1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiệu quả phát triển đàn gia súc và quản lý dịch bệnh gia súc người dân huyện kỳ sơn, tỉnh nghệ an

79 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Hiệu Quả Phát Triển Đàn Gia Súc Và Quản Lý Dịch Bệnh Gia Súc Có Sự Tham Gia Của Người Dân Ở Huyện Kỳ Sơn, Tỉnh Nghệ An
Tác giả Và Bá Rê
Người hướng dẫn Th.S Trần Xuân Minh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Khuyến Nông Và Phát Triển Nông Thôn
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2012
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tập quán sản xuất của người dân nói chung và chăn nuôi nói riêng phần đa còn phó mặt cho tự nhiên, mặc dù trong những năm qua với lồng ghép các chương trình dự án, huyện đã tổ chức hàng

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

- -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ PHÁT TRIỂN ĐÀN GIA SÚC VÀ QUẢN LÝ DỊCH BỆNH GIA SÚC CÓ SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN Ở HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN

KỸ SƯ NGÀNH: KHUYẾN NÔNG VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

Người thực hiện: Và Bá Rê Lớp: 49K KN&PTNT Giáo viên hướng dẫn: Th.S Trần Xuân Minh

VINH, 05/2012

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trang 2

Để có nền sản xuất nông nghiệp phát triển toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc thì chăn nuôi phải phát triển cân đối với trồng trọt Nhiệm vụ của chăn nuôi là phải đảm bảo những nhu cầu trước mắt ngày càng lớn như cung cấp sức kéo và phân chuồng phục vụ thâm canh, tăng mùa vụ và cải tạo đất đai, cung cấp thực phẩm (thịt, trứng, sữa, ) cho đời sống nhân dân, cung cấp sản phẩm chăn nuôi cho công nghiệp và xuất khẩu, đồng thời phải tạo cơ sở thuận lợi để xây dựng nền sản xuất nông nghiệp xã hội chủ nghĩa cân đối và hiện đại sau này Vì vậy, muốn phát triển đàn gia súc bền vững thì trước hết chúng ta cần thực hiện tốt việc quản lý dịch bệnh và phòng chống dịch bệnh một cách có hiệu quả

Thời gian qua, tình hình dịch bệnh gia súc trong nước cũng như trên thế giới diễn biến phức tạp gây ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế và sức khỏe con người Để chủ động phòng, chống dịch bệnh gia súc có hiệu quả, tránh tư tưởng chủ quan cần xây dựng kế hoạch phòng, chống dịch bệnh gia súc một cách có hệ thống

Chủ động phòng chống dịch bệnh đàn gia súc và phát triển đàn gia súc góp phần ổn định sản xuất, tạo thu nhập cho nền kinh tế, đảm bảo an ninh quốc phòng

và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân

Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020 với mục tiêu xây dựng nền chăn nuôi an toàn sinh học, bền vững được đề ra trong bối cạnh ngành còn đối mặt với bộn bề gian khó, sẽ thật khó để tìm được gam màu sáng trong bức tranh chăn nuôi ở Việt Nam Bóng đen của dịch tai xanh, lở mồm long móng, tụ huyết trùng, hạn chế trong sản xuất, kinh doanh như chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán kỹ thuật lạc hậu, môi trường ô nhiễn, không chỉ khiến các cấp quả lý đau đầu mà người nuôi cũng lao đao

Những năm gần đây việc phòng chống dịch bệnh gia súc ngày càng được Đảng, nhà nước và các cấp, ban ngành quan tâm Các trang trại chăn nuôi lớn tập trung và chăn nuôi các hộ gia đình có thể sẽ đạt hiệu quả hơn nếu có sự lý quản đồng bộ, cùng tham gia của nhân dân vào việc quản lý dịch bệnh và phát triển đàn gia súc

Kỳ Sơn là huyện miền núi vùng cao là một trong những huyện khó khăn nhất của cả nước Tổng diện tích đất toàn huyện 209.334,84 ha và chủ yếu đất đai

Trang 3

đồi núi với độ dốc bình quân 30o

trở lên, đất bằng ruộng nước chỉ có 759,90 ha chiếm 0,36% diện tích đất tự nhiên Tập quán sản xuất của người dân nói chung và chăn nuôi nói riêng phần đa còn phó mặt cho tự nhiên, mặc dù trong những năm qua với lồng ghép các chương trình dự án, huyện đã tổ chức hàng trăm lớp tập huấn, xây dựng mô hình, tổ chức mạng lưới nhằm thay đổi tập quán chăn nuôi của người dân, những sự thay đổi thả rông trâu, bò và ý thức tiêm phòng cho gia súc của người dân còn nhiều hạn chế

Đại gia súc, cụ thể là trâu, bò chiếm vị trí quan trọng trong đời sống của đồng bào các dân tộc Thái, Hmông, Khơ Mú 3 nhóm dân tộc chiếm trên 95% tổng dân số huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An Với mức độ tăng trưởng trung bình xấp xỉ khoảng 9% mỗi năm cho giai đoạn 2005 - 2010, chăn nuôi đã dần chiếm tỷ lệ quan trọng trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp Chương trình phát triển kinh tế

xã hội tới năm 2015 của huyện Kỳ Sơn cho thấy mức độ ưu tiên trong chủ trương phát triển đàn gia súc của lãnh đạo huyện, cụ thể là mong muốn tăng tổng đàn từ 38.000 con vào thời điểm 2010 lên 65.000 con vào cuối năm 2015 Theo số liệu thống kê của Phòng nông nghiệp, tổng đàn gia súc (trâu, bò) toàn huyện đã đạt 41.000 con và tốc độ tăng trưởng đàn đạt mức trung bình khoảng 8% một năm Trong 6 năm từ 2005 - 2011 tổng đàn gia súc tăng 11.600 con (chủ yếu là bò) với mức tăng trưởng gần 39,5%, riêng bò tăng 43,37% Mặc dù việc quản lý dịch bệnh gia súc đã có nhiều tiến bộ, thể hiện bằng tỷ lệ gia súc chết dịch đã giảm 75% trong 6 năm qua nhưng số lượng gia súc chết hàng năm vẫn lên tới hàng trăm con, tổng gia súc chết năm 2005 - 2009 là trên 6.000 con, thêm vào đó diễn biến dịch bệnh gia súc những năm gần đây xảy ra rộng khắp và diễn biến khó lường, đi kèm với công tác quản lý dịch bệnh vẫn còn tồn đọng nhiều vẫn đề chưa có giải pháp khắc phục sẽ là khó khăn chính cản trợ huyện Kỳ Sơn đạt mục tiêu tăng trưởng

Xuất phát từ thực tiễn đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá

hiệu quả phát triển đàn gia súc và quản lý dịch bệnh gia súc người dân huyện

Kỳ Sơn - Nghệ An” nhằm tìm ra nguyên nhân tồn tại và đề xuất giải pháp nâng

cao hiệu quả quản lý dịch bệnh và phát triển đàn gia súc tại huyện Kỳ Sơn nói riêng và cả nước nói chung

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 4

2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá tính phù hợp, hiệu quả phát triển chăn nuôi gia súc và quản lý dịch bệnh của đàn gia súc trên các phương diện kinh tế - xã hội - môi trường nhằm đề xuất các giải pháp thiết thực góp phần nâng hiệu quảphát triển chăn nuôi

2.2 Mục tiêu cụ thể

Tạo sự hiểu biết sâu sắc về phát triển đàn gia súc và quản lý dịch bệnh cho người dân địa bàn nghiên cứu

Đánh giáthực trạng phát triển gia súc tại địa bàn nghiên cứu

Đánh giá được vai trò của người dân trong quản lý dịch bệnh và phát triển đàn gia súc tại địa bàn nghiên cứu

Đánh giá được mức độ mà người dân đã thực hiện quản lý dịch bệnh so với thực tế và so sánh phát triển chăn nuôi hiện tại so với lợi thế phát triển chăn nuôi của vùng

Xác định các yếu tố đóng góp của người dân địa phương tới việc quản lý dịch bệnh và phát triển đàn gia súc

Kiến nghị một số giải pháp thiết thực nhằm gó phần nâng cao vai trò của người dân trong tham gia quan lý dịch bệnh và phát triển đàn gia súc

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Cung cấp các dẫn liệu khoa học, lý luận và thực tiễn phát triển chăn nuôi gia súc và quản lý dịch bệnh gia súc cho người dân địa phương

Nghiên cứu thực trạng phát triển chăn nuôi gia súc và quản lý dịch bệnh đàn gia súc huyện Kỳ Sơn – Nghệ An

Từ những kết quả nghiên cứu, phân tích, kết luận và đề xuất đưa ra một số các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phát triển chăn nuôi gia súc và quản lý dịch bệnh đàn gia súc cho người dân

Trang 5

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Khái niệm phát triển kinh tế và phát triển nông nghiệp

Hiện nay tồn tại nhiều khái niệm khác nhau về phát triển, mỗi khái niệm phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau

Theo Ngân hàng thế giới (WB): phát triển trước hết là sự tăng trưởng về kinh tế, nó còn bao gồm cả những thuộc tính quan trọng và liên quan khác, đặc biệt

là sự bình đẳng về cơ hội, sự tự do về chính trị và các quyền tự do của con người (World Bank, 1992) [37]

Theo MalcomGills – Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương: phát triển bao gồm sự tăng trưởng và thay đổi cơ bản trong cơ cấu của nền kinh tế, sự tăng lên của sản phẩm quốc dân do ngành công nghiệp tạo ra, sự đô thị hoá, sự tham gia của các dân tộc của một quốc gia trong quá trình tạo ra các thay đổi trên.[39]

Tuy có nhiều quan niệm khác nhau về phát triển, nhưng các ý kiến đều cho rằng đó là phạm trù triết học và phát triển được hiểu theo nghĩa chung nhất, đó là việc làm ra nhiều sản phẩm hơn cái vốn có của sự vật hiện tượng, làm phong phú

về chủng loại cũng như thay dổi chất lượng tùy vào người sử dụng Và mục tiêu chung của phát triển là nâng cao các quyền lợi về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội

và quyền tự do công dân của mọi người dân

Phát triển kinh tế được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh

tế Phát triển kinh tế được xem như là quá trình biến đổi cả về lượng và về chất, nó

là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề kinh tế và xã

hội ở mỗi quốc gia (Vũ Thị Ngọc Phùng, 2006) [13]

Có thể hiểu phát triển kinh tế là một quá trình biến đổi nền kinh tế quốc dân bằng sự gia tăng về sản xuất và nâng cao mức sống của dân cư Phát triển kinh tế được xem như là quá trình biến đổi cả về lượng và về chất, nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia Tóm lại, phát triển kinh tế là sự phát triển trong đó bao gồm cả sự tăng thêm

về qui mô số lượng cũng như sự thay đổi cấu trúc theo chiều hướng tiến bộ của

Trang 6

nền kinh tế và việc nâng cao chất lượng của sản phẩm để đạt đến đích cuối cùng đó

là tăng hiệu quả kinh tế

Phát triển nông nghiệp bền vững là vẫn đề trung tâm của nhiều nước trên thế giới

và nhất là các nước đang phát triển để tiếp cận đúng đắn với sự phát triển bền vững nông nghiệp cần thiết phải nhận thức và phát triển, tăng trưởng và phát triển

1.1.2 Các nghiên cứu phát triển gia súc và dịch bệnh gia súc

1.1.2.1 Phát triển chăn nuôi gia súc

Gia súc là tên dùng để chỉ một hoặc nhiều loài động vật có vũ được thuần hóa và nuôi vì mục đích sản xuất hàng hóa như lấy thực phẩm, chất xơ hoặc lao động việc chăn nuôi gia súc là một bộ phận quan trọng trong nền nông nghiệp

(Nguyễn Minh Đức - 1997) [7]

Chăn nuôi trâu, bò ở nước ta từ trước đến nay chủ yếu để cung cấp sức kéo cho nông nghiệp và lâm nghiệp Từ khi có nghị quyết 357-CP của hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) cho phép các thành phần kinh tế được tự do chăn nuôi không hạn chế về quy mô và số lượng, được tự do lưu thông, mở rộng chợ và giết thịt, đàn bò phát triển với tốc độ khá nhanh và nhanh hơn so với đàn trâu không chỉ

ở miền trung, miền núi mà cả vùng đồng bằng Để chăn nuôi có hiệu quả kinh tế cao, người chăn nuôi phải có những hiểu biết nhất định về kỹ thuật và một số vẫn

