1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá công tác phòng dịch bệnh đàn gia súc trên địa bàn huyện tân kỳ giai đoạn 2009 2011

118 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Công Tác Phòng Dịch Bệnh Đàn Gia Súc Trên Địa Bàn Huyện Tân Kỳ Giai Đoạn 2009-2011
Tác giả Nguyễn Thị Hoa
Người hướng dẫn Nguyễn Thị Tiếng
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Kỹ Sư Ngành Khuyến Nông Và Phát Triển Nông Thôn
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2012
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm hoạt động thú y: Hoạt động thú y là công tác quản lí của nhà nước về thú y và các hoạt động phòng bệnh, chữa bệnh cho động vật, chống dịch bệnh cho động vật; kiểm dịch động vậ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

ĐOẠN 2009-2011

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KỸ SƯ NGHÀNH KHUYẾN NÔNG VÀ PHÁT TRIỂN

NÔNGTHÔN

VINH, năm 2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

- -

ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC PHÒNG DỊCH ĐÀN GIA SÚC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TÂN KỲ GIAI ĐOẠN 2009-

2011

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KỸ SƯ NGHÀNH KHUYẾN NÔNG VÀ PHÁT TRIỂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tên tôi là: Nguyễn Thị Hoa

Sinh viên lớp :49k3 – KN & PTNT

Trong thời gian từ 08/02/2012 đến 02/05/2012 tôi đã thực tập tốt nghiệp tại Trạm Thú Y huyện Tân Kỳ và đã tiến hành nghiên cứu đề tài

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ khóa luận tốt nghiệp nào Những thông tin trong khóa luận hoàn toàn chính xác và đều được ghi rõ nguồn gốc Nếu có gì không đúng tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Vinh, tháng 05 năm 2012

Sinh viên

Nguyễn Thị Hoa

Trang 4

LỜI CẢM ƠN 

Trong qua trình học tập, nghiên cứu và thực tập tốt nghiệp nhờ sự quan tâm, giúp đỡ và tạo điều kiện của các thầy cô giáo, cán bộ các cơ quan, đơn vị trong và ngoài nhà trường đề tài của tôi đã được hoàn thành Với lòng biết ơn sâu sắc, nhân dịp này cho phép tôi được gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu nhà trường, Khoa Nông

- Lâm - Ngư - trường Đại học Vinh, cảm ơn các thầy cô giáo đã truyền đạt cho tôi những kiến thức, kinh nghiêm quý báu trong quá trình rèn luyện tại trường

Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo Nguyễn Thị Tiếng, giảng viên khoa Nông - Lâm - Ngư, trường Đại học Vinh đã tận tình hướng dẫn, đóng góp ý kiến, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài

Tôi xin trân trọng cảm ơn tập thể, cán bộ Trạm Thú Y huyện Tân Kỳ, các phòng ban, trạm trực thuộc UBND huyện Tân Kỳ, cán bộ và nhân dân các xã Nghĩa Phúc, Tân An, Nghĩa đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thực tập tại địa phương và giúp tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè và những người thân đã động viên giúp đỡ tôi cả vật chất lần tinh thần để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Do điều kiện về thời gian và trình độ có hạn, luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và mọi người

để luận văn được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Vinh, tháng 05 năm 2012

Sinh viên

Nguyễn Thị Hoa

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

I Lí do chọn đề tài: 1

II Mục tiêu nghiên cứu 3

2.1 Mục tiêu tổng quát: 3

2.2 Mục tiêu cụ thể: 3

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4

1.1 Cơ sở lí luận: 4

1.1.1 Một số khái niệm 4

1.1.2 Một số qui định, văn bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu: 7

1.1.3 Vai trò công tác phòng dịch và công tác thú y trong chăn nuôi: 13

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài: 13

1.2.1 Công tác phòng dịch bệnh gia súc trên thế giới : 13

1.2.2 Các công tác, biện pháp phòng dịch bệnh ở Việt Nam thời gian qua: 17

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 22

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu: 22

2.1.2.Phạm vi nghiên cứu: 22

2.2 Nội dung nghiên cứu: 22

2.3 Phương pháp nghiên cứu: 23

2.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 23

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu: 24

2.3.2 Phương pháp xử lí số liệu: 25

2.3.3 Phương pháp phân tích số liệu 25

2.4 Điều kiện cơ bản của khu vực nghiên cứu: 26

2.4.1 Điều kiện tự nhiên 26

2.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 28

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39

3.1 Thực trạng công tác phòng dịch bệnh cho đàn gia súc trên địa bàn huyện Tân Kỳ thời gian qua: 39

3.1.1 Thực trạng công tác tiêm phòng trên địa bàn huyện Tân Kỳ 39

3.1.1.1 Thực trạng tiêm phòng vắc xin cho đàn gia súc năm 2011 43

3.1.1.2 Thực trạng công tác tiêm phòng gia súc trên địa bàn huyện Tân Kỳ năm 2010: 47

Trang 6

3.1.1.3 Thực trạng công tác tiêm phòng vắc xin cho đàn gia súc năm 2009 trên địa

bàn Tân Kỳ: 48

3.1.1.4 So sánh thực trạng công tác tiêm phòng gia súc trên địa bàn huyện trong 3 năm 2009, 2010, 2011 52

3.1.2 Công tác tiêu độc khử trùng 54

3.1.2.1 Mục đích: 54

3.1.2.2 Biện pháp thực hiện 54

3.1.2.3 Thực trạng công tác tiêu độc khử trùng cho đàn gia súc trên địa bàn huyện Tân Kỳ trong thời gian qua: 55

3.1.3 Công tác kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y 58

3.1.4 Công tác giống, tuyên truyền: 61

3.1.4.1 Công tác giống đối với công tác phòng dịch bệnh cho gia súc 61

3.1.4.2 Công tác tuyên truyền hỗ trợ công tác phòng dịch bệnh gia súc: 63

3.1.5 Công tác giám sát dịch tễ 65

3.1.5.1 Hệ thống thông tin dịch bệnh : 65

3.1.5.2 Thực trạng áp dụng biện pháp giám sát dịch tễ tại huyện Tân Kỳ 66

3.2 Thực trạng tại các hộ điều tra: 68

3.2.1 Tình hình lao động và nhân khẩu: 68

3.2.2 Trình độ học vấn và nghề nghệp tại các hộ điều tra: 69

3.2.3 Tình hình thâm niên sản xuất chăn nuôi tại các hộ điều tra: 71

3.2.4 Tình hình cơ cấu chăn nuôi tại các hộ điều tra: 73

3.2.4 Tình hình tham gia phòng dịch cho đàn gia súc tại các hộ điều tra của 3 xã nghiên cứu: Nghĩa Phúc, Nghĩa Dũng, Tân An 75

3.2.4.1 Thực trạng tham gia: 76

3.2.4.2 Thái độ tham gia của các hộ điều tra 77

3.2.4.3 Hình thức nắm bắt thông tin của các hộ điều tra: 79

3.2.4.4 Đánh giá hiệu quả công tác phòng dịch tại hộ điều tra: 81

3.3 Chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức tham gia vào công tác phòng dịch cho đàn gia súc 82

3.4 Thuận lợi, khó khăn trong công tác phòng dịch cho đàn gia súc tại Tân Kỳ 85

3.5 Định hướng và giải pháp tốt cho công tác phòng dịch bệnh cho đàn gia súc trong thời gian tới: 90

3.5.1 Định hướng: 90

Trang 7

3.5.2 Giải pháp cho công tác phòng dịch gia súc trên địa bàn huyện Tân Kỳ trong thời gian tới: 91 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 95 TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

Trang 8

NN & PTNT: Nông nghiệp và phát triển nông thôn

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HỘP

Bảng 2.1 Tổng hợp số mẫu điều tra đại diện cho các hộ chăn nuôi gia súc của huyện Tân Kỳ

Bảng 3.1 Kết quả tiêm phòng vắc xin cho đàn gia súc năm 2011

Bảng 3.2 Thực trạng tiêm phòng cho đàn gia súc tại 3 xã: Nghĩa Phúc, Nghĩa

Dũng, Tân An năm 2011

Bảng 3.3 Kết quả tiêm phòng vắc xin cho đàn gia súc năm 2010

Bảng 3.4 Kết quả tiêm phòng cho đàn gia súc năm 2009 trên địa bàn huyện

Bảng 3.5 Tổng hợp tiêm phòng gia súc tại 3 xã: Nghĩa phúc, Nghĩa Dũng, Tân An

năm 2009

Bảng 3.6 So sánh thực trạng tiêm phòng trên địa bàn huyện trong 3 năm 2009,

2010, 2011

Bảng 3.7 Hóa chất tiêu độc khử trùng phòng, chống dịch bệnh gia súc,

Bảng 3.8 Kết quả phun Benkocid tiêu độc khử trùng

Bảng 3.9 Tình hình lao động và nhân khẩu tại 3 xã: Tân An, Nghĩa Phúc, Nghĩa

Dũng

Bảng 3.10 Trình độ văn hóa và nghề nghiệp tại các hộ điều tra

Bảng 3.11 Tình hình thâm niên sản xuất chăn nuôi tại 90 hộ điều tra

Bảng 3.12 Tình hình cơ cấu chăn nuôi của các hộ điều tra trên địa bàn 3 xã: Nghĩa

Phúc, Tân An, Nghĩa Dũng

Bảng 3.13 Tình hình tham gia phòng dịch tại 3 xã: Nghĩa Phúc, Tân An, Nghĩa

Dũng

Bảng 3.14 Hình thức thu nhận thông tin tại các hộ điều tra:

Bảng 3.15 Ý kiến đánh giá hiệu quả công tác phòng dịch

Trang 10

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH VẼ

Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Tân Kỳ

Bảng 3.1 Kết quả tiêm phòng vắc xin cho đàn gia súc năm 2011

Biểu đồ 3.1 So sánh % Kế hoạch đạt được trong tiêm phòng của 3 năm: 2009, 2010,

2011

Biểu đồ 3.2 Tình hình thâm niên chăn nuôi tại các hộ điều tra

Biểu đồ 3.3 Cơ cấu các loại gia súc tại các hộ điều tra trên địa bàn 3 xã: Nghĩa Phúc, Tân An, Nghĩa Dũng

Biểu đố 3.4 Cơ cấu các hộ tham gia công tác phòng dịch tại 3 xã Nghĩa Phúc, Tân

An, Nghĩa Dũng

Biểu đồ 3.5 Thái độ tham gia tham gia phòng dịch tại 3 xã

Biểu đồ 3.6 Hình thức thu nhận thông tin phòng dịch tại các hộ điều tra

Hộp 4 Ý kiến cán bộ TY xã Nghĩa Phúc

Biểu đồ 3.7 Cơ cấu biết thông tin phòng dịch gia súc tại các hộ điều tra

Biểu đồ 3.8 Ý kiến đánh giá hiệu quả công tác phòng dịch

Trang 11

MỞ ĐẦU

I Lí do chọn đề tài:

Trong Hệ thống Nông nghiệp, trồng trọt chỉ là một trong hai nghành sản xuất chủ lực, nghành chăn nuôi luôn là nghành không kém phần quan trọng, không thể thiếu trong hệ thống nông nghiệp Hiện nay, thu nhập từ nghành chăn nuôi vẫn đang chiếm đến 20-30 trong tổng thu của ngành nông nghiệp và đang có xu hướng tăng dần tỷ trọng của ngành và giảm dần tỷ trọng ngành trồng trọt Trong kinh tế hộ nông dân, ở nhiều hộ tỷ lệ thu từ chăn nuôi có thể lên tới 50-60% Phần lớn các hộ sản xuất nông nghiệp đều có chăn nuôi Trước đây chăn nuôi chỉ được coi là nghề phụ, nghành sản xuất chỉ với mục đích tự cung tự cấp Ngày nay, chăn nuôi đang dần trở thành ngành sản xuất hàng hóa Chăn nuôi đóng vai trò rất lớn trong sự phát triển của ngành nông nghiệp

