Hiện nay có nhiều tài liệu, nhiều nhà nghiên cứu về cây thuốc đi tìm hiểu về từng hoạt chất có trong cây cỏ, trong các bài thuốc dân gian để chiết ra các dược phẩm có giá trị chữa bệnh h
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA SINH HỌC
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA SINH HỌC -o0o -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp này, em đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và chỉ đạo tận tình của thầy giáo TS Nguyễn Anh Dũng Nhân dịp này cho phép em bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của ban lãnh đạo, đội ngũ cán bộ bác
sỹ, y tá ở các trạm xá thành phố Vinh đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình thực hiện đề tài này
Qua đây em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo, ban chủ nhiệm tổ Thực Vật khoa Sinh Học – Trường Đại Học Vinh cùng bạn bè người thân đã giúp đỡ, ủng hộ, động viên, và tạo mọi điều kiện cho em trong thời gian qua
Xin chân thành cảm ơn!
Nghệ An, ngày 20/04/2012
Sinh viên
Nguyễn Thị Nghĩa
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1.Tình hình nghiên cứu và sử dụng thuốc ở một số nước trên thế giới 3
1.2.Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Việt Nam 7
1.3.Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Nghệ An 10
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
2.1 Đối tượng nghiên cứu 12
2.2 Nội dung nghiên cứu 12
2.3 Địa điểm nghiên cứu 12
2.4 Thời gian nghiên cứu 12
2.5 Phương pháp nghiên cứu 13
2.5.1 Phương pháp thu mẫu và xử lý mẫu 13
2.5.1.1 Nguyên tắc thu mẫu 13
2.5.1.2 Phương pháp ép và xử lý mẫu khô 13
2.5.2 Phương pháp xác định tên cây 13
2.5.3 Phương pháp thu thập thông tin 14
2.5.3.1 Quan sát 14
2.5.3.2 Phỏng vấn 14
CHƯƠNG 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI 15
KHU VỰC NGHIÊN CỨU 15
3.1 Điều kiện tự nhiên 15
3.1.1 Địa lý 15
3.1.2 Điạ hình 15
3.1.3 Khí hậu 15
Trang 53.1.3.1 Nhiệt độ 15
3.1.3.2 Lượng mưa 16
3.1.4 Thảm thực vật 17
3.1.5 Hệ động vật 17
3.2 Điều kiện xã hội 18
3.2.1 Đơn vị hành chính 18
3.2.2 Diện tích và dân số 18
3.2.3 Văn hóa xã hội 19
3.2.3.1 Giáo dục và đào tạo 19
3.2.3.2 Về giao thông 19
3.2.3.3 Hệ thống y tế 20
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 21
4.1 Danh lục các loài cây thuốc ở các trạm y tế thành phố Vinh 21
4.2 Đánh giá tính đa dạng các cây thuốc ở các trạm y tế thành phố Vinh 37
4.2.1 So sánh hệ cây thuốc ở khu vực nghiên cứu thành phố Vinh và Việt Nam 37
4.2.2 Sự phân bố các taxon họ, chi, loài trong các ngành 37
4.2.3 Sự phân bố các loài trong các họ 38
4.3 Đa dạng về dạng sống của các loài cây thuốc 39
4.4 Đa dạng về bộ phận sử dụng 40
4.5 Nguồn gốc của các loài cây thuốc ở khu vực nghiên cứu 41
4.6 Sự phân bố các loài cây thuốc ở các trạm y tế thành phố Vinh 42
4.7 Các bài thuốc dân gian ở thành phố Vinh 43
4.7.1 Một số bài thuốc được sử dụng ở các trạm y tế thành phố Vinh 43
4.7.2 Đa dạng các cây thuốc và bài thuốc theo nhóm bệnh 47
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
Phụ lục một số hình ảnh 52
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 1: Nhiệt độ, độ ẩm và lương mưa năm 2004-2005 16
Bảng 2: Danh lục các loài cây thuốc trong khu vực nghiên cứu ở các trạm y tế thành phố Vinh 22
Bảng 3: So sánh sự đa dạng các taxon cây thuốc ở các trạm y tế thành phố Vinh và Việt Nam 37
Bảng 4: Số lượng và tỷ lệ các taxon họ, chi, loài trong các ngành thực vật thu thập ở khu vực nghiên cứu thành phố Vinh 37
Bảng 5: Sự phân bố số lượng loài trong các họ ngành Magnoliophyta 38
Bảng 6: Đa dạng về dạng sống của các cây làm thuốc vùng nghiên cứu: 39
Bảng 7: Sự đa dạng trong các bộ phận sử dụng làm thuốc 40
Bảng 8: Nguồn gốc của các các loài cây thuốc ở khu vự nghiên cứu 41
Bảng 9: Sự phân bố các loài cây thuốc ở các trạm y tế thành phố Vinh 42
Bảng 10: Sự phân bố số lượng các cây thuốc và bài thuốc theo nhóm bệnh 47
Trang 7MỞ ĐẦU
Chúng ta ai cũng biết rằng sức khỏe là vốn quý của con người Để đảm bảo
sức khỏe của mình, con người đã biết tìm đến cây cỏ để làm nguồn thức ăn thêm
phong phú, không những thế nó còn được sử dụng làm thuốc chữa bệnh
Việc dùng thuốc trong nhân dân đã có từ lâu đời Nguồn kinh nghiệm quý
báu, công thức pha chế, cách thức sử dụng cây cỏ tự nhiên làm những bài thuốc
chữa bệnh lưu truyền và tích lũy qua nhiều thế hệ Đó là một quá trình đấu tranh
với tự nhiên, tìm tòi thức ăn mà có được những bài thuốc hay, bổ ích cho con
người
Ngày nay với thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa, môi trường bị ô nhiễm
nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sức con người, nhiều bệnh tật mới xuất hiện mà y
học hiện đại bất lực Nhưng một số loài thuốc y học cổ truyền, sử dụng các cây
cỏ thực vật làm thuốc chữa bệnh lại có thể chữa được và không có tác dụng phụ
Cho nên, hiện nay người ta có xu hướng quay trở về với cây thuốc có nguồn gốc
tự nhiên hơn là hóa chất làm thuốc Xu hướng này đã tác động đến việc sản xuất,
thu hái, chế biến, lưu thông và sử dụng dược liệu thảo mộc làm các bài thuốc
