Đặc điểm dinh dưỡng TTCT là loại tôm ăn tạp giống như các loại tôm he khác, thức ăn của nó cũng cần các thành phần: protein, glucid, lipid, vitamin và muối khoáng… Khả năng chuyển hóa t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
=== ===
HỒ THỊ THỦY
ĐÁNH GIÁ QUY TRÌNH KỸ THUẬT
NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG (Penaeus vannamei)
THƯƠNG PHẨM TẠI XÍ NGHIỆP NÚI TÀO -
TUY PHONG - BÌNH THUẬN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
=== ===
ĐÁNH GIÁ QUY TRÌNH KỸ THUẬT
NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG (Penaeus vannamei)
THƯƠNG PHẨM TẠI XÍ NGHIỆP NÚI TÀO -
TUY PHONG - BÌNH THUẬN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Người thực hiện: Hồ Thị Thủy
Lớp: 49K2 - NTTS
Người hướng dẫn: ThS Tạ Thị Bình
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khoá luận này, cùng với
sự nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ quý báu của các thầy cô trong khoa Nông - Lâm - Ngư, trường Đại học Vinh, sự quan tâm động viên của gia đình
và bạn bè
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Cô giáo Ths Tạ Thị Bình
đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài, hoàn thành tốt khoá luận
Tôi xin chân thành cảm ơn Giám đốc xí nghiệp nuôi tôm công nghiệp Núi Tào,
KS Nguyễn Thị Thuân và các anh chị công nhân viên của công ty TNHH Thông Thuận đã quan tâm tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi trong suốt thời gian tại cơ sở
Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các thầy cô giáo, lãnh đạo trường Đại học Vinh, ban chủ nhệm khoa Nông - Lâm - Ngư, tổ bộ môn Nuôi trồng thuỷ sản đã cho tôi những kiến thức, kinh nghiệm quý báu để tôi có kết quả khoá luận hôm nay
Cuối cùng tôi xin cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè, là những người luôn bên cạnh tôi, động viên, góp ý và giúp đỡ tôi trong học tập và nghiên cứu
Vinh, tháng 5 năm 2012
Sinh viên
Hồ Thị Thủy
Trang 4
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NN & PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn Cty TNHH : Công ty trách nhiệm hữu hạn
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Điều kiện môi trường thích hợp đối với tôm chân trắng 4
Bảng 1.2 Sản lượng tôm Thẻ chân trắng ở châu Mỹ La Tinh (tấn/năm) 9
Bảng 1.3 Sản lượng tôm Thẻ chân trắng nuôi ở châu Á (tấn/năm) 10
Bảng 1.4 Diện tích và sản lượng nuôi tôm thẻ chân trắng ở Việt Nam 12
Bảng 2.1 Dụng cụ xác định các yếu tố sinh thái 18
Bảng 3.1 Các thông số môi trường ao nuôi tại cơ sở 22
Bảng3.2 Tăng trưởng chỉ số dài thân tôm trong các ao thực nghiệm 28
Bảng 3.3 Tăng trưởng khối lượng tôm nuôi các ao thực nghiệm 30
Bảng 3.4 Xác định hiệu quả sử dụng thức ăn trong các ao thực nghiệm 31
Bảng 3.5 Tỷ lệ sống và năng suất thu hoạch tôm nuôi trong các ao thực nghiệm 32
Bảng 3.6 Năng suất tôm thẻ chân trắng ở Hàm Tân – Bình Thuận 33
Bảng 3.7 Hạch toán chi phí, lợi nhuận các ao nuôi thực nghiệm 33
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Hình thái, cấu tạo tôm Thẻ chân trắng 5
Hình 1.2 Vòng đời của tôm he (Penacidae) [14] 6
Hình 2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 18
Hình 3.1 Diễn biến nhiệt độ nước ở các ao nuôi trong quá trình theo dõi 23
Hình 3.2 Diễn biến pH nước ao nuôi trong quá trình theo dõi 24
Hình 3.3 Diễn biến độ kiềm trong quá trình theo dõi 25
Hình 3.4 Biến động DO trong quá trình theo dõi 26
Hình 3.5 Diễn biến độ mặn (S‰) ao VII4, VII6 28
Hình 3.6 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài của tôm 29
Hình 3.7 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng toàn phần của tôm 30
Hình 3.8 Tôm bị đen mang 35
Trang 7MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC HÌNH iv
MỤC LỤC v
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Một số đặc điểm sinh học của tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei) 3
1.1.1 Hệ thống phân loại 3
1.1.2 Đặc điểm phân bố và tập tính sinh sống 3
1.1.3 Hình thái và cấu tạo 4
1.1.4 Chu kỳ sống 5
1.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng 6
1.1.6 Đặc điểm sinh sản 7
1.1.7 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển 7
1.2 Tình hình phát triển nghề nuôi tôm Thẻ chân trắng trên thế giới và ở Việt Nam 8
1.2.1 Trên thế giới 8
1.2.2 Tại Việt Nam 11
1.2.3 Tình hình nuôi tôm Thẻ chân trắng địa bàn Bình Thuận 14
1.2.4 Các hình thức nuôi tôm trên thế giới 15
Chương 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1 Vật liệu nghiên cứu 17
2.2 Nội dung nghiên cứu 17
2.3 Phương pháp nghiên cứu 18
2.3.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 18
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu 18
Trang 82.3.2.1 Phương pháp đánh giá các yếu tố môi trường 18
2.3.2.2 PP đánh giá tốc độ tăng trưởng 19
2.3.2.3 PP đánh giá tỷ lệ sống 19
2.3.2.4 Đánh giá hiệu quả kinh tế 19
