1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá lợi thế so sánh trong sản xuất cam bù hương sơn hà tĩnh

88 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Lợi Thế So Sánh Trong Sản Xuất Cam Bù Hương Sơn - Hà Tĩnh
Tác giả Phan Xuân Thắng
Người hướng dẫn Th.S Nguyễn Thị Thúy Vinh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Khuyến Nông Và Phát Triển Nông Thôn
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2012
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó các loại cây ăn quả chiếm một tỷ trọng khá lớn cả về diện tích cũng như sản lượng, những lợi thế sản xuất hoa trái đã mang lại cho Việt Nam nhiều thành tựu trong sản xuất cũng n

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH -  -

PHAN XUÂN THẮNG

ĐÁNH GIÁ LỢI THẾ SO SÁNH TRONG SẢN XUẤT

CAM BÙ HƯƠNG SƠN - HÀ TĨNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KỸ SƯ NGÀNH: KHUYẾN NÔNG VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

VINH, 5/2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH -  -

ĐÁNH GIÁ LỢI THẾ SO SÁNH TRONG SẢN XUẤT

CAM BÙ HƯƠNG SƠN - HÀ TĨNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KỸ SƯ NGÀNH: KHUYẾN NÔNG VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

Người thực hiện: Phan Xuân Thắng

Lớp: 49K KN&PTNT

Giáo viên hướng dẫn: Th.S Nguyễn Thị Thúy Vinh

VINH, 5/2012

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan rằng trong quá trình làm khóa luận tôi có sử dụng các thông tin từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau như các sách báo, các dự án, các báo cáo…các thông tin trích dẫn được sử dụng đều đã được tôi ghi rõ nguồn gốc xuất xứ

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ bất cứ một học vị nào

Sinh viên

Phan Xuân Thắng

Trang 4

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới ThS Nguyễn Thị Thúy Vinh

đã dành nhiều thời gian trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tôi hoàn thành quá trình nghiên cứu đề tài này

Qua đây tôi cũng xin cảm ơn toàn thể cán bộ Phòng Nông nghiệp huyện Hương Sơn, UBND xã Sơn Trường, Sơn Mai, Sơn Thủy và nhân dân huyện Hương Sơn, trong thời gian tôi về thực tế nghiên cứu đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi tiếp cận và thu thập những thông tin cần thiết cho đề tài

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, những người đã động viên và giúp đỡ tôi về tinh thần, vật chất trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn!

Vinh, 15 ngày 05 tháng năm 2012

Sinh viên

Phan Xuân Thắng

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 2

DANH MỤC BẢNG BIỂU 3

DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ 4

MỞ ĐẦU 5

1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 5

2 Mục tiêu nghiên cứu 6

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7

1.1 Cơ sở lý luận 7

1.1.1 Lợi thế tuyệt đối 7

1.1.2 Lợi thế so sánh 8

1.1.3 Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 9

1.1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến lợi thế so sánh trong hoạt động trồng nông nghiệp 10

1.1.5 Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật sản xuất cây cam nói riêng và cây ăn quả nói chung 13

1.2 Cơ sở thực tiễn 14

1.2.1 Tình hình sản xuất Cam trên thế giới 14

1.2.2 Tình hình sản xuất Cam ở Việt Nam 17

Chương 2: ÐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.1 Ðối tượng và phạm vi nghiên cứu 22

2.1.1 Ðối tượng nghiên cứu 22

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 22

2.2 Nội dung nghiên cứu 22

2.3 Phương pháp nghiên cứu 22

2.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 22

2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 23

2.3.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 24

2.3.4 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá 26

2.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 27

Trang 6

2.4.1 Đặc điểm tự nhiên của huyện Hương Sơn 27

2.4.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của huyện Hương Sơn 28

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30

3.1 Tình hình trồng và tiêu thụ cam Bù trên địa bàn Hương Sơn 30

3.2 Tình hình trồng cam Bù của các hộ điều tra 33

3.3 Tình hình tiêu thụ Cam Bù của các hộ điều tra 35

3.4 Phân tích lợi thế so sánh của sản xuất cam Bù trên huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh 38

3.4.1 Chi phí sản xuất Cam bù của các hộ điều tra 38

3.4.2 Hiệu quả kinh tế trong sản xuất Cam Bù 43

3.4.3 So sánh hiệu quả kinh tế của cam Bù và cam Chanh 45

3.4.4 Phân tích lợi thế so sánh sản xuất cam Bù 24

3.5.1 Điểm mạnh 27

3.5.2 Điểm yếu 29

3.5.3 Cơ hội 30

3.5.4 Thách thức 31

3.6 Một số giải pháp thực hiện và nhằm nâng cao HQKT, phát huy lợi thế so sánh của sản xuất cam Bù huyện Hương sơn 32

3.6.1 Giải pháp về sản xuất 32

3.6.2.Giải pháp về thị trường 33

3.6.3 Giải pháp về phía các hộ 34

3.6.4 Giải pháp về phía các cấp quản lý địa phương 34

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 35

1 Kết luận 35

2 Khuyến nghị 38

TÀI LIỆU THAM KHẢO 40

PHỤ LỤC 42

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CNH - Công nghiệp hóa

RCA (Reveled Comparative Advantage)- Chỉ số biểu thị lợi thế so sánh

FOB - Giá xuất khẩu

KTCB - Kiến thiết cơ bản

UBND - Ủy Ban Nhân Dân

KT – XH - Kinh tế, xã hội

DRC - Chi phí các nguồn lực trong nước SER - Với giá bóng của tỷ giá hối đoái OER - Tỷ giá hối đoái chính thức

TM-DV - Thương mại- Dịch vụ

NH - Nhãn hiệu

RCR - Hệ số chi phí nguồn lực

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: 10 nước hàng đầu về sản xuất Cam năm 2007 14

Bảng 2.1 Kết quả sản xuất kinh doanh của huyện Hương Sơn qua 3 năm (2009 – 2011) 31

Bảng 3.1 Diện tích cam Bù của huyện giai đoạn 1995 – 2011 30

Bảng 3.2 Năng suất cam Bù của huyện giai đoạn 1995 – 2011 31

Bảng 3.3 Tình hình sản xuất Cam Bù của các hộ năm 2011 33

Bảng 3.4 Tình hình vay vốn trồng cam Bù của các hộ năm 2011 34

Bảng 3.5 Tình hình tiêu thụ Cam Bù của các hộ điều tra năm 2011 35

Bảng 3.6: Mức đầu tư chi phí cho sản xuất Cam Bù trên 1ha 40

Bảng 3.7 Kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất Cam Bù trên 1ha năm 2011 43

Bảng 3.8 So sánh hiệu quả kinh tế sản xuất cam Bù và cam Chanh trên 1ha 46

Bảng 3.9 Chi phí cơ hội của các nguồn lực trong nước 25

Bảng3.10: Chi phí nguồn lực trong nước cho sản xuất cam Bù tại huyên Hương Sơn năm 2011 27

Trang 9

DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ

Đồ thị 2.1 Cơ cấu diện tích đất tự nhiên năm 2011 29

Đồ thị 2.2 Cơ cấu các loại đất nông nghiệp năm 2011 29

Đồ thị 2.3.Cơ cấu lao động năm2011 30

Đồ thị 2.4 Cơ cấu hộ năm 2011 30

Sơ đồ 3.1 : Kênh tiêu thụ Cam Bù của các hộ điều tra 36

Đồ thị 3.1 : Ý kiến của hộ điều tra về các khó khăn trong tiêu thụ Cam Bù 38

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Trong nền kinh tế hàng hóa như hiện nay, toàn càu hóa đang diễn ra, mỗi quốc gia đều hội nhập với khinh tế quốc tế, mở rộng các mối quan hệ giao thương

để phát huy lợi thế so sánh của mình Việt Nam là một nền kinh tế đang phát triển với thế mạnh là sản xuất nông nghiệp Trong đó các loại cây ăn quả chiếm một tỷ trọng khá lớn cả về diện tích cũng như sản lượng, những lợi thế sản xuất hoa trái đã mang lại cho Việt Nam nhiều thành tựu trong sản xuất cũng như xuất khẩu ra các nước khác Phát triển những sản phẩm ăn quả đang là một trong những hướng phát triển bền vững cho nông nghiệp Việt nam Chính vì thế nên nghành trái cây Việt nam đang được quan tấm sâu sắc để phục vụ cho nhu cầu trong nước và đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu Trong bối cảnh CNH tăng nhanh thì diện tích sản xuất lúa giảm mạnh nên việc xác định phát triển sản xuất cây ăn quả là hướng đi đúng đắn

để phát triển sinh kế của người dân.Xác định được tầm quan trọng của vấn đề này,

từ năm 1999 Bộ Nông nghiệp và phát triển nôn thôn đã xây dựng đề án “ Phát triển rau, quả và hoa, cây cảnh thời kỳ 1999 - 2010”, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt để triển khai thực hiện Năm 2000 Bộ Thương mại cũng xây dựng Đề án “ Phát triển xuất khẩu rau, quả đến năm 2010” nhằm xác định hướng cụ thể các mặt hàng, thị trường và một số giải pháp về chính sách nhằm đẩy mạnh xuất khẩu rau, quả Việt nam đến năm 2010 Chính vì thế diện tích cây ăn quả của nước ta tăng khá nhanh Năm 2005 đạt 766,9 ngàn ha, tăng thêm hàng ngàn so với năm 1999, sản

lượng trung bình 6,5 triệu tấn

Hương sơn là một huyện trung du miền núi nằm phía Tây Bắc của tĩnh Hà Tĩnh Nói đến nông nghiệp Hương sơn là nói đến kinh tế vườn Hương sơn có nhiều cây ăn quả có giá trị như bưởi Đường, bưởi Đào, cam Sành, cam Chanh, mía Mật, mít, chuối, trong số đó thì có giá trị hơn cả là Cam Bù Đây là một trong hai loại cây ăn quả đặc sản cùng với bưởi Phúc Trạch của Hà Tĩnh đã có danh tiếng và uy tín lâu đời được Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn công nhận là loại cây ăn quả có giá trị cao và được đưa vào danh sách Gần đây diện

