Với hệ thống thảm thực vật phong phú, những người dân nơi đây đã biết tận dụng chúng làm nguồn tài nguyên sử dụng trong cuộc sống, đặc biệt những cây cỏ tự nhiên đã được sử dụng vào làm
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA SINH HỌC
GÓP PHẦN TƯ LIỆU HOÁ CÂY THUỐC VÀ CÁC BÀI THUỐC CỦA ĐỒNG BÀO MIỀN NÚI NGHỆ AN
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH: THỰC VẬT HỌC
Giáo viên hướng dẫn: TS Nguyễn Anh Dũng
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Nguyệt Lớp : 49A1 –Sinh học
Mã số sinh viên : 0853017617
VINH-2012
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp cuối khóa này tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, giúp đỡ và chỉ bảo tận tình của thầy giáo Ts Nguyễn Anh Dũng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành sâu sắc tới thầy
Đồng thời thông qua đây cho phép tôi gửi lời cảm ơn tới các anh chị cao học viên chuyên ngành thực vật đã chỉ bảo tận tình giúp đỡ tôi về phương pháp và cách làm khóa luận để tôi có thể hoàn thành được khóa luận này
Trong quá trình thực hiện đề tài do còn hạn chế về thời gian, trình độ, kinh phí nên khóa luận còn nhiều thiếu sót Tôi mong nhận được sự đóng góp
ý kiến quý báu của thầy cô giáo, các nhà khoa học
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 3MỞ ĐẦU
Việt Nam là một đất nước nằm hoàn toàn trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm Đây là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển thảm thực vật nhất là thực vật hạt kín, đã tạo nên nguồn tài nguyên cây cỏ đa dạng, phong phú và quý giá Con người ngay từ những ngày đầu, khi xã hội còn chưa phát triển đã biết tận dụng các cây cỏ trong tự nhiên để phục vụ vào cuộc sống hàng ngày như làm nhà ở, thực phẩm, nước uống và đặc biệt là trong chữa bệnh Chính vì vậy họ có rất nhiều kinh nghiệm quý báu, nhất là kinh nghiệm sử dụng các cây cỏ làm thuốc tạo nên các bài thuốc dân gian được lưu truyền cho đến tận ngày nay
Nghệ An là được xem là vùng đất “ địa linh nhân kiệt”, với diện tích đất đai rộng nhất cả nước nơi đây được thiên nhiên ưu đãi cho núi sông hùng vĩ, miền núi Nghệ An với hệ thống sinh quyển đa dạng, những thảm thực vật rộng lớn đã tạo nên hệ thống khu dự trữ sinh quyển rộng nhất khu vực Đông Nam Á Năm 2007 UNESCO chính thức công nhận khu dự trữ sinh quyển Pù Huống là khu dự trữ sinh quyển nằm trong hệ thống khu dự trữ sinh quyển thế giới Với hệ thống thảm thực vật phong phú, những người dân nơi đây đã biết tận dụng chúng làm nguồn tài nguyên sử dụng trong cuộc sống, đặc biệt những cây cỏ tự nhiên đã được sử dụng vào làm nên những bài thuốc dân gian, dễ chữa bệnh và mang lại hiệu quả cao
Đối với các đồng bào dân tộc miền núi tại Nghệ An, các kinh nghiệm sử dụng cây cỏ trong chữa bệnh lại đóng một vai trò hết sức quan trọng Những kinh nghiệm đó được tích lũy qua nhiều thế hệ do các ông lang, bà mế trong các thôn bản nắm bắt, lưu giữ Cho đến nay, khoa học đã chứng minh nhiều cây cỏ đã có tác dụng chữ trị bệnh rất hiệu quả Có nhiều bài thuốc dân tộc được sử dụng dưới nhiều hình thức kết hợp với nhau một cách hài hòa như xoa, bóp, uống, đắp….Bên cạnh sử dụng thuốc đông y cổ truyền, các nhà khoa học đã kiểm chứng khả năng trị bệnh của các bài thuốc, cây thuốc qua phân tích thành phần hóa học, tác dụng kháng khuẩn, sát trùng…để chứng minh hiệu quả trị bệnh của các bài thuốc
Ngày nay thời kì công nghiệp hoá ô nhiễm môi trường đã ảnh hưởng không nhỏ tới sức khoẻ cộng đồng, sự gia tăng bệnh tật ngày một nhiều, nhiều căn bệnh mà y học trong nước cũng như ngoài nước phải bó tay khi điều trị
Trang 4bằng thuốc tây Nhưng một số bài thuốc nam của y học cổ truyền lại chữa khỏi và không gây tác dụng phụ Chữa bệnh bằng tây y hiện đại lại tốn kém,
vì thế nhân dân ta đã biết tận dụng tự nhiên, khai thác các loại thực vật dùng làm thuốc đã để lại nhiều kinh nghiệm dân gian để chữa bệnh Nhưng kinh nghiệm qúi báu đó tích luỹ từ các ông lang bà mế từ bà con các dân tộc ngày càng mai một, cây thuốc khai thác từ của rừng ngày một nhiều, các kinh nghiệm qúi báu từ các người già mất đi không được lưu truyền cho các thế hệ sau Chữa bệnh bằng thuốc tây dần dần làm cho người ta quên đi những phương pháp chữa bệnh truyền thống và bỏ phí tài nguyên cây thuốc có sẵn, các lương y nổi tiếng của nước ta có công bảo tồn nhữg phương pháp chữa bệnh bằng kinh nghiệm truyền thống và bằng cây cỏ có sẵn chữa bệnh cứu người như Tụê Tĩnh, như Hải Thượng Lãn Ông trước đây để lại cho con cháu nhiều pho thuốc và kinh nghiệm chữa bệnh quý giá, nhiều tài liệu về cây thuốc của nhiều danh y để lại giúp con cháu đi sâu tìm hiểu từng hoạt chất có trong cây cỏ, trong các bài thuốc dân gian từ đó chiết xuất tạo ra các dược phẩm có giá trị chữa bệnh có hiệu quả nhưng việc sử dụng cây cỏ và các bài thuốc dân gian truyền thống vẫn được duy trì
Do đó việc thống kê và điều tra các loại cây cỏ tạo nên các bài thuốc theo kinh ngiệm dân gian có tác dụng chữa bệnh là rất cần thiết Việc thu thập kinh nghiệm dùng cây cỏ chữa bệnh có ý nghĩa về mặt văn hoá truyến thống nhân văn của các dân tộc truyền lại cho thế hệ sau
Xuất phát từ lí do đó mà chúng tôi chọn đề tài: "Góp phần tư liệu hóa cây thuốc và các bài thuốc của đồng bào miền núi Nghệ An" làm đề tài cho
khóa luận tốt nghiệp của mình Mục tiêu của đề tài:
1 Điều tra, thu thập và hệ thống hóa các loài cây cỏ được đồng bào miền núi
ở một số huyện thuộc tỉnh Nghệ An sử dụng làm thuốc
2 Phân tích tính đa dạng của các cây thuốc về: thành phần các taxon, dạng sống, môi trường sống, mức độ gặp, các bộ phận sử dụng và công dụng
3 Cố gắng thu thập và tư liệu hóa các bài thuốc dân gian của đồng bào miền núi tỉnh Nghệ An được dùng chữa bệnh có hiệu quả của dân bản hoặc của các ông lang bà mế
Trang 5CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ SỬ DỤNG CÂY THUỐC Ở MỘT
SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Từ khi con người xuất hiện, đối tượng tiếp xúc đầu tiên của họ là cây cỏ, con người đã sử dụng các cây cỏ để phục vụ cho cuộc sống của mình như làm thức ăn, nhà ở,… đặc biệt là làm thuốc chữa bệnh Vì vậy họ đã có nhiều kinh nghiệm quý báu, nhất là kinh nghiệm về cây cỏ làm thuốc Tuy nhiên, sự hiểu biết về các cây thuốc và bài thuốc dân gian còn tùy thuộc vào mức độ phát triển cuả quốc gia đó
Lịch sử nền y học Trung Quốc, Ấn Độ đều ghi nhận về việc sử dụng các cây cỏ làm thuốc cách đây 3000-5000 năm, là những cái nôi của nền y học nhân loại [60] Từ thế kỷ thứ II, người Trung Quốc đã biết dùng nước chè
(Thea sinnensis) để rửa vết thương và tắm ghẻ, dùng rễ cây cốt khí củ (Pollygonum cuspidatum), dùng rễ và vỏ cây táo tàu (Zizyphus jujuba), dùng các loại nhân sâm (Panax) để khôi phục ngũ quan, trấn tĩnh tinh thần, chế ngự
xúc cảm, chặn đứng kích động, giải trừ lo âu, sáng mắt khai sáng trí tuệ, gia tăng sự thông thái , được sử dụng từ lâu ở Trung Quốc [24]
Thần Nông là một nhà dược học tài ba của Trung Quốc đã chú ý tìm hiểu tác động của cây cỏ đến sức khỏe con người Ông đã sưu tầm và ghi chép nên
365 vị thuốc đông y trong cuốn “Mục lục thuốc thảo mộc” Từ thời xa xưa
các chiến binh La Mã đã biết dùng cây Lô Hội (Aloe barbadensis) để rửa viết