Tính đến năm 2011, dân số Việt Nam sắp lên tới 87 triệu người, nền công nghiệp vẫn chưa phát triển, 70-75% dân số vẫn sống dựa vào nguồn thu từ nông nghiệp Trong đó, chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia súc nói riêng luôn giữ vai trò hết sức quan trọng, cung cấp sức kéo, cung cấp một lượng lớn phân bón hữu cơ cho cây trồng, có thể tận dụng được một số phế phụ phẩm nông nghiệp, chăn nuôi đóng góp một nguồn thu đáng kể cho người nông dân và cho quốc gia, nhiều khó khăn thường nhật của người nông dân đã được giải quyết nhờ chăn nuôi

Theo thống kê của Trung tâm tin học và Thống kê, tính đến tháng 4 năm

2011 trên cả nước tổng đàn Lợn có đến 26,3 triệu con, đàn trâu bà có hơn 8,5 triệu con (Báo cáo kết quả 6 tháng đầu năm 2011 ngành khuyến nông và phát triển nông thôn) Nghệ An là tỉnh có tổng đàn trâu bò lớn nhất cả nước, thu nhập nghành chăn nuôi hiện chiếm trên 40% tổng giá trị sản xuất

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngành chăn nuôi cùng sự chuyển biến tích cực của nền kinh tế đất nước và quá trình CNH, HĐH ngành Nông nghiệp & PTNT, ngành Thú y đã đạt được những thành tích nhất định, từng bước đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường về thực phẩm có nguồn gốc động vật Để hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ thành quả chăn nuôi, bảo vệ sức khoẻ con người và môi trường sinh thái trong những năm qua, các hoạt động Thú y phải không ngừng

Trang 12

được nâng lên về chiều rộng lẫn chiều sâu, đảm bảo sự phát triển chăn nuôi một cách bền vững

Trong những năm qua, cùng với ngành Thú y của cả nước, ngành Thú y của tỉnh Nghệ An đã xác định chăn nuôi muốn phát triển tốt và đạt hiệu quả kinh tế cao, ngoài công tác theo dõi, giám sát tình hình dịch bệnh thì công tác phòng dịch cần đặc biệt quan trọng Vì thế công tác luôn được đặt lên hàng đầu, hoạt động rất mạnh

mẽ trên lĩnh vực này, đã hạn chế được rất nhiều dịch bệnh nguy hiểm, đảm bảo cho chăn nuôi phát triển và phát triển bền vững

Tân Kỳ là một huyện miền núi thấp phía Tây của Nghệ An có diện tích tự nhiên: 72.890,23 ha trong đó đất nông lâm nghiệp : 64.56,30 ha, chiếm 88,57 %, đất trồng cỏ và đồi núi trọc được phân bố 22 xã, thị trấn.Với dân số:138.356 người và 31.166 hộ dân, có đường chiến lược Hồ Chí Minh, quốc lộ 15 A và tỉnh lộ 545 đi qua Chăn nuôi phát triển khá: Có tổng đàn trâu bò hàng năm khoảng 52.377 con, đàn lợn 51.850 con, gia cầm các loại 501.904 con Sản lượng thịt hơi trâu, bò 1 năm là: 3.950 tấn, thịt lợn hơi: 3.840 tấn, gia cầm 891 tấn Mặc dù có những điều kiện được thiên nhiên ưu đãi, nhưng người dân vẫn có truyền thống chăn nuôi theo hướng tự phát, theo tập tục thả rông là chính, cho nên không kiểm soát được dịch bệnh, thu nhập từ chăn nuôi chưa cao.Tuy nhiên, trong những năm gần đây được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, cùng với những chính sách hỗ trợ, kích thích phát triển chăn nuôi theo hướng hàng hoá, nên số lượng và chất lượng trâu bò, lợn và gia cầm các loại ngày càng được nâng cao

Công tác thú y trên địa bàn huyện có nhiều chuyển biến theo hướng tích cực,

từ công tác tiêm phòng đến phòng trừ dịch bệnh cho vật nuôi, nên đã góp phần ngăn chặn các ổ dịch kịp thời không để lây lan ra diện rộng Mạng lưới thú y cơ sở từng bước được củng cố để thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển, quản lý dịch bệnh có hiệu quả

Xuất phát từ thực tế đó, việc đánh giá công tác phòng dịch cho đàn gia súc trên địa bàn huyện Tân Kỳ là rất cần thiết, nhằm tìm ra những khó khăn gặp phải và

có các giải pháp cho địa phương trong những năm tới nên tôi lựa chọn đề tài:

“ Đánh giá công tác phòng dịch bệnh đàn gia súc trên địa bàn huyện Tân Kỳ

giai đoạn 2009-2011”

Trang 13

II Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát:

Đánh giá chung tình hình công tác phòng dịch gia súc trên địa bàn huyện Tân

Kỳ giai đoạn 2009-2011, những tồn tại và các khó khăn gặp phải, từ đó tìm ra các hướng giải pháp khắc phục, nâng cao hiệu quả công tác phòng dịch bệnh cho gia súc trong thời gian tới

2.2 Mục tiêu cụ thể:

- Hệ thống các phương pháp phòng dịch bệnh cho đàn gia súc

- Nghiên cứu thực trạng công tác phòng dịch gia súc trên địa bàn huyện Tân kỳ giai đoạn 2009-2011

- So sánh hiệu quả công tác tiêm phòng dịch bệnh cho đàn gia súc qua các năm

Trang 14

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lí luận:

1.1.1 Một số khái niệm

1.1.1.1 Khái niệm dịch bệnh động vật:

Dịch bệnh động vật là một bệnh truyền nhiễm thuộc danh mục các bệnh phải công bố dịch hoặc danh mục các bệnh nguy hiểm của động vật làm động vật mắc bệnh, chết nhiều hoặc làm lây lan trong một hoặc nhiều vùng

1.1.1.2 Khái niệm hoạt động thú y:

Hoạt động thú y là công tác quản lí của nhà nước về thú y và các hoạt động phòng bệnh, chữa bệnh cho động vật, chống dịch bệnh cho động vật; kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật; kiểm soát giết mổ động vật; kiểm tra vệ sinh thú y; quản lí thuốc thú y, chế phẩm sinh học, vi sinh vật, hóa chất dùng trong thú y, hành nghề thú y

1.1.1.3 Khái niệm khử trùng tiêu độc:

Khử trùng tiêu độc là việc diệt mầm bệnh ở ổ dịch, vùng có dịch, vùng bị uy hiếp; khu cách ly kiểm dịch, cơ sở chăn nuôi, sản xuất con giống, cở sở giết mổ, sơ chế động vật; cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, chế phẩm sinh học, vi sinh vật dung trong thú y; phương tiện dung trong thú y; phương tiện, dụng cụ vận chuyển, chứa, nhốt động vật, sản phẩm động vật, vận chuyển chất thải động vật có thể làm lây truyền bệnh cho động vật hoặc gâp ô nhiễm cho sản phẩm động vật

1.1.1.4 Khái niệm thuốc thú y và vắc xin, lưu ý khi sử dụng vắc xin

* Thuốc thú y:

Thuốc thú y là những chất hoặc hợp chất có nguồn gốc từ động vật, thực vật,

vi sinh vật, khoáng chất,hóa chất được dùng để phòng bệnh, chẩn đoán bệnh, chữa bệnh hoặc để phục hồi, điều chỉnh, cải thiện các chức năng của cơ thể động vật, bao gồm dược phẩm, hóa chất, vắc xin, hoocmon, một số chế phẩm sinh học khác và một số vi sinh vật dùng trong thú y

* Vắc xin:

Vắc xin là những chế phẩm chứa kháng nguyên vi sinh vật dùng để kích thích hệ thống miễn dịch đặc hiệu hoạt động

Trang 15

Cơ thể động vật tồn tại hai hệ thống phòng dịch chống lại sự xâm nhập của các yếu tó ngoại lai, trong đó có các loại vi sinh vật gây bệnh Hệ thống phòng vệ của cơ thể gồm 2 hệ thống miễn dịch: Các yếu tố miễn dịch không đặc hiệu, loại này có tác dụng bảo vệ chung không phân biệt các tác nhân gây bệnh; Các yếu tố miễn dịch đặc hiệu chỉ có thể chống lại kháng nguyên kích thích và kháng nguyên tương ứng Như vậy việc tiêm phòng vắc xin đóng vai trò hết sức quan trọng trong

hệ miễn dịch đặc hiệu

- Có 2 loại vắc xin: Vắc xin sống (nhược độc), vắc xin chết (vô hoạt):

+ Vắc xin sống được được sản xuất từ vi khuẩn, vi rút còn sống nhưng có độc lực thấp do (chọn lọc tự nhiên, giảm độc nhân tạo, hoặc chọn từ các chủng vi sinh vật có độc lực thấp)

+ Vắc xin chết hay vắc xin vô hoạt: được chế từ các vi khuẩn, vi rút gây bệnh được giết chết bằng các phương pháp vật lí (nhiệt độ), bức xạ, tia cực tím, hóa chất…

+ So sánh 2 loại vắc xin: Vắc xin chết an toàn hơn nhưng hiệu lực kém hơn

- Một số điều cần lưu ý khi sử dụng vắc xin có hiệu quả:

Trong thực tế sản xuất đôi khi chúng ta sử dụng vắc xin không thành công,

có nghiac là sau khi tiêm phòng bệnh vẫn có thể tái phát, để đảm bảo vắc xin được

sử dụng có hiệu quả, cần lưu ý các điểm như: Bảo quản tốt vắc xin, nhiệt độ từ 2-8

độ C; nâng cao sức đề kháng cho con vật; xây dựng lịch tiêm phòng hợp lí; làm chủ được lịch tiêm phòng và có kinh nghiệm thực tế; quản lý đàn gia súc tốt Cụ thể:

+ Vắc xin được dùng cho phòng bệnh chỉ nên dungfcho động vật chưa mắc bệnh, nếu tiêm cho những con vật dã mắc bệnh thì bệnh có thể phát ra sớm hơn, nặng hơn

+ Vắc xin phòng bệnh chỉ phòng cho được bệnh đó,không phòng được bệnh khác, ví dụ: vắc xin phòng bệnh dịch tả lợn chỉ phòng được cho dịch tả lớn, không phòng được THT lợn…

+ Hiệu quả vắc xin phụ thuộc rất nhiều vào tình trạng sức khỏe của vật nuôi

vì đó là kết quả đáp ứng miễn dịch của chúng Cần lưu y rằng trong số động vật đạt tieu chuẩn được tiêm, không phải đều sinh miễn dịch tốt, có một số đáp ứng miễn

Trang 16

dịch kém hoặc không đáp ứng miễn dịch, như vậy những con vật này vẫn có thể mắc bệnh mặc dù đã được tiêm phòng

+ Sau khi tiêm phòng 2-3 tuần, cơ thể vật nuôi đáp ứng miễn dịch, ngoại trừ các vắc xin nhược độc Trong thời gian đó động vật vẫn có thể mắc bệnh, tình hình

đó có thể đưa chúng ta đến nhận định nhầm, cho rằng vắc xin gây ra bệnh hoặc không có hiệu lực phòng bệnh