trong nhân dân
Thực tế đã chứng minh nhiều cây cỏ thực vật có tác dụng chữa trị nhiều bệnh rất hữu nghiệm như bệnh thông thường, mãn tính (cảm sốt, bong gân, một
số bệnh về đường tiêu hóa, ngoài da…) Ngoài ra còn có một số bệnh nan y hay
cấp tính cũng có tác dụng chữa trị rất tốt Có nhiều bài thuốc dân tộc được sử
dụng dưới nhiều hình thức kết hợp với nhau một cách hài hòa (uống, xoa, rịn)
Cho nên, việc điều tra các loại cây cỏ để làm những bài thuốc chữa bệnh theo
dân gian là rất cần thiết
Hiện nay có nhiều tài liệu, nhiều nhà nghiên cứu về cây thuốc đi tìm hiểu về
từng hoạt chất có trong cây cỏ, trong các bài thuốc dân gian để chiết ra các dược
phẩm có giá trị chữa bệnh hiệu quả nhưng việc sử dụng cây cỏ đang được lưu
truyền trong dân gian vẫn được duy trì
Trang 8Các bài thuốc dân gian được lưu truyền trong dân gian hoặc được ghi chép lại qua tài liệu giúp người dân biết sử dụng các cây cỏ trong tự nhiên làm thuốc chữa bệnh, tăng thêm sức khỏe cho con người
Xuất phát từ những lý do đó mà chúng tôi chọn đề tài “ Thống kê các cây
thuốc và bài thuốc ở các trạm y tế tại thành phố Vinh ” để nghiên cứu các loài
cây cỏ, các bài thuốc dân gian làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình Mục tiêu của đề tài là điều tra, thống kê các loài cây thuốc, các bài thuốc nam thường được sử dụng trong các trạm xá tại thành phố Vinh, nhằm xem xét hiệu quả và tiềm năng chữa bệnh của chúng
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.Tình hình nghiên cứu và sử dụng thuốc ở một số nước trên thế giới
Con người ngay từ buổi sơ khai đã tìm thức ăn tiếp xúc với cỏ cây muôn thú Thông qua việc sử dụng cây cỏ làm thức ăn mà con người đã tìm được nhiều nguồn thực phẩm từ thực vật Nó còn cung cấp nguồn nguyên liệu làm thuốc chữa bệnh Những kinh nghiệm ấy được tích lũy dần góp phần vào việc sử dụng
có hiệu quả hơn các nguồn từ tự nhiên
Bởi vậy vấn đề thực vật học được hình thành ngay từ khi xuất hiện con người Từ những kinh nghiệm đó hình thành một môn khoa học gọi là Dân tộc Thực vật học Nó nghiên cứu mối quan hệ giữa các dân tộc khác nhau với các loài cây cỏ phục vụ cho cuộc sống của họ Trong sự phát triển của loài người mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đều có những nền y học cổ truyền riêng Vốn hiểu biết về cây làm lương thực, thực phẩm, cây thuốc, đặc biệt là kinh nghiệm dân gian trong sử dụng cây cỏ được nghiên cứu ở các mức độ khác nhau tùy thuộc vào mức độ phát triển của quốc gia đó
Từ xa xưa (vào năm 3216 hoặc 3080 trước công nguyên) Thần Nông – một nhà dược học tài năng đã chú ý tìm hiểu đến tác động của cây cỏ đến sức khỏe con người Ông đã dùng các loại cây thuốc để thử nghiệm trên bản thân mình, bằng cách uống, nếm sau đó ghi lại những đặc điểm và hiểu biết mà ông cảm nhận được trong cuốn sách “Thần thông bản thảo” gồm 365 vị thuốc có giá trị [5]
Cách đây khoảng 3000 – 5000 năm, Ấn Độ đã dùng phổ biến cây cỏ làm thuốc, dùng lá cây ba chẽn (Desmodium triangulare) sao vàng săc đặc để chữa kết lỵ và tiêu chảy rất hiệu nghiệm [18]
Từ 400 năm trước công nguyên, người Hy Lạp và La Mã đã biết đến gừng (Zinggiber Officinale) Dùng gừng để chữa cảm cúm cảm lạnh, kém ăn, viêm khớp Thời cổ xưa các chiến sỹ Hy Lạp và La Mã dùng dịch cây lô hội (Aloe vera) để làm thuốc tẩy xổ [14]
Người cổ Hy lạp dùng cây mùi tây (Coriandrum Officinale) để đắp vết thương mau lành Dùng quả óc chó (Juglans regiaL) để chữa vết loét, vết thương Gilien một thầy thuốc thời cổ đại Ai Cập dã dùng tỏi (Allium sqtivum L) làm
Trang 10thuốc chữa bệnh, có tác dụng tiểu lợi, trị giun, giải độc, chữa hen suyễn và đau răng
Cũng từ lâu người Haiti (Dominic – Trung Mỹ) thương dùng cây cỏ lào (Chromolaena odoratum) dùng làm thuốc chữa các vết thương bị nhiễm khuẩn, dùng để cầm máu, chữa đau răng, vết loét lâu ngày không liền sẹo [21]
Vào thập kỷ thứ II nhân dân Trung Quốc đã biết dùng các loài cây để chữa bệnh như: nước chè đặc; rễ cây cốt khí củ (Polygomum cuspidatum); vỏ rễ cây táo tàu (Zizyphus vulgaris)…để chữa vết thương; dùng các loại nhân sâm (Panax) để phục hồi ngũ quan, trấn tĩnh tinh thần, chế ngữ cảm xúc, chặn đứng kích động, giải trừ âu lo, sáng mắt, gia tăng sự thông thái được sử dụng phổ biến
từ lâu ở Trung Quốc [12], [14], [27]
Theo đông y Trung Quốc cây lấu núi (Psychotria rubra) dùng toàn thân quả nhỏ làm thuốc chữa gãy xương, tiêu sưng, rửa mụn nhọt độc rất hay Ngải cứu (Artemisia vulgaris) được dùng trị thổ huyết, trực tràng xuất huyết, tử cung xuất
từ các loài cây cỏ Vào giữa thế kỉ XVI lý thời Trần đã thống kê được 12000 vị thuốc trong tập “Bản thảo cương mục” xuất bản năm 1595 [9], đã giúp cho việc chữa bệnh bằng cây cỏ còn lưu truyền tới ngày nay
Ở Châu Âu, theo y học dân gian cuả Liên Xô con người đã sử dụng nước sắc vỏ quả cây bạch dương (Bentula alba), vỏ cây sồi (quecus robus) – các nước Nga,
Trang 11Đức, đã dùng cây mã đề (plantago major) sắc nước hoặc giả lá tươi đắp chữa trị
vết thương, viêm tiết niệu,sỏi thận [14]
Từ lâu người Peru đã dùng hạt cây Sen cạn (Tropaeolum majus) để trị bệnh
