1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của mật độ và thức ăn đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh (macrobrachium rosenbergii) nuôi tại trung tâm quốc gia giống thủy sản nước ngọt nam bộ

79 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh Hưởng Của Mật Độ Và Thức Ăn Đến Tỷ Lệ Sống, Thời Gian Biến Thái Của Ấu Trùng Tôm Càng Xanh (Macrobrachium Rosenbergii) Nuôi Tại Trung Tâm Quốc Gia Giống Thủy Sản Nước Ngọt Nam Bộ
Tác giả Ngô Thị Hồng Nhung
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Kim Đường
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Kỹ Sư Nuôi Trồng Thủy Sản
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2012
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH NGÔ THỊ HỒNG NHUNG ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ THỨC ĂN ĐẾN TỶ LỆ SỐNG, THỜI GIAN BIẾN THÁI CỦA ẤU TRÙNG TÔM CÀNG XANH Macrobrachium rosenbergii

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGÔ THỊ HỒNG NHUNG

ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ THỨC ĂN ĐẾN

TỶ LỆ SỐNG, THỜI GIAN BIẾN THÁI CỦA ẤU

TRÙNG TÔM CÀNG XANH (Macrobrachium

rosenbergii) NUÔI TẠI TRUNG TÂM QUỐC GIA

GIỐNG THỦY SẢN NƯỚC NGỌT NAM BỘ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KỸ SƯ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

NGHỆ AN - 2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ THỨC ĂN ĐẾN

TỶ LỆ SỐNG, THỜI GIAN BIẾN THÁI CỦA ẤU

TRÙNG TÔM CÀNG XANH (Macrobrachium

rosenbergii) NUÔI TẠI TRUNG TÂM QUỐC GIA

GIỐNG THỦY SẢN NƯỚC NGỌT NAM BỘ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KỸ SƯ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

NGHỆ AN - 2012

Trang 3

Tôi xin chân thành cảm ơn các bác, các cô, các anh, các chị tại cơ sở thực tập đã quan tâm tạo mọi điều kiện và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập và làm đề tài tốt nghiệp tại Trung tâm Quốc gia Giống Thủy sản Nước ngọt Nam Bộ

Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, lãnh đạo trường Đại học Vinh, Ban chủ nhiệm khoa Nông Lâm Ngư, tổ bộ môn Nuôi trồng thủy sản đã tạo điều kiện giúp đỡ về mọi mặt cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường, truyền dạy cho tôi những kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong hơn 4 năm qua

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt khoá học

Vinh, tháng 5 năm 2012

Sinh viên

Ngô Thị Hồng Nhung

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Một số đặc điểm của tôm càng xanh 3

1.1.1 Hệ thống phân loài 3

1.1.2 Đặc điểm phân bố 4

1.1.3 Đặc điểm hình thái, vòng đời và chu kỳ sống của tôm càng xanh 4

1.1.4 Đặc điếm dinh dưỡng của tôm càng xanh 8

1.1.5 Đặc diểm sinh trưởng 12

1.1.6 Đặc điểm sinh học sinh sản của tôm càng xanh 14

1.1.7 Phát triển của phôi, ấu trùng và hậu ấu trùng của tôm càng xanh 17

1.2 Sơ lược về lịch sử phát triển nuôi của tôm càng xanhError! Bookmark not defined 1.2.1 Sơ lược về lịch sử phát triển nuôi của tôm càng xanh trên thế giớiError! Bookmark not defined 1.2.2 Sơ lược về lịch sử phát triển nuôi của tôm càng xanh tại Việt NamError! Bookmark not defined. 1.3 Tình hình nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến tỷ lệ sống và thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh 33

1.4 Tình hình nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống và thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh 34

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36

2.1 Đối tượng nghiên cứu 36

2.2 Vật liệu nghiên cứu 36

2.3 Nội dung nghiên cứu 37

2.4 Phương pháp nghiên cứu 37

2.4.1 Bố trí thí nghiệm 37

2.4.2 Phương pháp xác định các chỉ tiêu nghiên cứu 39

Trang 5

2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 39

2.5 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 40

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 41

3.1 Kết quả theo dõi các yếu tố môi trường 41

3.1.1 Độ pH, độ kiềm và độ mặn 41

3.1.2 Nhiệt độ, hàm lượng NH3/NH4 và hàm lượng NO2 42

3.2 Ảnh hưởng của mật độ đến tỷ lệ sống và thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh tại các CTTĂ khác nhau 44

