LỜI CẢM ƠN Sau quá trình học tập và nghiên cứu hết sức nghiêm túc, tôi đã hoàn thành luận văn với đề tài: “Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rừng ngập mặn vùng cửa
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Sau quá trình học tập và nghiên cứu hết sức nghiêm túc, tôi đã hoàn thành luận văn
với đề tài: “Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rừng ngập mặn vùng cửa sông ven biển ở xã Hưng Hòa, thành phố Vinh, Tỉnh Nghệ An.”
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới Ban giám hệu nhà trường Đại học Vinh, Ban chủ nhiệm Khoa và tập thể thầy, cô giáo trong khoa Nông-Lâm-Ngư đã tạo đièu kiện thuận lợi
để chúng tôi có một kỳ thực tập bổ ích, đật hiệu quả cao Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các cán bộ của UBND xã Hưng Hoà, cùng nhân dân trên đị a bàn toàn xã, những người đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập t ại trạm và khi làm việc ở các cơ quan khác
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Cô giáo K.s Nguyễn Thị Hương Giang
- người đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo chia sẻ cho tôi những kinh nghiệm và trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành khoá luận này
Do điều kiện về thời gian và trình độ có hạn, luận văn khó tránh khỏi những sai sót, tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và mọi người để luận văn của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Vinh, ngày 10 tháng 05 năm 2012
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Hồ Phước
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
Mục tiêu tổng quát 3
Mục tiêu cụ thể 3
Trang 2Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
1.1 Cơ sở lý luận 4
1.1.1 Rừng ngập mặn – Vai trò và ý nghĩa 4
1.1.1.1 Khái niệm 4
1.1.1.2.Vai trò của rừng ngập mặn 4
1.1.1.3 Rừng ngập mặn và sự phát triển bền vững 14
1.2 Cơ sở thực tiễn 14
1.2.1 Trên thế giới 14
1.2.2 Ở Việt Nam 16
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 21
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 21
2.1.2.Phạm vi nghiên cứu 21
2.1.2.1 Không gian 21
2.1.2.2 Thời gian 21
2.2 Nội dung nghiên cứu 21
2.2.1 Tìm hiểu hiện trạng rừng ngập mặn Hưng Hoà 21
2.2.2 Xác định các hình thức quản lý RNM Hưng Hoà 21
2.2.3 Các nguồn lực cho công tác quản lý 21
2.2.4 Xác định thuận lợi, khó khăn trong công tác quản lý RNM 22
2.2.5 Đề xuất các giải pháp nâng cao quản lý RNM ở xã Hưng Hoà 22
2.3 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 22
2.3.1 Câu hỏi nghiên cứu 22
2.3.2 Giả thuyết nghiên cứu 22
2.4 Phương pháp nghiên cứu 23
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 23
2.4.2 Phương pháp thu thập thông tin 23
2.4.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 24
2.5 Điều kiện địa lý tự nhiên, kinh tế xã hội xã Hưng Hoà, TP Vinh 24
2.5.1 Điều kiện địa lý tự nhiên xã Hưng Hoà 24
2.5.1.1 Vị trí địa lý 26
2.5.1.2 Địa hình 26
2.5.1.3 Diện tích 26
2.5.1.4 Giao thông2 26
2.5.1.5 Sông ngòi 27
2.5.1.6 Khí hậu 27
2.5.1.7 Tài nguyên thiên nhiên 27
2.5.2 Điều kiện kinh tế 27
2.5.2.1 Dân số 27
2.5.2.2 Mật độ dân số 28
2.5.2.3 Cơ cấu lao động 28
2.5.2.4 Đặc điểm kinh tế2 29
2.5.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên – KTXH xã Hưng Hoà 30
Chương 3 NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31
3.1 Thông tin chung về chủ hộ điều tra 31
3.2 Một số đặc điểm cơ bản của RNM Hưng Hoà 32
3.2.1 Diện tích đất RNM 32
Trang 33.2.2 Sự biến động tài nguyên RNM từ năm 1954 – 2012 33
3.2.2.1 Thay đổi về diện tích RNM 33
3.2.2.2 Suy giảm các tài nguyên sinh vật trong RNM 37
3.2.3 Một số hoạt động ảnh hưởng đến RNM 39
3.3 Thực trạng quản lý RNM xã Hưng Hoà 43
3.3.1 Các hình thức quản lý 43
3.3.1.1 Nhà nước quản lý 43
3.3.1.2 Địa phương quản lý 47
3.3.1.3 Quản lý dựa vào cộng đồng địa phương 50
3.3.1.4 Mối quan hệ giữa các bên tham gia trong quản lý RNM và hỗ trợ phát triển cộng đồng 52
3.3.2 Các nguồn lực trong công tác quản lý RNM tại xã Hưng Hoà 54
3.3.2.1 Chính sách, thể chế 54
3.3.2.2 Con người 55
3.3.2.3 Tài chính 55
3.3.2.4 Cơ sở vật chất 56
3.3.2.5 Khoa học – Kỹ thuật 56
3.3.3 Những hệ quả trong công tác quản lý RNM ảnh hưởng tới cuộc sống người dân 57 3.4 Những khó khăn và thuận lợi trong công tác quản lý RNM 60
3.5 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý RNM ở Xã Hưng Hoà 62
3.5.1 Giải pháp quản lý 62
3.5.2 Nâng cao nhận thức cộng đồng 63
3.5.3 Giải pháp chính sách và đầu tư 64
3.5.4 Giải pháp kỹ thuật lâm sinh 64
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 65
1 Kết luận 65
2 Khuyên nghị 67
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Các vùng đất ngập nước cửa sông ven biển đóng vai trò to lớn với môi trường và cuộc sống cộng đồng người dân viên biển, bao gồm nhiều hệ sinh khác nhau: như hệ sinh thái rạn đá ngầm, rạn san hô, thảm cỏ biển, bãi cát biển Trong đó, rừng ngập mặn đóng một vai trò quan trọng đối với cuộc sống của hàng triệu con người ven biển Việt Nam
Do vị trí chyển tiếp giữa môi trường biển và đất liền, nên hệ sinh thái rừng ngập mặn
có tính đa dạng sinh học rất cao Lượng mùn bã phong phú của rừng ngập mặn là nguồn thức
ăn dồi dào cho nhiều động vật ở nước Đây là nơi nuôi dưỡng nhiều loài hải sản có giá trị kinh tế cao như: tôm biển, cua, cá, bớp, sò, ngao, ốc hương Theo thống kê của Vũ Trung Tạng và Phan Nguyên Hồng (1999), có tới 43 loài cá đẻ hoặc có ấu trùng sống trong rừng ngập
Trang 4mặn ở Việt Nam Rừng ngập mặn là nơi cu trú và kiếm ăn của nhiều loài bò sát quý hiếm như:
cá sấu, kỳ đà hoa, rùa biển Một số loài thú như: rái cá, mèo rừng, khỉ đuôi dài cũng rất phong phú trong rừng ngập mặn Đặc biệt rừng ngập mặn là nơi làm tổ, kiếm ăn, nơi trú đông của nhiều loài chim nước, chim di cư trong đó có một số loài chim đang bị đe doạ tuyệt chủng Rừng ngập mặn là bức tường xanh vững chắc bảo vệ bờ biển, đê biển, hạn chế xói lở và các tác hại của bão lụt
Nghệ An là một tỉnh nghèo, với bờ biển dài 82km và 5 cửa sông Người dân ven biển Nghệ An có mức sống thấp, tỷ lệ hộ đói chiếm tới 17,3% tổng số hộ Theo kết quả nghiên cứu, vùng ven biển Nghệ An nằm trong địa giới hành chính 45 xã thuộc các huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc, Thị xã Cửa Lò và thành phố Vinh Tổng diện tích đất rừng ven biển là 7.241 ha (trên tổng số 29.240,6 ha đất vùng ven biển); nhưng mới chỉ có 1.738 ha đất
có rừng Trong đó có 569,9 ha rừng ngập mặn chủ yếu ở các cửa Hội (sông Cả), Cửa Vạn (sông Bùng), cửa Lạch Quèn, Lạch Cờn (sông Mai Giang); 688,1 ha rừng bãi cát ven biển thường gọi là bãi ngang
Nhưng hoạt động của cộng đồng địa phương nơi đây đã và đang làm cho rừng ngập mặn đang ngày càng bị suy giảm nghiêm trọng Rừng ven biển mất đi đến đâu, kéo theo hậu quả xói lở bờ, bãi biển đến đó Trong số 45 xã ven biển có 19 xã bị xói lở, tổng chiều dài các đoạn xói lở là 19.290 m (cửa lạch 11.050 m, bãi ngang 8.240 m) Với tốc độ xói lở trung bình
42 m/năm, mỗi năm Nghệ An mất gần 100 ha đất ven biển (Theo Báo cáo kết quả điều tra của Phòng Nông nghiệp, Sở Kế hoạch đầu tư Nghệ An, 2009)
Hưng Hòa là một xã ngoại thành của TP Vinh, tỉnh Nghệ An với tổng diện tích đất tự nhiên là 1.454 ha Đất nông nghiệp là khoảng 970 ha, trong đó diện tích đất trồng lúa là 265
ha, cho sản lượng 871,9 tấn/năm, diện tích nuôi trồng thủy sản chiếm 242 ha với sản lượng trung bình 352,9 tấn/năm Xã có tổng số dân là 6.745 người, chia thành 9 xóm Trong đó có 1.280 hộ lao động chủ yếu nhờ vào sản xuất nông lâm ngư nghiệp Giá trị thủy sản ngoài quốc doanh là 8.426 triệu đồng Giá trị sản lượng lâm nghiệp ngoài quốc doanh là 150 triệu đồng Có tới 303 hộ nghèo chiếm 17,33% Sự suy thoái môi trường, sự cạn kiệt nguồn lợi ven biển ở Nghệ An nói chung và xã Hưng Hòa nói riêng do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng chủ yếu là do hình thức quản lý đất ngập nước vùng cửa sông ven biển chưa hợp lý, thiếu sự tham gia của cộng đồng địa phương, cán bộ chính quyền địa phương còn thiếu kiến thức về quản
lý và phương thức khai thác bền vững đất ngập nước
Trang 5Xuất phát từ vấn đề trên, tôi chọn đề tài: “Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rừng ngập mặn vùng cửa sông ven biển ở xã Hưng Hòa, thành phố Vinh, Tỉnh Nghệ An.”
