1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điều tra thành phần tảo silic trong một số đầm nuôi tôm ở xã xuân lâm tĩnh gia thanh hóa

56 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Điều Tra Thành Phần Tảo Silic Trong Một Số Đầm Nuôi Tôm Ở Xã Xuân Lâm – Tĩnh Gia – Thanh Hóa
Tác giả Võ Thị Lệ Quyên
Người hướng dẫn TS. Lê Thị Thúy Hà
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Thực vật học
Thể loại luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2012
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 2,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên các công trình nghiên cứu về tảo Silic ở nước ta chưa được quan tâm nhiều, đặc biệt trong các đầm nuôi tôm thì càng ít ỏi.. Nội dung của đề tài gồm: Xác định một số chỉ tiêu th

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

VÕ THỊ LỆ QUYÊN

ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN TẢO SILIC TRONG MỘT SỐ ĐẦM NUÔI TÔM Ở XÃ XUÂN LÂM –

TĨNH GIA – THANH HOÁ

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

Chuyên ngành: Thực vật học

Vinh, 2012

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với sự giúp đỡ và hướng dẫn tận tình của giảng viên hướng dẫn TS Lê Thị Thúy Hà

Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáo Nguyễn TIến Cường, cô giáo Nguyễn Thanh Lam cùng các thầy cô giáo trong Tổ bộ môn Thực vật học, Tổ bộ môn Sinh lý – Hóa sinh, tập thể cán bộ phòng thí nghiệm Bộ môn thực vật – Khoa Sinh học trường Đại học Vinh đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành bài luận văn này

Em xin chân thành cảm ơn học viên cao học Đỗ Xuân Dương đã nhiệt tình giúp đỡ em

Sau cùng em xin chân thành cảm ơn người thân và bạn bè đã động viên giúp đỡ em trong suốt thời gian qua

Vinh, tháng 05 năm 2012

Tác giả

Võ Thị Lệ Quyên

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 1

MỞ ĐẦU 6

CHƯƠNG I 8

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 8

1.1 Sơ lược về tình hình nghiên cứu tảo Silic trên thế gới và ở Việt Nam 8

1.1.2 Tình hình nghiên cứu tảo Silic trên thế giới 8

1.1.2 Tình hình nghiên cứu tảo Silic ở Việt Nam 10

1.2 Hình thái tảo Silic 13

1.3 Vai trò của một số yếu tố môi trường trong đời sống vi tảo 14

CHƯƠNG II 18

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

2.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu 18

2.2 Phương pháp thu mẫu 18

2.2.1 Phương pháp thu mẫu nước 18

2.2.2 Phương pháp thu mẫu tảo 18

2.3 Phương pháp phân tích 19

2.3.1 Phương pháp phân tích mẫu nước 19

2.3.2 Phương pháp phân tích mẫu tảo 19

2.4 Phương pháp định loại tảo Silic 19

2.5 Phương pháp phân tích định lượng tảo Silic 20

CHƯƠNG III 21

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 21

3.1 Một vài đặc điểm về địa hình nghiên cứu 21

3.2 Kết quả phân tích một số chỉ tiêu thủy lý – thủy hóa của đầm tôm 23

3.2.1 Một số chỉ tiêu thủy lý 23

3.2.1.1 Nhiệt độ 23

3.2.1.2.Độ trong 24

Trang 4

3.2.1.3 Độ mặn 25

3.2.2 Một số chỉ tiêu thủy hóa 26

3.2.2.1 pH 26

3.2.2.2 Ôxy hòa tan (Dissolved Oxygen - DO) 26

3.2.2.3 Nhu cầu oxy hóa học (COD - Chemical Oxygen Demand) 27

3.3 Đa dạng về thành phần loài tảo Silic ở đầm tôm tại Xuân Lâm – Tĩnh Gia – Thanh Hóa 29

3.3.1 Đa dạng loài 29

3.3.2 Đặc điểm phân bố của tảo Silic 36

3.3.3 Sự biến động thành phần loài theo các đợt thu mẫu 36

3.4 Đa dạng tảo Silic phù du trong mối quan hệ với môi trường sống 38

3.4.1 Nhiệt độ 38

3.4.2 Độ mặn 38

3.4.3 Oxy hòa tan – DO 39

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 40

TÀI LIỆU THAM KHẢO 41

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Nhiệt độ môi trường ở các địa điểm nghiên cứu 23

qua 2 đợt thu mẫu 23

Bảng 3.2: Độ trong trung bình ở các địa điểm nghiên cứu 24

qua 2 đợt thu mẫu 24

Bảng 3.3: Độ mặn trung bình ở các địa điểm nghiên cứu qua 2 đợt thu mẫu 25 Bảng 3.4: pH trung bình ở các địa điểm nghiên cứu qua 2 đợt thu mẫu 26

Bảng 3.5: Hàm lượng Oxy hòa tan trung bình tại các điểm nghiên cứu qua các đợt thu mẫu (đơn vị mgO2/l) 27

Bảng 3.6: Hàm lượng COD trung bình qua các đợt nghiên cứu 28

Bảng 3.7: Bảng phân bố thành phần loài/dưới loài tảo Silic ở một số đầm tôm tại xã Xuân Lâm – Tĩnh Gia – Thanh Hóa 29

Bảng 3.8: Sự phân bố các taxon tảo Silic trong các đầm nghiên cứu 34

Bảng 3 9: Sự phân bố các taxon tảo Silic qua 2 đợt thu mẫu 36

Trang 6

MỞ ĐẦU

Vi tảo (microalgae) là những cơ thể tự dưỡng, đã từ lâu có ý nghĩa lớn trong nền kinh tế quốc dân vì thế đã thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học Người ta đã sử dụng vi tảo như là một biện pháp sinh học chống ô nhiễm môi trường nước, bởi lẽ chúng có khả năng là tăng hàm lượng ôxi trong nước đồng thời sử dụng các chất gây ô nhiễm trong nước làm chất dinh dưỡng hoặc tiết ra các chất hạn chế sự phát triển của các vi sinh vật gây bệnh trong nước Ngoài ra vi tảo cùng với các sản phẩm có hoạt tính sinh học của chúng đã được sử dụng rộng rãi trong ngành y học, chăn nuôi và trồng trọt…

Tảo Silic (Bacillariophyta) là một ngành thực vật bậc thấp, cơ thể có cấu trúc đơn bào có khả năng quang hợp, chúng sống đơn độc hoặc sống thành tập đoàn Thành phần tảo Silic rất phong phú, trên thế giới có khoảng 10.000 loài hiện sống thuộc 300 chi [25] Chúng phân bố khắp nơi, gặp tromg đất, đá ẩm, băng tuyết, trong các loại hình thủy vực, từ vùng khí hậu hàn đới đến khí hậu nhiệt đới

Tảo Silic phù du là thành phần chính của thực vật phù du nước, nhất là ở biển

Là mắt xích đầu tiên của mạng lưới dinh dưỡng, chúng là một trong những sinh vật sản xuất quan trọng bậc nhất của hệ sinh thái nước Nhiều loài động vật phù du, ấu trùng, động vật thân mềm, các loài cá bột và nhiều loài cá trưởng thành đã sử dụng trực tiếp hay gián tiếp tảo Silic phù du làm thức ăn Chính vì vậy, chúng có ý nghĩa lớn đối với nghề nuôi trồng thủy sản đặc biệt

là nghề nuôi tôm Tuy nhiên các công trình nghiên cứu về tảo Silic ở nước ta chưa được quan tâm nhiều, đặc biệt trong các đầm nuôi tôm thì càng ít ỏi Để

có thể tìm hiểu về tảo Silic và ảnh hưởng của điều kiện môi trường lên sự phân bố của chúng trong các đầm nuôi tôm, chúng tôi đã tiến hành đề tài:

Trang 7

“Điều tra thành phần tảo Silic trong một số đầm nuôi tôm ở xã Xuân Lâm – Tĩnh Gia – Thanh Hóa”

Đề tài này nhằm mục đích điều tra thành phần các loài tảo Silic sinh sống tại đầm nuôi tôm, đánh giá mức độ ảnh hưởng của môi trường nước lên

sự phân bố thành phần loài tảo Silic ở đầm tôm Bước đầu làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học

Nội dung của đề tài gồm:

Xác định một số chỉ tiêu thủy lý thủy hóa ở một số đầm nuôi tôm ở xã Xuân Lâm – Tĩnh Gia – Thanh Hóa

Điều tra thành phần loài tảo Silic tại các điểm nghiên cứu

Đánh giá mức độ ảnh hưởng của môi trường nước ở đầm tôm lên sự phân bố thành phần loài của tảo Silic

Trang 8

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Sơ lược về tình hình nghiên cứu tảo Silic trên thế gới và ở Việt Nam

1.1.2 Tình hình nghiên cứu tảo Silic trên thế giới

Việc nghiên cứu vi tảo nói chung và tảo Silic nói riêng đã có từ rất lâu,

nó gắn liền với việc tìm thấy tế bào và sự ra đời của kính hiển vi quang học được phát minh bởi nhà tự nhiên học người Anh Robert Hooke (1665) Về sau các thiết bị nghiên cứu càng được hoàn thiện nên những tri thức về tảo ngày càng được phát triển cao, không dừng ở mức độ nghiên cứu về hình thái, cấu trúc mà tìm hiểu sâu vào mức độ vi mô, phân tử [7], từ đó làm cơ sở cho các hướng nghiên cứu khác nhau, đặc biệt là nghiên cứu ứng dụng chúng trong nhiều lĩnh vực phục vụ cho đời sống con người

Tảo Silic được bắt đầu nghiên cứu từ thế kỷ XVIII, tên của lớp

Bacillariophyceae được bắt nguồn từ tên chi Bacillaria Gmelin 1791, trong khi đó từ “Diatom” được gọi từ tên chi Diatoma De Candolle 1805 Đến

những thập niên đầu của thế kỷ XIX việc nghiên cứu phân loại tảo Silic được tiến hành với công trình đầu tiên là “Systema Algarum” của Agardh C A năm 1824 Sau đó, Ehrenberg C.G., Kuetzing F.T., Smith W., Ralfs J đã công

bố nhiều hệ thống phân loại tảo Silic Cơ sở phân loại của cá tác giả còn đơn giản, chỉ mới dựa vào số lượng thể sắc tố và có rãnh dài hay không để làm căn

cứ phân loại [23]

Những năm đầu của thế kỷ XX, vào năm 1928 Karsten đã đưa ra hệ thống phân loại tảo Silic đầy đủ và chi tiết hơn: bộ Centracae với 4 bộ phụ (gồm Discoideae, Solenoideae, Biddulphioideae, Rutilaroideae) và bộ Pennatae với 7 bộ phụ thuộc 4 nhóm: nhóm Araphideae (có Fragilarioideae), nhóm Raphidiodeae (có Eunotioideae), nhóm Monoraphideae (có Achnanthoideae), nhóm Biraphideae (có Naviculoideae, Epithemioideae, Nitzschioideae và Surirelloideae) Sau đó, hệ thống phân loại tảo Silic đã

Trang 9

được Kokubo S (1955), Kim Đức Tường (1965)… bổ sung hợp lý và mang tính tự nhiên cao [1] Giữa thế kỷ XX, kính hiển vi điện tử ra đời đã mở ra một kỷ nguyên mới về nghiên cứu tảo [23]

Theo hướng nghiên cứu về tảo phù du biển, Cupp E.E (1943) điều tra, nghiên cứu thành phần loài tảo Silic biển ven bờ khu vực Bắc Mỹ, Crossby và Cassie (1959) nghiên cứu tảo Silic ở Ôx-trây-lia và Niu Di-lân hay Sournia A (1968) khảo sát tảo Silic phù du ở biển ven bờ Mô-dăm-bic [25] Đáng chú ý hơn cả là những công trình điều tra, khảo sát tảo Silic trên các vùng biển Ấn

Độ Dương mà Kastern G là người đầu tiên thực hiện năm 1907 Về sau, vào những năm 1964 – 1965, một số nhà khoa học đã nghiên cứu đối tượng này tại 103 điểm, trong đó có một số khu vực mà Kartern G đã quan tâm 60 năm

trước Kết quả được Reimer Simonsen (1974) tổng hợp trong “The Diatoms

Plankton of The India Ocean” [26], mô tả 247 taxon bậc loài và dưới loài

thuộc 80 chi, trong đó có 15 loài, 1 thứ và 3 chi được coi là mới đối với khoa học

Cùng thời gian đó, Hasler G.R (1965) đã nghiên cứu sâu về mô tả và

so sánh chi tiết 15 loài và dưới loài tảo Silic phù du thuộc chi Nitzschia từ

những mẫu thu vớt được trong khu vực Bắc Đại Tây Dương [24]

Tảo Silic phù du ở những vùng biển gần với biển Đông như: biển Nhật Bản, Philippin, Inđônêxia….đều được nghiên cứu kỹ từ khá sớm Allen W.E., Cupp E.E (1935) đã khảo sát, đánh giá nguồn lợi tảo Silic phù du biển Java

(Inđônêxia) Kokubo A (1955) đã mô tả trong cuốn “Trung Quốc hải dương

phù du khuê tảo loại”, giới thiệu 228 loài và dưới loài tảo Silic trong vùng

lãnh hải Trung Hoa [1]

Các công trình nghiên cứu về tảo Silic gần đây không thể không kể đến

“The diatoms: Biology & Morpholory of the genera” của Round và cộng sự

(1990), trên 285 chi được mô tả và có nhiều chi mới được phát hiện Các chi được mô tả rất công phu kèm theo ảnh hiển vi quang học và điện tử minh họa Mới đây nhất còn có các chuyên khảo về các chi tảo Silic cũng được công bố

Trang 10

như: Sterrenberg (1992) với “Nghiên cứu chi Gyrosigma và Pleurosigma

(Bacillariophyceae)”, Krammer (2000) mô tả 236 loài và dưới loài thuộc chi Pinnularia của Châu Âu ( trong đó có 151 loài và dưới loài mới cho khoa

học), Stefano và cộng sự (2000)… [theo 5]

1.1.2 Tình hình nghiên cứu tảo Silic ở Việt Nam

Ở Việt Nam việc nghiên cứu tảo Silic phù du được tiến hành khá sớm, nhất là ở Miền Nam Việt Nam

Năm 1904 có 38 loài tảo Silic phù du lần đầu tiên được Bois M.D và Petit D giới thiệu trong báo cáo kết quả điều tra sinh vật nổi trong một số ao

hồ ở Sài Gòn [theo 4] Từ đó trở về sau, tảo Silic được quan tâm nhiều hơn và được giới thiệu cùng các ngành tảo khác trong những công trình nghiên cứu thực vật nổi ở các loại hình thủy vực