Trang 11

tích trồng nông nghiệp của huyện Hương Sơn đã được thay thế dần bởi việc trồng cam Bù Tuy nhiên, do sự bất ổn định của thị trường, sự biến động của giá

cả, hơn nữa trong giai đoạn chuyển đổi nên người trồng cam chưa xác định được những lợi thế mà sản phẩm này mang lại Đứng về phương diện kinh doanh thì người trồng cam còn bỡ ngỡ và chưa có nhiều kinh nghiệm, sản phẩm Cam bù có tính cạnh tranh chưa cao,người dân đang đứng trước rất nhiều khó khăn cả về việc sản xuất lẫn tiêu thụ Trên thực tế người dân tuy đã xác định rõ được tầm quan trọng của lợi thế so sánh cho sản phẩm song còn thiếu thông tin, kinh nghiệm và chiến lược cho việc xác định lợi thế so sánh cho sản phẩm của mình

Để góp phần hổ trợ kinh nghiệm cho người dân trồng cam Bù việc đánh giá lợi thế so sánh cho sản phẩm cam Bù là rất cần thiết Xuất phát từ nhưng vấn đề thực tiễn nêu trên và nhằm cung cấp những thông tin có ích cho người dân,tôi tiến

hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá lợi thế so sánh trong sản xuất cam Bù Hương

Sơn- Hà Tĩnh”

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu phân tích hiệu quả kinh tế và lợi thế so sánh của sản phẩm cam

Bù Hương Sơn – Hà Tĩnh Từ đó đưa ra một số định hướng và giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm cam Bù huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Nghiên cứu tình hình sản xuất và tiêu thụ cam Bù ở Hương Sơn – Hà Tĩnh

- Nghiên cứu lợi thế so sánh sản phẩm cam Bù ở Hương Sơn – Hà Tĩnh + Nghiên cứu đánh giá hiệu quả sản xuất cam Bù của các hộ điều tra + Nghiên cứu đánh giá lợi thế so sánh trồng cam Bù của các hộ điều tra

- Đề xuất một một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm cam Bù Hương sơn trong việc sản xuất cam nói riêng và sản xuất trồng trọt nói chung

Trang 12

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Lợi thế tuyệt đối

Lợi thế tuyệt đối là lợi thế đạt được trong trao đổi thương mại quốc tế khi mỗi quốc gia tập trung chuyên môn hoa vào sản sản xuất và trao đổi những sản phẩm có mức chi phí sản xuất thấp hơn so với các quốc gia khác và thấp hơn mức chi phí trung bình của quốc tế thì tất cả các quốc gia đều có lợi

Theo quan điểm của Adam Smith(1776): một quốc gia chỉ nên sản xuất các loại hàng hóa sử dụng tốt nhất các loại tài nguyên trong nước Lợi thế của một nước có thể là lợi thế tự nhiên hay do nổ lực các nhân của nước đó và các nước tiến hành trao đổi tự nguyện với nhau và cùng có lợi từ việc tăng sản lượng và giảm chi phí

Nếu có hai quốc gia, quốc gia thứ nhất có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất mặt hàng A, quốc gia thứ 2 có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất mặt hàng B Hai quốc gia này tiến hành chuyên môn hóa sản xuất các mặt hàng có lợi thế tuyệt đối của mình và trao đổi hàng cho nhau thì cả hai quốc gia đều có lợi [7]

Ví dụ minh họa về lợi thế tuyệt đối:

Lợi thế tuyệt đối khắc phục hạn chế của lý tuyết trọng thương và chứng minh trao đổi thương mại đem lại lợi ích cho các quốc gia Nhờ chuyên môn hóa và trao đổi, sản lượng của toàn thế giới tăng lên và con người trở nên sung túc hơn Tuy nhiên lợi thế tuyệt đối chưa giải thích đầy đủ về thương mai quốc tế và phân công lao động quốc tế của các nước không có lợi thế tuyệt đối nào; chỉ nêu được sự trao

Trang 13

đổi buôn bán giữa các quốc gia có điều kiện sản xuất khác nhau mà không nói đến hoạt động trao đổi thương mại giữa các quốc gia có điều kiện sản xuất tương đối giống nhau Mặt khác, nếu một quốc gia có lợi thế tuyệt đối trong việc sản xuất ra tất cả các mặt hàng thì họ không cần phải trao đổi hàng hóa với các quốc gia khác hay sao? Và các nước không có lợi thế tuyệt đối trong việc sản xuất tất cả các mặt hàng thì họ tham gia thương mại quốc tế như thế nào?

1.1.2 Lợi thế so sánh

Thực tế cho thấy thương mại thế giới hiện nay rất đa dạng, nên việc giải thích bằng lợi thế tuyệt đối không còn chính xác nữa và lợi thế tuyệt đối chỉ là một trường hợp của lợi thế so sánh Nhà kinh tế học người Anh David Ricardo đã đưa ra

lý thuyết về lợi thế so sánh (1817) Ông cho rằng, các quốc gia có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn so với các nước khác hay kém lợi thế các nước khác trong sản xuất ra tất

cả các loại sản phẩm thì vẫn có thể và có lợi khi tham gia vào phân công lao động quốc tế và thương mại quốc tế Bởi vì, mỗi nước có một lợi thế so sánh nhất định về một số mặt hàng và kếm lợi thế so sánh về một số mặt hàng khác Tham gia thương mại quốc tế các quốc gia sẽ chuyên môn hóa sản xuất các mặt hàng mà việc sản xuất chúng gặp ít bất lợi nhất ( có lợi thế tương đối) và nhập khẩu những mặt hàng

mà đất nước không có lợi thế so sánh

Theo David Ricardo, một quốc gia được coi là có lợi thế tương đối về mặt hàng nào đó nếu như quốc gia đó có thể sản xuất ra hàng hóa với chi phí tương đối thấp hơn so với các nước khác Chi phí tương đối của sản phẩm này được tính theo chi phí của sản phẩm khác trong một đơn vị thời gian lao động (Ví dụ: trong 1 giờ lao động, nước A làm được 4 đơn vị lúa mì hoặc 8 đơn vị vải thì ta có thể tính được chi phí tương đối của lúa mì 2 lần chi phí tương đối của vải).[8]

Tuy nhiên, David Ricardo mới chỉ tính đến yếu tố duy nhất là nguồn lực lao động và đồng nhất lao động trong tất cả các nghành sản xuất, do vậy mà chưa thể giải thích được cặn kẽ nguồn gốc phát sinh thuận lợi của một nước trong việc sản xuất ra một mặt hàng nào đó Vì thế, đầu thế kỷ 20 hai nhà kinh tế học Thụy Điển là Eli Heckscher và Bertil Ohlin đã đưa ra lý thuyết Heckscher- Ohlin dựa vào lý luận của David Ricardo và được phát biểu như sau: Mỗi quốc gia sẽ xuất khẩu sản phẩm

Trang 14

hiện đang tập trung các yếu tố mà quốc gia đó dư thừa tương đối và nhập khẩu những sản phẩm đang tập trung các yếu tố mà quốc gia đó khan hiếm, [7],[8] Như vậy, lý thuyết Heckscher- Ohlin đã giải thích được sự khác nhau trong giá cả sản phẩm so sánh Nói cách khác, lợi thế so sánh giữa các quốc gia chính là sự khác nhau giữa các yếu tố dư thừa tương đối hay nguồn lực vốn có của mỗi quốc gia

Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo giả định sự khác nhau về công nghệ trong khi lý thuyết Heckscher- Ohlin giả định công nghệ như nhau và lợi thế

so sánh có được từ sự khác biệt về giá tương đối do sự khác biệt về mức độ dồi dào giữa các quốc gia Nghĩa là sản xuất các hàng hóa sử dụng các yếu tố sản xuất hay các nguồn lự tương đối sẳn có, chi phí rẽ hơn và chất lương tốt hơn so với các nước khác Sau đó các quốc gia sẽ xuất khẩu sản phẩm này gọi là những sản phẩm có lợi thế tương đối và nhập khẩu những sản phẩm không có lợi thế tương đối.[5].[13],[14]

Năm 1965, nhà kinh tế học người Hungary Bela Balassa đưa ra chỉ số biểu thị lợi thế so sánh ( RCA = Reveled Comparative Advantage) dựa trên các số liệu thương mại sẳn có RCA được tính như sau:

1.1.3 Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh

Khi đề cập đến vấn đề cạnh tranh của các nhà tư bản C.Mác cho rằng “cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để

Trang 15

thu lợi nhuận siêu ngạch” Tuy nhiên, trong thời kỳ hiện nay cạnh tranh vừa là môi trường, vừa là động lực của phát triển kinh tế xã hội: “Cạnh tranh là sự ganh đua, là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa những chủ thể kinh doanh với nhau trên một thị trường hàng hóa cụ thể nào đó nhằm dành giật khách hàng và thị trường, thông qua đó mà tiêu thụ được nhiều hàng hóa và thu được lợi nhuận cao”[8] Năng lực cạnh tranh của sản phẩm là khả năng sản phẩm đó tiêu thụ nhanh trong khi có nhiều người cùng bán loại sản phẩm đó trên trị trường và được đo bằng thị phần của sản phẩm đó, nó phụ thuộc vào chất lượng,giá cả, tốc độ cung cấp, dịch vụ đi kèm, chất lượng, uy tín người bán, thương hiệu, marketing… Năng lục canh tranh của doanh nghiệp la khả năng doanh nghiệp tạo ra lợi thế cạnh tranh, cóa khả năng tao ra năng suấ, chất lượng tốt hơn đối thủ canh tranh, chiếm thị phần nhiều hơn, thu nhập cao và tạo khả năng phát triển bền vững Một sản phẩm/ doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển bền vững trên thị trường thì việc nghiên cứu và tận dụng lợi thế so sánh là điều tất yếu, đồng thời phải nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm đó trên thị trường

1.1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến lợi thế so sánh trong hoạt động trồng nông nghiệp