Với đề tài này, tôi hy vọng góp phần tăng cường hiệu quả quản lý RNM thông qua đề xuất một số giải tăng cường và sự tham gia của cộng đồng vào việc quản lý RNM, hạn chế những ảnh hưởng của BĐKH tới môi trường sinh thái cũng như sinh kế của người dân ven biển, tăng khả năng thích ứng của người dân ven biển cũng như hệ sinh thái nơi đây trước sự biến đổi bất thường của khí hậu thời tiết
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Góp phần tăng cường hiệu quả quản lí rừng ngập mặn vùng cửa sông ven biển nhằm hạn chế ảnh hưởng của BĐKH tới môi trường sinh thái cũng như tới sinh kế của người dân ven biển, tăng khả năng thích ứng của người dân cũng như hệ sinh thái nơi đây trước sự biến đổi bất thường của khí hậu thời tiết Từ đó giúp người dân nâng cao thu nhập, cải thiện mức
sống, góp phần XĐGN
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Mục tiêu 1 Xác định được hiện trạng của RNM Hưng Hoà
- Mục tiêu 2 Xác định được thực trạng quản lý RNM Hưng Hoà
- Mục tiêu 3 Xác định thuận lợi, khó khăn trong công tác quản lý RNM
- Mục tiêu 4 Đưa ra các giải pháp phù hợp với thực tế địa phương để nâng cao hiệu quả quản lý
Trang 6Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Rừng ngập mặn – Vai trò và ý nghĩ
1.1.1.1 Khái niệm
Rừng ngập mặn là kiểu rừng phát triển trên vùng đất lầy, ngập nước mặn vùng cửa sông, ven biển, dọc theo các sông ngòi kênh rạch có nước lợ do thủy triều lên xuống hằng ngày RNM là hệ sinh thái rất hữu ích, nó tạo ra vật chất hữu cơ để cung cấp cho nhiều loài sinh vật (Odum and Heald, 1975) [3]
1.1.1.2 Vai trò của Rừng ngập mặn
RNM là nơi cung cấp thức ăn, nơi ở cho các loài hải sản
Nguồn thức ăn đầu tiên, phong phú và đa dạng cung cấp cho các loài hải sản là xác hữu cơ thực vật dạng hạt, hoặc còn gọi là mùn bã hữu cơ, đó là sản phẩm của quá trình phân hủy xác thực vật, bao gồm: lá, cành, chồi, rễ… của các cây ngập mặn Theo Snedaker (1978), lượng lá rơi của cây RNM ở nam Florida là 10.000 – 14.000 kg khô/ha/năm Kết quả nghiên cứu ở rừng đước Cà Mau cho thấy năng suất lượng rơi là 9.719,9 kg/ha/năm, riêng lá chiếm 79,71% Hàng năm rừng đước Cà Mau cung cấp cho hệ sinh thái RNM ở đây 8.400 – 12.000
kg lá/ha/năm (tính theo trọng lượng khô) (Phạm Nguyên Hồng, 1984) [3]
Trang 7Quanh năm lá rơi xuống kênh rạch và trên sàn rừng, rồi lại được nước triều mang đi; quá trình phân hủy cũng diễn ra liên tục, kể cả mùa khô, mùa mưa Khi lá còn ở trên cây đã
có một số loài nấm sống trên đó, một số chui sâu vào biểu bì, một số sống trên mặt lá Khi lá rụng xuống, sau 24 giờ ngập nước triều đầu tiên, lá đã bị các vi sinh vật phân hủy, lúc đầu là
chi Phytophora thuộc lớp Nấm tảo (Phycomycetes), rồi đến Fusarium và Penicillium thuộc lớp Nấm bất toàn (Fungi imperfecti) Sau tuần thứ 2 và thứ 3 các nấm tảo nhường chỗ cho các loài vi sinh vật khác như nấm phân huỷ xenlulô (Zelerion và Lulnorthia) Tất cả các mô
xốp được phân huỷ nhanh nhất, còn các hợp chất xenlulô và lignin bị phân huỷ cuối cùng Trong quá trình phân huỷ, lượng đạm trên các mẩu lá tăng 2 – 3 lần so với ban đầu (Kaushik
và Hynes, 1971) Năm 1977, Untawale và ở Viện Hải dương học Ấn Độ đã nghiên cứu sự
biến đổi của các thành phần hoá học của lá mấm lưỡi đòng (Avicennia officilalis) từ khi còn
non cho tới khi lá bị phân huỷ, thấy hàm lượng protein tăng lên rất cao
Khi phân tích, so sánh các loại acid amin có trong lá tươi và lá phân huỷ, Casagrade (1970) đã thấy sự tăng tổng số các acid amin có protein và không protein trên bề mặt lá và
trong thành phần lá phân hủy cao hơn hẳn lá tươi Một số acid amin không protein như α – aminobyturic, α, γ diaminnobutyric và α, ε diamino pimonic cùng các loại acid citruline, ortrithine, cysteic là các sản phẩm được tạo ra trong quá trình trao đổi chất của vi sinh vật
Nghiên cứu thành phần và vai trò của vi sinh vật trong RNM huyện Giao Thủy và Nghĩa Hưng (Nam Định), các cán bộ của MERC và Bộ môn Công nghệ sinh học và vi sinh - Đại học Sư phạm Hà Nội (2002) cũng đã tìm ra nhiều chủng vi sinh vật phân hủy mùn bã trong đất
VSV trong đất và RNM bao gồm vi khuẩn, nấm sợi, nấm men và xạ khuẩn đều có khả
năng phân huỷ các hợp chất ở lớp đất mặt như tinh bột, xenlulôzơ, pectin, gelatin, casein, kitin có trong xác động vật và thực vật và một số hợp chất phức tạp hơn như cacboxin methyl xenlulôzơ (CMC), các chất lighnoxenlulôzơ ở các mức độ khác nhau và khoáng hoá nhanh các chất này nhờ khả năng sinh các enzym ngoại bào mạnh như xenlulaza, amylaza, proteinaza, kitinaza Một số nấm sợi phân giải được các hợp chất phốt pho khó tan Chúng
phân huỷ các mùn bã cây ngập mặn tại chỗ, cung cấp nguồn thức ăn cho khu hệ động thực vật RNM rất phong phú ở các kênh rạch và vùng biển nông
Khi nghiên cứu về vi sinh vật (VSV) ở miền nam Thái Lan, Chalermpongse (1989) đã phát hiện 59 loài nấm tham gia phân hủy vật rơi rụng của cây ngập mặn ở Ranong
Trang 8Bên cạnh đó, những chất thải rắn trong sinh hoạt, y tế, công nghiệp, nông nghiệp cùng với các hoá chất dư thừa từ nội địa theo sông ra RNM được giữ lại và nhờ VSV phân huỷ, biến chúng thành thức ăn cho hệ sinh vật ở đây và làm trong sạch nước biển Người ta đã ví RNM là quả thận khổng lồ lọc các chất thải cho môi trường vùng ven biển Bên cạnh vi sinh vật, giun tròn cũng tham gia tích cực trong quá trình phân hủy Số liệu của Nguyễn Chung Tú (1984) cho thấy có 264 cá thể giun tròn trên 1 lá đước đang phân hủy, còn trên lá mới rụng chỉ có 5 cá thể Trong thời gian lá bị phân hủy thành các mẩu vụn nhỏ, trên mặt mỗi mẩu vụn này được bọc 1 lớp áo vi sinh vật Đây là đơn vị dinh dưỡng có hàm lượng protein cao, và cũng là cơ sở cho chuỗi thức ăn phân hủy ở các mức độ khác nhau, đặc biệt là các động vật
ăn mùn bã như thân mềm, cua, giun nhiều tơ và một số loài cá
RNM không những là nguồn cung cấp thức ăn mà còn là nơi cư trú, nuôi dưỡng con non của nhiều loài thủy sản có giá trị, đặc biệt là các loài tôm sú, tôm biển xuất khẩu Trong vòng đời của một số lớn các loài cá, tôm, cua… có một hoặc nhiều giai đoạn bắt buộc phải sống trong các vùng nước nông, cửa sông có RNM Ví dụ điển hình là vòng đời của loài tôm
thẻ (Penaeus merguiensis) Loài tôm này có tập tính đẻ ở biển, cách xa bờ chừng 12 km (Ong