về phổi đường tiết niệu Ở Bắc Mỹ từ những thế kỷ trước, thổ dân da đỏ đã biết dùng củ cây Echinacea angustifolia chữa bệnh nhiễm khuẩn và thuốc chế từ củ cây này chữa trị vết thương mưng mủ và vết rắn cắn và sau này (1950) Stoll và cộng sự đã tách được glusosit gọi là Echinacoit, kiềm chế được tụ cầu gây bệnh
vẽ (Breynia fruticosa) đồng bào Philippin dùng lá sắc cho phụ nữ sau khi đẻ
uống hoặc lấy da nhỏ vắt nược cốt cho trẻ uống trị sổ mũi, đau họng, ho gà [18]
Bên cạnh phương thức dùng cây thuốc theo y học cổ truyền, như dùng thuốc thang, thuốc cao ,thuốc bột, sắc thuốc xoa bóp hay chườm đến nay vẫn được dùng, từ lâu người ta còn đi sâu nghiên cứu tìm hiểu xem cơ chế nào và hợp chất hóa học nào có trong cây cỏ dại có tác dụng chữa mọi bệnh
Theo Anon, 1982 hiện đang biết ít cấu trúc của các hợp chất hóa học tự nhiên được chiết xuất từ tự nhiên để làm thuốc hoặc từ đó tổng hợp nên những loại thuốc mới có hiệu lực chữa bệnh cao [19] Tokin, Klein, Penneys đã công nhận rằng hầu hết cây cỏ có hoạt tính kháng sinh đó là một trong các yếu tố miễn dịch tự nhiên, tác dụng kháng khuẩn là do các hợp chất tự nhiên hay gặp: các chất phenolic, antoxyan…ví dụ như cây Aloe vera Theo Gotthall (1950) đã phân lập được chất Glycositd barbaloin có tác dụng với vi khuẩn lao người và tác dụng với Baccilus subtilic đã chiết từ kim ngân hoa (Lonicera sp), một hoạt chất có tác dụng với các loài vi khuẩn gây bệnh tả lị, mụn nhọt Người ta cũng đã chiết được becberin từ cây hoàng liên (Coptis chinensis) Theo Gillver thì becberin có tác dụng đối với tụ cầu, trực khuẩn lao hay trong nhiều loài ba gạc (Rauwolfia sp)
Trang 12chiết được chất resecpin, serpentin làm thuốc hạ áp Vincistin được chiết xuất từ
vừa ây dừa cạn (Catharanthus sp)có tác dụng hạ huyết áp và chống ung thư [24]
Gần đây theo thống kê của tổ chức y tế thế giới (WHO) thì đến năm 1985 đã
có gần 20000 loài thực vật (trong tổng số 250000 loài đã biết) được sử dụng làm thuốc hoặc cung cấp các hoạt chất để chế biến thuốc Trong đó ở ấn Độ có khoảng 6000 loài, Trung Quốc 5000 loài, vùng nhiệt đới châu mỹ hơn 1900 loài thực vật có hoa [12],[17] Theo số liệu của WHO yêu cầu sử dụng thuốc ngày càng cao Ở Trung Quốc tiêu thụ hàng năm 700000 tấn dược liệu, sản phẩm thuốc y dân tộc đạt giá tri hơn 1,7 tỷ usd vào năm 1986 Tổng giá trị về thuốc có nguồn gốc từ thực vật trên thị trường Âu – Mỹ và Nhật Bản vào năn 1985 là hơn
4 tỷ usd Tại các nước có nền công nghiệp phát triển tăng từ 335 triệu USD (1976) lên 551 triệu USD (1980) Còn ở Nhật Bản nhập khẩu dược liệu lại tăng
21000 tấn (1979) lên 22640 tấn dược liệu (1980) tương đương 50 triệu USD ở
Mỹ 4,5 tổng giá trị GDP (tương đương 75 triệu USD thu được từ cây hoang dại
làm thuốc phục vụ cho nền y học cổ truyền [12], [24]
Điều này chứng tỏ ở các nước công nghiệp phát triển cây thuốc phục vụ cho
y học cổ truyền phát triển mạnh, cây thuốc là loài cây kinh tế, nó cung cấp nhiều loài thuốc dân tộc và thuốc hiện đại, hình thành nên những bài thuốc bảo vệ chăm sóc sức khỏe con người
Trên thế giới có rất nhiều loài cây thuốc quý hiếm nhưng do con người khai thác không hợp lý, cây thuốc sẽ càng trở nên khan hiếm, nguy cơ bị tuyệt chủng cao Ước tính từ năm 1990 đến năm 2020 có khoảng 5 - 10% số cây thuốc trên thế giới sẽ biến mất và số loài bị diệt chủng sẽ tăng lên 25% vào khoảng năm
2050 [15]
Nguyên nhân gây nên sự suy thoái nghiêm trọng này chính là do sự khai thác quá mức của con người hay môi trường sống bị suy thoái Điều đáng chú ý ở đây là các vùng rừng nhiệt đới và á nhiệt đới, nơi có nhiều cây thuốc quý cũng đồng thời là nơi có nhiều loài thực vật bị đe dọa nhất Chính vì vậy bảo vệ rừng nơi sống của nhiều loài kinh tế như cây thuốc đã trở thành mối quan tâm của nhiều quốc gia cũng như các tổ chức quốc tế như IUCN, WWF, FAO…
Trong những năm trở lại đây, với mục đích khuyến cáo và định hướng cho công tác bảo tồn, ủy ban về sự sống sót của các loài (SSC) thuộc IUCN đã cố
Trang 13gắng không mệt mỏi để thu thập thông tin nhằm xác lập nên danh mục gọi là sách đỏ thông qua chương trình bảo tồn của Liên Hợp Quốc Vấn đề bảo tồn cây thuốc đã được nhấn mạnh như là những đối tượng chủ yếu cần ưu tiên Vì vậy, từ năm 1986 IUCN và WWF đã cộng tác với chính phủ Srilanca thực hiện một dự
án tổng thể về bảo tồn cây thuốc, bao gồm điều tra thu thập thông tin về sử dụng cây thuốc ở nhiều địa phương Trên cơ sở xây dựng chương trình quốc gia về bảo tồn và phát triển cây thuốc Theo O.Averel vấn đề bảo tồn cây thuốc ở các quốc gia chính là sự nhận biết và bảo tồn giá trị sử dụng chúng trong y học dân tộc Vì vậy, việc bảo tồn cây thuốc trong giai đoạn hiện nay được đặt ra rất khuẩn thiết
[24]
Thế kỷ XXI, để bảo vệ và nâng cao sức khỏe con người, sự phát triển không ngừng của xã hội, để chống lại các bệnh tật trong đó có các bệnh nan y ,cần nhiều cây thuốc và cách sử dụng chúng phải kết hợp Đông y và Tây y, giữa y học hiện đại với kinh nghiệm cổ truyền của các dân tộc Cho nên việc khai thác, kết hợp bảo tồn các loại cây thuốc là điều hết sức quan trọng [24]