Ở vịnh Nha Trang đã có các công trình nghiên cứu về tảo Silic nhưng việc điều tra, khảo sát đối tượng này chỉ trong phạm vi hẹp Maurice Rose đã tiến hành khảo sát lần đầu tiên sinh vật phù du vào năm 1926 và hệ thống thành một bảng danh mục các loài tảo Silic phát hiện được ở Nha Trang, trong 54 mẫu phân tích có 13 chi với 20 loài [1] Sau đó, Dawydoff C (1936) tiếp tục nghiên cứu và đã phát hiện có 11 chi, 22 loài tảo Silic Về phương diện số lượng, ông đã mô tả một chu kỳ năm của thực vật phù du với sự luân phiên giữa 2 mùa là mùa mưa và mùa khô Trong mùa khô (từ tháng 1 đến tháng 7 âm lịch), số lượng thực vật phù du ít nhưng đến tháng 8 (khi mùa mưa bắt đầu) thực vật phù du tăng nhanh về số lượng và đạt đỉnh cao vào tháng 11

và tháng 12 với ưu thế thuộc về ngành tảo Silic Sang tháng 1, số lượng tế bào giảm đi và lại bắt đầu một chu kỳ mới Cũng theo hướng này, tại Vịnh Nha Trang sau 2 năm (1957 – 1958) điều tra, khảo sát (mỗi tháng lập lại công việc một lần), Yamashita nhận thấy số lượng sinh vật nổi cũng thay đổi theo chu

kỳ rõ rệt Sinh vật lượng của tảo đạt đỉnh cao vào tháng 5 còn thấp nhất vào tháng 2 Như vây, kết luận này hoàn toàn khác so với những kết quả của Dawydoff đã đưa ra trước đó [19]

Trang 11

Công trình viết về tảo Silic đầu tiên bằng tiếng Việt do người Việt Nam thực

hiện là “Phiêu sinh vật trong vịnh Nha Trang” của Hoàng Quốc Trương

(1962) Tác giả đã mô tả 153 loài tảo Silic (kèm theo các hình vẽ minh họa) từ các mẫu thu được ở 13 điểm trong vịnh Nha Trang từ tháng 01 đến tháng 02 năm 1961 [19]

Năm 1966, trong cuốn “The plankton of South Việt Nam”, cùng với các

loài tảo nước ngọt, Shirota A đã giới thiệu 213 loài tảo Silic trong 15 vùng nước lợ, nước mặn ven biển từ Thừa Thiên Huế đến Kiên Giang [27] Tuy chỉ mới trình bày bảng tên loài cùng với những hình vẽ còn đơn giản, không có phần mô tả hình thái mà chỉ nêu các kích thước nhưng đây thực sự là công trình nghiên cứu có giá trị về thực vật phù du biển Với danh mục loài phong phú, công trình đã giới thiệu bao quát về thực vật nổi vùng ven biển miên Nam Việt Nam, điều mà trước đó chưa có tác giả nào thực hiện được

Nguyễn Văn Tuyên (1980), trong luận án Phó Tiến sĩ khoa học Sinh học, đã công bố 979 taxon loài và dưới loài thực vật phù du, trong đó có 260 loài tảo Silic [theo 20] Tiếp theo đó là công trình lớn của Dương Đức Tiến (1982) đã phản ánh khá đầy đủ khu hệ tảo trong các loại hình thủy vực nội địa Tác giả công bố 1402 loài, trong đó có 388 loài tảo Silic Đặc biệt hơn, tác giả đã chú ý nhiều đến mối liên hệ giữa các kiểu hình thủy vực đối với đời

sống của tảo [theo 4] Theo hướng này, năm 1988 ông xuất bản cuốn “Đời

sống các loài tảo” khắc họa vai trò, ý nghĩa của tảo trong tự nhiên và đời

sống con người cũng như triển vọng sử dụng chúng [18]

Năm 1982, Viện nghiên cứu biển Nha Trang đã tiến hành khảo sát nguồn lợi thực vật nổi dải biển ven bờ từ Thuận Hải đến Minh Hải (cũ) Danh mục loài được Viện công bố có ghi 170 loài tảo Silic [1]

Còn ở miền Trung, Vũ Trung Tạng, Đặng Thị Sy (1977 – 1978) khi điều tra sơ bộ về thực vật nổi trong phá Tam Giang (Thừa Thiên Huế), kết quả cho thấy trong 86 loài được định danh thì có 65 loài tảo Silic [theo 4] Kết quả này được bổ sung sau đó, khi Tôn Thất Pháp (1993) nghiên cứu về thực

Trang 12

vật thủy sinh trong phá, đã công bố 159 loài tảo Silic [theo 11] Sau đó ông

và cộng sự đã bổ sung cho danh mục thành phần loài tảo Silic vùng biển ven

bờ tỉnh Thừa Thiên Huế 2 chi và 46 loài [12]

Năm 2001, Nguyễn Đình San đã phát hiện 196 loài và dưới loài thuộc 5 ngành tảo trong một số thủy vực bị ô nhiễm ở 3 tỉnh Bắc Miền Trung Riêng

về tảo Silic, trong 56 loài được định danh, tác giả đã bổ sung 5 loài cho khu

hệ tảo Việt Nam, 10 loài cho khu vực Bắc Miền Trung [theo 14]

Võ Hành, Mai Văn Chung, Lê Thị Thúy Hà (2002) đã phát hiện được

99 loài và dưới loài tảo Silic ở một số cửa sông ở Nghệ An (Lạch Quèn, Lạch Vạn và Cửa Hội) [8]

Năm 2004,Lê Thị Thúy Hà đã công bố 164 loài và dưới loài tảo Silic trong tổng số 409 loài và dưới loài đã thống kê được ở Sông Lam [theo 6] Gần đây nhất, năm 2007, Lương Quang Đốc đã công bố 123 loài và 14 thứ tảo Silic sống trên nền đáy mềm ở phá Tam Giang – Cầu Hai và đầm Lăng

Cô, tỉnh Thừa Thiên Huế [theo 5]

Nếu như tảo Silic ở miền Nam được tìm hiểu từ đầu thế kỷ XX thì đối tượng này ở miền Bắc được nghiên cứu muộn hơn Trong những năm 1959 –

1962 và 1965 – 1966, khi chương trình hợp tác điều tra cơ bản tổng hợp vịnh Bắc Bộ giữa Trung Quốc và Việt Nam được tiến hành thì tảo Silic mới được quan tâm đáng kể Trong kết quả thu được, bên cạnh nhiều loài thực vật nổi được định danh có 140 loài tảo Silic [1] Trương Ngọc An, Hàn Ngọc Lương (1980) đã khảo sát thực vật phù du vùng cửa sông Ninh Cơ, cửa sông Đáy và cửa sông Hồng (cửa Bà Lạt) thuộc tỉnh Hà Nam Ninh (cũ) đã công bố 125 taxon, trong đó tảo Silic chiếm ưu thế [2]

Dựa vào nguồn tài liệu trước đó rất phong phú, Trương Ngọc An đã mô

tả 225 loài tảo Silic phù du gặp ở biển Việt Nam, chúng thuộc 2 bộ, 18 họ và

60 chi [1]

Những công trình nghiên cứu với những kết quả có giá trị đó là nguồn động lực để mở rộng các hướng nghiên cứu mới nhằm khai thác lợi ích của

Trang 13

tảo đồng thời góp phần đề ra phương hướng phát triển mới cho công tác nghiên cứu tảo ở nước ta, đưa sinh học thực nghiệm ngày càng đi sâu vào thực tiễn và đời sống

1.2 Hình thái tảo Silic

Tập đoàn không thể tách rời: các tế bào được liên kết lại với nhau nhờ vách hoặc nhờ các gai, sừng để móc với nhau

Tập đoàn vỏ phân cách: giữa các tế bào liền kề nhau, do có cấu trúc khác nhau nên chúng có thể nối với nhau thông qua mặt vỏ

Chuỗi: các tế bào nối với nhau liên tiếp tạo thành chuỗi dài nhờ vỏ phân cách, các gai, các lông gai

Dạng dải: các tế bào nối lại với nhau liên tiếp nhờ các mặt vỏ tiếp xúc hoặc các gai ở viền mép mặt vỏ

Dạng chuỗi bậc chồng nhau: các tế bào liền nhau nối với nhau bằng cách một phần của tế bào này gối lên một phần của tế bào kia