1980), do tác động của dòng nước và thay đổi của nước triều, sau khi trứng thụ tinh, ấu trùng chuyển vào vùng nước ven bờ, bơi dần vào cửa sông theo nước triều lên, thường tìm những vùng nước nông có giá bám như bụi cỏ, rễ cây…, sau đó đi sâu vào kênh rạch RNM Chúng sinh trưởng và phát triển ở đó cho tới khi thành thục, thường từ 3 – 4 tháng Ở giai đoạn trưởng thành thì chúng lại bắt đầu di cư ra biển để đẻ RNM ở đây vừa là nơi bảo vệ vừa là nơi nuôi dưỡng con non Cá đối cũng có tập tính đẻ ngoài biển, sau đó con non theo nước triều đi vào kênh rạch RNM, thức ăn chủ yếu là mùn bã hữu cơ phân hủy từ cây RNM Người ta thường gặp từng đàn cá đối, có khi với số lượng rất lớn trong các kênh rạch RNM Jeyaseelan (1998) đã điều tra, nghiên cứu, mô tả đặc điểm sinh học, sinh thái, phân bố địa lý
và nơi đánh bắt của 57 loài cá đẻ trứng và có ấu trùng sống trong vùng kênh rạch RNM châu
Á, trong số đó chúng tôi đã liệt kê được 39 loài tìm tháy ở Việt Nam (Phạm Nguyên Hồng (chủ biên), 1999) Với vai trò vừa là nơi bảo vệ, nuôi dưỡng con non, con giống vừa cung cấp thức ăn, RNM đóng góp một cách đáng kể vào sản lượng thủy sản
Vai trò của rừng ngập mặn trong việc bảo vệ vùng ven biển
- Giảm thiểu tác hại của sóng thần
Trang 9RNM có chức năng chống lại sự tàn phá của sóng thần nhờ hai phương thức khác nhau Thứ nhất, khi năng lượng sóng thần ở mức trung bình, những cây ngập mặn vẫn có thể đứng vững, bảo vệ hệ sinh thái của chính mình và bảo vệ cộng đồng dân cư sinh sống đằng sau chúng Có được như vậy là vì các cây ngập mặn mọc đan xen lẫn nhau, rễ cây phát triển
cả trên và dưới mặt đất cộng với thân và tán lá cây cùng kết hợp để phân tán sức mạnh của sóng thần Thứ hai, khi năng lượng sóng thần đủ lớn để có thể cuốn trôi những cánh RNM thì chúng vẫn có thể hấp thụ nguồn năng lượng khổng lồ của sóng thần bằng cách hy sinh chính mình để bảo vệ cuộc sống con người Rễ cây ngập mặn có khả năng phát triển mạnh mẽ cả
về mức độ rậm rạp và sự dàn trải Khi cây ngập mặn bị đổ xuống thì rễ cây dưới mặt đất tạo
ra một hệ thống dày đặc ngăn cản dòng nước
Tổ chức “Friend of the Earth” cho rằng, bảo vệ những cánh RNM là cách giải quyết duy nhất để bảo vệ dân cư vùng ven biển chống lại sóng và các đe doạ khác trong tương lai
(Scheer 2005) Theo khảo sát của IUCN (2005) tại những vùng bị tác động của sóng thần cho thấy: những vùng ven biển có RNM rậm, có các vành đai cây phòng hộ như phi lao, dừa, cọ
thì thiệt hại về người và tài sản ít hơn rất nhiều so với những nơi mà các hệ sinh thái ven biển
bị suy thoái, hoặc chuyển đổi đất sang mục đích sử dụng khác như nuôi tôm hay xây dựng khu du lịch
- Bảo vệ đê biển Việt Nam
Từ đầu thế kỷ XX, dân cư ở các vùng ven biển phía Bắc đã biết trồng một số loài cây
ngập mặn như trang và bần chua để chắn sóng bảo vệ đê biển và vùng cửa sông Mặc dù thời
kỳ đó đê chưa được bê tông hoá và kè đá như bây giờ nhưng nhờ có RNM mà nhiều đoạn đê không bị vỡ khi có bão vừa (cấp 6 ÷ 8)
Ở một số địa phương thực hiện nghiêm túc chương trình trồng rừng 327 của chính phủ thì đê điều, đồng ruộng được bảo vệ tốt Năm 2000, cơn bão số 4 (Wukong) với sức gió cấp 10 đổ bộ vào huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, nhờ các dải RNM trồng ở 9 xã vùng nước
lợ nên hệ thống đê sông Nghèn không bị hư hỏng Nếu không trồng RNM chắn sóng thì đê Đồng Môn đã bị vỡ và thị xã Hà Tĩnh đã bị ngập sâu, thiệt hại do cơn bão này gây ra sẽ rất nặng nề
Tháng 7 năm 1996, khi cơn bão số 2 (Frankie) với sức gió 103 ÷ 117km/s đổ bộ vào huyện Thái Thuỵ (Thái Bình) nhờ có dải RNM bảo vệ nên đê biển và nhiều bờ đầm không bị
hư hỏng, trong lúc đó huyện Tiền Hải do phá phần lớn RNM nên các bờ đầm đều bị xói lở
Trang 10hoặc bị vỡ Năm 2005, vùng ven biển huyện Thái Thuỵ tuy không nằm trong tâm bão số 7 (Damrey) nhưng sóng cao ở sông Trà Lý đã làm sạt lở hơn 650m đê nơi không có RNM ở thôn Tân Bồi, xã Thái Đô trong lúc phần lớn tuyến đê có RNM ở xã này không bị xạt lở vì thảm cây dày đặc đã làm giảm đáng kể cường độ sóng Ở Thái Thuỵ, có 10,5km đê biển được bảo vệ bởi RNM hầu như không phải sửa chữa, tu bổ hàng năm kể từ khi RNM trưởng thành, khép tán Một số địa phương có RNM phòng hộ nguyên vẹn như các xã ở Đồ Sơn – Hải Phòng, Giao Thuỷ - Nam Định, Hậu Lộc – Thanh Hoá, ở những nơi này đê biển hầu như không bị sạt lở trong các cơn bão số 2, 6, 7 năm 2005
- Bảo vệ đất bồi, chống xói lở, hạn chế xâm nhập mặn
Rễ cây ngập mặn chằng chịt, đặc biệt là những quần thể thực vật tiên phong mọc dày đặc có tác dụng làm giảm vận tốc dòng chảy tạo điều kiện cho trầm tích bồi tụ nhanh hơn ở các vùng cửa sông ven biển Chúng vừa ngăn chặn có hiệu quả hoạt động công phá bờ biển của sóng, đồng thời là vật cản làm cho trầm tích lắng đọng Ví dụ như, hàng năm vùng cửa sông Hồng tại Ba Lạt tiến ra biển 60÷70m, một số xã ở tỉnh Tiền giang, Bến tre đất bồi ra biển 25÷30m, Trà vinh, Sóc trăng 15÷30m, Bạc liêu, Cà mau 30÷40m (Phân viện Điều tra
Quy hoạch rừng Nam Bộ, 2006)
Ở vùng cửa sông lớn như hệ thống sông Hồng, sông Cửu Long, phù sa thường ngưng đọng trên lòng sông và ngoài cửa sông tạo nên những hòn đảo nổi Nếu điều kiện thuận lợi thì chỉ sau một thời gian, các loài cây ngập mặn tiên phong sẽ đến cư trú tạo môi trường cho những loài cây đến sau và đất bồi được nâng dần lên, như Cồn Ngạn, Cồn Lu ở Giao Thủy, Nam Định, Cồn Vành ở Thái Bình, Cồn Ngoài và Cồn Trong ở Tây Nam mũi Cà Mau
Những nơi trồng và bảo vệ tốt RNM thì bờ biển và đê không bị xói lở, thiệt hai do thiên tai ở mức rất thấp Ví dụ như: đoạn bờ Bằng La, Đại Hợp (Hải Phòng) trước đây không
có RNM thì bị xói lở rất mạnh Từ khi có các dải RNM phòng hộ do Hội chữ thập đỏ Nhật Bản hỗ trợ (1997 – 2005) thì không những không bị xói lở mà trong các cơn bão lớn năm
2005 đã bảo vệ toàn vẹn đê quốc gia
Ngoài ra, RNM còn có tác dụng hạn chế xâm nhập mặn Nhờ có RNM mà quá trình xâm nhập mặn diễn ra chậm và trên phạm vi hẹp, vì khi triều cao, nước đã đã lan toả vào trong những khu RNM rộng lớn; hệ thống rễ dày đặc cùng với thân cây đã làm giảm tốc độ dòng triều, tán cây hạn chế tốc độ gió
Trang 11- Môi trường sinh thái
RNM góp phần điều hòa khí hậu trong vùng, các quần xã cây ngập mặn là một tác nhân làm cho khí hậu dịu mát hơn Cũng giống như các loài thực vật khác, cây ngập mặn và tảo, rêu trong nước góp phần hấp thu CO2 và thải O2 qua quá trình quang hợp Chẳng hạn như RNM Cần giờ, TP Hồ Chí Minh được xem như lá phổi xanh của thành phố
Các chất độc hại và ô nhiễm từ các khu công nghiệp, đô thị thải vào sông suối, hòa tan trong nước hoặc lắng xuống đáy được nước sông mang ra các vùng cửa sông ven biển RNM hấp thụ các chất này và tạo ra các hợp chất ít độc hại hơn đối với con người Ở một số nơi sau khi thảm thực vật ngập mặn bị tàn phá thì cường độ bốc hơi nước tăng, làm cho độ mặn của nước và đất tăng theo