thương vết loét …chóng liền sẹo mà ngày nay khoa học đã chứng minh cây
có tác dụng liền sẹo thông qua khả năng kích thích tổ chức hạt và tăng nhanh quá trình biểu mô hóa [18, 41]
Ở các nước Nga, Đức, Trung Quốc đã dùng cây Mã Đề (Plantago major)
sắc nước hoặc giã tươi đắp chữa trị viết thương, viêm tiết niệu, sỏi thận [27]
Đã từ lâu người Cuba dùng bột papain lấy từ cây Đu đủ (Carica papaya) để
kích thích tổ chức hạt ở các viết thương phát triển [27] Y học dân tộc
Bungary đã coi Hoa Hồng (Rosa sinensis) là một vị thuốc chữa được nhiều
bệnh, người ta dùng hoa, lá, rễ để làm tan huyết và chữa phù thũng Ngày nay
Trang 6khoa học đã chứng minh được trong cánh hoa hồng có chứa một lượng tanin, glucosit, tinh dầu đáng kể Tinh dầu này không chỉ để điều chế nước hoa mà còn được dùng để chữa bệnh
Ở Bắc Mỹ từ những thế kỷ trước, thổ dân da đỏ đã biết dùng củ cây
Echinacea angustifolia chữa bệnh nhiễm khuẩn và thuốc chế từ cây cỏ này
chữa trị viết thương bưng mủ và vết rắn cắn Sau này Stoll (1950) và cộng sự
đã tách được một glucossit còn gọi là Echinacoit, kiềm chế được tụ cầu gây
nước cho trẻ uống trị sổ mũi, đau họng, ho gà …., cây Hương nhu tía
(Ociumum sanctum) trị đau bụng, sốt rét, nước lá tươi trị long đờm hoặc lá giã
nát đắp trị bệnh ngoài da, khớp [13] Trong chương trình điều tra cơ bản nguồn tài nguyên thiên nhiên của khu vực Đông Nam Á, Perry đã nghiên cứu
và ghi nhận nhiều cây thuốc của y học cổ truyền đã kiểm chứng thành cuốn
“Medicinal plans of East and Sontheast Asia” (1985) giới thiệu cây thuốc vùng Đông Nam Á [62] Trong đó ghi nhận người dân Campuchia dùng củ
khoai Sáp (Alocasi macrrhiza) chữa ghẻ, ngứa; người dân Lào ngâm vỏ cây Đại (Plumeria rubra) với rượu để chữa ghẻ lở; dân Thái Lan dùng nhựa mủ cây Đại (Plumeria rubra) trộn với dầu dừa bôi ngoài da trị viêm khớp [39]
Từ những kinh nghiệm dân gian, các nhà khoa học đã có nhiều công trình nghiên cứu về các loài cây và các sản phẩm chiết từ cây cỏ để chữa trị và đúc rút thành những cuốn sách có giá trị Từ đời nhà Hán (168 tr CN) của Trung Quốc trong cuốn sách «Thủ hậu bị cấp phương” tác giả đã kê 52 đơn thuốc chữa các bệnh từ các loài cây cỏ Vào giữa thế kỷ XVI, Lý Thời Trân
đã thống kê được 12.000 vị thuốc trong tập “Bản thảo cương mục ”[53]
Gần đây theo thống kê của tổ chức y học thế giới (WHO) thì đến năm
1985 đã có gần 20.000 loài thực vật (trong tổng số 250.000 loài đã biết) được
Trang 7sử dụng làm thuốc hoặc cung cấp các hoạt chất để chế biến thuốc Trong đó
Ấn Độ có khoảng 6000 loài, Trung Quốc 5000 loài, vùng nhiệt đới Châu Mỹ [62] Cây thuốc là loại cây cung cấp nhiều loại thuốc dân tộc và thuốc hiện đại trong việc bảo vệ sức khỏe con người
Tương truyền, người Ai Cập cổ đại khi xây dựng kim tử tháp vì không cung cấp đầy đủ tỏi cho các bữa ăn nên họ đã bãi công, buộc Pharaon bỏ rất nhiều tiền để mua tỏi phục vụ cho nhân công lao động Tại Trung Quốc, tỏi (Đại Đoán) đã được dùng trong chống bệnh đau màng óc, bệnh xơ cứng động mạch, huyết áp cao, ung thư, hạn chế bệnh đái tháo đường, chữa bệnh viêm đường ruột nhiễm khuẩn và trị giun sán [13]
Trên thế giới có rất nhiều loài cây thuốc quý hiếm nhưng do con người thác quá bừa bải cho nên rất dễ tuyệt chủng Do các hoạt động nhất định của con người mà nhiều loài động thực vật trên thế giới đã vĩnh viễn ra đi, hoặc đang bị đe dọa gay gắt về khả năng sống của chúng Theo Ranven (1987) và Ole Harmann (1988) trong vòng hơn năm năm trở lại đây, có khoảng 1.000 thực vật đã bị tiệt chủng, có tới 60.000 loài có thể bị gặp rủi ro hoặc sự tồn tại của chúng là mỏng manh vào giữa thế kỷ tới, nếu chiều hướng đe dọa vẫn tiếp diễn Trong một số loài thực vật đã bị mất hoặc đang bị đe dọa gay gắt, đương
nhiên có nhiều loài cây thuốc Như ở Banglađét có loài Tylophora indica
dùng để chữa bệnh hen, loài Zannonia indica để tẩy xổ; trước kia có khá
nhiều nay có nguy cơ bị tuyệt chủng (Theo IsIam A.S, 1991) [61] Cây Ba gạc
(Rauvolfia serpetin) hàng chục năm liền khai thác ở Ấn Độ, Silanka,
Bangladét, Thái Lan…với khối lượng từ 400-500 hoặc 1.000 tấn vỏ rễ/năm, xuất sang thị trường Âu Mỹ hiện nay đã cạn kiệt Thậm chí một số bang của
Ấn Độ, chính quyền địa địa phương đã chính thức đình chỉ khai thác loài cây thuốc này Tại hội nghị quốc tế về bảo tồn quỹ gen cây thuốc họp vào tháng 3 năm 1983 tại Chieng Mai –Thái Lan, hàng loạt các công trình nghiên cứu về cây thuốc đã được đặt ra và khẩn thiết tiến hành
Xã hội ngày càng phát triển, đời sống con người ngày được cải thiện, nên vấn đề sức khỏe được con người chú ý nhiều hơn, đặc biệt là các phương thuốc dân gian có giá trị, bởi vì nó ít có tác dụng phụ hơn so với thuốc tổng hợp từ các hợp chất hóa học (còn gọi là thuốc Tây) Song bên cạnh đó có một
Trang 8số bệnh nan y cần có sự kết hợp giữa Đông –Tây y Vì những căn bệnh này thường phải điều trị lâu dài, do vậy chỉ sử dụng một loại thuốc điều trị sẽ không hiệu quả mà cần phải phối hợp giữa y học hiện đại với y học cổ truyền của các dân tộc Cho nên việc bảo tồn các bài thuốc và cây thuốc dân tộc là cực kỳ cần thiết Vì vậy, hiện nay các nước trên thế giới đang hướng đến thực hiện chương trình quốc gia kết hợp sử dụng, bảo tồn và phát triển cây thuốc
và bài thuốc của các dân tộc khác nhau [46]
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ SỬ DỤNG CÂY THUỐC Ở VIỆT NAM
Việt Nam là một đất nước nằm sát bên cái nôi của nền y học nhân loại, nên chúng ta ít nhiều thừa kế được những kinh nghiệm về y học dân gian của Trung Quốc Ngoài ra, Việt Nam là một đất nước có 54 dân tộc anh em cùng sinh sống, mỗi dân tộc lại có một nền văn hóa riêng, kinh nghiệm chữa bệnh riêng Điều đó càng làm phong phú thêm kho tàng thuốc dân tộc của chúng ta
Y học cổ truyền Việt Nam có nhiều bài thuốc chữa các bệnh có hiệu quả, qua quá trình phát triển của dân tộc, các kinh nghiệm dân gian đã dần đúc kết thành những cuốn sách có giá trị và lưu truyền rộng rãi trong nhân dân, ví dụ
Đỗ Huy Bích, Võ Văn Chi, Nguyễn Hoàng Côi, Đỗ Tất Lợi [ 6, 13, 18, 39, 40]
Từ thời vua Hùng dựng nước (900 tr.CN) qua các văn tự Hán Nôm còn sót lại (Đại việt sử ký ngoại ký Lĩnh nam chích quái liệt truyện, Long úy bí thư ….) và qua các truyền thuyết tổ tiên ta đã biết dùng cây cỏ làm gia vị kích thích sự ngon miệng và chữa bệnh [20, 21, 22]
Cùng với sự phát triển của lịch sử, nền Y học cổ truyền Việt Nam cung vốn kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của nhân dân cũng dần phát triển, đã gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp của các danh y nổi tiếng Đời nhà Lý (1010-1224), Nguyễn Minh Khổng (tức Nguyễn Chí Thành) đã dùng nhiều cây cỏ chữa bệnh cho nhân dân và cho nhà Vua, nên được trấn phong là “Quốc Sử” triều Lý Đời nhà Trần (1225-1399) có sự kiện Phạm Ngũ Lão thừa lệnh Hưng Đạo Vương-Trần Quốc Tuấn thu thập trồng một vườn thuốc lớn để chữa bệnh cho quân sỹ, trên núi gọi là “Sơn Dược” hiện vẫn còn di tích để lại tại quả đồi thuộc xã Hưng Đạo (Chí Linh-Hải Dương) Chu Tiên biên soạn
Trang 9cuốn sách “Bản thảo cương mục toàn yếu ” là cuốn sách đầu tiên của nước ta, xuất bản năm 1429 [22]
Có hai danh y nổi tiếng thời đó là Phạm Công Bân và Tuệ Tĩnh ở thế kỷ