+ Một số vắc xin thường gây ra các phản ứng, dị ứng xảy ra nhanh sau khi tiêm, con vật có biểu hiện bị sốt, run rẩy, nôn mửa, thở gấp Nếu phản ứng nhẹ thì sau một thời gian ngắn con vật sẽ trở lại bình thường, nếu nặng con vật có thể bị chết Phản ứng xảy ra có thể do đặc điểm di truyền của cá thể (cơ địa) dễ bị dị ứng

Để tránh được những phản ứng mạnh, điều quan trọng nhất trong thực tế là sau khi tiêm phòng cần theo dõi con vật khoảng 1-2 giờ đồng hồ Nếu có phản ứng thì phải can thiệp bằng thuốc ngay

1.1.1.5 Khái niệm các biện pháp phòng bệnh bắt buộc:

Các biện pháp phòng bệnh bắt buộc là việc bắt buộc sử dụng các vắc xin, thuốc thú y, chế phẩm sinh học, vi sinh vật, hóa chất dùng trong thú y để phòng bệnh cho động vật; bắt buộc các biện pháp vệ sinh trong chăn nuôi

Trong thực tế các biện pháp phòng bệnh bắt buộc là các biện pháp được dùng chủ yếu trong công tác phòng dịch Vì vậy nó vừa mang tính chất bắt buộc nhưng

đó cũng là dựa vào tinh thần tự nguyện của các đối tượng tham gia

1.1.1.6 Khái niệm kiểm soát giết mổ động vật:

Kiểm soát giết mổ động vật là là việc, kiểm tra, xét nghiệm để phát hiện đối tượng kiểm soát giết mổ động vật trước, trong và sau khi giết mổ

Đối tượng kiểm soát giết mổ động vật là các yếu tố gây bệnh cho động vật,

có hại chó sức khỏe con người, bao gồm các vi sinh vật, ký sinh trùng, trứng và ấu trùng của ký sinh trùng

Công tác giết mổ chỉ những người có thẻ thú y viên mới được thực hiên và

có các con dấu riêng tại địa phương Thông thường đó là các cán bộ thú y cấp huyện trở lên, kèm theo đó là các văn bản kiểm tra, xử lí

1.1.1.7 Kiểm tra vệ sinh thú y:

Trang 17

Kiểm tra vệ sinh thú y là việc thực hiện các biện pháp kỹ thuật để phát hiện đối tượng kiểm tra vệ sinh thú y

Đối tượng kiểm tra vệ sinh thú y là các yếu tố gây bệnh, gây hại cho con người, động vật bao gồm các vi sinh vật,ký sinh trùng, trứng và ấu trùng của ký sinh trùng, độ ẩm, độ bụi, ánh sang, độ ồn, khí độc, chất độc và các yếu tố môi trường khác ảnh hưởng đến sức khỏe con người, sức khỏe động vật và vệ sinh môi trường

1.1.2 Một số qui định, văn bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu:

Tuy nhiên, những năm gần đây, trong quá trình “ Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa” đất nước, Đảng và Nhà nước ta khuyến khích phát triển nền chăn nuôi hàng hóa, tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế, quản lí an toàn vệ sinh thực phẩm Vì vậy, PLTY cần phải được sửa đổi cho phù hợp với các văn bản pháp luật, các qui định, tiêu chuẩn có liên quan trong thời kỳ mới

Thực hiện Nghị quyết số 12/2002/QH 11 của Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ

2 về chương trình xây dựng Luật, Pháp lênh của Quốc hội, PLTY được soạn thảo trên cơ sở đúc rút các kinh nghiệm qua quá trình triển khai thực hiện pháp luật về thú y năm 1993, nghiên cứu, tổng hợp luật Thú y Quốc tế của OIE , luật Thú y của các nước trên thế giới, PLTY cũng được lấy ý kiến từ địa phương, các Bộ ngành,

Trang 18

các chuyên gia thuộc các dự án quốc tế đang làm việc tại Việt Nam và rút kinh nghiệm, bổ sung các vấn đề liên quan trong việc phòng chống các dịch bệnh động vật nguy hiểm xảy ra trên thế giới và ở Việt Nam

Pháp lệnh thú y được Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam(khóa XI) thông qua ngày 29/4/2004 và được Chủ tịch nước ký lênh công bố số 06/2001/L/CTN ngày 12/5/2004

Pháp lệnh Thú y có hiệu lực từ ngày 1/10/2004 Căn cứ vào PLTY, Chính phủ ban hành Nghị định về hướng dẫn thi hành Pháp lệnh, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú y… Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Thủy sản trong phạm vi trách nhiệm quản lí nhà nước về thú y, căn cứ Pháp lệnh thú y, Nghị định của chính phủ ban hành các Nghị quyết, Thông tư, Qui định về các tiêu chuẩn vệ sinh thú y được áp dụng trong chăn nuôi, kiểm dịch động vật, kiểm soát giết mổ,kiểm tra vệ sinh thú y, sản xuất, kinh doanh thuốc thú y, các thủ tục về kiểm dịch… Các Thông

tư liên Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ thủy sản với các bộ liên quan

* Mục đích và yêu cầu Pháp lệnh Thú y

- Mục đích của PLTY là tăng cường hiệu lực quản lí nhà nước, nâng cao hiệu quả của việc phòng bệnh, chữa bệnh, ngăn chặn dịch bệnh lây lan nhằm bảo vệ và phát triển động vật, cung cấp động vật, sản phẩm động vật có chất lượng cao, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm cho tiêu dung trong nước và xuất khẩu, bảo vệ sức khỏe con người và môi trường sinh thái, xã hội hóa các hoạt động thú y

- Với mục đích trên, PLTY đã giải quyết các yêu cần sau:

+ Tăng cường hiệu lực quản lí nhà nước theo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa: các cơ quan trong bộ máy nhà nước đều phải tổ chức và hoạt động đúng qui định của các văn bản pháp luật, các công chức khi thi hành công vụ phải thực hiện đúng quyền hạn và nghĩa vụ của mình; phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát

và xử lí nghiêm minh các vi phạm pháp luật, bảo đảm công bằng xã hội

+ Nâng cao ý thức pháp luật của mọi người đối với các hoạt động liên quan đến thú y Tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế đều có quyền và được khuyến khích tham gia trong các hoạt động liên quan đến thú y nhưng có nghĩa vụ phải tuân theo pháp luật về thú y, các pháp luật khác có lien quan và đều được bình đẳng trước pháp luật

Trang 19

+ Nâng cao hiệu quả của hoạt động thú y trong việc phòng, chữa bệnh, chống dịch bệnh cho động vật; kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật, kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y; quản lí thuốc thú y

+ Qui định tránh nhiệm của chính quyền các cấp, cơ quan nhà nước, cá nhân trong hoạt động thú y nhằm bảo vệ và phát triển động vật, ngăn chặn dịch bệnh động vật lây lan trong nước và từ nước ngoài vào; bảo vệ sức khỏe cho con người

và môi trường sinh thái, bảo vệ lợi ích cho người chăn nuôi và toàn xã hội

* Phòng bệnh dịch cho động vật trong PLTY:

+ Nội dung phòng dịch bệnh cho động vật:

 Thực hiện các biện pháp phòng bệnh, chẩn đoán bệnh

+ Trách nhiệm cơ quan nhà nước trong phòng dịch bệnh động vật:

 Thủ Tướng chính phủ thành lập Ban chỉ đạo quốc gia phòng chống dịch bệnh động vật; quyết định sử dụng nguồn tài chính chống dịch lấy từ quĩ phòng chống dịch bệnh cho động vật để thực hiện các biện pháp phục vụ cho công tác

 Bộ NN và PTNT, Bộ Thủy sản có trách nhiệm: Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, qui hoạch, kế hoạch phòng dịch bệnh cho đông vật; Quy định điều kiện, thủ tục công nhận vùng, cở sở an toàn dịch bệnh động vật; chỉ đạo thực hiện phòng bệnh trong cả nước

 UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương( UBND cấp tỉnh) có trách nhiệm:

tổ chức thực hiện việc phòng bệnh động vật trong phạm vi địa phương; quyết định công bố dịch, vùng có dịch trong phạm vi địa phương; thành lập ban chỉ đạo phòng chống dịch bệnh động vật của tỉnh theo chỉ đạo của chính phủ

Trang 20

 UBND các cấp có trách nhiệm tổ chức chỉ đạo phòng, chống dịch bệnh, thông báo dịch bệnh; xây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh động vật

+ Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc phòng bệnh cho động vật:

 Chủ vật nuôi phải thực hiện các qui định về điều kiện vệ sinh thú y trong chăn nuôi qui định tại PLTY và thực hiện các biện pháp phòng bệnh thích hợp cho động vật nuôi

 Tổ chức, cá nhân khi sử dụng thuốc thú y chế phẩm sinh học, vi sinh vật, hóa chất dung trong thú y để phòng bệnh có trách nhiệm: Sử dụng các loại trên phải có trong danh mục thuốc thú y được phép lưu hành tại Việt Nam; Thực hiện đúng hướng dẫn sử dụng của bác sỹ, kỹ thuật viên của cơ quan thú y, người được phép hành nghề thú y

+ Điều kiện vệ sinh thú y trong chăn nuôi:

 Chuồng trại, nơi chăn nuôi khác phải được vệ sinh, khủ trùng tiêu độc, diệt mầm bệnh, các loài động vật trung gian truyền bệnh định kỳ và sau mỗi đợt nuôi

 Dụng cụ dung trong chăn nuôi phải được vệ sinh trước khi đưa vào sử dụng

 Con giống phải đảm bảo tiêu chuẩn giống vật nuôi theo quy định của pháp luật

về giống vật nuôi, không mang mầm bệnh truyền nhiễm, đã được kiểm dịch và áp

dụng các biện pháp phòng dịch bắt buộc

 Thức ăn chăn nuôi phải đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh thú y, không gây hại cho động vât và người sử dụng sản phẩm động vật

 Nước sử dụng cho chăn nuôi phải sạch, không gây hại cho bệnh động vật

 Động vật đưa ra các bãi chăn thả phải khỏe mạnh, không mang mầm bệnh truyền nhiễm, ký sinh trùng gây bệnh nguy hiểm

* Chăm sóc sức khỏe động vật

 Vật nuôi trên cạn phải đảm bảo các điều kiện sau đây: Được cung cấp đầy đủ nước, thức ăn phù hợp với từng loài; có chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh thú phải phù hợp từng loài vật nuôi; được phòng bệnh kịp thời

+ Xây dựng vùng, cở sở an toàn dịch bệnh, những vùng được công nhận là:

 Đảm bảo điều kiện tiêu chuẩn, vệ sinh thú y

 Thực hiện các biện pháp phòng bệnh thích hợp, kiểm dịch động vật, kiểm tra điều kiện vệ sinh thú y

Trang 21

 Đã đăng kí và được thẩm định đạt tiêu chuẩn vệ sinh thú y đối với vùng, cở sở an

nguồn khác theo qui định của pháp luật

 Quỹ phòng chống dịch bệnh động vật được thành lập ở trung ương và cấp tỉnh Việc lập, chế đọ quản lí, sử dụng quỹ phòng, chống dịch bệnh động vật do Chính

Chỉ thị số 2349/ CT_BNT_TY, ngày 06 tháng 8 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ

NN và PTNT ban hành về việc đẩy mạnh công tác tiêm phòng vắc xin cho gia súc, gia cầm nhằm khắc phục tình hình dịch bệnh trên gia súc, gia cầm, góp phần thúc đẩy tăng trưởng ngành chăn nuôi, giảm thiểu thiệt hại cho người chăn nuôi, tiết kiệm ngân sách nhà nước hỗ trợ chủ chăn nuôi có gia súc, gia cầm bị tiêu hủy

* Về việc tiêm phòng vắc xin:

UBND các tỉnh, thành phố chỉ đạo xây dựng và phê duyệt kế hoạch tiêm phòng vắc xin hàng năm đối với bệnh thuộc các danh mục phải tiêm phòng tại

Trang 22

Quyết định Số 63/2005/QĐ-BNN ban hành ngày 13 tháng 5 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ NN và PTNT Đồng thời ra chỉ thị yêu cầu các cấp chính quyền các ngành có lien quan của địa phương và người chăn nuôi thực hiện nghiêm túc kế hoạch của địa phương; tỷ lệ tiêm phòng phải đạt 100% theo quy định Việc tiêm phòng bổ sung vắc xin cho gia súc, gia cầm được thực hiện lien tục giữa các đợt tiêm chính Cơ quan thú y có thẩm quyền tại địa phương phải lập sổ tho dõi tiêm phòng, cấp giấy chứng nhận tiem phòng để đói chiếu khi cần thiết và tạo cơ sở cho việc cấp giấy kiểm dịch vận chuyển động vật

* Về công tác thông tin, tuyên truyền:

UBND các tỉnh, thành phố chỉ đaọ sở Thông tin và Truyền thông xây dựng

kế hoạch truyền thông, tổ chức tuyên truyền đến tận hộ chăn nuôi về Quy định tiêm phòng đối với các bênh bắt buộc

Tuyên truyền chủ trương của chính phủ trong việc hỗ trợ người chăn nuôi có gia súc, gia cầm bị tiêu hủy, theo đó chỉ những người chăn nuôi gia súc, gia cầm chấp hành các quy định về phòng choogs dịch bệnh mới được nhận hỗ trợ thoe quyết định số 719/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ

* Về chế độ báo cáo:

Kế hoạch tiêm phòng của địa phương, sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt phải được gửi về Bộ NN và PTNT( Cục Thú y) để giám sát, theo dõi việc thực hiện

Căn cứ vào Kế hoạch tiêm phòng, hàng quý Sở NN và PTNT phải có báo cáo bằng văn bản về công tác tiêm phòng vắc xin tại địa phương sau mỗi đợt, bao gồm( tính theo đơn vị cấp huyện): Tổng đàn gia súc, gia cầm của địa phương; số lượng gia súc, gia cầm được tiêm phòng tương ứng với từng loại bệnh; thời gian triển khai tiêm phòng đối với từng loại bệnh ; chủng vắc xin sử dụng…

* Tổ chức thực hiện:

UBND cấp tỉnh chỉ thị về việc tiem phòng bắt buộc đối với các loại dịch bệnh nguy hiểm theo quy định; giao cho sở NN và PTNT ( chi cục Thú y tỉnh) và UBND huyện triển khai thực hiện; giao cho sở Thông tin và Truyền thông, các cơ quan thông tấn báo chí của địa phương, chính sách của chính phủ, của địa phương trong việc tiêm phòng

Trang 23

UBND cấp huyện phối hợp với Chi cục Thú y tỉnh tổ chức thực hiện Kế hoạch tiem phòng, bao gồm: tổ chức tập huấn kĩ thuật tiêm phòng, chuẩn bị cung ứng vắc xin, dụng cụ tiêm phòng, đồng thời chỉ đạo chính quyền cấp xã tổ chức hỗ trợ lực lượng tiêm phòng

Chi cục Thú y tỉnh chịu trách nhiệm hướng dẫn, giám sát, đôn đốc, kiểm tra các địa phương xây dựng và thực hiện kế hoạch tiêm phòng vắc xin hàng năm đối với các bệnh phải tiêm phòng bắt buôc theo quy định; tổng hợp các kết quả tiêm phòng vắc xin của địa phương để Bộ báo cáo Thủ tướng chính phủ

1.1.2.4 Quyết định số: 80/2008/QĐ- BNN:

Quyết định số: 80/2008/QĐ- BNN ngày 15 tháng 7 năm 2008 của Bộ trưởng

Bộ NN và PTNT, Ban hành quy định phòng, chống Hội chứng rối loạn sinh sản và

hô hấp ở Lợn

1.1.3 Vai trò công tác phòng dịch và công tác thú y trong chăn nuôi:

Công tác phòng dịch và công tác thú y đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống nói chung và chăn nuôi gia súc nói riêng Nguyên tắc “ phòng bệnh hơn chữa bệnh” đã được Tổ chức Thú Y thế giới(OIE) đề cập nhiều trong các Quyết định công tác phòng chống dịch bệnh động vật Nhìn nhận chung trên thế giới và ở Việt Nam, công tác phòng dịch và công tác thú y có ý nghĩa như:

- Ngăn ngừa các dịch bệnh có thể xảy ra, hạn chế thiệt hại cho ngành chăn nuôi

- Tạo được hệ thống miễn dịch cho gia súc giúp con vật phát triển tốt hơn, mạng lại hiệu quả và thu nhập cao hơn cho ngành chăn nuôi

- Góp phần bảo vệ và cải tạo môi trường

- Phòng bệnh cho động vật cũng đồng nghĩa bảo vệ sức khỏe cho con người, hướng tới cho một xã hội phát triển bền vững

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài:

1.2.1 Công tác phòng dịch bệnh gia súc trên thế giới :

1.2.1.1 Tổ chức Thú Y thế giới (OIE) với công tác phòng dịch bệnh cho động vật

OIE là tổ chức Thú Y thế giới được thành lập năm 1924 với sự thỏa thuận của 28 nước thành viên, cho đến thời điểm hiện tại đã lên tới 176 thành viên chính thức Tổ chức được thành lập nhằm bảo đảm sự minh bạnh trên toàn cầu về bệnh dịch và hiện trạng bệnh dịch trên động vật, công bố các tiêu chuẩn trong buôn bán

Trang 24

động vật và sản phẩm động vật, tăng cường khả năng thú y cải thiện an toàn thực phẩm, xác minh các động vật có nguồn gốc, tăng cường bảo vệ động vật trên cơ sở khoa học Cơ quan thú y trung ương, trung tâm của hệ thống thú y, sẽ không hoàn thành được nhiệm vụ này nếu như không có hệ thông băn bản pháp lý phù hợp và các công cụ cần thiết để thực thi pháp luật Đây chính là cơ sở của việc quản lý tốt thú y Một hệ thống thú y quốc gia phù hợp phải đảm bảo: Phát hiện dịch bệnh sớm

và thông báo ngay các ổ dịch một cách minh bạch, không dấu dịch; ứng phó nhanh

để dập tắt dịch, kể cả việc sử dụng tiêm phòng nếu cần thiết và phù hợp; áp dụng các biện pháp an toàn sinh học và phòng ngừa sinh học; và có chiến lược đền bù cho người chăn nuôi

Theo OIE, Thú y đóng một vai trò quan trọng trong các vấn đề liên quan đến sức khoẻ động vật và sức khoẻ cộng đồng Nhiệm vụ của ngành thú y là giám sát sức khoẻ động vật, phát hiện sớm và ứng phó nhanh đối với các bệnh dịch động vật OIE cho rằng cần phải tăng cường năng lực Thú y ở mỗi nước Theo OIE, trong kỷ nguyên toàn cầu hoá này, sự phát triển và tăng trưởng của nhiều quốc gia cũng như việc ngăn ngừa và kiểm soát thảm hoạ sinh học lớn phụ thuộc vào việc thực hiện các chính sách nông nghiệp, lương thực và kinh tế của nước đó, điều này cũng liên quan trực tiếp đến chất lượng công tác thú y của chính quốc gia đó Để tăng cường

và hỗ trợ công tác thú y tuân theo tiêu chuẩn quốc tế, OIE đã xây dựng Bộ công cụ đánh giá công tác thú y (OIE PVS Tool) OIE PVS Tool được thiết kế để hỗ trợ công tác thú y thiết lập mức độ hoạt động, tìm ra những mặt còn thiết và yếu trong khả năng thích ứng với tiêu chuẩn của OIE, hình thành việc chia sẻ tầm nhìn với các đối tác, thiết lập các vấn đề ưu tiên và đưa ra các sáng kiến mang tính chiến lược

Một lĩnh vực khác trong công tác phòng dịch cho gia súc mà Thú y thế giới đang rất quan tâm là “Đối xử nhân đạo đối với động vật” Theo OIE, thú y là một tất yếu của đối xử nhân đạo đối với động vật sẽ được đưa vào trong Luật Thú y Việt Nam đang được soạn thảo

Với vai trò ngày càng trở nên quan trọng của ngành Thú y, tại thời điểm này việc nâng cao năng lực của các thành phần trong ngành trở thành một hoạt động quan trọng hơn bao giờ hết Công tác đào tạo cần được cải tiến cả về hình thức cũng như nội dung nhằm đáp ứng đòi hỏi của thực tĩên sản xuất Nhận thức ý nghĩa của

Trang 25

hoạt động này, tới đây OIE sẽ tổ chức Hội nghị toàn cầu các trưởng khoa, hiệu trưởng các khoa, trường thú y trên toàn thế giới từ ngày 12 – 14/10/2009 tại Paris, thủ đô nước Pháp nhằm kêu gọi sự cải tiến, nâng cao chất lượng đào tạo thú y trên phạm vi toàn cầu

Theo OIE thì trong thời đại toàn cầu hoá cần phải tập trung cho việc bảo đản

an toàn thực phẩm An toàn thực phẩm phải bắt đầu từ sản xuất, có thể giảm thiểu hoặc tránh được các rủi ro từ lúc đang chăn nuôi và nuôi trồng trong đó có việc phòng và chữa bệnh Tiếp theo để bảo đảm an toàn trong quá trình giết mổ lưu thông và chế biến, vì vậy, OIE và các tổ chức liên quan như FAO, WHO, CAC (Codex Alimentarius Commission) đã đưa ra khái niệm kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm “từ đồng đến đũa” (from farm to fork) Các thực phẩm chủ yếu đang mất

an toàn, gây tổn hại đến sức khoẻ mà chúng ta đang quan tâm là rau, thịt và thuỷ sản Và có thể nói cái gốc của việc kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm là từ sản xuất Nông nghiệp Cần có biện pháp chính sách để phân công, quản lý đảm bảo an toàn thực phẩm một cách hợp lý và có hiệu quả Đối tượng quản lý của ngành thú y bao gồm thịt, những loại thực phẩm tiền ẩn nguy cơ rất cao, vì vậy chúng ta cần đề xuất chương trình kế hoạc kiểm soát giám sát chặt chẽ từ chăn nuôi, nuôi trồng đến giết mổ chế biến và bảo quản cũng như lưu thông phân phối

Theo OIE, các dịch vụ thú y là nền tảng của hệ thống toàn cầu trong việc phòng dịch bệnh cho động vật Toàn cầu hóa là một yếu tố tạo điều kiện cho sự xuất hiện của các bệnh mới nổi và tái xuất hiện và phóng đại đáng kể tác động của

chúng Dịch vụ thú y quốc gia là rất quan trọng để phát hiện, phòng ngừa và giám sát dịch bệnh động vật, bao gồm các bệnh truyền nhiễm cho con người Họ đóng một vai trò quan trọng trong tất cả các nước là người bảo lãnh của sức khỏe động vật và của hiệp hội, y tế công cộng Nhiệm vụ của họ là trách nhiệm của các cơ quan công quyền, với sự tham gia của các đối tác khu vực tư nhân Ở nhiều nước, phát triển và tăng trưởng phụ thuộc vào hiệu suất nông nghiệp, về chất lượng, sản xuất và an toàn của sản phẩm có nguồn gốc động vật Hiệu quả hoạt động liên quan trực tiếp đến chất lượng của dịch vụ thú y quốc gia Để có hiệu quả, dịch vụ thú y phải hoạt động theo nguyên tắc khoa học và minh bạch đầy đủ, có kỹ thuật độc lập

và tự do của áp lực chính trị và khu vực tư nhân OIE nhắc lại lời khẳng định rằng