Ngoài ra, RNM là nơi thu hút nhiều loài chim nước và chim di cư, tạo thành các sân chim lớn với hàng vạn con và dơi quạ RNM Việt Nam có nhiều loài chim quí hiếm của thế giới như các loài cò mỏ thìa, già dẫy, hạc cổ trắng (Võ Quý, 1984)
Trong RNM còn có những loài cây quí hiếm như cây cóc hồng Đặc biệt, các chủng
vi sinh vật RNM còn mang các thông tin di truyền tồn tại cho đến ngày nay qua đấu tranh sinh tồn hàng triệu năm Đó là nguồn gen quí cho việc cải thiện các giống vật nuôi và cây trồng, thuốc chữa bệnh trong tương lai
- Phát triển kinh tế từ rừng ngập mặn
Hệ sinh thái RNM được coi là hệ sinh thái có năng suất sinh học rất cao, đặc biệt là nguồn lợi thủy sản Người ta ước tính trên mỗi hecta RNM năng suất hàng năm là 91 kg thủy sản (Snedaker, 1975) Riêng đối với các loài tôm, cá, cua… sống trong RNM, hàng năm thu hoạch khoảng 750.000 tấn Trong năm 1978, Indonesia đánh bắt được 550.000 tấn cá trực tiếp có quan hệ với RNM cửa sông (Salm, 1981)
Những nghiên cứu mới đây ở Indonesia cũng cho thấy mối quan hệ mật thiết giữa những vùng cửa sông có RNM và sản lượng đánh bắt tôm thẻ xuất khẩu ở ven biển Người ta tính bình quân trên mỗi hecta đầm lầy RNM cho năng suất hàng năm là 160 kg tôm xuất khẩu (Chan, 1986)
Trang 12Nếu tính cả các loài hải sản đánh bắt được ở các vùng ven biển, cửa sông có RNM hoặc liên quan với RNM thì sản lượng lên tới 925.000 tấn, tức là tương đương với 1% tổng sản lượng thủy sản đánh bắt được trên toàn thế giới
Theo Ronnback (1999), mỗi năm 1ha RNM có thể tạo ra 13-756kg tôm thuộc họ Tôm
he có giá trị 91-5.292 đô la Mỹ (USD), 13-64kg cua bể với số tiền tương ứng là 39-352 USD, 257-900kg cá qui ra tiền là 475-713 USD, 500-979kg ốc, sò với giá trị tương ứng là 140-274 USD
Theo Talbot và Wilkenson (2001) với 40.000ha RNM được quản lý tốt ở phía tây Malaysia đã hỗ trợ cho ngành thuỷ sản 100 triệu USD, mỗi hecta thu 2.500 USD/năm Cứ 1km dải RNM là đường viền bờ biển ở vịnh Panama cũng thu hoạch được 85.000 USD từ đánh bắt tôm, cá và các giáp xác khác Còn ở Thái Lan, mỗi năm 1ha RNM cho thu hoạch
1000 USD từ nghề cá và sản phẩm của rừng (Midas, 1995)
Nhiều kết quả nghiên cứu cho rằng việc đánh bắt thủy sản có năng suất cao chủ yếu ở các vùng nước nông, ven bờ, cửa sông; có thể giải thích: vùng này là nơi tập trung các chất dinh dưỡng do sông mang từ nội địa ra và do nước triều đem từ biển vào Có một mối liên quan mật thiết giữa sản lượng và các loại thủy sản đánh bắt được ở RNM Ở miền tây Australia, người ta đánh giá là 67% toàn bộ các loài thủy sản có giá trị thương mại đánh bắt được đều phụ thuộc vào RNM ở cửa sông Hamilton và Snedaker (1984) cho rằng 90% các loài sinh vật biển sống ở vùng cửa sông RNM trong suốt một hoặc nhiều giai đoạn trong chu trình sống của chúng; đối với nhiều loài thủy sản mối quan hệ đó là bắt buộc
Bản thân RNM đã là một hệ thống nuôi trồng hải sản tự nhiên, nó lại cung cấp vật liệu làm nhà, nhuộm lưới, làm dụng cụ đánh bắt trong nghề cá, đồng thời cung cấp nguyên vật liệu xây dựng làm nơi ở cho làng đánh cá Có thể nói RNM đã cung cấp những cơ sở tối thiểu từ đầu đến cuối cho ngành đánh cá ở vùng ven biển
Trước đây, nhiều người nuôi hải sản cho là cây ngập mặn gây hại cho các đầm tôm, cá vì
lá cây làm thối nước (trong khi nguyên nhân thực là do ít cống, không thay được nước triều đều) nên họ đã chặt phá cây ngập mặn không thương tiếc Hậu quả là nhiều bờ đầm bị vỡ khi có sóng gió mạnh, năng suất giảm nhanh Đến nay, qua thực tế và công tác truyền thông của Trung tâm Nghiên cứu Hệ sinh thái Rừng ngập mặn (MERC), nhận thức của những người nuôi ở một số tỉnh ven biển miền Bắc Việt Nam về tác dụng của RNM đã được nâng lên đáng kể
Trang 13Điều mà không ai phủ nhận được là RNM đã bảo vệ rất có hiệu quả các đầm nuôi tôm, cua Có thể lấy 1 ví dụ: Tháng 8 năm 1996, khi cơn bão số 2 đổ bộ vào Thái Bình, các đầm tôm, đầm cua của Thuỵ Hải, Thuỵ Xuân và Thuỵ Trường được bảo vệ tốt nhờ có RNM, trong lúc hầu hết các đầm ở Nam Phú, Nam Thịnh, Nam Hưng thuộc huyện Tiền Hải đều bị sạt lở bờ, có một số đầm vỡ bờ và người nuôi tôm mất hết vốn do RNM bị phá
Sức khoẻ của tôm ở những đầm tôm quảng canh gần RNM hoặc trồng cây ngập mặn ở xung quanh bờ tốt hơn các đầm trống trải vì cây ngập mặn che bóng cho một phần đầm nên khi trời nắng nóng nhiệt độ nước không quá cao, lượng nước bốc hơi cũng ít hơn đầm không
có cây Nhờ đó mà độ mặn không tăng nhiều gây sốc cho tôm Các hàng cây này cũng cung cấp một lượng đáng kể mùn bã hữu cơ cho các động vật sống trong đầm Những hộ nuôi cua
ở ven biển Bắc Bộ đều có một nhận định chung là từ khi có RNM trồng, nguồn cua giống vào nhiều nên rất thuận lợi cho việc thả cua trong các đầm nuôi và giá hạ chỉ còn bằng 1/2-1/3 so với giá mua trước đó
Đối với các đầm nuôi bán thâm canh và thâm canh, tuy sử dụng con giống nhân tạo nhưng nguồn tôm, bố mẹ đều có quan hệ mật thiết với RNM Trong vòng đời của tôm sú, tôm
he, các loài cua có một giai đoạn dài từ hậu ấu trùng đến cơ thể trưởng thành sống trong các kênh rạch có RNM sau đó mới ra biển để đẻ Do đó mất RNM thì nguồn tôm bố mẹ và cua giống cũng không còn RNM xử lý các chất phế thải từ đầm tôm Một trong những vấn đề gay cấn của nghề nuôi tôm nước lợ là làm thế nào để hạn chế tác hại của các chất phế thải do thức ăn thừa, phân tôm, vỏ tôm từ các đầm đối với môi trường trong và ngoài đầm Những chất này tạo điều kiện cho các loài vi sinh vật gây bệnh tôm phát triển mạnh trong đó nguy
hiểm nhất là các loài vi khuẩn phát sáng (Vibrio sp.) làm cho tôm chết hàng loạt (Pitogo và
cs 1998)
Kết quả nghiên cứu của Ban Nuôi trồng Thuỷ sản (AQD) thuộc Trung tâm Phát triển Nghề cá Đông Nam Á (SEAFDEC) (2004) cho thấy khả năng xử lý các phế thải từ các đầm tôm của RNM là rất lớn 90% nitrogen được vi khuẩn chế biến trong RNM, trong lúc đó các
rễ cây vận chuyển đến 90% lượng ôxy do vi sinh vật khoáng hoá
Ngoài nguồn lợi tôm, RNM còn cung cấp thức ăn và giống cho nghề nuôi sò lông, sò huyết, vạng (nghêu) Đây là nguồn hải sản có giá trị xuất khẩu đứng thứ hai sau tôm RNM
Trang 14cung cấp thức ăn xác hữu cơ thực vật cho sò nên trên bề mặt bùn các kênh rạch RNM có rất nhiều sò con, kích thước 6 – 15 mm vào các tháng 2 và 3 Nếu chỉ đánh bắt tự nhiên trong vùng RNM thì năng suất sò cũng có thể đạt tới 500 – 750 kg/ha/năm Nếu biết tận dụng nguồn giống tự nhiên để nuôi sò thì năng suất lên tới 200 – 250 tấn/ha Chỉ tính riêng năm