* Nhân tố giá cả hàng hóa, dịch vụ

Giá cả của sản phẩm trên thị trường được hình thành và thông qua quan hệ cung cầu Người bán và người mua thỏa thuận hay mác cả với nhau để tiến hành mức giá cuối cùng để đảm bảo lợi ích cho cả hai bên Giá cả đóng vai trò quan trọng trong quyết định mua hay không mua của khách hàng Trong nề kinh tế thị trường

có sự cạnh tranh của các doanh nghiệp khách hàng có quyền lựa chọn sản phẩm cho mình có giá phù hợp với thu nhập Giá cả được hình thành và sử dụng như một loại

vũ khí để giành chiến thắng thông qua viêc định giá cạnh tranh, mỗi lựa chọn đó là bước đi chiến lược của doanh nghiệp/ quốc gia: Định giá thấp, định giá ngang bằng

và định giá cao

* Sản phẩm và cơ cấu sản phẩm

Đối với mỗi doanh nghiệp khi kinh doanh phải trả lời các câu hỏi: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản phẩm hướng tới thị trường nào? Và từ đó sẽ xây dựng một cơ cấu sản phẩm hợp lý Trong các hoạt động kinh doanh sản phẩm

Trang 16

có vai trò là trung tâm của doanh nghiệp, không có sản phẩm thì không có hoạt động kinh doanh Vấn đề đặt ra đối với các doanh nghiệp là phải làm ra và cung cấp sản phẩm phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, được thị trường chấp nhận, có khả năng tiêu thụ mạnh giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường, nâng cao năng lực canh tranh của doanh nghiệp Để nâng cao năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp đã thực hiện đa dạng hóa sản phẩm, các sản phẩm luôn được hoàn thiện không ngừng để theo kịp nhu cầu thị trường bằng cách cai tiến nâng cao chất lượng, mẫu mã, bao bì đồng thời phát triển các sản phẩm đang là thế mạnh của doanh nghiệp Đồng thời các doanh nghiệp cũng luôn nghiên cứu phát triển các sản phẩm mới nhằm phát triển mở rộng thị trường tiêu thụ Đa dạng hóa sản phẩm không chỉ đáp ứng yêu cầu thị trường mà còn phân tán, hạn chế rủi ro trong kinh doanh Tuy nhiên chỉ đa dạng hóa sản phẩm thôi chưa đủ, để đứng vững trong môi trường cạnh tranh gay gắt doanh nghiệp phải thự hiện chiến lược trọng tâm hóa sản phẩm có tính chiến lược tập trung cho khách hàng mục tiêu hay thị trường mục tiêu Ngoài ra doanh nghiệp cần cá biệt hóa sản phẩm, tạo nên nét độc đáo riêng cho sản phẩm để thu hút tạo sự hấp dẫn cho khách hàng, nâng cao uy tín doanh nghiệp

* Chất lượng hàng hóa dịch vụ

Trước kia, giá cả luôn đóng vai trò quan trọng trong sự cạnh tranh của các doanh nghiệp thì ngày nay đã không còn là yêu tố cạnh tranh hàng đầu Thực tế cho thấy cạnh tranh bằng giá cả là giải pháp mang tính hạ sách, làm giảm nguồn lợi nhuận thu về Ngày nay chỉ tiêu chất lượng luôn là lựa chọn hàng đầu của các doanh nghiệp và của người tiêu dùng Một sản phẩm có chất lượng vượt trội với mức giá ngang bằng hoặc cao hơn một chút có khả năng sẽ thu hút khách hàng, tạo thêm năng lực cạnh tranh mới

Chất lượng sản phẩm là hệ thống nội tại của sản phẩm được xác định bằng các thông số có thể đo được hoặc so sánh được thỏa mãn những tiêu chuẩn kỹ thuật hay những yêu cầu quyết định của người tiêu dùng Chất lượng sản phẩm được hình thành từ khâu thiết kế tới tổ chức sản xuất và ngay cả tiêu thụ hàng hóa và chịu nhiều tác động của các yếu tố: Công nghệ sản xuất, dây chuyền sản xuất, nguyên vật liệu, trình độ tay nghề lao động, trình độ quản lý,

Trang 17

Trong nền sản xuất của Việt Nam chất lượng sản phẩm là vấn đề sống còn của doanh nghiệp bởi phải đương đầu với quá nhiều đối thủ cạnh trạnh nước ngoài

có ưu thế hơn hẳn trong việc tạo ra hay cung cấp các sản phẩm chất lượng cao Hiện nay chất lượng sản phẩm được chi phối và quyết định của khách hàng, quản lý chất lượng sản phẩm là yếu tố chủ quan còn đánh giá của khách hàng lại mang yếu tố khách quan Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đánh giá qua chất lượng sản phẩm thể hiện ở :

- Nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ làm tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm, làm tăng khối lượng hành hóa bán ra, kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm

- Sản phẩm có chất lượng cao sẽ làm tăng uy tín của doanh nghiệp, kích thích khách hàng, tạo thị phần lớn cho doanh nghiệp

- Chất lượng sản phẩm làm tăng khả năng sinh lời, cải thiện tình hình tài chính doanh nghiệp

* Chiến lược kinh doanh của đơn vị sản xuất

Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp hay còn gọi là những giải pháp mang tính dài hạn đối với mỗi doanh nghiệp Chiến lược kinh doanh là điều không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nó chỉ ra phương hướng cho mỗi hoạt động Chiến lược kinh doanh thường được xây dựng trên cơ sở các mục tiêu kinh doanh, khả năng chủ quan của doanh nghiệp, sự tác động của môi trường kinh doanh Đối với mỗi doanh nghiệp, việc xây dựng một chiến lược kinh doanh đều có tính quyết định tới sự thành công của doanh nghiệp Đối với công tác nâng cao năng lực cạnh tranh thì chiến lược cạnh tranh là một phần trong chiến lược kinh doanh nói chung, nó sẽ giúp cho doanh nghiệp chiến thắng các đối thủ cạnh tranh hiện tại để vơn lên giành thị phần, chiếm lĩnh khách hàng, mang lại lợi nhuận cao hơn, Với mỗi chiến lược kinh doanh đợc xây dựng lên không phù hợp với đòi hỏi của doanh nghiệp và thị trường sẽ làm cho doanh nghiệp không tận dụng được

cơ hội kinh doanh, năng lực cạnh tranh bị suy giảm dẫn đến sự thất bại trong kinh doanh Chính vì vậy, để năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đánh giá là tốt, không cách nào khác, doanh nghiệp phải xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh phù hợp, mang lại hiệu quả cao nhất

Trang 18

1.1.5 Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật sản xuất cây cam nói riêng và cây ăn quả nói chung

* Đặc điểm kỹ thuật

Cam là một trong những loài cây phản ứng rộng với điều kiện sinh thái khí hậu Tuy nhiên tính thích ừng rộng không có nghĩa là cam trông bất cứ ở đâu cũng được mà nó phụ thuộc vào từng loài, từng giống và tiểu khí hậu

Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu thời tiết tới sinh trưởng và phát triển cây cam, các chuyên gia trên thế giới đã kết luận rằng các yếu tố nhiệt độ,

độ ẩm, lượng mưa và một số hiện tượng thời tiết đặc biệt như giông bão, sương muối và hạn hán là những yếu tố có ảnh hưởng sâu sắc và quyết định đến sinh trưởng, năng suất và phẩm chất của cam

Cây ăn quả là loài cây sinh trưởng trãi qua 2 thời kỳ: kiến thiết cơ bản (KTCB) và kinh doanh Giai đoạn kiến thiết cơ bản thường dài 3 – 4 năm, chỉ có chi phí mà chưa có thu hoạch Ở giai đoạn này, nếu được đầu tư chăm sóc đúng mức chẳng những rút ngắn được giai đoạn kiến thiết cơ bản mà còn cho năng suất cao và kéo dài được giai đoạn kinh doanh Gai đoạn kinh doanh dài, ngắn với năng suất và sản lượng tăng dần theo tuổi cây và mật độ trồng đến đỉnh cao rồi lại giảm dần Giai đoạn kinh doanh dài hay ngắn tùy thuộc vào giống cây ăn quả và mức đầu tư thâm canh

Cây cam là loại cây đòi hỏi kỷ thuật gieo trồng, chăm sóc cao Vì vậy yêu cầu chọn đât phù hợp, chọn giống tốt, có liều lượng phân bón, thời gian bón và phương pháp bón đúng, có sách lược phòng trừ sâu bệnh hại cây, hại quả Sản phẩm của cây cam là loại quả chứa nhiều nước dễ hư hỏng nhưng lại yêu cầu đảm bảo chất lượng tưới tiêu dùng ngay và thường xuyên Vì vậy, đòi hỏi phải tổ chức tốt khâu thu hái, chế biến và tiêu thụ sản phẩm với trình độ kỹ thuật cao

Việc tổ chức sản xuất nếu có điều kiện phải hình thành các vùng chuyên môn hóa để tiện lợi về mọi mặt và đạt hiệu quả kinh tế cao

* Đặc điểm kinh tế

Cây ăn quả là cây có giá trị kinh tế được khẳng đinh qua nhiều kết quả nghiên cứu Trên đất gò đồi trồng cây ăn quả đã cho hiệu quả cao, nâng cao độ phì nhiêu của đất, tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên (đất, nước )

Trang 19

Cây ăn quả cho sản phẩm xuất khẩu có giá trị kinh tế trong nền kinh tế hàng hóa Sản phẩm quả có lượng sinh khối lớn, thủy phần cao, màu sắc đẹp, hương vị đặc trưng, rất giàu dinh dưỡng và có một số loại vitamin hiếm, do đó sản phẩm được ưa chuộng, có tính hàng hóa cao Mặt khác chúng có thể phân

bố trên địa bàn rộng, thích ứng với nhiều loại quy mô Diện tích vườn cam, sức lao động, nguồn vốn và sách lược kinh doanh có quan hệ mật thiết với nhau Vườn có diện tích lớn đầu tư sức lao động, vốn trên mỗi đơn vị diện tích tương đối có thể thực thi sách lược giá thành thấp để tính đến tổng lợi nhuận cao nhất của vườn cam Vườn nhỏ có thể xem xét sách lược chuyên môm hóa sản phẩm

để kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm và ổn định nguồn thu nhập

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Tình hình sản xuất Cam trên thế giới

