BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH HOÀNG HÙNG ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ MẶN ĐẾN TỶ LỆ SỐNG VÀ TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG CỦA TÔM THẺ CHÂN TRẮNG Penaeus vannamei GIAI ĐOẠN POSTLAVAE 10 ĐẾN POS
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
HOÀNG HÙNG
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ MẶN ĐẾN TỶ LỆ SỐNG
VÀ TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG CỦA TÔM THẺ
CHÂN TRẮNG (Penaeus vannamei) GIAI ĐOẠN
POSTLAVAE 10 ĐẾN POSTLARVAE 30 TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHĂN NUÔI
CP VIỆT NAM - CHI NHÁNH QUẢNG BÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ MẶN ĐẾN TỶ LỆ SỐNG
VÀ TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG CỦA TÔM THẺ
CHÂN TRẮNG (Penaeus vannamei) GIAI ĐOẠN
POSTLAVAE 10 ĐẾN POSTLARVAE 30 TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHĂN NUÔI
CP VIỆT NAM - CHI NHÁNH QUẢNG BÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Người hướng dẫn: TS Trần Ngọc Hùng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn đến khoa Nông - Lâm - Ngư trường Đại học Vinh đã tạo điều kiện cho chúng tôi, những sinh viên của lớp 49K Nuôi trồng thủy sản có được khóa học này
Tôi xin gửi lời cảm ơn trân trọng đến các thầy cô giáo, những người đã tận tâm mang lại cho tôi kiến thức không chỉ trong học tập mà cả trong cuộc sống và công việc
Tôi xin bày tỏ sự biết ơn đặc biệt đến Tiến sỹ Trần Ngọc Hùng, người thầy đã hướng dẫn hết sức tận tình cho tôi trong quá trình học tập và thực tập Những góp ý hết sức quý báu của thầy đã giúp tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Xin được gửi lời biết ơn đến toàn thể cán bộ, nhân viên và công nhân tại Công ty Cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam - chi nhánh Quảng Bình đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực tập và làm đề tài
Tôi rất biết ơn những giúp đỡ, những lời động viên của bạn bè dành cho tôi trong suốt thời gian qua
Xin được cảm ơn các anh chị em trong gia đình đã ủng hộ tôi cả về vật chất lẫn tinh thần trong suốt quá trình học tập
Con xin cám ơn đến bố mẹ, người mà đã sinh thành và dày công nuôi dưỡng con, chăm sóc con những lúc con ốm đau, nâng đỡ con những lúc gặp khó khăn thì con mới được nên người như ngày hôm nay
Xin chân thành cám ơn!
Vinh, tháng 5 năm 2012
Sinh viên Hoàng Hùng
Trang 4
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH vi
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Một số điều kiện tự nhiên cơ bản của tỉnh Quảng Bình 3
1.1.1 Đặc điểm khí hậu 3
1.1.2 Về thủy văn khu vực biển ven bờ 3
1.2 Một số đặc điểm sinh học của tôm thẻ chân trắng 4
1.2.1 Vị trí phân loại và cấu tạo 4
1.2.2 Đặc điểm phân bố 5
1.2.3 Tập tính sống và đặc điểm sinh sản 5
1.3 Tình hình sản xuất giống và nuôi tôm thẻ chân trắng trên thế giới và Việt Nam 10
1.3.1 Trên thế giới 10
1.3.2 Ở Việt Nam 11
1.4 Một số nghiên cứu về ảnh hưởng của độ mặn lên sinh trưởng, tỷ lệ sống của một số loài tôm He và tôm thẻ chân trắng 14
1.4.1 Một số loài tôm He 14
1.4.2 Tôm thẻ chân trắng 18
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Đối tượng nghiên cứu 20
Trang 52.2 Vật liệu và thiết bị nghiên cứu 20
2.3 Nội dung nghiên cứu 20
2.4 Phương pháp nghiên cứu 21
24.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 22
2.4.2 Quản lý và chăm sóc 23
2.4.3 Phương pháp thu thập và phân tích số liệu 24
2.5 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 26
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
3.1 Đánh giá về các yếu tố môi trường 27
3.2 Tỷ lệ sống của tôm ương 29
3.2.1 Tỷ lệ sống tích luỹ 29
3.2.2 Tỷ lệ sống giai đoạn 31
3.3 Kết quả nghiên cứu về tăng trưởng tôm trong các công thức 32
3.3.1 Kết quả nghiên cứu về chiều dài 32
3.3.2 Kết quả nghiên cứu về khối lượng 36
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43 PHỤ LỤC a
Trang 6Food and Agriculture Organization (Tổ chức Lương
thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc)
l lít (đơn vị thể tích)
mg miligam (đơn vị tính trọng lượng)
SPF Specific Pathogen Free (Tôm sạch bệnh)
SPR Specific Pathogen Rosistant (Tôm kháng bệnh)
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Độ mặn thích hợp của một số loài tôm He 19
Bảng 2.1 Phương pháp xác định các yếu tố môi trường 24
Bảng 3.1 Kết quả theo dõi các yếu tố môi trường 27
Bảng 3.2 Tỷ lệ sống tích lũy của tôm 30
Bảng 3.3 Tỷ lệ sống giai đoạn của tôm 31
Bảng 3.4 Sự tăng trưởng chiều dài trung bình qua các công thức 32
Bảng 3.5 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài trong các công thức 34
Bảng 3.6 Tốc độ tăng trưởng tương đối chiều dài trong các nghiệm thức 35