1982, Malaysia đã đạt sản lượng 38.500 tấn và thu 28,5 triệu đô la Malaysia Ở Việt Nam, nhờ có RNM phục hồi mà lượng nghêu giống ở Bến Tre, Trà Vinh và Sóc Trăng trong những năm gần đây đều tăng nhanh, tạo nguồn thu nhập lớn cho dân địa phương Trong những năm vừa qua, nghề nuôi ngao, vạng ở ven biển Thái Bình, Nam Định và miền Tây Nam Bộ phát triển mạnh, thu nhập cao và nhiều người giàu lên rất nhanh Đó là nhờ có nguồn thức ăn phong phú là mùn bã từ RNM được nước triều chuyển ra các bãi nuôi
Tóm tắt vai trò của hệ sinh thái RNM được biễu diễn trong sơ đồ dưới đây:
Trang 15(Nguồn: theo Kapetsky,1986 – Phan Nguyên Hồng đã dịch, 1997)
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ tóm tắt hệ sinh thái Rừng Ngập Mặn
ăn
Thể nền cho hệ thực vật bám
và hệ độ vật
Bảo vệ sinh sản vườn ươm
Củng cố các bờ lân cận
Nguyên liệu
Bảo vệ chống tác động của gió biển
Động vật bám: Hà
ấu trùng và hậu ấu trùng
để nuôi hải sản Thể nền cho các tài nguyên kế cận: óc, sò Nguyên liệu làm các dụng
cụ đánh cá
Nguyên liệu làm nhà cho dân ven biển
Nơi bảo vệ các làng cá
Nơi bảo vệ cho nghề nuôi hải sản:
đầm, bè, lồng Nơi che chắn quanh năm cho nghề cá
Sản lượng hải sản cao và những
cơ hội tốt để phát triển nghề nuôi hải sản
Thức ăn cho
cá, thân mềm, giáp xác
Trang 161.1.3 Rừng ngập mặn và sự phát triển bền vững
Để quản lý hiệu quả rừng ngập mặn cần đi liền với phát triển bền vững Đó là sự phát triển nhằm đáp ứng được nhu cầu hiện tại và đảm bảo không làm phương hại đến khả năng đáp ứng đòi hỏi của thế hệ tương lai
Phát triển bền vững ngày càng trở thành trung tâm của sự phát triển trong mọi lĩnh vực khi xã hội bước vào thế kỷ 21 Vấn đề ô nhiễm môi trường từng ngày trở thành vấn đề đáng lưu tâm song song với sự đi lên nhanh chóng của nền kinh tế Thu nhập của người dân ngày càng được cải thiện, mức sống được nâng dần lên cả ở thành thị lẫn nông thôn Vì vậy phát triển bền vững sẽ giúp cho mọi người trong xã hội đều có quyền bình đẳng và luôn gắn phát triển kinh tế với bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Trên thế giới
Rừng ngập mặn là rừng nhiệt đới ven biển, có vai trò bảo vệ bờ biển chống lại xói mòn do gió bão thường xảy ra ở vùng ven biển nhiệt đới Rừng ngập mặn được sử dụng làm củi đốt, vật liệu làm nhà ở nông thôn, và quan trọng hơn đây chính là nơi sinh sản, nuôi dưỡng và cung cấp thức ăn cho nhiều loài tôm cá có giá trị thương phẩm cao (Lee, 1995)[2]
Đặc biệt, đợt sóng thần khủng khiếp ngày 26/12/2004, hơn 2 triệu người ở 13 quốc gia Châu á và Châu Phi bị thiệt mạng, môi trường bị tàn phá nặng nề nhưng kết quả khảo sát của IUCN (Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới) và UNEP (Chương trình Môi trường Liên hợp quốc) cùng các nhà khoa học cho thấy, những làng xóm ở phía sau “bức tường xanh” RNM với băng rừng rộng gần như còn nguyên vẹn vì năng lượng sóng đã được giảm từ 50% đến 90% nên thiệt hại về người rất thấp hoặc không bị tổn thất…[4]
Hamilton và Snedaker (1984) cho rằng 90% các loài sinh vật biển sống ở vùng cửa sông RNM trong suốt một hoặc nhiều giai đoạn trong chu trình sống của chúng; đối với nhiều loài thủy sản mối quan hệ đó là bắt buộc [1]
Theo Ronnback (1999), mỗi năm 1ha RNM có thể tạo ra 13-756kg tôm thuộc họ Tôm
he có giá trị 91-5.292 đô la Mỹ (USD), 13-64kg cua bể với số tiền tương ứng là 39-352 USD, 257-900kg cá quy ra tiền là 475-713 USD, 500-979kg ốc, sò với giá trị tương ứng là 140-274 USD [5]
Dựa vào việc tính toán trên bản đồ ảnh vệ tinh và các số liệu thu thập được gần đây Spalding và cộng sự (1997) đã lập bảng thống kê tổng diện tích rừng ngập mặn các vùng trên thế giới là 181.077 km2
Trang 17Bảng 1.1 Diện tích RNM trên thế giới
(Nguồn: Spalding, Blasco, Field, 1997)
Qu
a bảng 2.1
ta thấy diện tích RNM ở mỗi vùng đều khác nhau Trong đó, diện tích ở vùng Nam và Đông Nam Á chiếm diện tích cao nhất Sau đó, là Châu Mỹ và Tây Phi Chỉ riêng khu vực Ấn Độ - Tây Thái Bình Dương, cho đến năm 1991 đã có 1,2 triệu ha rừng ngập mặn chuyển thành ao nuôi tôm
Ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, người ta ước tính tốc độ suy giảm rừng ngập mặn khoảng 1%/năm (Ong, 1995) Nguyên nhân chủ yếu là do việc khai thác diện tích RNM
để phục vụ cho mục đích nuôi tôm
Ở Philippines, khoảng 50 % trong số 279.000 ha rừng ngập mặn bị mất đi trong giai đoạn từ năm 1951 đến 1988 do phá rừng làm ao nuôi tôm và 95% các ao nuôi tôm ở nước này trước đó là rừng ngập mặn (Primavera (1995)
Ở Thái Lan, trong giai đoạn 1961 đến 1993, có đến 54,7 % diện tích rừng ngập mặn bị mất đi do nghề nuôi tôm ( Menasveta, 1997) Tương tự ở Malaysia, 12% diện tích rừng bị mất trong 10 năm (1980-1990)
Ở các quốc gia khác như: Madagascar, Indonesia, Mexico, Pakistan, Papua New Guinea và Panama là những nước có diện tích rừng bị mất lớn nhất trong những năm 1980 Tổng diện tích rừng bị mất ở năm nước này là khoảng 1 triệu ha, tương đương với diện tích Jamaica Nhưng trong những năm 1990, Pakistan và Panama đã thành công trong việc giảm
tỷ lệ mất rừng ngập mặn Ngược lại, Madagasca, Việt Nam và Malaysia lại trải qua thời kỳ phá rừng tăng lên và nằm trong số năm quốc gia đứng đầu về diện tích rừng bị mất trong thập
Trang 18niên 1990 và giai đoạn 2000-2005 FAO (Tổ chức nông lương thế giới) chỉ ra rằng áp lực dân
số cao, sự chuyển đổi quy mô lớn một diện tích rừng ngập mặn sang nuôi trồng tôm cá, nông nghiệp, cơ sở hạ tầng và du lịch, cũng như ô nhiễm và các thảm họa tự nhiên là những nguyên nhân chính dẫn đến tàn phá rừng ngập mặn
đô thị, quai đê xây dựng vùng kinh tế mới đặc biệt là việc chuyển đất rừng sang nuôi trồng hải sản… đã làm cho diện tích rừng ngập mặn ngày càng giảm một cách nghiêm trọng (Phan Nguyên Hồng, 1999) [4]
Theo nhóm khảo sát của GS – TSKH Phan Nguyên Hồng (Trung tâm Nghiên cứu Sinh thái RNM, Đại học sư phạm Hà Nội), độ cao sóng biển giảm mạnh khi đi qua dải rừng ngập mặn, với mức biến đổi từ 75% đến 85%, từ 1,3m xuống 0,2m – 0,3m [3]
Từ năm 1996 đến nay, thông qua Hiệp hội Chữ thập đỏ và trăng lưỡi liềm đỏ Quốc tế, Trung ương Hội chữ thập đỏ Việt Nam, Hội chữ thập đỏ Nhật Bản đã tài trợ cho sáu tỉnh: Quảng Ninh, Hải Phòng, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh trồng mới được 6349
ha rừng ngập mặn (Hội chữ thập đỏ Việt Nam, 2004) [6]
Khoản đầu tư ban đầu trị giá 1,1 triệu USD để phục hồi RNM tại vùng phía Bắc Việt Nam đã giúp tiết kiệm được 7,3 triệu USD mỗi năm để bảo dưỡng đê điều (Nguồn: Báo cáo đánh giá của chương trình trồng rừng ngập mặn 2005/phòng chống thiên tai của Hội chữ thập
đỏ Đan Mạch và Nhật Bản) [5]