Trang 26

dịch vụ thú y công cộng toàn cầu và đưa chúng vào phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế (cơ cấu, tổ chức, nguồn lực, năng lực, vai trò của khu vực tư nhân và bán chuyên

nghiệp) là một ưu tiên đầu tư công cộng

OIE tiến hành để sản xuất các tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng quản trị của các dịch vụ thú y và giúp đỡ các nước thành viên áp dụng chúng Các tiêu chuẩn của OIE về chất lượng và đánh giá của dịch vụ thú y là dân chủ và nhất trí thông qua bởi 167 thành viên Đối với những lý do trên, công việc của các dịch vụ thú y được công nhận là một lợi ích chung toàn cầu Các nước giàu cũng thừa nhận rằng

hỗ trợ cho các dịch vụ thú y trong phát triển và nước đang chuyển đổi là một ưu tiên, không chỉ để thúc đẩy phát triển trên thế giới, mà còn để bảo vệ thế giới chống lại sự lây lan của dịch bệnh động vật và các bệnh lây đã được loại trừ

OIE của chuyên môn hiện tại là cốt lõi của chương trình quốc gia dành cho hơn 100 quốc gia thành viên để giúp họ tăng cường dịch vụ thú y và bảo vệ hành tinh chống lại thảm họa sinh học tự nhiên hay cố ý

1.2.1.2 Tổ chức Nông lương Thế giới(FAO) với công tác phòng dịch bệnh động vật nuôi:

FAO được thành lập vào ngày 16 tháng 10 năm 1945 với vai trò là một cơ quan chuyên môn của Liện Hiệp Quốc, năm 1951 thì trụ sở được đặt tại Washington( Mỹ), sau đó chuyển về Rome (Ý), đến ngày 8 tháng 8 năm 2008, FAO

đã có tới 193 thành viên

Cùng với OIE, FAO cũng đã có nhiều chương trình, chiến lược trong việc phòng chống dịch bệnh nói chung và của động vật nói riêng

Gần đây nhất ,ngày 26/7/2010, Tổ chức Lương - Nông Liên hợp quốc (FAO)

đã công bố chiến lược mới nhằm phát hiện và kiểm soát hiệu quả các dịnh bệnh trên gia súc, qua đó giúp tiết kiệm một khoản tiền lướn cho chính phủ các nước.Trên cơ

sở kinh nghiệm của mình cùng sự hợp tác hỗ trợ của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO)

và Tổ chức Thú y Thế giới OIE, FAO đưa ra sáng kiến "Một Sức khỏe" nhằm nâng cao khả năng ứng phó toàn cầu đối với các đợt bùng phát dịch bệnh trên gia súc, đồng thời thực hiện hiệu quả các chiến lược phòng chống dịch bệnh và hạn chế rủi

ro

Trang 27

Sáng kiến "Một sức khỏe" bao gồm các hoạt động: phát triển hệ thống cảnh báo và phát hiện sớm; tăng cường khả năng theo dõi và phản ứng; xác định và đánh giá các nguyên nhân gây bệnh trong quá trình chăn nuôi gia súc và quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên

Ngoài ra trong sáng kiến còn có việc tăng cường khả năng của dịch vụ thú y công trong việc chuẩn bị, phòng ngừa và đối phó với tình huống dịch bệnh ở gia súc; đánh giá các tác động xã hội và kinh tế của dịch bệnh; sự liên đới giữa lĩnh vực

tư nhân và lĩnh vực công trong vấn đề y tế đối với gia súc và động vật hoang dã FAO cho rằng lở mồm long móng, sốt Rift Valley và bệnh dại là một trong những đợt dịch bệnh ở gia súc gần đây có ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và cuộc sống của con người

Việc sử dụng đất, những thay đổi về sinh thái, sự phát triển của thương mại

và con đường buôn bán đã tạo ra những thách thức mới cho việc phòng chống dịch bệnh ở gia súc Công cuộc đô thị hóa và nhu cầu về thịt, sữa, trứng tăng lên cũng có những tác động đáng kể

FAO cho rằng những thiệt hại đối với sức khỏe con người, động vật và cây cối cũng như những thiệt hại về mặt kinh tế do các dịch bệnh ở gia súc gây ra sẽ tiếp tục tăng lên trong những thập kỷ tới

Tại các nước đang phát triển, các dịch bệnh còn gây ra những mối đe dọa trực tiếp đối với an ninh lương thực, dinh dưỡng và thu nhập của các cộng đồng dân

cư ở vùng nông thôn

1.2.2 Các công tác, biện pháp phòng dịch bệnh ở Việt Nam thời gian qua:

Phòng chống dịch bệnh luôn được xem là nhiệm vụ trung tâm của toàn bộ hệ thống thú y Từ năm 2010 tuy còn nhiều khó khăn, bất cập nhưng các bệnh nguy hiểm của vật nuôi đã dần được khống chế Tuy nhiên vẫn còn một số dịch bệnh nguy hiểm xảy ra như: Dịch Tai xanh (PRRS) cũng đã xảy ra ở 26 tỉnh/thành phố trong năm 2008 và đầu năm 2009 dịch vẫn xảy ra ở 6 tỉnh, tuy nhiên 3 tháng gần đây bệnh không còn xảy ra Bệnh lở mồm long móng xảy ra ở 14 tỉnh trong năm

2008 và 17 tỉnh/thành phố đầu năm 2009, so sánh với văn 2007 thì mức độ dịch đã giảm rõ rệt, cụ thể số tỉnh, huyện, xã có dịch đã giảm từ 60 – 90%; số gia súc mắc bệnh giảm gần 90% Các bệnh khác như Dại, Dịch tả lợn, Tụ huyết trùng, Đóng dấu

Trang 28

lợn, Phó thương hàn, Newcastle, Gumboro, Nhiệt thán, Giun bao … vẫn còn xảy ra nhưng không thành dịch lớn

Trước tình hình đó, để hạn chế tối đa thiệt hại về kinh tế và môi trường, Cục Thú Y Việt Nam đã có các chiến lược quan trọng trong công tác phòng dịch bệnh cho động vật nuôi nói chung và gia súc nói riêng

Hệ thống chẩn đoán, xét nghiệm ngày một phát triển đã phục vụ đắc lực cho công tác phòng chống dịch bệnh Đứng đầu trong hệ thống này là Trung tâm chẩn đoán Thú y Trung ương, một cơ quan chuyên ngành của Cục Thú y Trung tâm đã được giao nhiệm vụ liên kết các phòng thí nghiệm Thú y trong cả nước (Viện Thú

y, Phân viện thú y Miền trung, 07 phòng thí nghiệm của các cơ quan thú y vùng, các phòng thí nghiệm của các Chi cục thú y …), tạo thành mạng lưới phòng thí nghiệm chẩn đoán, xét nghiệm bệnh động vật để chia sẻ thông tin chẩn đoán xét nghiệm qua mạng lưới điện tử (LabNet) Cuối năm 2008, phòng thí nghiệm của Trung tâm đã được Văn phòng công nhận chất lượng VILAS đánh giá, công nhận

và cấp chứng chủ ISO/IEC 17025 về vi sinh Ngoài ra, nhiều phòng thí nghiệm đã được trang bị những máy móc hiện đại, nhiều kỹ thuật tiên tiến như ELISA, PCR, Realtime PCR … được áp dụng trong chẩn đoán đã rút ngắn thời gian và cho kết quả chẩn đoán chính xác, giúp công tác phòng chống dịch được kịp thời, không để dịch lan rộng, tránh được tổn thất cho người chăn nuôi và tránh được ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội Để giúp Ban lãnh đạo Cục Thú y về chiến lược phát triển hệ thống chẩn đoán xét nghiệm thú y tại Việt Nam, Cục Thú y đã thành lập Tổ công tác tư vấn xét nghiệm dịch bệnh động vật và kể từ khi thành lập Tổ công tác đã có những đóng góp tích cực và hiệu quả cho hoạt động của hệ thống chẩn đoán thú y nói chung và tư vấn ban hành các quy trình chẩn đoán bệnh nói riêng

Kiểm dịch động vật đang đứng trước một thách thức lớn khi việc xuất nhập khẩu tăng không nhiều, có khi giảm do không đáp ứng được yêu cầu nước nhập, trong khi đó số lượng nhập khẩu đã tăng lên đáng kể do chênh lệch giá và hàng rào

kỹ thuật của Việt Nam còn thấp Năm 2008, tại các cửa khẩu quốc tế đã kiểm dịch nhập khẩu được 2.309.921 động vật sống và 531.088 tấn sản phẩm động vật, trong khi đó kiểm dịch xuất khẩu được 692.421 động vật và 93.596 tấn sản phẩm động vật Không những thế, việc buôn lậu động vật và sản phẩm động vật qua biên giới

Trang 29

diễn biến ngày một phức tạp Việc nhập lậu trâu bò ở biên giới Tây Nam đã nhiều lần làm lây lan bệnh LMLM từ nước ngoài vào Việt Nam Đó là những khó khăn và thách thức đối với công tác kiểm dịch trong thời kỳ hội nhập

Vì vậy Cục Thú Y quốc gia đã xây dựng chương trình quản lí kiểm dịch động vật, giết mổ tập trung với sự kiểm soát chặt chẽ của thú y không chỉ bảo đảm

an toàn vệ sinh thực phẩm, ngăn ngừa sự truyền lây bệnh từ động vật sang người mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc khống chế dịch bệnh Nhìn chung, giết mổ gia súc, gia cầm tập trung đã có chuyển biến, nhiều địa phương vẫn duy trì được giết mổ tập trung và thực hiện tốt công tác kiểm soát giết mổ, tạo được lòng tin của người tiêu dùng, như: Tp Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Long An, Bình Dương, Bình Phước, Thừa Thiên Huế … Nhiều tỉnh đã thực hiện tốt việc kiểm soát giết mổ tại các thành phố, thị xã, thị trấn và có kế hoạch triển khai xuống các xã, như Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Lào Cai, Quảng Ninh, Hải Phòng … Nhưng hiện tượng giết mổ bừa bãi, thiếu sự kiểm soát của thú y không đảm bảo vệ sinh thú y và an toàn vệ sinh thực phẩm còn xảy ra phổ biến ở nhiều địa phương Bên cạnh đó, công tác kiểm tra vệ sinh thú y đã được thực hiện nhưng chủ yếu phục vụ xuất khẩu và cơ

sở giống quốc gia

Quản lý thuốc cũng đang là một lĩnh vực cần quan tâm trong thời kỳ hội nhập Theo quy định “không phân biệt đối xử” của Tổ chức Thương mại thế giới thì các mặt hàng thuốc thú y sản xuất trong nước và thuốc nhập từ nước ngoài phải được đối xử như nhau, nếu yêu cầu thuốc nhập phải có chứng chỉ thực hiện tốt sản xuất thuốc (GMP) thì hàng sản xuất trong nước cũng phải như vậy Trước tình hình

đó, Cục Thú y đã trình và được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt

lộ trình thực hiện GMP trong sản xuất thuốc thú y Căn cứ vào lộ trình, Cục Thú y

đã hướng dẫn các doanh nghiệp triển khai thực hiện GMP, tiếp nhận hồ sơ đăng ký GMP và tư vấn các doanh nghiệp mặt bằng công nghệ nhà máy GMP Theo khảo sát của Cục Thú y, đến nay cả nước đã có 8 doanh nghiệp được cấp chứng chỉ GMP, 2 doanh nghiệp đang xây dựng nhà máy mới theo GMP, 6 doanh nghiệp có nhu cầu cải tạo nâng cấp cơ sở sản xuất cũ theo GMP, 11 doanh nghiệp có dự án hoặc dự định xây dựng nhà máy sản xuất thuốc thú y theo GMP