Bảng 3.7 Tốc độ tăng trưởng khối lượng trung bình trong các nghiệm thức 37
Bảng 3.8 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng trong các nghiệm thức 39
Bảng 3.9 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng trong các nghiệm thức 40
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Tôm thẻ chân trắng Penaeus vannamei Boone, 1931 4
Hình 3.1 Biểu đồ tỷ lệ sống tích luỹ của tôm thẻ giai đoạn P10 - P30 30
Hình 3.2 Biểu đồ tỷ lệ sống giai đoạn của tôm thẻ giai đoạn P10 - P30 31
Hình 3.3 Tốc độ tăng trưởng trung bình về chiều dài 33
Hình 3.4 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài 35
Hình 3.5 Tốc độ tăng trưởng tương đối về chiều dài 36
Hình 3.6 Sự tăng trưởng trung bình về khối lượng 37
Hình 3.7 Sự tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng 39
Hình 3.8 Sự tăng trưởng tương đối về khối lượng 41
Trang 9MỞ ĐẦU
Ở Việt Nam, nghề nuôi tôm thực sự phát triển từ sau năm 1987 và nuôi tôm thương phẩm phát triển mạnh vào những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ
trước Tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei) là một trong những đối tượng
được nuôi phổ biến nhất ở nước ta hiện nay Đây là loài có giá trị kinh tế cao,
chất lượng thịt thơm ngon và được thị trường ưa chuộng Năm 2010, lần đầu tiên giá trị xuất khẩu tôm của Việt Nam vượt qua mức 2 tỷ USD, đạt 2,106 tỷ USD với sản lượng 240.985 tấn, trong đó tôm thẻ chân trắng chiếm tới 26% sản lượng và 20% giá trị [12]
Để phát triển được nghề nuôi tôm, một trong những yếu tố cơ bản nhất không thể thiếu đó là con giống Đến nay, nước ta đã thành công trong việc sản xuất giống nhân tạo tôm thẻ chân trắng
Cũng như các đối tượng khác, trong quy trình sản xuất giống tôm thẻ chân trắng phải lưu ý đến tốc độ tăng trưởng và tỉ lệ sống của ấu trùng tôm Đây là một quá trình quan trọng, nó ảnh hưởng đến chất lượng con giống cũng như tôm thương phẩm sau này
Trong quá trình ương giống, tôm rất nhạy cảm với các yếu tố môi trường trong đó có độ mặn Độ mặn cùng với nhiệt độ là một trong hai yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất đến tốc độ tăng trưởng cũng như tỷ lệ sống của tôm Đã có một số nghiên cứu về mức độ mặn thích hợp cho tôm thẻ chân trắng và có những kết quả khác nhau Sức sống và sự sinh trưởng của tôm thẻ chân trắng được J.Ponce - Palafox và cộng sự (1997) xác định ở nhiệt độ (20, 25, 30 và
350C) kết hợp với độ mặn (20, 30, 35, 40 và 50ppt) Kết quả cho thấy, tôm đều sống ở độ mặn 20, 30, 35 và 40 ppt trong điều kiện nhiệt độ 25 và 300
C,
điều đó cho thấy tôm thẻ chân trắng có sức chịu đựng với khoảng nhiệt độ và
độ mặn rộng Theo Đoàn Văn Đẩu và cộng tác viên (1989) trong nghiên cứu
Trang 10kỹ thuật và sản xuất tôm giống các loài tôm he cho thấy, sau 20 lần thử nghiệm đã đưa ra tiêu chuẩn về độ mặn là 28 - 30 ppt Theo Trần Văn Quỳnh (1980), tôm he có khả năng thích ứng với độ mặn rất lớn, từ vùng biển có độ mặn 32 - 35 ppt hoặc vùng nước lợ nơi có độ mặn thấp, theo ông, tôm là động vật rộng muối và độ mặn thích hợp từ 10 - 32 ppt
Nắm được khoảng độ mặn thích hợp cho quá trình sống của tôm thẻ là hết sức quan trọng Nắm được yếu tố này, người ương giống có thể chủ động trong việc điều chỉnh độ mặn, đồng thời góp phần hoàn thiện quy trình ương giống tôm thẻ chân trắng và nâng cao hiệu quả sản xuất
Vì thế, tôi tiến hành thực hiện đề tài “Ảnh hưởng của độ mặn đến tỷ lệ
sống và tốc độ tăng trưởng của tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei) giai đoạn Postlavae 10 đến Postlarvae 30 tại Công ty Cổ phần chăn nuôi
CP Việt Nam - chi nhánh Quảng Bình” với mong muốn tìm ra độ mặn phù
hợp nhất để ương nuôi tôm từ giai đoạn P10 đến P30 ngày
Mục tiêu
Tìm ra khoảng độ mặn thích hợp nhất để tôm thẻ có tỷ lệ sống và tốc độ
tăng trưởng cao nhất
Trang 11
Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Một số điều kiện tự nhiên cơ bản của tỉnh Quảng Bình
Quảng Bình là 1 tỉnh miền Trung, phía Bắc giáp Hà Tĩnh, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp Lào, phía Nam giáp Quảng Trị [30]
1.1.2 Về thủy văn khu vực biển ven bờ
Mặt nước nuôi trồng thủy sản: Với 5 cửa sông, Quảng Bình có vùng mặt nước có khả năng nuôi trồng thủy sản khá lớn Tổng diện tích 15.000 ha
Độ mặn ở vùng mặt nước từ cửa sông vào sâu khoảng 10-15km giao động từ 8-30%o và độ pH từ 6,5- 8 rất thuận lợi cho nuôi tôm cua xuất khẩu Chế độ bán nhật triều vùng ven biển thuận lợi cho việc cấp thoát nước cho các ao
nuôi tôm cua [30]
Trang 121.2 Một số đặc điểm sinh học của tôm thẻ chân trắng
1.2.1 Vị trí phân loại và cấu tạo
Tôm thẻ chân trắng (Tên tiếng Anh: White Leg Shrimp)
Loài: Penaeus vannamei Boone, 1931
Hình 1.1 Tôm thẻ chân trắng Penaeus vannamei Boone, 1931
