Như ta đã biết nhảy cao là một môn thể thao có tác dụng nâng cao năng lực hoạt động nội tạng, phát triển các tố chất sức bật, sức nhanh, sự khéo léo...Không chỉ vậy nhảy cao kiểu nằm ngh
Trang 1Lùa chän mét sè bµi tËp bæ trî nh»m n©ng cao
thµnh tÝch nh¶y cao kiÓu n»m nghiªng cho häc sinh nam
líp 10A3 tr-êng THPT lª hång phong
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Ngµnh: s- ph¹m gi¸o dôc thÓ chÊt
Gi¸o viªn h-íng dÉn: NguyÔn Quèc §¶ng
Sinh viªn thùc hiÖn : Ph¹m ThÞ Vinh
M· sè sinh viªn : 0859032192
Líp : 49A - ThÓ dôc
NghÖ An – 2012
Trang 2Để hoàn thành đề tài này trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới thầy: Nguyễn Quốc Đảng, người đã trực tiếp giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện khóa luận này
Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa giáo dục thể chất trường Đại Học Vinh, các thầy cô giáo, các em học sinh trường THPT Lê Hồng Phong, cùng bạn bè đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp cuối khóa này Với tư cách là một sinh viên nên còn hạn chế về kinh nghiệm nghiên cứu Mặt khác do thời gian nghiên cứu chưa dài nên sẽ không tránh khỏi những thiếu xót Vì vậy tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy
cô, bạn bè, đồng nghiệp đẻ tôi có kinh nghiệm hơn trong các đề tài nghiên cứu sau này
Vinh, tháng 5 năm 2012
Tác Giả
Phạm Thị Vinh
Trang 3CNH - HĐH : Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục thể chất 3
1.2 Đặc điểm tâm lý, sinh lý lứa tuổi học sinh trung học phổ thông 4
1.2.1.Đặc điểm tâm lý 4
1.2.2.Đặc điểm sinh lý 5
1.3 Cơ sở lựa chọn một số bài tập bổ trợ nhằm nâng cao thành tích nhảy cao kiểu nằm nghiêng cho học sinh nam lớp 10 trường THPT Lê Hồng Phong 6
1.3.1 Cơ sở sinh lý của tố chất sức mạnh 6
1.3.2 Cơ sở sinh lý của tố chất sức nhanh 7
1.3.3 Cơ sở sinh lý của tố chất sức bền 8
CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 10
2.1 Phương pháp nghiên cứu 10
2.1.1 Phương pháp đọc và phân tích tài liệu 10
2.1.2 Phương pháp quan sát sư phạm 10
2.1.3 Phương pháp điều tra, phỏng vấn 10
2.1.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 10
2.1.5 Phương pháp toán học thống kê 11
2.2 Tổ chức nghiên cứu 12
2.2.1 Thời gian nghiên cứu 12
2.2.2 Đối tượng nghiên cứu 12
2.2.3 Địa điểm nghiên cứu 13
2.2.4.Thiết kế nghiên cứu 13
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 14
Trang 5Lê Hồng Phong 14
3.1.1 Thực trạng giáo dục thể chất ở trường THPT Lê Hồng Phong 14
3.1.2 Tìm hiểu thực trạng việc sử dụng bài tập bổ trợ chuyên môn trong giảng dạy kỹ thuật nhảy cao kiểu nằm nghiêng ở trường THPT 16
3.1.3 Đặc điểm môn nhảy cao và thực trạng giảng dạy kỹ thuật nhảy cao nằm nghiêng tại trường THPT Lê Hồng Phong 17
3.2 Giải quyết mục tiêu 2: Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả bài tập trong môn học nhảy cao nằm nghiêng cho nam học sinh lớp 10A3 Trường THPT Lê Hồng Phong 18
3.2.1 Nghiên cứu lựa chọn một số bài tập nhằm nâng cao thành tích môn nhảy cao nằm nghiêng cho nam học sinh lớp 10A3 trường THPT Lê Hồng Phong 18
3.2.2 Kiểm tra thành tích trước thực nghiệm 27
3.2.3 Kiểm tra thành tích sau thực nghiệm 35
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 41
1 Kết luận 41
2 Kiến nghị 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
Trang 6phỏng vấn n = 10) 20 Bảng 3.2 Kết quả phỏng vấn hệ thống bài tập bổ trợ kỹ thuật (số người phỏng vấn n = 30) 23 Bảng 3.3 Kết quả phỏng vấn hệ thống bài tập phát triển thể lực (số người phỏng vấn n = 30) 25 Bảng 3.4 Kết quả phỏng vấn lựa chon các test kiểm tra (số người phỏng vấn
n = 15) 27 Bảng 3.5 Bảng kiểm tra thành tích bật cao tại chỗ (trước thực nghiệm) 28 Bảng 3.6 Bảng kiểm tra thành tích chạy tăng tốc độ 30m xuất phát cao (trước thực nghiệm) 29 Bảng 3.7 Bảng kiểm tra thành tích nhảy cao theo kiểu bất kỳ của hai nhóm (trước thực nghiệm) 30 Bảng 3.8 Kết quả phỏng vấn về thứ tự sử dụng các bài tập và lượng vận động đối với hệ thống bài tập bổ trợ kỹ thuật (số người phỏng vấn n = 30) 31 Bảng 3.9 Kết quả phỏng vấn về thứ tự sử dụng các bài tập và lượng vận động đối với
hệ thống bài tập phát triển thể lực (số người phỏng vấn n = 30) 33 Bảng 3.10 Kế hoạch tập luyện đối với hệ thống bài tập bổ trợ kỹ thuật 34 Bảng 3.11 Kế hoạch tập luyện đối với hệ thống bài tập phát triển thể lực 35 Bảng 3.12 Bảng kiểm tra thành tích bật cao tại chỗ (sau thực nghiệm) 36 Bảng 3.13 Bảng kiểm tra thành tích chạy 30m xuất phát cao (sau thực nghiệm) 37 Bảng 3.14 Thành tích nhảy cao nằm nghiêng (sau thực nghiệm) 39