Trang 30

Công tác quản lý thuốc ở địa phương cũng được quan tâm, nhiều Chi cục Thú y tỉnh đã mở lớp tập huấn hướng dẫn người kinh doanh thực hiện đúng các quy định về kinh doanh thuốc thú y Ngoài ra, các Chi cục còn tích cực kiểm tra và thanh tra việc kinh doanh thuốc thú y trên địa bàn của tỉnhm nhằm phát hiện và xử

lý kịp thời các hành vi vi phạm

Hệ thống thanh tra chuyên ngành Thú y được thiết lập và ngày càng được củng cố Nghị định 40/2009/NĐ-CP về xử lý vi phạm hành chính trong thú y được ban hành đã giúp giải quyết những khó khăn trong công tác thanh tra, xử lý vi phạm hành chính Trong năm 2008 Thanh tra Cục phối hợp với các đơn vị liên quan tiến hành 10 cuộc thanh tra theo kế hoạch; phối hợp tổ chức trên 20 cuộc kiểm tra đột xuất tại các Chi cục Thú y trên cả nước; tổ chức các đoàn kiểm tra liên ngành, phối hợp với các Chi cục Thú y một số tỉnh/thành phố, tiến hành kiểm tra và lấy mẫu thuốc tại các cửa hàng; đã nộp 427 triệu đồng tiền phạt về tài khoản của Thanh tra

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Hợp tác quốc tế đang được đẩy mạng Là thành viên của Tổ chức Thú y Thế giới (OIE), Thú y Việt Nam đã tham gia tích cực vào các hoạt động và tranh thủ sự ủng hộ, giúp đõ của tổ chức này cũng như giúp đỡ các tổ chức quốc tế khác, như:

Tổ chức Nông lương Liên hiệp quốc (FAO), Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Ngân hàng thế giới (WB), Cơ quan Hợp tác phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID), Liên minh Châu Âu (EU), Tổ chức Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) … Hiện nay, riêng trong lĩnh vực phòng chống dịch bệnh đang chí nhiều dự án do cộng đồng quốc tế tài trợ, như: Chương trình chung Chính phủ và các Cơ quan Liên hợp quốc, Giai đoạn II, 2007-2010 (Hợp phần Thú y); Dự án do Niu-zi-lân tài trợ về “Xác định điều kiện để công nhận vùng sạch bệnh LMLM của Thái Bình và Nam Định”, Dự

án TCP/VIE/3104 về hỗ trợ khẩn cấp để chẩn đoán sớm, ứng phó kịp thời đối với PRRS và các bệnh liên quan khác ở lợn tại Việt Nam

Ngoài ra, ngành Thú y, cũng tăng cường, hợp tác với các nước, nhất là các nước ASEAN, các nước láng giềng như Trung Quốc, Lào, Capuchia đến nay, đã có

16 Hiệp định và Bản Thoả thuận hợp tác trong lĩnh vực thú y đã được ký giữa Việt Nam và các nước trên thế giới, trong đó có Trung Quốc, Lào và Campuchia

Trang 31

Công tác củng cố và tăng cường hệ thống thú y từ Trung ương đến cơ sở, cải thiện hệ thống điều hành, thiết lập quy trình hoạt động chuẩn (SOP); thiết lập một đơn vị pháp chế thú y và cải thiện hệ thống văn bản pháp chế; tăng cường quản lý việc kinh doanh và sử dụng thuốc thú y, an toàn vệ sinh thực phẩm, phát triển hệ thống chẩn đoán xét nghiệm đạt chuẩn; xây dựng được cơ sở dữ liệu quốc gia; thay đổi cách dạy và cải tiến giáo trình ở các trường đại học, trung cấp kỹ thuật …, đây cũng là những lĩnh vực mà ngành thú y quan tâm và đã được đưa vào Đề án “Tăng cường năng lực quản lý nhà nước chuyên ngành Thú y”

Tình hình dịch bệnh động vật tại Việt Nam trong những năm gần đây đã cho thấy việc nâng cao vai trò và tăng cường sự tham gia của người chăn nuôi nhỏ vào các chương trình phòng chống dịch bệnh động vật có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần đảm bảo tính bền vững của các kết quả khống chế bệnh

Tại Việt Nam, công tác đào tạo trong những năm gần đây mặc dù đã đóng góp nguồn nhân lực quan trọng cho xã hội những cũng bộc lộ những thiếu sót, chưa đáp ứng hiệu quả yêu cầu của thực tế, đặc biệt là về lĩnh vực thú y cộng đồng (veterinary public health) và khống chế dịch bệnh trên quần thể Công tác đào tạo cần được cải tiến cả về hình thức cũng như nội dung nhằm đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn sản xuất và phục vụ cho công tác phòng chống dịch bệnhTrong thời gian tới ngành thú y Việt Nam tổ chức công tác nghiên cứu khoa học, ứng dụng khoa học công nghệ một cách có hiệu quả hơn, nhằm chủ động “đón đầu” chẩn đoán phát hiện kịp thời các bệnh “lạ” bệnh “mới”, cũng như các “công cụ” để phòng chống hiệu quả khi dịch bệnh xảy ra

Trang 32

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu:

- Những tổ chức, cá nhân tham gia công tác phòng dịch bệnh ở gia súc trên

địa bàn huyện Tân Kỳ, mẫu các hộ tại 3 xã: Nghĩa Phúc, Nghĩa Dũng, Tân An

- Các vấn đề liên quan đến quá trình công tác phòng dịch gia súc như: thời gian tổ chức phòng dịch; phòng dịch cho những đối tượng nào? thái độ tham gia của

cá nhân, tổ chức; những loại thuốc, vắc xin được dùng; xây dựng quỹ, kinh phí, tổ chức thực hiện…

2.1.2.Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi nội dung:

Đề tài tập trung nghiên cứu, đánh giá công tác phòng dịch gia súc trên địa bàn huyện Tân Kỳ trong 3 năm: 2009, 2010, 2011 Tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn gặp phải trong quá trình thực hiện công tác phòng dịch Từ đó tìm ta một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng dịch gia súc trên địa bàn huyện trong thời gian tới

- Phạm vi không gian:

Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên địa bàn huyện Tân Kỳ với tiêu điểm tại 3 xã: Nghĩa Phúc, Nghĩa Dũng, Tân An

-Phạm vi thời gian:

Số liệu được thu thập trong 3 năm : 2009, 2010, 2011

Thời gian thực hiện đề tài: từ 08/02/2012 đến 10/5/2012

2.2 Nội dung nghiên cứu:

Với đề tài: “Đánh giá công tác phòng dịch bệnh đàn gia súc trên địa bàn huyện Tân

Kỳ giai đoạn 2009-2011” Nội dung nghiên cứu của đề tài là:

- Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu và ảnh hưởng của nó tới công tác phòng dịch bệnh cho gia súc trên đia bàn Huyện Tân Kỳ

- Hệ thống các phương pháp phòng dịch bệnh cho đàn gia súc

- Điều tra, đánh giá các hoạt động trong các nội dung của công tác phòng dịch cho đàn gia súc trên địa bàn huyện Tân Kỳ

Trang 33

- So sánh hiệu quả của công tác tiêm phòng cho đàn gia súc qua các năm 2009,

- Giải pháp khắc phục những điều kiện khó khăn nhằm nâng cao hơn công tác phòng dịch bệnh gia súc trong huyện trong thời gian tới

2.3 Phương pháp nghiên cứu:

2.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

Trong phương pháp nghiên cứu, phương pháp chọn điểm nghiên cứu là phương pháp quan trọng và không thể thiếu được Bởi vì tổng thể nghiên cứu thì rộng lớn nên chúng ta không thể nghiên cứu cả tổng thể được, vì vậy yêu cầu đặt ra

là phải lựa chọn điểm nghiên cứu như thế nào để có thể đại diện được cho tổng thể Kết quả nghiên cứu có thành công hay không phụ thuộc rất nhiều vào việc lựa chọn điểm nghiên cứu Nếu chọn được điểm nghiên cứu phù hợp, mang tính đại diện cho tổng thể thì từ điểm nghiên cứu sẽ giúp chúng ta suy rộng ra cả tổng thể Ngược lại nếu chọn điểm nghiên cứu không phù hợp, không mang tính đại diện sẽ dẫn đến sai lầm trong việc suy rộng cho tổng thể Do đó, việc lựa chọn điểm nghiên cứu phải căn cứ vào nội dung, mục tiêu, mục đích của vấn đề nghiên cứu

Áp dụng luận điểm trên vào đề tài nghiên cứu chúng tôi lựa chọn địa điểm tiến hành nghiên cứu tại 3 xã Nghĩa Phúc, Tân An, Nghĩa Dũng.Vì 3 xã này có những đặc điểm phù hợp với đề tài nghiên cứu

Trang 34

Bảng 2.1 Tổng hợp số mẫu điều tra đại diện cho các hộ chăn nuôi gia súc

của huyện Tân Kỳ

Xã điều tra Tổng hộ Hộ nuôi

trâu bò

Hộ nuôi lợn

Hộ nuôi gia cầm

Các loại khác

(Nguồn: Tổng hợp số liệu phiếu điều tra)

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu:

- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp:

+Sử dụng các tài liệu sẵn có trong sách báo, tạp chí trên Internet có liên quan

đến cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn, các tài liệu có liên quan đến các hoạt động

phòng dịch cho đàn gia súc

+ Sử dụng các tài liệu liên quan đến kỹ thuật, các báo cáo tổng kết công tác

thú y trong từng đợt, từng năm tại Trạm Thú y huyện Tân Kỳ

+ Các báo cáo tổng kết của địa phương, các số liệu tại phòng thống kê,

phòng nông nghiệp huyện Tân Kỳ

+ Các văn bản, chính sách do Nhà Nước ban hành liên quan đến công tác

phòng chống dịch bệnh cho đàn gia súc Các quyết định, chỉ thị Của Chi cục Thú

y tỉnh Nghệ An Các văn bản của công tác tham mưu, chỉ đạo của UBND huyện

Tân Kỳ

- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp:

+ Phương pháp phỏng vấn hộ:

Chúng tôi tiến hành chọn mẫu ngẫu nhiên không lặp để chọn ra 90 hộ nuôi

gia súc thuộc 3 xã đại diện cho toàn huyện, đó là xã Nghĩa Phúc là một trong những

xã có số lượng đàn gia súc lớn trong huyện song trình độ hình thức chăn nuôi còn

mang tính chất tự phát, chăn thả tự do; xã Tân An là xã có truyền thống lâu đời hơn,

xã có Nông Trường An Ngãi; xã Nghĩa Dũng là xã cũng có số lượng đàn gia súc lơn

song cũng bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố hơn so với các xã khác trong huyện Mỗi

Trang 35

xã điều tra 30 hộ, để phỏng vấn thu thập các vấn đề có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

+ Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo:

Là phương pháp dựa trên cơ sở thu thập ý kiến của thầy cô giáo hướng dẫn, cán bộ nghiên cứu, những người có chuyên môn kinh nghiệm về công tác thú y, công tác phòng dịch gia súc để tìm hiểu sâu và rộng hơn về vấn đề mình nghiên cứu

+ Thảo luận nhóm:

Nhằm mục đích tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn mà người dân gặp phải trong thực tế thực hiện công tác phòng dịch bệnh cho đàn gia súc cũng như những nhu cầu, mong muốn của bà con để tăng cường hơn nữa công tác và hiệu quả của công tác phòng dịch bệnh cho đàn gia súc