đề khác, trong đó 3 yếu tố: Giống, thức ăn và kỹ thuật nuôi dưỡng chiếm vị trí quan trọng hang đầu [20]

Phát triển đàn gia súc là phải làm tăng số lượng trâu, bò, ngựa, lợn, dê lên không chỉ về mặt số lượng mà cả về chất lượng để tạo thu nhập người dân, ổn định sản xuất, đảm bảo an ninh lượng thực tại địa phương, đảm bảo an ninh quốc gia Chăn nuôi gia súc là mũi nhọn để xáo đói giảm nghèo nên cần được đặt dưới

sự chỉ đạo sâu sát, cụ thể của các cấp chính quyền, các hoạt động cần được triển khai với trách nhiệm cao của cơ quan thú y, sự phối hợp đồng bộ và hiệu quả của các ban ngành chuyên môn, các chương trình dự án, các đoàn thể nhân dân, đồng thời phải phát huy vai trò làm chủ của người dân từ khâu quy hoạch chăn nuôi, lập

kế hoạch phát triển, đến tổ chức thực hiện, giám sát và tự đánh giá hiệu quả chăn nuôi

Trang 7

Các hệ thống chăn nuôi: Hiện nay, trên thế giới vẫn tồn tại 3 hệ thống chăn nuôi khác nhau Đó là (1) hệ thống chăn thả đồng cỏ: Đây là hệ thống chăn thả vẫn tồn tại ở nhiều vùng khác nhau trên thế giới, song đặc biệt phổ ở các vùng khô hạn, nơi mà sản xuất trồng trọt gặp rất nhiều khó khăn do thiếu nước tưới, ở Nam Á, Trung Á, Châu Phi và phần của Châu Âu; (2) Hệ thống nuôi trang trại hỗn hợp: Đây là hệ thống mà chăn nuôi được kết hợp với trồng trọt trọng một nông trại, hệ thống chăn nuôi – trồng trọt này hiện đang đón vai trò quan trọng nhất trong việc cung cấp thực phẩm cho toàn thế giới và (3) Hệ thống chăn nuôi công nghiệp: Đây

là hệ thống chăn nuôi tập trung, đòi hỏi đầu tư vốn cao, hệ thống chăn nuôi này thường không kết hợp với trồng trọt để sản xuất thức ăn riêng cho mình, mà nguồn thức ăn thường được nhập vào từ các vùng, các nơi khac, thậm chí từ các từ các nước khác [17]

Phát triển đàn gia súc phải đi đôi với việc đẩy mạnh chăn nuôi, tăng cường việc bảo vệ đàn gia súc để phục vụ sản xuất nông nghiệp cho người dân

Người dân phải được ra quyết định phòng chống, quản lý dịch và phát triển đàn gia súc

1.1.2.2 Một số dịch bệnh

Trong chăn nuôi, dịch bệnh luôn là mối đe dọa lớn nhất Hệ thống thú y bao gồm các dịch vụ phòng, chữa bệnh gia súc từ cấp cơ sở đến cấp huyện, tỉnh và trung ương, đóng vai trò quan trọng đối với các hệ thống chăn nuôi Trong thực tế nếu không có sự hợp tác chặt chẽ giữa các cơ sở chăn nuôi với nhau giữa họ với hệ thống thú y, thì khả năng bùng phát và lây lan bệnh là rất dễ xảy ra (Trần Danh Thìn - 2008) [17]

Dịch bệnh là vật cản của quá trình phát triển chăn nuôi đại gia súc, dịch bệnh làm tổn thất tài sản của người dân và làm giảm hiệu quả các chương trình hỗ trợ

Tổ chức thực hiện hoạt động quản lý dịch hiệu quả vì thế cần được xem là điều kiện bước đầu cho việc xết duyệt phân bổ các nguồn lực hỗ trợ, các khoản vay, nhằm đảm bảo sử dụng an toàn, hiệu quả nguồn vốn hỗ trợ củ nhà nước, các chương trình dự án và an toàn cho tài sản của người dân

Một số dịch bệnh thường gặp và ảnh hưởng đến sự phát triển chăn nuôi: Bệnh tụ huyết trùng (Pasteurellosis bovium), bệnh lở mồm long móng (Aphtae

Trang 8

epizooticae), bệnh lao (Tuberculosis), … dịch là bệnh truyền nhiễm cấp tính lây lan nhanh, rộng của nhiều loài thú nuôi, nhất là trâu, bò, lợn Dịch bệnh gây tổn thấp lớn về kinh tế, làm trở ngại cho sản xuất nông nghiệp

1.1.3 Vai trò phát triển đàn gia súc

Không chỉ với ngành chăn nuôi mà đối với bất kỳ ngành nào cũng thế muốn phát triển cần có các nguồn đầu tư như: vốn, con người, cơ sở vật chất, , nói chung cần có các nguồn lực đẻ phát triển Chính vì thế trong phát triển chăn nuôi con người đóng vai trò quan trọng

Phát triển chăn nuôi phải chỉ đạo, theo dõi thường xuyên và toàn diện, chú ý đúng mức đến chăn nuôi, hiện nay nhất là giống vật nuôi, thức ăn, chăm sóc thú y, vật tư, trang bị công cụ, cán bộ cho ngành chăn nuôi chưa được đào tạo đúng mức Nên sự cùng tham gia của người dân địa phương đóng vai trò quan trọng cho phát triển chăn nuôi nói chung và phát triển đàn gia súc nói riêng

Lương thực, thực phẩm và vệ sinh an toàn thực phẩm là vấn đề sống còn của nhân loại Ngày nay nông nghiệp có vai trò quan trọng cung cấp lương thực và các loại thực phẩm nuôi sống cả nhân loại trên trái đất Ngành chăn nuôi không chỉ có vai trò cung cấp thịt, trứng, sữa là các thực phẩm cơ bản cho dân số của cả hành tinh mà còn góp phần đa dạng nguồn giene và đa dạng sinh học trên trái đất

1.1.4 Các chính sách khuyến khích người dân tham gia phát triển đàn gia súc

và quản lý dịch bệnh

Để có tổ chức phát triển đàn gia súc và quản lý dịch bệnh có hiệu quả, bền vững cần phải có một môi trường pháp lý thuận lợi, quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan liên quan, đem lại lợi ích cho người chăn nuôi, khuyến khích nâng cao năng lực quản lý

Khuyến khích người dân phát triển chăn nuôi trâu, bò theo phương thức trang trại, thâm canh kết hợp nuôi nhốt , bán chăn thả và chăn nuôi hộ gia đình Khuyến khích người dân phát triển trồng cỏ và các nguồn phụ phẩm nông nghiệp để làm thức ăn chăn nuôi

Khuyến khích người dân tự kiểm dịch, giám sát, vận chuyển buôn bán trâu,

bò giữa các vùng Tạo điều kiện thuận lợi người dân trong công tác tự mua thuốc

và tiêm phòng dịch bệnh

Trang 9

Về số lượng vật nuôi của thế giới, các nước Trung quốc, Hoa kỳ, Ấn Độ, Brazin, Indonesia, Đức là những cường quốc, trong khi đó Việt Nam cũng là nước

có tên tuổi về chăn nuôi: đứng thứ 2 về số lượng vịt, thứ 4 về heo, thứ 6 về số lượng trâu và thứ 13 về số lượng gà

Năm thứ 9 của thế kỷ 21, đại dịch cúm A/H1N1 đã làm hơn 10.000 người tử vong Trước đó, loài người phải đối mặt với ít nhất 3 dịch bệnh lớn: lở mồm long móng, SARS và cúm H5N1

+ Năm 2001: “Dịch lở mồm long móng” được thế giới liệt vào một trong 10

sự kiện hàng đầu của năm khi nó lan rộng và gây thiệt hại rất lớn về kinh tế và xã hội Tại khu vực liên minh châu Âu, dịch bệnh bùng phát ở Anh, Pháp và Hà Lan, trong đó lớn nhất là tại Anh với hơn 6 triệu gia súc bị tiêu hủy và thiệt hại về kinh

tế là hơn 6,7 tỉ USD Dịch sau đó xảy ra tại Hàn Quốc, Nhật Bản và đến năm 2003 lan đến Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam

Đây là một loại bệnh truyền nhiễm rất nguy hiểm do virus gây ra trên động vật móng guốc nhẵn Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) xếp bệnh này đứng đầu các bệnh truyền nhiễm của động vật

+ Năm 2003: “Dịch viêm đường hô hấp cấp” bùng phát ở châu Á và lây lan

ra nhiều khu vực khác, tác động xấu đến kinh tế toàn cầu, đặc biệt là ngành du lịch Việt Nam là nước đầu tiên khống chế thành công bệnh dịch, được WHO và dư luận quốc tế ca ngợi Tháng 3/2004, dịch viêm đường hô hấp xuất hiện và lan rộng ở Trung Quốc, làm gần 200 người tử vong Từ đó, dịch viêm đường hô hấp bắt đầu lây truyền qua các nước khác trên thế giới, đặc biệt tại khu vực Đông Nam Á Tỷ lệ

Trang 10

tử vong do viêm đường hô hấp là 10% Từ mùa thu năm 2002 đến mùa xuân năm

2003, số người mắc bệnh là 8.000 và lượng tử vong là 774

+ Năm 2004: Dịch cúm gia cầm (cúm H5N1) gây thiệt hại nghiêm trọng ở

nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt ở châu Á Từ tháng 12/2003 đến tháng 5/2009, đã

có 258 người tử vong trong số 423 ca nhiễm H5N1 tại 15 nước, chủ yếu ở châu Á Điều đáng lo ngại là khả năng virus H5N1 có thể biến đổi, tạo nguy cơ lây từ người sang người sau khi 7 người thuộc một gia đình ở Indonesia bị nhiễm virus và 6 người trong số đó đã tử vong Đến năm 2005, dịch cúm gia cầm bùng phát mạnh và lan rộng khắp các châu lục

Năm 2009: Cúm A/H1N1, ban đầu có tên là “cúm heo”, được phát hiện đầu

tiên ở Mexico vào tháng 4 rồi nhanh chóng lây lan mạnh khiến chỉ 2 tháng sau đó

và là lần đầu tiên trong 41 năm qua, WHO phải tuyên bố về một đại dịch trên quy

mô toàn cầu

Tính đến nay, dịch bệnh này xuất hiện tại 206 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới với khoảng 504.000 người nhiễm virus cúm A/H1N1 Trong số này, ít nhất 10.192 người đã tử vong [35]

Ở Thái Lan ngành chăn nuôi đã trở thành chăn nuôi đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, có hiệu quả thị trường tiêu dùng nội địa và xuất khẩu quán triệt nguyên tắc bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên và sản xuất bền vững Hiệu quả và hiệu lực quản lý chăn nuôi, thú y và ATVSTP của Thái Lan khá tốt, có thể được khái quát do có: pháp chế phù hợp, tổ chức thống nhất, kinh phí (nguồn lực) đủ, trách nhiệm rõ ràng và hành động quyết liệt.[38]

Phương thức chăn nuôi hiện nay của các nước trên thế giới vẫn có ba hình thức cơ bản đó là: i) Chăn nuôi quy mô công nghiệp thâm canh công nghệ cao ii) Chăn nuôi trang trại bán thâm canh và iii) Chăn nuôi nông hộ quy mô nhỏ và quảng canh

1.2.2 Thực trạng phát triển chăn nuôi gia súc và quản lý dịch bệnh gia súc ở Việt Nam

Nước ta là một nước nông nghiệp đang phát triển thoe hướng công nghiệp hóa, hiên đại hóa Phát triển nền nông nghiệp bền vững đã và đang trở thành phương châm trong chiến lược phát triển của toàn quốc gia

Trang 11

Xuất phát từ yêu cầu tiêu dùng và để từng bước xây dựng ngành chăn nuôi phát triển vào năm 1967 hội đồng chính phủ đã ban hành "Nghị quyết số 62-CP về phát triển chăn nuôi gia súc"

Vai trò chăn nuôi:

+ Cung cấp thực phẩm: Con người có thể sống, tồn tại và phát triển thì phải

có các chất dinh dưỡng, trong đó chất dinh dưỡng cần thiết và quan trọng nhất là protein, chăn nuôi cung cấp cho con người nguồn protein động vật (thịt, trứng, sữa), có giá trị dinh dưỡng cao cân đối các axit amin