Trang 7Biểu đồ 3.1 Thành tích bật cao tại chỗ của 2 nhóm trước và sau TN 37 Biểu đồ 3.2 Thành tích chạy 30m xuất phát cao của 2 nhóm trước và sau thực nghiệm 38 Biểu đồ 3.3: Thành tích nhảy cao nằm nghiêng của 2 nhóm trước và sau thực nghiệm 40
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Thể dục thể thao (TDTT) là một hoạt động không thể thiếu trong đời sống xã hội, ngoài việc nâng cao sức khỏe cho mọi người nó còn là một hoạt động vui chơi giải trí, phương tiện giao tiếp về văn hóa nghệ thuật, có tác dụng giúp con người phát triển cả về "đức - trí - thể - mĩ" và lao động góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần Ngoài ra TDTT còn là phương tiện giao lưu văn hóa giữa các dân tộc, các quốc gia nhằm thắt chặt tình hữu nghị trên thế giới
Trong những năm gần đây phong trào tập luyện TDTT phát triển mạnh
mẽ ở các cơ quan, doanh nghiệp đặc biệt là trong các trường học Cùng với
sự phát triển của xã hội các hình thức tập luyện TDTT cũng đa dạng, phong phú về các môn như: bóng đá, bóng chuyền, cầu lông, điền kinh
Trong cuộc sống hiện nay, vị trí công tác TDTT trong nhà trường càng được xác định theo đúng tầm quan trọng của nó Thông qua giáo dục trong bộ môn thể dục, bồi dưỡng cho học sinh những đức tính dũng cảm, giúp học sinh biết được kĩ năng cơ bản để tập luyện giữ gìn sức khỏe, nâng cao thể lực, góp phần rèn luyện nếp sống lành mạnh, tác phong nhanh nhẹn, kỉ luật, thói quen tự giác tập luyện thể dục thể thao, giữ gìn vệ sinh Có sự tăng tiến về thể lực, thi đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể và thể hiện khả năng của bản thân về thể dục thể thao, biết vận dụng những điều đã học vào nếp sinh hoạt ở trong và ngoài nhà trường, góp phần chuẩn bị cho thế hệ trẻ có nếp sống, tác phong công nghiệp Trong giáo dục thể chất, điền kinh là nội dung cơ bản, là nền tảng để phát triển các tố chất thể lực
cơ sở cho các môn thể thao khác Điền kinh bao gồm nhiều môn thi đấu, trong
đó môn nhảy cao nói chung và nhảy cao kiểu nằm nghiêng nói riêng là môn thi đấu và tập luyện phổ biến rộng rãi trong các trường phổ thông, các hội khỏe từ trung ương đến địa phương Tuy nhiên, thành tích nhảy cao kiểu nằm
Trang 9nghiêng của học sinh, sinh viên so với khu vực và thế giới còn khá khiêm tốn Bởi vậy mà việc giảng dạy môn nhảy cao kiểu nằm nghiêng ngày càng được chú trọng song vẫn còn gặp nhiều khó khăn
Như ta đã biết nhảy cao là một môn thể thao có tác dụng nâng cao năng lực hoạt động nội tạng, phát triển các tố chất sức bật, sức nhanh, sự khéo léo Không chỉ vậy nhảy cao kiểu nằm nghiêng còn có tác dụng rèn luyện tinh thần dũng cảm và ý chí vượt qua mọi khó khăn, phục vụ tốt yêu cầu của đời sống hàng ngày trong lao động và học tập
Xuất phát từ thực tế nêu trên vấn đề đặt ra là phải lựa chọn ra những bài tập bổ trợ phù hợp với điều kiện thực tế nhằm nâng cao thành tích môn nhảy cao nằm nghiêng trong chương trình giảng dạy ở các trường phổ thông Xuất
phát từ mục đích nêu trên tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài: " Lựa chọn một số
bài tập bổ trợ nhằm nâng cao thành tích nhảy cao kiểu nằm nghiêng cho học sinh nam lớp 10 A 3 trường THPT Lê Hồng Phong"
Mục tiêu nghiên cứu
Để giải quyết mục đích nghiên cứu của đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là:
Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng sử dụng bài tập bổ trợ trong chương trình
giảng dạy kỹ thuật nhảy cao kiểu nằm nghiêng ở trường THPT Lê Hồng Phong
Mục tiêu 2: Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả bài tập bổ trợ trong
môn nhảy cao kiểu nằm nghiêng cho học sinh nam lớp 10 A 3 trường THPT Lê Hồng Phong
Trang 10CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục thể chất
Trong những năm gần đây phong trào tập luyện thể dục thể thao phát triển mạnh mẽ Đặc biệt là thế hệ trẻ học sinh - sinh viên Là một nước xã hội chủ nghĩa đang chuyển mình toàn diện về mọi mặt để phù hợp, thích ứng với
xu thế phát triển của nhân loại Vì vậy, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến
sự phát triển thể chất cho mọi người, đặc biệt là học sinh - sinh viên Các
Nghị quyết của Đảng và Nhà nước luôn đánh giá “Công tác giáo dục thể chất
cho thế hệ trẻ là một mặt quan trọng không thể thiếu được trong giáo dục và đào tạo”
Ngày nay, với quan điểm giáo dục toàn diện về “Đức, trí, thể, mỹ”