+ Quan sát trực tiếp:

Các hoạt động tham gia của bà con đối với các đợt tiêm phòng văc xin, tiêu độc khử trùng, vệ sinh chuồng trại…

2.3.2 Phương pháp xử lí số liệu:

- Đối với tài liệu sơ cấp:

Đây chủ yếu là các tài liệu có được từ điều tra trực tiếp người dân tham gia, cán bộ Thú y cấp huyện, xã và thú y viên Sau khi đã có những chỉ tiêu cần thiết thì tiến hành tổng hợp qua hệ thống bảng biểu Xử lý các thông số bằng máy tính cá nhân, phần mềm Microsolf Excel 2003

- Đối với tài liệu thứ cấp:

Loại bỏ những tài liệu kém giá trị, sử dụng những tài liệu chính xác, xử lý tài liệu trên cơ sở tôn trọng những tài liệu gốc và sử dụng tài liệu có giá trị sát thực với

đề tài nghiên cứu của minh, đảm bảo độ tin cậy trong nghiên cứu khoa học

2.3.3 Phương pháp phân tích số liệu

- Phương pháp thống kê mô tả:

Đây là phương pháp được sử dụng nhiều trong phân tích số liệu Chúng tôi tiến hành phân tổ thống kê theo một số tiêu thức như vốn trình độ học vấn của các chủ hộ, các loại hình chăn nuôi, mức độ và ý thức trong công tác phòng dịch Từ

đó mô tả thực trạng và tình hình công tác phòng dịch bệnh cho đàn gia súc

Trang 36

- Phương pháp phân tích so sánh:

Thông qua phân bổ thống kê để so sánh kết quả, tình hình trong mức độ tham gia và hiệu quả của công tác phòng dịch qua các năm Từ kết quả so sánh, chúng tôi tiến hành phân tích để đánh giá được hiệu quả công tác phòng dịch, phân tích mong muốn và nguyện vọng trong công tác phòng dịch cho đàn gia súc sản trong thời gian tới

- Phương pháp phân tích định tính:

Sử dụng ma trận SWOT để phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức cũng như những thuận lợi và khó khăn của vùng tiến hành phòng dịch bệnh của huyện Căn cứ vào kết quả phân tích đó và cơ sở lý thuyết về thực trạng vùng tiến hành phòng dịch để đưa ra định hướng và một số giải pháp nhằm tăng cường và hiệu quả hơn nữa công tác phòng dịch cho đàn gia súc

Ma trận SWOT được sử dụng trong các buổi thảo luận nhóm theo các bước: Bước 1: Liệt kê các mặt mạnh (S)

Bước 2: Liệt kê các mặt yếu (W)

Bước 3: Liệt kê các cơ hội (O)

Bước 4: Liệt kê các nguy cơ (T)

2.4 Điều kiện cơ bản của khu vực nghiên cứu:

2.4.1 Điều kiện tự nhiên

2.4.1.1 Vị trí địa lý

Tân Kỳ là huyện miền núi thấp nằm phía Tây của tỉnh Nghệ An, có vị trí địa

lý từ 18’58 đến 19’32 vĩ độ Bắc và từ 105’ đến 105’14 kinh độ Đông cách thành phố Vinh 90 km về phía Tây Bắc Diện tích tự nhiên là 72.890.23ha, nằm gọn trong lưu vực sông Hiếu suốt chiều dài 60km

- Phía Bắc giáp huyện Quỳ Hợp

- Phía Tây giáp huyện Anh Sơn

- Phía Nam giáp huyện Đô Lương

- Phía Đông giáp huyện Yên Thành, Nghĩa Đàn

Trang 37

Với vị trí này, huyện Tân Kỳ có điều kiện để phát triển nền kinh tế đa dạng theo định hướng nông nghiệp hàng hóa - dịch vụ du lịch - thương mại - tiểu thủ công nghiệp

Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Tân Kỳ

2.4.1.2 Địa hình

Huyện Tân Kỳ có kiểu địa hình đồi núi trung bình, xung quanh có núi cao xen kẽ đồng bằng, đồi núi bị chia cắt bởi nhiều khe suối quanh co cho nên hàng năm thường bị hạn hán, lũ lụt giao thông đi lại khó khăn

- Độ cao trung bình của khu vực là 120m

Trang 38

đất đai mất dần sức sản xuất, nguồn nước bị suy thoái nhanh chóng, lòng hồ ngày càng bị bồi lắng

2.4.1.3 Khí hậu, thủy văn:

Tân Kỳ có khí hậu mang tính chất nhiệt đới nóng ẩm, nhiệt độ trung bình 23,5c lượng mưa bình quân trong năm tương đối cao 1.700mm/năm, phân bố không đều giữa các tháng trong năm và chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc Độ ẩm trung bình 86%

- Mùa khô hanh kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau

- Mùa nắng nóng, mưa lụt kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11

Về thủy văn và nguồn nước: Sông con chảy qua địa phận Tân Kỳ 60km, hệ thống khe suối nhiều cùng 130 hồ đập chứa nước có dung tích 17,5 triệu m3 có thể tưới tiêu cho hơn 80% diện tích cần tưới

2.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

2.4.2.1 Văn hóa lịch sử huyện:

Tân Kỳ là huyện mới được tách ra từ hai huyện, là huyện Anh Sơn và huyện Nghĩa Đàn ngày 19/4/1963 Trên đất huyện Tân Kỳ (Nghệ An), dấu vết nền văn hoá Hoà Bình đã được tìm thấy trong nhiều hang đá thuộc dãy núi đá vôi Lèn Rỏi, nổi tiếng nhất là Hang Chùa Dẫu đã thành phế tích nhưng Đền thờ Đức ông Lê Mạnh đại tướng quân, 1 trong 12 vị tướng giỏi của Vua Mai Hắc Đế trên địa bàn xã Tân

An vẫn quanh năm hương khói

Vào thời Lý, tri châu Lý Nhật Quang đã có công mở con đường thượng đạo

đi qua đất Tân Kỳ nối liền với Thanh Hoá và ra tận Thăng Long làm đường tiến quân đánh thắng Chiêm thành vào năm 1044 Đặc biệt, trong khởi nghĩa Lam Sơn, khi chọn Nghệ An làm thế đứng chân để hạ Thành Trà Lân, Lê Lợi đã lập nhiều căn

cứ trên đất Tân Kỳ, Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp mà ngày nay vẫn còn lưu lại những tên gọi như bãi Loi Loi, bãi Tập Mã, bãi Voi, núi Đồn Trong một vài hang đá thuộc Lèn Rỏi, người dân thỉnh thoảnh vẫn bắt gặp các loại dao kiếm, mã tấu bằng sắt, chứng tỏ nơi đây còn là nơi cất giấu vũ khí của nghĩa quân Sử sách còn ghi cuộc khởi nghĩa Lê Duy Mật trên đất Tân Kỳ đầy bi hùng Đến thời Cần Vương, mảnh đất Tân Kỳ lại là nơi các lãnh tụ và nghĩa binh Cần Vương ẩn náu, tránh sự truy lùng của giặc, nuôi dấu lực lượng lâu dài Trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ

Trang 39

cứu nước vừa qua, mảnh đất Tân Kỳ lại một lần nữa viết lên trang sử mới bằng việc tiếp tục xẻ núi, băng ngàn mở ra con đường thượng đạo mới tiến về Nam, vào tận miền đông Nam Bộ - Lộc Ninh, con đường mang tên đường mòn Hồ Chí Minh mà điểm xuất phát là cột mốc số 0, ngay ngã tư thị trấn Lạt, điểm đầu của con đường anh hùng trong kháng chiến chống Mỹ

2.4.2.2 Tình hình dân số và lao động của huyện

Trong công tác xây dựng đổi mới và phát triển kinh tế, sức lao động và dân

số ảnh hưởng rất lớn tới khả năng sản xuất cũng như phát huy nội lực của hộ gia đình Việc sử dụng hợp lý nguồn lao động trong gia đình là cơ sở quan trọng để tạo

ra thu nhập, giảm tỷ lệ lao động nhàn rỗi Dân số đông là điều kiện thuận lợi để tăng thi trường tiêu thụ hàng hóa sản phẩm, kích cầu kích thích sản xuất kinh doanh và phân bố hàng hóa Tuy nhiên trong điều kiện hiện nay dân số đông cản trở phát triển kinh tế xã hội

Huyện Tân Kỳ có 22 xã, Thị trấn với 127,825 người Trong đó khẩu nông nghiệp 118.846 người chiếm 94% tổng số Lao động trong độ tuổi là 63.318 người trong đó lao động nông nghiệp là 58.784 người chiếm 93,8% lao động toàn huyện

Các dân tộc sinh sống trên địa bàn gồm: dân tộc Kinh, Thanh,Thái, Thổ với những đặc tính sinh sống và phong tục tập quán khác nhau Dân cư chử yếu là người Kinh ở miền xuôi di dân, lập làng kinh tế

Từ trước tới nay sản xuất nông nghiệp còn manh mún, cơ cấu cây trồng đa dạng, mặc dù sản xuất lương thực đã đủ ăn, song sản xuất hàng hóa nông nghiệp còn ở mức thấp, lao động nông nghiệp mới sử dụng ổn định 40% còn lại 60% có công viêc bấp bênh hoặc thiếu việc làm

2.4.2.3 Tình hình kinh tế

Thu nhập chính của người dân chủ yếu từ sản xuất nông lâm nghiệp từ khi có trục đường Hồ Chí Minh chạy dọc xuyên suốt địa bàn huyện và đường tỉnh lộ 545,cùng hệ thống đường nội huyện liên xã nên hệ thống giao thông hoàn thiện thuận lợi cho việc đi lại, buôn bán, trao đổi kinh tế Sản xuất nông nghiệp còn manh mún, cơ cấu cây trồng đa dạng, mặc dù sản xuất lương thực đã đủ ăn, song sản xuất hàng hóa nông nghiệp đang ở mức thấp Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nội ngành tuy

đã có chuyển biến nhưng tốc độ vẫn còn chậm chưa rõ nét Lương thực bình quân

Trang 40

đạt 476 kg/ng/năm, tổng thu nhập xã hội bình quân theo đầu người đạt 8.575.000

đ/người/năm (năm 2009)

Thời gian vừa qua tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn giai đoạn

2006 - 2010 ước đạt 10,23%/năm/kế hoạch 15-16% Trong đó ngành Nông - Lâm - Thuỷ sản ước tăng 3,7%/ kế hoạch 10,1%; Công nghiệp - Xây dựng ước tăng 19%/kế hoạch 22%; ngành Dịch vụ ước tăng 12,07%/kế hoạch 12,7%

Tổng giá trị sản xuất năm 2010 ước đạt 1.303,2 tỷ đồng tăng 1,73 lần so với năm 2005 và bằng 93,1% kế hoạch (theo giá trị so sánh 94)

Trong giai đoạn 2005 - 2010 kết quả thực hiện được là xây dựng gần 148 km đường nhựa và bê tông; gần 350 km đường cấp phối; 17/22 xã, thị trấn có đường nhựa, bê tông đến trung tâm Cụ thể như sau:

- Đường quốc lộ: đường Hồ Chí Minh qua huyện có chiều dài 38,5 Km,

điểm đầu là xã Nghĩa Bình, điểm cuối là xã Nghĩa Hành, đã rãi nhựa với mặt cắt 9m, chất lượng đường rất tốt