Cam được trồng hầu hết ở các nước có khí hậu ấm áp Là cây trồng mang lại thu nhập cao cho người nông dân Trồng cam là một hình thức thương mại lớn và là nguồn đóng góp quan trọng vào nền kinh tế Hoa Kỳ, hầu hết các nước Địa Trung Hải, Brazil, Mexico, Trung Quốc và đóng góp một phần không nhỏ vào tổng thu nhập của Tây Ban Nha, Cộng hoà Nam Phi và Hi Lạp( trích dẫn)

Lượng sản xuất cam được phân bố như sau

Bảng 1.1: 10 nước hàng đầu về sản xuất Cam năm 2007

Tên nước Sản lượng(triệu tấn) Tên nước Sản lượng(triệu tấn) Brazil 18,7 Spain 2,7

United States 7,4 Indonesia 2,6

Trang 20

Mỹ 525 ngàn tấn, EU 240 ngàn tấn, Morocco 215 ngàn tấn và Trung Quốc 185 ngàn tấn Việt Nam nhập khẩu 60.000 tấn từ Trung Quốc và Mỹ Trong những năm tới sản lượng Cam vẫn có xu hướng tăng thêm với tốc độ tăng trung bình khoảng 2%/năm Tuy nhiên, tốc độ tăng phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, khí hậu tác động đến niên vụ trồng của người dân Với những giá trị của Cam mang lại nên trong những năm tới nhu cầu tiêu thụ cam của thế giới dự báo sẽ không ngừng tăng lên ở các nước phát triển Đây là tin vui đối với những người trồng Cam và những nước

có kim ngạch xuất khẩu Cam lớn Nhu cầu tiêu thụ chủ yếu là các sản phẩm cam tươi, mặc dù nhu cầu cam chế biến có thể tăng ở một số nước như Trung Quốc, Mexico, Brazil

● Tình hình trồng Cam ở Italia

Năm 2009 Sản lượng cam của Italia sẽ đạt khoảng 1,69 triệu tấn, giảm 33%

so với niên vụ 2007/2008 và giảm 29% so với sản lượng trung bình trong 3 năm từ

2005 đến 2007 Do sản lượng cam trong nước giảm nên xuất khẩu cũng bị giảm theo Xuât khẩu cam Italia dự báo sẽ đạt 106.100 tấn, giảm khoảng 16% so với lượng xuất khẩu cùng kỳ năm trước Ngược lại, dự báo nhập khẩu sẽ tăng lên 103.500 tấn, tăng 8% so với năm 2008( trích dẫn)

Cam vùng Sicilia, vùng trồng cam xuất khẩu được xem là lớn nhất của Ialia sang các nước châu âu, Mỹ, Nhật Bản và Nga trong những năm gần đây dự kiến cũng sẽ giảm 24% xuống còn 824.000 tấn Tình trạng tương tự cũng đã xảy ra ở một số vùng trông cam khác, trong đó phải kể đến sản lượng cam tại vùng Calabria giảm 38% xuống còn 666.000 tấn Cam vùng Puglia giảm 35% xuống 116.000 tấn

và Basilicata giảm 28% còn 80.000 tấn Như vậy, niên vụ này đã chứng kiến sự giảm sụt mạnh của sản lượng cam của nước Italia Điều này sẽ làm ảnh hưởng không nhỏ đến những người trồng cam, đặc biệt là những nông trại sản xuất lớn

● Tình hình trồng và tiêu thụ Cam quýt ở Trung Quốc

Trung Quốc là một trong những nước trồng Cam lớn nhất thế giới Điều này càng được khẳng định trong những năm gần đây, khi mà diện tích và sản lượng Cam quýt của Trung Quốc không ngừng tăng cao Diện tích trồng cam năm 2009 của Trung Quốc lên đến 2,07 triệu ha, tăng 700.000 ha, khoảng 3% so năm 2008 do

Trang 21

hết quỹ đất Diện tích trồng cam lấy nước ép tiếp tục tăng ở tỉnh Trùng Khánh (Chongqing), Giang Tây (Jiangxi), Hồ Nam (Hunan) và Tứ Xuyên Nguyên nhân làm cho diện tích Cam lấy nước tăng hơn diện tích Cam ăn tươi là vì các nhà máy ở các tỉnh này bắt đầu vận hành Nhìn chung thì sản lượng có tăng nhưng chưa tăng tương xứng với tiềm năng của diện tích Biểu hiện ở chổ là dù diện tích lớn nhưng sản lượng chỉ đạt 6,35 triệu tấn, tăng 6% so với năm 2008 do một số vườn mới trồng đến giai đoạn cho trái Cam mùa thu hoạch năm 2009 của Trung Quốc được đánh giá có màu sắc đẹp, vị ngọt nhưng trái nhỏ do hạn hán Do dó sẽ làm mất nhiều giá trị thu nhập Điều này ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất cam của người nông dân Không chỉ có người dân quan tâm đến việc phát triển các vườn cam mà cả các cấp chính quyền cũng chung tay giúp đở người dân xây dựng vườn cam của mình Kể từ niên vụ 2002-2004, nông dân ở tỉnh Quảng Tây (tỉnh có diện tích cam lớn nhất Trung Quốc) được hỗ trợ xây dựng các trang trại cam qui mô lớn với tốc độ tăng trưởng dự kiến 20%/năm cho đến năm 2012 Tuy nhiên không phải

cứ đầu tư của con người sẽ làm tăng sản lượng mà nó phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên, cụ thể ở đây là thời tiết khí hậu Sản lượng tăng hay giảm là phụ thuộc thời tiết có thuận lợi hay không Chính vì vậy mà sản lương cam không đạt được mục tiêu đề ra như hạn hán nặng vào mùa hè của năm vừa rồi nên tốc độ tăng trưởng hàng năm chỉ còn 10% Bên cạnh đó một số yếu tố khác cũng làm cho mục tiêu đề

ra không đạt được, trong đó phải kể đến giá thành sản xuất cam Trung Quốc tiếp tục tăng, điển hình tại tỉnh Quảng Tây chi phí sản xuất (không kể lao động nhà) tăng từ

120 USD/tấn (2.700 đồng/kg) lên 150 USD/tấn (2.850 đồng/kg) Giá thuê mướn lao động tăng 10,3-11,8 USD/ngày ở tỉnh Quảng Tây( trích dẫn)

● Tình hình sản xuất Cam ở Brazil

Brazil là nước trồng Cam lớn nhất thế giới, hàng năm cung cấp cho thị trường tiêu dùng thế giới hàng triệu tấn Cam Tuy nhiên, không phải khi nào người dân trồng cam cũng được mùa như mong đợi Nó còn phụ thuộc rất nhiều yếu tố chủ quan và khách quan khác Sản lượng cam của Braxin đã giảm 3 năm liên tiếp bởi lượng mưa cao hơn thường lệ và nấm xanh bao phủ cây - một loại vi khuẩn làm chết cây cam Trong năm nay, sản lượng cam dự kiến giảm 24% so với năm ngoái,

Trang 22

xuống 271,1 triệu hộp - mức thấp nhất kể từ năm 2001 nhưng theo dự báo, sản lượng cam Brazil sẽ tăng trong năm tới vì thời tiết đang tạo điều kiện thuận lợi cho cam phát triển tốt

● Tình hình trồng Cam ở một số nước khác

Trong những năm 80, Cuba là nước xuất khẩu các sản phẩm có múi lớn nhất thế giới, với sản lượng đạt 1 triệu tấn chủ yếu là cam và bưởi được trồng trên diện tích khoảng 120.000 ngàn ha Cuba đã báo cáo mức sản lượng suy giảm trong tháng

7 vừa qua khi mùa thu hoạch cam kết thúc Tuy nhiên, sản lượng bưởi thu hoach được đã không những không giảm mà vẫn đạt mức tăng trưởng đáng khích lệ Cuba hiện chưa có báo cáo về mức sản lượng nước ép hoa quả của nước này trong năm

2009 nhưng dự báo có thể có khr năng vẫn đạt mức tăng trưởng Sản lượng cây có múi của Cuba đã tăng 9,1% trong năm 2009 Theo báo cáo của cục thống kê công

bố trên trang websit chính thức, sản lượng cây có múi của nước này năm 2009 đạt 427.500 tấn Tuy nhiên, nếu só sánh với sản lượng trong 2 năm trước đó là năm

2007 và 2008 thì sản lượng này giảm đáng kể Năm 2007 và năm 2008 sản lượng lần lượt đạt 496.000 tấn và 792.700 tấn( nguồn: fruinet)

Sản lượng của Pêru sẽ tăng 2,3% của Nam Phi sẽ tăng 5% và của Urugoay sẽ tăng 11,6% trong đó sản lượng của Achentina sẽ giảm 4% và của Ôtrâylia giảm 6% Sản lượng cam sẽ tăng 8,8%, trong khi sản lượng chanh sẽ giảm 10,8% và sản lượng bưởi sẽ giảm 10,8% Xuất khẩu quả có múi của các nước được khảo sát dự báo đạt 2.234,5 ngàn tấn trong năm 2010, tăng 4,9% so với năm 2009 Xuất khẩu tất

cả các sản phẩm (trừ bưởi) dự tính đều tăng, với xuất khẩu cam tăng 5,2% và quýt tăng 12%, xuất khẩu chanh tăng 8,8%, trong khi xuất khẩu bưởi giảm 12,7%, xuống còn 200 ngàn tấn Với việc khí hậu thời tiết có nhiều biến động như hiện nay thì tình hình sản xuất Cam trên thế giới còn có nhiều biến động, gây khó khăn cho

những người trồng

1.2.2 Tình hình sản xuất Cam ở Việt Nam

Đất đai khí hậu nước ta cho phép sản xuất nhiều loại cây ăn quả quý nhưng đến nay nghề trông cây ăn quả vẫn chưa phát riển tương xứng với tiềm năng sản có của Đất nước Trong số các loại cây ăn quả thì cam là một trong số

Trang 23

các loại cây có giá trị rất lớn, góp phần không nhỏ vào sự tăng trưởng kinh tế của các nước trồng nó Riêng với Việt Nam chỉ có một ít tỉnh có điều kiện thuận lợi cho việc trồng cam và một phần không nhỏ trong số đó đã phát triển cam thành các đặc sản riêng của địa phương mình như cam Xã Đoài ở Nghệ An, Cam bù Hà Tĩnh, Cam sành ở Vĩnh Long