trong đó giáo dục thể chất là một bộ phận hữu cơ, là yêu cầu tất yếu, là nội dung quan trọng của quá trình giáo dục thế hệ trẻ, bởi xét về góc độ nào đó thì giáo dục thể chất là một quá trình sư phạm nhằm tăng cường bảo vệ sức khoẻ cho mọi người Đặc biệt là học sinh THPT, những chủ nhân tương lai của đất nước Với chiến lược phát triển con người toàn diện thì việc tập luyện thể dục thể thao chiếm vị trí quan trọng ở mỗi cấp học
Theo chỉ thị 36/CT - TW ngày 24/3/1994 của Ban Bí thư TW Đảng cộng sản Việt Nam đã xác định mục tiêu cơ bản, lâu dài của công tác thể dục thể thao là hình thành nền thể dục thể thao phát triển và tiến bộ, góp phần nâng cao sức khoẻ, thể lực đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của nhân dân
và phấn đấu đạt được vị trí xứng đáng trong các hoạt động thể thao quốc tế, trước hết là khu vực Đông Nam Á
Đối với bộ môn điền kinh, trong các cuộc thi đấu thể thao đây là một trong những môn thế mạnh của nước ta trên các đấu trường quốc tế, ở mỗi nội dung chúng ta đều có những VĐV đạt nhiều huân huy chương như: VĐV Thu
Trang 11Lan đạt HCV môn nhảy xa tại sea game 21, VĐV Trương Thanh Hằng đạt huy chương vàng chạy 1500m nữ tại Sea game 24 Và ở môn nhảy cao chúng
ta cũng tự hào khi VĐV Bùi Thị Nhung đạt HCV nhảy cao giải Điền kinh ngôi sao Châu Á, diễn ra tại Bhopal Ấn Độ năm 2009 Để có được kết quả rèn luyện giáo dục thể chất toàn dân, toàn diện phụ thuộc vào sự cố gắng, nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân đặc biệt là những nhà khoa học, những người
hoạt động trong công tác thể dục thể thao
1.2 Đặc điểm tâm lý, sinh lý lứa tuổi học sinh trung học phổ thông
1.2.1.Đặc điểm tâm lý
Lứa tuổi THPT việc hứng thú học tập của các em mang tính chất rộng rãi và xâu sắc hơn lứa tuổi thiếu niên Ở lứa tuổi này tri giác thể hiện tương đối chính xacstrong các hoạt động TDTT Cảm giác vận động cho phép kiểm tra tính chất vận động, hình dáng, biên độ, phương hướng, trương lực cơ tức
là kiểm tra được sự vận động của cơ thể mình Sự tri giác về vận động thông qua cảm giác cơ bắp sẽ tạo cho các em khả năng tiếp thu nhanh chóng kỹ thuật của bài tập thể thao
Hoạt động học tập ở lứa tuổi này khác nhiều so với lứa tuổi thiếu niên, thái độ học tập của các em với môn học trở nên có lựa chọn hơn Ở các em đã hình thành hứng thú học tập gắn liền với nghề nghiệp, các em đã xác định cho mình hứng thú ổn định với môn học nào đó, hứng thú này liên quan đến việc lựa chọn nghề nghiệp nhất đính sau này
Ở thanh niên mới lớn, tính định hướng được phát triển mạnh mẽ ở tất
cả các quá trình nhận thức, quan sát trở nên có mục đích, có hệ thống và hoàn thiện hơn Ghi nhớ chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ, đồng thời ghi nhớ logic trừu tượng ngày một có ý nghĩa rõ rệt Các em có khả năng
tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc đáo, sáng tạo, tư duy của các
em chặt chẽ hơn, có căn cứ và nhất quán hơn
Trang 12Sự phát triển có ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển tâm
lý của lứa tuổi thanh niên, quá trình này rất phong phú và phức tạp
Tuổi thanh niên là tuổi quyết định hình thành thế giới quan Hệ thống quan điểm về khoa học, tự nhiên về các nguyên tắc ứng xử Đời sống tình cảm của thanh niên rất phong phú và mới mẻ, đặc điểm đó thể hiện rất roxtrong tình bạn của các em Vì đay là lứa tuổi mà các hình thức đối xử có lựa chọn đối với mọi người trở nên xâu sắc hơn
Nói chung đặc điểm diễn biến tâm lý ở lứa tuổi thanh niên còn rất phức tạp, bởi đây là giai đoạn chuyển giao từ trẻ em sang người lớn Tất cả các quá trình, đặc điểm về nhân cách đang dần trưởng thành Sự nông nổi bồng bột trong tình cảm, sai lầm nhận xét, đánh giá thế giơi quan có thể chịu ảnh hưởng của nhiều mặt ở lứa tuổi thiếu niên
Giáo dục ở lứa tuổi này cần phải khéo léo, giúp đỡ thanh niên để họ hình thành nhân cách
1.2.2.Đặc điểm sinh lý
Tuổi thanh niên là thời kỳ đạt được sự trưởng thành về thể lực nhưng
sự phát triển về cơ thể còn kém so với sự phát triển của cơ thể người lớn Tuổi thanh niên bắt đầu thời kỳ phát triển tương đối êm ả về mặt sinh lý
Nhịp độ tăng trưởng về chiều cao và trọng lượng cơ thể đã chậm lại Sự phát triển của hệ thần kinh có những thay đổi quan trọng do cấu trúc bên trong của võ não phức tạp và các chức năng của võ não đang phát triển Cấu trúc của tế bào bán cầu đại não có những đặc điểm như trong cấu trúc tế bào não của người lớn Số lượng dây thần kinh tăng lên, liên kết các phần khác nhau của võ não lại Điều đó tạo tiền đề cần thiết cho sự phức tạp hóa hoạt động phân tích tổng hợp của vỏ bán cầu đại não trong quá trình hoạt đọng