- Đường Tỉnh lộ: Đường tỉnh TL 545 có tổng chiều dài là 26km đã rãi nhựa

và Đường trại Lạt - cây Chanh có chiều dài 27km, đã rải nhựa 7Km

- Đường huyện lộ: Tổng số Km đường huyện lộ là 180Km với 11 tuyến

đường, trong đó đã nhựa hoá và bê tông là 75Km, còn lại chủ yếu là đường đất cấp phối

- Đường liên xã: Hiện nay trên địa bàn huyện có trên 700 km đường liên xã,

chủ yếu là đường đất, trời mưa thì lầy lội khó khăn cho việc đi lại

* Thuỷ lợi:

Hệ thống thủy lợi tươi tiêu chủ yếu thông qua các trạm bơm, tổng công suất

3500 m3/h, kênh mương đầy đủ để phục vụ sản xuất Trong những năm qua do công tác quản lý và bảo vệ rừng được thực hiện có hiệu quả nên hệ thống các khe

Ngày đăng: 16/09/2021, 16:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 Tổng hợp số mẫu điều tra đại diện cho các hộ chăn nuôi gia súc của huyện Tân Kỳ   - Đánh giá công tác phòng dịch bệnh đàn gia súc trên địa bàn huyện tân kỳ giai đoạn 2009   2011
Bảng 2.1 Tổng hợp số mẫu điều tra đại diện cho các hộ chăn nuôi gia súc của huyện Tân Kỳ (Trang 34)
Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Tân Kỳ - Đánh giá công tác phòng dịch bệnh đàn gia súc trên địa bàn huyện tân kỳ giai đoạn 2009   2011
Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Tân Kỳ (Trang 37)
Bảng 3.1 Kết quả tiêm phòng vắc xin cho đàn gia súc năm 2011 - Đánh giá công tác phòng dịch bệnh đàn gia súc trên địa bàn huyện tân kỳ giai đoạn 2009   2011
Bảng 3.1 Kết quả tiêm phòng vắc xin cho đàn gia súc năm 2011 (Trang 53)
Bảng 3.2. Thực trạng tiêm phòng cho đàn gia súc tại 3 xã: Nghĩa Phúc, Nghĩa Dũng, Tân An năm 2011  - Đánh giá công tác phòng dịch bệnh đàn gia súc trên địa bàn huyện tân kỳ giai đoạn 2009   2011
Bảng 3.2. Thực trạng tiêm phòng cho đàn gia súc tại 3 xã: Nghĩa Phúc, Nghĩa Dũng, Tân An năm 2011 (Trang 55)
Bảng 3.3. Kết quả tiêm phòng vắc xin cho đàn gia súc năm 2010 - Đánh giá công tác phòng dịch bệnh đàn gia súc trên địa bàn huyện tân kỳ giai đoạn 2009   2011
Bảng 3.3. Kết quả tiêm phòng vắc xin cho đàn gia súc năm 2010 (Trang 57)
Bảng 3.4 Kết quả tiêm phòng cho đàn gia súc năm 2009 trên địa bàn huyện - Đánh giá công tác phòng dịch bệnh đàn gia súc trên địa bàn huyện tân kỳ giai đoạn 2009   2011
Bảng 3.4 Kết quả tiêm phòng cho đàn gia súc năm 2009 trên địa bàn huyện (Trang 59)
Bảng 3.5. Tổng hợp tiêm phòng gia súc tại 3 xã: Nghĩa phúc, Nghĩa Dũng, Tân An năm 2009  - Đánh giá công tác phòng dịch bệnh đàn gia súc trên địa bàn huyện tân kỳ giai đoạn 2009   2011
Bảng 3.5. Tổng hợp tiêm phòng gia súc tại 3 xã: Nghĩa phúc, Nghĩa Dũng, Tân An năm 2009 (Trang 61)
Bảng 3.6. So sánh thực trạng tiêm phòng trên địa bàn huyện trong 3 năm 2009, 2010, 2011  - Đánh giá công tác phòng dịch bệnh đàn gia súc trên địa bàn huyện tân kỳ giai đoạn 2009   2011
Bảng 3.6. So sánh thực trạng tiêm phòng trên địa bàn huyện trong 3 năm 2009, 2010, 2011 (Trang 63)
Qua phân tích tổng hợp số liệu và bảng 3.6 dưới đây, chúng ta thấy: - Đánh giá công tác phòng dịch bệnh đàn gia súc trên địa bàn huyện tân kỳ giai đoạn 2009   2011
ua phân tích tổng hợp số liệu và bảng 3.6 dưới đây, chúng ta thấy: (Trang 63)
Bảng 3.7 Hóa chất tiêu độc khử trùng phòng, chống dịch bệnh gia súc,  (đợt I năm 2011)  - Đánh giá công tác phòng dịch bệnh đàn gia súc trên địa bàn huyện tân kỳ giai đoạn 2009   2011
Bảng 3.7 Hóa chất tiêu độc khử trùng phòng, chống dịch bệnh gia súc, (đợt I năm 2011) (Trang 66)
Qua bảng 3.7 chúng ta thấy, hóa chất dùng phổ biến trong công tác tiêu độc khử  trùng  là  Benkocid,  lượng  hóa  chất  Benkocid  đưa  vào  công  tác  tiêu  độc  khử  trùng sử dụng đợt I năm 2011 cho tấc cả xã, thị trấn trên địa bàn huyện và gần như  tươn - Đánh giá công tác phòng dịch bệnh đàn gia súc trên địa bàn huyện tân kỳ giai đoạn 2009   2011
ua bảng 3.7 chúng ta thấy, hóa chất dùng phổ biến trong công tác tiêu độc khử trùng là Benkocid, lượng hóa chất Benkocid đưa vào công tác tiêu độc khử trùng sử dụng đợt I năm 2011 cho tấc cả xã, thị trấn trên địa bàn huyện và gần như tươn (Trang 67)
Bảng 3.9. Tình hình lao động và nhân khẩu tại 3 xã: Tân An, Nghĩa Phúc, Nghĩa Dũng  - Đánh giá công tác phòng dịch bệnh đàn gia súc trên địa bàn huyện tân kỳ giai đoạn 2009   2011
Bảng 3.9. Tình hình lao động và nhân khẩu tại 3 xã: Tân An, Nghĩa Phúc, Nghĩa Dũng (Trang 79)
Bảng 3.10. Trình độ văn hóa và nghề nghiệp tại các hộ điều tra. - Đánh giá công tác phòng dịch bệnh đàn gia súc trên địa bàn huyện tân kỳ giai đoạn 2009   2011
Bảng 3.10. Trình độ văn hóa và nghề nghiệp tại các hộ điều tra (Trang 80)
Bảng 3.11. Tình hình thâm niên sản xuất chăn nuôi tại 90 hộ điều tra - Đánh giá công tác phòng dịch bệnh đàn gia súc trên địa bàn huyện tân kỳ giai đoạn 2009   2011
Bảng 3.11. Tình hình thâm niên sản xuất chăn nuôi tại 90 hộ điều tra (Trang 82)
Cơ cấu chăn nuôi phản ánh tình hình chăn nuôi tại các hộ và phản ánh thu nhập từ chăn nuôi, cũng như qui mô chăn nuôi tại các hộ đó - Đánh giá công tác phòng dịch bệnh đàn gia súc trên địa bàn huyện tân kỳ giai đoạn 2009   2011
c ấu chăn nuôi phản ánh tình hình chăn nuôi tại các hộ và phản ánh thu nhập từ chăn nuôi, cũng như qui mô chăn nuôi tại các hộ đó (Trang 83)
Biểu đồ 3.2. Tình hình thâm niên chăn nuôi tại các hộ điều tra 3.2.4. Tình hình cơ cấu chăn nuôi tại các hộ điều tra:  - Đánh giá công tác phòng dịch bệnh đàn gia súc trên địa bàn huyện tân kỳ giai đoạn 2009   2011
i ểu đồ 3.2. Tình hình thâm niên chăn nuôi tại các hộ điều tra 3.2.4. Tình hình cơ cấu chăn nuôi tại các hộ điều tra: (Trang 83)
3.2.4 Tình hình tham gia phòng dịch cho đàn gia súc tại các hộ điều tra của 3 xã nghiên cứu: Nghĩa Phúc, Nghĩa Dũng, Tân An  - Đánh giá công tác phòng dịch bệnh đàn gia súc trên địa bàn huyện tân kỳ giai đoạn 2009   2011
3.2.4 Tình hình tham gia phòng dịch cho đàn gia súc tại các hộ điều tra của 3 xã nghiên cứu: Nghĩa Phúc, Nghĩa Dũng, Tân An (Trang 85)
Tổng quát qua bảng 3.12 sau: - Đánh giá công tác phòng dịch bệnh đàn gia súc trên địa bàn huyện tân kỳ giai đoạn 2009   2011
ng quát qua bảng 3.12 sau: (Trang 86)
Theo bảng 3.13 thì có tới 25,56% các hộ điều tra không tham gia công tác phòng dịch và tổng hợp ý kiến khi đi phỏng vấn các hộ không tham gia vào công tác  phòng dịch, tôi rút ra các ý kiến cơ bản về nguyên nhân các hộ không tham gia là  như sau:  - Đánh giá công tác phòng dịch bệnh đàn gia súc trên địa bàn huyện tân kỳ giai đoạn 2009   2011
heo bảng 3.13 thì có tới 25,56% các hộ điều tra không tham gia công tác phòng dịch và tổng hợp ý kiến khi đi phỏng vấn các hộ không tham gia vào công tác phòng dịch, tôi rút ra các ý kiến cơ bản về nguyên nhân các hộ không tham gia là như sau: (Trang 88)
3.2.4.3 Hình thức nắm bắt thông tin của các hộ điều tra: - Đánh giá công tác phòng dịch bệnh đàn gia súc trên địa bàn huyện tân kỳ giai đoạn 2009   2011
3.2.4.3 Hình thức nắm bắt thông tin của các hộ điều tra: (Trang 89)
Bảng 3.15. Ý kiến đánh giá hiệu quả công tác phòng dịch Mức độ đánh giá  - Đánh giá công tác phòng dịch bệnh đàn gia súc trên địa bàn huyện tân kỳ giai đoạn 2009   2011
Bảng 3.15. Ý kiến đánh giá hiệu quả công tác phòng dịch Mức độ đánh giá (Trang 91)
Bảng 3.16. Phân tích SWOT Điểm mạnh S  - Đánh giá công tác phòng dịch bệnh đàn gia súc trên địa bàn huyện tân kỳ giai đoạn 2009   2011
Bảng 3.16. Phân tích SWOT Điểm mạnh S (Trang 96)
- Tình hình dịch bệnh khắp nơi diễn biến phức tạp  - Đánh giá công tác phòng dịch bệnh đàn gia súc trên địa bàn huyện tân kỳ giai đoạn 2009   2011
nh hình dịch bệnh khắp nơi diễn biến phức tạp (Trang 97)
Bảng 3.1. Tổng kết công tác tiêm phòng năm 2011 - Đánh giá công tác phòng dịch bệnh đàn gia súc trên địa bàn huyện tân kỳ giai đoạn 2009   2011
Bảng 3.1. Tổng kết công tác tiêm phòng năm 2011 (Trang 109)
Bảng 3.3 Tổng kết tiêm phòng năm 2009 - Đánh giá công tác phòng dịch bệnh đàn gia súc trên địa bàn huyện tân kỳ giai đoạn 2009   2011
Bảng 3.3 Tổng kết tiêm phòng năm 2009 (Trang 110)
8. Tình hình sử dụng đất của hộ: - Đánh giá công tác phòng dịch bệnh đàn gia súc trên địa bàn huyện tân kỳ giai đoạn 2009   2011
8. Tình hình sử dụng đất của hộ: (Trang 112)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w