được quần chúng nhân dân sáng tạo trong lao động, trong cuộc sống nhằm giải trí, hoặc để châm biếm đã kích những thói hư tật xấu của người đời
Hiện nay định nghĩa về truyện tiếu lâm được hiểu theo hai nghĩa Nghĩa thứ nhất ( nghĩa rộng ) chỉ truyện tiếu lâm đồng nghĩa với truyện cười Nghĩa thứ hai (hẹp hơn) chỉ truyện tiếu lâm là một bộ phận của truyện cười dân gian ( có mang yếu tố tục )
Giáo trình “ Văn học dân gian Việt Nam ” do Đinh Gia Khánh (chủ biên ), Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn định nghĩa: “Tiếu lâm có nghĩa là rừng cười Truyện tiếu lâm xét cho kỹ không phải là loại truyện cười riêng biệt Cái tên ấy chẳng qua để gọi truyện cười nói chung dẫu là khôi hài, dẫu là trào phúng ” [21,372]
Định nghĩa truyện tiếu lâm trong “ Từ điển thuật ngữ văn học ” Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên: “ Là một thể loại thuộc truyện cười dân gian Tiếu lâm có nghĩa là rừng cười còn được gọi là tiếu thoại [20,79]
Trước cách mang tháng Tám tiếu lâm được dùng khá phổ biến ở nước ta chỉ toàn
bộ truyện cười dân gian ( không kể truyện thanh hay tục ) Từ sau cách mang tháng Tám
nó dần dần được thay thế bằng truyện cười dân gian và khái niệm của nó cũng bị thu hẹp
Như vậy truyện tiếu lâm là truyện cười dân gian dùng những cái phi lí, bất ngờ, ngược đời trái khoáy đề cười nhằm mua vui giải trí hoặc để châm biếm, đã kích, phê phán
1.1.2 Đặc điểm, vai trò truyện tiếu lâm Việt Nam
* Đặc điểm:
Truyện tiếu lâm được cấu tạo ngắn gọn, ít nhân vật, các nhân vật là những nhân vật chức năng không có tính cách và diện mạo
Trang 11Tuy dung lượng truyện ngắn, nhưng có nội dung hàm súc, cô đọng, tập trung vào
đã kích, châm biếm, phê phán giai cấp thống trị phong kiến suy đồi như cua chúa, quan lại, phú nông hay các thầy như thầy đồ, thầy bói, nhà sư Và cũng có bộ phận nhằm mua vui, giải trí chính là niềm vui hồn nhiên của con người
* Vai trò truyện tiếu lâm
Truyện tiếu lâm được quần chúng nhân dân sáng tác, nó có mặt ở mọi đối tượng, tầng lớp không chừa hay kiêng nể bất kỳ một khía cạnh xấu xa nào, kể cả tôn giáo, giai cấp thống trị và lại càng không né tránh bản thân mình
Truyện tiếu lâm với vai trò to lớn của nó là dùng để gây cười, đó là tiếng cười hài hước với giá trị mua vui, giải trí nhưng bên cạnh đó tiếng cười còn dùng để phê phán giai cấp thống trị như vua, chúa, quan lại Ngoài ra nó còn dùng để phê phán nhà sư, thầy đồ, thầy bói Những truyện như thế mang ý nghĩa đấu tranh, đã kích xã hội Và có tiếng cười phê phán thói hư tật xấu của người dân lao động Hơn nữa tiếng cười còn được thể hiện trong tình yêu, trong đối đáp ứng xử, trong hôn nhân gia đình
1.2 Nội dung truyện tiếu lâm
Trong truyện tiếu lâm dân gian, chúng ta có thể thấy bộ phận được nói tới nhiều nhất chính là giai cấp phong kiến với những thói hư, tật xấu Vì thế, truyện tiếu lâm mang ý nghĩa đấu tranh xã hội rất mạnh mẽ, nó được phát triển mạnh trong thời kì phong kiến suy đồi Hàng loạt truyện như truyện Trạng Quỳnh, Ba Giai, Tú Xuất, Trạng Lợn được ra đời Tiếng cười của nhân dân đã vạch rõ những nét tiêu cực trong sinh hoạt, trong hành động của bọn đạo đức giả, hèn nhát, bất tài nhưng lại luôn tỏ vẻ oai vệ như: Địa chủ, lý trưởng, phú nông… Cũng như nhà sư, thầy đồ, thầy lang là những con người đạo mạo, đàng hoàng ấy vậy mà trong truyện tiếu lâm họ lại là những con người với đầy
đủ thói hư, tật xấu, dốt chữ, tham ăn…
Nội dung của truyện tiếu lâm hiện đại khá phong phú, tiếng cười được thể hiện trong nhiều mặt Là tiếng trong tình yêu, quan hệ nam nữ, tiếng cười trong đối đáp, ứng
xử, trong hành lang pháp luật hay trong kinh doanh, buôn bán… Không chỉ có vậy, bên cạnh tiếng cười mua vui, giải trí còn có tiếng cười chế giễu thói ham ăn, tục uống hay trong hôn nhân, gia đình…
Trang 121.3 Bố cục truyện tiếu lâm
Bố cục là sự tổ chức các yếu tố nội dung theo một số chủ đề nhất định Bố cục thuộc nội hàm khái niệm kết cấu Dù kết cấu bề mặt hay chiều sâu thì đều hướng tới làm
rõ chủ đề tư tưởng, bộc lộ tính cách nhân vật, tổ chức truyện thành thể thống nhất Kết cấu là kiến trúc của tác phẩm, là quan hệ hữu cơ giữa toàn thể với bộ phận, bộ phận với
bộ phận nhằm biểu đạt nội dung
Kết cấu truyện tiếu lâm là kết cấu đơn tuyến, không chia thành nhiều tuyến phức tạp Nhân vật ít, đơn giản, không có đời sống nội tâm, không có những suy tư, dằn vặt…
Truyện tiếu lâm tuy ngắn nhưng bao giờ cũng có đầy đủ các thành phần: Trình bày, khai đoạn, phát triển, đỉnh điểm và kết thúc Tuy nhiên không phải lúc nào truyện cũng đầy đủ các thành phần như vậy
1.4 Văn bản
1.4.1 Khái niệm
Thuật ngữ văn bản được nhiều người sử dụng và được sử dụng ở nhiều ngành khác nhau Đó là thuật ngữ được sử dụng trong ngành in ấn và lưu hành hàng ngày trong giao tiếp Cũng có khi được sử dụng trong ngành chuyên sâu nghiên cứu văn bản, khôi phục văn bản Văn bản với tư cách là một đối tượng ngôn ngữ học thì nó là chỉnh thể trên câu mang những đặc điểm riêng
Ở Việt Nam, ngôn ngữ học văn bản là một lĩnh vực còn khá mới mẻ Với công
đầu về nghiên cứu văn bản của giáo sư, tiến sĩ Trần Ngọc Thêm trong cuốn “ Hệ thống liên kết văn bản Tiếng Việt ” Sau đó có nhiều tác giải khác như Diệp Quang Ban, Đỗ
Hữu Châu, Hoàng Tuệ, Hồ Lê… đã có nhiều công trình nghiên cứu về văn bản với mức
độ khác nhau
Nói tới văn bản với tư cách là đối tượng của ngôn ngữ học ở đây được dùng với hai nghĩa:
- Văn bản chỉ những sản phẩm lời nói hoàn chỉnh
- Văn bản chỉ những thể thống nhất trên câu: Chỉnh thể cú pháp phức hợp, văn bản con
Trang 13Như vậy với vấn đề tên gọi về văn bản đã có sự không thống nhất với nhau Có rất nhiều định nghĩa về văn bản theo từng khuynh hướng khác nhau
1.4.1.1 Định nghĩa về văn bản theo hướng nhấn mạnh về hình thức
“Văn bản được xem xét như một lớp phân chia được thành các khúc đoạn ”
Trên đây là những định nghĩa về văn bản nhưng lại nhấn mạnh về mặt hình thức
1.4.1.2 Định nghĩa về văn bản theo hướng nhấn mạnh về nội dung
L.M.Loseva 1980 cho rằng: “Văn bản là điều thông báo viết, có đặc trưng là hoàn chỉnh về ý nghĩa và cấu trúc và thái độ nhất định của các tác giả đối với điều được thông báo (…) Về phương diện ngữ pháp, văn bản là một hợp thể nhiều câu (ít khi là một câu) liên kết với nhau bởi ý và bằng các phương tiện từ vựng ngữ pháp”
Nicolai nhận xét: Văn bản là một hệ thống gồm một chuỗi câu và mỗi câu là một đơn vị liên kết văn bản Các đơn vị liên kết của văn bản tập hợp với nhau tạo thành cấu trúc nhằm thực hiện một ý đồ giao tiếp
1.4.1.3 Định nghĩa về văn bản theo hướng tổng hợp