13 đã từng nêu quan điểm “Nam dược trị nam nhân” nghĩa là dùng thuốc Nam chữa bệnh cho người Việt Tuệ Tĩnh đã biên soạn bộ “Nam Dược Thần Hiệu” gồm 11 quyển với 496 vị thuốc nam trong đó có 241 vị có nguồn gốc thực vật và 3932 vị thuốc đơn giản để trị 184 chứng bệnh của 10 khoa lâm sàng Ông còn viết cuốn “Hồng nghĩa giác tư y thư” tóm tắt công dụng của
130 loài cây thuốc dùng cùng 13 đơn thuốc và cách trị cho 37 chứng sốt khác nhau Ông đã khẳng định vai trò của thuốc nam trong đời sống Trong “Nam
dược thần hiệu” có ghi: Tô mộc (Caesalpinia sappan) vị mặn, tính bình
không độc, trừ xấu huyết, trị đau bụng, thương phong sưng [51], Thanh hao
(Artemisia apiacea) chữa chứng sốt, lỵ…,Sầu đâu rừng (Brucea javanica) vị
đắng, tính hàn, có độc sát trùng, trị đau ruột non nhiệt trong bàng quang, điên
cuồng và ghẻ, Cây lá móng (Lawsonia inermis) chữa viêm đường hô hấp, Bạc
hà (Mentha arvensis) chữa sốt nhức đầu
Tuệ Tĩnh được xem là một danh y tài ba trong lịch sử y học nước ta, là
“Vị thánh thuốc nam” ông đã đề ra chủ trương lấy “Nam dược trị nam nhân”
Bộ sách quý của ông về sau bị quân Minh thu gần hết nay chỉ còn lại [51] Thời Lê Dụ Tông có Hải Thượng Lãn Ông, tên thực là Lê Hữu Trác (1721-1792) ở thế kỷ 18 cũng là một danh y nổi tiếng Ông đã kế thừa, tổng kết và phát triển tư tưởng của Tuệ Tĩnh trong việc dùng thuốc nam chữa bệnh Ông là người am hiểu nhiều về y dược, sinh lý học, đọc nhiều sách thuốc Trong 10 năm tìm tòi và nghiên cứu¸ông đã viết bộ sách về y dược “Lãn ông tâm lĩnh” hay “Y tôn tâm lĩnh”, gồm 66 tập Như “Y huấn cách ngân”, “Y lý thân nhân”, “Lý ngôn phụ chính”, “Lý ngôn phụ chính ” , “Y nghiệp thần chương” xuất bản năm 1772 Trong bộ sách này ngoài thừa kế “Nam Dược Thần Hiệu” ông còn bổ sung thêm 329 vị thuốc mới Trong quyển “Lĩnh nam bản thảo” ông đã tổng hợp dược 2.854 bài thuốc chữa bệnh bằng kinh nghiệm dân gian Mặt khác ông mở trường đào tạo y sinh, truyền bá tưởng và hiểu biết của mình về y học Do vậy Lãn Ông được mệnh danh là “ông tổ” sáng lập ra nghề thuốc Việt Nam [20]
Trang 10Cùng thời với Hải Thượng Lãn Ông còn có hai trạng nguyên Nguyễn Nho và Ngô Văn Tĩnh đã soạn bộ “Vạn phương tập nghiêm”gồm 8 quyển xuất bản năm 1763 [20]
Vào thời kỳ Tây Sơn nhà Nguyễn (1788-1883) có tập “Nam dược”,
“Nam dược chỉ danh truyền ”, “La khê phương dược”…của Nguyễn Quang Tuân ghi chép 500 vị thuốc nam trong dân gian dùng để chữa bệnh hoặc quyển “Nam dược tập nghiêm quốc âm” của Nguyễn Quang Lượng viết về các bài thuốc nam đơn giản thường dùng [21, 22]
Trong cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp, với phương châm của Đảng đề «tự lực cánh sinh, tự cung tự cấp”, ngành y tế đã đưa thuốc nam vào phát huy vai trò to lớn của nó, xây dựng nên các “Toa căn bản”, nêu các phương pháp chữa bệnh bằng 10 vị thuốc thông thường [39, 46]
Từ ngày thống nhất Đất Nước, Đảng và nhà nước ta đã có nhiều nỗ lực, quan tâm đến công tác điều tra cây thuốc ở Việt Nam phục vụ cho vấn đề sức khỏe toàn dân Nhà nước đã tổ chức lại mạng lưới y học từ trung ương đến địa phương, thành lập viện Y học dân tộc để đào tạo y, bác sĩ; các bệnh viện Y học dân tộc, hội Đông y… sưu tầm các nguồn tài liệu về thuốc nam, tổ chức điều tra, phân loại, tìm hiểu dược tính, thành phần hóa học, lập bản đồ dược liệu, sản xuất các loại thuốc từ cây cỏ
Năm 1957, Đỗ Tất Lợi đã biên soạn bộ “Dược liệu học và các vị thuốc Việt Nam” gồm 3 tập, trong đó tác giả đã mô tả và nêu công dụng của hơn
100 cây thuốc Nam [46]
Từ 1962-1965, Đỗ Tất Lợi cho xuất bản cuốn “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” gồm 6 tập, dày 1.494 trang, đến 1995 tác giả đã cho tái bản
và bổ sung số cây thuốc mà ông nghiên cứu lên tới 792 loài Trong đó, ông đã
mô tả chi tiết tên khoa học, phân bố, công dụng,thành phần hóa học, và chia tất cả các cây thuốc đó theo các nhóm bệnh khác nhau Năm 1983, tại Triển lãm hội chợ sách quốc tế ở Mát-xcơ-va, Liên Xô, bộ sách được bình chọn là một trong 7 viên ngọc quý của Triển lãm sách Đây là bộ sách có giá trị lớn về khoa học và thực tiễn, có sự phối hợp kinh nghiệm dân gian và khoa học hiện đại [39]
Trang 11Năm 1963, Phó Đức Thành và một số tác giả cho xuất bản cuốn “450 cây thuốc nam có tên trong bản Dược thảo Trung Quốc” [47]
Liên quan tới cây thuốc, Viện dược liệu và các trạm nghiên cứu dược liệu
đã điều tra ở 2.795 xã phường thuộc 351 huyện, thị xã của 47 tỉnh thành trong
cả nước đã đóng góp đáng kể trong công tác điều tra sưu tầm nguồn nguyên liệu cây thuốc và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc trong y học cổ truyền Kết quả nghiên cứu đã cho ra đời cuốn “Danh lục cây thuốc miền Bắc Việt Nam”,
“Danh lục cây thuốc Việt Nam”, “Danh lục cây thuốc Việt Nam”, “Tập Atlas cây thuốc” đã thống kê và mô tả danh lục về cây thuốc từ 1961-1972 ở miền Bắc là 1.114 loài, từ 1972-1985 ở miền Nam là 1.119 loài Tổng hợp cả nước đến năm 1985 là 1.863 loài, phân bố trong 1.033 chi , 236 họ, 101 bộ, 17 lớp,
11 ngành được xếp theo hệ thống phân loại thực vật học của Takhtajan [3] Người có nhiều tâm huyết đầu tư nghiên cứu cây thuốc phải nói đến Võ Văn Chi Năm 1976, trong luận văn của mình, ông đã mô tả 1.360 loài cây thuốc và trong báo cáo hội thảo Quốc gia về cây thuốc tác giả đã giới thiệu 2.280 loài của 254 họ có trong 8 ngành thực vật bậc cao có mạch Đây là một trong những công trình lớn nhất giới thiệu về cây thuốc của Việt Nam Ông đã
mô tả chi tiết về đặc điểm nhận biết cũng như công dụng của từng loài rất chi tiết Trong tổng số 2.000 loài và dưới loài cây làm thuốc, có tới 90% cây mọc
tự nhiên
Năm 1996, trong “Từ điển cây thuốc Việt Nam”Võ Văn Chi đã giới thiệu 3.200 loài cây thuốc, mô tả tỉ mỉ về hình thái và bộ phận sử dụng, cách chế biến, các đơn thuốc đi kèm Ngoài ra tác giả còn nghiên cứu một số cây thuốc
ở địa phương khác như “Cây thuốc của Lâm Đồng” (1982), “Hệ cây thuốc Tây nguyên” (1985), “Cây thuốc Đồng Tháp Mười” (1987), “Cây thuốc An Giang” (1991), “Từ điển cây thuốc Việt Nam” (1996), “Cây rau làm thuốc” (1998) Năm 2000, ông tiếp tục bổ sung rà soát, sửa chữa và sưu tầm nghiên cứu thêm một số cây mới, vị thuốc mới và hoàn chỉnh bản thảo vào “Từ điển cây thuốc Việt Nam” [11, 12, 13, 14, 15, 17]
Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chương và cộng sự đã cho ra cuốn “Sổ tay cây thuốc Việt Nam” (1980) và “Tài nguyên cây thuốc Việt Nam” (1993) đã thống
Trang 12kê hàng năm có khoảng 300 loài cây thuốc được khai thác và sử dụng ở các mức độ khác nhau trong toàn quốc [3, 4]
Năm 1994, Trần Đình Lý và cộng sự cho xuất bản cuốn “1900 loài cây
có ích” [40] Trong số các loài cây thực vật bậc cao hiện biết ở Việt Nam, có
76 loài cây có nhựa thơm, 160 loài cây có tinh dầu, 260 loài có dầu béo, 600 loài có tanin, 500 loài cây gỗ có giá trị cao, 40 loài tre nứa, 40 loài song mây Tiếp đó có Vương Thừa Ân cho xuất bản cuốn “Thuốc quý quanh ta” vào năm 1995 [1]; “Cây thuốc trong trường học” của Ngô Trực Nhã (1985) [42] Như vậy cây cỏ sử dụng làm thuốc rất phong phú, nhưng việc khai thác
và sử dụng các cây cỏ dùng làm thuốc chữa bệnh và các bài thuốc của đồng bào dân tộc Việt Nam chưa được quan tâm nhiều
Năm 1994, trong công trình nghiên cứu cây thuốc Lâm Sơn - Lương Sơn