Dạng chữ chi (zigzag) hay hình sao: đầu mút của mỗi tế bào dính lại với nhau theo kiểu zigzag hay hình sao nhờ các tấm chất nhầy

Cấu trúc vỏ tảo:

Tảo Silic có cấu tạo gồm 2 mảnh vỏ lồng vào nhau tương tự như hộp đĩa petri, nên khi quan sát tảo có thể thấy mặt đai (nhìn ngang) hoặc một vỏ (nhìn từ trên xuống)

Ngoài các đặc điểm về hình dạng, kích thước (chiều dài, chiều rộng, chiều cao) của tế bào tảo thì các cấu trúc và vi cấu trúc lỗ trên bề mặt của vỏ

Trang 14

tảo như hình dạng, số lượng, cách sắp xếp của chúng cũng phải được quan sát

để căn cứ vào đó mà định danh

Tảo Silic trung tâm: hình dạng, số lượng, cách sắp xếp dải lỗ vân (đơn

lẻ hay thành nhóm) từ trung tâm đến viền mép của mặt vỏ; bề mặt vỏ (lồi, lõm, phẳng, hình nón hay gợn sóng); số lượng, hình dạng các u lồi, lông gai, gai, mấu, chúng sắp xếp ở trung tâm hay viền mép mặt vỏ

Tảo Silic lông chim không rãnh: thường có dạng hình que, kích thước rất nhỏ, đa số sống bám Những đặc điểm này cần chú ý: hình dạng, cách liên kết các tế bào, có hay không có rãnh giả, số lượng các dải vân, sự sắp xếp các dải vân, các dải trơn chạy dọc theo mặt vỏ, đặc điểm phân bố các dải vân ở trung tâm với vùng đầu của mặt vỏ

Tảo Silic lông chim có rãnh: rãnh hay khe có phía ngoài rộng và hẹp ở giữa, chia mặt vỏ thành 2 phần bằng nhau hoặc có thể lệch sang bên, rãnh có một u lồi ở trung tâm và kết thúc bởi 2 u lồi ở cực tế bào

Ngoài ra, trong thực tế khi định danh còn phải sử dụng một số các đặc điểm khác như: gần phía đầu mặt vỏ và hai bên mép mặt vỏ thắt lại rồi mở rộng ra tạo thành hình đầu; đoạn kết thúc của rãnh ở trung tâm hoặc đầu mặt

vỏ có hình dạng như thế nào; quanh vùng trục có hay không có cấu trúc dạng hạt; cấu trúc trơn dạng chữ H trên bề mặt vỏ; rãnh lệch tâm hay không lệch tâm Ở nhiều loài tảo Silic trung tâm chỉ có thể định danh qua hình dạng và cấu trúc của mặt đai; một số loài tảo Silic lông chim có cấu trúc vỏ khác nhau: một vỏ có rãnh (thường là nắp dưới) và một vỏ không có rãnh

1.3 Vai trò của một số yếu tố môi trường trong đời sống vi tảo

Trên bề mặt vỏ trái đất có khoảng 1,4 tỉ km3 nước, trong đó đất liền chiếm khoảng 2,4%, đại dương chiếm khoảng 97,6% [10] Như vậy, có thể nói trên bề mặt vỏ trái đất hầu như là nước và nước là một trong những môi trường sống của vi tảo, để tồn tại, sinh trưởng và phát triển thì vi tảo phải thích nghi được các yếu tố có liên quan mật thiết với môi trường

Trang 15

Thực vật phù du có khả năng quang tự dưỡng nhờ nguồn năng lượng ánh sáng mặt trời, mặt trăng và các sinh vật có khả năng phát sáng, trong đó ánh sáng mặt trời là quan trọng nhất Ánh sáng ảnh hưởng đến sự phân bố theo chiều sâu của các loài tảo vì ở độ sâu khác nhau thi cường độ ánh sáng cũng khác nhau, ánh sáng càng xuống sâu thì cường độ ánh sáng càng giảm đến độ sâu nhất định thì ánh sáng tắt hẳn [19], do đó các loài tảo khác nhau sẽ hấp thụ ánh sáng có bước sóng khác nhau trong quá trình quang hợp Tảo Lam, tảo Lục chiếm ưu thế ở tầng mặt nước, tầng giữa là tảo Nâu, sâu hơn là tảo Silic [9] Theo Nguyễn Văn Tuyên (1998) tảo Silic có tính hướng quang dương , tức là chúng có khả năng chuyển động về phía có ánh sáng [21]

Cũng như ánh sáng, nhiệt độ là một yếu tố có vai trò điều khiển nhịp điệu cuộc sống của thủy sinh vật Sự thay đổi nhiệt độ sẽ dẫn đến sự biến động về số lượng vi tảo Vào mùa xuân, khi nhiệt độ khoảng 18o

C thì vi tảo phát triển rất mạnh, nhất là tảo Silic, đến mùa hạ khi nhiệt độ tăng lên thì các loài tảo ưa lạnh, kể cả tảo Silic sẽ sinh trưởng chậm lại, lúc này tảo Lam và tảo Lục sẽ phát triển mạnh Đến mùa thu khi nhiệt độ hạ xuống thì tảo Silic lại chiếm ưu thế trong thủy vực và phát triển mạnh lần thứ 2 [7]

Tất cả sinh vật đều cần ôxy cho quá trình hô hấp Khi các sinh vật trên cạn sử dụng ôxy trong không khí khoảng 21% thì thủy sinh vật phải dùng ôxy

ở dạng hòa tan trong nước (DO) với tỷ lệ thấp hơn nhiều Theo Vũ Trung Tạng (1997) thì nguồn cung cấp ôxy trong nước là từ khí quyển và quá trình quang hợp của thực vật Sự hao hụt khí ôxy hòa tan trong nước là do quá trình

hô hấp của thủy sinh vật, do sự khuếch tán vào khí quyển và do sự ôxi hóa các chất [16] Mức bão hòa của DO khoảng 8 – 10 mgO2/ 1 lít nước, nhưng thực

tế DO chỉ đạt 70 – 80% so với mức bão hòa Vào buổi trưa DO sẽ đạt cực đại

do cường độ ánh sáng cao nên quá trình quang hợp mạnh làm tăng lượng ôxy hòa tan trong nước Vào ban đêm, DO ở mức cực tiểu, vi tảo tập trung nhiều trên tầng mặt và giảm dần theo chiều sâu do lúc này ánh sáng rất yếu – chủ yếu là ánh trăng [17]

Trang 16

Trong môi trường nước luôn chứa nhiều tạp chất, mùn, phù sa….làm ảnh hưởng đến độ hấp thụ ánh sáng và phân bố của nhiều loài sinh vật Nếu trong môi trường nước có chứa nhiều tạp chất (nước đục) thì độ trong càng giảm khi đó khả năng quang hợp của thực vật giảm, còn ngược lại nếu môi trường nước có chứa ít tạp chất (nước trong) thì khả năng quang hợp tăng Độ trong của nước được đo bằng đĩa Secchi do nhà khoa học người Ý Shecchi đề xuất [16]

Độ pH của nước cũng ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của sinh vật phù du, ngoài ra độ pH cũng phải phụ thuộc vào mức độ hòa tan của các muối khoáng, đặc biệt phụ thuộc vào sự biến đổi hàm lượng O2 và CO2 Thông thường nước biển có độ pH từ 8 – 8,4 [15]

Muối đạm NH+

4, NO3- là sản phẩm của quá trình amin hóa, deamin hóa các chất hữu cơ hay do thủy sinh vật bài tiết Nếu muối đạm hòa tan trong môi trường nước với lượng thích hợp thì hết sức cần thiết, nhưng khi muối đạm hòa tan với số lượng lớn thì gây ức chế cho sự phát triển của tảo Theo Fogg (1952), vi tảo hấp thụ muối NH4+ nhanh hơn NO3-, vì vậy khi môi trường nước đồng thời có cả hai thì NH+