Theo Trần Ngọc Thêm: “ Văn bản là một hệ thống mà trong đó các câu mới chỉ
là phần tử Ngoài các câu phần tử, trong hệ thống văn bản còn có cấu trúc Cấu trúc của văn bản chỉ ra vị trí của mỗi câu và những mối quan hệ của nó với những câu xung quanh nói riêng và với toàn văn bản nói chung Sự liên kết là mạng lưới của những quan hệ và liên hệ ấy ”
Theo Diệp Quang Ban: “ Văn bản là một loại đơn vị được làm thành từ một khúc đoạn lời nói hay lời viết, hoặc lớn hoặc nhỏ, có cấu trúc, có đề tài…loại như một truyện
kể, một bài thơ, một đơn thuốc, một biển chỉ đường …”
Trang 14Từ những định nghĩa trên ta có thể thấy khái niệm văn bản, phạm vi văn bản còn
có nhiều ý kiến chưa thống nhất Để thuận tiện cho việc tìm hiểu văn bản chúng ta lựa
chọn định nghĩa sau: “Văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, được tạo lập bởi sự liên kết các câu, các đoạn văn…tạo thành một đơn vị hoàn chỉnh về nội dung và hình thức, có tính độc lập” [11,30]
1.4.2 Sự phân đoạn trong văn bản
Văn bản là sự tập hợp nhiều câu, nhiều đoạn, nhiều chương, nhiều phần… Nhưng các bộ phận này phải tạo thành thể thống nhất hoàn chỉnh Tính chỉnh thể của văn bản được bộc lộ ở tính chất trọn vẹn về nội dung và hình thức
Về nội dung: Một đoạn văn bản dù ngắn hay dài cũng trình bày được một nội dung trọn vẹn khiến cho người khác hiểu được một sự việc, một tư tưởng hay cảm xúc nào đó
Ngoài ra tính chỉnh thể về nội dung còn bộc lộ ở tính nhất quán về chủ đề: Mỗi văn bản tập trung vào việc thể hiện một chủ đề nhất định Chủ đề này được phát triển qua các chủ đề bộ phận nhưng nó vẫn đảm bảo được tính thống nhất của văn bản
Về hình thức: Được bộc lộ ở kết cấu Văn bản được sắp xếp theo một trình tự nhất định, hợp lý, lôgic, khách quan Có rất nhiều cách bố cục nhưng chung quy lại ta thường thấy có kiểu bố cục ba phần:
- Phần mở
- Phần thân
- Phần kết
Ngoài ra còn có phần tiêu đề, phần có hoặc không có Tuy nhiên không phải bất
cứ văn bản nào cũng có ba phần như trên
1.5 Đoạn văn
1.5.1 Các ý kiến về đoạn văn
Các nhà ngôn ngữ hiện nay đang đưa ra các quan niệm của mình về mối quan hệ giữa đoạn văn bản và chỉnh thể trên câu Đây là vấn đề đang gây nhiều tranh cãi nhưng chủ yếu có hai hướng ý kiến sau:
Trang 15Hướng thứ nhất: Đoạn văn và chỉnh thể cú pháp phức hợp là hai đơn vị tồn tại
trong văn bản, trên câu nhỏ hơn văn bản L.M.Loxeva cho rằng: “Không nên đối lập đoạn văn và chỉnh thể cú pháp thích hợp bởi vì đó không phải là những phạm trù cú tương tác lẫn nhau Tuy nhiên sẽ còn nguy hiểm hơn nếu không phân biệt chúng, coi phạm trù này là hình thức biểu hiện, tri giác…của phạm trù kia”
Cùng với hướng ý kiến nhấn mạnh đến nội dung của chỉnh thể trên câu còn có O.I.Moskalskaja, I.R.Gaperin
Theo O.I.Moskalskaja, để thống nhất trên câu được xem là: “Những chuỗi câu được tổ chức về mặt cấu trúc (khép kín) và là những thể thống nhất nghĩa là giao tiếp”,
đó là “văn bản con”, là một chuỗi câu đúng, được tổ chức một cách đặc biệt thể hiện
“một phát ngôn thống nhất”
Như vậy, khi nói đến thể thống nhất trên câu hay chỉnh thể trên câu đều nhấn mạnh đến nội dung Chỉnh thể trên câu biểu thị nội dung tương đối trọn vẹn, dù tách ra khỏi văn bản chúng ta vẫn có thể hiểu được nội dung ấy Đoạn văn có thể hoàn chỉnh về nội dung nhưng cũng có thể chưa hoàn chỉnh về nội dung Hơn nữa đoạn văn có hình thức xác định, còn chỉnh thể trên câu thường biểu thị một tiểu chủ đề trong văn bản, hình thức mờ nhạt Vì ranh giới giữa đoạn văn này với đoạn văn khác đôi khi không được rõ ràng về mặt nội dung
Hướng ý kiến thứ hai: Đồng nhất đoạn văn với các đơn vị trên câu, chỉ khác nhau
về tên gọi còn khái niệm chỉ là một mà thôi L.G.Pritman phủ nhận chỉnh thể trên câu và
chỉ thừa nhận đoạn văn: “Không có một dấu hiệu tương thích nào cho phép xác định địa
vị của đơn vị cú pháp phức hợp, chính vì vậy mà không thể, theo chúng tôi được xem là một đơn vị như thế… Chúng tôi cho rằng đơn vị cú pháp trên câu có bộ các dấu hiệu tương thích khu biệt nó về mặt phẩm chất với những đơn vị thuộc cấp độ thấp hơn các câu đó là đoạn văn”
Trần Ngọc Thêm trong: “Bàn về đoạn văn như một đơn vị ngôn ngữ” – Tạp chí
ngôn ngữ số 3 – 1984 cho rằng
1- Nó phải có khả năng khu biệt, có hình thức nhất định, với ranh giới rõ ràng
Trang 162- Theo F.de.Saussure một đơn vị ngôn ngữ là “sự phân chia trên dòng âm thanh phải tương ứng với sự phân chia trên dòng khái niệm”, tức là giữa nội dung và hình
thức phải thống nhất với nhau Sự thống nhất này dẫn tới hệ quả mỗi cấp độ chỉ có một đơn vị duy nhất tương ứng
3- Một đơn vị phải có khả năng sản sinh và có tính biến thể trên cơ sở những mô hình cấu trúc nhất định…
Với hai khuynh hướng nghiên cứu trên chúng ta thấy rằng các nhà nghiên cứu đã phân chia cấp độ trên câu thành chỉnh thể trên câu và đoạn văn Đó là kết quả của việc xuất phát từ nội dung và hình thức để xác định Có tác giả thừa nhận đơn vị này và phủ nhận đơn vị kia hoặc ngược lại
Trong công trình nghiên cứu khoa học khác Trần Ngọc Thêm khẳng định: “Đoạn văn là một bộ phận của văn bản, gồm một chuỗi phát ngôn được xây dựng theo cấu trúc
và mang một nội dung nhất định (đầy đủ hoặc không đầy đủ ) được tách ra một cách hoàn chỉnh về hình thức Ở dạng nói nó có kiểu ngữ điệu nhất định và kết thúc bằng quãng ngắt hơi dài Ở dạng viết nó bắt đầu bằng dấu mở đoạn ( gồm thụt đầu dòng, viết hoa ) và kết thúc bằng dấu ngắt đoạn (gồm dấu ngắt phát ngôn, xuống dòng )” [37,67]
Trong cuốn “Ngữ pháp văn bản và tập làm văn” Trần Ngọc Thêm cho rằng:
Đoạn văn là phương tiện để phân chia về mặt phong cách học Đoạn văn có khả năng thể hiện đặc trưng của phong cách chức năng và của thể loại văn bản, đặc trưng của văn
phong cá nhân “Đoạn văn chỉ là một phương tiện để phân loại về mặt phong cách học
Đó là một đoạn của văn bản thể hiện bằng những đơn vị ngữ pháp khác nhau Bất kỳ một từ, một câu, một nhóm câu, một chỉnh thể trên câu, một nhóm chỉnh thể trên câu cũng có thể tách ra được một đoạn văn”
Diệp Quang Ban xác nhận: “ Đoạn văn thông thường được hiểu là một phần của văn bản tách ra từ chỗ viết hoa, thường lui vào ở đầu dòng cho đến chỗ chấm xuống dòng ” [4,203] Như vậy, ông đã đứng trên góc độ kết cấu – phong cách học để đưa ra
cách hiểu của mình
Giáo trình “cơ sở ngôn ngữ học và Tiếng Việt” ( Bùi Tất Tươm, Hoàng Xuân Tâm, Nguyễn Văn Bằng ): “ Đoạn văn là một tập hợp nhiều câu thể hiện một chủ đề ”
Trang 17Phan Mậu Cảnh trong cuốn “Lý thuyết và thực hành văn bản Tiếng Việt” cho rằng:
“Đoạn văn là một bộ phận của văn bản do câu tạo thành theo một cấu trúc nhất định, biểu thị một nội dung tương đối độc lập, có hình thức rõ ràng” [11,126]
Theo tác giả Nguyễn Đăng Mạnh nhìn từ góc độ thực hành văn bản nghị luận đã
đưa ra luận điểm của mình về việc xác định đoạn văn phải đảm bảo hai tiêu chí: “Thứ nhất, nằm giữa hai chỗ xuống dòng, thụt đầu dòng, viết hoa khi mở đầu, xuống dòng khi kết thúc Thứ hai, chứa một ý tương đối hoàn chỉnh – một chủ đề nhỏ”
Nhìn chung, hiện nay vẫn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về đoạn văn, song các nhà nghiên cứu đã thống nhất với nhau ở mấy điểm:
Đoạn văn là một bộ phận của văn bản, gồm một câu hoặc một chuỗi câu được xây dựng theo một câu trúc có hình thức rõ ràng, biểu thị một nội dung nhất định, tương đối độc lập trong văn bản
Hiện nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau về vấn đề này song để tiện cho việc tìm
hiểu chúng ta có thể hiểu đoạn văn theo một quan niệm chung nhất: “Đoạn văn là một
bộ phận của văn bản do câu tạo thành theo một cấu trúc nhất định, biểu thị một nội dung tương đối độc lập, có hình thức rõ ràng” [11,126]
Chúng ta sẽ lấy một đoạn văn trong tác phẩm tự sự ra để làm minh chứng thuyết phục cho sự đa dạng ấy
(Phù thủy - Nguyễn Thị Thu Huệ)
Ví dụ trên có ba đoạn văn Đoạn văn thứ nhất là một từ, đoạn văn thứ hai gồm một từ, đoạn văn thứ ba là một tập hợp câu
Đoạn văn trên trùng với chỉnh thể trên câu, nó có tính chất khép kín tương đối về nội dung ngữ nghĩa Tuy vậy mỗi đoạn văn – chỉnh thể trên câu luôn có mối liên kết với những đoạn văn còn lại thuộc phạm trù văn bản
Trang 18Ví dụ:
“ Cái đói đã tràn đến xóm này từ lúc nào Những gia đình từ vùng Nam Định, Thái Bình đội chiếu lũ lượt bồng bế dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma nằm ngổn ngang khắp lều chợ Người chết như ngã rạ, không buổi sáng nào người đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường Không khí vẫn lên mùi
ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người
Giữa cái cảnh trời tối sầm lại vì đói khát ấy, một buổi chiều người trong xóm bỗng thấy Tràng về với người đàn bà nữa Mặt hắn có vẻ gì phởn phơ khác thường Hắn tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh Người đàn bà đi sau chừng
ba bốn bước Thị cắp cái thúng con con, đầu hơi cúi xuống, cái nón rách tàng nghiêng nghiêng che khuất đi nữa khuôn mặt Thị có vẻ rón rén e thẹn Mấy đứa trẻ con thấy lạ vội chạy ra đón xem Sợ chúng đùa như ngày trước Tràng vội nghiêm nét mặt, lắc đầu
ra hiệu không bằng lòng ”
( Vợ nhặt – Kim Lân )
Ví dụ trên bao gồm hai đoạn văn, mỗi đoạn văn là một cấu trúc khép kín thể hiện một nội dung tách biệt nhưng lại có quan hệ với đoạn văn còn lại Người đọc vẫn hiểu được nạn đói khổ năm Ất Dậu và niềm vui của Tràng khi có vợ
Đoạn văn một: Nạn đói khổ mà người dân phải trải qua
Đoạn văn hai: Niềm vui của Tràng khi có vợ dẫu đang phải đối mặt với nạn đói
ấy
Mỗi đoạn văn làm rõ ý cấu trúc của văn bản do đó ý của mỗi đoạn tương đối trọn vẹn và có mối liên hệ với các đoạn văn khác trong việc cấu thành văn bản
1.5.2 Phân loại đoạn văn
Phân đoạn văn chính là sự phân chia nội dung, chủ đề văn bản thành tiểu chủ đề, luận điểm… Nó làm rõ cấu trúc nội dung của toàn bộ văn bản Việc phân loại đoạn văn được xem xét trên các tiêu chí, các bộ phận trực tiếp cấu tạo thành đoạn văn như dựa vào chức năng, cấu tạo, quan hệ
1.5.2.1 Dựa vào cấu trúc
Trang 19Sự phân loại đoạn văn dựa vào cấu trúc là căn cứ vào mối quan hệ giữa các câu về mặt nội dung – ngữ nghĩa Xét về mặt cấu tạo đoạn văn có hai kiểu cấu tạo là đoạn văn bình thường và đoạn văn đặc biệt
* Đoạn văn bình thường
Là đoạn văn có nội dung tương đối trọn vẹn, có hình thức tương đối ổn định Loại đoạn văn này chiếm tỷ lệ khá lớn trong các văn bản phi nghệ thuật Tuy nhiên ở các văn bản văn xuôi nghệ thuật nó cũng chiếm số lượng đáng kể
Đoạn văn bình thường có thể trùng hoặc không trùng với chỉnh thể trên câu
Ví dụ:
“ Bà lão cúi đầu nín lặng, bà lão hiểu rồi Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu
ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán xót thương cho số kiếp đứa con mình Chao ôi, người ta dựng vợ, gả chồng cho con lúc ăn nên làm nổi mong sinh con đẻ cái để được nhờ Còn mình thì… Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt… Biết rằng chúng có nuôi nổi nhau qua được cơn đói khát này không ?
Bà lão khẽ thở dài, ngửng lên, đăm đắm nhìn người đàn bà Thị cúi xuống mân
mê tà áo đã rách bợt Bà lão nhìn thị và nghĩ: Người ta có gặp khó khăn, đói khổ này người ta mới lấy đến con mình Mà con mình mới có được vợ… Thôi bổn phận bà đã chẳng lo được cho con…may ra mà qua khỏi được cái tao đoạn này thì thằng con bà cũng có vợ, nó yên bề nó, chẳng may ra ông giời bắt chết thì cũng phải chịu chứ biết thế nào mà lo cho hết được ”
( Vợ nhặt – Kim Lân )
Ví dụ trên bao gồm hai đoạn văn
Đoạn một: Nỗi lòng tủi hờn của bà mẹ khi biết tin con lấy vợ trong cảnh đói nghèo
Đoạn hai: Phát triển tiếp ý của đoạn một, tồn tại vững vàng trong mối quan hệ với đoạn một
* Đoạn văn đặc biệt
Trong văn bản có hiện tượng một câu, một cụm từ, một từ đứng tách ra trong hình thức của đoạn văn Đó là đoạn văn đặc biệt Chúng xuất hiện bất thường, đứng tách biệt
Trang 20nhằm mục đích khác nhau của người viết Điều này thường gặp trong các văn bản thuộc phong cách nghệ thuật
- Đoạn văn đặc biệt một từ
Ví dụ:
“ Bến đò
Sang sông chỉ có một nhà sư, một nhà thơ, một nhà giáo, một tên cướp, hai tên buôn đồ cổ, hai mẹ con, một cặp tình nhân và chị lái đò ”
( Sang sông – Nguyễn Huy Thiệp )
- Đoạn văn đặc biệt một cụm từ
Ví dụ:
“ Ồn ào một hồi lâu
Anh Dậu dần dần thở mạnh, rồi lờ đờ mở hai mắt Mọi người hớn hở reo mừng ”
“ Buông tay, chị vội vàng choàng dậy, mở cửa chạy té ra sân
Trời tối đen như mực và như cái tiền đồ của chị ”
( Tắt đèn – Ngô Tất Tố )
Mỗi đoạn văn trong ví dụ là một câu Hai đoạn văn trên thuộc một chỉnh thể trên câu nhằm diễn tả sự sợ hãi và sự bế tắc của một người đàn bà đức hạnh và khốn khổ
1.5.2.2 Dựa vào quan hệ giữa các câu trong đoạn văn
Dựa vào câu chủ đề và quan hệ giữa các câu trong đoạn văn chúng ta có hai nhóm
Nhóm một: Đoạn văn có câu chủ đề
Là đoạn văn trong đó có câu chứa nội dung chính, các câu khác trong đoạn làm nhiệm vụ giải thích Đoạn văn có câu chủ đề tạo thành cấu trúc hai hoặc ba phần Căn cứ vào vị trí câu chủ đề có thể chia đoạn văn thành các kiểu:
Trang 21* Đoạn văn diễn dịch
Là đoạn văn được trình bày theo lối đi từ khái quát đến cụ thể, từ cái chung đến cái riêng Câu đầu là câu chủ đề, nòng cốt, nêu nội dung chính có tính luận điểm Những câu sau là sự phát triển chủ đề theo hướng cụ thể hóa