- Hà Sơn Bình, Nguyễn Nghĩa Thìn đã giới thiệu 112 loài thuộc 50 họ Năm 1990- 1995 trong hội thảo quốc tế lần thứ 2 về dân tộc sinh học tại Côn Minh – Trung Quốc tác giả cũng đã giới thiệu về lược sử nghiên cứu vấn đề Dân tộc dược học và đã giới thiệu 2.300 loài thuộc 1.136 chi, 234 họ, thuộc 6 ngành thực vật có mạch bậc cao ở Việt Nam được sử dụng làm thuốc, đồng thời ông cũng giới thiệu hơn 1.000 bài thuốc được thu thập ở Việt Nam [60]
Như vậy nguồn cây cỏ sử dụng làm thuốc rất phong phú, rất khó có thể thống kê một cách đầy đủ khối lượng dược liệu tự nhiên được khai thác bởi lẽ hàng năm Vì ngoài cơ sở sản xuất của nhà nước còn có cơ sở của tư nhân, của những ông lang bà mế và nhân dân địa phương tự thu nhái về chữa bệnh Theo Nguyễn Khang và Vũ Quang Chương trong vòng vài chục năm gần đây nước ta đã xuất khẩu một lượng dược liệu khá lớn Cây thuốc Việt Nam đã và đang là nguồn dược liệu quan trọng cho công nghiệp dược, chiết xuất các hợp chất tự nhiên để làm thuốc Chỉ tính vòng trong 20 năm trở lại đây đã có 701 loài cây thuốc được điều tra tính kháng khuẩn và một số loài cây thuốc chính
thức được đưa vào sản xuất đại trà như: Thanh cao (Artemisia annua), Ba Gạc (Rauvonlfia verticilata) [32]
Việc tìm kiếm vị thuốc mới từ cây cỏ Việt Nam cũng đầy triển vọng Theo Trần Ngọc Ninh (1994), Lê Trần Đức (1995), hiện nay nước ta dùng cây
cỏ làm thuốc đã vượt quá 3.800 loài, 1.200 chi và trên 300 họ Trong đó chủ
Trang 13yếu là thực vật có hoa với 25.000 loài thuộc 1.050 chi, trên 320 họ Ngành hóa dược Việt Nam bước đầu cũng đã chiết được các hợp chất Taxon từ loài
Thông Đỏ (Taxus) có tác dụng chống bệnh ung thư [22]
Đặc biệt là dân tộc Thái, với số lượng dân cư khá đông, tập trung chủ yếu ở phía Bắc và Bắc miền Trung Là một dân tộc có đời sống khá ổn định, nhưng do vị trí sống trong vùng xa xôi hẻo lánh do đó việc nghiên cứu tình hình sử dụng cây thuốc của đồng bào Thái gặp rất nhiều khó khăn Chỉ có một
số đề tài nghiên cứu, đề cập đến phong tục tập quán và kinh nghiệm dân gian trong chưa bệnh của đồng bào dân tộc Thái như: Cầm Trọng (1978), Lâm Bá Nam (1985), Thi Nhị (1977) [54] Mới đây nhất là 2 tập “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam” (2004) của Đỗ Huy Bích và cộng sự [3]
1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÂY THUỐC Ở NGHỆ AN
Nghệ An là một tỉnh nằm ở Bắc miền Trung, với địa hình phức tạp, đồi núi chiếm 3/4 diện Có nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống, do vậy phong tục tập quán cũng như kinh nghiệm dân gian rất phong phú Đặc biệt là kinh nghiệm trong dùng cây cỏ để chữa bệnh cho người và động vật Tuy nhiên vốn kinh nghiệm đó chưa được phổ biến rộng rãi trong nhân dân, một phần là
do người dân muốn giữa bí quyết riêng của từng gia đình để làm ăn sinh sống, mặt khác là do điều kiện kinh phí chưa đủ để đi sâu nghiên cứu và bảo tồn kho tàng kinh nghiệm dân gian này Cho đến nay đã có một số tác giả nghiên cứu về cây thuốc và những kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của đồng bào các dân tộc thiểu số tại Nghệ An Tiêu biểu như “Những phương thuốc” hay “Rau
cỏ trị bệnh” của Tạ Duy Chân (1989) đã sưu tầm và giới thiệu 48 loài thực vật làm rau kèm với phương thức trị bệnh cho người lớn và trẻ em [7] «Nghiên cứu các cây thuốc của đồng bào dân tộc Thái huyện Con Cuông –Nghệ An” năm 1999 (luận án tiến sỹ) của Nguyễn Thị Hạnh đã công bố 554 loài cây thuộc 363 chi của 121 họ thực vật, chiếm 17% tổng số loài cây dùng làm thuốc ở Việt Nam, trong đó bộ phận sử dụng nhiều nhất là lá có 398 loài (chiếm 73%), sau đó là rễ (chiếm 58%) Ngoài ra tác giả còn thu thập được
554 bài thuốc thuộc 16 nhóm bệnh khác nhau, trong đó nhóm bệnh đường ruột là lớn nhất (158 loài chiếm 28,9%), kế đến là bệnh viêm nhiễm và bệnh ngoài da Bên cạnh đó tác giả đã thử tính kháng khuẩn của 50 loài cây thuốc
Trang 14trên 11 chủng vi khuẩn và một chủng nấm đã chứng minh được tính kháng khuẩn của cây thuốc của đồng bào dân tộc Thái ở huyện Con Cuông là rất cao [23]
Ở Tây Bắc Nghệ An, từ năm 2001- 2003, Đặng Quang Châu và cộng sự
đã thực hiện đề tài thuộc chương trình nghiên cứu cơ bản cấp nhà nước “Đa dạng cây thuốc các huyện Tây Bắc tỉnh Nghệ An” với nội dung cơ bản là điều tra thành phần cây thuốc, các bài thuốc và tình hình khai thác, sử dụng chúng của đồng bào dân tộc thuộc 4 huyện miền núi vùng Tây bắc Nghệ An [9] Tiếp
đó, hàng loạt các đề tài nghiên cứu theo hướng này đã được thực hiện: Nguyễn Thị Kim Chi (2002) “Điều tra cây thuốc của dân tộc Thổ ở 3 xã Nghĩa Hồng, Nghĩa Yên, Nghĩa Lâm thuộc huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An”; Bùi Hồng Hải (2004), “Điều tra cây thuốc của đồng bào dân tộc Thổ ở 3 xã Châu Lộc, Thọ Hợp, Văn Lợi thuộc huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An”; Lê Thị Kim Quy (2006), “Điều tra cây thuốc trong vườn nhà ở phường Bến Thủy, thành phố Vinh và xã Nghi lộc, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An”; Năm 2007, Nguyễn Thị Thúy Hằng với đề tài “Điều tra cây thuốc và giá trị sử dụng của đồng bào dân tộc Thái ở xã Châu Cường, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An”; Đoàn Thị Thu Hương (2010), “Điều tra thành phần các loài rau ăn làm thuốc của một số dân tộc thiểu số thuộc huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An”; Nguyễn Thị Thanh Hoài (2010), “Điều tra cây thuốc vườn nhà và vườn đồi ở ba xã
Nam Trung, Khánh Sơn, Nam Kim thuộc huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An” Năm 2008, Ngô Phương và cộng sự thuộc Viện dược liệu –Bộ y tế với đề tài “Nguồn cây thuốc tự nhiên và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của đồng
bào dân tộc thái ở vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống, tỉnh Nghệ An” đã tiến hành điều tra khảo sát nguồn cây thuốc cũng như kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của cộng đồng người Thái sinh sống tại các vùng đệm của
Khu BTTN này Kết quả đã ghi nhận được ở Khu BTTN Pù Huống 374 loài
thực vật bậc cao có mạch và nấm lớn có công dụng làm thuốc, thuộc 289 chi
và 127 họ đều là những cây thuốc mọc tự nhiên Trong đó, nhóm nấm làm thuốc có 3 loài; ngành Cỏ tháp bút có 1 loài; ngành Thông đất có 2 loài; ngành Dương xỉ có 15 loài; ngành Thông có 6 loài và ngành Mộc lan có 347 loài Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống có 16 loài cây thuốc quý hiếm, bị đe dọa tuyệt chủng ở Việt Nam, thuộc 16 chi, 12 họ của 3 ngành thực vật bậc
Trang 15cao Kết quả điều tra thu thập thông tin tại các địa phương trên, đã thu thập được khoảng 20 bài thuốc thường được sử dụng rộng rãi trong nhân dân như: thuốc chữa rắn cắn; thuốc cho phụ nữ sau sinh; thuốc chữa đau nhức xương; thuốc chữa sốt cho trẻ em; thuốc cảm hàn; thuốc về đại tràng Trong đó, có nhiều người biết đến bài thuốc dùng cho phụ nữ sau sinh uống để chống hậu sản; các bài thuốc chữa bệnh về xương khớp, đau nhức; giảm sốt cho trẻ em Nghiên cứu gần đây nhất về cây thuốc truyền thống của đồng bào dân tộc Thái ở xã Thạch Giám, Tương Dương, Nghệ An của Nguyễn Nghĩa Thìn năm