(Sản xuất Cam ở Việt Nam trải dài từ Bắc đến Nam thể hiện ở bảng phụ lục 1.2)

Trên phạm vi cả nước, sản xuất cam, quýt đạt khoảng 87,2 ngàn ha, hàng năm cung cấp khoảng 606,5 ngàn tấn cho thị trường; Trong các vùng trồng cam, quýt ở nước ta, ĐBSCL là vùng trồng lớn nhất, chiếm đến 56% diện tích và 71% sản lượng Ở vùng này các tỉnh trồng cam, quýt hàng đầu có thể kể đến là Bến Tre, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ, Hậu Giang v.v Một số loại Cam Quýt được trồng tại vùng Đồng bằng sông cửu long như Cam sành, quýt đường, quýt hồng, cam soàn Chúng đã trở thành là những loại trái đặc sản của vùng này, trong đó cam Sành là cây trồng có diện tích lớn nhất Diện tích trồng cam Sành ở ĐBSCL hiện phân bố chủ yếu tại các tỉnh: Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long Nhìn chung sản xuất cây cam Sành ở ĐBSCL đã hình thành được những vùng trồng khá tập trung Đây là hưóng sản xuất đúng mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho người trồng cam đặc biệt là trong việc tiêu thụ sản phẩm Sự quy hoạch rõ ràng và tập trung như thế này còn giúp chính quyền và người dân dễ theo dỏi, quản lí và nâng cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm Điều thuận lợi cho việc trồng cam, quýt ở Đồng bằng sông cửu long là mùa thu hoạch kéo dài suốt trong cả năm do điều kiện thời tiết thuận lợi Trong khi sản lượng cam, quýt ở các vùng khác lại thu hoạch đại bộ phận vào tháng 9 – tháng 12 Chính vì thu hoạch đại bộ phận như vây sẽ làm giảm giá trị

và khả năng cạnh tranh của sản phẩm Do vậy làm giảm hiệu quả sản xuất của người trồng cam vì tính mùa vụ

Vùng Đông Bắc có diện tích và sản lượng lớn thứ hại sau ĐBSCL, chiếm 15% diện tích và 8% sản lượng cam quýt cả nước Vùng này cũng trồng một số loại cam như cam Sành, cam Hà Giang trong đó cam Sành đang là sản phẩm cạnh tranh rất mạnh với cam Sành vùng Đồng bằng sông cửu long

Trang 24

Các tỉnh Bắc Trung Bộ là vùng trồng cam quýt lớn thứ 3 ở nước ta, chiếm 10,7% diện tích và 7,1% sản lượng cam, quýt của cả nước, hai địa phương trồng nhiều là Nghệ An, Hà Tĩnh Đây là vùng có nhiều loại cam quý như cam Chanh, Cam bù, cam Đường Trong đó có những loại cam đã trở thành thương hiệu riêng của vùng như cam Bù, cam Xã Đoài Sự xuất hiện của cam, quýt sản xuất của vùng này với đặc điểm là màu sắc vỏ đẹp, hấp dẫn, chiếm lĩnh một bộ phận không nhỏ thị phần tiêu thụ cam sành ĐBSCL vào các tháng 11,12,1

Vùng Đông Nam Bộ có khoảng 7.300 ha trồng cam, quýt nhưng năng suất thấp và diện tích mới trồng khá lớn nên sản lượng cam, quýt cung cấp cho thị trường hiện chỉ đạt khoảng 24,4 ngàn tấn/năm Đại phương trồng cam lớn nhất của vùng phải kể đến Đồng Nai Đây là địa phương trồng nhiều cam, quýt nhất, chiếm đến 53% tổng diện tích cam, quýt của vùng này Mùa vụ thu hoạch cam quýt của vùng cũng giống vùng Đồng bằng sông cửu long

Như vậy, ta có thể thấy tình hình sản xuất cam trong nước còn phụ thuộc rất nhiều vào vùng Đồng bằng sông cửu long Bởi vì, đây là vùng chiếm hơn nữa diện tích và sản lượng của Đất nước, các vùng khác chỉ trồng với diện tích rất ít và nhỏ

lẽ Điều này có thể làm ảnh hưởng tới việc cung cầu cam của từng vùng Bên cạnh

đó mùa thu hoạch cam lại tập trung vào cùng thời điểm, chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới giá cả, khi đó người trồng cam sẽ là người bị thiệt hại Do vậy, việc khắc phục tính thời vụ là rất cần thiết lúc này và cần tạo ra nhiều vụ nghịch trong trồng và sản xuất cam ở nước ta

* Phát triển cây ăn quan theo quan điểm của Ðảng và Nhà nước

Ngày 3/3/1999 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 182/QĐ/TTg phê duyệt đề án phát triển rau quả và hoa cây cảnh thời kỳ 1999-2010 Trên cơ sở phát huy lợi thế và tiềm năng của từng vùng sinh thái gắn với thị trường tiêu thụ, chương trình bảo quản chế biến sản phẩm đến hệ thống chính sách nhằm từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, đa các sản phẩm rau quả và hoa cây cảnh trở thành hàng hoá có giá trị kinh tế cao [3]

Nghị quyết 09/NQ-CP ngày 15/6/2000 của Chính phủ về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp tạo cơ sở pháp lý để phát triển nông

Trang 25

nghiệp hàng hoá và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tiến bộ và cụ thể Nghị quyết đa ra vấn đề cụ thể để phát triển cây ăn quả phát triển các loại cây

ăn quả nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới, khai thác có hiệu quả mọi lợi thế của các vùng sinh thái nước ta, đáp ứng nhu cầu đời sống nhân dân và xuất khẩu lớn trong tương lai Ngoài các cây ăn quả thông dụng đáp ứng nhu cầu phổ biến của đời sống nhân dân, cần phát triển một số cây ăn quả có khả năng cạnh tranh để xuất khẩu như vải, nhãn, dứa, thanh long [3]

Tình hình sản xuất Cam Bù ở Hương Sơn

Hương Sơn là vùng nổi tiếng về đặc sản Cam bù từ lâu đời nhưng ngày nay chính quyền và người dân nơi đây mới thực sự được lợi từ loại đặc sản này Hiện tại nhiều xã đã có giá trị Cam bù lên đến tỷ đồng như Sơn Trường, Sơn Mai Tuy nhiên việc sản xuất và tiêu thụ Cam bù ở đây còn nhiều khó khăn Cam bù là giống cây bản địa, có từ lâu đời trên vùng đất Hương Sơn phụ thuộc nhiều vào chất đất và các yếu tố vi lượng trong đất, cũng như đặc điểm về khí hậu, địa lý, Cam Bù Hương Sơn khi chín có mùi thơm hấp dẫn, vị ngọt, mã quả có màu đỏ da cam, nhiều nước, tép quả và nước quả có màu hồng Cam Bù là giống chín muộn, thu hoạch đúng vào dịp Tết Nguyên Đán Vì vậy, đây là loại cây mang lại giá trị kinh tế cao và bền vững cho người nông dân huyện Hương Sơn trước đây cũng như hiện nay Nhận thấy được tiềm năng cũng như lợi thế của cây Cam bù mang lại trong việc xóa đói giảm nghèo nên UBND tỉnh và huyện đã có chiến lược phát triển cây Cam bù trong thời gian tới Theo đó UBND tỉnh đã định hướng phát triển cây trồng vật nuôi đến năm

2020, trong đó ưu tiên phát triển sản xuất các loại cây ăn quả đặc sản có giá trị kinh tế cao Theo đó, kế hoạch sản xuất cây Cam Bù trong thời gian tới sẽ là: phục hồi, lưu trữ, bảo tồn nguồn giống và phát triển diện tích trồng Cam Bù lên 1.177 ha vào năm 2020 ở

2 huyện Hương Sơn và Vũ Quang Tập trung, khuyến khích đẩy mạnh sản xuất theo hướng hàng hoá, phát triển các trang trại sản xuất cam Bù có quy mô, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Tuy nhiên, những năm vừa qua, bà con nông dân Hương Sơn đã phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức Đó là nguy cơ thoái hoá giống, sâu bệnh, thiên tai, đặc biệt là bệnh vàng lá greening đã làm cho diện tích trồng bị thu hẹp Mặc dù đã có các chính sách phát triển nhưng hiện nay hình thức

Trang 26

trồng cam vẫn theo quy mô hộ gia đình, canh tác theo phong tục tập quán, kinh nghiệm

dân gian mà chưa có quy trình kỹ thuật cụ thể

Việc tìm đầu ra cho sản phẩm còn rất khó khăn, còn phụ thuộc vào nhiều yếu

tố Hiện tại, nguồn tiêu thụ sản phẩm chủ yếu là do các lái thương nên mặc dù năng suất cao nhưng lợi nhuận thu lại thì không đúng với giá trị thực của Cam Bù Hương Sơn, dẫn đến thiệt thòi cho người nông dân trồng cam Vì vậy cần có những biện pháp quảng bá thích hợp nhằm giới thiệu Cam bù Hương Sơn để người tiêu dùng biết và mở rộng thị trường tiêu thụ Có được như vậy thì người nông dân mới yên tâm sản xuất và mở rộng diện tích canh tác

Trang 27

Chương 2: ÐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Ðối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Ðối tượng nghiên cứu

- Hoạt động sản xuất cam Bù của các hộ trên địa bàn huyện Hương Sơn

- Hoạt động tiêu thụ cam Bù trên địa bàn huyện Hương Sơn

- Lợi thế so sánh của việc trồng cam Bù của các hộ trên địa bàn huyện Hương Sơn

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu

* Phạm vi về thời gian

- Đề tài được tiến hành nghiên cứu từ tháng 12 năm 2011 đến tháng 5 năm 2012

- Đề tài nghiên cứu trong thời gian khoảng thời gian từ năm 2009 đến hết năm 2012 và đề xuất giải pháp cho những năm tiếp theo

* Phạm vi về không gian

Đề tài được thực hiện nghiên cứu tại huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, lấy 3

xã Sơn trường, Sơn Mai và Sơn Thủy là vùng trồng can Bù nhiều nhất của Huyện lam địa bàn nghiên cứu chính cho đề tài