+ Cung cấp sức kéo và chuyên chở (trâu, bò, ngựa): Trong trào lưu công nghiệp hóa tiến nhanh trong các nước công nghiệp phát triển thì đã có hiện tượng lãng quên sức kéo cuả gia súc, nhưng hiện nay ở nước ta sức kéo của trâu, bò vẫn được coi trọng Theo thống kê của cục khuyến nông và phát triển nông thôn (1995) thì có đến 45% trâu bò được sử dụng vào mục đích cày kéo

+ Cung cấp phân bón: Chăn nuôi cung cấp một lượng phân bón hữu cơ cho ngành trồng trọt, nguồn phân này giúp đất hồi phục chất mùn và dinh dưỡng góp phần cải tạo đất tăng năng suất cây trồng Lượng phân thải ở trâu, bò nếu tính theo trọng lượng cơ thể thì lượng phân thải ra hàng ngày khoảng 5,17% trọng lượng sống

+ Nâng cao thu nhập: Ngành chăn nuôi chiếm khoảng 20-30% trong tổng thu nhập của ngành nông nghiệp trong kinh tế hộ gia đình thì nguồn thu nhập của ngành chăn nuôi lên tới 50-60% Ở Việt Nam thì hầu hết các hộ nông dân đều chăn nuôi và nó mang lại cho người dân một khoản thu nhập đáng kể Chăn nuôi trước đây chỉ được xem là phần phục lục còn ngày nay nó đã trở thành một ngành sản xuất hàng hóa , nó mang lại nguồn thu nhập lớn từ xuất khẩu hàng hóa thịt, sữa, long, da,

Trồng trọt đã đạt tầm thế giới, xuất khẩu thủy sản đạt hàng tỷ USD/năm Nhưng chăn nuôi thì vẫn chưa có sự bứt phá mạnh mẽ Từ trước đến nay, chăn nuôi luôn có vai trò quan trọng đối với nền nông nghiệp nước ta, giá trị chăn nuôi chiếm tỷ trọng khá, trên 27% cơ cấu của toàn ngành và tăng trưởng mỗi năm (giai đoạn 2001 - 2009) đạt 7-8% Theo tổng cục thống kê, năm 2010 tổng số đầu lợn đạt 27,3 triệu con, số lượng gia cầm hơn 300 triệu con, sản lượng thịt đạt 615

Trang 12

nghìn tấn Đàn bò trong cả nước 6 triệu con, bò sữa 128 nghìn con và đàn trâu là 2,9 triệu con [34]

Trong 5 năm qua, chăn nuôi của nước ta đã phát triển nhanh về số lượng và chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội về thịt, trứng, sữa Chăn nuôi bò đã có nhiều cơ hội tốt để phát triển và tăng trưởng về số lượng đàn bò và cải tiến về chất lượng giống Từ năm 2001 đến 2005, đàn bò đã tăng từ 3,89 triệu con lên 5,54 triệu con đạt tốc độ tăng trưởng 6,29 % năm Hiện nay, đã

có 15 tỉnh tham gia dự án phát triển giống bò thịt chất lượng cao Hàng nghìn bò thịt giống cao sản đã được nhập về nước trong hai năm vừa qua nhằm đáp ứng nhu cầu giống phát triển chăn nuôi bò của nhân dân Tỷ lệ đàn bò lai chiếm trên 30% tổng đàn bò, là đàn bò nền để tiếp tục lai tạo bò thịt chất lượng cao Một số tỉnh đã

có các trang trại bò tư nhân quy mô lớn hàng 100 con như các tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận, Bình Phước, Bình Dương và Lâm Đồng…

Nhưng vẫn đề đáng lo ngại nhất hiện nay trong phát triển chăn nuôi là dịch bệnh nếu không làm tốt khâu quản lý bệnh thì rủi ro trong chăn nuôi rất lớn, chính

vì vậy, Bộ NN&PTNT Việt Nam và cơ quan Điều phối các đối tác phòng ngừa đại dịch (PAHI) đề xuất tổng kinh phí cần cho chương trình phòng, chống dịch bệnh vật nuôi giai đoạn 2011 - 2015 tại Việt Nam là 8.058 tỷ đồng (tương đương với 383,7 triệu USD) Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Diệp Kỉnh Tần cho biết trong 5 năm qua, nước ta đã đầu tư hơn 4.000 tỷ đồng từ ngân hàng chính phủ và các nguồn ODA cho công tác thú y, phòng, chống dịch bệnh trên đàn gia súc gia cầm Tuy nhiên, phòng chống dịch bệnh vật nuôi vẫn tồn tại nhiều vẫn đề, nhiều loại dịch bệnh vẫn thường xuyên tái diễn.[36]

Theo đánh giá của cục thú y, hoạt động chăn nuôi tại các địa phương vẫn phát triển tự phát, chưa có quy hoạch và thiếu quản lý chặt chẽ Việc kiểm soát dịch bệnh tại các cơ sở chăn nuôi còn hạn chế, nhất là khi có dịch bệnh xảy ra, việc tiêu hủy gia súc gia cầm vẫn chưa đảm bảo

Điều kiện vệ sinh thú y kém là một trong những nguyên nhân khiến cho dịch bệnh kéo dài trên đàn vật nuôi trong những năm gần đây Trong năm 2011 cả nước

có 21 tỉnh có dịch cúm gia cầm, 35 tỉnh có dịch LMLM và 9 tỉnh có dịch tai xanh Tổng số gia cầm bị mắc bệnh và tiêu hủy là 120.000 con; số gia súc mắc bệnh là

Trang 13

155.00 con Cục thú y đã báo, trong năm tiếp nguy cơ dịch bệnh phát sinh mạnh do chủng virut cúm gia cầm đã biến đổi nhưng chưa có vắc xin phòng thích hợp; virut LMLM và tai xanh vẫn lưu hành rộng rãi trong đàn lợn lâm sang

Không chỉ thế, điều kiện vệ sinh tại các cơ sở giết mổ (CSGM) gia súc, gia cầm cũng còn nhiều điều đáng báo động kết quả điều tra của các CSGM mới công

bố của cục thú y cho thấy, các CSGM của Miền Bắc vẫn chủ yếu hoạt động nhỏ lẻ Chất thải từ hoạt động giết mổ đa phần chưa được xử lý trước khi xả ra môi trường 64,5% số hộ giết mổ gia cầm nằm trong khu dân cư và có hơn 80% số điểm giết mổ có diện tích nhỏ hơn 20m²

Trong quản lý dịch bệnh cơ sở, để có một tổ chức quản lý tốt thì sự tham gia người dân hưởng lợi là yếu tố tạo thành sự bền vững

Trang 14

CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ NỘI DUNG

NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Các hộ gia đình chăn nuôi gia súc và tham gia quản lý dịch bệnh tại 4 xã Mường Lống, xã Tà Cạ, xã Nậm Cắn và Bắc Lý - huyện Kỳ Sơn – Nghệ An

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài này nghiên cứu tại địa điểm có chăn nuôi gia súc tại 4 xã: Mường Lống, Tà Cạ, Nậm Cắn và Bắc Lý - huyện Kỳ Sơn - Nghệ An

2.2 Nội dung nghiên cứu

- Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển gia súc và quản lý dịch bệnh

- Điều tra, đánh giá thực trạng về điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội huyện

* Chọn xã điểm nghiên cứu: Đặc điểm địa hình Kỳ Sơn là huyện miền núi,

có địa hình đồi núi cao, thấp khác nhau Toàn huyện có 20 xã và 1 thị trấn, căn cứ vào đất đai, khí hậu, truyền thống sản xuất cây trồng vật nuôi của đồng bào dân tộc cũng như đặc tính sinh thái của các loài cây trồng vật nuôi phù hợp với từng điều kiện trên địa bàn huyện Kỳ Sơn được chia thành 4 tiểu vùng (4 cụm xã) sau:

- Tiểu vùng 1: Bao gồm các xã Mường Lống, Huồi Tụ, Độc Mạy, Na Ngoi, Nậm Cằn vùng khí hậu này mang tính chất ôn đới, độ ẩm cao, quanh năm có mây

mù che phủ Nhiệt độ trung bình 18 - 200C, đặc biệt ở khu vực này có nhiệt độ

Trang 15

chênh lệch giữa ngày và đêm qua lớn (5 - 70

C), tháng 12 và tháng 1 nhiều đêm có sương muối, tháng 5, 6 có hiện tượng mưa đá

- Tiểu vùng 2: Bao gồm các xã Nậm Cắn, Mường Típ, Mường Ải và Tây Sơn địa hình cao và dốc, tạo nên nhiều thung lũng hẹp và sâu, do vậy khí hậu so với tiểu vùng 1 có sự khác biệt hơn như lượng mưa ít, độ ẩm cao, quanh năm có mây mù bao phủ

- Tiểu vùng 3: Bao gồm các xã Bắc Lý, Mỹ Lý, Kenh Đu là vùng có địa hình thấp hơn so với tiểu vùng 2 trên, do đó yếu tố khí hậu cũng giảm rõ rệt

- Tiểu vùng 4: Bao gồm các xã Bảo Nam, Bảo Thắng, Phà Đánh, Tà Cạ, Hữu Lập, Hữu Kiệm và Chiêu Lưu đây là vùng thung lũng khuất gió, có lượng mưa trung bình cả năm thấp

Mỗi tiểu vùng (cụm xã) bốc thăm ngẫu nhiên 1 xã để làm điểm nghiên cứu

* Phương pháp chọn mẫu điều tra: Mỗi xã chọn ngẫu nhiên 5 bản Sau khi

đã chọn được 5 bản, ghi danh sách các hộ gia đình có chăn nuôi gia súc và bốc thăm ngẫu nhiên 5 hộ để điều tra

2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu

* Số liệu thứ cấp

- Thu thập các văn bản, các báo cáo khao học, các số liệu thống kê liên quan đến chăn nuôi (giống vật nuôi, thực trạng phát triển đàn, thức ăn gia súc, ) ở Phòng NN&PTNT huyện Kỳ Sơn và ở UBND 4 xã: Mường Lống, Bắc Lý, Tà Cạ

Trang 16

- Phỏng vấn đại diện các nhóm dân tộc khác nhau gồm: H'Mông, Thái và Khơ mú với các phiếu điều tra theo nội dung đã chuẩn bị sẵn, dựa vào mục tiêu, nội dung thông tin cần thu thập để đưa ra những câu hỏi phù hợp

2.3.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

- Sử dụng phương pháp thống kê mô tả thôngqua bình quân số tuyệt đối, số tối thiểu để mô tả tình hình chăn nuôi và quản lý dịch nhằm thấy được thực trạng

đó như thế nào?

- Phương pháp thống kê so sánh: Phương pháp thống kê so sánh bao gồm so sánh tuyệt đối và so sánh tương đối để đánh giá động thái phát triển của hiện tượng, sự vật hiện theo thời gian và theo không gian của hiện tượng nghiên cứu Việc sử dụng phương pháp thống kê giúp chúng ta nắm được thực trạng, xu hướng biến động của hiện tượng, từ đó tìm ra các yếu tố tích cực và tiêu cực tác động tới chăn nuôi những thuận lợi, khó khăn để từ đó đánh giá đúng đắn thành tựu, khắc phục tồn tại, đưa ra những kết luận và kiến nghị phù hợp

2.4 Điều tra về điều kiên tự nhiên - kinh tế - xã hôi huyện Kỳ Sơn

2.4.1 Điều tra về điều kiện tự nhiên

2.4.1.1 vị trí địa lý

Kỳ Sơn một huyện biên giới vùng cao nằm ở phía Tây Nam tỉnh Nghệ An, có tọa độ địa lý từ 19010' đến 19041' vĩ độ Bắc và 103053' đến 104029' kinh độ Đông Phía Đông giáp với huyện Tương Dương, Nghệ An Ba phía Bắc, Tây, Nam giáp với 11 xã thuộc 5 huyện của 3 tỉnh: Hủa Phăn, Xiêng Khoảng và Bô Ly Khăm Xay, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào với chiều dài đường biên giới là 192 km

Kỳ Sơn có 20 xã và 1 thị trấn Mường Xén cách Thành Phố Vinh 250 km, có Quốc lộ 7A đi qua và nối liền với nước bạn Lào, có cửa khẩu quốc tế Nậm Cắn chính

là một đầu mối quan trọng phát triển thương mại, dịch vụ và du lịch của huyện

Trang 17

lớn tới việc sản xuất nông nghiệp và giao thông nên đi lại khó khăn Do đặc điểm của địa hình, vùng đất sản xuất nông nghiệp ở Kỳ Sơn dược chia thành 3 vùng: vùng thung lũng, vùng đất dốc và vùng núi cao