2.3.3 Một số chỉ tiêu theo dõi 19
2.4 Phương pháp xử lý số liệu 20
2.5 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 21
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22
3.1 Đánh giá các yếu tố môi trường ở các ao nuôi thực nghiệm 22
3.1.1 Quản lý chất lượng nước 22
3.1.2 Diến biến các yếu tố môi trường trong ao nuôi 22
3.1.2.1 Nhiệt độ 22
3.1.2.2 pH 23
3.1.2.3 Độ kiềm 25
3.1.2.4 Hàm lượng Oxy hòa tan 26
3.1.2.5 Độ mặn 27
3.2 Tốc độ tăng trưởng ở các ao nuôi thực nghiệm 28
3.2.1 Tốc độ tăng trưởng theo chiều dài 28
3.2.2 Tốc độ tăng trưởng theo khối lượng 30
3.3 Hiệu quả sử dụng thức ăn trong các ao nuôi thực nghiệm 31
3.4 Năng suất thu hoạch, hiệu quả kinh tế trong các ao nuôi thực nghiệm 32
3.4.1 Năng suất thu hoạch tôm nuôi trong các ao thực nghiệm 32
3.4.2 Hạch toán kinh tế 33
3.5 Những bệnh thường gặp và các phương pháp phòng và trị bệnh trong các ao nuôi thực nghiệm 34
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 36
TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
Trang 9MỞ ĐẦU
Tôm Thẻ chân trắng (Penaeus vannamei) là đối tượng nuôi mới ở nước ta,
bên cạnh đối tượng truyền thống là tôm Sú Tuy nhiên hiện nay nghề nuôi tôm sú
đang gặp nhiều khó khăn trong khi đó tôm Thẻ chân trắng (TTCT) có nhiều ưu
điểm hơn hẳn với tôm sú do năng suất cao, sức đề kháng tốt và thời gian quay vòng
nhanh; giá tôm nguyên liệu đang có chiều hướng tăng cao Do đó diện tích nuôi đối
tượng này đang ngày càng được mở rộng
Tuy mới được du nhập vào Việt Nam từ năm 2001-2002 nhưng mãi đến năm
2008 mới được nuôi phổ biến trên cả nước, nhưng sản phẩm TTCT đã đóng góp
ngày càng quan trọng cho XKTS Việt Nam Theo thống kê của Bộ Nông Nghiệp và
Phát Triển Nông Thôn (Bộ NN & PTNT), diện tích nuôi TTCT năm 2010 gần
25.300 ha, sản lượng 135.000 tấn, đem lại 414,6 triệu USD giá trị xuất khẩu (XK),
tăng 50% so với năm 2009, bằng 20% giá trị xuất khẩu tôm nói chung và bằng 8%
tổng giá trị XK tất cả các sản phẩm thuỷ sản trong năm; trong đó diện tích nuôi tôm
Sú bằng 623.000 ha, sản lượng 330.000 tấn, đem lại 1.439 triệu USD, có thể thấy
TTCT được nuôi tập trung hơn, do đó hiệu quả sử dụng đất cao hơn nhiều so với
tôm Sú Sự có mặt của TTCT đã tạo nên sự đa dạng, cả về chủng loại sản phẩm lẫn
phổ giá bán, phù hợp với nhiều đối tượng khách hàng Sự tăng trưởng liên tục cả
diện tích nuôi, sản lượng và giá trị XK chứng tỏ TTCT đã có chỗ đứng vững chắc
trong cơ cấu giống thủy sản nuôi ở Việt Nam
Tuy nhiên hiện nay nghề nuôi tôm chân trắng còn gặp nhiều rủi ro đặc biệt
đối mặt với dịch bệnh tràn lan gây chết tôm trên diện rộng Bên cạnh chất lượng
nguồn giống thì các biện pháp kỹ thuật trong quá trình quản lý ao nuôi là rất cần
thiết để đảm bảo cho sự thành công của vụ nuôi Trước tình hình dịch bệnh trên
tôm thẻ ngay ở giai đoạn đầu của chu kỳ nuôi và để đánh giá về quy trình nuôi áp
dụng tại Cty TNHH Thông Thuận, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh
giá quy trình kỹ thuật nuôi tôm Thẻ chân trắng (Penaeus vannamei) thương
phẩm tại xí nghiệp Núi Tào - Tuy Phong - Bình Thuận"
Trang 10* Mục tiêu của đề tài: Tìm hiểu quy trình nuôi tôm Thẻ chân trắng tại Xí
nghiệp Núi Tào thuộc Công ty TNHH Thông Thuận, từ đó đánh giá các biện pháp
kỹ thuật nhằm góp phần hoàn thiện quy trình nuôi tôm thẻ chân trắng
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Một số đặc điểm sinh học của tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei)
Loài tôm thẻ chân trắng : Penaeus vannamei
Tên thường gọi : Tôm thẻ chân trắng
1.1.2 Đặc điểm phân bố và tập tính sinh sống
Đặc điểm phân bố
TTCT là loài phân bố tự nhiên, chúng xuất xứ từ Châu Mỹ, chủ yếu là ở ven biển miền Tây Thái Bình Dương, từ vùng Sonora thuộc Mêhico, đến phía Bắc Pêru, nhiều nhất ở Ecuado[10]
Đây là loài có tính thích nghi rộng, không những phát triển rộng rãi ở Châu
Mỹ mà còn phát triển ở Trung Quốc, Đài Loan, Malaysia, Indonexia, Việt Nam…(Thái Bá Hồ - Ngô Trọng Lư, 2006) Chúng có thể sống được ở nước mặn, nước ngọt, nước lợ Trong tự nhiên, giai đoạn ấu trùng và ấu niên sống trôi nổi ở vùng của sông ven biển, giai đoạn trưởng thành chúng chuyển sang sống đáy và di chuyển ra vùng biển khơi [3]
Tập tính sống
TTCT sống trong tự nhiên có đáy cát, độ sâu 0-72m, nhiệt độ nước ổn định
từ 25-320C, độ mặn từ 28-34‰, pH từ 7,7-8,3 Tôm trưởng thành phần lớn sống ở
Trang 12ven biển gần bờ, tôm con ưa sống ở các khu vực cửa sông giàu sinh vật làm thức ăn Ban ngày tôm vùi mình trong cát, ban đêm mới bò đi kiếm ăn Tôm lột xác vào ban đêm, khoảng 20 ngày/lần Nuôi trong phòng thí nghiệm rất ít khi thấy chúng ăn thịt lẫn nhau [4]
TTCT thích bơi thành hàng, dọc theo bờ ao hoặc giữa ao Về đêm nếu có động mạnh chúng sẽ đồng loạt búng lên khỏi mặt nước Ngoài ra còn hay khui đáy
ao và bờ ao để tìm mồi, làm cho nước thường hay bị đục [9]