2009, đã thống kê được số cây thuốc đồng bào Thái xã Thạch Giám là 231 loài thuộc 192 chi, 88 họ thực vật, chiếm 5,97% tổng số loài thực vật làm thuốc của cả nước Thực vật làm thuốc ở Thạch Giám rất đa dạng về dạng sống: cây thân thảo có 72 loài, chiếm 31,16%, tiếp đến là cây thân gỗ có 64 loài, chiếm 27,7%, cây bụi có số lượng 55 loài, chiếm 23,8% và ít nhất là dây leo có 40 loài, chiếm 17,31% Môi trường sống của thực vật làm thuốc chủ yếu là ở núi có 108 loài, chiếm 46,75% và ở gần nước có số lượng loài ít nhất
có 34 loài, chiếm 14,72% tổng số loài của khu hệ Có 15 nhóm bệnh khác nhau được chữa trị bằng các bài thuốc dân tộc ở nơi đây
Nói tóm lại, trong nhân dân có rất nhiều bài thuốc hay, những cây thuốc quý, nhiều kinh nghiệm chữa bệnh có hiệu quả ở Nghệ An nói riêng và cả nước nói chung Nhưng việc khai thác và sử dụng nhiều loài cây thuốc quý chưa phù hợp, đang chạy theo lợi ích kinh tế dẫn đến nhiều cây thuốc quý hiếm dang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng Những kinh nghiệm chữa bệnh đang được truyền bá theo tính chất gia truyền không được phổ biến Vì thế cần được gấp rút sưu tầm, kế thừa và phát huy, phát triển để phục vụ cho công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng Nhà nước cần có những chính sách đãi ngộ
và kêu gọi hợp lý để mọi người đều có ý thức phổ biến, bảo vệ kho tàng kinh nghiệm quý báu này Xã hội ngày càng phát triển, đời sống người dân được nâng cao nên mọi người càng chú trọng đến sức khỏe của bản thân Do vậy cần có sự kết hợp giữa y học cổ truyền và y học hiện đại để bổ sung cho nhau phục vụ sức khỏe cho mọi người ngày một được tốt hơn
Trang 16CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đó là các cây thuốc, bài thuốc của đồng bào dân tộc thiểu số thuộc các huyện miền núi tình Nghệ An được bà con sử dụng làm thuốc chữa bệnh và nâng cao sức khỏe cho con người
2.2 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu của đề tài là các huyện miền núi của tỉnh Nghệ An được tiến hành theo 2 tuyến Tuyến đường 7 bao gồm: Tương Dương, Con Cuông, Anh Sơn và tuyến đường 48 gồm các huyện Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp Mỗi huyện chọn 2 bản trong 2 xã bất kỳ tiến hành thu mẫu Mẫu vật được phân tích, xử lý, định loại và lưu trữ tại phòng thí nghiệm bộ môn thực vật, Khoa sinh học, trường Đại học Vinh
2.2.2 Thời gian nghiên cứu
* Từ tháng 12/2011 đến tháng 05/2012:
- Lập đề cương nghiên cứu
- Đọc tài liệu, viết tổng quan
- Thu mẫu: Được tiến hành 2 đợt:
Đợt một: tháng 12/2011 đến tháng 2/2012
Đợt hai: tháng 4/2012 đến hết tháng 4/2012
- Xử lý số liệu và hoàn thành luận văn trong tháng từ 5/2012
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phỏng vấn, thu thập và xử lý mẫu vật
- Phương pháp điều tra phỏng vấn nhân dân: Phát phiếu điều tra và tiếp xúc với các thầy thuốc, người dân có kinh nghiệm về thuốc để phỏng vấn Mẫu các loài cây được thu hái và xử lý theo các phương pháp:
Trang 17- Phương pháp điều tra thực vật theo “Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật” của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [48], xử lý mẫu vật theo phương pháp của D.T Klein (1978) [… ]
Mỗi cây được thu 3-5 mẫu, thành nhiều đợt, có đánh số hiệu và đặt vào
tờ báo gấp 4 lần, kẹp vào mắt cáo 29x41cm Mỗi cặp khoảng 20-30 mẫu ngoài lót một lớp báo Khi ép phải phải có ít nhất 2 lá lật sấp phơi ngoài nắng hoặc sấy khô ở nhiệt độ thích hợp
Các loài cây thuốc, các bài thuốc được đồng bào dân tộc Thái sử dụng tại địa điểm nghiên cứu đều được thu mẫu và ghi chép các thông tin cần thiết (Tên dân tộc của cây thuốc, địa điểm, công dụng bộ phận và liều lượng sử dụng cũng như cách sử dụng cây thuốc đó theo kinh nghiệm của họ)
2.3.2 Phương pháp xác định tên khoa học
Phương pháp giám định nhanh họ và chi ngoài thiên nhiên theo tài liệu:
“Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật” của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [48]
và “Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam” của Nguyễn Tiến Bân (1997) [2]
- Sau khi thu mẫu và xử lý mẫu, tiến hành tra cứu theo khóa định loại và
bảng mô tả của Phạm Hoàng Hộ: “Cây cỏ Việt Nam”, 3 tập (1991-1993) [26]
- Chỉnh lý tên khoa học: Sau khi có tên khoa học, tiến hành chỉnh lý theo
các tài liệu: “Sách tra cứu tên cây cỏ Việt Nam”, Võ Văn Chi (2007) [16], “Từ điển cây thuốc Việt Nam” Võ Văn Chi (2009) [17]
2.3.3 Phương pháp xây dựng danh lục
Sau khi định loại và kiểm tra các loài cây thuốc thì sắp xếp chúng vào các họ, chi theo R.K Brummitt, 1992 (sắp xếp các họ, chi, loài, dưới loài theo trình tự ABC) [58]
Trật tự các cột danh lục được sắp xếp như sau: Số thứ tự (1), tên khoa học (2), tên dân tộc (3), tên phổ thông (4), dạng thân (5), nơi mọc (6), bộ phận
sử dụng (7), công dụng (8), cách dùng (9)
Trang 182.3.4.Phương pháp đánh giá tính đa dạng sinh học cây thuốc
- Phương pháp đánh giá tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc: Các chỉ tiêu được đánh giá dựa trên phương pháp đánh giá của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) bao gồm: đa dạng về taxon; đa dạng về dạng sống; đa dạng về môi trường sống; đa dạng các bộ phận sử dụng; đa dạng về các nhóm bệnh chữa trị [48]; đánh giá mức độ nguy cấp: theo Sách Đỏ Việt Nam [5]
* Khu vực sống được chia làm 4 như: Rừng, Đồi, Nương rẫy - ven đường đi - vườn nhà, khe – hồ
* Đánh giá đa dạng các taxon trong ngành [48]
Thống kê số loài, chi, họ theo từng ngành thực vật từ thấp đến cao trên
cơ sở dựa vào bảng danh lục đã xây dựng, tính tỉ lệ % của các taxon để từ đó thấy được mức độ đa dạng
* Đánh giá về các loài có nguy cơ tuyệt chủng
- Dựa vào “Sách đỏ Việt Nam” (Tập 2 – phần thực vật), 2007 [5]
* Đa dạng các nhóm bệnh được chữa trị
Việc phân loại các cây thuốc và bài thuốc chữa trị theo các nhóm bệnh dựa vào tài liệu của Đỗ Tất Lợi (2003) [39]
* Đa dạng về cách bào chế và chữa bệnh
Phân loại cách bào chế và sử dụng cây thuốc theo các tài liệu “Từ điển cây thuốc Việt Nam” của Võ Văn Chi (2000) [14, 15], “Những cây thuốc và
vị thuốc Việt Nam” của Đỗ Tất Lợi (2003) [39]
c > 50%: GÆp nhiÒu, kÝ hiÖu +++
Trang 19CHƯƠNG III ĐIỀU KIỆN TỤ NHIÊN VÀ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
3.1.1 Vị trí địa lý
Miền núi phía Tây Nghệ An, gồm 10 huyện và một thị xã: Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông, Anh Sơn, Thanh Chương, Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Tân Kỳ, Nghĩa Đàn và thị xã Thái Hoà; có tổng diện tích tự nhiên 13.735km2, chiếm 83,4% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Phía Bắc giáp Thanh Hóa, phía Nam giáp Hà Tĩnh, phía Tây giáp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, phía Đông giáp các huyện đồng bằng (Quỳnh Lưu, Yên Thành, Đô Lương và Nam Đàn)
Các huyện miền núi tỉnh Nghệ An có vị trí địa lý rất quan trọng, thuận lợi cho giao lưu và phát triển kinh tế Nằm gần bờ biển Đông với nhiều cảng biển, tuyến quốc lộ 1A, tuyến đường mòn Hồ Chí Minh, tuyến đường sắt Bắc Nam và sân bay Vinh, với một mạng lưới sông ngòi dày đặc, vùng có hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không rất thuận lợi cho việc giao lưu văn hóa kinh tế giữa các huyện trong vùng và toàn quốc, ngoài ra còn có hệ thống cửa khẩu với nước bạn Lào anh em
- Độ cao:
+ Độ cao dưới 500m chiếm 61%
+ Độ cao từ 500 - 700m chiếm 18%
+ Độ cao từ 750m - 1.000m chiếm 11%
Trang 20+ Độ cao trên 1.000m chiếm 10%.