4 sẽ được hấp thụ trước tiên Kết quả nghiên cứu của Guxeva (1952) cho thấy, nhu cầu về đạm không giống nhau ở các ngành tảo So với tảo Lục, tảo Lam, tảo Nâu thì tảo Silic có nhu cầu về đạm là thấp hơn [7]

Phospho hòa tan trong môi trường nước dưới dạng phosphat hữu cơ là chủ yếu và phosphat vô cơ Nhưng thực vật phù du chỉ sử dụng được ở dạng phosphat vô cơ và chủ yếu là muối phosphat PO3-

4 với hàm lượng rất ít và hấp thụ rất nhanh

Ngoài các yếu tố ở trên, tảo Silic muốn tồn tại và phát triển cần phải có silic – chủ yếu tồn tại dưới dạng muối SiO4

(vì 80% trọng lượng vỏ tảo Silic được xây dựng từ những hợp chất chứa silic) Điều lý thú là hàm lượng SiO4

4-trong các thủy vực trên phạm vi toàn cầu chênh lệch nhau không nhiều Ví dụ,

ở biển Nhật Bản, hàm lượng SiO44-

tối đa là 10,9 mg/l, còn ở hồ chứa nước

Trang 17

ngọt Kể Gỗ (Hà Tĩnh) hàm lượng trung bình là 11,7 mg/l [3] Theo Guxeva (1975), Ergashev (1981) thì sự phát triển của tảo Silic có mối quan hệ trực tiếp, chặt chẽ với hàm lượng SiO44-

trong thủy vực [theo 4] Như vậy, môi trường nghèo silic thì sẽ ảnh hưởng xấu tới sự sinh tồn của tảo Silic

Trang 18

CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là một số chỉ tiêu thủy lý, thủy hóa và thành phần loài thuộc ngành tảo Silic (Bacillariophyta) ở một số đầm tôm tại Tĩnh Gia – Thanh Hóa

Địa điểm nghiên cứu:

Mẫu được thu tại 3 đầm tôm thuộc Tĩnh Gia – Thanh Hóa

Địa điểm 1: Đầm tôm 1: thu tại 3 điểm là ở giữa và 2 bên bờ đầm tôm Địa điểm 2: Đầm tôm 2: cũng thu tại 3 điểm ở giữa và 2 bên bờ đầm tôm

Địa điểm 3: Đầm tôm 3: thu tại 3 điểm giữa và 2 bên bờ đầm tôm Thời gian thu mẫu: Mẫu được tiến hành thu 2 đợt

Đợt 1: ngày 10/02/2011 Tại thời điểm này thời tiết khá lạnh (thời điểm cuối đông)

Đợt 2: ngày 08/04/2011 Tại thời điểm này nhiệt độ trong ngày khá cao (đầu mùa hè)

Cả 2 đợt thu mẫu đều thu vào buổi sáng, thời điểm từ 9h – 11h

2.2 Phương pháp thu mẫu

2.2.1 Phương pháp thu mẫu nước

Mẫu nước được thu ở tầng mặt 0 – 20 cm cho vào chai nhựa PE 1,2 lit, bảo quản ở 4oC để phân tích một số chỉ tiêu thủy hóa Riêng đối với mẫu nước để xác định ôxi hòa tan (DO) được thu riêng vào lọ thủy tinh nút mài 125ml và cố định ngay ở hiện trường

2.2.2 Phương pháp thu mẫu tảo

Thu mẫu tảo định tính được thực hiện ngay nơi lấy mẫu nước bằng vợt vớt thực vật nổi

Trang 19

Dùng lưới vớt thực vật nổi N0 75, vợt qua vợt lại trên tầng mặt (từ mặt nước sâu xuống khoảng 20 cm) khoảng 100 lần để thu mẫu Các mẫu được cố định ngay bằng formol 4%

Mẫu tảo được bảo quản và phân tích tại phòng thí nghiệm của Bộ môn Thực vât, khoa Sinh học, trường Đại học Vinh Tất cả các lọ mẫu đều được ghi nhãn, đánh số đầy đủ và bảo quản cận thận

2.3 Phương pháp phân tích

2.3.1 Phương pháp phân tích mẫu nước

Xác định tại chỗ độ trong của nước bằng đĩa Secchi, nhiệt độ không khí

và nhiệt độ nước được đo bằng nhiệt kế, độ mặn được đo bằng tỷ trọng kế và

độ pH được đo bằng bút đo pH

Các mẫu nước thu về được bảo quản ở 4oC trong tủ lạnh và phân tích trong 24 giờ tại phòng thí nghiệm Sinh lý – Hóa sinh của Trung tâm thí nghiêm – thực hành trường Đại học Vinh Cụ thể là:

Oxy hòa tan (Dissolved Oxygen: DO) được xác định bằng phương pháp Winkler

Nhu cầu ôxy hóa học COD (Chemical Oxygen Demand): được xác định bằng phương pháp Permangannat

2.3.2 Phương pháp phân tích mẫu tảo

Mẫu tảo Silic định tính được xử lý bằng phương pháp đốt mẫu trên bếp điện 6 – 8h, sau đó các mẫu được cố định bằng Baume Canada và quan sát bằng kính hiển vi điện tử có độ phóng đại 400 – 1000 lần Mỗi loại đều được

đo kích thước bằng trắc vi, lập bản mô tả và chụp ảnh hiển vi

2.4 Phương pháp định loại tảo Silic

Để định loại các loài tảo Silic, chúng tôi đã sử dụng khóa định loại của M.M Zabelina và cộng sự [27] và tài liệu tham khảo của Trương Ngọc An [1] Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo thêm tài liệu nước của Carmelo R Tomas [23], Shirota A [27]

Trang 20

2.5 Phương pháp phân tích định lượng tảo Silic

Xác định mức độ gặp theo quy ước (10 tiêu bản đối với mỗi mẫu thu) Nếu một loài xuất hiện:

+ Ở 7 – 10 tiêu bản tức là từ 70 – 100%, loài gặp nhiều: +++

+ Ở 4 – 6 tiêu bản tức là từ 40 – 60%, loài gặp trung bình: ++

+ Ở 1 – 3 tiêu bản tức là dưới 40%, loài gặp ít: +

Trang 21

CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Một vài đặc điểm về địa hình nghiên cứu

Tĩnh Gia là một huyện đồng bằng ven biển thuộc tỉnh Thanh Hoá, trung tâm huyện cách thành phố Thanh Hoá 45 km về phía Nam theo quốc lộ 1A Tổng diện tích đất tự nhiên là 45.828,66 ha, dân số trung bình năm 2009 là 214.420 người, mật độ dân số 468 người/km2

Huyện Tĩnh Gia nằm ở phía Đông Nam tỉnh Thanh Hóa, phía Bắc giáp huyện Quảng Xương (ranh giới là sông Ghép), phía Tây giáp huyện Như Thanh, Nông Cống (ranh giới là sông Thị Long), phía Nam giáp huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An), phía Đông là biển

Ở vào vị trí cực Nam của tỉnh Thanh Hóa, có rừng, có biển Từ trong hoàn cảnh tự nhiên ấy, để tồn tại và phát triển, nhân dân Tĩnh Gia với truyền thống lao động cần cù, sáng tạo, giàu lòng yêu nước thương nòi đã hun đúc nên những giá trị truyền thống cao quý Cũng như bao miền quê khác của quê hương Thanh Hóa, trải qua hàng nghìn năm lịch sử, vùng Tĩnh Gia đã hình thành tương đối ổn định và trở thành một trong những điểm tụ cư quan trọng của người Việt cổ ở cực Nam Thanh Hóa