Nhìn chung các công trình nghiên cứu hệ sinh thái rừng ngập mặn và hệ sinh thái cửa sông ven biển Việt Nam khá phong phú và phân bố đều ở các vùng khác nhau Tuy nhiên những nghiên cứu về bảo tồn và khôi phục rừng ngập mặn ở Nghệ An chưa được quan tâm nhiều, đáng kể là:
- Chương trình trồng rừng ngập mặn của Hội chữ thập đỏ Nhật Bản năm 1998
- Báo cáo điều tra phục vụ quy hoạch nuôi trồng thủy sản mặn, lợ tỉnh Nghệ An của Suma, 2001
Trang 19- Một số tác giả như Hồ Sĩ Dũng, Trần Ngọc Lân, Phạm Hồng Ban đã điều tra đa dạng sinh học ở xã Hưng Hoà - thành phố Vinh
Gần đây đã có những nghiên cứu quan trọng liên quan tới vấn đề này như dự án “Đánh giá ảnh hưởng của sự biến đổi khí hậu đến các điều kiện tự nhiên và các hệ sinh thái ven biển tỉnh Nghệ An” do Sở tài nguyên môi trường tỉnh Nghệ An thực hiện từ tháng 6/2008 đến tháng 12/2009 Tổng diện tích rừng ngập mặn của nước ta là 400.000 ha (1943) Tuy nhiên, trong những năm qua do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan đã tác động vào hệ sinh thái RNM làm cho diện tích RNM của nước ta bị suy giảm đáng kể
Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn (NN - PTNT) cho thấy, năm
1943 diện tích RNM Việt Nam trên 400.000 ha, đến năm 1996 giảm còn 290.000 ha và 279.000 ha vào năm 2006 Như vậy, diện tích RNM nước ta bị suy giảm rất lớn [15]
Bảng 1.2 Phân bố diện tích đất ngập mặn và RNM theo tỉnh và thành phố ven biển Việt
Nam
/Thành phố tích đất Diện
ngập mặn
Diện tích
có RNM
Diện tích không có RNM
Diện tích đầm nuôi tôm nước lợ
Diện tích (ha)
Tỷ
lệ (%)
DT (ha)
Tỷ
lệ (%)
DT (ha)
Tỷ lệ (%)
DT (ha)
Tỷ lệ (%)
Trang 20TT Tỉnh
/Thành phố
Diện tích đất ngập mặn
Diện tích
có RNM
Diện tích không có RNM
Diện tích đầm nuôi tôm nước lợ
Trang 21TT Tỉnh
/Thành phố
Diện tích đất ngập mặn
Diện tích
có RNM
Diện tích không có RNM
Diện tích đầm nuôi tôm nước lợ
Trên toàn tỉnh Nghệ An, diện tích rừng ngập mặn hiện có là 819,6 ha do hiện tượng đắp bờ nhằm tăng diện tích đất sản xuất nông nghiệp và phong trào nuôi tôm nổi lên rầm rộ khắp mọi nơi, nhiều cánh rừng ngập mặn bị tàn phá nặng nề Đến năm 1985 hầu như rừng ngập mặn bị phá gần hết và chỉ còn sót lại cánh rừng bần ở xã Hưng Hòa với diện tích khoảng gần 10 ha
Theo PGS-TS Nguyễn Tác An, nguyên Viện Trưởng Viện Hải Dương Học Nha Trang cho biết, rừng ngập mặn huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam trước đây rộng khoảng trên 220 ha với các loài thực vật bậc cao như mắm, bần, đước, dừa nước Do phong trào nuôi tôm phát triển mạnh, nên rừng ngập mặn đã bị người dân chặt phá làm ao nuôi tôm Đến năm 1997 chỉ còn lại khoảng 63 ha và hiện nay chỉ còn khoảng 10 ha Đặc biệt vẫn còn giữ được khoảng gần 5 ha rừng dừa nước ở lưu vực sông Bến Đình, xã Tam Nghĩa Rừng dừa nước này xã đã giao cho các hộ gia đình quản lý và chỉ được phép khai thác lá dừa và các loài thủy sản ở khu vực liền kề và có trách nhiệm bảo vệ và trồng phục hồi rừng dừa nước [16]
Trang 22Rừng ngập mặn Cồn Chim nằm giữa đầm Thị Nại (Bình Định) trước đây có tổng diện tích trên 480 ha, là một vùng có hệ sinh thái động, thực vật phong phú và giàu tiềm năng nhưng trong nhiều năm qua, do việc khai thác thiếu kế hoạch và khoa học đã làm cho hệ sinh thái ở đây đã bị phá vỡ và suy giảm nghiêm trọng , gần đây đã bị khoảng 100 gia đình phá rừng để làm đầm tôm nên diện tích rừng ngập mặn hiện nay chỉ còn 5ha [19]
Theo số liệu của ngành Nông nghiệp, đến năm 2000, toàn tỉnh Khánh Hoà chỉ còn 11,5 ha rừng ngập mặn, trong đó huyện Vạn Ninh còn 11 ha, Cam Ranh 0,5 ha Hiện nay, diện tích rừng ngập mặn ở Khánh Hoà đã thu hẹp rất nhiều Chính tình trạng đào đất, thay đổi diện mạo địa hình, ngăn dòng chảy đã triệt hạ hàng loạt khu rừng ngập mặn mà khả năng tái tạo cực kỳ khó Sự việc càng bi đát hơn khi việc nuôi tôm thất bát, hàng nghìn ha đất đìa
bị bỏ hoang khiến cả một vùng ven biển trước đây xanh tươi, trù phú bây giờ tiêu điều [20]
Rừng ngập mặn ở Cần Giờ thuộc huyện Cần Giờ thành phố Hồ Chí Minh, từ một vùng rừng ngập mặn trù phú với diện tích gần 40.000ha vào những năm 1940, do bị phá huỷ bằng thuốc diệt cỏ và chất làm rụng lá trong chiến tranh đã trở thành một vùng đất hoang có
diện tích 35.000ha và 4.500 ha chỉ toàn cây dương xỉ (Acrostichum) sau năm 1970 (Dao
P.T.A 2000) Bắt đầu từ năm 1978, đã tiến hành trồng lại 20.000 ha rừng ngập mặn ở Cần Giờ và đến năm 1988 rừng ngập mặn ở đây đã phát triển tốt và có thể khai thác được Tiếp
đó, từ năm 1993 đến năm 2000, khoảng 64.000 ha rừng ngập mặn đã được trồng tại châu thổ sông Hồng, chủ yếu là vùng ven biển các tỉnh Thái Bình, Nam Định và Hải Phòng Kết quả
là đến năm 2000, UNESCO đã công nhận Rừng ngập mặn Cần Giờ là Khu dự trữ sinh quyển,
và đây cũng là Khu dự trữ sinh quyển đầu tiên ở nước ta [18]
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Cộng đồng dân cư vùng cửa sông ven biển, đặc biệt là cộng đồng sống phụ thuộc vào tài nguyên ĐNN, RNM
- Cán bộ chính quyền xã hưng Hòa
- Ban quản lý rừng phòng hộ, Ban quản lý đê 42 trong việc quản lý rừng ngập mặn
Trang 23- Nhóm nghiên cứu có điều kiện cọ sát với thực tiễn và nâng cao khả năng và kỹ năng
trong phát hiện vấn đề, nghiên cứu phân tích báo cáo
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
2.1.2.1 Không gian
Địa bàn tại xã Hưng Hoà, điểm điều tra được chọn ở 6 trong 9 xóm, là những xóm có sinh kế của cộng đồng liên quan đến tài nguyên Rừng ngập mặn Hưng Hòa
- Xóm Thuận 1, Thuận 2 có số hộ nuôi trồng thủy sản chiếm tỷ lệ cao
- Xóm Phong Yên, Phong Hảo có số hộ khai thác tự nhiên chiếm tỷ lệ cao
- Xóm Hòa Lam, Khánh Hậu có số hộ trồng cói làm chiếu, và nuôi vịt chiếm tỷ lệ cao
2.1.2.2 Thời gian
Từ ngày 10/02/2012 đến ngày 10/04/2012
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Tìm hiểu hiện trạng rừng ngập mặn Hưng Hoà
- Địa phương quản lý
- Quản lý dựa vào cộng đồng
2.2.3 Các nguồn lực cho công tác quản lý
2.2.3 Xác định thuận lợi, khó khăn trong công tác quản lý RNM
2.2.4 Đề xuất các giải pháp nâng cao quản lý RNM ở Xã Hưng Hoà
- Giải pháp quản lý
- Giải pháp về thông tin - truyền thông
- Giải pháp chính sách và đầu tư
Trang 24- Giải pháp kỹ thuật lâm sinh
2.3 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
2.2.1 Câu hỏi nghiên cứu
1) RNM tại xã Hưng Hòa được quản lí như thế nào?
i) Các công cụ, chính sách quản lý
ii) Phương thức quản lý (các bên tham gia quản lý)
iii) Các nguồn lực để thực hiện công tác quản lý (nhân lực, kinh phí, )
iv) Hệ thống hỗ trợ khác (Công nghệ, trang - thiết bị, )
2) Công tác quản lí RNM ở xã Hưng Hòa có những thuận lợi và khó khăn gì ?