Trang 13Đa số các em đã vượt qua thời kỳ phát dục Nhìn chung thì đay là lứa tuổi có cơ thể phát triển cân đối, khỏe và đẹp Đa số các em có thể đạt được những khả năng phát triển về cơ thể như người lớn
1.3 Cơ sở lựa chọn một số bài tập bổ trợ nhằm nâng cao thành tích nhảy cao kiểu nằm nghiêng cho học sinh nam lớp 10 trường THPT Lê Hồng Phong
Trong tập luyện thể dục thể thao nói chung và tập luyện môn nhảy cao
nằm nghiêng nói riêng thì vấn đề yếu tố thể lực được đặt lên hàng đầu và giữ
vai trò quan trọng Nhảy cao nằm nghiêng là một hoạt động vừa có tính chu
kỳ và không có chu kỳ, có tác dụng nâng cao năng lực hoạt động của cơ thể, phát triển các tố chất như sức nhanh, mạnh bền, khéo léo… Trong tập luyện môn nhảy cao nằm nghiêng tố chất thể lực thể hiện rõ với hoạt động dùng sức mạnh bột phát để đưa cơ thể đi cao nhất Để làm được điều đó việc huy động các tố chất nhanh, mạnh, bền, khéo léo trong từng giai đoạn của nhảy cao nằm nghiêng là điều hết sức quan trọng Nhưng yếu tố cốt lõi cơ sở đầu tiên đặt nền móng cho kết quả thực hiện vẫn là việc chuẩn bị thể lực, trong đó tố chất nhanh, mạnh, bền là những yếu tố quan trọng nhất Để đánh giá vai trò của các tố chất đó trong nhảy cao nằm nghiêng chúng ta phải hiểu được bản chất của từng tố chất đó
1.3.1 Cơ sở sinh lý của tố chất sức mạnh
Sức mạnh là khả năng khắc phục trọng tải bên ngoài bằng sự căng cơ
Sức mạnh mà cơ phát ra phụ thuộc vào:
- Số lượng đơn vị vận động (sợi cơ) tham gia vào căng cơ
- Chế độ co của đơn vị vận động (sợi cơ) đó
- Chiều dài ban đầu của sợi cơ trước lúc co
Khi số lượng cơ là tối đa các sợi cơ đều co theo chế độ co cứng và chiều dài ban đầu của sợi cơ là chiều dài tối ưu thì cơ sẽ co với lực tối đa, lực
Trang 14đó gọi là sức mạnh tối đa Sức mạnh tối đa của một cơ phụ thuộc và số lượng sợi cơ và tiết diện ngang (độ dày) của các sợi cơ
Thực tế sức mạnh cơ của con người được đo khi cơ co tích cực, tức là có
sự tham gia của ý thức Vì vậy sức mạnh đó thực tế là sức mạnh tích cực tối đa
- Các yếu tố ảnh hưởng đến sức mạnh
+ Các yếu tố trong cơ ở ngoại vi
• Điều kiện cơ học của sự co cơ và chiều dài ban đầu của cơ học là cácyếu tố kỹ năng của hoạt động sức mạnh, hoàn thiện kỹ thuật động tác là tạo điều kiện cơ học và chiều dài ban đầu tối ưu cho sự co cơ
• Độ dày (tiết diện nang của cơ): Khi độ dày của cơ tăng thì sức mạnh cũng tăng Tăng tiết diện ngang của cơ do tập luyện thể lực gọi là phì đại cơ
• Đặc điểm các loại sợi cơ chứa trong cơ: tỷ lệ các loại sợi chậm (nhóm I) và nhanh (nhóm II - A, II - B) chứa trong cơ
+ Các yếu tố thần kinh trung ương điều khiển sự co cơ và phối hợp giữa các sợi cơ và cơ trước tiên là khả năng, chức năng của nơron thần kinh vận động, tức là mức độ phát xung động với tần số cao
- Cơ chế cải thiện sức mạnh: Cơ sở sinh lý của phát triển sức mạnh là
tăng cường số lượng đơn vị vận động tham gia vào hoạt động, đặc biệt là các đơn vị vận động nhanh, chứa các sợi cơ nhóm II có khả năng phì đại cơ lớn
Nhiệm vụ trong giáo dục sức mạnh nói chung là phải phát triển toàn diện các loại sức mạnh: Sức mạnh tuyệt đối, sức mạnh bột phát… sử dụng hợp lý trong các điều kiện khác nhau Vì thế, trong khi lựa chọn các bài tập hay phương tiện khác để giáo dục sức mạnh thì phải tạo ra được sự căng cơ tối đa
1.3.2 Cơ sở sinh lý của tố chất sức nhanh
- Sức nhanh là khả năng thực hiện động tác trong khoảng thời gian ngắn nhất Nó là tố chất tổng hợp của 3 yếu tố cấu thành là: Thời gian phản ứng, thời gian của động tác riêng lẻ và tần số hoạt động
Trang 15- Các yếu tố ảnh hưởng tới sức nhanh:
+ Độ linh hoạt của quá trình thần kinh: thể hiện biến đổi nhanh chóng giữa hưng phấn và ức chế trong trung tâm thần kinh, ngoài ra độ linh hoạt thần kinh còn bao gồm cả tốc độ dẫn truyền xung động trong các dây thần kinh ở ngoại vi
+ Tốc độ co cơ: phụ thuộc trước tiên vào tỷ lệ sợi cơ nhanh và sợi cơ chậm trong cơ Các cơ có tỷ lệ sợi cơ nhanh cao, đặc biệt là sợi cơ nhóm II -
A có khả năng tốc độ cao hơn
- Cơ sở sinh lý để phát triển sức nhanh
Trong TDTT để phát triển sức nhanh cần lựa chọn những bài tập giúp tăng cường độ linh hoạt và tốc độ dẫn truyền hưng phấn ở trung tâm thần kinh và bộ máy vận động, tăng cường phối hợp giữa các sợi cơ và các cơ, nâng cao tốc độ thả lỏng cơ Chọn những bài tập tần số cao trọng tải nhỏ,thời gian nghỉ dài
1.3.3 Cơ sở sinh lý của tố chất sức bền