An Các tài liệu thu thập được điều tra và xây dựng đầu những năm 70 của thế
kỷ trước đều đã cũ Theo bản đồ miền Bắc Việt Nam (tỷ lệ xích 1: 1.5000.000) thì đất toàn vùng gồm các loại chính như sau:
Về tình hình sử dụng đất, trong tổng số 1.374.565,47ha diện tích toàn vùng,
có 1.269.383,94ha diện tích đất sản xuất nông nghiệp, chiếm 92,35% diện tích toàn vùng; 56.967,86ha đất phi nông nghiệp chiếm 4,14% diện tích toàn vùng; 56.967,86ha đất chưa sử dụng chiếm 4,14% diện tích toàn vùng
Trong diện tích đất nông nghiệp, chỉ có 140.808,43ha đất được sử dụng với 102.309,92ha đất trồng cây hàng năm và 39.498,51ha đất trồng cây lâu năm
Trang 21Diện tích đất lâm nghiệp là 1.125.328,31ha, gồm: đất rừng sản xuất là 373.414,88ha, đất rừng phòng hộ 541.186,37ha và 210.727,06ha đất rừng đặc dụng.
Từ những đặc điểm chính của vùng miền núi Nghệ An chúng ta có thể nhận thấy một số khó khăn và thuận lợi trong việc sử dụng đất đai như sau:
+ Có nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có phục vụ cho các ngành sản xuất công nghiệp, dịch vụ và thương mại
có tư tưởng bao cấp, ỷ lại, trông chờ vào sự bao cấp của Nhà nước Nhân dân chưa có ý thức vươn lên để thoát đói, nghèo
3.1.4 Khí hậu, thuỷ văn
Miền Tây Nghệ An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu tác động trực tiếp của gió mùa Tây Nam khô nóng (từ tháng 4 đến tháng 8) và gió
mùa Đông Bắc lạnh, ẩm ướt (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau)
- Lượng mưa trung bình hàng năm: 1.670mm Tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 10 với lượng mưa trung bình từ 150 - 400mm, mưa nhiều nhất vào tháng 9 Các tháng còn lại trong năm mưa ít, lượng mưa trung bình tháng
Trang 22thường dưới 100mm Trong mùa mưa, lượng mưa trung bình các tháng giữa các huyện cũng có sự chênh lệch đáng kể.
- Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25,2oC, được phân thành hai mùa khá rõ rệt và ít có biến động Nhưng lượng bốc hơi hàng năm có nhiều biến động tạo ra sự khác biệt rõ ràng giữa các huyện trong vùng
- Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm dao động khoảng 86 - 87% Nhưng
độ ẩm trung bình các tháng giữa các huyện lại có sự khác biệt khá rõ ràng
- Nắng: Số giờ nắng trung bình trong năm là 1.573,3 giờ Các tháng nắng nhiều là 5,6 và 7, bình quân lên tới 7 đến 8 giờ/ ngày Tháng ít nắng nhất là tháng 2 bình quân khoảng 2 giờ/ ngày và thướng có mưa phùn
- Chế độ gió: Hàng năm ở miền núi phía Tây Nghệ An hầu như không có bão, thỉnh thoảng có những đợt gió lốc ở các thung lũng nhỏ phạm vi hẹp Chịu ảnh hưởng một phần của gió Tây Nam (gió Lào) thổi từ tháng 4 đến tháng 10 làm cho nhiệt độ tăng đột ngột và kéo dài nhiều ngày, mạnh nhất là vào tháng 7; gió mùa Đông Bắc thổi mạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, gây khô hạn
- Lượng nước bốc hơi: So với lượng mưa thì hàng năm lượng nước bốc hơi lại rất lớn, nhất là vào tháng 4,5,6,7 Tổng lượng nước bốc hơi trung bình
hằng năm là 1.000 - 1.100 mm (Theo Niên giám thống kê tỉnh Nghệ An năm
2005 và kết quả thống kê số liệu của trạm Khí tượng Thuỷ văn tỉnh Nghệ An)
Do sự đa dạng về địa hình đã tạo ra sự phong phú về các tiểu vùng khí hậu của toàn vùng miền Tây Nghệ An Từ vùng khí hậu ôn đới trên các vùng núi cao của các huyện Kỳ Sơn, Tương Dương, Quế Phong, Con Cuông đến vùng khí hậu nhiệt đới, khô hạn ở các vùng gò đồi và núi thấp Điều này đã tạo ra sự đa dạng của cây trồng của vùng
3.1.5 Thảm thực vật
Tài nguyên rừng khu vực miền núi phía Tây Nghệ an khá đa dạng và phong phú với tính đa dạng sinh học, chứa đựng nhiều loài động thực vật quí hiếm, cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn và nét văn hoá đặc trưng đã tạo nên một khu dự trữ lớn vào loại bậc nhất Đông Nam Á Sự kiện quan trọng , tháng 9/
2007 Tổ chức khoa học, giáo dục của LHQ (UNESCO) đã công nhận Khu Dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An với diện tích 1.303.285ha nằm trên địa phận 9 huyện miền núi đang được nghiên cứu (Con Cuông, Anh Sơn, Tương
Trang 23Dương, Kỳ Sơn, Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Tân Kỳ, Thanh Chương)
Sự đa dạng và phong phú đó thể hiện ở kiểu rừng và tổ thành loài động thực vật
Tài nguyên thực vật: Khu vực miền núi phía Tây Nghệ An với khu dự trữ sinh quyển là nơi hội tụ của nhiều yếu tố hệ thực vật, nơi trộn lẫn đan xen của các yếu tố địa lý thực vật, thể hiện ở chỗ: yếu tố toàn thế giới chiếm 1,04%; yếu tố nhiệt đới châu á chiếm 66,8%; yếu tố ôn đới chiếm 1,08%; yếu
tố đặc hữu Việt Nam chiếm 16,6% Xét theo hướng di cư: yếu tố Malaixia từ Nam lên chiếm 4,81%; yếu tố Nam Trung Hoa xuống chiếm 11,67%; yếu tố
ấn Độ-Mianma chiếm 9,58%; yếu tố Hymalaya chiếm 3,77% và yếu tố Đông Dương chiếm 5,69% Hệ thực vật ở đây có mặt đầy đủ các yếu tố cổ nhiệt đới,
á nhiệt đới, cận nhiệt đới và ôn đới
Vườn quốc gia Pù Mát là vùng lõi 1 có diện tích trên 94.628 ha, còn là rừng tự nhiên lớn nhất và tiêu biểu cho Bắc Trường Sơn nói riêng và Việt Nam nói chung; là nơi có thành phần thực vật phong phú, đa dạng vào loại bậc nhất Việt Nam Nơi đây đang lưu giữ nhiều nguồn gen quí về động vật thực vật, là nơi hội tụ các yếu tố địa lý thực vật Pù Mát có đầy đủ đại diện của 4/5 lớp quần hệ (rừng thưa, rừng kín, cây bụi và cây thảo) Trong số gần
2500 loài thực vật bậc cao có mặt đã biết, có gần 2000 loài thuộc nhóm chồi trên mặt đất chiếm tỷ lệ 74%, yếu tố chủ đạo cấu thành hệ sinh thái rừng nhiệt đới và á nhiệt đới gió mùa ở Việt Nam Trong đó có nhiều loài quí như: Pơ
Mu, Sa Mu, Kim Giao, Táu, Sến, Dổi
Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống và Pù Hoạt (còn được gọi vùng lõi 2
và 3) diện tích không lớn bằng vườn quốc gia Pù Mát nhưng ở đây có đủ các loại hình thảm thực vật đã có mặt ở Pù Mát Riêng khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt hiện còn khá lớn diện tích rừng, trong đó có 34 ngàn ha rừng ít bị tác động
Ngoài sự đa dạng và phong phú của thảm thực vật, miền núi phía Tây Nghệ An còn đa dạng và phong phú hơn với khu hệ động vật hiện có, với 130 loài thú lớn và nhỏ, 295 loài chim, 54 loài lưỡng cư và bò sát, 84 loài cá, 39 loài dơi (có những loài chỉ có duy nhất ở Việt Nam và Đông Bắc Thái Lan),
305 loài bướm ngày, 14 loài rùa, hàng ngàn loài côn trùng khác Trong đó có
68 loài quí hiếm được ghi trong sách đỏ Việt Nam, các loài mới phát hiện Sao
Trang 24La, Mang Lớn, Mang Trường Sơn, Thỏ Vằn Trường Sơn trong sách đỏ thế giới chưa có
3.2 ĐIỀU KIỆN XÃ HỘI
3.2.1 Dân số, dân cư
Theo tổng hợp của Ban DT & MN tỉnh, tính đến ngày 30/6/2009miền
núi Nghệ An có 1.145.433 người, chiếm 36,5% số dân trong toàn tỉnh, trong
đó có 436.074 người dân tộc thiểu số (chiếm 38%), 709.359 người Kinh (chiếm 62%) Với 11 đơn vị hành chính huyện, thị xã bao gồm 10 huyện và 1 thị xã, cùng với đó là sự chung sống xen kẽ của các dân tộc anh em như: Kinh, Thái, Dao, Hơ Mú, H’Mong, Hoa, Thổ, Đan lai, Mường, Tàypoọng, Ơdu … Do lối sống di cư tự do, du canh du cư của nhiều nhóm dân tộc vẫn còn diễn ra, làm cho việc ổn đĩnh về mặt dân cư của các địa phương gặp khó khăn Điều đó vàng làm cho các bảng biểu điều tra dân số, dân tộc càng thêm phức tạp (Bảng 1)
Trang 25Bảng 1: Dân số các dân tộc thiểu số cư trú ở các huyện trong tỉnh