3) Những giải pháp nào để nâng cao hiệu quả quản lí, bảo vệ và phát triển được RNM hiệu quả mà vẫn đảm bảo sinh kế bền vững cho cộng đồng địa phương
2.2.2 Giả thuyết nghiên cứu
Tại xã Hưng Hòa, các nhà quản lí đã có nhiều giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lí RNM, tuy nhiên vẫn chưa mang lại kết quả như mong muốn Do có nhiều bên tham gia vào công tác quản lý RNM tại xã Hưng Hòa nên RNM ở đây vẫn chưa có chủ thực sự Những thuận lợi trong công tác quản RNM tại địa bàn nghiên cứu như kinh nghiệm trong việc bảo
vệ và quản lý của người dân, có nhiều tổ chức cơ quan đang ngày càng quan tâm nhiều đến công tác quản lý RNM Hưng Hòa và những khó khăn trong cơ chế quản lý (nhiều cơ quan
tổ chức liên quan đến RNM) RNM tại Hưng Hòa thực sự chưa có chủ nên dẫn đến tình trạng chồng chéo trong công tác quản lí và hoạch định các chính sách ở tầm vĩ mô: chuyển đổi
mục đích sử dụng đất, áp lực về sự gia tăng dân số
Các giải pháp quản lý RNM mà đề tài đưa ra nhận được sự đồng tình cao của các bên liên quan, đặc biệt là giải pháp quản lí RNM có sự tham gia của cộng đồng, quản lí dựa vào cộng đồng được xem là giải pháp có hiệu quả nhất đối với xã Hưng Hòa
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu
- Cách tiếp cận/Phương pháp luận
Trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu liên quan và kết quả nghiên cứu về thành phần loài
hệ thực vật RNM và ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến RNM tại xã Hưng Hòa, nhóm nghiên cứu sẽ tiến hành điều tra thực trạng quản lý RNM vùng cửa sông ven biển ở xã Hưng
Hòa, Tp Vinh, Nghệ An
Trang 25Các số liệu được thu thập và điều tra chủ yếu dựa trên cơ sở của các phương pháp: RRA, PRA
- Chọn điểm nghiên cứu
Điểm điều tra được chọn ở 6 trong 9 xóm, là những xóm có sinh kế của cộng đồng liên quan đến tài nguyên Rừng ngập mặn Hưng Hòa
+ Xóm Thuận 1, Thuận 2 có số hộ nuôi trồng thủy sản chiếm tỷ lệ cao
+ Xóm Phong Yên, Phong Hảo có số hộ khai thác tự nhiên chiếm tỷ lệ cao
+ Xóm Hòa Lam, Khánh Hậu có số hộ trồng cói làm chiếu, và nuôi vịt chiếm tỷ lệ cao
2.4.2 Phương pháp thu thập thông tin
- Thu thập thông tin thứ cấp
Thu thập các văn bản: luật, nghị định, quyết định được công bố liên quan đến quản
lý tài nguyên Rừng ngập mặn Hưng Hòa Các báo cáo hàng năm về kinh tế - xã hội, về Tài nguyên – Môi trường và các văn bản liên quan của xã Hưng Hòa Các báo cáo của Ban quản
lý rừng phòng hộ, Ban quản lý đê 42, các nghiên cứu đã được thực hiện về RNM ở Hưng Hòa
- Thu thập thông tin sơ cấp
Phương pháp PRA sử dụng trong nghiên cứu này với các công cụ hỗ trợ:
+ Hồi cố (time line) để tìm hiểu về những thay đổi trong quá khứ
+ Phương pháp phân tích SWOT
2.4.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Số liệu được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel 2003
2.5 Điều kiện địa lý tự nhiên, kinh tế xã hội xã Hưng Hoà, Thành Phố Vinh
Trang 262.5.1 Điều kiện địa lý tự nhiên xã Hưng Hoà
Trang 27Bản đồ 2.1 Bản đồ xã Hưng Hoà, Thành Phố Vinh, Tỉnh Nghệ An
2.5.1.1 Vị trí địa lý
Xã Hưng Hoà nằm ở ngoại thành thành phố Vinh, cách Trung tâm chừng 6 km về phía Đông, được ngăn cách với tỉnh Hà Tĩnh bởi dòng Sông Lam chạy suốt từ Tây Nam đổ ra biển Đông
Phía Bắc giáp với xã Phúc Thọ - huyện Nghi Lộc Phía Tây Nam giáp phường Hưng Dũng, thành phố Vinh, phía Tây giáp xã Hưng Lộc – thành phố Vinh, phía Đông giáp xã Nghi Thái, huyện Nghi Lộc, phía Nam và Đông Nam được bao quanh bởi dòng sông Lam và một dải rừng ngập mặn
2.5.1.2 Địa hình
Nằm xa trung tâm thành phố nhưng Hưng Hoà là một xã có vị trí và địa hình quan trọng, nơi hàng năm che chắn cho thành phố Vinh trước tác động mạnh mẽ của lực tương tác sông - biển; hơn nữa địa hình xã Hưng Hoà trũng thấp nên khá nhạy cảm trước thiên tai và đặc biệt đây cũng là nơi xả nước thải của cả thành phố ra sông Lam
2.5.1.3 Diện tích
Diện tích xã Hưng Hoà rộng lớn nhất thành phố Vinh, với tổng diện tích đất tự nhiên
là 1454,1ha (Báo cáo: chính trị của ban chấp hành Đảng Bộ Xã Hưng Hoà Khoá XXII trình Đại Hội Đảng Bộ lần thứ XXII nhiệm kỳ 2010 – 2015 ngày 28/05/2010 của UBND xã Hưng Hoà) Trong đó:
+ Diện tích đất sản xuất nông nghiệp 671 ha; chiếm 46,16% trong đó đất trồng cây hàng năm là 54,9 ha; cây lâu năm 96,33 ha; sản xuất lúa 448,6 ha…
+ Diện tích đất ở và đất chuyên dùng 183,68 ha; chiếm 12,63%
+ Diện tích mặt nước có khả năng NTTS là 217 ha; chiếm 20,3%
+ Diện tích đất hoang chưa sử dụng 17,5 ha; chiếm 1,203%
+ Diện tích đất lâm nghiệp (rừng phòng hộ) 54,91ha; chiếm 3,78%
+ Các loại đất khác 299,37 ha chiếm 20,58%
2.5.1.4 Giao thông
Các tuyến đường giao thông ở trên địa bàn xã khoảng 22km trong đó có 9km đê quốc gia để chấn giữ bão lụt Đặc biệt tuyến đường ven sông Lam đi qua rừng Bần Hưng Hòa đã hoàn thành từ năm 2007 và là tuyến đường “xanh – sạch – đẹp” của thành phố Vinh nên việc
Trang 28giao thông qua lại ngày một gia tăng, các dự án đầu tư trên địa bàn đã đi vào khởi công và xây dựng
2.5.1.5 Sông ngòi
Hưng Hoà được bao bọc xung quanh bởi 2 con sông chính là sông Lam và sông Rào Đừng Đây là 1 xã ven đô nằm bên bờ sông Lam thơ mộng và có bề dày lịch sử với độ sâu 2 – 4m, có cảng Bến Thuỷ là một cảng hàng hoá lâu đời của khu vực Bắc miền Trung đang từng ngày đổi mới và phát triển
2.5.1.6 Khí hậu
Do địa thế và vị trí địa lý của xã Hưng Hoà như vậy nên khí hậu và thời tiết của xã này mang tính chất vùng tiểu khí hậu của thành phố và khí hậu miền Trung Nhiệt độ bình quân hàng năm khoảng 280
C
2.5.1.7 Tài nguyên thiên nhiên
Hưng Hoà là xã duy nhất ở thành phố Vinh có rừng ngập mặn và vẫn được duy trì cho đến ngày nay với các nguồn tài nguyên thực vật và động vật có từ lâu đời Loài thực vật chiếm ưu thế là họ Bần (Fam 7 sonneratiaceae) với đặc trưng là cây Bần chua (Sonneratia caseolaris)
Bên cạnh đó, diện tích đất canh tác tương đối lớn và một phần không nhỏ đất còn bỏ hoang là 17,5 ha (Báo cáo diện tích đất tự nhiên tháng 02/2011); nếu biết cải tạo hợp lý thì người dân có thể sử dụng để trồng trọt và chăn nuôi Không những thế với diện tích mặt nước rộng chiếm 16,31% diện tích tự nhiên là ưu thế lớn để phát triển nghề NTTS
2.5.2 Điều kiện kinh tế
2.5.2.1 Dân số
Xã Hưng Hoà có 1841 hộ với trên 6748 nhân khẩu quần tụ 32 dòng họ Cơ cấu hành chính có 9 khối xóm gồm 6 HTX, trong đó có 5 HTX sản xuất nông nghiệp Thể hiện ở các xóm như sau:
Bảng 2.1 Thống kê dân số xã Hưng Hoà
Trang 29TT Đơn vị xóm Số Hộ Nhân khẩu Giới tính Lao
(Nguồn: Tài liệu dân số tháng 01/04/2009 xã Hưng Hoà)
5 HTX làm nông nghiệp: HTX Phong Khánh
HTX Phong Đăng HTX Phong Quang HTX Phong Phú HTX2 (Phong Hảo, Thuận 1, Thuận 2, Phong Yên)
2.5.2.2 Mật độ dân số
Với số dân trên 6854 người và diện tích tự nhiên là 1454,1 ha thì mật độ dân số xấp xỉ
471 người/km2 Với gần 260 người trên một km2 đất, mật độ dân số Việt Nam cao hơn cả Trung Quốc và gấp gần 6 lần trung bình thế giới Mật độ trung bình ở Nghệ An là khoảng
188 người/km2 Từ đó cho thấy mật độ dân số Hưng Hoà có mật độ dân số tương đối cao so với mức trung bình của toàn tỉnh Đặt ra một nhu cầu cấp thiết về chỗ ở, chỗ định cư của người dân tại Hưng Hoà
2.5.2.3 Cơ cấu lao động
Lao động ở xã Hưng Hoà chủ yếu là trong nghề nông, chỉ có gần 4,9% là cán bộ công nhân viên đã nghỉ hưu Số trẻ em dưới 15 tuổi chiếm 18,7% so với dân số trong độ tuổi lao động, ngoài ra có một bộ phận không nhỏ không có việc làm ổn định và lười lao động Dân
Trang 30số xã Hưng Hoà là dân số trẻ hầu hết lao động trẻ đi làn việc ở xa, và đi lao động xuất khẩu nước ngoài Ở nhà chủ yếu là trẻ em, phụ nữ và ngươi già