có 2 răng cưa ở bụng và 8 - 9 răng cưa ở lưng
Phần bụng có 7 đốt biến thành telson hợp với đôi chân đuôi phân nhánh tạo thành đuôi [1]
Trang 131.2.2 Đặc điểm phân bố
Tôm thẻ chân trắng có nguồn gốc từ vùng biển xích đạo Đông Thái Bình Dương (biển phía tây Mỹ La Tinh) Đây là loài tôm có nhu cầu cao trên thị trường Những năm gần đây tôm được thuần hóa và nuôi thành công ở Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam
Tôm thẻ chân trắng thường sống ở các vùng biển có đáy bùn, độ sâu khoảng 72m, có khả năng thích nghi với biên độ muối rộng từ 0- 400
/00, chúng
có thể sinh trưởng được cả trong nước ngọt, lợ và mặn [1]
1.2.3 Tập tính sống và đặc điểm sinh sản
ấu trùng Nauplius sau 14 - 15 giờ Tuy nhiên thời gian biến đổi qua các giai đoạn ấu trùng phụ thuộc vào nhiệt độ nước (Nguồn: Kết quả nghiên cứu của trường Đại học Hawaii, Hoa Kỳ)
Giai đoạn Nauplius (N): Nauplius không cử động được trong khoảng 30 phút, sau đó bắt đầu bơi và có tính hướng quang rất mạnh Giai đoạn Nauplius thay vỏ 4 lần (N1 - N5), mỗi lần kéo dài khoảng 7 giờ Trong thời kỳ này, ấu
Trang 14trùng cứ bơi một đoạn rất ngắn rồi lại nghỉ và tiếp tục bơi Không cần cho
Nauplius ăn, chúng tự dưỡng bằng noãn hoàng
N1: dài khoảng 0,40 mm, dày 0,20 m
N2: dài khoảng 0,45 mm, dày 0,20 m
N3:dài khoảng 0,49 mm, dày 0,20 m
N4: dài khoảng 0,55 mm, dày 0,20 m
N5:dài khoảng 0,61 mm, dày 0,20 m
Giai đoạn Zoea (Z): Zoea bơi liên tục trong nước, ăn thực vật phù du, đặc biệt là các loại tảo khuê Zoea thay vỏ 2 lần từ Z1 - Z3 trong 5 ngày, mỗi lần kéo dài khoảng 36 giờ
Z1: dài khoảng 1 mm, dày khoảng 0,45 mm
Z2: dài khoảng 1,9 mm
Z3: dài khoảng 2,7 mm
Giai đoạn Mysis (M): Mysis ăn cả thực vật lẫn động vật phù du Mysis bơi hướng xuống sâu, đuôi đi trước, đầu đi sau Mysis ít bị lôi cuốn bởi ánh sáng như các thời kỳ Nauplius và Zoea Khi bơi ngược đầu Mysis dùng 5 cặp chân bơi ở dưới bụng tạo ra những dòng nước nhỏ đẩy thức ăn vào miệng và đẩy động vật phù du về phía cặp chân bò để tóm lấy dễ dàng hơn
Giai đoạn Juvenile: giai đoạn tiền trưởng thành, tôm không ngừng tăng trưởng về kích thước và hoàn thiện dần các bộ phận sinh dục
Trang 15Tuổi thành thục: tôm đạt 2 tuổi và kích thước 30 - 40 g, tôm đực và tôm cái tìm nhau giao vĩ, sau khi mặt trời lặn Tôm đực đưa các chùm tinh từ cơ quan giao cấu Petesmata, cho dính chân bò thứ ba, năm của con cái, có khi dính lên cả thân con cái (Kết quả nghiên cứu của trường Đại học Hawaii, Hoa Kỳ)
- Đặc điểm sinh trưởng
Cũng như các loài tôm he khác, tôm chân trắng phát triển qua 4 giai đoạn
ấu trùng chính là Nauplius, Zoea, Mysis, Postlarvae
Giai đoạn Naupius: Nauplius không cử động được trong khoảng 30 phút, sau đó bắt đầu bơi và rất dễ bị lôi cuốn bởi ánh sáng Nauplius thay vỏ cả thảy
4 lần (N1 đến N5) mỗi lần kéo dài 7 giờ (theo các nhà sinh học Đài Loan thì có đến 6 giai đoạn) Trong thời kỳ này, ấu trùng cứ bơi một đoạn rất ngắn rồi lại nghỉ và lại tiếp tục bơi Không cần cho nauplius ăn, chúng tự nuôi bằng noãn
hoàng có sẵn
Giai đoạn Zoea: sau N5 ấu trùng chuyển sang giai đoạn Zoea, giai đoạn này
ấu trùng bơi liên tục, bắt đầu sử dụng thức ăn bên ngoài, chủ yếu là thực vật phù
du Zoea thay vỏ hai lần từ Z1 tới Z3 trong 5 ngày, mỗi lần kéo dài 36 giờ
Giai đoạn Mysis: thời kỳ này ấu trùng qua 3 giai đoạn (M1, M2, M3) Mỗi giai đoạn kéo dài 24 giờ Mysis ăn cả thực vật phù du lẫn động vật phù du Trong khi Nauplius có khuynh hướng bơi gần mặt nước thì Mysis bơi hướng xuống sâu và bơi ngược, đuôi đi trước, đầu đi sau
Giai đoạn Postlarvae: sau thời kỳ này thì tôm con đã có đủ các bộ phận, chúng dần dần hướng ra biển, rời xa các cửa sông và trở thành juvenile Từ
đây tôm trưởng thành
Tôm nhỏ thay vỏ cần vài giờ, tôm lớn cần 1 - 2 ngày Tốc độ lớn thời gian đầu 3 g/tuần (mật độ nuôi 100 con/m2
), tới cỡ 30 g tôm lớn chậm dần (1 g/tuần) Tôm cái thường lớn nhanh hơn tôm đực [1]
Trang 16- Đặc điểm dinh dưỡng
Tôm thẻ chân trắng là loài tôm ăn tạp, giống như các loài tôm he khác, thức ăn của nó cũng cần thành phần: protid, lipid, vitamin và muối khoáng thiếu hay không cân đối đều ảnh hưởng đến sức khỏe và tốc độ lớn của tôm Khả năng chuyển hóa thức ăn của tôm thẻ chân trắng rất cao, trong điều kiện nuôi lớn bình thường, lượng cho ăn chỉ cần bằng 5% thể trọng tôm (thức ăn ướt) Trong thời kỳ tôm sinh sản đặc biệt là giữa và cuối giai đoạn phát dục của buồng trứng, nhu cầu về lượng thức ăn hằng ngày tăng lên gấp 3 - 5 lần Thức ăn cần hàm lượng protein 35% là thích hợp, (tôm sú cần 40%, tôm
he Nhật Bản cần 60% protein) [1]