Trang 26So với dân số dân tộc thiểu số thì ta thấy dân tộc Kinh sinh sống ở khắp các dải đất miền núi và trung du của tỉnh Nghệ An, dọc theo đường 7, đường 48, dọc các con sông lớn như sông Dinh, sông Hiếu và dọc sông Lam Ta có thể so sánh tương quan dân số dân tộc Kinh ở bảng dưới đây với dân số các dân tộc thiểu số ở bảng 2:
Bảng 3: Dân số dân tộc Kinh ở các huyện miền núi và trung du
(Theo tổng hợp của Ban Dân tộc và Miền núi Nghệ An- đến 30/6/2009)
Mật độ dân cư trung bình ở miền núi Nghệ An hiện nay là 49 người/1 km2
ở một số vùng ở vùng núi cao, mật độ dân cư rất thấp: 24 người/1 km2, chủ yếu
ở huyện Kỳ Sơn và huyện Quế Phong Có thể so sánh mối tương quan về số dân
so với diện tích đất đai như sau:
Bảng 4: Mối tương quan về dân số so với diện tích đất đai hiện nay
ở miền núi Nghệ An
(%)
Dân số (%) Các vùng
(Mối tương quan về dân số các và đất đai ở miền núi Nghệ An - 2009)
Sự phân bố dân cư ở miền núi Nghệ An có đặc điểm nổi bật, vừa mang tính chất thống nhất của các dân tộc ở miền núi phía Bắc nước ta vừa có tính chất khu vực tương đối dễ nhận
Trang 27Vùng cư trú của các dân tộc không phân biệt rõ giữa lãnh thổ tộc người và lãnh thổ hành chính Họ sống xen kẽ nhau, tuy có một số vùng có tính chất biệt lập nhưng không phổ biến Một số vùng tương đối đông của cư dân Thái như ở Quỳ Châu, Quế Phong, Con Cuông, Tương Dương, Quỳ Hợp; cư dân Hmông, Khơ - mú ở Kỳ Sơn, cư dân ở đu ở Tương Dương; cư dân Thổ ở Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Quỳ Hợp Một số nhóm địa phương sống độc lập với khối cộng đồng đông đảo của họ như nhóm Tày - Poọng thuộc dân tộc Thổ (ở Bản Phồng, xã Tam Thái, huyện Tương Dương), nhóm Đan Lai - Ly Hà thuộc dân tộc Thổ (ở Môn Sơn, Lục Dạ)
Đặc điểm đáng chú ý ở miền núi Nghệ An là mặc dù sống xen kẽ hay biệt lập, ở thị trấn đông người hay ở vùng cao, vùng sâu xa xôi mối quan hệ về dân tộc vẫn giữ được khá chặt chẽ Tuy chợ miền núi chưa phát triển nhưng những điểm tụ cư đông đúc, những dịp hội hè, giao duyên nam nữ… vẫn là những điều kiện thuận lợi cho sự gặp gỡ tiếp xúc tăng cường mối quan hệ dân tộc lành mạnh
3.2.2 Văn hóa – Xã hội
Xã hội ngày càng phát triển, con người cũng theo đó mà nâng cao dần chất lượng cuộc sống Ở các huyện miền núi tỉnh Nghệ An những năm gần đây
đã đổi mới rất nhiều về cơ sở vật chất, về trình độ học vấn … Các đơn vị hành chính trong các làng xã cũng đã được cải thiện Tuy nhiên vẫn có một đơn vị hành chính nhỏ nhất vẫn duy trì ổn đĩnh từ xa xưa Đó chính là Bản Bản chính
là đơn vị dân cư cơ sở Bản là một cụm dân cư được hình thành trong lịch sử tộc người, có tổ chức theo lễ thói phong tục tập quuán của dân tộc và theo luật pháp quốc gia Bản là một đơn vị cộng đồng người, trong đó mỗi một thành viên đều
tổ chức thành từng gia đình riêng của mình Là đơn vị hành chính cơ sở, nên bản cũng là đơn vị đảm nhiệm chức năng văn hóa mang đầy đủ sắc thái văn hóa dân tộc như khi sinh nở, làm nhà mới, cưới hỏi, tang lễ, lễ hội, ăn tết,…Để đảm nhiệm các chức năng này, ông Trưởng bản và ông Mo đóng vai trò quan trọng Các ông này phải thông thạo phong tục tập quán, quý nhất là biết tiếng dân tộc
cổ đối với những bản làng hoàn toàn có người dân tộc thiểu số sinh sống
- Về giáo dục: Hiện nay ở tất cả các xã đều đã có trường Mầm non, Tiểu học, các trường cấp 2-3 thì nằm ở trung tâm thị trấn và một số xá trung tâm có dân cư đông đúc của các huyện
Trang 28- Về y tế: nhìn chung các xã đã có trạm y tế, song nhân lực y, bác sĩ còn yếu
và thiếu, cơ sở vật chất chưa đảm bảo Vả lại đồng bào dân tộc vẫn chưa tiếp cân được những cách thức chữa bệnh tân tiến của khoa học mà nhiều nơi còn nặng
mê tín dị đoan nên việc điều trị bệnh bằng Tây y ít được coi trọng Người dân chỉ tin vào thầy mo, nhờ thầy mo trị bệnh bằng cúng bái Một số khác tiến bộ thì đến các ông bà mế để bốc thuốc chữa bệnh Đây chính là một trong những điều kiện để các ông lang, bà mế phát huy rõ kinh nghiệm chữa bệnh của mình
- Về giao thông: như trên đã nói nơi đây là các huyện trung du và miền núi vùng cao, địa bàn rộng, dân cư thưa thớt, địa hình gồ ghề, toàn đồi núi nhấp nhô, đất bằng phẳng chẳng có bao nhiêu, sông suối đày đặc, địa thế rất hiểm trở, đường sá đi lại rất khó khăn, có nhiều nơi đường đất vẫn còn là một vấn đề nan giải đối với người dân Nhiều xã của một vài huyện nhân dân đi lại toàn bằng thuyền gắn máy hay thuyền độc mộc
Trang 29Bản đồ 1: Bản đồ hành chính tỉnh Nghệ An
Trang 30Bản đồ 2: Bản đồ các huyện miền núi phía Tây tỉnh Nghệ An
Trang 31CHƯƠNG IV KẾT QUẢ NGHIấN CỨU
4.1 DANH LỤC CÁC LOÀI CÂY THUỐC CỦA ĐỒNG BÀO MIỀN NÚI TỈNH NGHỆ AN
Qua quỏ trỡnh điều tra, chỳng tụi đó thu thập được cỏc loài cõy dựng làm
thuốc và những kinh nghiệm sử dụng của cỏc thầy lang, lương y thuộc một số huyện miền nỳi tỉnh Nghệ An như Tương Dương, Con Cuụng, Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp Cỏc mẫu cõy thuốc đó được xử lý, xỏc định tờn khoa học và được xõy dựng trong bảng danh lục Trong bảng danh lục cỏc taxon được sắp xếp theo R.K.Brummit (1992) [58]
Mỗi loài đ-ợc trình bày theo thứ tự nh- sau:
Cột 8: Địa điểm Cột 9: Bộ phận sử dụng Cột 10: Cụng dụng Ghi chú:
- Môi tr-ờng sống:
R - Rừng sâu, Rừng th-a đến ven rừng
N - N-ơng rẩy, ven đ-ờng đi
Trang 32Bảng 5: Danh lục cỏc loài cõy thuốc được đồng bào miền nỳi tỉnh Nghệ An sử dụng
TT Tên khoa học Tên dân tộc Tên phổ thông Dạng
thõn
MT sống
Mức
độ gặp
BP sử dụng Công Dụng
3 Drynaria fortunei (Kuntze ex
Mett.) J Sm Ổ sụ Cốt toái bổ Th N, R + R Bó gãy x-ơng, bong gân,
sai khớp, đau mỏi
Cỏ thỏp bỳt Th S ++ Ca Chữa đau mắt đỏ, viờm
gan, ho hen, trĩ
Hạt trần
Trang 33Du sam lỏ ngắn G R ++ Ha Chữa ho, tiờu đờm
IV Magnoliophyta Ngành ngọc lan
IV.1 Magnoliopsida Lớp ngọc lan
10 Andrographis paniculata (Burm
f.) Nees
Xuyên tâm liên Xuyên tâm liên Th N, R +++
Toàn cây Chữa đại tràng, sản hao
11 Justicia gendarussa Burm f Tràng sinh Thanh táo Th N +++ L Chữa rắn cắn, đẻ khó, đẻ
sót rau, hen suyễn
Chữa mộng mắt, màng kéo mờ mắt, lòi tròng
Chữa nhức khớp, viêm thận, nứt núm vú, đậu mùa, đái ra máu
14 Amaranthus spinosus L Rau dền Rau dền gai Th N, Đ +++ R Giải nhiệt
15 Amaranthus viridis L Rau dền Rau dền cơm Th N, Đ +++ Toàn
cây Chữa côn trùng cắn
Chữa hắc lào, đau mắt,
Trang 3419 Rhus chinensis Mill =
R semialata Murr Ch¾m Muèi G R + V, L Ch÷a rß tuû, sèt kÐo dµi
24 Hydrocotyle sibthorpioides Lam
= H rotundifolia Roxb Rau m¸ chuét Rau m¸ mì Th
N,
§, R +++
Toµn c©y
Ch÷a bÖnh gan, sái mËt, viªm ®-êng tiÕt niÖu, c¶m cóm
25 Bousigonia mekongensis Pierr D©y m¬ mñ D©y giom L R ++ Toµn
c©y Ch÷a bong g©n
26 Catharanthus roseus (L.) G
Toµn c©y
Ch÷a s-ng khíp, cao huyÕt ¸p
27 Plumeria rubra L var acutifolia
V, L,
Ha, N
Ch÷a phong thÊp, xuÊt huyÕt, suy dinh d-ìng, hµnh t¸ trµng
28
Wrightia tomentosa Roem et
Schult var cochinchinensis Pierr
tr-íng, rß tuû
Trang 3529 Aralia armata (Wall.) Seem Găng tru Đơn châu chấu Th R ++ R
Dùng cho phụ nữ sau sinh, phong thấp, vôi hoá
to Ngũ gia bì B N, R +++ R, L
Chữa băng huyết, bệnh
đ-ờng tiêu hoá
32 Trevesia palmata (Roxb.&
Lindl.) Vis Thụ đủ rừng Đu đủ rừng G N, R + Th, L
Chữa phong hủi, tắc tia sữa, đái dắt, hạ nhiệt, mụt nhọt
33 Ageratum conyzoides L =
Aneilema giganteum R Br Cỏ cứt lợn Cỏ hôi Th N, Đ +++ Th, L
Chữa sổ mũi, viêm xoang, mụn nhọt
34 Artemisia apiacea Hance ex
35 Artemisia vulgaris L Ngải cứu Ngải cứu Th N +++ Th, L
Chữa kinh nguyệt không
đều, an thai, cầm máu, thổ tả, cảm lạnh
Blumea lanceolaria (Roxb.)