2.4.1.3 Khí hậu thủy văn

- Khí hậu:

Khí hậu của huyện Kỳ Sơn chịu ảnh hưởng khí hậu Tây Nam Nghệ An, mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa, song lại có một số vùng mang đặc thù riêng như Mường Lống, Nậm Cắn, Tây Sơn, khí hậu lại mang tính chất ôn đới, thường xuyên

có mây mù bao phủ, khí hậu huyện Kỳ Sơn một năm chia làm hai muầ rõ rệt Mùa mua

từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau

+ Chế độ nhiệt: Nhiệt độ không khí tương đói cao, trung bình năm 23,60C, cao nhất là 380C, thấp nhất 40C, biên độ chênh lệch giưa ngày đêm, giữa các vùng khá lớn, ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng, phát triển của cây trồng, vật nuôi Nhiệt

độ nước trung bình là 22,40C, nhiệt độ cao nhất là 30,80C, thấp nhất là 13,90C + Chế độ mưa: Hàng năm bình quân lượng mưa thấp, trong 5 năm trở lại đây cho thấy lượng mưa trung bình năm của huyện Kỳ Sơn là 1.157,04 mm, đồng thời phân bố không điều theo không gian và thời gian, lượng mưa lớn thường tập trung vào tháng 8 và tháng 9 chiếm khoảng 75 - 80% lượng mưa cả năm, các khu vực điện hình như Thị trấn Mường Xén lượng mưa thấp, khu vực xã Mường Lống lượng mưa cao + Chế độ gió: ở huyện Kỳ Sơn hàng năm hầu như không có bão, thỉnh thoảng có những đợt gió lốc xoái ở những vùng thung lũng nhỏ trong phạm vi hẹp chịu ảnh hưởng của một phần gió Tây Nam (gió Lào) thổi từ tháng 4 đến tháng 10 làm cho nhiệt độ tăng đột ngột và kéo dài nhiều ngày, mạnh nhất là tháng 7, gió mùa Đông Bắc thổi mạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, gây khô hạn

+ Lượng nước bốc hơi: so với lượng mưa, hàng năm lượng nước bốc hơi lại rất lớn, nhất vào tháng 4,5,6 và 7 tổng lượng nước bốc hơi trung bình hàng năm là 1.000 - 1.100 mm

+ Độ ẩm không khí: Bình quân 83%, chênh lệch giữa các tháng trong năm không đáng kể Hàng năm vẫn có hiện tượng sương muối thường xảy ra, chủ yếu ở các tháng 12, tháng 1 và 2

Trang 18

+ Nắng: Số giờ nắng trung bình trong năm 1.573,3 giờ Các tháng nắng nhiều 5,6,7 bình quân lên tới 7 - 8 giờ/ngày Tháng ít nắng nhất là tháng 2 bình quân khoảng 2 giờ/ngày và thường có mưa phùn

Đặc điểm khí hậu ở Kỳ Sơn phân thành 4 tiểu vùng:

+ Tiểu vùng 1: bao gồm các xã Mường Lống, Huồi Tụ, Đoọc Mạy, Na Ngoi và Nậm Cằn vùng khí hậu này mang tính chất ôn đới, độ ẩm cao, quanh năm

có mây mù che phủ Nhiệt độ trung bình 18 - 200C, đặc biệt ở khu vực này nhiệt độ chênh lệch giữa ngày và đêm khá lớn (5 - 70) Tháng 12, tháng 1 năm sau nhiều đêm có sương muối, tháng 5,6 có hiện tượng mưa đá

+ Tiểu vùng 2: Bao gồm các xã Nậm Cắn, Mường Típ, Mường Ải, và Tây Sơn địa hình cao và dốc, tạo nên nhiều thung lũng hẹp và sâu, do vậy khí hậu so với tiểu vùng 1 có sự khác biệt hơn như lượng mưa ít, độ ẩm cao, quanh năm có mây mù bao phủ

+ Tiểu vùng 3: Bao gồm các xã Bắc Lý, Mỹ lý, Kênh Đu, là vùng có địa hình thấp so với 2 tiểu vùng trên, do đó yếu tố khí hậu cũng giảm rõ rệt

+ Tiểu vùng 4: Bao gồm các xã Bảo Nam, Bảo Thắng, Phà Đánh, Tà Cạ, Hữu Lập, Hữu Kiệm, Chiêu Lưu và thi trấn Mường Xén đây là những vùng thung lũng khuất gió, có lượng mưa trung bình cả năm thấp

Nhìn chung khí hậu huyện Kỳ Sơn rất khắc nghiệt, mùa đông quá ẩm ướt trong khi mùa hạ lại quá khô nóng, không thuận lợi với sản xuất và sinh hoạt của nhân dân Mặt khac nhiệt độ mặt đất cao ảnh hưởng trực tiếp đến cây trồng, vật nuôi Do vậy phát triển chăn nuôi là phù hợp với điều kiện địa phương, để phát triển chăn nuôi tốt thì trước hết chúng ta phải quản lý tốt đại dịch bệnh đồng thời kết hợp hài hòa giữa các yếu tố tự nhiên với áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và thay đổi tập quán chăn nuôi

Trang 19

- Tây Nam, qua huyện Kỳ Sơn dài 125 km với diện tích lưu vực trên 1.000 km2 , sông ngắn, dốc, nhiều thác ghềnh Ngoài ra còn có hàng trăm khe suối lớn nhỏ

Hệ thống sông suối tạo thành mang lưới khá dày đặc nhưng do ảnh hưởng địa hình phân cắt mạnh, dốc lớn nên khả năng giữ nước kém Đây là những khó khăn lớn cho phát triển nông nghiệp, giao thông đi lại, song lại là tiềm năng để phát triển thủy điện lớn nhỏ

2.4.1.5 Đất đai và hiện trạng sử dụng đất đai

Tổng diện tích đất tự nhiên là 209.433,84 ha, chiếm 11% diện tích đất tự nhiên của toàn Tỉnh Nghệ An

- Các loại đất: Theo tài liệu [7] điều tra, huyện Kỳ Sơn có 5 loại đất như sau:

+ Đất Alit mùn trên núi cao 1.700m - 2.711m có 7.679 ha chiếm 4% tổng diện tích đất, có tầng đất dày khoảng 100cm Đất có độ dốc cao, giữ nước mạnh, có kết cấu tốt, quá trình phân hóa chậm

+ Đất Feralit mùn ở độ cao 800m - 1.700m có diện tích 12.334 ha chiếm 60% diện tích đất phân bổ khắp các xã trong huyện Kỳ Sơn Song tập trung nhiều ở các xã: Na Ngoi, Nậm càn, Mỹ lý, Keng Đu Đất có thảm mục dày, phân hủy mùn cao + Đất Feralit đỏ vàng ở độ cao 200m - 800m có diện tích 75.230 ha phân bổ ở các xã: Mỹ Lý, Tà Cạ, Bảo Nam, Nậm Càn, Na Ngoi, thành phần cơ giới nhẹ dễ

bị rửa trôi và giữ nước kém Hầu hết loại đất này đều qua làm nương rẫy nhiều lần đất thường bị chưa, nghèo lân và Kali

+ Đất Feralit điển hình vùng núi thấp dưới 200m có diện tích 9.358 ha, chiếm 5% tổng diện tích đất, phân bố dọc theo 2 bờ sông Nậm Nơm và Nậm Mộ, có kết cấu rời rạc, tầng đất mỏng, hàm lượng dinh dưỡng nghèo

+ Đất thủy thành: Diện tích 145 ha chiếm xấp xỉ 0,08% tổng diện tích, chủ yếu phân bổ ở các xã: Na Ngoi, Tà Cạ, Hữu Kiệm, Hữu Lập, Chiêu Lưu, Na Loi và các thung lũng vùng sâu theo các triền khe, suối

Với địa hình và các thành phần đất như vậy, Kỳ Sơn nên phát triển nghề rừng mạnh và trồng cây công nghiệp có giá trị, cây ăn quả và lương thực ở những vùng có độ dốc trên 39o ở 3 loại đất trên Tuy nhiên với các loại đất được phân chia như vậy cũng rất thuận lợi để phát triển các loại trang trại chăn nuôi lớn nhỏ khác

Trang 20

nhau, nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế nhưng hạn chế tới mức tối đa hiện tượng xói mòn, rửa trôi, đất bạc màu

- Hiện trạng sử dụng đất:

Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Kỳ Sơn rất lớn, toàn huyên có 209.433,84

ha chiếm 11% đất tự nhiên toàn tỉnh Nghệ An

Hiện trạng sử dụng đất của huyện năm 2011 được thể hiện trong bảng 3.1

Bảng 2.1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Kỳ Sơn

TT Mục đích sử dụng Mã Diện tích

(ha) Cơ cấu (%) Tổng diện tích tự nhiên 209.433,84 100

A Đất nông nghiệp NNP 76.888,02 36,72 100

a Đất sản xuất nông nghiệp SXN 11.687,39 15,2 100 I Đất trồng cây hàng năm CHN 11.060,63 94,64 1 Đất trồng lúa LUA 7009,90

- Lúa nước LUC 759,90

- Lúa nương rẫy LUN 6.250,00

2 Đất trồng cây hàng năm khác HNK 4.050,73

- Đất bằng BHK 85,73

- Đất nương rẫy NHK 3.965,00

II Đất trồng cây lâu năm CLN 626,73 5,36 1 Đất trồng cây công nghiệp lâu năm LNC 50,00

2 Đất trồng cây ăn quả lâu năm LNQ 326,10

3 Đất tròng cây lâu năm khác LNK 250,63

b Đất lâm nghiệp LNP 65.138,19 84,72 100 I Đất rừng sản xuất RSX 4.239,85 6,517 1 Đất có rừng tự nhiên sản xuất RSN 4 135,07

2 Đất có rừng trồng sản xuất RST 104,78

II Đất rừng phòng hộ RPH 60.898,34 93,33 1 Đất có rừng tự nhiên phòng hộ RPN 60.188,18

Trang 21

2 Đất trồng rừng phòng hộ RPM 710,16

B Đất phi nông nghiệp PNN 2.352,73 1,02

C Đất chưa sử dụng CSD 130.193,09 62,26

D Đất nông nghiệp bình quân

cho 1 người (m 2)

E Đất sản xuất nông nghiệp

bình quân cho 1 người (m 2)

Nguồn: phòng tài nguyên và môi trường huyện Kỳ sơn [15]

Tổng diện tích đất đang sử dụng là 79.240,75 ha chiếm 37,82 đất tự nhiên, trong đó đất nông nghiệp chỉ có 76.888,02 ha chiếm 36,72% và đất phi nông nghiệp là 2.352,73 ha chiếm 1,12% Đất chưa sử dụng hiện còn rất lớn, có tới 130.193,09 ha chiếm 62,16% đất tự nhiên Cơ cấu hiện trạng sử dụng đất được thể hiện qua biểu đồ 2.1

Đất sản xuất nông nghiệp Đất phi nông nghiệp Đất chưa sử dụng

36,72%

1,02%

62,26%

Biểu đồ 2.1: Cơ cấu hiện trạng sử dụng đất ở huyện Kỳ Sơn năm 2011

Trong đó diện tích đất để sản xuất nông nghiệp 11.687,39 ha chiếm 15,06% đất nông nghiệp và bình quân 1.769m2/người, nhưng chủ yếu là đất không thuận cho sản xuất nông nghiệp Đặc biệt là đất trồng cây hàng năm 11.060,36 ha chiếm 94,64% đất sản xuất nông nghiệp nhưng trong đó chỉ có 759,9 ha đất ruộng trồng lua và 85,73 ha đất bằng trồng màu, bình quân đất để sản xuất lúa cho ngwowiif có 115m2/người Còn lại là đất dốc 10.215 ha chiếm 92,35% diện tích đất trông cây hoa

Trang 22

màu hàng năm Đất trồng cây lâu năm như cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả rất ít, chỉ có 626,37 ha chiếm 5,36% đất sản xuất nông nghiệp của huyện, trong đó trồng cây

ăn quả là 326,1 ha cây công nghiệp 50 ha, còn lại là đất trông lâu năm khác

Đất lâm nghiệp 65.138,19 ha chiếm 84,72% tổng diện tích đất nông nghiệp

và chiếm 31,1% đất tự nhiên Trong đó, diện tích rưng sản xuất là 4.239,8 ha và rừng phòng hộ là 60.898,34 ha ddatj93,33% tổng diện tích đất lâm nghiệp