Giai đoạn ấu trùng: do tập tính sống trôi nổi bắt mồi thụ động bằng các đôi phụ bộ nên thức ăn phải phù hợp với cỡ miệng Thức ăn mà ấu trùng sử dụng trong thuỷ vực tự nhiên là các loài tảo khuê (Skeletonema, Cheatoceros ), luân trùng (Brachionus, Plicatilis), vật chất hữu cơ có nguồn gốc động và thực vật (Microplankton và Microdetritus) Ngoài ra trong sản xuất giống nhân tạo, các loại thức ăn như: ấu trùng Artemia, thịt tôm, thịt cá, mực, lòng đỏ trứng gà, thức ăn công nghiệp
Giai đoạn tiền trưởng thành: trong thuỷ vực tự nhiên tôm tiền trưởng thành sử dụng các loại thức ăn như: giáp xác nhỏ (ấu trùng Ostracoda, Copepoda, Mysidacca) các loài nhuyễn thể (Mollusca) và giun nhiều tơ (Polychaeta) Khi ương tôm bột lên tôm giống, thức ăn có thể phối hợp từ nhiều nguồn nguyên liệu khác nhau Nhu cầu dinh dưỡng về đạm, đường, mỡ thay đổi tuỳ theo giai đoạn phát triển của tôm Lượng đạm thô cần cho tôm giống từ 30-35% và tôm thịt từ 25-30%
Giai đoạn tôm trưởng thành: giai đoạn này tôm sử dụng các loại thức ăn như: giáp xác sống đáy (Benthic crustacean), hai mảnh vỏ (Bivalvia), giun nhiều tơ và các loại ấu trùng của động vật đáy [1]
Trang 17độ cao hơn Sau 1 vài tháng, tôm con trưởng thành, chúng bơi ngược ra biển
và tiếp diễn cuộc sống giao hợp, sinh sản làm trọn chu kỳ [1]
* Cơ quan sinh dục
Tôm thẻ chân trắng P vannamei trưởng thành phân biệt rõ đực cái thông
qua cơ quan sinh dục phụ bên ngoài
Con đực: giữa đôi mái chèo thứ nhất có một cơ quan gọi là Petasma Trong khi giao hợp Petasma sẽ chuyển tinh trùng sang Thelycum của con cái Con cái: con cái có một cơ quan gọi là Thelycum để tiếp nhận tinh trùng của con đực Thelycum nằm ở phía bụng của phần ức, giữa cặp chân đi thứ 4
Quá trình sinh sản của tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) cũng
giống như các loài tôm biển khác, gồm các giai đoạn: giao vĩ, thành thục và
đẻ trứng
Giao vĩ: đến giai đoạn trưởng thành, tôm thành thục sinh dục và tiến
hành giao vĩ Ở con cái buồng trứng đầu tiên có màu trắng đục sau đó chuyển thành màu vàng nâu hoặc xanh nâu Trong những ngày đẻ trứng tôm đực có
Trang 18nhiệm vụ đưa các túi tinh vào túi chứa tinh của con cái, con cái sẽ đẻ sau vài giờ [2]
Đẻ trứng: sự quấn quýt nhau giữa con đực và con cái bắt đầu vào buổi
chiều và có liên quan chặt chẽ đến cường độ ánh sáng Sự phân cắt của trứng diễn ra chủ yếu ở thời gian đẻ Quá trình đẻ được bắt đầu bằng sự nhảy lên đột ngột và bơi nhanh của con cái Quá trình này chỉ diễn ra trong vòng một phút [2]
Sức sinh sản: tôm mẹ thành thục lần đầu từ năm thứ hai trở đi Trọng
lượng 30 - 40 g/con Số lượng trứng tuỳ thuộc kích cỡ tôm mẹ Nếu tôm có khối lượng 30 - 35 g/con lượng trứng sẽ là 100.000 - 250.000 hạt, trứng có đường kính khoảng 0,22 mm Mùa đẻ rộ vào tháng 4 - 5 ở Ecuador và tháng
12 đến tháng 4 ở Peru Tôm thẻ chân trắng thuộc loại hình sinh sản túi mở; khác với loại hình túi chứa tinh kín như của tôm sú nên tôm bố mẹ thành thục xong thì tự giao vĩ, con đực chuyển túi tinh dễ dàng mà không thực hiện phương
pháp cắt mắt khi cho sinh sản nhân tạo [1]
1.3 Tình hình sản xuất giống và nuôi tôm thẻ chân trắng trên thế giới
và Việt Nam
1.3.1 Trên thế giới
Tôm thẻ chân trắng tên tiếng Anh là White Leg Shrimp, một trong những loài tôm kinh tế quan trọng nhất thế giới
Việc sinh sản nhân tạo tôm chân trắng thành công lần đầu tiên vào năm
1973 ở Florida từ nguồn tôm bố mẹ tự nhiên khai thác ở Panama đã dẫn tới quá trình phát triển nhanh chóng nuôi loài tôm này ở Trung, Nam Mỹ và Hawaii từ năm 1976 Sản lượng năm 1998 đã đạt đỉnh 193.000 tấn, sau đó giảm dần vì bùng phát dịch đốm trắng Việc di giống nuôi loài này ở châu Á sau đó đã làm sản lượng tăng vọt tới 1,386 triệu tấn năm 2004, trong đó Trung
Trang 19Quốc đóng góp 700.000 tấn, Thái Lan 400.000 tấn, Inđônêxia 300.000 tấn Sản lượng của Việt Nam năm 2004 được FAO ghi nhận là 50.000 tấn Hawaii trở thành trung tâm nghiên cứu thuần hóa tôm thẻ chân trắng, sản xuất giống sạch bệnh - kháng bệnh (SPF/SPR), và cải thiện tốc độ tăng trưởng [12]
Ở Đông Nam Á, Thái Lan, tiếp theo là Inđônêxia cũng cho phép nuôi tôm thẻ chân trắng từ đầu những năm 2000, nhưng chỉ bằng tôm giống SPF/SPR Các nước khác ở khu vực Đông Nam Á và Nam Á lúc đầu đều có tiếp cận khá dè dặt với loài này, chẳng hạn Campuchia, Ấn Độ, Malaixia, Mianma, Philipin đều chỉ cho nuôi thử nghiệm, do lo ngại lan truyền mầm bệnh mới, chủ yếu là virus hội chứng Taura (TSV), lên các đối tượng bản địa Thái Lan là nước đi đầu khu vực Đông Nam Á về nuôi tôm thẻ chân trắng, sản lượng hiện lên tới khoảng 500.000 tấn mỗi năm Nước này cũng đi đầu trong nghiên cứu tự sản xuất giống tôm thẻ chân trắng sạch bệnh, kháng bệnh và cải thiện tốc độ tăng trưởng để đáp ứng nhu cầu nuôi trong nước và xuất khẩu Thậm chí, họ đã có bộ giống tôm thẻ chân trắng cho các vùng nuôi