1.2.Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Việt Nam
Trên 4000 năm dựng nước và giữ nước Nền y học cổ truyền nước nhà đã phát triển không ngừng ngày càng phong phú, đa dạng, góp phần chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân
Ngay từ thời Vua hùng (2900 năm trước công nguyên) qua các văn tự Hán Nôm còn sót lại (“Đại việt sử ký ngoại ký”, Lĩnh nam chính quáI liệt truyện”, tổ tiên ta đã biết sử dụng cỏ chữa bệnh [8], [9], [10] Theo Long Uy chép lại, vào đầu thế kỷ II trước công nguyên có hàng trăm vị thuốc từ đất giao chỉ như: Ý dĩ,
Hoắc Hương, khương sơn đậu khấu… được giới thiệu và sử dụng [11]
Kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của nhân dân phát triển, gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp của các danh y nổi tiếng đương thời
Vào đời nhà Lý (1010-1224) nhà sư Nguyễn Minh Khổng (tức Nguyễn Chí Thành) đã dùng cây cỏ chữa bệnh cho nhân dân và cho nhà vua nên dược tấn phong “Quốc Sư” –Triều Lý
Vào đời nhà trần (1225-1339), Phạm Ngũ Lão thừa lệnh Hưng Đạo Vương- Trần Quốc Tuấn xây dựng một vườn thuốc lớn gọi là “Sơn Dược” để chữa bệnh cho quân sĩ, nay còn di tích lại một quả đồi thuộc xã Hưng Đạo (Chí Linh- Hải
Trang 14Hưng) Chu Tiên lần đầu tiên biên soạn cuốn “bản thảo cương mục toàn yếu” đây
là cuốn sách thuốc đầu tiên của nước ta xuất bản năm 1429
Hai danh y nổi tiếng cùng thời là Phạm Công Bân, Tuệ Tĩnh thế kỷ 13 đã từng nêu quan điểm “nam dược tri nam nhân” dùng thuốc nam chữa bệnh cho người Việt Nam, và ông đã để lại cho hậu thế nhiều bộ sách quý tập hợp nhiều kinh nghiệm hay, những bài thuốc tốt đặc biệt là phương pháp chữa bệnh cứu người bằng thuốc nam Tuệ Tĩnh biên soạn bộ “Nam dược thần hiệu” gồm 11 quyển với 496 vị thuốc nam trong đó có 241 vị có nguồn gốc thực vật và 3932 phương thuốc để trị 184 chứng bệnh của 10 khoa lâm sàng ông có viết cuốn
“Hồng Nghĩa Giác tư y thư” tóm tắt công dụng của 130 loài cây thuốc cùng 13 phương gia giảm và cách trị cho các chứng bệnh Trong “Nam dược thần hiệu”
có mô tả và ghi tác dụng chữa bệnh của nhiều cây thuốc như: Tô Mộc (caesalpinia sappan) bổ huyết: Thanh hao (Artemisia apiacea) chữa chứng sốt, lị… Sử Quân tử (Quisqualis)sát khuẩn, chữa tả lị Sầu đâu (Bruceajavanica) sát trùng, trị đau ruột non Cây lá móng (Lawsonia inermis) chữa viêm đường hô
hấp…Bạc Hà (Mentha arvensis) chữa sốt nhức đầu [28]
Tuệ Tĩnh được coi là một bậc danh y kỳ tài trong lịch sử y học nước ta, là
“vị thánh thuốc nam” Ông chủ trương lấy “nam dược trị nam nhận” Bộ sách quý nhất của ông về sau bị quân Minh thu gần hết nay chỉ còn lại [11], [28]:
“nam thần dược hiệu”, “Tuệ Tĩnh y thư”, “thập tam phương gia giảm”, “thương hàn tam thập thất trùng pháp” Sau Tuệ Tĩnh ở cuối thế kỷ XVIII có Lê Hưu Trác
tự là Hải Thượng Lãn Ông, đã kế thừa “Nam dược thần hiệu” của Tuệ Tĩnh và bổ sung thêm 329 vị thuốc nam, tạo nên bộ “Linh nam bản thảo”
Đến thế kỷ XIX có thêm một số công trình nữa về cây thuốc như “ Nam dược” và “Nam dược chỉ danh truyền” của Nguyễn Quang Tuân ghi chép về 500
vị thuốc nam kinh nghiệp “Nam dược tập nghiệm quốc âm” của Nguyện Quang Lượng “Nam thiên thức bảo toàn thư” của Nguyện Đức Huệ, “Ngư triều y thuật
vấn đáp” của Nguyễn Đình Chiểu [10]
Một vài trích dẫn trên đây còn nhiều khiếm khuyết, song phần nào đã nói lên truyền thống của cha ông ta từ xa xưa đã biết thu thập, đúc rút kinh nghiệm
và sử dụng hàng trăm loài cây cỏ có sẵn để làm thuốc Đương nhiên cũng còn lưu
Trang 15ý cùng với mối giao lưu giữa các triều đại phong kiến, việc sử dũng cây thuốc ở nước ta còn chịu ảnh hưởng của nền y học cổ truyền của Trung Quốc
Thời Pháp thuộc, việc nghiên cứu cây thuốc vẫn được phát triển Một số nhà thực vật người Pháp đã dày công thu thập biên soạn bộ “Thực vật chí đại cương Đông Dương”, trong đó đã ghi nhận nhiều loài thực vật bậc cao dùng làm thuốc Ngay sau khi hòa bình lập lại ở Miền Bắc (1954) và giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước (1975), nước ta đã có nhiều nỗ lực quan tâm đến công tác điều tra nghiên cứu nguồn tài nguyên dược liệu ở Việt Nam phục vụ cho yêu cầu bảo vệ sức khỏe cho toàn dân và xuất khẩu
Ngày 27/12/1955, trong thư của chủ tịch Hồ Chí Minh gửi hội nghị về y tế, bác đã đề ra đường lối xây dựng nền y học Việt Nam khoa học, dân tộc và đại
chúng, giữa trên sự kết hợp y học cổ truyền của dân tộc với y học hiện đại [14]
Trong giai đoạn nay có nhiều công trình có giá trị, điển hình là bộ “Những cây thuốc và vị thuốc Y học Việt Nam” của Đỗ Tất Lợi, ông đã kiên trì thu thập nghiên cứu về cây thuốc Việt Nam trong suốt mấy chục năm và công trình đã dược tái bản nhiều lần Lần tái bản thứ 7 gần đây (1995) đã giới thiệu 792 loài
thực vật dùng làm thuốc [18]
Theo kết quả điều tra của Viện Dược Liệu - Bộ Y Tế ở Miền Bắc từ