3.2.1 Ảnh hưởng của mật độ tại CTTĂ1 lên tỷ lệ sống và thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh 44

3.2.2 Ảnh hưởng của mật độ tại CTTĂ2 lên tỷ lệ sống và thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh 47

3.3 Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống và thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh tại các mật độ ương nuôi khác nhau 49

3.3.1 Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống và thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh tại mật độ 1 Error! Bookmark not defined. 3.3.2 Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống và thời gian biến thái của ấu trùng tôm Càng Xanh tại mật độ 2 Error! Bookmark not defined. 3.3.3 Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống và thời gian biến thái của ấu trùng tôm Càng Xanh tại mật độ 3 Error! Bookmark not defined. 3.4 Tương tác ảnh hưởng giữa công thức thức ăn và mật độ lên tỷ lệ sống và thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh 49

3.4.1 Ảnh hưởng giữa công thức thức ăn và mật độ lên tỷ lệ sống của ấu trùng tôm càng xanh 56

3.4.2 Ảnh hưởng giữa công thức thức ăn và mật độ lên thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh 58

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60

Kết luận 60

Kiến nghị 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61 PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC VIẾT TẮT

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Chu kỳ lột xác của tôm càng xanh 13

Bảng 1.2 Các chỉ tiêu về kích cỡ tôm mẹ tuyển chọn cho sinh sản (Phạm Hữu Lai, 1998) 17

Bảng 1.3 Đặc điểm các giai đoạn biến thái của ấu trùng tôm càng xanh (Nguyễn Thanh Phương và cs., 2003) 20

Bảng 1.4 Công thức thức ăn chế biến cho ấu trùng tôm (Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2003) 23

Bảng 1.5 Kích cỡ thức ăn cho các giai đoạn ấu trùng (Ang, 1995) 23

Bảng 3.1 Kết quả quản lý pH, độ kiềm và độ mặn 41

Bảng 3.2 Kết quả theo dõi nhiệt độ, NH3/NH4 và NO2 43

Bảng 3.3 Ảnh hưởng của mật độ tại CTTĂ1 lên tỷ lệ sống của ấu trùng tôm càng xanh 45

Bảng 3.4 Ảnh hưởng của mật độ tại CTTĂ1 lên thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh 46

Bảng 3.5 Ảnh hưởng của mật độ tại CTTĂ2 lên tỷ lệ sống của ấu trùng tôm càng xanh 47

Bảng 3.6 Ảnh hưởng của mật độ tại CTTĂ2 lên thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh 48 Bảng 3.7 Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống của ấu trùng tôm

càng xanh tại MĐ1 Error! Bookmark not defined.

Bảng 3.8 Ảnh hưởng của thức ăn đến thời gian biến tháicủa ấu trùng

tôm càng xanh tại MĐ1 Error! Bookmark not defined.

Bảng 3.9 Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống của ấu trùng tôm

càng xanh tại MĐ2 Error! Bookmark not defined.

Bảng 3.10 Ảnh hưởng của thức ăn đến thời gian biến thái của ấu

trùng tôm càng xanh tại mật độ 2 Error! Bookmark not defined.

Bảng 3.11 Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống của ấu trùng tôm

càng xanh tại MĐ3 Error! Bookmark not defined.

Trang 8

Bảng 3.12 Ảnh hưởng của thức ăn đến thời gian biến thái của ấu

trùng tôm càng xanh tại mật độ 3 Error! Bookmark not defined.

Bảng 3.13 Ảnh hưởng của công thức thức ăn và mật độ lên tỷ lệ sống

của ấu trùng tôm càng xanh 56Bảng 3.14 Ảnh hưởng của công thức thức ăn và mật độ ảnh hưởng

lên thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh 58

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Tôm càng xanh 3

Hình 1.2 Cấu tạo tôm càng xanh (Foster và Wickins, 1972) 5

Hình 1.3 Vòng đời tôm càng xanh (Foster và Wickins,1972) 6

Hình 1.4 Đặc điểm các giai đoạn ấu trùng của tôm cành xanh 19

Hình 3.1 Ảnh hưởng của mật độ tại CTTĂ1 lên tỷ lệ sống của ấu trùng tôm càng xanh 45

Hình 3.2 Ảnh hưởng của mật độ tại CTTĂ1 lên thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh 46

Hình 3.3 Ảnh hưởng của mật độ tại CTTĂ2 lên tỷ lệ sống của ấu trùng tôm càng xanh 47

Hình 3.4 Ảnh hưởng của mật độ tại CTTĂ2 lên thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh 49