có những điều kiện tự nhiên khác nhau [12]
1.3.2 Ở Việt Nam
Việt Nam là một trong những nước đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á du nhập giống tôm thẻ chân trắng, nhưng lại là nước phát triển nuôi loài này vào loại chậm trong khu vực Từ năm 1996 - 1997, một việt kiều Mỹ là ông Trần Kia đã lập dự án xin nhập giống tôm thẻ chân trắng về nuôi tại Bạc Liêu, nhưng mãi đến năm 2001 - 2002, Bộ Thủy sản nay là Bộ NN&PTNT mới cho
3 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là Công ty Duyên Hải (Bạc Liêu), Công ty Việt Mỹ (Quảng Ninh) và Công ty Asia Hawaii (Phú Yên) được nhập
con giống SPF để nuôi thử nghiệm [12]
Từ năm 2002, do bị thiệt hại trong nuôi tôm sú, nhiều địa phương ở miền Bắc và miền Trung đã chuyển sang nuôi tôm thẻ chân trắng và thu được kết
Trang 20quả tốt; vậy nhưng phải đến đầu năm 2008, với Chỉ thị số 228 của Bộ trưởng
Bộ NN&PTNT ngày 25/1/2008, đối tượng này mới được phép đưa vào nuôi ở các tỉnh phía Nam trong các vùng quy hoạch và theo những điều kiện nhất định [29]
Tuy các doanh nghiệp đã nhìn thấy triển vọng của tôm thẻ chân trắng ở Việt Nam từ rất sớm, song quá trình phát triển nuôi ở Việt Nam đi chậm hơn nước láng giềng Thái Lan tới gần 10 năm Đặc biệt, mặc dù cũng có đề tài nghiên cứu sản xuất giống được “bảo vệ thành công” từ năm 2004, đến nay hầu hết đàn tôm thẻ chân trắng bố mẹ vẫn phải dựa vào nguồn nhập khẩu [29] Mặc dù mới được phép nuôi trên địa bàn cả nước 3 năm, sản phẩm tôm thẻ chân trắng đã đóng góp ngày càng quan trọng cho xuất khẩu thủy sản Việt Nam Giá trị xuất khẩu của riêng tôm chân trắng năm 2010 đã đạt 414,6 triệu USD, tăng gấp rưỡi so với năm 2009, bằng 20% giá trị xuất khẩu tôm nói chung và bằng 8% tổng giá trị xuất khẩu tất cả các sản phẩm thủy sản trong năm Thị phần của một loài như vậy là không hề nhỏ Ở đây chưa nói đến một sản lượng đáng kể tôm thẻ chân trắng tiêu thụ nội địa và xuất khẩu tiểu ngạch
Sự tăng trưởng liên tục cả diện tích nuôi, sản lượng và giá trị xuất khẩu chứng
tỏ tôm thẻ chân trắng đã có chỗ đứng vững chắc trong cơ cấu giống thủy sản nuôi ở Việt Nam [29]
Tất nhiên, với Việt Nam, tôm sú vẫn là một đối tượng thủy sản xuất khẩu chủ lực, nhất là thế mạnh cạnh tranh trên thị trường tôm cỡ lớn, nhưng sự có mặt của tôm thẻ chân trắng đã tạo nên sự đa dạng, cả về chủng loại sản phẩm lẫn phổ giá bán, phù hợp với nhiều đối tượng khách hàng
Đặc biệt, trong những năm gần đây, một số viện nghiên cứu, trung tâm giống, công ty… đã sản xuất thành công giống tôm thẻ chân trắng, điều này
đã tạo một bước nhảy vọt quan trọng cho nghề nuôi tôm nói chung và nghề nuôi tôm thẻ chân trắng ở Việt Nam nói riêng
Trang 21Để phục vụ sản xuất giống và phát triển nuôi tôm chân trắng, trong những năm qua các đơn vị khoa học của Bộ NN & PTNT đã triển khai nghiên cứu một số công trình khoa học như: quy trình nuôi vỗ tôm bố mẹ và cho sinh sản nhân tạo; Nghiên cứu sản xuất tôm chân trắng bố mẹ chất lượng và sạch bệnh có nguồn gốc nhập từ Hawaii phục vụ sản xuất giống nhân tạo; Ứng dụng công nghệ sinh học sản xuất giống tôm chân trắng sạch bệnh Tuy nhiên, trong lĩnh vực di truyền chọn tạo đàn tôm chân trắng bố mẹ có chất lượng cao
và khả năng kháng bệnh trong điều kiện nuôi ở Việt Nam đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào được thực hiện Tôm bố mẹ không chủ động, khó kiểm soát do nhập từ nhiều nguồn khác nhau đã trở thành thách thức chính cho công nghệ nuôi tôm chân trắng ở Việt Nam [31]
Theo thống kê của Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thuỷ sản III, năm 2009
cả nước có 490 trại sản xuất giống tôm chân trắng, mỗi năm sản xuất được khoảng 10 tỷ con giống Tuy nhiên, với diện tích nuôi thả như hiện nay thì mỗi năm Việt Nam cần khoảng 20 - 25 tỷ con giống, đến năm 2012, dự báo nhu cầu con giống lên tới khoảng 50 tỷ con, như vậy nguồn tôm giống chân trắng sản xuất tại Việt Nam mới chỉ đáp ứng được rất ít so với nhu cầu thực
tế Trong khi đó, Bộ NN & PTNT đã có quy định với con tôm chân trắng là
“chỉ cho nhập khẩu, xuất bán tôm chân trắng bố mẹ, tôm giống sạch từ các cơ
sở sản xuất được Bộ công nhận Để đảm bảo an ninh sinh học, các trại sản xuất tôm giống không được sản xuất giống tôm chân trắng tại các trại sản xuất giống tôm sú và các loại khác Tôm bố mẹ, tôm giống nhập khẩu phải được cách ly, kiểm dịch cách ly theo đúng quy định” Quy định của Bộ là vậy, nhưng trên thực tế, tôm giống chất lượng cao, sạch bệnh được sản xuất theo đúng quy trình và quy định hiện nay còn quá ít, chỉ chiếm khoảng 10 - 15% so với lượng tôm giống sản xuất trên thị trường Tôm giống Trung Quốc có nguồn gốc không rõ ràng, không qua kiểm dịch theo đường tiểu ngạch tràn