Ví dụ:
“ Nhật ký trong tù canh cánh một tấm lòng nhớ nước Chân bước đi trên đất
Bắc mà lòng vẫn hướng về Nam, nhớ đồng bào trong cảnh lầm than, và có lẽ nhớ cả tiếng khóc của biết bao nhiêu em bé Việt Nam qua tiếng khóc của một em bé Trung Quốc, nhớ người đồng chí đưa tiễn bên bến sông, nhớ lá cờ nghĩa đang tung bay phấp phới Nhớ lúc tỉnh và nhớ cả trong lúc mơ ”
( Hoài Thanh )
Ở ví dụ trên, câu mở đầu thể hiện nội dung khái quát của toàn đoạn Đó là nỗi nhớ của Hồ Chí Minh thể hiện qua “ Nhật ký trong tù ”, còn các câu sau là sự diễn giải, minh chứng làm nổi bật ý khái quát đó
* Đoạn văn quy nạp
Là đoạn văn có câu chủ đề nằm ở cuối cùng của đoạn, nêu nội dung chính có tính khái quát Các câu đứng trước nó là diễn đạt những ý cụ thể, riêng biệt, nêu hiện tượng dẫn chứng cho câu chủ đề, kết luận Đây là kiểu trình bày đi từ cụ thể đến khái quát
về lực lượng của chúng ta
* Đoạn văn tổng – phân – hợp
Trang 22Là đoạn văn được trình bày theo hai cách: Khái quát – cụ thể - Tổng hợp Những đoạn văn loại này thường trùng với chỉnh thể trên câu Đoạn văn tổng – phân – hợp có câu chủ đề đứng đầu và cuối đoạn văn, nêu nội dung chính có tính khái quát, những câu
ở giữa có nhiệm vụ nêu hiện tượng, dẫn chứng… cho câu chủ đề, kết luận
tâm, Khuyển Ưng vì tiền mà làm những điều ác Cả xã hội chạy theo tiền”
( Hoài Thanh)
Nhóm thứ hai: Đoạn văn không có câu chủ đề
Đoạn văn không có câu chủ đề là đoạn văn trong đó không chứa nội dung chính của cả đoạn Các câu trong đoạn có vai trò ngang nhau, tiếp nối nhau Căn cứ vào quan
hệ giữa các câu trong đoạn có thể chia đoạn văn thành các kiểu:
* Đoạn văn song hành
Là đoạn văn không có câu chủ đề Các câu trong đoạn ngang hàng với nhau về mặt nội dung và giống nhau về chức năng hướng tới bộc lộ một tiểu chủ đề Vì vậy, các câu trong đoạn có độ độc lập khá cao Nội dung của chúng không móc nối vào nhau mà liên kết theo kiểu liệt kê
Ví dụ:
“Có lẽ câu chuyện của tôi kết thúc ở đây Sau đó nếp sống của gia đình tôi trở lại như là trước ngày cha tôi nghỉ hưu Vợ tôi tiếp tục công việc bình thường Tôi đã hoàn thành công trình nghiên cứu điện phân Ông Cơ ít nói hơn, một phần vì bệnh cô Lài nặng hơn Lúc rỗi, tôi giở đọc những điều cha tôi ghi chép Tôi hiểu cha tôi hơn”
(Tướng về hưu – Nguyễn Huy Thiệp)
Trang 23*Đoạn văn móc xích
Là đoạn văn có quan hệ móc xích, một (một số) bộ phận ở câu trước làm tiền đề cho câu sau Sự lặp lại đó được biểu hiện bằng phép lặp từ hoặc thế đại từ Với kiểu đoạn này, các câu dường như móc nối vào nhau, câu sau làm nhiệm vụ phát triển chủ đề
tư tưởng cho câu trước Liên kết móc xích được sử dụng trong tất cả các phong cách
Ví dụ:
“Cám tức lắm, vội về nhà kể cho mẹ nghe Mẹ nó xui bắt chim làm thịt ăn Cám về cung sai lính giết chim ăn rồi vứt lông ra vườn Lông chim lại hóa ra hai cây xoan đào tươi tốt Vua thấy cây đẹp lấy làm thích, sai mắc võng đào để nằm chơi hóng mát”
( Tấm Cám – Văn 10- tập 1 )
Ví dụ:
“Ngôi nhà nhỏ ở trên đồi Ngôi nhà đơn độc lẻ loi Mưa xuân giăng giăng trùm lên ngôi nhà Mưa xuân giăng giăng trùm lên hai cây nhội gai lá đỏ Mưa xuân giăng giăng trùm lên quả đồi Năm nay mưa xuân trong thời tiết nồm thế này là có nhiều sâu hại lúa Mưa xuân suốt từ tiết kinh trập đến nay vừa được 14 ngày”
(Đời thế mà vui – Nguyễn Huy Thiệp)
1.5.2.3 Dựa vào chức năng đoạn văn
Văn bản là một đơn vị hòan chỉnh về nội dung và hình thức, có tính độc lập trong giao tiếp Trong cấu trúc của văn bản được thể hiện trên bề mặt có ba phần: phần mở đầu, phần nội dung triển khai và phần kết luận Trong mỗi phần có đặc điểm nhất định
về hình thức và nội dung, cấu tạo liên quan đến chức năng trong văn bản Các phần trong văn bản là sự hiện thực hóa của các đoạn văn Có nhiều cách phân loại đoạn văn, dựa vào vai trò chức năng có bốn loại: đoạn văn mở đầu, đoạn văn triển khai, đoạn văn chuyển tiếp, đoạn văn kết thúc
* Đoạn văn mở đầu:
Nói tới khái niệm văn bản, người ta nới tới những đặc điểm mang tính phổ quát nhưng khi đi vào phân tích và thực hành thì mỗi văn bản cụ thể thuộc về một phong cách chức năng nhất định Đoạn văn mở đầu là một phận của văn bản, do đó văn bản thuộc về
Trang 24phong cách khác nhau thì cách mở đầu cũng khác nhau nhưng chúng có những đặc điểm chung trong cấu trúc chung của văn bản
Là đoạn văn đứng đầu văn bản có nhiệm vụ thể hiện trực tiếp ý tưởng hay định hướng cho nội dung Đó có thể là chủ đề của văn bản được thể hiện ở câu mở đầu hoặc đoạn mở đầu Các câu tiếp theo, các đọan tiếp theo sẽ triển khai mạch nội dung này Do
đó, nó có liên quan trực tiếp chặt chẽ với phần triển khai và phần kết luận
Ví dụ:
“ Ai ở xa về, có việc vào nhà thống lý Patra thường trông thấy một cô con gái ngồi quay sợi bên tảng đá trước cửa nhà, cạnh tàu ngựa Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải hay đi cõng nước dưới suối lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi Người ta thường nói: nhà Patra làm thống lý ăn của dân nhiều, đồn tây lại cho muối về bán, giàu lắm, nhà có nhiều nương, nhiều bạc, nhiều thuốc phiện nhất làng Thế thì con gái nhà nó có bao giờ phải xem cái khổ, biết buồn Nhưng hỏi ra rồi mới rõ cô
ấy không phải con gái nhà Patra Cô ấy là vợ A Sử, con trai thống lý Patra ”
( Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài ) Đoạn văn
trên mở đầu văn bản, định hướng cho người đọc nắm bắt nội dung chủ yếu của nó (được trình bày qua các đoạn luận giải): Cái khổ, cái buồn, cái tủi nhục của người con dâu gạt
nợ ở nhà thống lý Patra
* Đoạn văn luận giải:
Có thể là vài đoạn ngắn gọn đối với văn bản ngắn, có thể số lượng rất lớn có khi đến hàng chục thậm chí hàng trăm đối với văn bản dài, công trình nghiên cứu, bộ tiểu thuyết Đoạn văn luận giải nằm ở phần nội dung chính, do đó mỗi đoạn văn là một bộ phận của nội dung chính, triển khai đề tài, chủ đề theo hướng đã được xác định ở đoạn
mở của văn bản Mỗi đoạn luận giải có thể thuộc một trong hai trường hợp thể hiện một vấn đề tương đối trọn vẹn hoặc chỉ là một bộ phận của vấn đề, khía cạnh đang được triển khai
Ví dụ:
“ Mị không nói A Sử cũng không hỏi thêm nữa A Sử bước lại, nắm Mị, lấy thắt lưng trói hai tay Mị Nó xách cả một thúng đay ra trói đứng Mị vào cột nhà Tóc Mị xõa
Trang 25xuống A Sử quấn luôn tóc lên cột làm cho Mị cúi xuống, không nghiêng đầu được nữa Trói xong vợ, A Sử thắt nốt cái thắt lưng xanh ra ngoài áo rồi A Sử tắt đèn, đi ra, khép cửa buồng lại ”
( Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài )
Đoạn ví dụ trên là một khía cạnh của vấn đề đang được triển khai Đó là nổi khổ cực của người con dâu gạt nợ Đoạn văn này nằm trong mạnh vận động của cốt truyện soi tỏ chủ đề
* Đoạn văn kết thúc
Là đoạn văn đứng cuối văn bản, nằm trong bố cục văn bản, có nội dung liên quan trực tiếp chặt chẽ với phần triển khai và phần mở đầu Có tác dụng tạo cho văn bản tính chất “đóng” cả về phương diện nội dung lẫn hình thức Cần hiểu tính chất đóng ở đây là điểm dừng về mặt văn bản theo dự định của người viết Nó là dấu hiệu kết thúc văn bản nhưng chưa hẳn chấm dứt mạch tư duy
Ví dụ:
“ Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do và độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy ”
( Tuyên ngôn độc lập – Hồ Chí Minh )
Đoạn văn kết đặc biệt vì lý do khác nhau, các câu trong đoạn lại được tách thành những đoạn riêng, tạo thành những câu, đoạn văn đặc biệt
Ví dụ:
Rồi anh run cầm cập, xếp thau, ôm đàn cuốn chiếu,cầm gậy thong thả lần lối đi Gió
Trang 26Mưa
Não nùng
(Anh xẩm - Nguyễn Công Hoan)
Nội dung của đoạn văn kết thúc:
Đoạn văn kết thúc biểu lộ những nội dung khác nhau nhưng đều có đặc điểm chung là ngưng vấn đề đã trình bày
+ Đoạn văn thâu tóm vấn đề nêu kết thúc:
Đoạn văn này thường gặp trong văn bản khoa học, chính luận, văn nghị luận
Ví dụ:
“ Sau năm 1975, lịch sử dân tộc mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự
do, và thống nhất đất nước Nền văn học cách mạng bước sang một chặng đường mới Sức sáng tạo được nhân lên và mở ra nhiều mối quan hệ với thời đại Đặc biệt Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) là mốc lớn đánh dấu sự chuyển biến quan trọng của văn học trên cơ sở đổi mới đất nước Các nhà văn tài năng gắn bó với nhân dân và đất nước, mang cảm hứng tự tầm vóc dân tộc và thời đại ”
( Khái quát văn học Việt Nam từ cách mạng tháng Tám năm 1945 đến hết thế kỉ XX – Văn học 11 )
Lối trình bày kết cục khép lại mọi suy đoán từ phía độc giả cũng thường xuất hiện
ở đoạn kết văn bản văn xuôi thời trung đại và các truyện cổ dân gian
Ví dụ:
“ Tin lạ ấy đến tai vua Vua cho là Đồng Tử và Tiên Dung làm loạn, liền sai quân đến đánh Quân nhà vua gần đến nơi Tiên Dung và Đồng Tử ở thì trời vừa tối, không sang song được Đến nửa đêm trời nổi cơn dông, cát bay cả lên trời, chỉ còn lại bãi đất không ở giữa đầm Bãi ấy về sau gọi là bãi Tự Nhiên, còn đầm ấy gọi là đầm Nhất Dạ Thấy có sự lạ lùng như vậy, nhân dân lập miếu thờ ngay trên bãi”
(Truyện cổ tích Việt Nam)
+ Đoạn kết có ý nghĩa gợi mở, định hướng:
Trong các văn bản nghệ thuật ta gặp rất nhiều đoạn văn khép lại vấn đề đã trình bày, mặt khác cũng gợi ra một hướng suy nghĩ mới
Trang 27* Đoạn văn tự nghĩa:
Đoạn văn tự nghĩa biểu đạt một lượng thông tin nhất định, hoàn chỉnh và tương đối độc lập Những đoạn văn tự nghĩa khi tách khỏi văn bản vẫn không gây cách hiểu
mơ hồ về nội dung Đoạn văn tự nghĩa không chứa những từ ngữ chuyển tiếp hay những
từ ngữ liên đới, phụ thuộc
Ví dụ:
“ Trên đầu núi, các nương ngô, nương lúa gặt xong, ngô lúa đã xếp yên đầy các nhà kho Trẻ con đi hái bí đỏ, tinh nghịch đã đốt những lều canh nương để sưởi lửa Ở Hồng Ngài người ta thành cái lệ cứ ăn tết khi gặt hái vừa xong, không kể ngày tháng nào Ăn tết như thế cho kịp lúc mưa xuân xuống thì đi vỡ nương mới Hồng Ngài năm ấy
ăn tết giữa lúc gió thổi vào cỏ gianh vàng ửng, gió và rét rất dữ đội ”
( Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài )
Tính độc lập của đoạn văn tự nghĩa chỉ mang tính lâm thời, nó luôn ở trong mối ràng buộc với các yếu tố khác của văn bản Trong sự vận động đi lên của văn bản thì đoạn văn tự nghĩa chỉ là “ chỗ ngừng tàm thời ” để rồi sau đó lại hòa vào trong dòng chảy liên tục để bộc lộ chủ đề của văn bản
* Đoạn văn hợp nghĩa:
Trong văn bản thường xuyên xuất hiện những đoạn văn không trọn vẹn về nội dung, tồn tại theo cách phụ thuộc vào đoạn văn đứng trước hay sau nó Đó là đoạn văn hợp nghĩa
Đoạn văn hợp nghĩa thường chứa những từ liên kết với đoạn kế cận (thường là quan hệ từ, đại từ) Những đoạn văn như vậy khi tách khỏi văn bản sẽ không tạo được bất kỳ hiệu quả giao tiếp nào
Ví dụ:
Trang 28“ Sau Tết Nguyên Đán một tháng là thời gian thích nhất ở rừng Cây cối đều nhú lộc non Rừng xanh ngắt và ẩm ướt Thiên nhiên vừa trang trọng, vừa tình cảm Điều ấy một phần là do mưa xuân
Khoảng thời gian này mà đi trong rừng, chân dẫm lên lớp lá ải mục, hít thở không khí trong lọc, thỉnh thoảng lại được thót mình bởi một giọt nước trên cây rỏ xuống vai trần thì thật tuyệt thú Tất cả những trò nhố nhăng, đê tiện vấp phải hàng ngày hoàn toàn có thể rũ sạch bởi một cú nhảy của con sóc nhỏ trên cành dâu da
Chính dịp đó ông Diểu đi săn”
(Muối của rừng - Nguyễn Huy Thiệp)
Đoạn 2, 3 trong ví dụ là đoạn hợp nghĩa, phụ thuộc vào đoạn 1 Vì thế không thể tách khỏi văn bản bởi đoạn văn không mang nghĩa tự thân
1.6 Đoạn văn kết thúc truyện tiếu lâm
Cũng như các loại văn bản khác truyện tiếu lâm bao gồm ba đoạn chức năng: Đoạn văn mở đầu làm nhiệm vụ của phần mở đầu
Đoạn văn luận giải làm nhiệm vụ của phần thân
Đoạn văn kết thúc làm nhiệm vụ của phần kết thúc
1.6.1 Đoạn văn mở đầu
Đoạn văn mở đầu thường dẫn người đọc vào câu chuyện chính Vì vậy đoạn văn
mở đầu thường được quan tâm Đoạn văn mở đầu có khi tạo khung, nền chung cho truyện (giới thiệu hoàn cảnh, khung cảnh, nhân vật), có khi tạo ấn tượng cho người đọc bằng những tình huống đặc biệt
Nếu như ở các thể loại khác (truyện ngắn, tiểu thuyết) có kiểu mở trực tiếp hoặc gián tiếp thì truyện tiếu lâm bao giờ cũng sử dụng cách mở duy nhất là mở trực tiếp
Kiểu mở trực tiếp là mở truyện nhanh, đi thẳng vào vấn đề mà tác giả muốn đề cập đến Do vậy, ngay lập tức người đọc được tiếp xúc với cốt truyện
Ví dụ:
“ Có người bán nửa gia tài, dồn tiền mua được vàng Bèn đào lỗ chôn ở góc vườn Thi thoảng người đó lại lên ngắm nghía, lấy làm thích thú lắm Có kẻ rình biết lén đến đào trộm mất Người kia bị mất vàng, đau xót quá ngồi ôm mặt khóc thảm thiết ”
Trang 29Đoạn văn ví dụ trên giới thiệu trực tiếp hoàn cảnh nhân vật, hướng sự chú ý của người đọc đến nhân vật và biến cố xảy ra với nhân vật này chắc chắn sẽ là tâm điểm của dòng biến đổi trong truyện
1.6.2 Đoạn văn luận giải
Đoạn văn luận giải làm nhiệm vụ triển khai nội dung chính của truyện Đoạn văn luận giải có thể tương ứng với một sự kiện, một tình tiết Do đặc điểm của truyện tiếu lâm là không kể, không lột tả tính cách nhân vật mà chỉ có sự diễn biến, luận giải sự kiện nên sự kiện ở đây rất được coi trọng
Ví dụ:
“Thầy bói kia vốn mê gái, vừa nghe nói mời xem bói cho con gái nhà giàu vội vã cắp tráp đi ngay Đến nhà thầy xin được vào phòng người ốm để gieo quẻ, thầy đã để ý cẩn thận, ước chừng từ phòng cô gái ra cái ghế tràng kỉ độ quãng tám sải ”
(Nhà có động)
1.6.3 Đoạn văn kết thúc truyện tiếu lâm Việt Nam
Cũng như các kiểu loại văn bản khác, đoạn văn kết thúc truyện tiếu lâm có chức năng đóng khép văn bản, là dấu hiệu hình thức rõ nhất thể hiện điểm dừng văn bản
Cấu tạo của đoạn văn kết thúc truyện tiếu lâm Việt Nam
Xét về mặt cấu tạo đoạn văn kết thúc truyện tiếu lâm chúng ta có thể nhận diện được hai kiểu kết là: Đoạn kết thúc bình thường và đoạn kết đặc biệt
* Đoạn kết bình thường:
Là đoạn kết có một chuỗi câu liên kết với nhau hợp thành một cấu trúc nhất định, thể hiện một nội dung tương đối hoàn chỉnh và đứng ở vị trí cuối tác phẩm
Ví dụ:
“ Chỉ còn anh lễ phép vẫn được lòng chủ (1) Cho đến một hôm anh ta cáng chủ
đi chơi, đến một chỗ lội, bùn ngập đến tận ống chân mà anh vẫn vui vẻ khiêng mà không” một lời phàn nàn (2) Thấy thế chủ anh ta bèn khen, để khuyến khích anh ta:
“Anh khá lắm, chịu khó lắm, cứ cố gắng đi rồi đến Tết tôi sẽ may cho một cánh (3) Rồi xem có đám nào tôi sẽ hỏi cho một đám” (4) Vừa nói đến đấy thì anh lễ phép đặt ngay
Trang 30cáng xuống giữa đống bùn rồi khoanh tay lễ phép: “Con xin đa tạ ông!” (5) Thế là cả
bộ quần chùng áo dài trắng bốp của ông chủ nhuộm trong đống bùn ”(6)
(Ba anh đầy tớ )
Đoạn ví dụ trên gồm có 6 câu được liên kết với nhau cùng diễn đạt một nội dung
đó chính là tính lễ phép của anh đầy tớ Đoạn kêt này có mối quan hệ với đoạn mở đầu
và luận giải tạo thành một văn bản hoàn chỉnh
* Đoạn kết thúc đặc biệt:
Là đoạn văn kết thúc chỉ có một câu, một từ, hoặc một cụm từ mà thôi Với kiểu kết thúc đặc biệt này chúng thường có nội dung không trọn vẹn và khó tồn tại khi tách rời tác phẩm Có thể thấy số lượng câu chữ và ý nghĩa ở những đoạn văn kết thúc đặc biệt luôn tỉ lệ nghịch với nhau Lượng câu chữ phải tự sinh ra một sức nén lớn
Ví dụ 1:
“Nói xong rồi tốc váy, đứng dậy …”
Ví dụ 2:
“Nói xong lại bảo cất hai quan tiền đi ”
Các kiểu lời trong đoạn kết
Ngôn từ đoạn văn kết thúc được thể hiện dưới hai dạng thức cơ bản là đơn thoại
và đối thoại
* Đoạn kết đơn thoại:
Là đoạn kết chỉ gồm lời của đối tượng duy nhất không trực tiếp hướng tới đối tượng tiếp nhận cụ thể, xác định
Truyện tiếu lâm được kết thúc bằng lời của người kể khá phổ biến chỉ có ở ngôi thứ ba (người chứng kiến) Đây là phương thức trần thuật theo lối truyền thống
Ví dụ :
“Hai vợ chồng nhà kia vừa thẹn, vừa sợ, vùng dậy vác gậy đuổi đánh cho anh chàng buôn vịt trời một trận nên thân”
* Đoạn kết đối thoại:
Là loại đoạn văn tham gia biểu thị một tình huống đối thoại Trong văn bản truyện tiếu lâm chúng xuất hiện khá thường xuyên dưới dạng đoạn thoại trao – đáp
Trang 31Đoạn lời trao – đáp
Ví dụ :
“Nghệ sỹ Piano nói thầm với nghệ sỹ Violon:
- Này chúng ta bị chệch nhịp rồi Bác đã chơi trước tôi 12 nhịp thì phải
- Cứ bình tĩnh Đừng nói cho ai biết nhé Tôi đang vội để về cho kịp tàu mà”
Mỗi lời thoại của nhân vật được tách ra thành đoạn văn riêng Đoạn kết là lời trao đáp, nằm trong mạch hội thoại của các nhân vật
* Vai trò của đoạn văn kết thúc
Là đoạn văn khép văn bản, đoạn văn kết thúc truyện tiếu lâm có vai trò đáng kể trong việc tạo sức sống, sức sinh sôi cho truyện Đoạn văn kết thúc không chỉ có vai trò tạo sự hoàn chỉnh cho cốt truyện (hướng nội) mà còn có tác động không nhỏ đến những suy ngẫm, triết lý trong cuộc sống qua từng mẫu truyện (hướng ngoại)
Thông thường đoạn kết trong truyện tiếu lâm thường khép lại một lớp truyện, một
sự kiện từ đó tạo sự bất ngờ, gây cười
và truyện cười nói chung
Trang 32CHƯƠNG II ĐẶC ĐIỂM VỀ MẶT HÌNH THỨC ĐOẠN VĂN KẾT THÚC
TRUYỆN TIẾU LÂM VIỆT NAM
Kết cấu của truyện tiếu lâm Việt Nam cũng giống như kiểu kết cấu của các loại văn bản khác bao gồm ba phần: phần mở đầu, phần triển khai và phần kết thúc
Như chúng ta đã biết đoạn văn là đơn vị trực tiếp cấu thành văn bản, có tính tương đối về nội dung và hoàn chỉnh về hình thức Phần kết thúc có thể là một đoạn văn dài cũng có khi chỉ có một câu Sự bất ngờ trong cách kết thúc của mỗi câu chuyện là điều được nhiều người quan tâm Trong chương 2 này chúng tôi đi sâu vào tìm hiểu về mặt hình thức của đoạn văn kết thúc truyện tiếu lâm ở các góc độ ngôn ngữ và đặt nó trong mối quan hệ với các yếu tố khác thuộc văn bản
Đoạn văn kết thúc là một phần cấu tạo nên văn bản Vì vậy về mặt cấu tạo đoạn văn kết thúc cũng có điểm giống với cách cấu tạo của các đoạn văn khác trong văn bản Đoạn văn kết thúc truyện tiếu lâm có hai loại: Đoạn kết bình thường và đoạn kết đặc biệt
2.1 Đoạn văn có cấu tạo bình thường
Là đoạn văn có nhiều câu liên kết với nhau thành một chỉnh thể, diễn đạt một ý tương đối trọn vẹn, xoay quanh một chủ đề, phục vụ cho chủ đề
Trong truyện tiếu lâm, đoạn văn kết thúc có cấu tạo bình thường chiếm số lượng lớn, ở mảng truyện tiếu lâm dân gian là (255/343 truyện) chiếm tỉ lệ 74,3%, còn ở tiếu lâm hiện đại chiếm tỉ lệ 73,1 % (329/450 truyện) Xét vào quan hệ giữa các câu trong văn bản, đoạn văn kết thúc truyện tiếu lâm có các kiểu kết sau
2.1.1 Đoạn văn kết thúc theo lối móc xích
Là đoạn văn có quan hệ móc xích, một một số bộ phận câu trước làm tiền đề cho câu sau Với kiểu đoạn này các câu dường như móc nối vào nhau, câu sau làm nhiệm vụ phát triển chủ đề tư tưởng cho câu trước nhằm đi đến hồi sáng tỏ Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy có 173/ 255 đoạn văn kết thúc truyện tiếu lâm dân gian chiếm tỉ lệ 67,8%
và 217/329 đoạn văn kết thúc truyện tiếu lâm hiện đại chiếm tỉ lệ 66% được kết thúc
Trang 33theo lối móc xích này Đây là kiểu đoạn văn chiếm số lượng lớn nhất trong truyện Sở dĩ như vậy là do truyện tiếu lâm thiên về hình thức đối thoại, coi trọng sự kiện, sử dụng những móc xích liên đới để đi đến hồi sáng tỏ càng làm cho đoạn văn có cấu trúc nội tại bền chặt hơn Đoạn kết móc xích có khả năng xoáy sâu vào kết cục của truyện đồng thời
mở ra những tiến triển mới Những tiến triển này không thuộc phạm vi trình bày của truyện mà thuộc về suy nghĩ liên tưởng của người đọc
Ví dụ 1
“Trên chiếc cầu tre, cô gái nói với chàng trai:
- Anh ạ, chúng mình yêu thương nhau thật lòng mà cứ bị cấm đoán thế này thì thà chết còn hơn
Chàng trai gật đầu:
- Tại ông cụ nhà em ấy, cứ trông thấy anh là chửi mắng cạnh khóe, nhiều lúc anh chỉ muốn rủ em đến đây, nhảy xuống dòng nước xiết dưới kia cho rồi!
Cô gái hốt hoảng nắm chặt tay chàng trai:
- Ôi giời! Tự tử à, nhưng mà em không biết bơi…với lại nếu tự tử mà không chết thì bố em biết, ông lại đánh em… chết thì sao?”