2.2 Nội dung nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu:

+ Tình hình sản xuất, tiêu thụ của Cam Bù Hương Sơn

+ Đánh giá hiệu quả kinh tế của trồng cam Bù

+ Nghiên cứu đánh giá lợi thế so sánh của trồng cam Bù

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

Để tiến hành nghiên cứu lợi thế so sánh của sản phẩm Cam Bù chúng tôi lựa chọn địa điểm nghiên cứu tại huyện Hương Sơn – Hà Tĩnh với lí do:

Hương Sơn là một trong những huyện có truyền thống trồng cây Cam Bù phát triển nhất của tĩnh Hà Tĩnh Với đặc điểm vùng sinh thái của Huyện, Cam Bù

đã trở thành đặc sản mà nhiều địa phương khác không thể có

Trang 28

Là một sản phẩm đặc sản, có giá trị kinh tế cao nên vì thế phân tích đánh giá

về lợi thế của nó là rất cần thiết Trước tình hình đó, nhận thấy được lợi thế to lớn

về mặt kinh tế của Cam Bù Nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh và phát triển sản phẩm Cam bù, mặt khác nhằm trang bị cho người dân trồng Cam Bù có thêm kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh dòng sản phẩm này chúng tôi dã chọn địa bàn huyện Hương Sơn làm điểm nghiên cứu

2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu

* Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp

Phương pháp thu thập số liệu đã công bố hay còn gọi là số liệu thứ cấp, đây

là nguồn số liệu để đảm bảo tính hiện thực khách quan cho đề tài nghiên cứu

Chúng tôi tập trung thu thập số liệu từ sách báo và Internet, các số liệu này

có tính chất tổng quan, khái quát nhưng góp phần nào giúp người nghiên cứu bước đầu hình dung được lợi thế so sánh nói chung và lợi thế so sánh trong lĩnh vực trồng trọt nói riêng Các số liệu được lấy ở phòng thống kê, các phòng ban liên quan của UBND huyện Hương Sơn và các xã nghiên cứu: các số liệu về điều kiện tự nhiên, điều kiện KT – XH, đó là các số liệu về đất đai, dân cư và lao động, nguồn lực tài chính, kết quả sản xuất kinh doanh, tài liệu ở các phòng ban trong UBND huyện Hương Sơn, dự án có liên quan đến trồng Cam

* Phương pháp thu thập tài liệu sơ cấp

Để thu thập được số liệu mới chúng tôi tiến hành điều tra trực tiếp các

hộ nông dân thông qua bảng hỏi, phiếu điều tra được xây dựng sẵn Xây dựng bảng câu hỏi gồm các nội dung gồm doanh thu, chi phí và lợi nhuận

Thông qua bảng câu hỏi cũng như quá trình phỏng vấn chúng tôi có được các thông tin về chủ hộ; thông tin cơ bản về đất đai, lao động, tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình tiêu thụ sản phẩm của hộ; xây dựng các phiếu điều tra gồm các chỉ tiêu về quy mô diện tích, năng suất, sản lượng và tình hình tiêu thụ Cam Bù của các hộ Mặt khác, chúng tôi điều tra về chí phí để tạo ra sản phẩm Cam, chất lượng của sản phẩm và những điểm mạnh và điểm yếu của

việc trồng và tiêu thụ sản phẩm Cam

Trang 29

2.3.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

2.3.3.1 Phương pháp phân tích số liệu

* Phương pháp thống kê kinh tế

Phương pháp này dựa trên cơ sở các phương pháp thống kê Nội dung của phương pháp này gồm có 3 nội dung là: thu thập tài liệu trên cơ sở quan sát số lớn, điều tra chọn mẫu, điều tra trọng điểm…; xử lý và hệ thống hóa tài liệu trên cơ sở phân tổ thống kê và cuối cùng là phản ánh, phân tích tài liệu ( sau khi tài liệu đã được tổng hợp ): Phản ánh mức độ ( nhiều hay ít, biến động và các hiện tượng của chúng có mối liên hệ với nhau như thế nào ) và so sánh chúng với nhau

Sử dụng các chỉ tiêu số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân để tính toán, mô tả thực trạng việc phát triển sản xuất cam của các hộ tại địa bàn huyện Hương Sơn cùng với những thuận lợi và khó khăn một cách khoa học Đồng thời trên cơ sở hệ thống chỉ tiêu thống kê có thể đánh giá mức độ của hiện tượng, tình hình biến động của các hiện tượng, mối quan hệ giữa các hiện tượng,

* Phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế

Phương pháp này sử dụng để hoạch toán chi phí và kết quả sản xuất làm cơ

sở cho việc phân tích hiệu quả kinh tế của việc sản xuất cam ở các hộ điều tra

Sau đó tiến hành so sánh các chỉ tiêu này giữa các mô hình trồng cam với nhau, giữa các năm với nhau để từ đó thấy rõ sự giống và khác nhau giữa các mô hình, các năm trong sản xuất cam và nguyên nhân của sự khác nhau này

2.3.3.2 Phương pháp phân tích lợi thế so sánh

Để nhằm xác định lợi thế so sánh của việc sản xuất cam Bù cho huyện Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh chúng tôi dùng phương pháp phân tích lợi thế so sánh

Lợi thế so sánh của sản xuất Cam Bù được đánh giá bởi lợi nhuận xã hội và được tính bằng tỷ số giữa chi phí các nguồn lực trong nước (DRC) với giá bóng của

tỷ giá hối đoái (SER)

Chỉ tiêu DRC là thước đo giá trị các nguồn lực trong nước cần thiết để tạo ra một đồng ngoại tệ thông qua xuất khẩu hoặc việc tiết kiệm được một đồng ngoại tệ thông qua sản xuất hàng thay thế nhập khẩu trong nghiên cứu này chỉ tiêu DRC phản ánh hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực trong nước để sản xuất Cam Bù

Trang 30

nhằm tạo ra ngoại tệ thông qua xuất khẩu hoặc tiết kiệm ngoại tệ bằng việc sản xuất Cam Bù trong nước thay thế nhập khẩu

Chi phí các nguồn lực trong nước (DRC) được tính như sau:

∑ ai jSj DRCi =

(1/OER)(Pib - ∑aijpj) Trong đó:

aij (j=k+1 đến n) khối lượng các đầu vào trong nước dùng để sản xuất 1 đơn

vị sản phẩm i

Sj giá xã hội của các đầu vào trong nước nói trên

OER tỷ giá hối đoái chính thức

Pib là giá quốc tế của một đơn vị sản phẩm (tính bằng đồng nội tệ)

Ai j (j=1 đến k) khối lượng các loại đầu vào nhập khẩu sử dụng để sản xuất 1 đơn vị sản phẩm i

Pj là giá nhập khẩu các đầu vào nói trên (tính bằng đồng nội tệ)

Sau khi tính được DRC, so sánh chỉ số này với giá bóng của tỷ giá hối đoái (SER) để tính chi phí nguồn lực

Hệ số chi phí nguồn lực bằng (DRCi/ SER)

SER chính là giá bóng của tỷ giá hối đoái

- Nếu ( DRCi/ SER)<1 ta kết luận sản phẩm i có lợi thế so sánh

- Nếu ( DRCi/ SER)>1 ta kết luận sản phẩm i không có lợi thế so sánh

Trang 31

+ Mối đe dọa (thách thức) là những sự kiện hay sức ép có thể xảy ra nằm ngoài tầm kiểm soát mà nghành, địa phương và đơn vị cần tính đến hay cần quyết định (đưa ra) cách giới hạn ảnh hưởng của nó

Phân tích các yếu tố bên trong và bên ngoài

2.3.4 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá

2.3.4.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh về phát triển sản xuất

- Diện tích, năng suất, sản lượng cây ăn quả bình quân của hộ

- Diện tích, năng suất, sản lượng cây ăn quả bình quân

- Chi phí đầu tư cho sản xuất cây ăn quả

- Tốc độ phát triển diện tích, năng suất, sản lượng qua các năm

- Các chỉ tiêu liên quan đến đánh giá hiệu quả kinh tế bao gồm:

+ Giá trị sản xuất (GO)

+ Chi phí trung gian (IC)

+ Giá trị gia tăng (VA)

+ Tỷ suất giá trị gia tăng (TVA)

+ Tỷ suất giá trị sản xuất (TGO)

2.3.4.2 Nhóm chỉ tiêu đánh giá lợi thế so sánh

Chỉ số chi phí nguồn lực trong nýớc (DRC): Dùng để đánh giá lợi thế so sánh của một mặt hàng trong một nước

Chi phí các nguồn lực trong nước (DRC) được tính như sau:

∑ ai jSj DRCi =

(1/OER)(Pib - ∑aijpj) Sau khi tính được DRC, so sánh chỉ số này với giá bóng của tỷ giá hối đoái (SER) để tính chi phí nguồn lực

Hệ số chi phí nguồn lực bằng (DRCi/ SER)

SER chính là giá bóng của tỷ giá hối đoái

- Nếu (DRCi/ SER)<1 ta kết luận sản phẩm i có lợi thế so sánh

- Nếu (DRCi/ SER)>1 ta kết luận sản phẩm i không có lợi thế so sánh

Trang 32

2.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

2.4.1 Đặc điểm tự nhiên của huyện Hương Sơn

2.4.1.1 Vị trí địa lý

Hương Sơn là một huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Hà Tĩnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ và có toạ độ địa lý từ 105o06’08” đến 105o33’08” Kinh độ Đông và từ 18o16’07” đến 18o37’28” Vĩ độ Bắc Ranh giới chính của huyện được xác định như sau:

+ Phía Đông giáp với huyện Đức Thọ

+ Phía Tây giáp với nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào

+ Phía Nam giáp với huyện Vũ Quang

+ Phía Bắc giáp với 2 huyện Nam Đàn và Thanh Chương tỉnh Nghệ An

Toàn huyện có 32 đơn vị hành chính cấp xã gồm 30 xã và 2 thị trấn với tổng diện tích tự nhiên là 110.314,98 ha; chiếm 18,33% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh Huyện có hai thị trấn là Phố Châu và Tây Sơn, trong đó Thị trấn Phố Châu là trung tâm văn hoá, chính trị của huyện, cách thành phố Hà Tĩnh 70 km về phía Tây Bắc Thị trấn Tây Sơn là trung tâm dịch vụ, thương mại của huyện - là đầu mối lưu thông hàng hoá từ cửa khẩu Cầu Treo đến các vùng trong cả nước Trên địa bàn huyện có tuyến đường chiến lược Hồ Chí Minh - trục xuyên Việt phía Tây của cả nước; trục quốc lộ 8A - hành lang kinh tế Đông - Tây nối Việt Nam với Lào qua cửa khẩu quốc

tế Cầu Treo với chiều dài gần 70 km…đã tạo nên những thuận lợi quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội của huyện trong tương lai khi nền kinh tế hội nhập khu vực