Trang 22vào Việt Nam với giá rất rẻ, chỉ bằng 60 - 70% so với giá tôm giống có nguồn gốc từ Hawaii Thực tế các trại sản xuất tôm sú giống tại các tỉnh miền Trung
do không còn hiệu quả vì dịch bệnh đã chuyển sang sản xuất giống tôm chân trắng, tôm bố mẹ chủ yếu được tuyển lựa từ nuôi thương phẩm Chất lượng tôm trôi nổi trên thị trường khó kiểm soát, tôm giống không rõ nguồn gốc đang chiếm thị phần lớn gây rất nhiều khó khăn cho các cơ sở sản xuất giống tôm sạch bệnh [31]
1.4 Một số nghiên cứu về ảnh hưởng của độ mặn lên sinh trưởng, tỷ lệ sống của một số loài tôm He và tôm thẻ chân trắng
1.4.1 Một số loài tôm He
Ngay từ đầu năm 1933, để tìm ra quy trình sản xuất giống nhân tạo loài
tôm Penaeus japonicus, tiến sĩ Motosaku Hudinaga đã tiến hành thí nghiệm
về các đặc điểm sinh học và một số yếu tố môi trường ảnh hưởng đến đời sống của ấu trùng tôm Trong tạp chí về động vật của Nhật Bản (1942) ông đã công bố kết quả các nghiên cứu về sinh sản nhân tạo, đồng thời các ngưỡng nhiệt độ và độ mặn cũng như ảnh hưởng của nhiệt độ và độ mặn đến ấu trùng
tôm P japonicus Qua kết quả của ông, giới hạn tốt nhất của nồng độ muối
trong thời kỳ ấp trứng và trong giai đoạn Nauplius là 27 - 39 ppt, giai đoạn Zoea có phạm vi hẹp hơn từ 31 - 32 ppt, giai đoạn Mysis từ 23 - 44 ppt và giai đoạn Postlarvae là 23 - 47 ppt [21]
Hideo Mochizuki (1979) đã làm thí nghiệm về sự chịu đựng dưới ảnh
hưởng của độ mặn lên ấu trùng tôm P merguiensis và kết quả cho thấy: ấu
trùng càng non thì chịu sự thay đổi độ mặn càng hẹp và ở những thang độ mặn cao có tỷ lệ sống cao hơn, nhưng ở P10 thì phạm vi chịu đựng sự thay đổi
độ mặn càng rộng (từ 10 - 50 ppt) Song đối với hầu hết các giai đoạn ấu trùng, ở 20 - 45 ppt đều có tỷ lệ sống cao từ 90 - 100% [16]
Trang 23Khi tìm hiểu về ngưỡng chịu đựng đối với độ mặn của P.monodon chưa
thành thục, D.F.Cawthorne và cộng sự (1982) cho biết trong các thí nghiệm, tôm có thể chịu đựng tới độ mặn 1,7 ppt [14]
Preston (1985) khi quan sát tốc độ sinh trưởng của ấu trùng Penaeus
plebejus, thấy giá trị tăng theo thứ tự 35 ppt > 40 ppt = 30 ppt > 25 ppt > 20
ppt trong giai đoạn Z Đồng thời ông cũng cho biết tỷ lệ sống của ấu trùng
Penaeus plebejus và Metapenaeus macleayi tỏ ra cao hơn ở trên dưới 35 ppt
trong giai đoạn N và 30 ppt trong giai đoạn M Trong thí nghiệm khác với
Metapenaeus bennettae, ông cho rằng, nhiệt độ trên dưới 29oC và độ mặn 30 -
35 ppt thích hợp hơn cho sự phát triển của ấu trùng Ở giai đoạn M điều kiện tốt nhất để đạt tỷ lệ sống cao là 29o
Postlarvae của tôm P monodon cho thấy: độ mặn mà tôm có khả năng chịu
đựng được từ 5 - 40 ppt, tỷ lệ sống cao từ 85 - 100%, nhưng ở độ mặn 5 ppt chỉ còn 35% [20]
Trong luận văn thạc sỹ của Hoàng Thị Bích Đào, 1995 Khi nghiên cứu
“Ảnh hưởng của nhiệt độ, độ mặn và thức ăn lên sự sinh trưởng, phát triển và
hô hấp của ấu trùng tôm sú (Penaeus monodon Fabricius)” ở độ mặn từ 25 -
40 ppt, ấu trùng tôm sú có khả năng sinh trưởng và phát triển mạnh nhất ở độ mặn 30 ppt
D.J.Steples và D.S.Heales (1991) đã nghiên cứu sự sinh trưởng và sức
sống của Juvenile Penaeus merguiensis (có chiều dài vỏ đầu ngực trung bình
từ 4 12 mm) được kiểm tra trong các điều kiện có sự kết hợp giữa nhiệt độ
Trang 24(5 mức: 15, 20, 25, 30 và 350C) và độ mặn (5 mức: 5, 20, 35, 45 và 55 ppt) Kết quả cho thấy nhiệt độ và độ mặn thích hợp cho sự sinh trưởng chiều dài là
310C và 30 ppt Tuy nhiên tôm có tỷ lệ sống cao và trao đổi chất mạnh ở điều kiện nhiệt độ và độ mặn thấp hơn (200C và 20 ppt) Khi tính toán cụ thể và chi tiết đã rút ra được nhiệt độ và độ mặn tối ưu để có sinh khối lớn nhất và phù hợp với quy trình sản xuất là 250
C và 25 ppt
C.J.O’Brien (1994) đã nghiên cứu Juvenile Penaeus esculentus (chiều
dài vỏ giáp 10 12 mm) ở 5 mức nhiệt độ (15, 20, 25, 30 và 350
C) kết hợp với 6 mức độ mặn (5, 15, 25, 35, 45 và 55 ppt) trong 50 ngày Sau 50 ngày nuôi, tôm có thể sống ở nhiều cặp nhiệt độ - độ mặn Ở điều kiện 15 300
C
và 15 45 ppt, tôm có sức sống cao hơn ở điều kiện 350C và 25 45 ppt
Sự kết hợp giữa nhiệt độ, độ mặn cực trị gây nên tỷ lệ chết cao Tôm sinh trưởng nhanh nhất ở điều kiện 300
C và 30 ppt [22]
J.Chen và cộng sự (1996) nghiên cứu về ảnh hưởng của nhiệt độ và độ
mặn lên sức sống và sinh trưởng của juvenile Penaeus chinensis, trong điều
kiện kết hợp giữa 4 mức nhiệt độ (12, 18, 24 và 300C) với 4 mức độ mặn (10,
20, 30 và 40 ppt) Tất cả tôm đều sống được ở điều kiện 20 ppt - 180
C sau 50 ngày nuôi, không có con nào sống được ở độ mặn 10 ppt - 120
C sau 30 ngày
Ở 20, 30 ppt và 300C tôm sinh trưởng nhanh hơn đáng kể so với khi nuôi ở 30
- 40 ppt và 240C; 40 ppt - 300C Juvenile P.chinensis sinh trưởng tốt nhất ở
điều kiện 20 - 30 ppt và 300
C