- Sức bền là khả năng thực hiện lâu dài một hoạt động nào đó hay nói cách khác sức bền là một khái niệm chuyên biệt thể hiện khả năng thực hiện lâu dài một hoạt động chuyên môn nhất định
- Sức bền đặc trưng cho khả năng thực hiện các hoạt động thể lực kéo dài liên tục từ 2 - 3 phút trở lên, với sự tham gia của một khối lượng cơ bắp lớn (từ 1/2 toàn bộ cơ bắp của cơ thể) nhờ sự hấp thụ O2 để cung cấp năng lượng cho cơ chủ yếu hoặc hoàn toàn bằng con đường ưa khí Như vậy, sức bền trong thể thao là khả năng thực hiện lâu dài hoạt động cơ bắp toàn thân hoàn toàn hoặc chủ yếu mang tính chất ưa khí
- Các yếu tố ảnh hưởng tới sức bền: Sức bền không chỉ phụ thuộc vào
tiềm lực năng lượng của con người mà còn phụ thuộc vào việc biết cách dự trữ năng lượng một cách tiết kiệm
Trang 16- Cơ chế cải thiện sức bền: Cơ sở của phương pháp huấn luyện sức bền
hệ cơ là phát triển sức bền trong sự phát triển lực của hệ cơ Vì thế phát triển sức mạnh của cơ bắp có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao thành tích những môn thể thao đòi hỏi sức bền hệ cơ
Biện pháp nhằm làm tăng sức bền:
+ Cần loại bỏ co cơ thừa không năng suất và sự căng thẳng
+ Cần giảm bớt động tác thừa, không hiệu quả
+ Sử dụng năng lượng được hồi phục
+ Phải lựa chọn cường độ vận động tối ưu về mặt tiết kiệm
+ Cần thực hiện sự chuyển đổi vận động tối ưu
Trang 17CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.1 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
2.1.1 Phương pháp đọc và phân tích tài liệu
Khi xác định hướng nghiên cứu mảng đề tài này chúng tôi tìm hiểu thu thập các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài nhằm thu thập những thông tin cần thiết trong quá trình nghiên cứu
2.1.2 Phương pháp quan sát sư phạm
Trong quá trình thực tập tại trường, chúng tôi sử dụng quan sát sư phạm, dự giờ của các thầy cô giáo trong môn điền kinh đặc biệt là quá trình học nhảy cao nằm nghiêng Qua đó chúng tôi rút ra những kinh nghiệm thực tiễn kết hợp với lý luận để xác định áp dụng bài tập hợplý nhằm nâng cao hiệu quả học tập môn nhảy cao nằm nghiêng
2.1.3 Phương pháp điều tra, phỏng vấn
Khi nghiên cứu chúng tôi sử dụng phương pháp điều tra trực tiếp tới các giáo viên chuyên nghành điền kinh trong và ngoài khoa GDTC - Trường Đại học Vinh và các em học sinh lớp 10 A 3 trường THPT Lê Hồng Phong về việc cần thiết sử dụng bài tập bổ trợ Từ đó để có cơ sở cho việc bổ sung thêm các
dữ liệu cần thiết loại bỏ những vấn đề chưa phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi, xác định hiện trạng vấn đề nghiên cứu
2.1.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Để thực nghiệm sư phạm chúng tôi lựa chọn các Test sau để đánh giá: Test 1: Bật cao tại chỗ
Test 2: Chạy 30m xuất phát cao
Test 3: Thực hiện kỹ thuật nhảy cao
Trang 18Thực nghiệm được tiến hành theo hình thức thực nghiệm song song trên 2 nhóm đối tượng:
+ Nhóm thực nghiệm: gồm 20 học sinh được tập luyện theo giáo án do chúng tôi xây dựng
+ Nhóm đối chứng: gốm 20 học sinh được tập luyện theo giáo án bình thường của trường THPT
2.1.5 Phương pháp toán học thống kê
Trong đề tài này, để xử lý số liệu thu thập được chúng tôi sử dụng các công thức sau:
- Công thức tính giá trị trung bình cộng:
1
n i i
X X
X X n
C
x
Trang 19(CV < 10% thành tích tương đối đều)
Trong đó: X A là giá trị trung bình của nhóm đối chứng
X B là giá trị trung bình của nhóm thực nghiệm
nA, nB là số người của 2 nhóm
- Nếu Ttính > Tbảng thì sự khác biệt có ý nghĩa
- Nếu Ttính < Tbảng thì sự khác biệt không có ý nghĩa
2.2 Tổ chức nghiên cứu
2.2.1 Thời gian nghiên cứu
Đề tài này chúng tôi tiến hành nghiên cứu từ 10/ 11 / 2011 đến ngày 10/
05 / 2012 và được chia làm 4 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Từ ngày 10/ 11 / 2011 đến ngày 10/ 12 / 2011 đọc đề tài, xác định hướng nghiên cứu, đặt tên cho đề tài và lập đề cương
- Giai đoạn 2: Từ ngày 10/ 12 / 2011 đến ngày 25/ 02 /2012 giải quyết nhiệm vụ 1
- Giai đoạn 3: Từ ngày 25/ 02 / 2012 đến ngày 15/ 04/ 2012 giải quyết nhiệm vụ 2
- Giai đoạn 4: Từ ngày 15/ 04/ 2012 đến ngày 10/ 05 /2012 phân tích
xử lý số liệu, viết đề tài và báo cáo nghiệm thu
2.2.2 Đối tượng nghiên cứu
Gồm 40 học sinh nam lớp 10 A 3 trường THPT Lê Hồng Phong
Chia làm 2 nhóm gồm:
+ 20 học sinh thuộc nhóm đối chứng
+ 20 học sinh thuộc nhóm thực nghiệm
Trang 202.2.3 Địa điểm nghiên cứu
- Trường THPT Lê Hồng Phong - Hưng Nguyên - Nghệ An
- Trường Đại học Vinh
2.2.4.Thiết kế nghiên cứu