Bảng 1.1 Điều kiện môi trường thích hợp đối với tôm chân trắng
Yếu tố môi trường Chỉ số thích hợp
1.1.3 Hình thái và cấu tạo
Cũng giống như một số loài tôm he khác, cấu tạo của tôm chân trắng gồm các bộ phận sau
Trang 13Hình 1.1.Hình thái, cấu tạo tôm Thẻ chân trắng Chuỷ có 2-4 (đôi khi có 5-6) răng cưa ở phía bụng Vỏ giáp có gai gân và gai râu rất rõ, không có gai mắt và gai đuôi, không có rãnh sau mắt Không có rãnh tim mang Có 6 đốt bụng, 3 đôi mang trứng, rãnh bụng rất hẹp hoặc không có, gai đuôi không phân nhánh Râu không có gai phụ và chiều dài râu ngắn hơn nhiều so với vỏ giáp Con đực khi thành thục có bộ phận giao phối đực cân đối, nửa mở, không có màng che Không có hiện tượng phóng tinh, có gân bụng ngắn Túi chứa tinh hoàn chỉnh, bao gồm ống chứa đầy tinh dịch và có cấu trúc gắn kết riêng biệt với sự sinh sản cũng như với các chất kết dính Con cái khi thành thục có túi “ thụ tinh” mở và
đốt sinh dục thứ 14 gợn lên thành mấu lồi, thành lỗ hoặc khe rãnh
1.1.4 Chu kỳ sống
Quá trình phát triển TTCT từ trứng đến giai đoạn Postlarvae trải qua 6 giai đoạn Nauplius kéo dài 1,5 ngày, 3 giai đoạn Zoea kéo dài khoảng 5 ngày và 3 giai đoạn Mysis kéo dài khoảng 3 ngày Trứng nở thành ấu trùng Nauplius sau 14-15 giờ Tuy nhiên thời gian biến đổi qua các giai đoạn ấu trùng phụ thuộc vào nhiệt độ nước.[2]
Trang 14Hình 1.2 Vòng đời của tôm he (Penacidae) [14]
1.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng
TTCT là loại tôm ăn tạp giống như các loại tôm he khác, thức ăn của nó cũng cần các thành phần: protein, glucid, lipid, vitamin và muối khoáng… Khả năng chuyển hóa thức ăn của tôm thẻ chân trắng rất cao, trong điều kiện nuôi lớn bình thường, lượng thức ăn chỉ cần bằng 5% thể trọng tôm (thức ăn ướt) Thức ăn cho tôm chân trắng cần hàm lượng đạm 35-38% trong khi đó tôm sú cần 40% protein
Giai đoạn ấu trùng: Do tập tính sống trôi nổi bắt mồi thụ động bằng các đôi phụ
bộ nên thức ăn phải phù hợp với cỡ miệng Thức ăn mà ấu trùng sử dụng trong thuỷ
vực tự nhiên là các loài tảo khuê (Skeletonema, Cheatoceros ), luân trùng (Brachionus plicatilis), vật chất hữu cơ có nguồn gốc động và thực vật (Microplankton và Microdetritus) Ngoài ra trong sản xuất giống nhân tạo, các loại thức ăn như: ấu trùng
Artemia, thịt tôm, thịt cá, mực, lòng đỏ trứng gà, thức ăn công nghiệp
Giai đoạn tiền trưởng thành: Trong thuỷ vực tự nhiên tôm tiền trưởng thành
sử dụng các loại thức ăn như giáp xác nhỏ (ấu trùng Ostracoda, Copepoda, Mysidacca), các loài nhuyễn thể (mollues) và giun nhiều tơ (Polychaeta) Khi ương tôm bột lên tôm giống, thức ăn có thể phối hợp từ nhiều nguồn nguyên liệu khác nhau Nhu cầu dinh dưỡng về đạm, đường, mỡ thay đổi tuỳ theo giai đoạn phát triển của tôm Lượng đạm thô cần cho tôm giống từ 30-35% và tôm thịt từ 25-30%
Trưởng thành
Trang 15Giai đoạn tôm trưởng thành: Giai đoạn này tôm sử dụng các loại thức ăn như
giáp xác sống đáy (Benthic crustacean), hai mảnh vỏ (Bivalvia), giun nhiều tơ và các loại ấu trùng của động vật đáy (Trần Minh Anh, 1989)
1.1.6 Đặc điểm sinh sản
* Mùa vụ sinh sản: ở biển, trong phân bố tự nhiên đều bắt được tôm mẹ ấp
trứng Ở Bắc Ecuado mùa đẻ rộ vào tháng 4-5 Ở Peru mùa tôm đẻ chủ yếu từ tháng
12 đến tháng 4 TTCT thuộc loại có túi chứa tinh mở (open thelycum) khác với loại hình túi chứa tinh kín (closed thelycum) như của tôm Sú và tôm he Nhật Bản Trình
tự của loại hình có túi chứa tinh mở là: (tôm mẹ) lột xác thành thục giao phối (thụ tinh) đẻ trứng ấp nở [4]
* Giao phối: tôm đực và tôm cái tìm nhau giao phối, sau khi mặt trời lặn
Tôm đực phóng các chùm tinh từ cơ quan giao cấu petasma, cho dính vào chân bò thứ 3, thứ 5 của con cái, có khi dính lên cả thân con cái Trong điều kiện nuôi tỷ lệ tôm giao phối tự nhiên có kết quả rất thấp [4]
* Sức sinh sản và đẻ trứng: Tôm mẹ thành thục lần đầu từ năm thứ hai trở
đi Buồng trứng tôm cái thành thục có màu hồng Trứng sau khi đẻ có màu vỏ đậu xanh Tôm mẹ dài cỡ 14 cm có sức sinh sản tuyệt đối 10-15 vạn trứng trứng có đường kính khoảng 0,22 mm Sau mỗi lần đẻ trứng, buồng trứng tôm lại phát dục tiếp, thời gian giữa hai lần đẻ cách nhau 2-3 ngày (đầu vụ chỉ khoảng 50 giờ) Tôm cái đẻ trứng chủ yếu vào thời gian từ 1-3 giờ sáng Thời gian từ lúc bắt đầu đẻ đến lúc đẻ xong chỉ độ 1-2 phút Các chùm tinh của con đực được dùng sinh sản nhiều lần Tôm cái trứng đã thành thục nhưng không được thụ tinh, vẫn có thể đẻ trứng
bình thường nhưng ấp không nở [4]
1.1.7 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển
Tôm thẻ chân trắng (L vannamei) nhỏ hơn tôm sú, nhưng nó phát triển
nhanh hơn ở 60 ngày đầu, 90-100 ngày đạt 15-20g/con trong khi đó tôm sú trong
120 ngày đạt tới 35-40g/con
Khác với sinh trưởng mang tính liên tục ở cá, sinh trưởng của tôm mang tính giai đoạn, đặc trưng bởi sự gia tăng đột ngột về kích thước và khối lượng Tôm