Kumlu và cộng sự (1999) đã nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn lên sự
sinh trưởng và sức sống của ấu trùng tôm Rằn Penaeus semisulcatus Ấu
trùng Protozoea được nuôi trong các mức độ mặn 25, 30, 35, 40, 45, 50 và 55 ppt Các thí nghiệm cho thấy ấu trùng có sức chịu đựng tốt với độ mặn cao Các ấu trùng giai đoạn đầu có sức chịu đựng tốt với các mức độ mặn cao nhưng chỉ trong một vài ngày Mặc dù độ mặn cao (45 - 55 ppt) cho tỷ lệ sống
Trang 25cao nhưng sự sinh trưởng và phát triển của ấu trùng lại tốt hơn ở mức độ mặn thấp hơn (25 - 40 ppt) Dựa vào kết quả được tính toán hợp lý cho thấy độ
mặn thích hợp để nuôi ấu trùng tôm Rằn P semisulcatus là 30 - 35 ppt [19]
Nghiên cứu “Ảnh hưởng độ mặn lên sức sống và sự sinh trưởng của hậu
ấu trùng tôm Rằn Penaeus semisulcatus” của tác giả HI Soyel và M Kumlu
(2003) Hậu ấu trùng - Postlarvae (giai đoạn P20) được nuôi ở độ mặn 40 ppt Sau 48 giờ dần dần thích nghi với các mức độ mặn thử nghiệm, tỷ lệ sống ở
độ mặn 40, 35, 30, 25, 20, 15 và 10 ppt tương ứng là 79, 84, 81, 75, 63 và 23% sau 10 ngày thí nghiệm Tỷ lệ Postlarvae chết cao ở mức độ mặn thấp
(10 và 15 ppt) xảy ra ở 10 ngày đầu tiên Postlarvae của P.semisulcatus có tỷ
lệ sống cao và sinh trưởng mạnh hơn khi ở mức độ mặn cao hơn 20 ppt trong giai đoạn P20 P60 Mức độ mặn thấp (dưới 20 ppt) gây tỷ lệ chết cao, kết quả chỉ có 2,67 - 8% P sống được Ở độ mặn cao, tôm có tỷ lệ sống cao hơn
so với độ mặn thấp Ở độ mặn trên 35 ppt, tốc độ sinh trưởng của tôm gấp khoảng 2 lần so với độ mặn 15 ppt Các kết quả cho thấy trong giai đoạn ương nuôi ở độ mặn dưới 20 ppt, P có tốc độ sinh trưởng chậm và tỷ lệ chết cao Sinh trưởng của P ở độ mặn 10 và 15 ppt cho khối lượng trung bình thấp nhất Khối lượng trung bình của tôm đạt được ở độ mặn 40 ppt cao gấp 2 lần so với
độ mặn 10 ppt Ở độ mặn 15, 20, 25 ppt các chỉ tiêu sinh trưởng đạt mức trung bình Độ mặn 10 ppt, P có sinh khối thấp nhất Như vậy, sinh khối tăng lên cùng với sự tăng lên của độ mặn Trong nghiên cứu này, giai đoạn P20 -
P60, tôm có sức sống, khối lượng tịnh, chiều dài thân ở độ mặn 30 - 40 ppt lớn hơn ở độ mặn 10 25 ppt Nghiên cứu này cho thấy: độ mặn thích hợp để
nuôi tôm Rằn P.semisulcatus là 30 ppt
Tác giả Huỳnh Minh Sang và Ravi Fotedar (2004) đã xác định sức sống
và sự sinh trưởng của Penaeus latisulcatus (khối lượng ban đầu là 2,95 0,26 g) ở các độ mặn 10, 22, 34, 46 ppt trong 60 ngày Sau giai đoạn 45 ngày và 60
Trang 26ngày nuôi, tổng khối lượng của tôm đạt cao nhất ở độ mặn 34 ppt, thấp nhất ở
độ mặn 46 ppt Sau 60 ngày, chiều dài thân lớn nhất đạt được ở độ mặn 34 ppt, giảm đi ở độ mặn 46 ppt và 22 ppt Sau 20 ngày, hầu như không có con nào sống được ở độ mặn 10 ppt Độ mặn thích hợp cho sự sinh trưởng và sức
sống của P.latisulcatus khoảng 22 và 34 ppt [17]
Ở Việt Nam, năm 2004 - 2005, Tôn Thất Chất và cộng sự đã nghiên cứu ảnh hưỏng của độ mặn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của tôm Rằn trong các xô trong phòng thí nghiệm bố trí các mức độ mặn là 15, 20, 25, 30 ppt Kết quả ở mức độ mặn 30 ppt cho tăng trưởng và tỷ lệ sống cao nhất [2]
1.4.2 Tôm thẻ chân trắng
Sức sống và sự sinh trưởng của Penaeus vannamei được J.Ponce -
Palafox và cộng sự (1997) xác định ở nhiệt độ (20, 25, 30 và 350C) kết hợp với độ mặn (20, 30, 35, 40 và 50 ppt) Tất cả tôm đều sống ở độ mặn 20, 30,
35 và 40 ppt trong điều kiện nhiệt độ 25 và 300C Kết quả cho thấy P
vannamei có sức chịu đựng với khoảng nhiệt độ và độ mặn rộng [24]
Nghiên cứu của Viện Nuôi trồng thủy sản III đã xác định được khoảng
độ mặn thích hợp cho sự tăng trưởng và sức sống của ấu trùng tôm thẻ chân trắng là 28 - 32 ppt
Mặc dù mỗi loài tôm He có sức chịu đựng độ mặn khác nhau nhưng hầu hết Juvenile của các loài tôm He sẽ sinh trưởng nhanh nhất ở độ mặn từ 25 ppt đến 35 ppt (H.M.Sang và R.Fotedar, 2004) Độ mặn thích hợp là đặc tính riêng của mỗi loài tôm He
Trang 27Bảng 1.1 Độ mặn thích hợp của một số loài tôm He
Loài Giai đoạn Độ mặn (ppt) Tác giả
P.monodon Juvenile 15 - 25 J.Chen, 1985
P.semisulcatus Postlarvae 30 - 40 H.I.Soyel & M.Kumlu, 2003
P.chinensis Juvenile 20 - 30 Chen & cộng sự, 1996
P.merguiensis Juvenile 25 Staples & Heales, 1991
P.vannamei Juvenile 22 - 34 HM.Sang & R.Fotedar,
2004
P.esculentus Juvenile 30 O’Brien, 1994
P.aztecus Juvenile 25 - 35 Zein-Edil & Griffith, 1968
P.stylirostris Postlarvae 30 Bassanesi, 1982
P.californiensis Postlarvae 33 Martinez & cộng sự, 1996
P.indicus Postlarvae 17 - 35 Vijayyakumaran, 1999
Trang 28Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU2.1 Đối tượng nghiên cứu
Tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei) giai đoạn Postlarvae 10 đến Postlarvae 30.