2.5.2.4 Đặc điểm kinh tế
Bảng 2.2 Các chỉ tiêu kinh tế - xã hội xã Hưng Hoà
( Nguồn: Báo cáo chính trị của ban chấp hành Đảng
Bộ Xã Hưng Hoà khoá XXII trình Đại Hội Đảng
Bộ lần thứ XXIII nhiệm kỳ 2010 – 2015)
Từ bảng phân tích trên chúng ta có thể thây được rằng ở Xã Hưng Hoà có 3 ngành sản xuất chủ yếu là: Nông – Ngư Nghiệp, Công Nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ Trong đó nền kinh tế xã Hưng Hoà chủ yếu là sản xuất nông nghiệp chiếm 78,2 % trong tổng thu nhập của Xã Nhận thức được điều đó nên Đảng uỷ và UBND đã thường xuyên quan tâm, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp, xây dựng mô hình các vùng chuyên canh, từng bước cơ giới hoá nông nghiệp, đưa các loại giống có năng suất cao vào sản xuất Sau nhiều năm được sự quan tâm chu đáo của Đảng uỷ và cán bộ xã, giờ đây kinh
Ngành nghề ĐVT 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012
1 Nông –
Ngư Nghiệp
Tỷ Đồng 24,38 24,6 31,8 36,1 41,1 43 48
Trang 31tế nông nghiệp đã mang lại hiệu quả cao với sản lượng nông nghiệp là 3.274 tấn năm 2009 tăng 15% so với năm 2008 và lớn nhất thành phố Vinh Bên cạnh đó, Đảng uỷ đã có chủ trương hỗ trợ cho nông dân cùng với sự hỗ trợ của thành phố trong phong trào đầu tư, khai hoang, phục hoá đồng cói Tuy nhiên diện tích trồng cói hiện nay đã thu hẹp do nhu cầu sử dụng chiếu cói không còn thịnh hành, mặt khác giá thành rẻ nên người dân phải đầu tư sang ngành nghề mới, chủ yếu là NTTS Đây được xem là ngành kinh tế mũi nhọn, mang lại lớn ích lớn cho nhân dân xã Hưng Hòa với sản lượng đạt 390 tấn và tổng giá trị là 17,04 tỷ đồng (Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2010 và phương hướng nhiệm vụ năm 2010 -2015 ngày 28/05/2012 của UBND xã Hưng Hòa)
2.5.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên – KTXH xã Hưng Hoà
Hưng Hoà là một xã khá mạnh về vai trò lãnh đạo của Đảng bộ Nơi đây có tiềm năng thiên nhiên khá phong phú, có vùng sinh thái thuận lợi để phát triển du lịch phục vụ cho khách tham quan trong và ngoài nước Bên cạnh đó diện tích mặt nước rộng là ưu thế của xã trong nuôi trồng thuỷ hải sản, làm tăng nguồn thu nhập cho người dân đảm bảo cuộc sống ổn định Ngoài ra, xã có nghề dệt chiếu cói truyền thống phát triển trong nhiều năm vẫn cho sản lượng cao dù diện tích không còn nhiều Lực lượng lao động dồi dào cũng là lợi thế phục vụ cho phát triển đa ngành Tuy nhiên phần lớn người dân không có nguồn thu nhập ổn định nên cuộc sống chủ yếu dựa vào nguồn lợi từ thiên nhiên, đặc biệt là khai thác tài nguyên từ hệ sinh thái rừng ngập mặn
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thông tin chung về chủ hộ điều tra
Bảng 3.1 Thông tin chung về chủ hộ điều tra
Chỉ tiêu Số lượng (hộ)
Tuổi bình quân
Tỷ lệ giới và văn hoá các hộ điều tra Nam (%) Nữ (% ) Văn hoá Cấp II Văn hoá Cấp III
Trang 32Tuổi trung bình các hộ là 50 tuổi, tỷ lệ nam giới là 52 người chiếm 86,66 %, nữ giới là
8 người chiếm 13,33 % Các chủ hộ chủ yếu là nam giới nên họ là những người có quyền ra các quyết định liên quan tới sản xuất, chi tiêu, xá định các mục tiêu trong gia đình
Số liệu trong bảng 3.1 cho thấy rằng nguồn lực con người của địa điểm nghiên cứu cũng có nhiều thuận lợi Trình độ học vấn của điểm nghiên cứu tương đối cao trong đó: Số chủ hộ có trình độ học vấn cấp II có 40 người chiếm tỷ lệ 66,66% tổng số hộ điều tra Số chủ
hộ có trình độ cấp III là 20 người chiếm tỷ lệ 33,33% trong tổng hộ điều tra
Như vậy thông qua điều tra chúng ta có thể thấy được một số thông tin về chủ hộ Từ
đó có thể thấy được các tác động của người dân tới Rừng ngập mặn như thế nào( chăn nuôi, đánh bắt, khai thác lâm, hải sản trong rừng) Cũng qua điều tra hộ ta thấy được trình độ văn hoá của người đân,nhận thức của họ thế nào đối với việc tham gia quản lý, bảo vệ rừng Ngoài ra từ việc điều tra hộ ta có thể thấy việc tham gia vào các cuộc họp cũng như các hoạt động khác đều do chủ hộ quyết định, trong một số trường hợp như chủ hộ đi vắng hay bận việc gì thì mới có người quyết định thay
Trang 333.2 Một số đặc điểm cơ bản của RNM Hưng Hoà
3.2.1 Diện tích đất RNM.
Bản đồ 3.1 Rừng Ngập mặn Xã Hưng Hoà
Hiện nay, RNM trên địa bàn xã Hưng Hòa với diện tích 40 ha, điển hình là loài Bần
chua (Sonneratia caseolaris), xen kẽ giữa Bần còn có một số loài Ô rô hoa dơi (Acanthus ebracteatus), lác đác còn có Sú (Aegiceras corniculatum), Ráng (Acrosstichum aureum) và
một số loài cây khác Nhưng cây Bần chua vẫn là loại cây chủ yếu tại Rừng Ngập Mặn Hưng Hoà ( Kết quả khảo sát tháng 2/2012 )
Loài Bần chua (S caseolaris) được nghiên cứu là rất phù hợp với vùng đất nơi đây do
đặc tính của cây và khả năng thích ứng trong điều kiện ngập nước nhiều ngày (Kết quả phỏng vấn tháng 3/2012) Đây là loài cây có sinh khối lớn, sống lâu năm, sinh trưởng nhanh, phân cành sớm có tác dụng cản phá sóng triều tốt Bộ rễ Bần chua phát triển chằng chịt lan rộng, rễ thở có vai trò quan trọng giúp tăng khả năng thích ứng với việc lắng đọng phù sa (Phan Nguyên Hồng và cộng sự, 1997) Đó là đặc điểm vô cùng quý giá đối với mục tiêu trồng rừng cố định bãi bồi vùng ven biển Theo kết quả phỏng vấn thì có tới 99% người dân
Dải rừng ngập mặn
Xã Hưng Hoà
Trang 34được phỏng vấn khẳng định RNM có vai trò to lớn trong bảo vệ đê và giảm nhẹ thiên tai Xuất phát từ đặc điểm địa hình của rừng ngập mặn này là rất hiểm trở bởi chiều dài rừng xấp
xỉ 3km lại nằm ở cửa sông - nơi tấp nập tàu thuyền và ngư dân khai thác thuỷ sản, là vùng chăn nuôi gia súc, gia cầm Tính từ đê ra nơi rộng nhất của RNM khoảng 120m ngang còn nơi hẹp nhất chỉ khoảng 40m (Báo cáo của UBND xã Hưng Hòa) Khu vực này lại là giáp giới của 2 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh và 2 đơn vị thành phố Vinh và Nghi Lộc do đó công tác quản lý và bảo vệ còn gặp nhiều khó khăn Mặc dù năm năm trở lại đây đã được sự quan tâm của các cấp, các ngành trong việc bồi trúc đê, sông, tu sửa kè cống, song vùng đất này hiện tại và lâu dài vẫn là vùng trọng điểm bão lụt của thành phố Vinh và tỉnh Nghệ An
Hiện nay, theo thống kê của chi cục Kiểm Lâm, diện tích RNM chỉ còn 40 ha tính đến tháng 4/2012 Nhưng theo số liệu UBND xã Hưng Hoà cung cấp thì diện tích RNM xấp xỉ 56
ha Chứng tỏ số liệu của các cơ quan đang có sự chênh lệch lớn Còn trong quá trình đo đạc thực tế, chiều dài rừng chưa đầy ba cây số
3.2.2 Sự biến động tài nguyên RNM từ năm 1954 - 2012
3.2.2.1 Thay đổi về diện tích rừng ngập mặn
Trước năm 1954, tại xã Hưng Hoà ven bờ sông Lam có diện tích bãi lầy gần 200
ha Nguyên sinh khu vực này đã có 120 ha cây Bần được thiên nhiên ưu đãi là quà tặng của cuộc sống cho người dân vùng này (Kết quả thu thập số liệu tháng 3 – 4/2010) Khi hỏi thăm
về tuổi của rừng ngập mặn, cán bộ xã và người dân không ai chắc rằng rừng ở đây bao nhiêu tuổi Ông lão chài Chín đã hơn 80 tuổi tâm sự “Lúc sinh ra đã có rừng như bây dừ, chỉ thấy rừng ngày càng thưa dần, mất dần” Giai đoạn sau năm 1954 - thời kỳ đắp đê Bốn Hai xuyên dọc qua RNM là giai đoạn rừng bị mất nhiều nhất Một nửa rừng ở phía trong đê khoảng 60
ha đã bị chặt phá nhường đất cho phát triển nông nghiệp chủ yếu là trồng lúa và cói, bây giờ phần lớn phát triển NTTS
Bảng 3.2 Diện tích rừng giai đoạn trước 1954 – nay
Thời gian Diện tích Nguyên nhân chính làm giảm diện tích
Trước 1954 120 - Các cuộc chiến tranh
- Hoạt động đắp đê Bốn Hai, quai đê lấn biển
- Mở rộng diện tích canh tác nông nghiệp
1954 – 1975 60
1976 – 1995 54,85 - ý thức bảo vệ rừng hạn chế
- Mở rộng diện tích nuôi trồng thuỷ sản