Trang 16muốn tăng kích thước phải tiến hành lột xác và quá trình này thường tùy thuộc vào việc cung cấp dinh dưỡng đầy đủ hay không [14], môi trường nước và cả giai đoạn phát triển của cá thể Tôm còn nhỏ khi thay vỏ cần vài giờ, tôm lớn cần 1-2 ngày, lớn hơn cần 6-7 ngày, tôm cái thường lớn nhanh hơn tôm đực[16] Nuôi 60 ngày có thể đạt đến thương phẩm, nhưng người ta thường thu hoạch 100-120 ngày đạt cỡ tôm trung bình 17–18g/con
1.2 Tình hình phát triển nghề nuôi tôm Thẻ chân trắng trên thế giới và ở Việt Nam
đủ cho nuôi tôm
Xuất xứ của TTCT là từ vùng Nam Mỹ chạy suốt từ Peru cho đến Mexico Vào những năm 1970, được đưa vào các vùng đảo ở Thái Bình Dương, tới đầu năm
1980, được nuôi ở các vùng nước Mỹ và quanh khu vực Suốt thời gian dài 20-25 năm qua, là loại tôm chủ lực nuôi trong khu vực này Việc phát triển nuôi TTCT được đánh dấu bằng việc sinh sản nhân tạo thành công lần đầu tiên vào năm
1973 ở Florida Từ nguồn tôm bố mẹ khai thác tự nhiên ở Panama đã dẫn tới quá trình phát triển nhanh chóng nghề nuôi loài tôm này ở Trung, Nam Mỹ và Hawaii từ năm 1976 TTCT được nuôi ở Châu Á vào năm 1978–1979 đầu tiên là Trung Quốc và Đài Loan Năm 2000-2001 được đưa vào Thái Lan, Indonesia, Việt Nam Năm 2002 sản lượng tôm thẻ chân trắng của Trung quốc đạt 270.000 tấn, năm
2003 là 300000 tấn (chiếm 71% sản lượng tôm nuôi nước này)[18] Năng suất tôm tại Viện Hải Dương học Hawaill đạt 44 tấn/ha/năm.[12]
Trang 17Trên thế giới, sản lượng tôm chân trắng lúc đầu đứng hàng thứ hai sau tôm
sú nhưng ở châu Mỹ sản lượng tôm chân trắng đứng hàng đầu, đạt 86.000 tấn (1990), 132.000 tấn (1992), 191.000 tấn (1998) và đạt gần 200.000 tấn năm 1999 Ecuador coi nuôi tôm chân trắng là ngành sản xuất lớn, sản lượng tôm nuôi chiếm 95% tổng sản lượng của khu vực châu Mỹ, năm 1991 là 103.000 tấn Năm 1993, do gặp dịch bệnh hội chứng Taura (Taura Symdrome Virus) sản lượng giảm còn 1/3, sau 2-3 năm khôi phục lại đạt 120.000 tấn (1998), 130.000 tấn (1999) rồi lại gặp đại dịch bệnh đốm trắng còn 35.000 tấn (2000)
Bảng 1.2 Sản lượng tôm Thẻ chân trắng ở châu Mỹ La Tinh (tấn/năm)
Nguồn: The Global Aquaculture Advocate (The Global Magazine
for Farmed Seafood)
Một số nước như Mexico, Panama, Eelize, Peru, Colombia… cũng có tình hình phát triển tương tự Ecuador Sau khi được nhiều nước Châu Mỹ nuôi nhân tạo thành công và có hiệu quả cao, TTCT được di giống sang Hawai Từ đây TCT lan sang châu Á, Đông Nam Á Nhiều nước Đông Nam Á đã nhập TTCT để nuôi như: Trung Quốc, Philippin, Inđônêsia, Malaixia, Thái Lan, Việt Nam với hy vọng đa dạng hóa các sản phẩm tôm xuất khẩu để nhằm tránh tình trạng chỉ trông cậy phần lớn vào tôm sú hiện nay
TTCT được nhập khẩu vào châu Á vì người ta nhận thấy một số loại tôm bản địa chủ yếu hiện đang được nuôi cho năng suất thấp, mức độ tăng trưởng chậm và có khả năng mang bệnh Việc khoanh vùng nuôi TTCT khép kín và sự phát triển của các dòng giống TTCT chọn lọc và thuần hóa đã đưa TTCT trở thành đối tượng quan tâm
Trang 18lớn của ngành nuôi tôm thời kỳ hiện nay Trên phạm vi toàn cầu, tôm chân trắng đang chiếm tới 2/3 tổng sản lượng tôm nuôi toàn thế giới
Ở châu Á, trong giai đoạn từ 2001-2006, tôm sú chỉ duy trì ở một sản lượng nhất định, thì TTCT vọt lên 1,5-1,6 triệu tấn (năm 2006) và đạt 1,8 triệu tấn (năm 2009) Đặc biệt, việc gia tăng nhanh sản lượng TTCT là do các nước đã sản xuất được tôm bố mẹ sạch bệnh và áp dụng các biện pháp khoa học công nghệ nâng cao năng suất, chất lượng tôm Đặc biệt ở Thái Lan trong năm 2004 sản lượng tôm chân trắng đã đạt tới 300.000 tấn, chiếm tỷ lệ cao trong sản xuất tôm biển với sản lượng chiếm xấp xỉ 80%.[13]
Còn tại Philippines, Bộ Nông nghiệp nước này cũng đã dỡ bỏ lệnh cấm nhập khẩu và nuôi TTCT sau những nghiên cứu kỹ lưỡng cho thấy việc nuôi TTCT hiệu quả cao, lại không đe dọa môi trường, góp phần đa dạng sinh học
TTCT được thế giới công nhận là một trong ba loài tôm he nuôi có nhiều ưu điểm, có thể nuôi theo nhiều hình thức như bán thâm canh, thâm canh và nuôi công nghiệp trong các ao đầm nước mặn lợ
Bảng 1.3 Sản lượng tôm Thẻ chân trắng nuôi ở châu Á (tấn/năm)
Nguồn: The Global Aquaculture Advocate (The Global Magazine
for Farmed Seafood)
Năm 2011 giá tôm trên thế giới có thể tăng 10% sau thảm họa sóng thần Báo Wall Street Journal (Mỹ) ngày 11-1 đăng bài viết nhận định rằng ngành nuôi tôm của Thái Lan và Ấn Độ, hai nước xuất khẩu tôm hàng đầu thế giới, bị ảnh
Trang 19hưởng nghiêm trọng của đợt sóng thần vừa qua Nhiều trại ươm giống và nuôi ấu trùng tôm ở ven biển hai nước này bị phá huỷ hoàn toàn
Theo dự đoán của ông Somsak, giá tôm xuất khẩu sẽ tăng khoảng 10%, trong khi một chuyên gia khác về tôm cũng cho rằng mức tăng này có thể là 15%