2.2 Vật liệu và thiết bị nghiên cứu
* Vật liệu nghiên cứu
- Thức ăn tươi sống: Artemia
- Thức ăn công ngiệp: TNT 4 shrimp larval Feed PL 5-15, LOTUS
4001 và 4002 của công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam sản xuất
- BETAMIN: Được bổ sung vào thức ăn với liều lượng 5g/1kg thức ăn
- Dầu mực: Được bổ sung vào thức ăn với liều lượng 20ml/1kg thức ăn
- SUPPER VS: làm giảm hàm lượng các khí độc
- SOLUDINE 50%: tác dụng diệt khuẩn
* Thiết bị nghiên cứu
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn lên tỷ lệ sống của ấu trùng tôm thẻ chân trắng giai đoạn P10 - P30 ngày
Trang 29- Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn lên tốc độ tăng trưởng về chiều dài của ấu trùng tôm thẻ chân trắng giai đoạn P10 - P30 ngày
- Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn lên tốc độ tăng trưởng về khối lượng của ấu trùng tôm thẻ chân trắng giai đoạn P10 - P30 ngày
2.4 Phương pháp nghiên cứu
Sơ đồ khối nghiên cứu:
độ tăng trưởng cao nhất
Ảnh hưởng của độ mặn đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của tôm
thẻ chân trắng (Penaeus vannamei) giai đoạn Postlarvae 10 đến
Postlarvae 30 tại Công ty Cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam – chi nhánh
Trang 30- Mỗi lô thí nghiệm được lặp lại 3 lần
- Nguồn tôm giống được cung cấp bởi nguồn giống của công ty CP
- Kích cỡ tôm ương giống thí nghiệm: WTB = 0,01 g, LTB = 8 mm
- Tất cả các yếu tố phi thí nghiệm khác như nhiệt độ, ánh sáng, sục khí được bố trí hoàn toàn giống nhau ở 3 lô:
Trang 31* Sơ đồ bố trí thí nghiệm:
2.4.2 Quản lý và chăm sóc
- Cứ 4 giờ kiểm tra một lần, nếu có sự thay đổi độ mặn của nước thì tiến hành điều chỉnh độ mặn của nước Trong suốt quá trình thí nghiệm, mức độ
mặn có thể chấp nhận được với sai số ± 1 ppt
- Đánh Super VS (cải thiện môi trường bể ương) 150 ppm vào lúc 11 giờ
- Xiphon đáy bể để loại bỏ cặn bẩn (nếu cần thiết)
- Các yếu tố môi trường (nhiệt độ, DO…) được theo dõi thường xuyên trong quá trình ương
P10 được chuyển từ công ty CP
Được nuôi trong 9 bể đặt trong nhà theo 3 mức độ mặn: 25‰, 30‰, 35‰
Mỗi lô thí nghiệm được lặp lại 3 lần
Số P10 trong mỗi bể ương là như nhau (70 vạn P10/bể)
Lô1 25‰
Lô2 30‰
Lô3 35‰
Theo dõi các chỉ tiêu
- Tỷ lệ sống
- Tốc độ tăng trưởng về chiều dài toàn thân
- Tốc độ tăng trưởng về khối lượng
Theo dõi các chỉ tiêu
- Tỷ lệ sống
- Tốc độ tăng trưởng về chiều dài toàn thân
- Tốc độ tăng trưởng về khối lượng
Theo dõi các chỉ tiêu
- Tỷ lệ sống
- Tốc độ tăng trưởng về chiều dài toàn thân
- Tốc độ tăng trưởng về khối lượng
Theo dõi các chỉ tiêu
- Tỷ lệ sống
- Tốc độ tăng trưởng về chiều dài toàn thân
- Tốc độ tăng trưởng về khối lượng
Lô3 35‰
Theo dõi các chỉ tiêu
- Tỷ lệ sống
- Tốc độ tăng trưởng về chiều dài toàn thân
- Tốc độ tăng trưởng về khối lượng
Lô2 30‰
Lô3 35‰
Theo dõi các chỉ tiêu
- Tỷ lệ sống
- Tốc độ tăng trưởng về chiều dài toàn thân
- Tốc độ tăng trưởng về khối lượng
Trang 322.4.3 Phương pháp thu thập và phân tích số liệu
2.4.3.1 Phương pháp xác định các yếu tố môi trường
Bảng 2.1 Phương pháp xác định các yếu tố môi trường
2.4.3.2 Phương pháp thu mẫu
* Lấy mẫu để xác định chiều dài và trọng lượng của ấu trùng tôm
Lấy mẫu bằng lưới có kích thước mắt lưới nhỏ
Lấy mẫu theo nguyên tắc ngẫu nhiên và đồng đều với số lượng 30 con/mẫu
Lấy 3 vị trí trong 1 bể (đầu, giữa, cuối)
Lấy mẫu 3 ngày 1 lần, lấy vào lúc 14 - 15 giờ
Cố định mẫu thu được vào bát nước đá để làm chết tôm, vớt tôm ra dụng
cụ chứa mẫu, nhuộm màu bằng hóa chất Lugol, sau đó tiến hành đo tôm
* Lấy mẫu để xác định tỉ lệ sống của tôm:
Sau khi quan sát thấy ấu trùng tôm đã chuyển hết, dùng ly 300 ml lấy mẫu ở 3 vị trí trong bể, sau đó đếm số tôm thu được
2.4.3.3 Phương pháp xác định các chỉ tiêu
* Phương pháp xác định tỷ lệ sống
Lúc mới tiến hành thả giống ta lấy ca múc mẫu tôm cho vào chậu và sử dụng dụng cụ đếm tôm đếm chính xác số lượng giống thả vào mỗi thùng
Trang 33Tỷ lệ sống tích lũy:
T2
X= - x 100%
T1
Trong đó: X là tỉ lệ sống của tôm
T2 là tổng số tôm thu được khi thu hoạch T1 là tổng số tôm thả ban đầu
* Phương pháp xác định tốc độ tăng trưởng
Định kỳ 4 ngày kiểm tra một lần và kiểm tra 30 mẫu
- Khối lượng: xác định khối lượng trung bình một con/1 lần cân bằng
(T2 - T1) x Wtb1Trong đó:
ADGw: TĐTT khối lượng tuyệt đối của tôm theo thời gian SGRw: TĐTT khối lượng đặc trưng của tôm theo thời gian
Wtb1: Khối lượng trung bình của đàn tôm tại thời điểm T1 (g)
Wtb2: Khối lượng trung bình của đàn tôm tại thời điểm T2 (g)
T1: Thời điểm thu mẫu lần trước (ngày)
T : Thời điểm thu mẫu kiểm tra (ngày)
Trang 34(T2 - T1) x Ltb1Trong đó:
ADGL: TĐTT chiều dài tuyệt đối của tôm theo thời gian
SGRL: TĐTT chiều dài đặc trưng của tôm theo thời gian
Ltb1: Chiều dài trung bình của đàn tôm tại thời điểm T1 (g)
Ltb2: Chiều dài trung bình của đàn tôm tại thời điểm T2 (g)
T1: Thời điểm thu mẫu lần trước (ngày)
T2: Thời điểm thu mẫu kiểm tra (ngày)
* Phương pháp xử lý số liệu
Xử lý số liệu theo phương pháp thống kê bằng phần mềm Excel 2003 và spss 16.0 Từ đó rút ra bảng số liệu và đồ thị về các chỉ tiêu cần xác định (chiều dài, khối lượng và tỷ lệ sống ở mỗi mức độ mặn) và ý nghĩa thống kê
của số liệu
2.5 Thời gian, địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ 03/2012 đến 04/2012
- Địa điểm nghiên cứu: Công ty Cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam - Chi nhánh Quảng Bình - huyện Lệ Thủy - tỉnh Quảng Bình