( Thà chết còn hơn )
Đoạn ví dụ trên là một đoạn văn móc xích nhưng được tồn tại dưới dạng hội thoại Tình yêu sâu nặng của đôi nam nữ kia bị bố cô gái cấm đoán nên cả hai cùng nghĩ đến cái chết Từ đây diễn tiến của câu chuyện được mở ra thông qua lời trao và lời đáp của
cả hai nhân vật thông qua các từ như “nhảy xuống dòng nước xiết”, “tự tử”, “đánh em chết”, đây chính là những mắt xích liên đới để đi đến hồi sáng tỏ
Có thể nói độ nén và tính liên tục của sự kiện trong truyện tiếu lâm chi phối mạnh đến đoạn văn kết thúc, kiểu đoạn móc xích làm cho truyện đến hồi kết vẫn không ngừng
tiến triển Nó góp phần tạo nên tiếng cười và những suy nghĩ trong truyện tiếu lâm
2.1.2 Đoạn văn kết thúc theo lối song hành
Đây là loại đoạn văn chiếm tỷ lệ lớn thứ hai sau đoạn văn móc xích Qua khảo sát
255 đoạn văn có cấu tạo bình thường trong truyện tiếu lâm dân gian chúng tôi thấy 53/
255 đoạn chiếm tỉ lệ 20,8% và 79/329 đoạn văn trong truyện tiếu lâm hiện đại chiếm tỉ
Trang 34lệ 24% Sở dĩ như vậy là vì truyện tiếu lâm thiên về những sự kiện Hơn nữa, trong nhiều truyện tiếu lâm tồn tại phương thức trần thuật với giọng điệu khách quan nên thường gặp những đoạn văn được trình bày theo phép liệt kê sự kiện
* Liệt kê diễn đạt quan hệ đồng thời
Là kiểu liệt kê các sự kiện diễn ra trong cùng một phạm vi thời gian
Ví dụ
“Nhà chủ thấy thế tưởng cơn điên của anh sắp nổi lên, liền bảo người nhà lấy thanh củi phang cho một trận Anh thợ may bất thình lình bị đánh kêu váng cả lên Càng kêu, càng rống họ cứ tưởng là điên càng đánh cho túi bụi, đến khi anh chàng đau quá, nằm đờ ra, họ mới thôi”
(Ác giả ác báo)
* Liệt kê diễn đạt quan hệ thời gian trước sau
Là phép liệt kê sự kiện diễn ra theo chiều thuận của thời gian Lối liệt kê này hoàn toàn tuân theo lô gích của hiện thực khách quan
Ví dụ
“ Một hôm khác, bố vợ giết trâu mở tiệc mừng thọ Cỗ bốn người một mâm, anh chàng thông manh cũng được dự ngồi một cỗ, anh lần lượt gắp ăn, nhưng chẳng biết gắp thế nào cho trúng, mà gắp không trúng thì e những người cùng dự cười chê Anh bèn bàn: Cỗ chỉ có mấy món thôi, gía ta trộn cả vào nhau thì ăn ngon hơn Thế rồi chia
ra mỗi người một phần lại càng tiện Họ nghe theo Nhờ thế anh ung dung gắp ăn phần của mình Nhưng không may cho anh là ăn phải miếng thịt trâu thái quá to, mà anh lại vội nuốt nên bị nghẹn ở cổ, nhả ra không được Anh ngồi chống đũa cố nuốt, nước mắt giàn giụa mà miếng thịt vẫn không chịu vào Mãi sau anh lấy hết gân sức cố nuốt, miếng thịt cũng trôi vào dạ dày Nhưng thật là may mắn, con mắt anh nhờ thế đột ngột sáng ra, anh nhìn thấy mọi người mọi vật, anh mừng quá! Anh bỗng có ý muốn nhìn mặt vợ một
tý để xem xem con người thế nào Nhưng khi đi vào nhà trong thì đàn bà con gái ngồi ăn
cỗ ở đây khá đông, anh chả biết làm sao mà phân biệt Bèn nghĩ được một mẹo Anh giả
bộ say, chân đi thất thểu Đến chỗ có phụ nữ, anh giả vờ đụng hết người này lại va vào
Trang 35người khác Thấy thế vợ anh nổi ghen và cũng sợ chồng mình quá chén còn làm điều gì thất thố nữa chăng, nên vội chạy lại dìu anh vào buồng Nhờ đó anh biết mặt vợ”
(Anh chàng thông manh)
Ở đoạn văn song hành chúng ta có thể thấy rằng các câu song hành ngang hàng với nhau trong việc biểu đạt nội dung Tất cả cùng hướng vào trung tâm ngữ nghĩa cùng bộc lộ một chủ đề Đoạn văn kết thúc có cấu trúc song hành còn làm nhiệm vụ tổng hợp tất cả những gì đã được triển khai ở các đoạn văn luận giải trước đó Sự liệt kê ở đây mang ý nghĩa khái quát, kết luận từng khía cạnh trong nội dung truyện
2.1.3 Đoạn văn kết thúc theo lối diễn dịch
So với hai kiểu kết thúc móc xích và song hành thì đoạn văn kết thúc theo lối diễn dịch chiếm tỷ lệ ít hơn Cụ thể, trong truyện tiếu lâm dân gian chỉ có 5,4% (14/255 đoạn văn) còn ở truyện tiếu lâm hiện đại có tỉ lệ 10% (33/329 đoạn văn)
Ví dụ:
“Người dân tộc có cách nói rất hình tượng Có lần tôi nghe một anh cán bộ miền núi than phiền về nạn đường xá ổ gà, ổ trâu của huyện nhà: “Sửa đường giống như vá quần rách, vá, vá, vá càng vá càng rách.” Lần khác nhân bàn về chuyện làm kinh tế, tôi hỏi anh về kinh tế thị trường, anh nhận xét một cách bất ngờ: “Cơ chế thị trường à? Sướng! Sướng lắm! Trước kia tôi muốn sơ một cái phải mất phạt vạ một bầy bò Bây giờ chỉ cần bán một con bò xuống thị xã sờ thoải mái ”
(Sờ thoải mái)
Trong đoạn ví dụ trên câu “Người dân tộc có cách nói rất hình tượng” là câu chủ
đề mang ý nghĩa khái quát Không chỉ có ý nghĩa khái quát, câu đầu đoạn văn còn có khả năng thâu tóm của truyện Mọi lí giải thuộc về nội dung của truyện Nó giúp cho người đọc hiểu cách nói đầy ví von hình ảnh của người dân tộc Các câu còn lại trong
đoạn văn có nhiệm vụ thuyết minh cho cách nói rất hình tượng ấy Với những câu diễn
tả về nạn đường sá, nền kinh tế thị trường từ đó tạo nên tiếng cười sâu sắc và để lại những suy nghĩ cho người nghe, người đọc
Ví dụ khác:
Trang 36“Cả năm lúc nào cũng lo thiếu Nào thiếu quỹ, thiếu két, thiếu chứng từ, thiếu chữ
ký, thiếu kinh phí, thiếu kế hoạch, thiếu ngân sách, thiếu cân đối, thiếu đổi mới một cái thiếu đã đủ mờ cả mắt, giờ lại thiếu cả tá thì coi như đời mình đi rồi còn gì ”
(Thiếu)
Ví dụ trên gồm có hai câu văn được viết theo lối diễn dịch Câu đầu tiên cũng là câu chủ đề diễn đạt nỗi lo thiếu hụt về mọi mặt của người sỹ quan tài chính Câu sau diễn đạt nội dung của câu đi trước nhằm bộc lộ chủ đề
Đoạn kết kiểu diễn dịch vẫn xuất hiện trong truyện tiếu lâm được khảo sát tuy chỉ chiếm một tỷ lệ thấp Ở vị trí cuối văn bản, nó làm cho người đọc thấy được độ dồn nén hai chiều (trước câu chủ đề bằng các đoạn luận giải, và sau câu chủ đề bằng câu diễn giải) Đoạn kết kiểu diễn dịch luôn tạo được điểm nhấn vào kết cục Nó tạo nên tính đóng khép cho câu truyện, vấn đề được giải quyết một cách khá trọn vẹn, câu chuyện đã
có điểm dừng
Qua khảo sát, chúng tôi không thấy xuất hiện đoạn văn quy nạp kiểu kết có cấu tạo ngược lại với đoạn văn diễn dịch và đoạn văn theo lối tổng - phân - hợp Bản thân đoạn kết nói chung có nhiệm vụ kết thúc Đặt trong mối tương quan với đoạn văn triển khai, đoạn kết thuộc về đoạn văn kết thúc truyện Mỗi câu trong đoạn văn kết thúc là những yếu tố thực hiện chức năng kết thúc cho nên nó ít hoặc không cần đến sự diễn giải trước nó Chính vì vậy đoạn văn quy nạp và đoạn văn tổng – phân - hợp không xuất hiện
Ngược lại, đoạn văn kết thúc theo lối móc xích chiếm tỷ lệ lớn Đó là do đặc trưng thể loại và tính liên tục của những sự kiện, nhất là truyện tiếu lâm tồn tại rất nhiều dưới dạng hội thoại Đoạn kết móc xích vừa xoáy sâu vào kết cục của truyện, vừa mở ra những suy nghĩ mới Đoạn kết song hành lại có những ưu điểm riêng, thâu tóm được nhiều vấn đề, tạo được lối trần thuật khách quan khiến người đọc tưởng như đó là chuyện của một ai đó, một lớp người nào đó và không nín nổi tiếng cười Đồng thời nó cũng thể hiện được sự phê phán mạnh mẽ vào những thói hư tật xấu trong xã hội Còn đoạn văn kết thúc theo lối diễn dịch chiếm tỷ lệ thấp nhưng nó thâu tóm được nhiều sự kiện, khép lại vấn đề trong từng câu chuyện