Với đề tài này trước hết tôi tìm hiểu quan điểm của Đảng, nhà nước về TDTT và thực trạng về vấn đề mà mình đang tìm tòi, nghiên cứu Sau đó chúng tôi sẽ xây dựng hệ thống bài tập phát triển thể lực, bài tập bổ trợ kỹ thuật nhằm nâng cao thành tích môn nhảy cao nằm nghiêng và xây dựng được
kế hoạch giảng dạy cụ thể cho từng tháng, từng tuần và từng tiết học Để đánh giá được hiệu quả của việc làm trên chúng tôi đã có những test kiểm tra đánh giá trước và sau thực nghiệm đối với cả 2 nhóm đối chiếu và thực nghiệm để khẳng định hiệu quả của công việc mà chúng tôi đặt ra trước đó Từ kết quả thu được trước và sau thực nghiệm giúp chúng tôi có cơ sở rút ra được những kết luận kiến nghị hợp lý và thiết thực
Và trình tự xây dựng đề tài đựơc trình bày chi tiết qua mô hình sau:
Test kiểm tra
Nhóm TN (n = 20)
Mục tiêu nghiên cứu
Trang 21CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1.Giải quyết mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng sử dụng bài tập bổ trợ trong chương trình giảng dạy kỹ thuật nhảy cao kiểu nằm nghiêng ở trường THPT Lê Hồng Phong
Để có thể tìm hiểu và đánh giá thực trạng công tác giảng dạy kỹ thuật nhảy cao kiểu nằm nghiêng cho hoc sinh lớp 10 tại trường THPT Lê Hồng Phong chúng tôi đã sử dụng hai phương pháp sau
- Phương pháp quan sát sư phạm
- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia
3.1.1 Thực trạng giáo dục thể chất ở trường THPT Lê Hồng Phong
Giáo dục thể chất là một mặt của giáo dục toàn diện trong nhà trường phổ thông, nó có vị trí quan trọng trong việc bảo vệ, nâng cao sức khoẻ thể lực cho học sinh, chuẩn bị cho người lao động trong tương lai đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước
Với mục tiêu “Khoẻ để học tập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, “khoẻ
để chinh phục đỉnh cao tri thức” giáo dục thể chất đã góp phần trang bị cho
học sinh những kiến thức, kỹ năng để rèn luyện sức khoẻ, góp phần giáo dục đạo đức, ý chí và xây dựng lối sống lành mạnh, đồng thời giúp học sinh giải toả những căng thẳng do thiếu vận động tạo nên Song công tác giáo dục thể chất học đường nói chung và giáo dục thể chất trong trường THPT nói riêng vẫn còn là mối day dứt, lo âu của nhiều nhà khoa học chuyên ngành Thực tế thấy rằng từ trước đến nay giáo dục thể chất vẫn được xem là môn phụ ở các trường phổ thông Bởi nó không thuộc các môn văn hóa và không phải là môn thi tốt nghiệp Sự quan tâm và đầu tư đối với giáo dục thể chất cũng chưa đầy
đủ và thiết bị phục vụ giảng dạy và tập luyện vẫn còn nhiều thiếu thốn Hiện nay, hầu hết tất cả các trường học trong cả nước học sinh học môn thể dục ngoài sân Nếu mưa các em phải nghỉ vì điều kiện sân bãi chưa thực sự tốt và
Trang 22được đầu tư đúng mức Hơn thế nữa việc đầu tư trang thiết bị phục vụ cho học tập và tập luyện còn thiếu thốn
Đánh giá về thực trạng giáo dục thể chất trong trường học các tác giả
Vũ Đức Thu, Nguyễn Kỳ Anh nhận xét "Công tác giáo dục trong nhà trường
còn chưa có nề nếp, nhà trường còn chưa tiến hành giảng dạy theo đúng chương trình, hiện tượng bỏ giờ, cắt xén nội dung và thời gian còn mang tính phổ biến thường xẩy ra ở nhiều trường Hoạt động thể dục thể thao quần chúng còn nghèo nàn, thiếu kế hoạch, chưa lôi cuốn được học sinh tham gia"
Trường THPT Lê Hồng Phong có tổng cộng 4 giáo viên giảng dạy bộ môn GDTC và 100% đều là giáo viên tốt nghiệp các trường đại học chính quy trong nước Phần lớn giáo viên bộ môn GDTC trường THPT Lê Hồng Phong đều có tuổi đời còn trẻ cụ thể:
+ Từ 45 - 50 tuổi: 1 giáo viên, chiếm: 25%
+ Từ 35 - 40 tuổi: 1 giáo viên, chiếm: 25%
+ Từ 30 - 35 tuổi: 1 giáo viên, chiếm: 25%
+ Từ 25 - 30 tuổi: 1 giáo viên, chiếm: 25%
Qua thời gian tìm hiểu nghiên cứu chúng tôi nhận thấy rằng công tác giảng dạy GDTC tại trường THPT Lê Hồng Phong còn tồn tại nhiều bất cập khi chưa bố trí hợp lý giữa học tập các môn văn hóa và môn thể dục, khi chỉ đưa ra 2 tiết học thể dục trong 1 tuần, tỷ lệ 2 tiết trong 1 tuần quả là quá ít so với nhu cầu vận động ở lứa tuổi các em Hơn thế nữa thời gian các em được phân bố lịch học cũng chưa hợp lý Thay vì nên xếp lịch vào 1 buổi riêng thì
đa số các trường THPT lại xếp lịch học xen với học văn hóa Thiết nghĩ rằng, nếu các em học thể dục 1 tiết, 2 tiết đầu thì tiết văn hóa sau các em sẽ khó hoặc không thể tiếp thu được vì quá mệt mỏi Nếu các em phải học thể dục vào 2 tiết cuối khi các em đã mệt mỏi và đói thì hiệu quả học tập sẽ ra sao khi các em thiếu năng lượng cho sự vận động