Trang 33

2.4.1.3 Điều kiện thời tiết, khí hậu, thuỷ văn

Hương Sơn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, là vùng có khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều chịu ảnh hưởng nhiều của gió phơn Tây Nam (gió Lào) Khí hậu ở đây chia thành hai mùa rõ rệt, từ tháng 5 đến tháng 10 là mùa mưa, khí hậu nắng nóng mưa nhiều, từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau là mùa khô lạnh, nhiệt

độ trung bình hàng năm là 27oC Tháng lạnh nhất là tháng 1, nhiệt độ xuống dưới

10oC Độ ẩm trung bình tương đối cao, dao động trong khoảng 80 - 90% Hai tháng nóng nhất là tháng 6 và tháng 7, nhiệt độ trung bình hai tháng này là 37oC,

có lúc lên đến 40oC Giai đoạn này thường có gió mùa Tây - Nam hoạt động với cường độ lớn gây ra khí hậu khô, nóng nên thường gây hậu quả rất xấu như hạn hán, mất mùa, giảm thu nhập của các hộ nông dân

Lượng mưa trung bình hàng năm lớn nhưng phân bố không đều, thường tập trung vào tháng 8 và tháng 9 Do địa hình dốc nên khả năng giữ nước rất kém, có nhiều sông chảy qua nên nguồn nước khá dồi dào nhưng lại không đều trong năm Vào mùa khô thường thiếu nước cho sinh hoạt và sản xuất, mùa mưa thường xảy ra lũ lụt

Nhìn chung, thời tiết ở đây tương đối khắc nghiệt, vào mùa khô gió Lào thường gây ra nắng nóng, hạn hán, mùa mưa do có nhiều đồi núi, sông suối, địa hình phức tạp nên thường xuyên xảy ra lũ lụt gây hậu quả khó lường và ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất nói chung và ngành trồng Cam Bù nói riêng

2.4.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của huyện Hương Sơn

2.4.2.1 Tình hình phân bố và sử dụng đất đai của huyện

Với tổng diện tích đất tự nhiên là 110.314,98 ha, chiếm 18,33% tổng diện tích toàn tỉnh Địa hình chủ yếu là đồi núi, tạo điều kiện phát triển kinh tế rừng, trồng các loại cây ăn quả mang lại giá trị cao đặc biệt là cây Cam Bù

Qua biểu đồ 3.1 ta thấy: Diện tích đất nông nghiệp giảm dần qua các năm Đến năm 2011, diện tích đất nông nghiệp đã giảm đi 13.275,4 ha chiếm 12,03% tổng diện tích đất tự nhiên Bình quân mỗi năm diện tích đất nông nghiệp giảm đi là 0,45% Nguyên nhân của việc giảm này là do sau khi có dự án 135 đất chuyên dùng tăng lên vì đầu tư mở rộng đường giao thông, đất xây dựng cơ bản, các khu kinh tế Tuy nhiên, diện

Trang 34

tích đất nông nghiệp giảm xuống cho thấy nền kinh tế xã hội ngày càng phát triển theo hướng có lợi, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp C̣n diện tích đất chưa sử dụng năm 2011

là 9.895,78 ha chủ yếu là đất gò đồi, những diện tích đất không có khả năng tưới tiêu

Trong đất nông nghiệp thì đất trồng cây hàng năm chiếm chủ yếu Năm

2009, diện tích trồng cây hàng năm chiếm đến 58,71% tổng diện tích đất nông nghiệp của huyện Đến năm 2011, diện tích này có giảm nhưng không đáng kể Xu hướng biến động qua 3 năm cho thấy diện tích đất trồng cây hàng năm bình quân mỗi năm giảm 0,87%

2.4.2.2 Dân số và lao động của huyện

Tình hình dân số và lao động của huyện Hương Sơn được thể hiện qua qua

tỷ lệ hộ nông nghiệp ở đây vẫn chiếm tỷ trọng lớn so với hộ phi nông nghiệp (chiếm 75%)

Trang 35

23.15%

LĐ nông nghiệp LĐ phi nông nghiệp

Đồ thị 2.3.Cơ cấu lao động năm2011

74.88% 25.12%

Hộ nông nghiệp Hộ phi nông nghiệp

Đồ thị 2.4 Cơ cấu hộ năm 2011

Trang 36

2.4.2.3 Tình hình sản xuất kinh doanh của huyện Hương Sơn

Bảng 2.1 Kết quả sản xuất kinh doanh của huyện Hương Sơn qua 3 năm (2009 – 2011)

GT ngành N– L– TS/hộ 10.69 10.30 10.05

Nguồn: Phòng thống kê huyện Hương Sơn năm 2011

Trang 37

Qua bảng số liệu 3.1 ta thấy: Trong cơ cấu sản xuất kinh doanh của huyện thì ngành nông - lâm - ngư nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ cao Bình quân tăng 7,2%/năm Các ngành công nghiệp, thương mại và dịch vụ chiếm tỷ lệ thấp (năm 2011 công nghiệp chiếm 5,36%; TM - DV chiếm 27,08%)

Trong cơ cấu ngành nông - lâm - thuỷ sản, nông nghiệp vẫn đóng vai trò chủ đạo (năm 2011 chiếm 77.43%) Đóng góp của của ngành lâm nghiệp cũng ngày càng tăng (bình quân tăng 86,35%/năm) Kết quả này là nhờ vào việc thực hiện chính sách giao đất, giao rừng và việc thực hiện dự án phủ xanh đất trống, đồi núi trọc bằng thông và keo đã phát huy hiệu quả cao

Trang 38

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Tình hình trồng và tiêu thụ cam Bù trên địa bàn Hương Sơn

Cam Bù là loại cây không chỉ nổi tiếng về chất lượng, giá trị sử dụng mà còn mang lại giá trị kinh tế rất cao cho người trồng cây ăn quả Theo thống kê của phòng nông nghiệp huyện Hương Sơn, sản lượng Cam Bù năm 2009 là 980 tấn, giá trị tương đương trên 30 tỷ đồng,năm 2010 là 1000 tấn, năm 2011 la 1200 tấn Vì Cam Bù chín đúng vào dịp tết Nguyên Đán nên giá trị kinh tế rất cao, có thời điểm như tết năm nay lên đến 82.000 đ/kg Đây là một trong những cây ăn quả chủ lực của huyện trước đây cũng như hiện nay phục vụ mục đích phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập cho người dân Với mục tiêu phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, đến nay Hương Sơn đang có kế hoạch hình

thành vùng sản xuất Cam Bù tập trung

Tuy nhiên Cam Bù Hương Sơn bị phân ly thành nhiều dòng Bởi vì, đến nay huyện vẫn chưa có cơ sở nhân giống sạch bệnh, người dân trồng cam phải mua giống từ nhiều nguồn kể cả giống trôi nổi trên thị trường không đảm bảo chất lượng Do đó, năng suất, chất lượng giảm sút, sâu bệnh gây hại nghiêm trọng đặc biệt là bệnh lá vàng gân xanh hay còn gọi là bệnh “Greening” và tàn lụi có tên Quốc tế là Tristeza và gần đây còn xuất hiên thêm bệnh nấm rễ đã trở thành dịch và phá huỷ các vườn Cam Bù

Trang 39

Theo tổng hợp số liệu báo cáo của các xã về phòng nông nghiệp huyện thì: Năm 1995 là năm có diện tích Cam Bù 202 ha nhưng đến năm 2010 là 260 ha Như vậy, chỉ sau hơn 10 năm, diện tích Cam Bù Hương Sơn đã tăng 139 ha Diện tích Cam Bù chủ yếu tập trung ở các vườn đồi, gia trại mới thành lập ở các thôn, xóm vùng sâu, vùng xa, dân cư thưa, địa hình bị chia cắt, phức tạp để hạn chế khả năng lây lan sâu bệnh

Tuy nhiên, trải qua nhiều biến động thì đến năm 2011, Cam Bù Hương Sơn đang có dấu hiệu phục sinh trở lại Hiện tại, đã có gần 110 ha đất được các hộ dân quy hoạch trồng mới Cam Bù, nâng tổng diện tích Cam Bù lên 285 ha, trong đó diện tích cho sản phẩm là 170 ha, chiếm gần 60% diện tích hiện có, với hơn 1000

hộ có vườn cam Qua điều tra chúng tôi thấy ở bất kỳ thời điểm nào thì các xã Sơn Mai, Sơn Trường và Sơn Thủy đều duy trì, ổn định được diện tích trồng và là 3 xã

có diện tích trồng cam Bù lớn nhất huyện

Về chất lượng

Qua điều tra chúng tôi thấy rằng: Số Cam Bù đã nhiễm bệnh (chiếm gần 10%) cho năng suất và chất lượng quả rất thấp Trước đây, diện tích này cho quả có trọng lượng trên 250 gr/quả chiếm tỷ lệ 60 - 70% thì tỷ lệ này hiện chỉ còn 40 - 50% Ở vùng cam truyền thống khó tìm được những quả cam có trọng lượng 250gr trở lên và khi chín có màu vàng nghệ - màu đặc trưng của Cam Bù Thay vào đó là quả bé, màu vàng chanh, vị chua, hạt nhiều, hạt bị lép do cam bị bệnh và thoái hoá nghiêm trọng

Trang 40

Qua bảng 3.2 ta thấy: Năm 1995, năng suất cam bình quân toàn huyện là 33,00 tạ/ha Đến năm 2010, năng suất còn lại 27,00 tạ/ha, giảm 6,00 tạ/ha, bằng 81,81% so với năm 1995 Các xã đạt năng suất khá trong năm 2010 là: Sơn Trường 32 tạ/ha, Sơn Mai