Đất nuôi trồng thủy sản có 62,44 ha chiếm 0,08% đất nông nghiệp và chiếm một vị trí rất nhỏ trong đất tự nhiên

2.4.1.6 Các tài nguyên

- Tài nguyên rừng: Cũng như các huyện khác trong tỉnh tài nguyên rừng đã

bị tàn phá nặng nề, tuy ở các xã giáp biên giới, hệ thực vật vẫn còn khá nhiều và phong phú về chủng loại Kỳ Sơn có khoảng 150 loài thuộc 12 họ các loại cây có giá trị kinh tế cao như: Đinh, Sén, Tấu mật, Lát hoa, Gội nếp, Dổi, Trầm hương, Chò chỉ, Pơ mu, Sa mu, phân bổ ở các vùng núi cao, xa chủ yếu là rừng phòng

hộ Ngoài ra còn có các loại lâm sản ngoài gỗ như: Giang, Tre, Nứa, mét, Song mây, các loại dược liệu quý như: Đẳng sâm, Sa nhân, Thiên nhiên kiện, vv Nhưng việc tổ chức khai thác, vận chuyển tiêu thụ còn gặp nhiều khó khăn

Ngoài ra Kỳ Sơn còn có các loại động vật rừng quý hiếm như: Sóc bay, Gấu, Báo, Sơn dương, Lợn rừng, nhưng do dienj tích rừng ngày càng bị thu hẹp và nạn săn bắt trái phép cho nên các loại động vật rừng ngày càng bị khăn hiếm

- Tài nguyên khoáng sản: Kỳ Sơn có mỏ than ở Nậm Cắn - Na Loi, mỏ thạch cao, thạch anh ở các xã phía Tây Bắc của huyện, Núi đá vôi có ở các xã: Mỹ Lý, Mường Lống, Huồi Tụ, Bắc Lý và vàng sa khoáng dọc sông Nậm Mộ, Nậm Nơm Do cấu trúc địa chất đa dạng vùng núi Nghệ An nói chung và Kỳ Sơn nói riêng chứa ẩn nhiều tiềm năng khoáng sản

Các loại khoáng sản trên chưa được điều tra, khảo sát để xác định về trữ lượng , chất lượng và thực tế chưa được khai thác và sử dụng

Trang 23

2.4.2 Điều tra về kinh tế - xã hội

2.4.2.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế

Theo số liệu thống kê Phòng thống kê huyên Kỳ Sơn tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện Kỳ Sơn trong giai đoạn từ năm 2008 - 2011 tăng nhanh, giá trị sản xuất 2011 đạt 648.195 triệu đồng , bình quân mỗi năm tăng 21.20% Trong đó, ngành dịch vụ có tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 26,71%, đặc biệt từ năm 2009 -

2010 tăng trưởng đạt 32,91% Ngành công nghiệp xây dựng có tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 22,09% và cuối cùng là ngành nông lâm thủy sản đạt 19,36% Theo

số liệu thống kê của cục Thống Kê tỉnh Nghệ An thì huyện Kỳ Sơn thuộc một trong những huyện có tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm nhất của tỉnh Nghệ An

Bảng 2.2 Động thái tăng trưởng các ngành giai đoạn 2008 – 2011

Tổng giá trị sản xuất

(tr đ) 366.532 420.608 497.856 648.195 483.297,75 Tăng trưởng so với

Nguồn: Phòng thống kê huyện Kỳ Sơn [15]

Tốc độ tăng trưởng kinh tế các ngành còn được thể hiện rõ qua biểu đồ 2.2

Trang 24

Biểu đồ 2.2 Tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2008 - 2011

Nhìn vào biểu đồ 2.2 chúng tôi có nhận xét sau: Qua 4 năm cho thấy tốc độ tăng trưởng kinh tế của các ngành gần như tăng tương đương nhau, năm 2010 ngành dịch vụ có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất đạt 32,91% so với năm 2009, tốc độ tăng trưởng kinh tế của các ngành bình quân mỗi năm đạt 21,12% Vậy, cho thấy nền kinh tế của huyện Kỳ Sơn trong những năm qua chưa có ngành nào là thế mạnh, mũi nhọn, chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế

2.4.2.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế của huyện Kỳ Sơn chuyển dịch theo hướng tích cực nhưng tốc độ chuyển dịch còn chậm Trong cơ cấu tỷ trọng GDP nông lâm nghiệp giảm dần, năm 2008 là 33,05% đến năm 2011 còn 31,59%, Ngành công nghiệp XD năm

2008 là 28,57% đến năm 2011 tăng lên 29,27%, dịch vụ tăng từ 38,38% năm 2008 lên 39,14% năm 2011 Tuy cơ cấu kinh tế các ngành có tăng giảm khác nhau nhưng không đáng kể, do nhiều nguyên nhân dẫn đến như cuộc khủng hoảng kinh

tế năm 2009, và một số yếu tố khác cũng lầm ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế huyện Kỳ Sơn

Trang 25

Bảng 2.3 Cơ cấu kinh tế huyện Kỳ Sơn năm 2008 - 2011

Nguồn: Phòng thống kê huyện Kỳ Sơn [15]

Biểu đồ 2.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Kỳ Sơn giai đoạn 2008 – 2011

Qua biểu đồ 2.3 cho thấy: Qua 4 năm (2008-2011) cơ cấu kinh tế của huyện

Kỳ Sơn đã dần chuyển đổi ngành nông nghiệp giảm dần, các ngành công nghiệp

XD và dịch vụ tăng dần, nhưng tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện còn chậm,

Trang 26

ngàng nông nghiệp 2011) đã giảm 1,64%, ngành công nghiệp XD 2011) tăng 0,7%, ngành dịch vụ (2008-2011) tăng 0,76%

(2008-2.4.2.3 Thực trạng phát triển các ngành

* Tình hình phát triển ngành nông nghiệp: Nông nghiệp là một ngành sản xuất chính, giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế của huyện, là nguồn thu nhập chính của đại bộ phận dân cư

Trong những năm qua Đảng bộ và chính quyền huyện đã thực hiện nhiều chính sách nhằm phát triển nông nghiệp nông thôn như chính sách trợ giá, trọe cước, hỗ trợ đồng bào dân tộc đặc biệt khó khăn đã có nhiều kết quả tốt, đặc biệt là việc thực hiện xóa bỏ cây thuốc phiện, đến nay đã loại bỏ hoàn toàn trên 3.250 ha diện tích trồng thuốc phiện và được thây thế bằng các loại cây lương thực khác như: Lúa, Ngô, Khoai, Sắn, cây ăn quả: Mận, Đào, Vải, Hồng,

Nhờ có sự hỗ trợ của Đảng, nhà nước và đặc biệt là ý chí tự lực tự cường có nhiều hộ gia đình đã thoát được đói nghèo, nhiều mô hình làm ăn giỏi xuất hiện, các loại hình sản xuất mới ra đời Trong đó có loại hình kinh tế trang trại cũng được hình thành, tuy còn nhỏ lẻ manh mún, song đến nay đã có hàng chục trang trại với tổng diện tích trên 500 ha, bình quân mỗi trang trại hơn 5,5 ha Hình thức sản xuất chủ yếu là lấy ngắn nuôi dài, trông cây lương thực kết hợp với cây ăn quả, khoanh nuôi bảo vệ rừng, trồng trọt gắn với chăn nuôi, nên dù mới hình thành nhưng các trang trại đã có thu hoạch đáng khích lệ như: đã khai hoang vào sản xuất lúa nước hàng năm khoảng 180 ha, cho thu hoạch 620 tấn thóc, hạn chế canh tác rẫy, tạo việc làm thương xuyên cho hàng trăm lao động Điển hình có các mô hình trang trại kinh tế hộ gia đình như: Mô hình trồng cây ăn quả + tạo cây giống + chăn nuôi bò và gà đen lấy thịt cho thu nhập trên 180 triệu đồng/năm ở xã Mường Lống, mô hình kinh tế trang trại chăn nuôi bò thịt cho thu nhập trên 150 triệu đồng/năm ở xã Nậm Cắn, mô hình bảo vệ rừng kết hợp với trồng cỏ, chăn nuôi trâu bò cho thu nhập trên 50 triệu đồng/năm

Tuy nhiên sự phát triển của ngành nông nghiệp vẫn còn chậm chưa phát huy

và tận dụng dược thế mạnh cơ bản về điều kiên tự nhiên xã hội của địa phương, đó

là phát triển ngành chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi đại gia súc và phát triển nghề rừng

Trang 27

Để có đánh giá đúng hơn về phát triển ngành nông nghiệp chúng tôi cần tìm hiểu thực trạng sản xuất của từng lĩnh vực trong nội bộ ngành nông nghiệp như sau:

- Ngành trồng trọt:

Trong những năm gần đây do được đầu tư khai hoang và xây dựng các công trình thủy lợi, nên diện tích cây lúa nước toàn huyện 900 ha và ứng dụng tốt kỹ thuật, nhất là công nghệ giống đã làm cho tổng sản lượng lương thực toàn huyện đạt 15.535 tấn trong đó thóc 11.500 tấn lượng bình quân đầu người là 223 kg/ngươi/năm Nhưng lượng lương thực chủ yếu được canh tác trên đất dốc lúa một vụ chiếm 85 - 87% sản lượng lương thực sản xuất hàng năm

Hệ thống mương máng phục vụ tưới tiêu tuy được cải thiện một bước nhưng chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất, do đó dẫn đến năng suát sản lượng cây trồng (Vụ đông xuân đạt 32 tạ/ha vụ mùa đạt 28 tạ/ha)

Sản lượng lương thực trên rẫy dốc nếu mưa thuận gió hòa cũng chỉ đạt 11 -

12 tạ/ha, hàng năm thời tiết không thuận lợi, nắng hạn kéo dài năng suất chỉ đạt 5 -

6 tạ/ha Do vậy đời sống nhân dân trong vùng gặp nhiều khó nhăn, cây công nghiệp dài ngày cây chề Tuyết Shand, cây chủ nuôi thả cánh kiến đỏ diện tích còn

ít vì mới bắt đầu được đầu tư phát triển

Các loại cây công nghiệp ngắn ngày đậu tương, lạc, bông dâu tằm được gieo trồng trên đất rẫy dốc nên năng suất thấp hiệu quả không cao

Diện tích cây lâu năm cây ăn quả như: Đào, mận do sản xuất theo tập quán

tự nhiên nên năng suất chất lượng kém, hiệu quả kinh tế thấp

- Về lâm nghiệp:

Khoanh nuôi bảo vệ rừng 30.000 ha đạt 100% kế hoạch so với kế hoạch huyện đạt 33% so với cùng kỳ 100%

Trồng rừng 1.200/920 ha đạt 130% kế hoạch so với cùng kỳ tăng 1.100 ha

Độ che phủ rừng đạt 45% tăng so với cùng kỳ 2%

Nguồn thu từ lâm nghiệp chủ yếu lấy củi tự tiêu thụ trong gia đình

- Về chăn nuôi:

Tình hình chung về ngành chăn nuôi ở Kỳ Sơn

Trang 28

Trong những năm qua (2006 - 2010) Nghị quyết 20 Đảng bộ huyện đã khẳng định việc phát triển chăn nuôi đại gia súc là thế mạnh của huyện Kỳ Sơn Trong đó phát triển trâu, bò là trọng tâm, kết hợp tập quán chăn nuôi của người dân biết trồng cỏ theo hộ gia đình, làm chuồng trại, nuôi vỗ béo trâu, bò đi đôi với việc làm tốt công tác phòng trừ dịch bệnh Vậy trong những năm qua:

Tổng đàn trâu cả năm 4.500 con đạt 100% kế hoạch so với cùng kỳ 102% Tổng đàn bò cả năm 36.500 con đạt 100% kế hoạch so với cùng kỳ 109% Tổng đàn lợn cả năm 26.127 con đạt 104% kế hoạch so với cùng kỳ 103% Tổng đàn dê có 6.330 con đạt 97% kế hoạch so với cùng kỳ 121%

Đàn gia cầm 107.350 con đạt 99,8% kế hoạch so với cùng kỳ 100%

Đàn ngựa 920 con đạt 90% kế hoạch so với cùng kỳ 92%

So vói chỉ tiêu huyện Đảng bộ nhiệm kỳ 2006 - 2010 đề ra trâu vượt 2,27%, bò 28.400 con thực hiện 36.350 con, vượt chỉ tiêu 132% Đưa tổng đàn gia súc bình quân 3 - 4% trong đó đàn bò 9 - 10% [14]