Hình 3.5 Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống của ấu trùng tôm càng xanh tại MĐ1 Error! Bookmark not defined. Hình 3.6 Ảnh hưởng của thức ăn đến thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh tại MĐ1 Error! Bookmark not defined. Hình 3.7 Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống của ấu trùng tôm càng xanh tại mật độ 2 Error! Bookmark not defined. Hình 3.8 Ảnh hưởng của thức ăn đến thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh tại mật độ 2 Error! Bookmark not defined. Hình 3.9 Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống của ấu trùng tôm càng xanh tại MĐ3 Error! Bookmark not defined. Hình 3.10 Ảnh hưởng của thức ăn đến thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh tại mật độ 3 Error! Bookmark not defined. Hình 3.11 Tương tác ảnh hưởng của công thức thức ăn và mật độ lên tỷ lệ sống của ấu trùng tôm càng xanh 57

Hình 3.12 Ảnh hưởng của công thức thức ăn và mật độ lên thời biến thái post của ấu trùng tôm càng xanh 58

Trang 10

MỞ ĐẦU

Nghề nuôi trồng thủy sản của nước ta đang trên đà phát triển mạnh mẽ

và được đánh giá là ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước Đứng trong nhóm

10 nước có sản lượng xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới, với tổng kim ngạch năm 2011 đạt trên 6 tỷ USD, Việt Nam được xem là ”cường quốc” trong lĩnh vực thủy sản Đóng góp đáng kể vào thành quả trên phải kể đến nghề nuôi giáp xác, đặc biệt sự xuất hiện của tôm sú, tôm thẻ chân trắng Sự phát triển khá mạnh mẽ đó đã góp phần giải quyết công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động, làm thay đổi bộ mặt kinh tế ngư dân vùng ven biển, đồng thời tăng nguồn ngoại tệ thông qua việc xuất khẩu, từ đó đánh dấu sự phát triển vượt bậc trong nền kinh tế chung của cả nước

Trong các năm qua, nghề nuôi thủy sản Việt Nam phát triển nhanh và

có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Nghề nuôi trồng thủy sản đóng góp đáng kể trong tổng sản lượng thủy sản và đã cung cấp nguồn nguyên liệu chủ yếu cho xuất khẩu thủy sản, trong đó tôm càng xanh được xem là một trong những đối tượng nuôi quan trọng

Tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) là loài giáp xác sống và

phát triển chủ yếu trong môi trường nước ngọt, có tốc độ sinh trưởng nhanh, kích thước tương đối lớn, thịt thơm ngon, được nhiều người ưa chuộng, là mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế cao Việc phát triển nuôi tôm càng xanh góp phần thực hiện thắng lợi chương trình nuôi trồng thủy sản, tăng sản lượng tôm nuôi, góp phần đa dạng hoá sản phẩm xuất khẩu, nâng cao hiệu quả trong vùng nuôi thủy sản nước ngọt đồng thời góp phần xoá đối giảm nghèo, cải thiện đời sống của người dân Tuy nhiên, trở ngại lớn nhất đối với các hộ nuôi

là chất lượng nguồn giống và giá thành con giống cao

Ở nước ta, đồng bằng sông Cửu Long là nơi có tiềm năng rất lớn cho nghề nuôi thủy sản nói chung và nuôi tôm càng xanh nói riêng Cũng như các đối tượng nuôi khác, con giống là yếu tố quan trọng trong phát triển nghề nuôi Tuy nhiên, với việc con giống trong tự nhiên ngày càng giảm, chất

Trang 11

lượng con giống không ổn định thì việc sản xuất con giống trong điều kiện nhân tạo để chủ động về con giống cũng như kiểm soát chất lượng con giống

là một việc cần làm để phát triển nghề nuôi tôm

Trong quá trình ương nuôi ấu trùng nói chung, để tạo được con giống khỏe mạnh, đạt tỷ lệ sống cao, rút ngắn thời gian chuyển giai đoạn và hạn chế dịch bệnh thì việc lựa chọn mật độ ương nuôi là vấn đề then chốt quyết định đến sự tăng trưởng, thời gian biến thái và tỷ lệ sống

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của điều kiện sản xuất nhằm có cơ sở để lựa chọn được mật độ ương nuôi và thức ăn thích hợp nâng cao hiệu quả sản

xuất con giống tôi đã thực hiện đề tài ”Ảnh hưởng của mật độ và thức ăn

đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) nuôi tại Trung tâm Quốc gia Giống Thủy sản Nước ngọt Nam Bộ”