1961-1972 đã công bố danh lục 1114 loài thực vật làm thuốc Kết quả điều tra dược liệu ở Miền Nam (1977-1985) đã phát hiện 1119 loài cây thuốc Tổng hợp số cây thuốc đã biết trên cả nước (đến 1985) là 1863 loài và dưới loài phân bố rộng trong 1033 chi, 263 họ, 101 bộ, 17 lớp, 11 ngành thực vật, trong đó có 1675 loài cây thuốc thuộc thực vật bậc cao Từ năm 1985 đến nay, trong quá trình tiếp tục điều tra nghiên cứu, thu thập bổ sung cho “danh lục cây thuốc Việt nam” hiện đã
lên tới 2000 loài đang được hoàn tất để sớm công bố [7], [26]
Đề cập tới cây thuốc trong hệ thực vật Việt Nam, Võ Văn Chi đã thống kê ở Miền Bắc 1360 loài cây thuốc, thuộc 192 họ cây hạt kín Đến năm 1991 trong một báo cáo tham gia hội thảo quốc gia về cây thuốc lần thứ 2 tổ chức ở thành phố HCM, tác giả cho biết đã tập hợp ở Việt Nam được 2280 loài cây thuốc, phân bố trong 1136 chi, 254 họ và 8 ngành thực vật bậc cao có mạch Con số cũng gần tương đồng với những tư liệu tiêu bản đã thống kê được ở Viện Dược
Liệu gần đây [6]
Trang 16Ngoài ra, cũng có nhiều công trình nghiên cứu về cây thuốc Việt Nam của một số tác giả như: Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chương như “Sổ tay cây thuốc Việt Nam”(1980) và “Tài nguyên cây thuốc Việt Nam” (1993) Năm 1994, trong công trình nghiên cứu cây thuốc Lâm Sơn - Lương Sơn - Hà Sơn Bình, Nguyễn Nghĩa Thìn đã giới thiệu 112 loài thuộc 50 họ
Bên cạnh ý nghĩa sử dụng cây thuốc trong y học dân tôc, theo kết quả nghiên cứu của: Nguyễn Văn Đàn, Nguyễn Việt Tựu (1986), Trịnh Gia Ân, Phạm Đình Sửu (1971,1979), Lê Tùng Châu (1991) Nguồn cây thuốc ở Việt Nam đã có nhiều triển vọng, là nguyên liệu cho công nghiệp dược, chiết xuất các hợp chất tự nhiên để làm thuốc Chỉ tính trong vong 10 năm trở lại đây đã có 701 cây thuốc được điều tra tính kháng khuẩn của một số loài cây thuốc chính thức
được đưa vào sản xuất thuốc đại trà như: thanh hao, vàng đắng, sừng dê [20]
Tóm lại, kinh nghiệm dùng các loài cây cỏ để chữa bệnh của đồng bào ta là phong phú, đa dạng Đây là kết quả của một quá trình nghiên cứu lâu dài từ thế
kỷ này sang thế kỷ khác của dân tộc ta, thậm chí họ phải đổ cả máu để đúc kết thành kinh nghiệm truyền thông đáng quý Chính vì vậy,thế hệ tương lai phải biết giữ gìn, bảo vệ phát huy truyền thống của đồng bào dân tộc, sử dụng một cách hiệu quả, khoa học giúp cho việc lựa chọn nghiên cứu và phát triển trong tương lai
1.3.Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Nghệ An
Ở Nghệ An các công trình nghiên cứu về cây thuốc còn chưa nhiều Hội Đông y nghệ An đã có những đóng góp trong việc giữ gìn phát huy những di sản của nền y học dân tộc tỉnh nhà bằng kinh nghiệm sử dụng cây cỏ làm thuốc Một số tài liệu viết về cây thuốc và bài thuốc “Kinh nghiệm chữa bệnh của Đông y Nghệ Tĩnh” (1978), của tỉnh hội Đông y Nghệ Tịnh, “Sổ tay dùng thuốc gia đình” (1981) của Nguyễn Văn Nhung, Đinh Sĩ Hoàn được nhân dân ứng dụng nhiều trong đời sống hàng ngày [22] Nhiều luận văn, luận án khoa học về điều tra cây thuốc, bài thuốc của thầy trò khoa sinh đại học Vinh cũng được triển khai trên nhiều địa phương như: “Điều tra cây thuốc và kinh nghiệm sử dụng chúng của đồng bào dân tộc Thái xã Yên Khê - Con Cuông - Nghệ An” (Luận văn thạc sỹ, năm 1996) của Tô Vương Phúc đã thống kê được 233 loài cây thuốc thuộc 81 họ và 113 bài thuốc chữa 29 nhóm bệnh [22] “Nghiên cứu các cây
Trang 17thuốc của đồng bào dân tộc Thái huyện Con Cuông - Nghệ An” ( Luận án tiến sỹ sinh học, năm 1999) của Nguyễn Thị Hạnh đã công bố 544 loài cây thuốc thuộc
363 chi, 121 họ của 4 nghành thực vật bậc cao và thu thập được 154 bài thuốc chữa trị 16 nhóm bệnh khác nhau của dân tộc Thái - Con Cuông - Nghệ An [12] Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thị Hạnh, Ngô Trực Nhã với cuốn “Thực vật học dân tộc - cây thuốc của đồng bào dân tộc Thái - Con Cuông - Nghệ An”
trong đó đã thống kê được 551 cây thuốc của 361 chi, 120 họ [25]
Ngoài ra, có một số công trình nghiên cứu khác về cây thuốc như “Đa dạng cây thuốc dân tộc các huyện tây bắc tỉnh Nghệ An của Đặng Quang Châu và cộng sự (2001), các đề tài thạc sỹ về cây thuốc của Nguyễn Thị Kim Chi (2002),
Bùi Hồng Hải( 2003) [2], [3], [4]
Tóm lại để bảo tồn nguồn gen cây thuốc quý hiếm cũng như tiến tới sử dụng một cách có hiệu quả nguồn tài nguyên cây thuốc cần phải tiến hành nhiều nghiên cứu hơn nữa, trong đó việc thống kê, tư liệu hóa các cây thuốc, các bài thuốc dân gian là việc cần thiết và cấp bách hiện nay Một mặt có thể lưu giữ và truyền bá các kinh nghiệm cổ truyền của cha ông, mặt khác là cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo nhằm sử dụng có hiệu quả cây thuốc cũng như tìm ra hoạt chất mới có khả năng chữa các bệnh nan y Đây là kết quả của một quá trình nghiên cứu tìm tòi, qua đó góp phần vào việc bảo tồn nguồn tài nguyên quý hiếm của nước nhà, giữ lại cho thế hệ tương lai, đồng thời phát huy nền y học cổ truyền Việt Nam
Trang 18CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các cây trồng và mọc hoang trong vườn có thể sử dụng làm thuốc
2.2 Nội dung nghiên cứu
* Tìm hiểu về các loài cây làm thuốc được trồng và mọc hoang trong vườn các trạm y tế ở thành phố Vinh và vai trò của chúng đối với người dân