* Công nghiệp chế biến và dịch vụ:

- Công nghiệp chế biến: Trên địa bàn huyện chưa có các cơ sở chế biến lớn

về quy mô Các cơ sở chế biến tập trung chủ yếu tại thị trấn Mường Xén và các thị

tứ với các ngành nghề chủ yếu là: xưởng mộc dân dụng, xưởng rèn, máy xay xác

- Dịch vụ: Do địa hình phức tạp, giao thông đi lại khó khăn nên việc giao thương các loại hàng hóa nói chung và các loại sản phẩm của người dân làm ra nói riêng còn đang gặp nhiều khó khăn Hiện tại huyện Kỳ Sơn có 3 chợ đang hoạt động đó là: chợ thị trấn Mường Xén, chợ Huồi Tụ và chợ Mường Lống vì vậy, việc tiêu thụ sản phẩm ở một số vùng chưa được thuận lợi, thu mua các mặt hàng ở đây chủ yếu là bán tại nhà sau đó tập trung tại các chợ hoặc điểm thu mua bán cho các địa phương khác ngoài huyện

Qua việc điều tra tình hình kinh tế ở huyện Kỳ Sơn tôi có nhận xét tóm tắt sau:

Kỳ Sơn là huyện có nền kinh tế cơ bản là kinh tế nông nghiệp nhưng chậm phát triển nông Đời sống của người dân chủ yếu dựa vào nông nghiệp nhưng

Trang 29

nguồn thu nhập của nông dân từ nông nghiệp đạt rất thấp, bình quân chỉ đạt2.223.000 đông/người/năm Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân mỗi năm đạt 22,32%, mặc dù thế như so với lợi thế của vùng thì nguồn thu từ lâm nghiệp và chăn nuôi vẫn còn hạn chế

Bên cạnh đó tổng sản lượng lương thực hàng năm còn thiếu nhiều năm 2011 chỉ đạt 15.535 tấn trong đó thóc 11.500 tấn, với dân số 69.588 nhân khẩu, lương thực bình quân đầu người đạt 223 kg/người/năm

2.4.2.4 Tình hình phát triển xã hội ở huyện Kỳ Sơn

* Dân số, lao động, việc làm và thu nhập:

Dân số toàn huyện có 69.588 nhân khẩu và 12.601 hộ, mật độ dân số trung bình 33 người/km2 trong đó:

- Dân số đô thị có 535 hộ với 2.107 người (chiếm 3,0% dân số huyện) mật độ trung bình khoảng 3,27 ha/người

- Tổng số lao động toàn huyện 32.007 người chiếm 46% tổng dân số toàn huyện, trong đó lực lượng lao động chủ yếu hoạt trong lĩnh vực sản xuất nông, lâm nghiệp Nên thu nhập chỉ đạt bình quân 6.945.000 đồng/người/năm, không cao và thấp thường, chính vì vậy tỷ lệ hộ đói nghèo còn cao chiếm 78,7% (2011)

Những năm gần đây do làm tốt công tác tuyên truyền, vận động những người trong độ tuổi lao động trong nước và xuất khẩu, đã giải quyết việc làm mới cho 4.000 lao động trong nước và xuất khẩu 105 lao động, tạo ra nguồn kinh tế đáng kể làm tăng thu nhập cho người dân

* Cơ sở hạ tầng:

- Hệ thống giao thông: Huy động nội lực với thu hút nhiều dự án đầu tư vào địa bàn để phát triển hệ thống giao thông Hàng năm huyện, xã đã chủ động triển khai chiến dịch giao thông trên các tuyến với phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm, nhờ vậy mạng lưới giao thông được cải thiện đáng kể

Đường quốc lộ 7A đi qua huyện tại 7 xã với tổng chiều dài hơn 56 km được trải nhựa thông thương sang nước bạn Lào Đường liên xã dài 219 km, trong đó 25

km đạt tiêu chuẩn đường cấp 6 miền núi, còn lại được nâng cấp mặt đường rộng 3

Trang 30

- 4 m đảm bảo xe cơ giới hạn nhẹ lưu động trong mùa khô Đường dân sinh liên bản hiện có 728 km nối liền các bản và các đường liên xã, tuy nhiên do địa hình dốc đứng, mưa lụt thất thường nên chất lượng đường xấu, chỉ phục vụ người và gia súc đi bộ

- Hệ thống điện: Hiện tại mạng lưới điện quốc gia đã phục vụ cho nhân dân

ở 32 thôn/bản tại các xã Chiêu lưu, Hữu Kiệm, Hữu Lập, Phà Đánh, Tà Cạ, Nặm Cắn, Nậm Càn, Na Ngoi và thị trấn Mường Xén, với các trạm hạ thế như sau: Chiêu Lưu 5 trạm, Hữu Kiệm 8 trạm, Hữu Lập 2 trạm, Phà Đánh 1 trạm, Tà Cạ 2 trạm, Nặm Cắn 5 trạm, Nậm Càn 3 trạm, Na Ngoi 2 trạm và thị trấn Mường Xén 5 trạm

Đến nay có 16,9% thôn/bản được sử dụng điện lưới quốc gia, ngoài ra còn tận dụng nguồn thủy năng phát triển thủy điện nhỏ quy mô hộ gia đình ở những nơi chưa có điện lưới quốc gia phục vụ sinh hoạt của nhân dân

-Thủy lợi và nước sinh hoạt: Đã xây dựng được 19/59 công trình phục vụ tưới tiêu 80% diện tích Các đập tràn đều có quy mô nhỏ từ 10 - 20 m, mỗi công trình chỉ tưới 3 - 5 ha ruộng nước Đã xây dựng được 32/89 công trình vói 39 km đường ống phục vụ nước sinh hoạt cho 720 hộ của 27 bản trong huyên

- Giáo dục và y tế:

+ Giáo dục: Đã xây dựng 1.242 phòng học trong đó kiên cố 22,5%, bán kên cố 25,7%, còn lại là nhà tạm bằng tranh tre, nứa mét và đã tạm thời giải quyết được nhu cầu tối thiểu nơi ở, làm việc và học tập của giáo viên và học sinh Toàn huyện

có 62 trường từ Mầm non đến cấp 2, 3; trong đó có 3 nhà được xây dựng nhà cao 2 tầng trở lên nguồn đầu tư từ dự án Trung ương và Quốc tế Trang thiết bị trong các trường, lớp chỉ đạt 27% nhu cầu, tỷ lệ huy động học sinh trong độ tuổi đến trường đạt 95%, tăng bình quân hàng năm từ 10 - 15%, công tác xóa nạn mù chữ và bổ túc văn hóa được ngành luôn luôn quan tâm và đạt 85% mức kế hoạch được giao + Y tế: Toàn huyện có 21 xã, thi tấn thì tất cả các xã, thị đều có trạm xá nhưng chủ yếu là nhà bán kiến cố hoặc nhà tạm, có 3 trạm khám khu vực tuy chất lượng công

Trang 31

trình không tốt nhưng cũng thể hiện được sự cố gắng lớn của các cấp, các ngành, các địa phương đã góp phần công, góp của đẻ xây dựng nên mạng lưới y tế

Về cơ sở vật chất của ngành còn rất nghèo nàn Toàn huyện có 1 bệnh viện gồm 50 giường, 3 trạm khám khu vực, 1 trung tâm KHHGĐ và mỗi xã có 1 trạm xá Đội ngũ thầy thuốc vừa thiếu về số lượng lại vừa hạn chế về chuyên môn, đây là một thực trạng và cũng là thách thức lớn đối với tình hình chăm sóc sức khỏe cho người dân

+ Các công trình hạ tầng khác: Cùng với các công trình đã xây dựng nêu trên, trong những năm qua đã xây dựng thêm được 1 trạm tiếp sóng truyền hình, 4 trạm phát FM, 1 trạm kiểm soát động vật, 1 trạm kiểm dịch và quy hoạch thêm 6 chợ nông thôn, đưa tổng số chợ hiện có trên địa bàn là 9, nhưng chỉ có 3 chợ duy trì hoạt động hiệu quả là chợ thị trấn Mường Xén, chợ Huồi Tụ và chợ Mương Lống

cơ sở vui chơi hiện có 1 rạp hát kiêm thư viện xây dựng từ năm 1984 và đã xuống cấp nặng, cần phải có đầu tư để tu sữa và nâng cấp

Ngoài ra huyện còn có khu thương mại chợ cửa khẩu Quốc tế Nậm Cắn với tổng diện tích sử dụng trên 3.000m2 sẽ tạo điều kiện cho nông dân trao đổi sản phẩm có giá trị hơn [15]

Trang 32

CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Thực trạng chung phát triển đàn gia súc và quản lý dịch bệnh ở huyện Kỳ Sơn

* Trong những năm qua (2006 - 2010) Nghị quyết 20 Đảng bộ huyện đã khẳng định việc phát triển chăn nuôi đại gia súc là thế mạnh của huyện Kỳ Sơn Chăn nuôi được xem là thế mạnh của huyện kỳ Sơn là nguồn thu nhập chính của các hộ nông dân, trong Nghị quyết các kỳ Đại hội huyện Đảng bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân đều tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát triển chăn nuôi đại gia súc nhất là trâu, bò hàng hóa Vì vậy ngành chăn nuôi phát triển tương đối ổn định, nhịp độ tăng đàn gia súc hàng năm là 4,3% trong đó đàn bò tăng 7 - 9 %, đàn trâu tăng 3%, đàn lợn tăng 2% và các loại gia súc khác đều tăng so với cùng kỳ Đi đôi với việc tăng trưởng đàn thì việc ứng dụng tiến bộ khao học kỹ thuật vào chăn nuôi như: vỗ béo trâu, bò trồng cỏ để bổ sung thức ăn, chăn nuôi chuồng trại, khoanh vùng trang trại phát triển ở một số xã, một số hộ, nhất là vùng có dân tộc H'mông sinh sống

Bảng 3.1: Kết quả chăn nuôi từ năm 2008 đến năm 2011 ở huyện Kỳ Sơn

Nguồn: Phòng NN&PTNT huyện Kỳ Sơn [14]

Trang 33

Qua bảng 3.1 cho thấy: Tổng đàn gia súc của huyện Kỳ Sơn từ năm 2008 - 2011 tăng 12.276 con, bình quan mỗi năm tăng 3.069 con Cụ thể; Tổng đàn trâu (2008-2011) tăng 481 con, bình quân mỗi năm tăng 120,25 con, tổng đàn bò (2009-201) tăng 9.000 con, bình quân mỗi năm tăng 2.250 con, tổng đàn ngựa (2008-2011) đã giảm 562 con, tổng đàn lợn (2008-2011) tăng 1.258 con, bình quân mỗi năm tăng 314.5 con, tổng đàn dê (2008-2011) tăng 2.100 con, bình quân mỗi năm tăng 525 con Nhìn chung, tổng đàn bò của huyện Kỳ sơn có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất

so với các đàn khác, còn đàn ngựa ngày càng giảm

* Những tồn tại:

- Trong 4 năm qua dịch bệnh gia súc trên địa bàn tỉnh nói chung và huyện

Kỳ Sơn nói riêng có nhiều diễn biến phức tạp cả về quy mô địa bàn, chủng loại dịch bệnh Đặc biệt ở Kỳ Sơn từ năm 2008 lại đây dịch bệnh gia súc có chiều hướng tăng cả về địa bàn, mùa vụ, qua theo dõi 4 mùa trong năm đều có dịch bệnh khi ở xã này lúc thì ở xã khác, nhưng hầu như xảy ra quanh năm Dịch bệnh gia súc ở huyện Kỳ Sơn gồm nhiều loài là:

+ Ở lợn thường mắc các bệnh dịch tả, hen suyễn, bệnh ghép, tụ huyết trùng,

lở mồm long móng, cũng làm hàng ngàn con lợn chết và gây thiệt hại kinh tế lớn cho nhân dân