Mục tiêu của đề tài

Xác định được mật độ ương và thức ăn thích hợp nhằm nâng cao tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng, rút ngắn thời gian biến thái, góp phần hoàn thiện quy trình sản xuất giống tôm càng xanh trong điều kiện Việt Nam

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số đặc điểm của tôm càng xanh

1.1.1 Hệ thống phân loài

Tôm Càng xanh là một trong hơn 100 loài tôm nước ngọt thuộc giống

Macrobrachium rosenbergii, là loài có kích cỡ lớn nhất trong những loài tôm

nước ngọt Người ta có thể phân biệt tôm càng xanh với các nhóm tôm khác ở hình dạng và màu sắc của chúng Vị trí phân loại tôm càng xanh theo Holthuis (1950) [trích theo Nguyễn Việt Thắng (1993)] như sau:

Ngành tiết túc: Arthropoda

Ngành phụ: Anterata

Lớp giáp xác: Crustacea

Lớp phụ giáp xác bậc cao: Malocostraca

Bộ mười chân: Decapoda

Bộ phụ chân bơi : Natantia

Phân bộ: Caridea

Họ: Palaemonidae

Giống: Macrobrachium

Hình 1.1 Tôm càng xanh

Loài tôm càng xanh - Macrobrachium rosenbergii De Man 1879 (tên

tiếng Anh: Giant prawn)

Trang 13

1.1.2 Đặc điểm phân bố

Tôm càng nước ngọt phân bố khắp các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới Đến nay người ta đã biết có trên 100 loài, trong đó hơn một phần tư số này có ở châu Mỹ

Chúng có mặt ở hầu hết các vùng nước ngọt nội địa như sông, hồ, đầm lầy, mương ao cũng như các vùng cửa sông Hầu hết các loài đều cần có nước

lợ cho các giai đoạn biến thái của ấu trùng Một số loài thích nghi môi trường nước trong, một số loài khác gặp trong điều kiện nước rất đục như tôm càng

xanh M rosenbergii

Một số quốc gia không có tôm càng xanh phân bố trong tự nhiên như Pháp, Mỹ, khu vực Đài Loan hiện đã di giống về nuôi trong tự nhiên Thường tôm càng xanh phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, nhưng chủ yếu là vùng Nam và Đông Nam châu Á, một phần của Đại Tây Dương và vài bán đảo ở Thái Bình Dương Ở Việt Nam, tôm càng xanh phân bố từ Nha Trang trở vào

Hình thái của tôm càng xanh được nhiều tác giả mô tả như Holthius; Đức và ctv (1988 và 1989); Forster và Wickins (1972) Tuy nhiên, ở nước ta trong ao nuôi hay trong khai thác tự nhiên thì xuất hiện 2 dạng tôm càng do vậy được gọi là tôm càng xanh và tôm càng lửa

Tôm càng xanh phân bố ở tất cả các thủy vực nước ngọt (đầm, ao, sông, rạch, ruộng lúa, ) và kể cả ở vùng nước lợ cửa sông Trên thế giới tôm càng xanh phân bố ở khu hệ Ấn Độ Dương và Tây Nam Thái Bình Dương Ở Việt Nam, tôm càng xanh phân bố chủ yếu các tỉnh Nam Bộ, đặc biệt là các vùng nước ngọt và vùng cửa sông ven biển ở đồng bằng sông Cửu Long

1.1.3 Đặc điểm hình thái, vòng đời và chu kỳ sống của tôm càng xanh

1.1.3.1 Đặc điểm hình thái

Dựa vào hình dạng và màu sắc để phân biệt giữa tôm càng và các nhóm tôm khác Tôm càng xanh có cơ thể thon dài, đối xứng hai bên Con trưởng thành thường có màu xanh dễ nhận biết, đôi khi có màu nâu nhạt Cấu tạo cơ thể

gồm: [http://agriviet.com]

Trang 14

Phần đầu ngực phía trước và phần bụng phía sau Phần đầu ngực lớn,

có dạng hơi giống hình trụ, gồm phần đầu với 5 đốt gần nhau, mang 5 đôi phụ bộ và phần ngực với 8 đốt liền nhau mang 8 đôi phụ bộ Phần đầu ngực được bao dưới tấm vỏ dày gọi là giáp đầu ngực

Hình 1.2 Cấu tạo tôm càng xanh (Foster và Wickins, 1972)