Giá tôm tăng sẽ tác động mạnh nhất tới thị trường Mỹ, nơi trung bình mỗi người dân trong năm 2003 tiêu thụ tới 2 kg tôm và cua, trong khi ngành tôm nội địa của Mỹ đang bị suy yếu nghiêm trọng với lượng cung cấp mỗi năm vào khoảng 100.000 tấn, chỉ đáp ứng chưa đầy 15% nhu cầu của thị trường.[21]
1.2.2 Tại Việt Nam
TTCT là đối tượng nuôi mới trong 10 năm trở lại đây Cùng với sự phát triển của ngành Thủy Sản đã có nhiều nghiên cứu về giống, thức ăn, ảnh hưởng của các yếu tố môi trường dịch bệnh … đến năng suất tôm thịt của tôm He nói chung và TTCT, tôm Sú nói riêng (Nguyễn Văn Chung, 1997; Ngô Xuân Hiến, 1997, Tạ Khắc Trường, 1997)
Tại Việt Nam, từ năm 1975 – 1976 Viện nghiên cứu Hải sản điều tra nguồn lợi tôm He vùng biển gần bờ từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Cửa Sót (Hà Tĩnh), kết quả cho thấy tôm Sú phân bố ở độ sâu nhỏ hơn 50m, nhìn chung các công trình ngiên cứu chủ yếu đi sâu vào tôm sú, còn tôm Thẻ là đối tượng ít được đề cập đến Công trình của Nguyễn Trọng Nho (1982) đề cập tới kỹ thuật nuôi thương phẩm ở miền Trung Việt Nam Một số nhà khoa học đã tìm hiểu về đặc điểm sinh trưởng của tôm trong các đầm nuôi như Lê Xuân (1996): “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và cơ sở khoa học của công nghệ nuôi tôm sú, tôm he ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam”
Sau nhiều năm nghiên cứu, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản 3 đã cho ra đời giống tôm thẻ F1-V3-VN vào năm 2008, giống có nguồn gốc từ Hawaii
Việt Nam cũng là một trong những nước đầu tiên ở khu vực Đông Nam
Á du nhập giống TTCT, nhưng lại là nước phát triển nuôi loài này vào loại chậm trong khu vực Từ năm 1996-1997, một việt kiều Mỹ là ông Trần Kia đã lập dự án xin nhập giống TTCT về nuôi tại Bạc Liêu, nhưng mãi đến năm 2001-2002 Bộ
Trang 20Thủy sản mới cho 3 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là công ty Duyên Hải (Bạc Liêu), Công ty Việt Mỹ (Quảng Ninh) và Công ty Asia Hawaii (Phú Yên) được nhập con giống SPF để nuôi thử nghiệm
Từ năm 2002, do bị thiệt hại trong nuôi tôm sú, nhiều địa phương ở phía Bắc và miền Trung đã chuyển sang nuôi TTCT và thu được kết quả tốt Nhưng phải đến đầu năm 2008, với Chỉ thị số 228 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT ngày 25/1/2008, đối tượng này mới được phép đưa vào nuôi ở các tỉnh phía Nam trong các vùng quy hoạch và theo những điều kiện nhất định
Theo thống kê của Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản, từ cuối năm 2000, tỉnh Ninh Thuận thành công với mô hình nuôi tôm trên cát Với vài ha lúc đầu, chỉ sau 2 năm, diện tích nuôi tôm tăng lên 200 ha, dẫn đầu cả nước về diện tích nuôi Từ sự thành công của Ninh Thuận, hàng loạt các tỉnh duyên hải Miền Trung đều kêu gọi được những dự án lớn đầu tư vào nuôi tôm trên cát Trong đó nổi lên là
dự án đầu tư hơn 2.200 ha để nuôi tôm trên cát của công ty Việt Mỹ tại Quảng Trị
và dự án 2.000 ha nuôi tôm trên cát tại Lệ Thủy (Quảng Bình)
Cũng trong thời gian đó, Bộ Thủy Sản (nay là Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn) đã khuyến cáo người dân không nên phát triển rộng diện tích TTCT vì lo sợ sự phát triển thiếu bền vững, phần khác do nhiều doanh nghiệp chế
biến thủy sản xuất khẩu chưa quan tâm đến mặt hàng này
Từ năm 2006, Bộ Thủy Sản (trước đây) đã cho phép nuôi TTCT bổ sung tại các tỉnh, thành phố từ Quảng Ninh đến Bình Thuận nhưng vẫn cấm nuôi đối tượng này ở các tỉnh, thành phố khu vực ĐBSCL vì lo không kiểm soát được dịch bệnh,
để lây lan sang các đối tượng nuôi khác
Bảng 1.4 Diện tích và sản lượng nuôi tôm thẻ chân trắng ở Việt Nam
Trang 21Tuy nhiên, trong bối cảnh thị trường thế giới đang có nhiều biến động, xu thế tiêu dùng các nước chuyển sang tiêu thụ TTCT của Thái Lan, Trung Quốc, sản phẩm tôm sú nuôi của Việt Nam bị cạnh tranh mạnh trên thị trường thế giới Ở trong nước diện tích nuôi tôm sú bị nhiễm bệnh ngày càng nhiều, hiệu quả sản xuất thấp
Do vậy, ngày 25/1/2008, Bộ NN&PTNT đã ban hành Chỉ thị số BNN&PTNT cho phép nuôi TTCT tại vùng ĐBSCL nhằm đa dạng hóa sản phẩm thủy sản xuất khẩu, giảm bớt áp lực cạnh tranh, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của các nước trong khu vực và trên thế giới Từ một số mô hình nuôi thành công, hiện TTCT đang ngày càng được các hộ nuôi thủy sản quan tâm và phát triển
228/CT-Ở Việt Nam, tôm giống bố mẹ CPF-Turbo đã được nhập từ Charoen Pokphand Foods (CPF) để sản xuất ở các trại giống C.P ở Ninh Thuận, Bình Thuận, Bình Định, Nghệ An và Bến Tre từ tháng 8/2008 Các kết quả thu nhận được từ trại nuôi tôm thương phẩm ở Ninh Lộc (Ninh Hòa, Khánh Hòa) cho đợt thả nuôi TTCT CPF-Turbo đầu tiên tại Việt Nam.Trên 3 ao nuôi cho phép khẳng định được ở Việt Nam đã có thể nuôi TTCT đạt kích cỡ 40 con/kg trong thời gian chưa đến 4 tháng
và rất thích nghi với điều kiện nuôi ở Việt Nam