+ Ở trâu, bò thường mắc các loại dịch bệnh chướng bụng đầy hơi, sàn lá gan, tiêu trùng đường máu đặc biệt mắc các loại dịch bệnh tụ huyết trùng, ung khí thán,

lở mồm long móng đã làm chết hàng ngàn con trâu, bò Nhất là trong năm 2009 dịch lở mồm long móng xảy ra ở 4 xã với 155 con bị dịch trong đó ( Bảo Nam 35 con, Chiêu Lưu 42 con, Hữu Lập 56 con, Hữu Kiệm 32 con) và tụ huyết trùng xảy

ra ở Mường Ải, Mường Típ, Bảo Thắng, Hữu Kiệm gây không ít khó khăn trong công tác dập dịch làm 435 con trâu, bò mắc bệnh và chết 95 con

Trang 34

Bảng 3.2: Kết quả sử dụng vác xin tiêm phòng và thuốc điều trị bệnh gia súc huyện Kỳ Sơn năm 2008 - 2011

Tổng thuốc điều trị 57.980 61.692 60.480 46.850

Pharthiocni 12.900 18.450 13.455 1.050 Phar-nagin 19.680 21.000 23.730 20.300 Bocin-pharm 1.600 1.850 1.700 1.700 Coli-flox Pharm 3.250 4.652 3.975 2.950 Thuốc khác 11.550 15.740 17.620 20.850

Nguồn: Trạm thú y huyện Kỳ Sơn [32]

Qua bảng 3.2 cho thấy: Tình hình tiêm vác xin phòng bệnh của huyện Kỳ Sơn còn ít so với tổng số đàn gia súc, bình quân mỗi gia súc tiêm 1,08 liêu/năm (2011), chính vì thế tình hình dịch bệnh ở huyện ngày càng nhiều, không tiêu diệt được mầm bệnh tận gốc nên tình trạng tái diễn dịch bệnh vẫn liên tục xảy ra, ngày càng phổ biến hơn

Cụ thể tổng số lượng gia súc bị bệnh và thiên tai (mưa lũ cuốn trôi, trượt vực chết, ) chết được thể hiên qua bảng 3.3

Trang 35

Bảng 3.3: Tổng số gia súc chết (do dịch bệnh và thiên tai gây ra) năm 2008 -

Nguồn: Báo cáo thiệt hại gia súc qua các năm Phòng NN&PTNT huyện Kỳ Sơn [14]

Qua bảng 3.3 chúng tôi có nhận xét sau:Trong 4 năm qua tình hình dịch bệnh gia súc ở huyện Kỳ sơn còn diễn ra phức tạp, tổng đàn gia súc chết ngày càng nhiều năm 2009 chết 416 con, riêng đàn lợn chết 230 con và đàn bò 120 con

* Nguyên nhân xảy ra dịch bệnh:

+ Do mầm bệnh tồn tại trong tự nhiên và bản thân gia súc, gia cầm đã mang mầm bệnh có điều kiện thuận lợi bệnh phát sinh thành dịch

+ Do thông thương buôn bán nên dịch bệnh bị lây lan

+ Do tập quán chăn nuôi thả rông và người dân chưa quan tâm đến công tác tiêm phòng, tỷ lệ tiêm phòng hàng năm đạt thấp (chỉ chiếm 40% tổng số đàn) + Đội ngũ cán bộ chuyên ngành thú y vừa thiếu lại vừa yếu nhất là cơ sở (xã, bản), đến nay cả huyện chỉ có 2 Bác Sỹ thú y, 10 trung cấp và chủ yếu là ở huyện + Phụ cấp cho cán bộ thú y ít ỏi ( Trưởng ban thu y xã 120.000đồng/tháng, thú y bản không có)

+ Địa bàn hoạt động rộng đi lại khó khăn, dịch vụ thú y không phát triển

3.2 Thực trạng phát triển đàn gia súc và quản lý dịch bệnh tại 4 xã nghiên

Hiệu quả từ chăn nuôi cao hơn trồng trọt và có thể tạo cơ hội thoát nghèo cho nông dân, qua điều tra cho thấy chăn nuôi có lợi thế hơn trồng trọt trên nhiều phương diện: Thứ nhất, các giống vật nuôi (như trâu, bò, lợn) có khả năng thích nghi với vùng sinh thái, khai thác được lợi thế về tự nhiên (đất đai, trồng cỏ, ), có

Trang 36

lực lượng lao động dồi dào Thứ hai, con vật nuôi ít chịu chi phối bởi điều kiện tự nhiên thời tiết, khí hậu khắc nghiệt và dịch bệnh như cây trồng nên mức độ rủi ro thấp Hơn nữa, thị trường thị trường tiêu thụ tương đối thuận lợi (vì nhu cầu từ thực phẩm ngày càng tăng mạnh).Thứ ba, chăn nuôi rất dễ hình thành các vùng sản xuất tập trung Vượt qua những khó khăn, thách thức, những thói quen lạc hậu người chăn nuôi dần tạo ra những kết quả đáng kể và giúp đỡ nhau phát triển kinh tế

Cụ thể tại các hộ gia đình điều tra chăn nuôi ở 4 xã của huyện Kỳ Sơn đã đạt được một số thành quả sau:

Bảng 3.4: Thực trạng phát triển gia súc tại 4 xã điều tra nghiên cứu

Trang 37

Qua bảng 3.4: Cho thấy

Tổng đàn gia súc, gia cầm xã Mường Lống năm 2011 như sau: Đàn trâu 390 con, đàn bò 2.719 con, đàn lợn 2.200 con, dê 1.120 con, ngựa 100 con, đàn gia cầm 30.890 con Tổng diện tích trồng cỏ chăn nuôi gia súc 35 ha, giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 89% năm 2010 xuống còn 84% năm 2011

Nhìn chung tốc độ phát triển gia súc xã Mường Lống có tăng, đàn bò có tốc

độ tăng trưởng nhanh nhất trên tổng số đàn năm 2008 đạt 1.511 con đến năm 2011 đạt 2.719 con, các loại gia súc khác điều tăng chỉ có đàn ngựa hầu như không tăng Trong những năm gần đây do diễn biến dịch bệnh diễn ra phức tạp nên chính quyền địa phương đã kết hợp với thú y xã và nhân dân các thôn/bản tiêm phòng dịch bệnh và điều trị các gia súc bị bệnh đồng thời tiêu hủy 107 con lợn bị bệnh tai xanh (2009) ở 4 bản ( Huồi khun, Trung tâm, Sầy lày, Long kèo) và hỗ trợ thuốc thú y cho nhân dân tiêm phòng, mỗi năm cán bộ thú y xã tập huấn 2 đợt cho nhân dân và cán bộ thú y thôn/bản

Tổ chức tiêm phòng, vác xin phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm năm

2011 là 3.500 liều cho các dịch bệnh ở trâu, bò, lợn và kiểm tra vệ sinh thú y tại địa bàn xã 15 lượt

Mặc dù đã tiêm phòng thế như do dịch bệnh diễn ra phức tạp, địa bàn rộng

và gia súc chủ yếu người dân thả rông khó quản lý nên tình trạng gia súc toàn xã chết vẫn còn nhiều năm 2009 dịch tả, tai xanh đã làm chết 107 con lợn và năm

2010 dịch LMLM, THT đã làm chết 35 con bò và 12 con trâu

Tình hình dịch bệnh và thiên tai thường xuyên xảy ra qua các năm mặc dù người dân đã được tập huấn về kỹ thuật chăn nuôi và tiêm phòng dịch bệnh như số lượng gia súc chết vẫn còn nhiều

Trang 38

Do một số nguyên nhân tồn tại tromg quản lý dịch bệnh:

- Điểm xuất phát thấp, trình độ chuyên môn phục vụ ngành chăn nuôi năng lực cán bộ chưa đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ, kể cả một số cán bộ cấp huyện, trong khi cán bộ được qua đào tạo chuyên ngành vừa yếu lại thiếu nhất về cơ sở

- Phương thức chăn nuôi của người dân đa phần con phó mặc cho tự nhiên, hoạch toán kinh tế yếu kém nên dịch bệnh xảy ra không biết, biết cũng đã muộn vì vậy công tác điều trị, dập dịch không kịp thời

- Do tập quán chăn nuôi thả rông và người dân chưa quan tâm đến công tác tiêm phòng, tỷ lệ tiêm phòng hàng năm đạt thấp, bình quân đạt 45% tổng số đàn

- Địa bàn hoạt động rộng, địa hình phức tạp, đồi núi hiển trở đi lại khó khăn, dịch vụ thú y không phát triển

* Tại xã Bắc Lý

Bắc Lý là xã miền núi thuộc một trong những xã khó khăn nhất của huyện

Kỳ Sơn nói riêng và Tỉnh Nghệ An nói chung, với diện tích 55,05 km2, dân số 3.865 nhân khẩu, mật độ dân số 70,21 người/km2

Trong những năm qua do tình hình dịch bệnh và thiên tai diễn ra phức tạp nên tốc độ tăng trưởng và phát triển gia súc cũng bất thường, phát triển không đồng điều giữa các thôn/bản và các hộ gia đình

Tổng đàn gia súc xã Bắc Lý: Trâu 390 con, bò 2.719 con, đàn lợn 2.200 con, đàn

dê 1.120 con, tốc độ phát triển đàn gia súc của xã chậm và có xu hướng ngày càng giảm, sự tăng giảm của các năm khác nhau Do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhận thức của người dân chưa đúng đắn còn trong chờ vào sự hỗ trợ của nhà nước nhiều, chưa tự vượt khó vươn lên để làm giàu, trình độ học vấn thấp dẫn đến tình trạng nhận thức của người dân chưa có nên ảnh hưởng lớn đến cách nghĩ cách làm Địa bàn hoạt động rộng, trâu, bò chủ yếu thả rông lại không tiêm phòng mà dịch bệnh thường xuyên xảy ra làm gia súc bị lây nhiễm thường xuyên từ năm này qua năm khác

Mỗi năm có kế hoạch tiêm phòng dịch bệnh 3 đợt của thú y huyện nhưng chỉ thực hiện tiêm phòng khoảng 25% / tổng số đàn gia súc của xã

Số liệu thuốc tiêm phòng không có vì có năm nhận về xã cũng không ai tiêm phòng, có những năm thì lại thiếu nên số liệu không thống kê được chính xác

Trang 39

Địa hình đồi núi hiểm trở thiên tai thường xuyên xảy ra vào mùa hè nắng nóng kéo dài, mùa đông lạnh làm gia súc nhất là trâu, bò và dê thiếu thức ăn

Dịch vụ thú y không phát triển cả xã không có điểm bán thuốc thú y, chỉ trong chờ vào số thuốc ít ỏi do thú y huyện hỗ trợ, có những hộ gia đình cho dù có thuốc cũng không tiêm phòng

* Tại xã Tà Cạ

Tà Cạ là một xã biên giới mặc dù gần sát với trung tâm của huyện, nhưng đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, phần đông dân số là dân tộc thiểu số Trình độ canh tác lạc hậu, chưa nắm bắt được nhu cầu phát triển kinh tế xã hội thực tế của địa phương, tỷ lệ đói nghèo còn cao đời sống của nhân dan còn mang tính tự cung tự cấp Toàn xã có 4 hệ dân tộc (Kinh,Thái, H'mông và K'mú) xã có

11 bản với 899 hộ và 4257 khẩu

Phát triển chăn do chăn nuôi trâu, bò thả rông trong rừng, vì vậy việc chăm sóc theo dõi dịch bệnh cho trâu, bò rất khó khăn trong mùa mưa lũ và nắng nóng Nên ở một số bản vẫn còn tình trạng trâu, bò chết lẻ tẻ Tổng trâu bò bị chết toàn

xã năm 2011 là 35 con

Trong những năm gần đây do được đầu tư cho phát triển chăn nuôi nhiều hơn nên tình trạng phát triển cũng tốt hơn, mặc dù thế như do địa hình phức tạp nên khó quản lý trâu, bò dịch bệnh vẫn thường xuyên xảy ra

Tổng đàn gia súc, gia cầm xã Tà Cạ năm 2011 như sau: Đàn trâu 102 con, đàn bò 1.870 con, đàn lợn 1.400 con, đàn gia cầm 4.320 con

Công tác tiêm phòng vác xin: Do 6 tháng đầu năm dịch bệnh thường xuyên xảy ra nên công tác tiêm phòng chưa tiến hành được, vì vậy đã tiến hành tiêm vào

6 tháng cuối năm 2011 Cụ thể: Tiêm phòng vác xin 1.000 liều do lở mồm long móng và tiêm 1.000 liều do tụ huyết trùng ở trâu, bò Những năm trước đây vác xin tiêm phòng có ít mặc dù đã phát cho dân với sự hướng dẫn của cán bộ thú y cho tiêm phòng bệnh như dân vẫn đâu để đó không thực hiện đúng kế hoạch tiêm phòng, nhiều hộ gia đình không tiêm phòng