35 tạ/ha, Sơn Thuỷ 26 tạ/ha Nguyên nhân của việc giảm năng suất là do các vườn cam

đã nhiễm sâu bệnh chỉ có cây mà không có quả, hoặc rất ít quả và quả bé

Năm 2011, do tình hình sâu bệnh giảm, thời tiết khí hậu thuận lợi và người dân đầu tư thâm canh khiến năng suất Cam Bù tăng lên Nãng suất bình quân đạt 30-70 kg/cây, cá biệt có những cây cho nãng suất 100-200 kg/cây So với năm 2010 thì năng suất năm 2011 tăng một cách đột biến từ 27,00 tạ/ha lên đến 65 tạ/ha Điều này kéo theo sản lượng Cam Bù cũng tăng lên rất nhiều mặc dù diện tích cho quả tăng lên không đáng kể

Trong những năm gần đây diện tích, năng suất và chất lượng Cam Bù Hương Sơn

đã tăng trở lại nhờ sự nỗ lực của các hộ trồng cam và địa phương

Những khó khăn và thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ Cam Bù ở Hương Sơn

* Lợi thế cho phát triển ngành trồng Cam Bù

- Điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng đất đai thuận lợi cho phát triển cây Cam Bù,

đặc biệt là sản xuất cam có chất lượng cao

- Kinh nghiệm trồng Cam Bù của người dân huyện Hương Sơn rất tốt (bình quân là 11 năm kinh nghiệm và đã có từ lâu đời

- Tiềm năng để mở rộng diện tích trồng và mở rộng thị trường tiêu thụ của Cam Bù ra cả nước trong thời gian tới là rất lớn (kế hoạch diện tích năm 2020 là

1700 ha)

* Hạn chế trong sản xuất và tiêu thụ Cam Bù

- Diện tích trồng Cam Bù phân bố còn rải rác, không tập trung, thiếu quy hoạch (20% trồng xen trong các vườn cây ăn quả, 70% trồng ở trang trại vùng sâu, vùng xa, 10% trồng ở vườn nhà); khâu thiết kế, quản lý vườn cam của các hộ vẫn chưa tốt (mật độ trồng dày, trên 500 cây/ha)

- Tình hình sâu bệnh hại có giảm nhưng việc áp dụng phòng trừ vẫn chưa mang lại hiệu quả (bệnh Greening và tàn lụi), kể cả một số bệnh thông thường

Ngày đăng: 16/09/2021, 16:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. “Báo cáo tình hình phát triển kinh tế xã hội của huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh”, phòng Nông nghiệp huyện Hương Sơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình phát triển kinh tế xã hội của huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh
4. “Báo cáo kết quả sản xuất nông nghiệp năm 2011 và kế hoạch năm 2012 của huyện Hương Sơn”, phòng Nông nghiệp huyện Hương Sơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả sản xuất nông nghiệp năm 2011 và kế hoạch năm 2012 của huyện Hương Sơn”
5. Đỗ Đức Bình (1997), Kinh doanh quốc tế, NXB Giáo dục, Hà Nội 6. Chu Văn Cấp (2003), Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh doanh quốc tế
Tác giả: Đỗ Đức Bình (1997), Kinh doanh quốc tế, NXB Giáo dục, Hà Nội 6. Chu Văn Cấp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
10. Nguyễn Thị Hường(2005), “Phân biệt sức cạnh tranh của hàng hóa, của doanh nghiệp và của nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế”, Tạp chí kinh tế phát triển, số tháng 4/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân biệt sức cạnh tranh của hàng hóa, của doanh nghiệp và của nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế”, "Tạp chí kinh tế phát triển
Tác giả: Nguyễn Thị Hường
Năm: 2005
12. Vũ Thị Hải Lý (2008), “Đánh giá hiệu quả kinh tế và lợi thế so sánh của nuôi tôm sú ở tỉnh Thái Bình”, Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả kinh tế và lợi thế so sánh của nuôi tôm sú ở tỉnh Thái Bình
Tác giả: Vũ Thị Hải Lý
Năm: 2008
14. Nguyễn Văn Thanh(2004), “Một số vấn đề về năng lực canh tranh và năng lực cạnh tranh quốc gia”, Tạp chí nghiên cứu kinh tế, số 317 tháng 10/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về năng lực canh tranh và năng lực cạnh tranh quốc gia”, "Tạp chí nghiên cứu kinh tế
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh
Năm: 2004
15. Nguyễn Thị Minh Thu (2002), “Nghiên cứu lợi thế so sánh trong cạnh tranh xuất khẩu lúa gạo của Việt Nam”, Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu lợi thế so sánh trong cạnh tranh xuất khẩu lúa gạo của Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Thu
Năm: 2002
16. Bùi Thị Minh Tiệp (2005), “Nghiên cứu lợi thế so sánh trong hoạt động xuất khẩu thủy sản ở Công ty Dịch vụ và nhập khẩu Hạ Long”, Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu lợi thế so sánh trong hoạt động xuất khẩu thủy sản ở Công ty Dịch vụ và nhập khẩu Hạ Long
Tác giả: Bùi Thị Minh Tiệp
Năm: 2005
17. Trần Văn Tùng (2004), “Cạnh tranh kinh tế : Lợi thế cạnh tranh quốc gia và cạnh tranh công ty”, NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cạnh tranh kinh tế : Lợi thế cạnh tranh quốc gia và cạnh tranh công ty
Tác giả: Trần Văn Tùng
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2004
18. Ngô Văn Việt (2008), “Nghiên cứu hiệu quả kinh tế và lợi thế so sánh sản xuất khoai tây vùng đồng bằng Sông Hồng”, Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hiệu quả kinh tế và lợi thế so sánh sản xuất khoai tây vùng đồng bằng Sông Hồng
Tác giả: Ngô Văn Việt
Năm: 2008
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Năm 2004 - Tăng cường năng lực hội nhập quốc tế cho ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn (SCARDS II) – Đánh giá sự phù hợp của chính sách Nhà nước Việt Nam với các quy định trong hiệp định khu vực và đa phương - Hà Nội Khác
11. Kinh tế học chính trị Marx-Lenin(1999), NXB CHính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
13. Trần Đình Thao, Đỗ Trường Lâm, Lợi thế cạnh tranh trong sản xuất ngô của vùng đồng bằng sông Hông. Nghiên cứu kinh tế. Đại học Nông Nghiệp I Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1.2.1 Tình hình sản xuất Cam trên thế giới - Đánh giá lợi thế so sánh trong sản xuất cam bù hương sơn   hà tĩnh
1.2.1 Tình hình sản xuất Cam trên thế giới (Trang 19)
Tình hình dân số và lao động của huyện Hương Sơn được thể hiện qua qua 2 đồ thị dưới đây - Đánh giá lợi thế so sánh trong sản xuất cam bù hương sơn   hà tĩnh
nh hình dân số và lao động của huyện Hương Sơn được thể hiện qua qua 2 đồ thị dưới đây (Trang 34)
2.4.2.3 Tình hình sản xuất kinh doanh của huyện Hương Sơn - Đánh giá lợi thế so sánh trong sản xuất cam bù hương sơn   hà tĩnh
2.4.2.3 Tình hình sản xuất kinh doanh của huyện Hương Sơn (Trang 36)
3.1. Tình hình trồng và tiêu thụ cam Bù trên địa bàn Hương Sơn - Đánh giá lợi thế so sánh trong sản xuất cam bù hương sơn   hà tĩnh
3.1. Tình hình trồng và tiêu thụ cam Bù trên địa bàn Hương Sơn (Trang 38)
Bảng 3.2 Năng suất cam Bù của huyện giai đoạn 1995 Ờ 2011 - Đánh giá lợi thế so sánh trong sản xuất cam bù hương sơn   hà tĩnh
Bảng 3.2 Năng suất cam Bù của huyện giai đoạn 1995 Ờ 2011 (Trang 39)
* Tình hình vốn bằng tiền cuả các hộ trồng cam Bù. - Đánh giá lợi thế so sánh trong sản xuất cam bù hương sơn   hà tĩnh
nh hình vốn bằng tiền cuả các hộ trồng cam Bù (Trang 42)
3.3. Tình hình tiêu thụ Cam Bù của các hộ điều tra - Đánh giá lợi thế so sánh trong sản xuất cam bù hương sơn   hà tĩnh
3.3. Tình hình tiêu thụ Cam Bù của các hộ điều tra (Trang 43)
Bảng 3.6: Mức đầu tư chi phắ cho sản xuất Cam Bù trên 1ha - Đánh giá lợi thế so sánh trong sản xuất cam bù hương sơn   hà tĩnh
Bảng 3.6 Mức đầu tư chi phắ cho sản xuất Cam Bù trên 1ha (Trang 48)
Bảng 3.7 Kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất Cam Bù trên 1ha năm2011 - Đánh giá lợi thế so sánh trong sản xuất cam bù hương sơn   hà tĩnh
Bảng 3.7 Kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất Cam Bù trên 1ha năm2011 (Trang 51)
Bảng 3.8 So sánh hiệu quả kinh tế sản xuất cam Bù và cam Chanh trên 1ha - Đánh giá lợi thế so sánh trong sản xuất cam bù hương sơn   hà tĩnh
Bảng 3.8 So sánh hiệu quả kinh tế sản xuất cam Bù và cam Chanh trên 1ha (Trang 54)
Bảng 3.9 Chi phắ cơ hội của các nguồn lực trong nước - Đánh giá lợi thế so sánh trong sản xuất cam bù hương sơn   hà tĩnh
Bảng 3.9 Chi phắ cơ hội của các nguồn lực trong nước (Trang 58)
Bảng3.10: Chi phắ nguồn lực trong nước cho sản xuất cam Bù tại huyên Hương Sơn năm 2011  - Đánh giá lợi thế so sánh trong sản xuất cam bù hương sơn   hà tĩnh
Bảng 3.10 Chi phắ nguồn lực trong nước cho sản xuất cam Bù tại huyên Hương Sơn năm 2011 (Trang 60)
Bảng 1.2: Tình hình sản xuất cam trong những năm qua - Đánh giá lợi thế so sánh trong sản xuất cam bù hương sơn   hà tĩnh
Bảng 1.2 Tình hình sản xuất cam trong những năm qua (Trang 86)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w