Giống là một trong những thế mạnh của công ty TNHH Thông Thuận, thuận được thành lập vào năm 1999 hoạt động trong lĩnh vực thủy sản với quy trình từ sản xuất con giống đến nuôi trồng và chế biến xuất khẩu chuyên về TTCT Sản xuất giống bao gồm 7 khu : khu 2, khu 12, khu trung tâm, khu 3, khu 4, khu 6, khu 9 với
cơ sở hạ tầng được đầu tư bài bản đạt các tiêu chuẩn trong và ngoài nước Hàng năm cung cấp ra cho thị trường khoảng 2–3 tỷ con giống chất lượng cao Đến nay thương hiệu tôm giống tôm thẻ chân trắng của công ty đang rất có uy tín trên thị trường và đang chiếm giữ thị phần rất lớn trên thị trường hiện nay
Mặc dù mới được phép nuôi trên địa bàn cả nước 4 năm, sản phẩm TTCT đã đóng góp ngày càng quan trọng cho xuất khẩu (XK) thủy sản Việt Nam Giá trị XK của riêng tôm chân trắng năm 2010 đã đạt 414,6 triệu USD, tăng gấp rưỡi so với năm
2009, bằng 20% giá trị XK tôm nói chung và bằng 8% tổng giá trị XK tất cả các sản phẩm thủy sản trong năm Thị phần của một loài như vậy là không hề nhỏ Ở
Trang 22đây chưa nói đến một sản lượng đáng kể TTCT tiêu thụ nội địa và XK tiểu ngạch Sự tăng trưởng liên tục cả diện tích nuôi, sản lượng và giá trị XK chứng tỏ TTCT đã có chỗ đứng vững chắc trong cơ cấu giống thủy sản nuôi ở Việt Nam
Theo thống kê của Bộ NN&PTNT, diện tích nuôi TCT năm 2010 là 25.000 ha, sản lượng 135.000T, đem lại 414,6 triệu USD giá trị XK; trong khi đó diện tích nuôi tôm sú bằng 613.000 ha, sản lượng 330.000T, đem lại 1.439 triệu USD, có thể thấy TTCT được nuôi tập trung hơn, do đó hiệu quả sử dụng đất cao hơn nhiều so với tôm sú
Chỗ đứng của TTCT trong tập đoàn đối tượng thủy sản của Việt Nam đã được xác định, những vấn đề cần giải quyết để đẩy mạnh sản xuất, tiêu thụ đối tượng này đã được nhận ra TTCT đang có tương lai rất rõ ràng ở Việt Nam
1.2.3 Tình hình nuôi tôm Thẻ chân trắng địa bàn Bình Thuận
Bình Thuận là tỉnh duyên hải cực Nam Trung Bộ, với Tổng diện tích: 7.828 km² bờ biển dài 192 km từ mũi Đá Chẹt giáp Cà Ná (Ninh Thuận) đến bãi bồi Bình Châu (Bà Rịa-Vũng Tàu), Diện tích vùng lãnh hải: 52.000 km² Tại Bình Thuận các
cơ sở sản xuất tôm giống tập trung ở địa bàn huyện Tuy Phong Năm 2009, toàn huyện Tuy Phong có 114/466 trại giống, chiếm gần 84 % số lượng trại tôm giống toàn tỉnh, trong đó trại tôm Sú là 85/289 trại và trại TTCT là 29/177 trại Sản lượng tôm giống tại Tuy Phong sản xuất được trong năm 2009 đạt 6,5 tỷ con tôm giống chiếm tỷ lệ 97% so với toàn tỉnh, tăng 25,5% so với cùng kỳ 2008, trong đó tôm Sú đạt 2,6 tỷ con, TTCT đạt 3,9 tỷ con Sản lượng tôm Sú giống không tăng so với cùng kỳ nhưng sản lượng TTCT tăng mạnh 53% do hầu hết các doanh nghiệp lớn
đã chuyển đổi sang sản xuất giống TTCT [13]
Đi đôi với sản xuất tôm giống Bình Thuận là nuôi thương phẩm cũng rất phát triển, và cũng chủ yếu tập trung ở huyện Tuy Phong đây là một huyện phía Bắc của tỉnh Bình Thuận, giáp với tỉnh Ninh Thuận, có diện tích khoảng 795 km2 Thiên nhiên đã tạo cho Tuy Phong một môi trường nuôi tôm công nghiệp lý tưởng Với địa thế mặt nước rộng và môi trường trong sạch, có nhiều eo uốn khúc theo bờ biển tạo nên nhiều bãi vịnh
là nơi tôm có thể sinh trưởng và phát triển Chính vì thế nuôi tôm có bước chuyển căn bản từ nuôi quảng canh và bán thâm canh qua nuôi công nghiệp
Trang 23Phong trào nuôi tôm tại Tuy Phong đã phat triển thăng trầm theo thời gian giai đoạn đầu đạt được hiệu quả cao, nhiều người đã giàu lên Thế nhưng sau này đã gặp nhiều khó khăn do bệnh dịch, thua lỗ thậm chí nhiều người phá sản, nợ nần Trong những năm 2004 tôm sú bị nhiễm bệnh và gây thiệt hại khá lớn nên một số
hộ chuyển qua nuôi xen canh tôm he chân trắng trong thời gian trái vụ tôm sú, lấy giống chủ yếu tại Công ty TNHH Asia Hawaii Ventures Lúc này Bộ Thủy Sản chưa cho nuôi tôm he chân trắng phổ biến
Những tưởng, nghề nuôi tôm ở Tuy Phong sẽ không đứng được, song từ những bài học đắt giá đó, nghề nuôi tôm ở đây đang có chiều hướng phục hồi Đến năm 2006 tổng diện tích nuôi tôm toàn huyện là 406 ha, trong đó chủ yếu là nuôi tôm sú Diện tích nuôi tôm he chân trắng ở huyện Tuy Phong tuy có nhưng không đáng kể, chủ yếu là người dân nuôi tự phát, chưa có quy hoạch cụ thể cho đối tượng này [17]
Hiện nay nuôi TTCT ở Tuy Phong cũng đang phải đối mặt với khá nhiều khó khăn như tình hình chung hiện nay của cả nước Đầu tư ban đầu cao hơn nhiều so với nuôi tôm sú do chi phí đầu tư cho con giống và thức ăn co thể cao gấp 4 lần so với tôm sú Dịch bệnh phát triển phức tạp khó kiểm soát Do giá tôm
sú xuất khẩu không ổn định và luôn đối mặt với tình trạng các lô tôm xuất khẩu phải trả về do dư lượng kháng sinh,chất cấm vượt quá mức cho phép Hầu hết việc tiêu thụ nguyên liệu đều qua tư thương nên xảy ra tình trạng ép cỡ, ép giá TTCT thường mắc những bệnh của tôm sú, mang hội chứng Taura, phát sinh dịch lớn, cùng các bệnh khác có thể lây nhiễm sang tôm nuôi bản địa, đồng thời gây hậu quả tiêu cực về môi trường sinh thái [18]