- Chính vì thế những năm gần đây diễn biến dịch bệnh xảy ra nhiều chủng loại bệnh đã gây thiệt hại lớn về gia súc cũng như ảnh hưởng lớn đến kinh tế các

Ngày đăng: 16/09/2021, 16:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần văn Bình (chủ biên) (2008), Bệnh quan trọng của trâu, bò, dê và biện pháp phòng trị, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh quan trọng của trâu, bò, dê và biện pháp phòng trị
Tác giả: Trần văn Bình (chủ biên)
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2008
2. Đặng Vũ Bình, Phạm Kim Đăng, Nguyễn Xuân Trạch (2006), Kết quả thí nghiệm nuôi bò thịt bằng ngọn lá mía ủ chua. Tạp chí Khoa học-Kỹ thuật nông nghiệp, ĐHNN1, Tập 5, Số 5/2005. Tr. 386-389 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học-Kỹ thuật nông nghiệp
Tác giả: Đặng Vũ Bình, Phạm Kim Đăng, Nguyễn Xuân Trạch
Năm: 2006
3. Đặng Vũ Bình (chủ biên) (2005), Kỹ thuật chon giống vật nuôi. NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật chon giống vật nuôi
Tác giả: Đặng Vũ Bình (chủ biên)
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2005
6. Phạm Văn Đình, Đỗ Kim Chung (chủ biên), Kinh tế nông nghiệp, NXB Nông nghiệp Hà Nội 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế nông nghiệp
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội 1997
10. Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (chủ biên) (2002), Bệnh thường gặp ở bình sữa Việt Nam và kỹ thuật phòng bệnh (tập I, II). NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh thường gặp ở bình sữa Việt Nam và kỹ thuật phòng bệnh (tập I, II)
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (chủ biên)
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2002
11. Phan Địch Lân (2009), Phòng chống bệnh gia súc, gia cầm. chế phẩm sinh học. phân tích, kiểm nghiệm sản phẩm động vật. NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng chống bệnh gia súc, gia cầm. chế phẩm sinh học. phân tích, kiểm nghiệm sản phẩm động vật
Tác giả: Phan Địch Lân
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2009
13. Vũ Thị Ngọc Phùng (chủ biên) (2006), Kinh tế phát triển, NXB lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế phát triển
Tác giả: Vũ Thị Ngọc Phùng (chủ biên)
Nhà XB: NXB lao động xã hội
Năm: 2006
16. Phan Đăng Thắng, Vũ Đình Tôn, Marc Dufumier: “Hiệu quả kinh tế - kỹ thuật của các hệ thống nông nghiệp trong giai đoạn chuyển đổi nông nghiệp hiện tại của một xã thuộc vùng đồng bằng sông Hồng”. Tạp chí nghiên cứu kinh tế số 367-tháng 12/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả kinh tế - kỹ thuật của các hệ thống nông nghiệp trong giai đoạn chuyển đổi nông nghiệp hiện tại của một xã thuộc vùng đồng bằng sông Hồng”
17. Trần Danh Thìn (chủ biên) (2008), Hệ thống trong phát triển nông nghiệp bền vững. NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống trong phát triển nông nghiệp bền vững
Tác giả: Trần Danh Thìn (chủ biên)
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2008
19. Nguyễn Văn Thu (chủ biên) (2011), Chăn nuôi gia súc nhai lại, NXB Đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi gia súc nhai lại
Tác giả: Nguyễn Văn Thu (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học Cần Thơ
Năm: 2011
20. Nguyễn văn Thưởng (chủ biên) (2006), Kỹ thuật nuôi bò lấy thịt. NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi bò lấy thịt
Tác giả: Nguyễn văn Thưởng (chủ biên)
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2006
21. Bùi Quang Tuấn, Vũ Duy Giảng, Nguyễn Trọng Tiến, Nguyễn Xuân Trạch và Tôn Thất Sơn (1999) Ảnh hưởng của việc thay thế một phần cỏ tươi bằng thân cây ngô già trong dự trữ đến quá trình tiêu hoá thức ăn trong dạ cỏ bò. Tạp chí Nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm. Số 11/1999. Trang 511- 513 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm
22. Bùi Quang Tuấn và Nguyễn Xuân Trạch (2003): Tình hình chăn nuôi và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong nuôi dưỡng trâu bò tại huyện Vĩnh tường- Vĩnh phúc. Tạp chí Khoa học-Kỹ thuật nông nghiệp, ĐHNN1, Tập 1, Số 4/2003. Trang 303-307 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học-Kỹ thuật nông nghiệp
Tác giả: Bùi Quang Tuấn và Nguyễn Xuân Trạch
Năm: 2003
23. Vũ Đình Tôn, Phạm Thị Đào (2001): ''Phát triển chăn nuôi để xoá đói giảm nghèo: kinh nghiệm tại xã Xương Lâm, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang”.Kỷ yếu kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật, khoa CNTY, 1999-2001. NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật, khoa CNTY, 1999-2001
Tác giả: Vũ Đình Tôn, Phạm Thị Đào
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2001
25. Vũ Đình Tôn, Hán Quang Hạnh, “Đặc điểm và hoạt động của các hệ thống chăn nuôi nông hộ huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương”. Tập 6, số 2/2008, Tạp chí Khoa học và Phát triển -Trường Đại học nông nghiệp Hà Nội.Trang 146-152 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm và hoạt động của các hệ thống chăn nuôi nông hộ huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương”. "Tập 6, số 2/2008, Tạp chí Khoa học và Phát triển -Trường Đại học nông nghiệp Hà Nội
26. Vũ Đình Tôn, Phan Đăng Thắng: “Phân bố, đặc điểm và năng suất sinh sản của lợn bản nuôi tại Hoà Bình”. Tập VII, số 2-2009. Tạp chí Khoa học và Phát triển - ĐHNN Hà Nội. Trang 180-185 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân bố, đặc điểm và năng suất sinh sản của lợn bản nuôi tại Hoà Bình”. Tập VII, số 2-2009
27. Vũ Đình Tôn, Phan Đăng Thắng, 2009: “Đặc điểm sinh trưởng, sử dụng thức ăn và hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn Mường tại Hoà Bình”.Tập II, số 121. Tạp chí KHKT Chăn nuôi, tháng 3/2009. Trang 2-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm sinh trưởng, sử dụng thức ăn và hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn Mường tại Hoà Bình”
28. Nguyễn Xuân Trạch (2001) Ảnh hưởng của điều kiện sinh thái nông nghiệp và kinh tế-xã hội đến phát triển chăn nuôi trâu bò nông hộ. Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật Khoa Chăn nuôi - Thú y (1999-2001). NXB Nông nghiệp. Trang 79-82 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật Khoa Chăn nuôi - Thú y (1999-2001)
Nhà XB: NXB Nông nghiệp. Trang 79-82
29. Nguyễn Xuân Trạch và Bùi Đức Lũng (2004), Hệ thống nông nghiệp và sử dụng phụ phẩm làm thức ăn gia súc. Tạp chí Chăn nuôi Số 4/2004. Trang 21-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Xuân Trạch và Bùi Đức Lũng
Năm: 2004
31. Nguyễn Xuân Trạch (chủ biên) (2008), Kỹ thuật chăn nuôi trâu bò. NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật chăn nuôi trâu bò
Tác giả: Nguyễn Xuân Trạch (chủ biên)
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.3. Cơ cấu kinh tế huyện Kỳ Sơn năm 2008-2011 - Đánh giá hiệu quả phát triển đàn gia súc và quản lý dịch bệnh gia súc người dân huyện kỳ sơn, tỉnh nghệ an
Bảng 2.3. Cơ cấu kinh tế huyện Kỳ Sơn năm 2008-2011 (Trang 25)
3.1 Thực trạng chung phỏt triển đàn gia sỳc và quản lý dịch bện hở huyện Kỳ Sơn.  - Đánh giá hiệu quả phát triển đàn gia súc và quản lý dịch bệnh gia súc người dân huyện kỳ sơn, tỉnh nghệ an
3.1 Thực trạng chung phỏt triển đàn gia sỳc và quản lý dịch bện hở huyện Kỳ Sơn. (Trang 32)
Bảng 3.1: Kết quả chăn nuụi từ năm 2008 đến năm 2011 ở huyện Kỳ Sơn - Đánh giá hiệu quả phát triển đàn gia súc và quản lý dịch bệnh gia súc người dân huyện kỳ sơn, tỉnh nghệ an
Bảng 3.1 Kết quả chăn nuụi từ năm 2008 đến năm 2011 ở huyện Kỳ Sơn (Trang 32)
Bảng 3.2: Kết quả sử dụng vỏc xin tiờm phũng và thuốc điều trị bệnh gia sỳc huyện Kỳ Sơn năm 2008 - 2011  - Đánh giá hiệu quả phát triển đàn gia súc và quản lý dịch bệnh gia súc người dân huyện kỳ sơn, tỉnh nghệ an
Bảng 3.2 Kết quả sử dụng vỏc xin tiờm phũng và thuốc điều trị bệnh gia sỳc huyện Kỳ Sơn năm 2008 - 2011 (Trang 34)
Bảng 3.3: Tổng số gia sỳc chết (do dịch bệnh và thiờn tai gõy ra) năm 2008- 2011  - Đánh giá hiệu quả phát triển đàn gia súc và quản lý dịch bệnh gia súc người dân huyện kỳ sơn, tỉnh nghệ an
Bảng 3.3 Tổng số gia sỳc chết (do dịch bệnh và thiờn tai gõy ra) năm 2008- 2011 (Trang 35)
Bảng 3.4: Thực trạng phỏt triển gia sỳc tại 4 xó điều tra nghiờn cứu - Đánh giá hiệu quả phát triển đàn gia súc và quản lý dịch bệnh gia súc người dân huyện kỳ sơn, tỉnh nghệ an
Bảng 3.4 Thực trạng phỏt triển gia sỳc tại 4 xó điều tra nghiờn cứu (Trang 36)
Bảng 3.5: Trỡnh độ học vẫn của cỏc chủ hộ điều tra chăn nuụi gia sỳc năm 2012 - Đánh giá hiệu quả phát triển đàn gia súc và quản lý dịch bệnh gia súc người dân huyện kỳ sơn, tỉnh nghệ an
Bảng 3.5 Trỡnh độ học vẫn của cỏc chủ hộ điều tra chăn nuụi gia sỳc năm 2012 (Trang 42)
Bảng 3.6: Tổng hợp số nhõn khẩu và lao động của cỏc hộ điều tra năm 2012 - Đánh giá hiệu quả phát triển đàn gia súc và quản lý dịch bệnh gia súc người dân huyện kỳ sơn, tỉnh nghệ an
Bảng 3.6 Tổng hợp số nhõn khẩu và lao động của cỏc hộ điều tra năm 2012 (Trang 45)
Bảng 3.7: Tỡnh hỡnh sử dụng đất cỏc hộ điều tra năm 2012 - Đánh giá hiệu quả phát triển đàn gia súc và quản lý dịch bệnh gia súc người dân huyện kỳ sơn, tỉnh nghệ an
Bảng 3.7 Tỡnh hỡnh sử dụng đất cỏc hộ điều tra năm 2012 (Trang 47)
Bảng 3.8 Tổng số liệu nuụi giống gia sỳc của cỏc hộ điều tra năm 2012 - Đánh giá hiệu quả phát triển đàn gia súc và quản lý dịch bệnh gia súc người dân huyện kỳ sơn, tỉnh nghệ an
Bảng 3.8 Tổng số liệu nuụi giống gia sỳc của cỏc hộ điều tra năm 2012 (Trang 49)
Bảng 3.9: Điều kiện chuồng trại của cỏc hộ điều tra năm 2012 - Đánh giá hiệu quả phát triển đàn gia súc và quản lý dịch bệnh gia súc người dân huyện kỳ sơn, tỉnh nghệ an
Bảng 3.9 Điều kiện chuồng trại của cỏc hộ điều tra năm 2012 (Trang 50)
Bảng 3.10: Phương thức phũng bệnh của cỏc chủ hộ qua điều tra - Đánh giá hiệu quả phát triển đàn gia súc và quản lý dịch bệnh gia súc người dân huyện kỳ sơn, tỉnh nghệ an
Bảng 3.10 Phương thức phũng bệnh của cỏc chủ hộ qua điều tra (Trang 53)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w