* Lập danh lục các loài cây trồng và mọc hoang làm thuốc trong vườn ở các trạm y tế
* Thống kê các loài cây làm thuốc đã được trồng có mục đích sử dụng làm thuốc, làm rau, ăn quả và mọc hoang ở khu vực nghiên cứu
* Đánh giá mức độ sử dụng các cây làm thuốc có trong vườn ở các trạm y tế
* So sánh về thành phần loài, mức độ sử dụng các cây trong vườn làm thuốc giữa các trạm y tế
* Thống kê các bài thuốc sử dụng cây thuốc ở các trạm y tế của thành phố vinh
2.3 Địa điểm nghiên cứu
Các trạm y tế ở thành phố Vinh
2.4 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 10/2011 đến tháng 5/2012
- Đọc tài liệu và làm đề cương luận văn : tháng 10/2011
- Điều tra và thu mẫu thực địa: Từ tháng 11/2011 – 1/2012
- Xử lý mẫu và xác định loài: Từ tháng 12/2011 – 02/2012
- Phân tích số liệu và thống kê kết quả: Từ tháng 2/2012 – 03/2011
- Viết luận văn: Từ thang 03/2012 – 04/2012
- Bảo vệ luận văn: tháng 5/2012
Trang 192.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Phương pháp thu mẫu và xử lý mẫu
Theo phương pháp của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) và Hoàng Thị Sản (1998) [25], [23]
2.5.1.1 Nguyên tắc thu mẫu
Mỗi mẫu phải có đầy đủ các bộ phận nhất là cành, lá cùng với hoa và cả quả càng tốt (đối với cây lớn) hay cả cây (đối với thân thảo và dương xỉ) Mỗi cây lớn nên thu từ 3-5 mẫu, mẫu cây thảo cũng thu với số lượng tương đương Các mẫu thu trên cùng 1 cây thì đánh cùng 1 số hiệu, thu đợt nào đánh số đợt đó Khi thu mẫu phải ghi chép ngay những đặc điểm dễ nhận thấy bên ngoài thiên nhiên, nhất là các đặc điểm dễ mất khi khô quả màu sắc của hoa, quả…
Đeo số hiệu và ghi xong đặt 1 mẫu vào giữa tờ giấy báo và xếp vào cặp mắt cáo, đem về nhà mới xử lý mẫu
2.5.1.2 Phương pháp ép và xử lý mẫu khô
Xử lý mẫu ngay sau khi đem về nhà: Cắt tỉa lại cho đẹp, thay báo rồi lật một vài lá ngửa len trên Nếu mẫu nào có hoa dùng mảnh báo nhỏ để ngăn cách các hoa với nhau đề phòng khi khô sẽ dính vào nhau và dính vào báo
Xếp các mẫu vào cặp mắt cáo, không nên quá nhiều số mẫu trong một bộ cặp, nên từ 15-20 mẫu là vừa, nên đặt ngoài cùng 2 tờ báo tránh các hằn của cặp mắt cáo lên mẫu, sau buộc chặt cặp bằng dây
Các bộ mẫu được phơi nắng hoặc sấy trên bếp than, hằng ngày phải thay báo 3-4 lần cho đến khi mẫu thật khô
2.5.2 Phương pháp xác định tên cây
Chúng tôi chủ yếu sử dụng phương pháp hình thái so sánh
*Sơ bộ xác định nhanh họ và chi ngoài thiên nhiên:
Công việc này chủ yếu được tiến hành ngay ở thực địa, dựa vào các đặc điểm hình thái của cơ quan sinh dưỡng (rễ, thân, lá) và cơ quan sinh sản (hoa, quả, hạt), dựa vào các tài liệu: “Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật” của Nguyễn Nghĩa Thìn; “Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở
Việt Nam” của Nguyễn Tiến Bân [25], [1]
* Xác định tên khoa học:
Chúng tôi sử dụng các tài liệu định loại chính gồm:
Trang 20“Cây cỏ Việt Nam” (3 tập) của Phạm Hoàng Hộ (1999); “Từ điển cây thuốc Việt Nam” của Võ Văn Chi (1999) và “1900 loài cây có ích ở Việt Nam” của Trần Đình Lý (1999); “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của Đỗ Tất Lợi
(2003) [25], [5], [18]
* Chỉnh lý tên khoa học:
Sau khi định loại, chúng tôi tiến hành kiểm tra và chỉnh lý tên khoa học theo tài liệu “Từ điển cây thuốc Việt Nam” của Võ Văn Chi, 1999 [5]
* Phương pháp xây dựng danh lục:
Bậc họ trở xuống sắp xếp theo cách sắp xếp của Brummitt, 1992 Các taxon bậc họ trở lên chúng tôi sử dụng hệ thống phân loại của Takhtajan (1981)
Trật tự các cột được sắp xếp như sau: Số thứ tự, tên khoa học, tên phổ thông, dạng thân, bộ phận sử dụng, nguồn gốc, mức độ gặp, nơi gặp, công dụng, cách dùng
2.5.3 Phương pháp thu thập thông tin
2.5.3.1 Quan sát
Phương pháp quan sát (Observation) được sử dụng để quan sát thành phần
và số lượng cũng như tình trạng của cây trồng trong vườn của khu vực nghiên cứu
2.5.3.2 Phỏng vấn
Phương pháp phỏng vấn linh động (Flaxible Interview) với bản gợi ý chuẩn
bị trước (Chick-list) sử dụng trên đối tượng là các trạm xá được chọn ngẫu nhiên
để tìm hiểu mục đích của các cây trồng trong vườn nhà và mức độ sử dụng của
họ đối với cây làm thuốc
Trang 21CHƯƠNG 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI
KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Địa lý
Thành phố Vinh là trung tâm kinh tế, chính trị của tỉnh Nghệ An và đã được chính phủ quy hoạch để trở thành trung tâm kinh tế - văn hóa của vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam Hiện nay, thành phố Vinh là một trong tám đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh, là trung tâm kinh tế lớn nhất khu vực Bắc miền Trung của Việt Nam
Thành phố Vinh có tọa độ địa lý 18035’50’’ đến 18043’38’’ vị độ Bắc, từ
105056’30’’ đến 105049’50’’ kinh độ Đông, nằm đồng bằng Thanh Nghệ Tĩnh, là đồng bằng rộng thứ ba của Việt Nam
Vinh là thành phố nằm bên bờ sông Lam phía Bắc giáp huyện Nghi Lộc, phía Nam và Đông Nam giáp huyện Nghi Xuân, phía Tây và tây Nam giáp huyện Hưng Nguyên Thành phố Vinh cách thủ đô Hà Nội 295km, cách thành phố Hồ Chí Minh 1424km, cách thủ đô Viên Chăn (Lào) 400km về phía Tây