1.2.4 Các hình thức nuôi tôm trên thế giới
Hình thức nuôi tôm quảng canh: Người nuôi chọn địa điểm ao nuôi, rồi tiến
hành đắp đê, làm cống và nguồn nước được lấy vào thông qua thủy triều mang theo
cả con giống và thức ăn Người nuôi tôm không cần bổ sung thức ăn và con giống nên không quản lý được mật độ ao nuôi và tốc độ tăng trưởng của tôm, giống không đồng đều kích cỡ, nhiều cá tạp …
Trang 24Hình thức nuôi quảng canh cải tiến giống hình thức nuôi quảng canh nhưng
người nuôi bổ sung thêm con giống và thức ăn
Hình thức bán thâm canh: Hình thức này khá phổ biến Con người chủ động
thức ăn và con giống
Hình thức nuôi thâm canh: Đây là hình thức nuôi tiến bộ nhất Người nuôi
tạo môi trường hoàn toàn nhân tạo phù hợp nhất với sự sinh trưởng, phát triển của con tôm Thức ăn con giống hoàn toàn chủ động Toàn bộ quy trình nuôi được áp dụng kỹ thuật cao và quản lý mật độ chặt chẽ, diện tích ao nhỏ nhưng mật độ nuôi tôm lớn 20 -50con/m2 thậm chí 60-70con/m2 (với tôm sú (P.monodon), với TTCT
có thể nuôi với mật độ 150-200 con/m2
Theo số liệu năm 1992 - 1993 (Menasveta, 1998) nuôi tôm công nghiệp (thâm canh) chiếm 1/3 sản lượng tôm nuôi, nhưng diện tích chỉ chiếm 5% trong tổng diện tích nuôi, cho thấy nuôi tôm công nghiệp cho hiệu quả sử dụng rất lý tưởng Với áp lực tăng dân số toàn cầu cùng với tăng nhanh lợi nhuận và hạn chế ảnh hưởng đến cân bằng sinh thái, đòi hỏi việc phát triển nuôi tôm cần tăng hiệu quả sử dụng đất Điều này đồng nghĩa với việc xóa dần hình thức nuôi quảng canh
và tăng dần hình thức nuôi bán thâm canh, thâm canh
Trang 25Chương 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: tôm Thẻ chân trắng (Penaeus vannamei Boone, 1931)
Hệ thống ao theo dõi : Gồm 2 ao VII4 , VII6 Với diện tích :
- Máy quạt nước, máy phát điện, máy bơm nước
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá các yếu tố môi trường trong ao nuôi tại xí nghiệp nuôi công nghiệp tôm Thẻ chân trắng
- Đánh giá tốc độ tăng trưởng của TTCT
- Đánh giá tỷ lệ sống và hệ số thức ăn
- Đánh giá năng suất và hiệu quả kinh tế
- Theo dõi một số bệnh trong quá trình nuôi
Trang 262.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Hình 2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu
2.3.2.1 Phương pháp đánh giá các yếu tố môi trường
- Các thông số môi trường ao nuôi: Thu thập gián tiếp qua nhật ký các
ao nuôi tôm, thu thập trực tiếp qua các lần đo đạc, kiểm tra ao nuôi
Bảng 2.1 Dụng cụ xác định các yếu tố sinh thái
Đánh giá quy trình kỹ thuật nuôi thương
độ tăng trưởng của TTCT
Đánh giá tỷ lệ sống và
hệ số thức ăn
Đánh giá năng suất
và hiệu quả kinh
tế
Theo dõi một số bệnh trong quá trình nuôi
Kết luận
Đề xuất giải pháp
Trang 272.3.2.2 PP đánh giá tốc độ tăng trưởng
Thu thập trực tiếp qua các lần cân, đo với mẫu ngẫu nhiên là 30 con / lần kiểm tra, 7 ngày / lần Đo chỉ số dài thân tôm bằng giấy ô ly có vạch chia đến mm, cân tôm bằng cân tiểu li, độ chia đến mg
2.3.2.3 PP đánh giá tỷ lệ sống
Căn cứ vào số tôm thu hoạch vào cuối vụ nuôi
2.3.2.4 Đánh giá hiệu quả kinh tế
Xác định tổng thu, tổng chi và tính lợi nhuận của vụ nuôi
Tổng thu = sản lượng tôm thu hoạch x giá bán
Tổng chi = chi phí đầu tư cho sản xuất
2.3.3 Một số chỉ tiêu theo dõi
Tính tốc độ tăng trưởng tuyệt đối trọng lượng tôm nuôi theo công thức:
+ Wtb 2 : Trọng lượng cân tôm ở thời điểm t2
+ Wtb 1 : Trọng lượng cân tôm ở thời điểm t1
+ t1, t2 : Thời điểm cân tôm
Tính tốc độ tăng trưởng tuyệt đối chỉ số dài thân tôm theo công thức:
Trang 28+ Ltb 2 : Chiều dài toàn thân tôm đo được ở thời điểm t2
+ Ltb 1 : Chiều dài toàn thân tôm đo được ở thời điểm t1
+ t1, t2 : Thời điểm đo tôm
Công thức ước lượng tỷ lệ sống :
+ Công thức ước lượng tỷ lệ sống
2 1
100%
T X T
Với : X tỷ lệ sống tôm trong ao
T 2 số tôm thu hoạch
T 1 số tôm thả nuôi
Công thức tính tỷ lệ hoán chuyển thức ăn FCR
Năng suất ao nuôi :
10000
W K S
Trong đó : + W : Sản lượng thu hoạch tôm ( kg )
+ S : Diện tích ao nuôi ( m2
) + K: Năng suất ao nuôi ( kg / ha )
2.4 Phương pháp xử lý số liệu
Toàn bộ số liệu thí nghiệm được xử lý thống kê trên phần mềm Microsoft Ecxel 2003
Tổng lượng thức ăn sử dụng FCR =
Tổng khối lượng tôm thu hoạch
Trang 292.5 Địa điểm, thời gian nghiên cứu
• Địa điểm nghiên cứu: Công ty TNHH Thông Thuận - Xí nghiệp nuôi tôm
công nghiệp Núi Tào - xã Phước Thể - Tuy Phong - Bình Thuận
• Thời gian nghiên cứu: từ ngày 02/02/2012 đến 20/04/2012
Trang 30Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đánh giá các yếu tố môi trường ở các ao nuôi thực nghiệm
3.1.1 Quản lý chất lượng nước
Duy trì chất lượng nước tốt và ổn định cho vụ nuôi được xem là một trong những yếu tố phát triển bền vững trong nuôi trồng thủy sản
Bảng 3.1 Các thông số môi trường ao nuôi tại cơ sở
chịu đựng
Thích hợp nhất
3.1.2 Diến biến các yếu tố môi trường trong ao nuôi