Tĩnh Gia có tiềm năng về kinh tế Với vị trí địa lý thuận lợi, tài nguyên biển của Tĩnh Gia phong phú và đa dạng Có khu kinh tế tổng hợp Nghi Sơn một trong những trọng điểm kinh tế của tỉnh với thế mạnh là: dân số của khu kinh tế Nghi Sơn là 80.590 người, trong đó dân số trong độ tuổi lao động khoảng 43.598 người (chiếm 54,1% dân số khu vực) Đặc điểm lực lượng lao động tại đây phần lớn là lao động trẻ, có trình độ văn hóa được phổ cập giáo dục tốt nghiệp Trung học cơ sở và Trung học phổ thông, có khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật và đào tạo thành lao động có tay nghề cao

Trang 22

Tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội của huyện rất lớn Trong những năm qua cùng với sự lãnh đạo của Đảng bộ, Uỷ ban nhân dân huyện cùng với

sự đoàn kết của toàn thể nhân dân trong huyện Tĩnh Gia đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong phát triển kinh tế và các hoạt động văn hoá, xã hội; chính trị, an ninh được giữ vững Tĩnh Gia đang phấn đấu trở thành một huyện "trọng điểm về kinh tế của tỉnh"

Xã Xuân Lâm nằm ở phía nam trung tâm huyện Tĩnh Gia, cách trung tâm huyện Tĩnh Gia 3,5 km Ranh giới xã Xuân Lâm: phía đông giáp xã Hải Bình và Bình Minh, phía tây và bắc giáp xã Nguyên Bình, phía nam giáp xã Trúc Lâm Khoảng cách từ đường quốc lộ đến trung tâm xã là 0,2 km Khoảng cách từ thị tứ gần nhất đến trung tâm xã là 1 km Diện tích tự nhiên là 985,79 ha Chiều dài nhất là 3,3 km, chiều rộng nhất là 3 km

Về thổ nhưỡng, đất đai thuộc loại đất thịt nhẹ và đất cát pha, phù hợp cho cây lúa và rau màu phát triển Về tài nguyên có mỏ cát trắng ở thôn 4, thuộc khu vực Sa Thôn

Về tài nguyên nước, xã Xuân Lâm có nhiều sông suối, hồ đập Sông Đôn Xóc là con sông chính chảy qua địa phận các xã Nguyên Bình, Xuân Lâm đổ ra sông Bạng Sông có hai nhánh, nhánh một chảy từ xã Nguyên Bình theo hướng tây bắc - đông nam và đổ vào sông Bạng (từ cầu Hung, xã Nguyên Bình về cầu Đồi Ngoài), nhánh hai cũng bắt nguồn từ Nguyên Bình (từ cầu suối Se Thôn đi qua cầu Đại Thuỷ (tức cầu Đồi Trong) đổ về sông Bạng, tạo thành ba khu vực theo thế chân kiềng của ba làng Dự Quần (còn gọi làng Dừa), Sa thôn (còn gọi làng Se) và làng Vạn Xuân (còn gọi làng Vanh) Sông Bạng là đường ranh giới giữa hai xã Hải Bình và Xuân Lâm Trên địa phận làng Se có con suối Se Có hai hồ tự nhiên là hồ Mã Trai thuộc Sa thôn 4

và hồ cầu Bến thuộc thôn Dự Quần I

Phía tây xã, nơi giáp ranh ba xã Xuân Lâm, Nguyên Bình, Trúc Lâm, núi Lâm Động kết thúc tại đây với đỉnh cao 183 m, đồi Thông thuộc thôn Sa

Trang 23

thôn 4 Với địa hình như trên thì Tĩnh Gia là huyện có tiềm năng phát triển nghề nuôi tôm

3.2 Kết quả phân tích một số chỉ tiêu thủy lý – thủy hóa của đầm tôm

Sau 2 đợt thu mẫu và phân tích các chỉ tiêu thủy lý, thủy hóa của 3 đầm tôm ở xã Xuân Lâm – Tĩnh Gia, chúng tôi thu được kết quả như sau:

3.2.1 Một số chỉ tiêu thủy lý

3.2.1.1 Nhiệt độ

Trong các thủy vực, nhiệt độ nước phụ thuộc vào nhiệt độ không khí Thông thường nhiệt độ nước (nhất là tầng nước mặt) có trị số gần với nhiệt độ không khí Nhiệt độ nước là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của thực vật nổi Ở trong khoảng nhiệt độ cực thuận thì chúng sinh trưởng và phát triển tốt nhất

Bảng 3.1: Nhiệt độ môi trường ở các địa điểm nghiên cứu

qua 2 đợt thu mẫu

Chỉ

tiêu

Đầm 1 Đầm 2 Đầm 3 Đợt I Đợt II Đợt I Đợt II Đợt I Đợt II Giữa

đầm

Gần

bờ

Giữa đầm

Gần

bờ

Giữa đầm

Gần

bờ

Giữa đầm

Gần

bờ

Giữa đầm

Gần

bờ

Giữa đầm

Gần

bờ Nhiệt

từ 22,5o

C – 24oC, còn nhiệt độ nước giao động từ 22o

C – 22,5oC

Trang 24

Đến đợt 2, nhiệt độ không khí và nhiệt độ nước tăng lên nhiều so với đợt 1 (do thời điểm này bước sang đầu mùa hè), nhiệt độ không khí tại các đầm giao động từ 32,5o

C – 34oC, còn nhiệt độ nước dao động từ 32o

C – 32,5oC (Bảng 3.1)

Giữa các đầm tôm trong 2 đợt thu mẫu có sự chệnh lệch về nhiệt độ là

do tại thời điểm thu mẫu có sự sai khác về thời gian trong ngày và thời tiết giữa 2 đợt thu mẫu đối nghịch nhau Nhìn vào bảng 1 ta thấy, trung bình nhiệt

độ của nước và không khí đợt 1 là thấp hơn nhiều so với đợt 2 vì thời gian này là giai đoạn chuyển từ mùa đông sang mùa xuân nên nhiệt độ là thấp Ở đợt thu mẫu lần 2, lúc này thời tiết đã vào mùa nắng nóng nên thời gian chiếu sáng trong ngày dài, khả năng hấp thu nhiệt của nước cũng cao làm cho nhiệt

độ nước và không khí tăng

3.2.1.2.Độ trong

Độ trong thể hiện khả năng xâm thực của ánh sáng trong nước và chịu ảnh hưởng của các chất cặn lơ lửng trong nước, thủy sinh vật…Do đó, độ trong là một yếu tố rất quan trọng đối với sự phân bố theo chiều thẳng đứng

và biến đổi theo mùa của các thực vật nổi

Nước là môi trường truyền ánh sáng, nó liên quan tới quá trình quang hợp của tảo Nước càng trong, ánh sáng truyền xuống càng sâu tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình quang hợp của thủy sinh vật nói chung, vi tảo nói riêng và ngược lại

Bảng 3.2: Độ trong trung bình ở các địa điểm nghiên cứu

qua 2 đợt thu mẫu

Chỉ

tiêu

Đầm 1 Đầm 2 Đầm 3 Đợt I Đợt II Đợt I Đợt II Đợt I Đợt II Giữa

đầm

Gần

bờ

Giữa đầm

Gần

bờ

Giữa đầm

Gần

bờ

Giữa đầm

Gần

bờ

Giữa đầm

Gần

bờ

Giữa đầm

Trang 25

Qua 2 đợt thu mẫu chúng tôi thấy rằng:

Hầu hết tại các điểm nghiên cứu có độ trong là cao do mực nước trong các đầm tôm nằm trong khoảng 1 – 1,5 m Ở đợt 1 có độ trong cao hơn so với đợt 2 là do lúc này người nuôi chưa thả tôm, bón phân nên lượng chất hữu cơ cũng như các chất lơ lửng thấp còn đợt 2 người nuôi đã thả tôm và bón phân

Độ trong ở giữa đầm cũng cao hơn hẳn so với gần bờ là do nước sâu hơn và lặng hơn

đầm

Gần

bờ

Giữa đầm

Gần

bờ

Giữa đầm

Gần

bờ

Giữa đầm

Gần

bờ

Giữa đầm

Gần

bờ

Giữa đầm

Qua các đợt thu mẫu ta thấy, độ mặn ở đợt 1 dao động từ 3,7 – 4,3 ‰,

ở đợt 2 dao động từ 4,7 – 5,3 ‰ Độ mặn trung bình toàn đợt 1 là 3,98 ‰ và đợt 2 là 5 ‰ Như vậy độ mặn đợt 2 là cao hơn so với đợt 1 là do lúc này là đầu hè nên rất ít mưa và tôm đã được thả còn đợt 1 do thời tiết cuối xuân nên lượng mưa đầm tôm nhận được là nhiều hơn nên chúng bị ngọt hóa đi, do vậy

mà độ mặn đợt 1 thấp hơn đợt 2

Trang 26

3.2.2 Một số chỉ tiêu thủy hóa

3.2.2.1 pH

Độ pH là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng nước về mặt hóa học Nó rất có ý nghĩa đối với đời sống thủy sinh vật, đặc biệt là ảnh hưởng đến khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng của chúng Độ pH quá cao hay quá thấp đều ảnh hưởng xấu đến độ thẩm thấu của màng tế bào, làm rối loạn quá trình trao đổi nước, muối khoáng của thủy sinh vật

Bảng 3.4: pH trung bình ở các địa điểm nghiên cứu qua 2 đợt thu mẫu

Chỉ

tiêu

Đầm 1 Đầm 2 Đầm 3 Đợt I Đợt II Đợt I Đợt II Đợt I Đợt II Giữa

đầm

Gần

bờ

Giữa đầm

Gần

bờ

Giữa đầm

Gần

bờ

Giữa đầm

Gần

bờ

Giữa đầm

Gần

bờ

Giữa đầm

Qua 2 đợt thu mẫu cho thấy môi trường nước ở các đầm tôm tương đối

ổn định, trị số pH dao động từ 6,5 – 6,9 tức ở khoảng trung bình Sự chênh lệch giữa 2 đợt thu mẫu hầu như không đáng kể

3.2.2.2 Ôxy hòa tan (Dissolved Oxygen - DO)

Hàm lượng oxi hòa tan trong nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: áp suất bề mặt nước, nhiệt độ, độ chiếu sáng, hàm lượng các chất hòa tan, gió, mặt thoáng và các thủy sinh vật sống trong đó Do vậy, DO là điều kiện đầu tiên đảm bảo sự tồn tại, phát triển của sinh vật và đây cũng là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng nguồn nước nếu nước bị nhiễm bẩn thì thông số của giá trị này thấp, vì trong quá trình oxi hóa các chất, nhất là các sản phẩm hữu cơ đã làm cạn kiệt hàm lượng oxi trong nước hàm lượng DO thay đổi theo hoạt động của thủy sinh vật trong những thời điểm khác nhau trong ngày

do quá trình quang hợp và hô hấp

Trang 27

Bảng 3.5: Hàm lượng Oxy hòa tan trung bình tại các điểm nghiên cứu

qua các đợt thu mẫu (đơn vị mgO 2 /l)

Chỉ tiêu

Đầm 1 Đầm 2 Đầm 3 Đợt I Đợt II Đợt I Đợt II Đợt I Đợt II Giữa

đầm

Gần

bờ

Giữa đầm

Gần

bờ

Giữa đầm

Gần

bờ

Giữa đầm

Gần

bờ

Giữa đầm

Gần

bờ

Giữa đầm

Gần

bờ Oxy hòa

3.2.2.3 Nhu cầu oxy hóa học (COD - Chemical Oxygen Demand)

COD cũng là một thông số đánh giá mức độ ô nhiễm hữu cơ của nguồn nước Do tổng lượng các chất hữu cơ có trong nước khó xác định nên người ta phải sử dụng gián tiếp một chất oxi hóa mạnh ( K2Cr2O7 hoặc KMnO4) để oxi hóa chúng COD có giá trị càng cao thì mức độ nhiễm bẩn hữu cơ của nguồn nước càng nhiều

Trang 28

Bảng 3.6: Hàm lượng COD trung bình qua các đợt nghiên cứu

Chỉ tiêu

Đầm 1 Đầm 2 Đầm 3 Đợt I Đợt II Đợt I Đợt II Đợt I Đợt II Giữa

đầm

Gần

bờ

Giữa đầm

Gần

bờ

Giữa đầm

Gần

bờ

Giữa đầm

Gần

bờ

Giữa đầm

Gần

bờ

Giữa đầm

Gần

bờ Nhu cầu

Nhận xét chung:

Qua 2 đợt phân tích về các chỉ tiêu thủy lý thủy hóa ở một số đầm, ta thấy hầu hết các chỉ tiêu đều phù hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của tảo Silic, sự biến động của các chỉ tiêu độ mặn, độ pH, DO, COD phản ánh tính chất thời vụ của thủy vực

Do ở đợt 2 đã thả tôm nên các chỉ số tương đối cao hơn đợt, chất lượng nước chịu ảnh hưởng nhẹ của các sản phẩm thải của tôm nuôi và thức ăn thừa

Mặt khác, sự thay đổi của các yếu tố môi trường, sự giao hòa, pha trộn các chế độ nước ngọt và nước mặn ở trong đầm đã ảnh hưởng không nhỏ tới thành phần loài tảo Silic cũng như sự phân bố của chúng trong đầm