3.1.2 Điạ hình
Địa hình thành phố Vinh được kiến tạo bởi hai nguồn phù sa sông Lam và phù sa của biển đông Sau này sông Lam đổi dòng chảy về mạn Rú Rum, thì đất này còn nhiều chỗ trũng và được phù sa bồi dần lên Địa hình tương đối bằng phẳng và cao ráo nhưng không đơn điệu, có núi Dũng Quyết hùng vĩ và dòng sông Lam thơ mộng bao quanh tạo nên cảnh quan thiên nhiên của thành phố rất hài hòa và khoáng đãng
3.1.3 Khí hậu
3.1.3.1 Nhiệt độ
Khu vực nghiên cứu nằm trong thành phố Vinh nên cũng chịu ảnh hưởng của điều kiện khí hậu của tỉnh Nghệ An Nó nằm trong vùng khí hậu nhệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng sâu sắc của gió Lào Tây Nam khô nóng và gió lạnh ẩm Đông Bắc Kết quả đã hình thành nên 2 mùa rõ rệt và có sự biến động từ mùa này sang mùa khác
Trang 22- Mùa hạ: Từ cuối tháng 1 đến đầu tháng 10, mùa này nắng mưa theo giai đoạn phụ thuộc vào tính chất khí hậu, thường có gió Tây Nam cực đại vào tháng 8 và tháng 9, gây khô nóng
- Mùa đông: Từ đầu tháng 11 đến cuối tháng 3 năm sau Mùa này thường có gió mùa Đông Bắc, gây mưa phùn và hanh khô
Nhiệt độ trung bình là 240C, nhiệt độ cao tuyệt đối 42,10C, nhiệt độ thấp tuyệt đối 40C Độ ẩm trung bình 85 – 90% Số giờ nắng trung bình 1,696 giờ Năng lượng bức xạ dồi dào, trung bình 12 tỷ keal/ năm
3.1.3.2 Lượng mưa
Lượng mưa trung bình hằng năm 2000mm thích hợp cho nhiều loài cây trồng phát triển như cây ăn quả, cây nông nghiệp, các loài cây làm thuốc Có hai gió đặc trưng là gió tây nam – khô nóng xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 9 và gió đông bắc mang theo mưa phùn, gió lạnh , khí hậu ẩm ướt kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau
Qua thống kê của trạm Khí Tượng Thủy văn của thành phố Vinh, tính theo năm 2004 – 2005 thì nhiệt độ trung bình là 24,20C cao hơn so với trung bình hằng năm là 0,2 0C Tổng lượng mưa trong năm là 1610,9 mm Độ ẩm trung bình
Độ ẩm ( %)
Lượng mưa (mm)
Nhiệt độ ( 0 C)
Độ ẩm ( %)
Lượng mưa (mm)
Trang 23gỗ và 6 loài thân thảo được ghi vào sách đỏ Việt Nam Rừng tập trung ở các vùng đồi núi với 2 kiểu rừng phổ biến là rừng kín thường sanh, phân bố ở độ cao dưới 700m và rừng kín hỗn giao cây lá kim, phân bố ở độ cao lớn hơn 700m
Rừng Nghệ An vẫn là nguồn nguyên liệu quan trọng cho khai thác và phát triển các nghành công nghiệp Tổng trữ lượng gỗ hiện nay còn khoảng 52 triệu
m3 Trong đó có tới 42,5 vạn gỗ pơ mu Trữ lượng tre, mét trên 1 tỷ cây
3.1.5 Hệ động vật
Cùng với sự đa dạng của địa hình, cảnh quang sinh thái đã taọ cho hệ động vật ở Nghệ An cũng đa dạng và phong phú Theo thống kê hiện nay có 241 loài chim và 28 bộ Trong đó có 64 loài thú, 137 loài chim, 25 loài bò sát, 15 loài lưỡng thê Và có 34 loài thú, 9 loài chim, 1 loài cá được ghi vào sách đỏ Việt Nam
Ở khu dự trữ sinh quyển thế giới tại Nghệ An, có thảm thực vật phong phú bậc nhất khu vực Độ che phủ của rừng trên 80% là hiện trường lý tưởng để tiến hành các chương trình nghiên cứu về biến đổi khí hậu Nơi đây, có 70 loài thực vật và 80 loài động vật được liệt kê ở sách đỏ Việt Nam và thế giới trong đó có nhiều loài đặc biệt quý hiếm , đặc hữu của khu vực như Sao La, chà vá chân nâu, mang lớn, thỏ vằn
Trang 243.2 Điều kiện xã hội
3.2.1 Đơn vị hành chính
Các đơn vị hành chính của thành phố Vinh bao gồm 25 phường xã: Phường Lê Mao, phường Lê Lợi, phường Hà Huy Tập, phường Đội Cung, Quang Trung, Của Nam , Trường Thi, Hồng Sơn, Trung Đô, Bến Thủy, Đông Vĩnh, Hưng Bình, Hưng Phúc, Hưng Dũng, Vinh Tân, Quán Bàu, Hưng Đông, Hưng Lộc, Hưng Hòa, Hưng Chính, Nghi Phú,Nghi An, Nghi Kim, Nghi Liên, Nghi Đức
ha Trong đó, đất tại thành phố Vinh là 8.633 ha và khu vực mở rộng là 6.376 ha
Nhằm thực hiện đề án “phát triển thành phố Vinh trở thành trung tâm kinh
tế, văn hóa vùng Bắc Trung Bộ đã được thủ tướng chính phủ phê duyệt, từ nay đến năm 2025, thành phố Vinh sẽ mở rộng địa giới hành chính để có 250 km2
với
dự kiến dân số là 800.000 đến 1.000.000 người Sau khi mở rộng, diện tích thành phố Vinh sẽ bao gồm thành phố Vinh hiện nay và toàn bộ diện tích thị xã Cửa Lò phần phía nam huyện Nghi Lộc phía bắc huyện Hưng Nguyên Ranh giới thành phố mới sẽ là phía Bắc đường Nam Cấm, phía Tây là đường tránh Vinh, phía nam là sông Lam và phía Đông là biển Đông
Trang 253.2.3 Văn hóa xã hội
3.2.3.1 Giáo dục và đào tạo
Thành phố Vinh là 1 trong 3 trung tâm giáo dục và đào tạo lớn nhất trong khu vực miền trung – Tây Nguyên Hiện nay trên địa bàn thành phố có 7 trường đại học, 13 trường cao đẳng và nhiều phân hiệu, cùng nhiều trường trung học chuyên nghiệp, trung tâm dạy nghề và hàng trăm trường học từ bậc học phổ thông tới ngành học mầm non Sắp tới trên địa bàn thành phố Vinh sẽ có thêm các trường đại học cấp khu vực được thành lập, nâng cấp như: Đại học Công Nghệ miền trung, Trường Đại Học xây dựng Hà Nội _ phân hiệu 2, Đại học văn hóa – Nghệ thuật – Du lịch Vinh, Đại học Nghện An, Học viện kiểm toán Việt Nam…
Tổng số sinh viên các trường đại học, cao đẳng, trung cấp gần 100 ngàn người