Môi trường ao nuôi là một trong những yếu tố chính tạo nên sự thành công trong quá trình nuôi tôm Nhưng các yếu tố môi trường luôn biến động không theo một quy luật cụ thể nào cả nên quá trình ổn định môi trường ao nuôi là một trong những công việc rất khó khăn yêu cầu bộ phận kỹ thuật phải thường xuyên kiểm tra
ao nuôi và tiến hành đo đếm các yếu tố môi trường
3.1.2.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ có ảnh hưởng rất lớn tới đời sống, sinh trưởng và phát triển của sinh vật Vì nó ảnh hưởng tới tốc độ các phản ứng sinh hóa trong cơ thể Nhiệt độ ngoài ảnh hưởng trực tiếp còn ảnh hưởng gián tiếp đến tôm thông qua mối quan hệ giữa
Trang 31nhiệt độ nước với khả năng hòa tan oxi, sự chênh lệch nhiệt độ theo độ sâu, sự phân hủy mùn bã hữu cơ, ảnh hưởng đến hàm lượng các khí độc [3]
Qua quá trình theo dõi, nhiệt độ nước được biểu diền ở hình 3.1
20- 29
25- 34
30- 39
35- 44
40- 49
45- 54
50- 59
55- 64
60- 69
65- 74
70- 79
75- 84
80- 89
Hình 3.1 Diễn biến nhiệt độ nước ở các ao nuôi trong quá trình theo dõi
Kết quả ở hình 3.1 cho thấy trong quá trình nghiên cứu buổi sáng nhiệt độ biến động trong khoảng 28–29oC, buổi chiều nhiệt độ giao động trong khoảng 30–
31oC Sở dĩ nhiệt độ nước ổn định như vậy là do nhiệt độ nước tại cơ sở nghiên cứu chịu ảnh hưởng rất lớn từ khí hậu của vùng Do thời tiết nắng nóng liên tục, trong thời gian nghiên cứu không có mưa nên nhiệt độ nước ao nuôi khá ổn định cho tôm nuôi phát triển Bên cạnh đó mực nước ao nuôi ổn định từ 1,7- 2m nên giao động nhiệt độ trong ngày không lớn từ 28–31o
C
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Hải Âu và Nguyễn Trọng Nho (2004) thì nhiệt độ tối ưu nhất cho tôm phát triển là từ 28-32oC[12] Như vậy, nhiệt độ trong quá trình nghiên cứu nằm trong khoảng thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của TTCT
3.1.2.2 pH
TTCT có khả năng chịu đựng được pH từ 7,0–9,3, pH thích hợp cho TTCT phát triển là từ 8,0–8,5, pH quá cao hoặc quá thấp, biến động lớn sẽ ảnh hưởng đến
Trang 32tôm nuôi: ảnh hưởng đến hoạt động của tôm, pH thấp có thể làm tổn thương phần phụ, mang, quá trình lột xác và làm cứng vỏ pH trong ngày không được thay đổi quá 0,4–0,5 đơn vị
pH chỉ tiêu thủy hóa quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến sức khỏe, đời sống của tôm cũng như hệ sinh vật trong ao nuôi Khi pH thấp sẽ làm tăng tính độc của H2S, làm giảm sự phát triển của tảo Khi pH cao sẽ làm tăng tính độc của NH3 [3]
20- 29
25- 34
30- 39
35- 44
40- 49
45- 54
50- 59
55- 64
60- 69
65- 74
70- 79
75- 84
80- 89
Hình 3.2 Diễn biến pH nước ao nuôi trong quá trình theo dõi
Qua hình 3.2 ta thấy pH ít thay đổi theo thời gian nuôi nhưng pH biến động tương đối lớn trong ngày, thấp vào buổi sáng và cao vào buổi chiều
Ở ao VII4 pH vào buổi sáng dao động từ 7,1–8,1, buổi chiều dao động từ 7,6–8,5 Sự biến động pH trong ngày ở ao VII4 dao động từ 0,1–0,9 đơn vị
Ở ao VII6 pH vào buổi sáng dao động từ 7,0–8,2, buổi chiều dao động từ 7,6–8,5 Sự biến động pH trong ngày ở ao VII6 dao động từ 0–1,1 đơn vị
Theo Nguyễn Trọng Nho (1994), pH từ 7,5-8,5 là khoảng sống tối ưu cho tôm thẻ, đây cũng là khoảng quy định của TCVN, 2005 Như vậy, pH nằm trong khoảng tối ưu cho sự sinh trưởng và phát triển của tôm ở các ao nuôi
Để điều chỉnh cho giá trị pH trong ao nuôi phù hợp với sự phát triển của tôm tại đây đã có những điều chỉnh như sau: định kỳ 5 ngày/1 lần xử lý 50kg CaCO3 và
Trang 3350kg CaMg(CO3)2 Khi pH có giá trị dưới 7,5 thì sử dụng vôi bột CaCO3 với hàm lượng 100–250kg/ha xử lí vào buổi sáng
Kết quả cho thấy pH ao nuôi tại cơ sở tuy có sự biến động lớn trong ngày song vẫn nằm trong phạm vi chịu đựng của TTCT Mặc dù vậy sự biến động trong ngày ở hai ao là rất lớn, điều này cũng phần nào làm ảnh hưởng tới quá trình sinh
lý, làm giảm tốc độ sinh trưởng của tôm pH phụ thuộc vào chất đất, sự phát triển của tảo, sự hoạt động của sinh vật đáy, và sự tác động của con người
3.1.2.3 Độ kiềm
Độ kiềm giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì hệ đệm của ao nuôi, đây là chỉ tiêu quan trọng duy trì được sự biến động thấp nhất của pH và nước, hạn chế tác hại của các chất độc có sẵn trong nước Trong ao nuôi, độ kiềm thích hợp nhất cho tôm nuôi phát triển là 80–120mg CaCO3/l, nó sẽ thúc đẩy phiêu sinh vật cũng như tôm sinh trưởng và phát triển tốt
diễn biến độ kiềm
20- 29
25- 34
30- 39
35- 44
40- 49
45- 54
50- 59
55- 64
60- 69
65- 74
70- 79
75- 84
80- 89
Hình 3.3 Diễn biến độ kiềm trong quá trình theo dõi
Qua hình 3.3 cho ta thấy độ kiềm của hai ao biến động trong khoảng 90–140mg CaCO3/l tương đối ổn định trong thời gian nuôi, độ kiềm thấp vào đầu vụ và cao hơn vào cuối vụ Khoảng dao động này nằm trong khoảng thích hợp của tôm, đảm bảo cho tôm sinh trưởng và phát triển bình thường Sự biến động của độ kiềm