Ngày đăng: 16/09/2021, 17:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Tôn Thất Pháp, Lương Quang Đốc, Đường Văn Hiếu (2000), Nghiên cứu tảo silic phù du ở đầm phá Thừa Thiên Huế, Tạp chí Sinh học, Tập 22, số 3b, tr. 13-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tảo silic phù du ở đầm phá Thừa Thiên Huế
Tác giả: Tôn Thất Pháp, Lương Quang Đốc, Đường Văn Hiếu
Năm: 2000
13. Nguyễn Đình San, (1996): Một số phương pháp phân tích thủy hóa, ĐHSP Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số phương pháp phân tích thủy hóa
Tác giả: Nguyễn Đình San
Năm: 1996
14. Nguyễn Đình San (2001), Vi tảo trong một số thủy vực bị ô nhiễm ở các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và vai trò của chúng trong quá trình làm sạch nước thải, Luận án tiến sĩ Sinh học, Đại học Vinh, 113 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi tảo trong một số thủy vực bị ô nhiễm ở các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và vai trò của chúng trong quá trình làm sạch nước thải
Tác giả: Nguyễn Đình San
Năm: 2001
15. Vũ Trung Tạng, (1994): Các hệ sinh thái cửa sông Việt Nam. Nxb. Khoa học kỹ thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hệ sinh thái cửa sông Việt Nam
Tác giả: Vũ Trung Tạng
Nhà XB: Nxb. Khoa học kỹ thuật Hà Nội
Năm: 1994
16. Vũ Trung Tạng, (1997): Sinh thái học các thủy vực. Trường Đại hoc khoa học tự nhiên Hà Nội, 370 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh thái học các thủy vực
Tác giả: Vũ Trung Tạng
Năm: 1997
17. Dương Hữu Thời, (1998): Cơ sở sinh thái học,Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, 348 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh thái học
Tác giả: Dương Hữu Thời
Nhà XB: Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1998
18. Dương Đức Tiến, (1988): Đời sống các loài tảo, Nxb. Khoa học kỹ thuật Hà Nội, 89 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống các loài tảo
Tác giả: Dương Đức Tiến
Nhà XB: Nxb. Khoa học kỹ thuật Hà Nội
Năm: 1988
19. Hoàng Quốc Trương (1962), Phiêu sinh vật trong vịnh Nha Trang, tập 1: Khuê tảo - Bacillariales, [Hải Học Viện Nha Trang], Sài Gòn, tr. 121-124 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phiêu sinh vật trong vịnh Nha Trang, tập 1: "Khuê tảo - Bacillariales
Tác giả: Hoàng Quốc Trương
Năm: 1962
20. Nguyễn Văn Tuyên (1979), Dẫn liệu về khu hệ tảo nước ngọt miền Bắc Việt Nam, Tóm tắt Luận án PTS khoa học Sinh học, ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn liệu về khu hệ tảo nước ngọt miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Tuyên
Năm: 1979
21. Nguyễn Văn Tuyên, (1998): Sinh thái và môi trường, Nxb. Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh thái và môi trường
Tác giả: Nguyễn Văn Tuyên
Nhà XB: Nxb. Giáo dục Hà Nội
Năm: 1998
22. Nguyễn Văn Tuyên, (2003): Đa dạng sinh học tảo trong thủy vực nội địa Việt Nam, Nxb. Nông nghiệp, Thành phố Hồ Chí Minh, tr 107 – 138.Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng sinh học tảo trong thủy vực nội địa Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Tuyên
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 2003
23. Carmelo R. Tomas et al., (1995): Identifyling Marine Diatoms and Dinoflagellates, Academic Press, Inc., 598 p Sách, tạp chí
Tiêu đề: et al.," (1995): "Identifyling Marine Diatoms and Dinoflagellates
Tác giả: Carmelo R. Tomas et al
Năm: 1995
24. Hasler G. R., (1965): Nitzschia and Fragilariopsis species studied in the light and electronmicroscopes, part II: The group pseudonitzschia, Oslo Universitest folaget, 45p Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nitzschia and Fragilariopsis species studied in the light and electronmicroscopes
Tác giả: Hasler G. R
Năm: 1965
25. Linda E. Graham and Lee W. Wilcox, (2000): The Algae, Prentice Hall Upper Saddle River, NJ 07458, United State America; Chaper 12, part II:Diatoms, p: 232 – 268 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Algae, "Prentice Hall Upper Saddle River, NJ 07458, United State America; Chaper 12, part II: "Diatoms
Tác giả: Linda E. Graham and Lee W. Wilcox
Năm: 2000
26. Reimer Simonsen, (1974): The Diatoms of the India Ocean Expedition, Biologie Reihe No 19, Berlin, 66p Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Diatoms of the India Ocean Expedition
Tác giả: Reimer Simonsen
Năm: 1974
27. Shirota A. (1966). The plankton of South Viet Nam. Fresh water and Marine plankton. Overseas Technical Cooperation Agency, Japan, 462p.Tài liệu tiếng Nga Sách, tạp chí
Tiêu đề: The plankton of South Viet Nam. Fresh water and Marine plankton
Tác giả: Shirota A
Năm: 1966
28. Zabelina M. M. và cs., (1951): Tảo Silic. Phân loại tảo nước ngọt, USSR. Nxb. Khoa học Xô Viết – Matxcơva ( tiếng Nga), 617 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tảo Silic. Phân loại tảo nước ngọt
Tác giả: Zabelina M. M. và cs
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xô Viết – Matxcơva ( tiếng Nga)
Năm: 1951

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

thôn 4. Với địa hình như trên thì Tĩnh Gia là huyện có tiềm năng phát triển nghề nuôi tôm - Điều tra thành phần tảo silic trong một số đầm nuôi tôm ở xã xuân lâm   tĩnh gia   thanh hóa
th ôn 4. Với địa hình như trên thì Tĩnh Gia là huyện có tiềm năng phát triển nghề nuôi tôm (Trang 23)
Bảng 3.2: Độ trong trung bìn hở các địa điểm nghiên cứu  qua 2 đợt thu mẫu  - Điều tra thành phần tảo silic trong một số đầm nuôi tôm ở xã xuân lâm   tĩnh gia   thanh hóa
Bảng 3.2 Độ trong trung bìn hở các địa điểm nghiên cứu qua 2 đợt thu mẫu (Trang 24)
Bảng 3.3: Độ mặn trung bìn hở các địa điểm nghiên cứu qua 2 đợt thu mẫu  - Điều tra thành phần tảo silic trong một số đầm nuôi tôm ở xã xuân lâm   tĩnh gia   thanh hóa
Bảng 3.3 Độ mặn trung bìn hở các địa điểm nghiên cứu qua 2 đợt thu mẫu (Trang 25)
Bảng 3.5: Hàm lượng Oxy hòa tan trung bình tại các điểm nghiên cứu qua các đợt thu mẫu (đơn vị mgO 2/l)  - Điều tra thành phần tảo silic trong một số đầm nuôi tôm ở xã xuân lâm   tĩnh gia   thanh hóa
Bảng 3.5 Hàm lượng Oxy hòa tan trung bình tại các điểm nghiên cứu qua các đợt thu mẫu (đơn vị mgO 2/l) (Trang 27)
Bảng 3.6: Hàm lượng COD trung bình qua các đợt nghiên cứu - Điều tra thành phần tảo silic trong một số đầm nuôi tôm ở xã xuân lâm   tĩnh gia   thanh hóa
Bảng 3.6 Hàm lượng COD trung bình qua các đợt nghiên cứu (Trang 28)
Qua bảng 3.6 ta thấy rằng: - Điều tra thành phần tảo silic trong một số đầm nuôi tôm ở xã xuân lâm   tĩnh gia   thanh hóa
ua bảng 3.6 ta thấy rằng: (Trang 28)
Bảng 3.7: Bảng phân bố thành phần loài/dưới loài tảo Silic ở một số đầm tôm tại xã Xuân Lâm – Tĩnh Gia – Thanh Hóa  - Điều tra thành phần tảo silic trong một số đầm nuôi tôm ở xã xuân lâm   tĩnh gia   thanh hóa
Bảng 3.7 Bảng phân bố thành phần loài/dưới loài tảo Silic ở một số đầm tôm tại xã Xuân Lâm – Tĩnh Gia – Thanh Hóa (Trang 29)
Bảng 3.8: Sự phân bố các taxon tảo Silic trong các đầm nghiên cứu - Điều tra thành phần tảo silic trong một số đầm nuôi tôm ở xã xuân lâm   tĩnh gia   thanh hóa
Bảng 3.8 Sự phân bố các taxon tảo Silic trong các đầm nghiên cứu (Trang 34)
Từ kết quả bảng 9 cho thấy, số lượng loài trong đợt 1 gặp nhiều hơn so với đợt 2, vì khi tiến hành thu mẫu đợt 1 thời tiết mát mẻ, se lạnh và có mưa  nên tạo điều kiện cho tảo Silic phát triển, còn khi tiến hành thu mẫu đợt 2 thì  thời tiết rất nắng nóng  - Điều tra thành phần tảo silic trong một số đầm nuôi tôm ở xã xuân lâm   tĩnh gia   thanh hóa
k ết quả bảng 9 cho thấy, số lượng loài trong đợt 1 gặp nhiều hơn so với đợt 2, vì khi tiến hành thu mẫu đợt 1 thời tiết mát mẻ, se lạnh và có mưa nên tạo điều kiện cho tảo Silic phát triển, còn khi tiến hành thu mẫu đợt 2 thì thời tiết rất nắng nóng (Trang 36)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w