3.2.3.2 Về giao thông
Thành phố Vinh nằm trên trục giao thông huyết mạch Bắc – Nam về cả đường bộ, đương sắt, đường thủy và đường hàng không, nắm giữ vị trí trọng yếu trên con đườn vận chuyển trong nước từ Bắc vào Nam và ngược lại Đồng thời thuận lợi cho việc giao thông kinh tế - văn hóa trong khu vực và quốc tế
Về đối ngoại: Thành phố Vinh được hưởng lợi hệ thống giao thông đối ngoại rất thuận lợi Với các tuyến quốc lộ theo trục Bắc Nam và Đông Tây Như quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh, quốc lộ 15 theo trục Bắc nam, quốc lộ 7, quốc
lộ 8, quốc lộ 46, quốc lộ 48
Về nội bộ: Mạng lưới giao thông nội thị có 765km đương giao thông các loại Hầu hết đã rải nhựa hoặc đổ bê tông xi măng; tỷ lệ đương rộng trên 12m chiếm 15,7%, mật độ đương giao thông đạt 12km/km2 Thành phố có 2 bến xe lớn phụ vụ nhu cầu đi lại nội và ngoại tỉnh của nhân dân, bến xe Vinh và chợ Vinh thu hút trên 700 lượt xe đón trả khách / ngày Vinh còn có 2 bến xe mới là Bắc Vinh và Nam Vinh đang được xây dựng Thành phố Vinh đang quy hoạch xây dựng các trung tâm đô thị dọc các đương Lê Lợi, Quang Trung, Trường Thi, Đại lộ Lê Nin, đường du lịch ven sông Lam, Đại lộ Vinh – Cửa Lò…Trong tương lai không xa sẽ mang lại cho thành phố bộ mặt đô thị hiện đại, xứng tầm
đô thị loại 1 trung tâm cấp vùng Ở Vinh hiện có 8 tuyến xe bút phục vụ việc đi lại của người dân thành phố và các huyện lân cận
Trang 263.2.3.3 Hệ thống y tế
Thành phố Vinh hiện là 1 trong 3 trung tâm y tế lớn nhất khu vực miền trung Trên địa bàn thành phố hiện có hơn 20 bệnh viện đa khoa và chuyên khoa, cung nhiều trạm y tế, phòng khám đa khoa khác Tại thành phố hiện nay có các bệnh viện lớn như: bệnh viện đa khoa trung ương Bắc Trung Bộ, bệnh viện đa khoa hữu nghị Việt Nam – Ba Lan, bệnh viện đa khoa Thành An – Sài Gòn
Ở mỗi phường lại có thêm trạm y tế của phường với cơ sở vật chất đầy đủ và đội ngũ bác sỹ, y tá giàu tài năng và nhiệt huyết
Trang 27CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Danh lục các loài cây thuốc ở các trạm y tế thành phố Vinh
Qua thời gian điều tra, chúng tôi đã thu thập được các cây sử dụng làm thuốc và những kinh nghiệm sử dụng của của các bác sỹ, y tá ở các trạm y tế thành phố Vinh Thống kê được 172 loài, 141 chi của 64 họ thuộc ngành của thực vật là Polypodiophyta, Pinophyta và Magnoliophyta Các mẫu cây thuốc đã được xử lý, xác định tên khoa học và xây dựng bảng danh lục
Mỗi loài cây được trình bày theo thứ tự sau:
Dang thân: Th – thân thảo B – thân bụi,
G – thân gỗ Le – thân leo
Trang 28Bảng 2: Danh lục các loài cây thuốc trong khu vực nghiên cứu ở các trạm y tế thành phố Vinh
4 Achyranthes aspera L Cỏ xước Th Ca D +++ Chữa suy nhược thần
kinh, kinh nguyệt
Ngọn lá non vò kỹ, thái nhỏ, chần qua nước sôi
hoặc xào
5 Amaranthus spinosus L Rau dền gai Th Ca Tr ++ Giải nhiệt do cảm Rễ sắc uống
6 Amaranthus tricolor L Rau dền đỏ Th Ca Tr + Chữa dị ứng Sắc uống
7 Amaranthus viridus L Rau dền cơm Th Ca Tr, D ++ Chữa ong, rắn cắn Nấu ăn hoắc giã nhỏ dắp vào vết thương
8 Celosia cristata L Mào gà Th Ho Tr + Chữa máu đường
Trang 2914 Daucus carota L Cà rốt Th Cu Tr ++ Chữa suy nhược, ỉa
15 Eryngium foetidum L Mùi tàu Th Ca Tr + Chữa khó tiêu, giảm
16 Oenathe javanica (Blume)
17 Wrighta annamensis Eberth
viêm gan
Sắc uống hoặc kết hợp với một số thuốc khác
18 Schefflera octophylla ( Lour.)
19 Araliaarmats (Wall.) Seem Đinh lăng gai G R Tr + Chữa viêm xoang,
20 Polyscias fruticosa (L.)
chữa đau lưng
Lá tươi ăn sống, khô sắc
uống
21 Streptocaulon juventas Merr Hà thủ ô Le C D ++ Bổ máu Củ sắc uống
22 Telosma cordata L Hoa lý Le L,Ho Tr ++ Trị giun Hoa nấu ăn
23 Artemisia apicea Hance
Chữa cảm hàn, sốt
24 Artemisia vulgaris L Ngải cứu Th L,T Tr ++ An thai, cảm sốt, đau
25 Centipeda minima L Cỏ the Th Ca D + Hen suyễn Hoa sắc uống
26 Chromolaena odorata L Cỏ lào Th L D ++ Cầm máu Giã đắp vào vết thương
27 Eclipta prostrata L Cỏ mực Th Ca D ++ Xuất huyết, sốt rét,
Trang 3028 Elephantopus scaber L Cúc chỉ thiên Th T D + Đau tử cung, giải
29 Enydra fluctuans L.our Rau ngổ Th T,L Tr ++ Cầm máu, nhuận
30 Lactuca satixa L var
capitata L Xà lách Th H Tr +
Thanh nhiệt tiêu viêm
Ngọn lá non chần nước sôi xào an
31 Dahlia pinnata Cav Thược dược Th Ho Tr + Hen suyễn Hoa sắc uống
32 Pluchea indica (L.) Less Cúc tần B T,L D ++ Phong thấp tê liệt,
33 Taraxacum oficinale L Bồ công anh Th Ca Tr,D ++ Viêm vú, tiểu tiện
34 Basella pekinensis Rupur Mồng tơi Th L Tr ++ Giả nhiệt, chữa kiết
35 Brassica oleracea L Su hào Th C Tr + Long đờm, tiêu thức
ăn, lợi tiểu
Củ nấu ăn, lá giã nhỏ vắt
lấy nước
36 Barssica juncea (L) Czern.et
37 Brassica pekinensis Rupur Cải thảo Th C, Q Tr + Thanh nhiệt Củ, quả nấu ăn
38 Brassica oleraceae L Cải bắp Th Ca Tr ++ Trị giun, làm liền
39 Carica papaya L Đu đủ Th V Tr + Kích thích tiêu hóa,
40 Impomoea batatas L Rau muống Th Ca Tr + Chữa ngộ độc Nhai sống nuốt nước
41 Impomoea batatas (L.) Lam Khoai lang Th C, L Tr ++ Chữa lỵ, đại tiện táo
42 Merremia sp Bìm bìm Th L D + Bổ máu, kich thích