Trang 233.1.2 Tìm hiểu thực trạng việc sử dụng bài tập bổ trợ chuyên môn trong giảng dạy kỹ thuật nhảy cao kiểu nằm nghiêng ở trường THPT
Mục đích của các bài tập bổ trợ là giúp cho người học tiếp thu động tác một cách thuận lợi Đối với các môn điền kinh nói chung và môn nhảy cao nằm nghiêng nói riêng thì việc sử dụng các bài tập bổ trợ trong quá trình giảng dạy là việc hết sức cần thiết Bài tập bổ trợ là một lợi thế rất lớn để người học có thể rút ngắn thời gian tập luyện hình thành kỹ năng, thực hiện
kỹ thuật ở mức độ chính xác cao và điêu luyện Thông qua các bài tập bổ trợ người học đã giảm bớt khó khăn trong khi tiếp thu động tác Tuy nhiên việc
áp dụng các bài tập bổ trợ không thể áp dụng một cách chung chung cho mọi đối tượng mà phải dựa trên các cơ sở, các đặc điểm tâm sinh lý, lứa tuổi và nội dung của môn học để hạn ché những sai lầm thường mắc và dễ khắc phục trong quá trình tiếp thu các yếu lĩnh động tác Đặc điểm nổi bật của lứa tuổi học sinh THPT là sự phát triển về chiều cao, cân nặng và khả năng tiếp thu các yếu lĩnh động tác , hình thành kỹ năng kỹ xảo vận động một cách nhanh chóng, chính xác
Để tìm hiểu thực trạng và quan điểm sử dụng hệ thống bài tập bổ trợ chuyên môn trong giảng dạy nhảy cao kiểu nằm nghiêng cho học sinh lớp 10 trường THPT Lê Hồng Phong Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn trực tiếp 10 thầy cô giáo có thâm niên trong và ngoài trường Nội dung phỏng vấn như sau:
- Quan điểm của thầy (cô) về việc sử dụng bài tập bổ trợ chuyên môn trong giảng dạy nhảy cao kiểu nằm nghiêng
- Đánh giá của thầy (cô) về thực trạng sử dụng bài tập chuyên môn trong giảng dạy nhảy cao kiểu nằm nghiêng
Kết quả phỏng vấn cho thấy: Có tổng số 08/10 giáo viên chiếm 80% cho rằng việc sử dụng bài tập bổ trợ chuyên môn còn chiếm tỷ lệ nhỏ hơn so với bài tập bổ trợ chung, các dạng bài tập bổ trợ còn ít tận dụng hết phương tiện tập
Trang 24luyện, các bài tập bổ trợ chuyên môn cần phải sử dụng một cách hệ thống Chỉ có 2/10 giáo viên chiếm 20% cho rằng các bài tập bổ trợ chuyên môn như hiện nay là phù hợp, không cần thiết phải sửa đổi
Từ những kết quả đã đạt được chúng tôi nhận xét về thực trạng việc sử dụng hệ thống bài tập bổ trợ chuyên môn trong giảng dạy kỹ thuật nhảy cao kiểu nằm nghiêng cho học sinh THPT như sau:
- Tỷ lệ sử dụng hệ thống bài tập bổ trợ chuyên môn còn ít, lượng vận động của các bài tập còn thấp, mật độ còn thưa, cường độ còn thấp, tỷ lệ bài tập bổ trợ chuyên môn còn nhỏ so với bài tập bổ trợ chung
- Các bài tập phát triển thể lực chuyên môn còn đơn điệu, chưa tạo được hiệu quả phát triển sức mạnh, sức nhanh cần thiết cho học sinh
- Các bài tập bổ trợ trong giảng dạy chưa đủ để dẫn dắt và tạo cảm giác cho người tập về không gian, thời gian trong quá trình thực hiện động tác
- Các bài tập chuyên môn còn chưa đa dạng, chưa tận dụng được quy luật chuyển hoá kỹ năng của các kỹ năng khác nhau, chưa tận dụng được các phương pháp tập luyện
3.1.3 Đặc điểm môn nhảy cao và thực trạng giảng dạy kỹ thuật nhảy cao nằm nghiêng tại trường THPT Lê Hồng Phong
Trong học tập và thi đấu TDTT nói chung và môn nhảy cao kiểu nằm nghiêng nói riêng đòi hỏi người tập phải có sự nỗ lực lớn về cơ bắp do đó đã tạo nên sự căng thẳng thần kinh Vì thế mà quá trình tập luyện giúp cho người tập phát triển toàn diện cơ thể Tập luyện môn nhảy cao kiểu nằm nghiêng có tác dụng phát triển các tố chất thể lực, đặc biệt là sức mạnh bột phát Do đó quá trình giảng dạy cần áp dụng những bài tập bổ trợ chuyên môn để phát triển sức mạnh bột phát nhằm nâng cao thành tích và góp phần làm phong phú thêm phương tiện GDTC trong nhà trường THPT
Trang 25Nhưng thực trạng ở các trường THPT cho thấy việc giảng dạy môn điền kinh chưa được chú trọng, cơ sở vật chất còn thiếu thốn, dụng cụ tập luyện thô sơ, hệ thống bài tập đơn giản chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển thể lực cho học sinh Vì vậy thành tích tập luyện của các em chưa cao, đặc biệt là trong môn nhảy cao kiểu nằm nghiêng
Qua khảo sát thực tế tại trường THPT Lê Hồng Phong, chúng tôi thấy có một số nguyên nhân chính sau đây làm giảm thành tích của các em:
+ Chưa có sự đầu tư, quan tâm đúng mức của các cấp và của nhà trường + Do sự hạn chế của người dạy như: trình độ chuyên môn còn hạn chế + Do các điều kiện bên ngoài như: dụng cụ, sân bãi
+ Do các yếu tố chủ quan của người học như: thể lực, tâm lý