Trang 372.2 Đoạn văn kết thúc đặc biệt
Bên cạnh kiểu kết thúc bình thường thì truyện tiếu lâm còn có kiểu kết thúc đặc biệt Nó là ý đồ sáng tạo nghệ thuật của tác giả Đó là cách kết thúc bằng việc tách một câu ra thành một đoạn văn (đoạn văn đặc biệt), nhằm nhấn mạnh làm rõ chủ đề Kiểu đoạn văn này chiếm số lượng vừa phải trong truyện tiếu lâm 20,7% (71/343 đoạn) trong truyện tiếu lâm dân gian và 18,2% (82/450 đoạn) trong truyện tiếu lâm hiện đại
Kiểu đoạn này nếu tách riêng ra đứng độc lập khỏi bối cảnh chung của câu truyện thì nó không diễn đạt một ý trọn vẹn và không được chấp nhận Nhưng khi nó nằm trong tác phẩm, được tách ra từ đoạn văn kế cận trước đó thì đoạn này lại có giá trị ngữ nghĩa cao, có chức năng tải nghĩa mạnh hơn
Ví dụ:
“Ít lâu sau anh ta lại gặp một đám đông người khác Thì ra họ đang xem hai con trâu đang húc nhau chí tử Ngốc ta nhớ lời vợ dặn, chạy vào cố sức vỗ về hai con vật, miệng nói: thôi dĩ hòa vi quý đừng báng nhau nữa Nhưng không may cho anh, trong lúc đổi thế, một con đã húc nhầm vào người anh làm anh thủng bụng chết
Thế là hết đời anh chàng Ngốc”
(Anh chàng Ngốc làm theo lời vợ dặn)
Ở ví dụ vừa nêu, câu cuối cùng được tách ra làm thành một đoạn văn riêng nhằm nhấn mạnh kết cục của anh chàng ngốc nghếch Nhưng hình thức kết đoạn chỉ là một câu ở ví dụ này trong quan hệ với những đoạn trước đó vẫn tạo được một kiểu mạch dòng đứt nối, biểu cảm Thực ra, hai đoạn văn trong ví dụ này có thể dồn lại làm một đoạn nhưng như thế giá trị biểu cảm và ý đồ nghệ thuật của tác giả dân gian phần nào bị giảm bớt
Trong truyện tiếu lâm đoạn văn kết thúc có cấu tạo đặc biệt tạo nên một sức nén lớn cho thể loại này Số lượng câu chữ trong kiểu đoạn này tỷ lệ nghịch với nội dung ý nghĩa
* Đoạn kết là một câu
Trang 38Đoạn văn kết thúc bằng một câu được cấu tạo bởi một câu đơn hoặc câu ghép Việc tách hẳn một câu ra làm một đoạn văn riêng mang dụng ý nghệ thuật của tác giả dân gian nhằm khắc sâu thêm hình ảnh, chi tiết, tình tiết gây cười của truyện Với kiểu kết này chúng tôi có số liệu cụ thể qua khảo sát các truyện như sau Trong truyện tiếu lâm dân gian chiếm tỷ lệ 16,3% (56/343 truyện), ở tiếu lâm hiện đại chiếm tỷ lệ 16,7% (75/450) truyện
- Đoạn kết là một câu đơn
Câu đơn bình thường là câu chỉ có một kết cấu C – V, có khả năng thông báo một nội dung tương đối đầy đủ Khi được dùng trong văn bản, khi nó tách dòng để tạo thành một đoạn văn Câu đơn tự nó làm thành một đoạn, đoạn văn kết thúc truyện tiếu lâm thường mang nội dung tường thuật
Có rất nhiều câu đơn ngắn trong truyện như:
Ví dụ: “Nhà hàng cất cái biển đi luôn”
Trang 39(Tang vật của tên trộm)
Đoạn kết đặc biệt có hình thức là một câu hỏi mang đậm màu sắc tu từ Kiểu câu hỏi không cần câu trả lời với ý đồ nhấn manh, khắc sâu, tạo tình huống gây cười cho người đọc Tùy vào nội dung của từng truyện, đoạn kết đặc biệt bằng câu hỏi giúp người đọc xác định được tư tưởng, thái độ của người kể chuyện Chủ đề tư tưởng của truyện vì vậy cũng được bộc lộ rõ hơn
- Đoạn kết là một câu ghép
Có thể là câu ghép đẳng lập hoặc câu ghép chính phụ
Ví dụ:
“Nghe Xiển đối, quan //tím mặt (còn ) hành khách đi đò// thì tủm tỉm cười”
(Chửi quan huyện Thạch)
Ví dụ 2:
“Chủ nhà thấy thế giận lắm mới hò người nhà ra đuổi đánh, thầy vội vàng cắp đích chạy tháo thân”
(Nhà có động)
2 ví dụ nêu trên đều là câu ghép đẳng lập, các vế câu ngang hàng với nhau, vế này
không bao hàm vế kia Ví dụ 1 liên kết với nhau bằng quan hệ từ “còn”, nhằm diễn tả sự
tức tối của tên quan huyện ra vẻ hay chữ và hành khách chứng kiến được phen cười bõ ghét Ở ví dụ thứ hai tuy không xuất hiện từ liên kết nhưng hai vế câu liên kết với nhau bằng dấu “,” (phẩy)
Chúng ta thấy rằng trong hình thức là một câu, lượng thông tin của đoạn văn bị nén rất chặt Để giải mã người đọc không chỉ nối kết nó theo lối hồi quy (với đoạn trước) mà phải vận dụng khả năng suy đoán của mình Như vậy, đoạn văn kết thúc đặc biệt trong truyện tiếu lâm có giá trị lớn trong việc kích thích tư duy và nhận thức của người đọc
Khảo sát đoạn văn kết thúc đặc biệt trong truyện tiếu lâm chúng tôi thấy rằng đó
là kết quả của việc tách đoạn Tách câu thành một đoạn văn để nhấn mạnh trọng tâm ngữ nghĩa, đồng thời nó mang chức năng nhấn mạnh, biểu cảm
Ví dụ :
Trang 40“Ông bà cụ cũng chịu anh này là tài, nhưng lại hối hận vì thực ra ông chưa muốn
gã chồng cho con gái vội Tưởng rằng thách thế thì bọn thanh niên sẽ chịu bó tay, không ngờ lại gặp phải thằng bất trị này Hai ông bà bàn nhau có ý lảng ra không gã con cho anh láng giềng nọ Biết thế, anh này liền nói với vợ chồng ông cụ rằng: “Ông bà đã hứa, thì phải giữ lời Có cả làng chứng kiến cho tôi Nếu ông bà không muốn gã con gái cho tôi thì phải ăn cứt cho như tôi, tôi mới chịu” Hai vợ chồng ông cụ bàn nhau:
“Chắc cứt chó không khó ăn lắm thì một lúc nó mới ăn được ba đống như thế chứ.” Và hai ông bà này nhận lời là sẽ ăn cho nó xem Anh này liền ra vườn hót một đống cứt cho chính cống đễ lên bàn Ông cụ ngửi thấy đã lợm giọng, đến lúc nhắm mắt liều nếm một
tý thì không sao chịu được, nôn ọe lung tung Đành phải gã con gái cho anh kia
Thế là vừa phải ăn cứt cho vừa phải mất con gái ”
(Tài ăn cứt chó)
Ở ví dụ vừa nêu, đoạn văn kết thúc chỉ có một câu, tác giả dân gian đã tách một câu thành một đoạn để nhấn mạnh trọng tâm ngữ nghĩa Đoạn văn cuối liên kết với đoạn
văn trước nó bởi quan hệ từ thế là Ở đây giữa đoạn văn cuối với đoạn văn trước nó là
quan hệ giải thích, Thực ra có thể tiếp nối nhau trong cùng một đoạn, việc tách câu cuối
ra thành một đoạn văn riêng nhằm nhấn mạnh ngữ nghĩa: Hai ông bà già vừa phải ăn cứt chó vừa phải gả con gái cho anh chàng láng giềng Từ đó, thể hiện sắc thái cảm xúc và thái độ của người kể chuyện
Trong những đoạn kết thúc được khảo sát ta gặp khá nhiều đoạn được tách theo cách này Nó không chỉ có cơ sở ngữ nghĩa mà còn có chức năng nhấn mạnh, biểu cảm hay mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc
Ví dụ:
“Nhà xuất bản nọ mới nhận được một tập bản thao của một tác giả “mới tinh”, bên ngoài kẻ nắn nót dòng chữ “Tiểu thuyết lịch sử- Hưởng ứng sáng tác về đề tài lực lượng vũ trang” Mở ra, tác giả viết:“Một buổi tối tại căn cứ Chí Linh Lê Lợi ngồi xem
ti vi, ông chăm chú theo dõi phần thời sự quốc tế Bỗng nhân viên cơ yếu chạy vào cấp báo một bức điện khẩn của Nguyễn Trãi từ ngoài thành Đông Quan đánh vào Bức điện