Druce = Conyza lanceolaria
Chữa tiêu chảy, cầm máu, mụt nhọt
Trang 3641 Chrysanthemum morifolium
42 Eclipta prostrata L Cỏ mực Cỏ nhọ nồi Th Kh +++ Th, L Cầm máu, giải độc, làm
đen tóc
43 Eupatorium fortunei Turcz M-ời t-ới Mần t-ới Th N, Đ +++ Th, L
Chửa côn trùng, bọ mạt cho gia cầm, đau đầu chóng mặt
44 Gynura crepidioides Benth Rau tàu bay Rau tàu bay Th
N,
Kh,
Đ
+++ Toàn
cây Chữa rắn cắn, cầm máu
45 Lactuca indica L Diếp trời Bồ công anh Th N, Đ +++ Th, L Chữa s-ng đau vú, tăng
47 Xanthium inaequilaterum DC Ké Ké đầu ngựa Th N, Đ +++ Q Chữa mụt nhọt, hắc lào,
đau đầu, b-ớu cổ
50 Heliotropium indicum L Vòi voi Vòi voi Th N,
Đ, R +++
Toàn cây
Giải độc, giải say r-ợu, sên, vắt cắn
51 Lonicera macrantha (D Don)
Trang 37Ha đờm, sái khớp
54 Quisqualis indica L Quả giun Dây giun B N, Đ +++ Q Chữa giun, phù thũng, lở
ở trẻ em
56 Ipomoea batatas (L.) Lam Khoai lang Khoai lang Th N +++ R, L Chống táo bón, bổ tỳ vị,
liệt âm
57 Kalanchoe pinnata (Lam.) Pers
= Cotyledon pinnata Lam Bỏng lả Sống đời Th N +++
Toàn cây
Giải độc, chữa bỏng, cảm lạnh
58 Benincasa hispida (Thunb.)
Thông tiểu, chữa đái dắt,
đái đục, bệnh đ-ờng ruột, mé
59 Cucurbita maxima Duch ex
60 Hodgsonia macrocarpa (Bl.)
Toàn cây Chữa đứt gân, bại liệt
61 Momordica charantia L M-ớp đắng M-ớp đắng L N,
Đ, R +++ L Chữa viêm bàng quang
62 Momordica cochinchinensis
63 Trichosanthes sp Dây ống ống Qua lâu dại L Đ, R ++ Toàn
cây
Chữa viêm nhiễm đ-ờng tiết niệu, thổ tả
64
Zehneria indica (Lour.)
Keraudren = Melothria indica Lour
D-a chuột rừng D-a chuột dại L Đ, R +++ Th, L Chữa phù thận
Đ, R +++
Toàn cây
Chữa bệnh trĩ, mỏi l-ng gối, đái đục
Trang 3866 Tetracera scandens (L.) Merr Chạc chiu
chiu Dây chạc chìu L R +++
Toàn cây
Chữa đau nhức x-ơng khớp, th-ơng hàn
67 Elaeagnus bonii Lecomte Lót rừng Nhót rừng B R + L Chữa bệnh đ-ờng ruột,
sa bẹn
68 Acalypha siamensis Oliv ex
Goge = A evrardii Gagnep Chè hàng rào Chè mận hảo B N, R +++
Th, L,
H
Lợi tiểu, trị giun, cảm
hàn, ho
69 Baccaurea ramiflora Lour =
B sapida Muell.- Arg Giâu gia Giâu gia G R + Q Kích thích tiêu hoá
70 Breynia fruticosa (L.) Hook f Bồ cu vẽ Bồ cu vẽ B Đ, R +++ L Chữa rắn cắn
71 Bridelia monoica (Lour.) Merr
= B tomentosa Bl Đinh đọt Thổ mật G Đ, R ++ L
Chữa phong hủi, tắc
động mạch tứ chi
72 Codiaeum variegatum (L.) Bl
var pictum Muell.- Arg Hoa lá Ngũ sắc B N +++ Th, R Chữa ghẻ lở
Lour = E Bicolor Hassk D-ỡng sơn Đơn lá đỏ G N ++ L
Chữa mụn nhọt, ho, sổ mũi, nhức đầu
cây Chữa bỏng, trĩ
78 Mallotus barbatus (Wall.)
Thuốc dấu Thuốc dấu Th N +++ Toàn
cây Chữa lở ngứa
Trang 3981 Phyllanthus emblica L Me rừng Me rừng G R + L Chữa phù then
mộng mắt
83 Phyllanthus urinaria L Chó đẻ Diệp hạ châu
ngọt Th N, Đ +++
Toàn cây
Chữa bệnh gan, lỵ, bổ
máu
84 Ricinus communis L Dầu vét trắng Thầu dầu G N ++ L Chữa lậu, ra huyết trắng
85 Sauropus rostratus Miq =
S chingiana S Y Hu Lại khái Đơn l-ỡi hổ Th N, Đ +
Toàn cây
Chữa thuỷ thũng, ho, viêm phế quản
87 Gleditsia australis Hemsl =
G fera (Lour.) Merr Chùm kết Bồ kết G N, R +++ Q
Xông đẻ, làm m-ợt tóc, tẩy giun sán
88 Lysidice rhodostegia Hance Khu gióng Mí G R ++ Th, L Chữa bại liệt
R, Ha Chữa ho, giải cảm
91 Antheroporum pierrei Gagnep Mát chó Hột mát G R ++ Củ Chữa phong thấp, trĩ,
chảy máu đ-ờng ruột
92 Cajanus indicus Spreng =
C cajan (L.) Millsp Đậu săng Đậu cọc rào G N, Đ ++
R, L,
Ha
Chữa ho, cổ họng s-ng
đau, sởi
93 Erythrina variegata L var
94 Glycine max (L.) Merr Đậu nành Đậu t-ơng Th N +++ L Trị mắc hơi lạnh
96
Lablab purpureus (L.) Sweet
subsp purpureus = Dilichos
Trang 4098 Pueraria montana (Lour.) Merr
= P tonkinensis Gagnep Sắn dây Sắn dây rừng L R + L, Củ Giải độc, chữa sốt rét
99 Pueraria thomsonii Benth Sắn dây Sắn dây L N +++ L, Củ Giải độc, chữa rắn cắn,
giải say r-ợu
101 Vigna radiata (L.) Wilcz var
radiata = Phaseolus radiatus L Đậu tằm Đậu xanh Th N +++ Ha
Giải độc, giải nhiệt, trị mắc hơi lạnh
102 Vigna unguiculata (L.) Walp
subsp cylindrica (L.) Verdc Đậu đen Đậu đen Th N +++ Ha Chữa hen suyễn
nữ
103
Leucaena leucocephala (Lam.)
De Wit = L glauca (Benth.)
Willd
Đ, R +++
Toàn cây
Chữa cảm hàn, sốt rét, vô sinh, thận
105 Elsholtzia ciliata (Thunb.)
Hyland = E cristata Willd Kinh giới Kinh giới Th N, Đ +++
Toàn cây
Chữa ho, hen suyễn, mụn nhọt
106 Leonurus sibiricus L ích mẫu ích mẫu Th N +++ Th, L,
Ha Điều kinh, an thai
107 Mentha arvensis L Bạc hà Bạc hà nam Th N, Đ +++ Th, L Chữa đau bụng, sởi, cảm
cúm
108 Ocimum sanctum L =
O tenuiflorum L H-ơng nhu H-ơng nhu tía Th N, Đ +++ Th, L
Chữa đau nhức x-ơng, cảm nắng, hôi miệng
109 Perilla frutescens (L.) Britt Mà ha Tía tô Th N +++ Toàn
cây
Chữa sâu răng, thổ huyết, ra mồ hôi, ho, cảm mạo
110 Cassytha filiformis L Tơ hồng xanh Tơ xanh L N,
Đ, R ++
Toàn cây
Chữa cảm, sốt rét, phù thũng, chảy máu cam