Trong đó, nguyên nhân sâu xa là do người làm công tác giảng dạy chưa chú ý phát triển các tố chất thể lực chuyên môn đúng mức
Vì vậy, trong quá trình giảng dạy nội dung nhảy cao kiểu nằm nghiêng cần quan tâm đến việc phát triển các tố chất thể lực chuyên môn trong giờ học Sử dụng hệ thống bài tập một cách khoa học để phát triển sức mạnh bột phát nhằm nâng cao thành tích nhảy cao kiểu nằm nghiêng cho học sinh lớp 10
3.2 Giải quyết mục tiêu 2: Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả bài tập trong môn học nhảy cao nằm nghiêng cho nam học sinh lớp 10A 3 Trường THPT Lê Hồng Phong
3.2.1 Nghiên cứu lựa chọn một số bài tập nhằm nâng cao thành tích môn nhảy cao nằm nghiêng cho nam học sinh lớp 10A 3 trường THPT Lê Hồng Phong
a Các yêu cầu khi lựa chọn bài tập bổ trợ chuyên môn trong quá trình giảng dạy kỹ thuật nhảy cao kiểu nằm nghiêng:
Trang 26Để xác định được những yêu cầu khi lựa chọn bài tập bổ trợ chuyên môn cho học sinh khi học kỹ thuật nhảy cao kiểu nằm nghiêng chúng tôi tiến hành như sau:
Xác định các yêu cầu qua tham khảo và tổng hợp tài liệu Bằng việc đọc và tham khảo các tài liệu như: Điền kinh, lý luận và phương pháp TDTT, học thuyết huấn luỵên, tâm-sinh lý TDTT chúng tôi đã tổng hợp được một
số yêu cầu cần đạt được của hệ thống bài tập bổ trợ chuyên môn nhăm nâng cao khả năng tiếp thu kỹ năng cho học sinh khi giảng dạy kỹ thuật nhảy cao nằm nghiêng sau đây:
1 Bài tập bổ trợ chuyên môn phải trực tiếp giúp cho ngưòi học nắm được các khâu riêng lẻ cũng như hoàn chỉnh của kỹ thuật
2 Bài tập bổ trợ chuyên môn phải hình thành kỹ năng vận động, hình thành kỹ thuật cho người tập
3 Bài tập bổ trợ chuyên môn phải giúp khắc phục các yếu tố ảnh hưởng tới việc nắm bắt kỹ thuật và nâng cao thành tích như: các tố chất thể lực, tâm lý
4 Cần đa dạng hoá các hình thức tập luyện triệt để, lợi dụng các phương tiện tập luyện để giúp cho quá trình chuyển đổi và liên kết kỹ năng tốt hơn
5 Các bài tập phải hợp lý , vừa sức và được nâng cao dần độ khó, đặc biệt chú ý đến khâu an toàn để tránh xảy ra chấn thương
Sau khi xác định được 5 yêu cầu trên, để tăng thêm độ tin cậy chúng tôi
đã tiến hành phỏng vấn các chuyên gia và các thầy cô giáo trong và ngoài bộ môn Tổng số người được phỏng vấn là 10 người, kết quả phỏng vấn được trình bày ở bảng 3.1:
Trang 27Bảng 3.1 Kết quả phỏng vấn về yêu cầu lựa chọn bài tập bổ trợ
Vì vậy, chúng tôi sử dụng 5 yêu cầu này để tham khảo, đối chiếu trong khi lựa chọn bài tập bổ trợ chuyên môn cho học sinh
b Lựa chọn hệ thống bài tập bổ trợ chuyên môn
Dựa vào các yêu cầu và các cơ sở lựa chọn đối với bài tập bổ trợ chuyên môn được chúng tôi nêu ở trên Kết hợp tham khảo các tài liệu chuyên môn, các kết quả khảo sát công tác huấn luyện và giảng dạy ở một số trường THPT Từ đó chúng tôi đã bước đầu xác định được hệ thống bài tập bổ trợ chuyên môn cho học sinh khi học kỹ thuật nhảy cao kiểu nằm nghiêng gồm 2
hệ thống: bài tập bổ trợ kỹ thuật và bài tập bổ trợ thể lực, các bài tập dược thể hiện cụ thể như sau:
* Hệ thống bài tập bổ trợ kỹ thuật nhảy cao nằm nghiêng
- Nhóm I: Bài tập bổ trợ kỹ thuật giậm nhảy:
Bài tập 1: Chạy đà nhảy cao tự do để xác định chân giậm nhảy
Bài tập 2: Đứng chân giậm nhảy trước (sát mép hố cát) chân lăng sau
Tạo đà và giậm nhảy qua xà thấp (tiếp đất bằng chân giậm nhảy) Khi tạo đà
Trang 28và giậm nhảy cần phối hợp với đánh mạnh 2 tay từ trước ra sau, về trước dừng đột ngột
Bài tập 3: Đi 3 bước giậm nhảy thực hiện động tác giậm nhảy đá lăng
- Nhóm II : Bài tập bổ trợ kỹ thuật chạy đà kết hợp giậm nhảy:
Bài tập 4: Chạy chậm 3, 5, 7 bước giậm nhảy thực hiện động tác giậm
nhảy đá lăng
Bài tập 5: Chạy đà chính diện giậm nhảy đá lăng qua xà thấp
Bài tập 6: Chạy đà đúng góc độ giậm nhảy đá lăng qua xa thấp
Bài tập 7: Chạy đà 5, 7, 9 bước giậm nhảy đá lăng chạm vào vật chuẩn
treo trên cao (chạm vật chuẩn bằng chân lăng)
- Nhóm II: Bài tập bổ trợ kỹ thuật giai đoạn trên không và tiếp đất: Bài tập 8: Đứng tại chỗ đá lăng xoay mũi bàn chân
Bài tập 9: Tập mô phỏng chân lăng giai đoạn trên không
Bài tập 10: Chạy đà giậm nhảy đá lăng xoay mũi bàn chân đồng thời lật
thân nằm nghiêng trên xà
Bài tập 11: Tập mô phỏng động tác chân giậm nhảy giai đoạn trên
không
Bài tập 12: Chạy đà đúng góc độ giậm nhảy đá lăng cao thu nhanh
chân giậm nhảy rồi tiếp đất tại chỗ (xà để ở mức cao, chú ý không nhảy qua xà)
- Nhóm IV: Bài tập hoàn thiện kỹ thuật nhảy cao nằm nghiêng:
Bài tập 13: Chạy 3-5 bước đà thực hiện hoàn chỉnh kỹ thuật nhảy