Nguồn: website http://www.fao.org

Phần bụng gồm có 6 đốt có thể cử động và một đốt đuôi Mỗi đốt mang một đôi phụ bộ gọi là chân bơi Mỗi đốt bụng có tấm vỏ bao Tấm vỏ phía trước xếp chồng lên tấm vỏ phía sau Tuy nhiên tấm vỏ của đốt bụng thứ hai phủ lên

cả hai tấm vỏ trước và sau nó Các đốt bụng hơi tròn trên mặt lưng và dẹp hai bên Cơ thể có dạng hơi cong như hình dấu phẩy, to ở phần đầu và thon nhỏ về phía sau

Ở tôm nhỏ có màu trong sáng Trên giáp đầu ngực có những sọc xanh đen dọc hai bên Tôm trưởng thành có những vệt màu xanh hơi sậm ngang lưng xen kẽ với màu trắng trong của cơ thể

Tôm có chủy dài vượt vảy râu, uốn cong lên từ đoạn giữa chủy, gốc chủy ở nơi hốc mắt nhô cao lên thành mào Chủy có 11÷16 răng trên chủy (2÷3 răng sau hốc mắt) và 10÷15 răng dưới chủy

Trang 15

Các phụ bộ có hình dạng, kích cỡ và chức năng khác nhau với hai đôi râu có chức năng xúc giác, một đôi hàm lớn, hai đôi hàm nhỏ và ba đôi chân hàm có chức năng giữ và nghiền mồi, năm đôi chân ngực có chức năng để bò, năm đôi chân bụng để bơi và một đôi chân đuôi có chức năng như bánh lái Hai đôi chân ngực đầu tiên của tôm chuyển hoá thành hai đôi càng, đôi càng thứ hai to dùng để bắt mồi và tự vệ

Đặc điểm về kích cỡ, màu sắc, hình dạng và các gai trên đôi càng sẽ thay đổi theo từng giai đoạn thành thục của tôm, nhất là ở tôm đực Quá trình thay đổi được thể hiện qua các giai đoạn như: tôm nhỏ, tôm càng cam nhạt, tôm càng cam đậm, tôm càng cam đậm chuyển tiếp càng xanh, tôm càng xanh nhạt, tôm càng xanh đậm và tôm già

1.1.3.2 Vòng đời và chu kỳ sống của tôm càng xanh

Hình 1.3 Vòng đời tôm càng xanh (Foster và Wickins,1972)

Theo Ling S.W và Omerica A.B (1962); Nguyễn Thanh Phương (2003), vòng đời tôm càng xanh được chia thành 4 giai đoạn: Trứng, ấu trùng, hậu ấu trùng và tôm trưởng thành Khi tôm đã trưởng thành, chúng thường sống ở vùng nước ngọt như: Sông, rạch, ao hồ, Cũng chính nơi này sẽ xảy ra quá trình thành thục, phát dục và giao vĩ, đẻ trứng Nhưng khi ôm trứng chúng

Trang 16

có xu thế bơi ra vùng nước lợ từ 6÷18o/oo, ở đó ấu trùng được nở ra và sống trôi nổi theo kiểu phù du Sau 11 lần lột xác với 12 giai đoạn biến thái, ấu trùng (Nauplius) biến thành hậu ấu trùng (Post larvae) lúc này tôm con di cư về vùng nước ngọt, sống và lớn lên ở đây

Ấu trùng có tính hướng quang mạnh, vận động trôi nổi trong nước Sang thời kỳ hậu ấu trùng và giai đoạn trưởng thành, tôm có tập tính sống ở đáy, bám vào cây cỏ; giá thể, Tôm trưởng thành ít hoạt động và thường ẩn náu vào ban ngày và tích cực hoạt động vào ban đêm Tôm càng xanh có tập tính ăn thịt lẫn nhau, điều này thể hiện rõ trong nuôi ở mật độ cao hoặc khi bị thiếu thức ăn (Ismael và New, 2000) Vì vậy, việc dùng giá thể tăng chổ ẩn nấp, hạn chế hiện tượng này để nâng cao tỷ lệ sống của tôm đã được đề xuất trong nuôi thương phẩm (Ling, 1969; Fujimuta và Okamoto, 1972; Sandifer

và Smith, 1975, 1977, 1983; Faria và Valenti, 1996; Sampaio, 1995; Alston

và Sampaio, 2000)

1.1.3.3 Tập tính ăn của tôm càng xanh

Tôm càng xanh là loài ăn tạp nghiêng về động vật, thức ăn tự nhiên của chúng là các loại nguyên sinh động vật, giun nhiều tơ, giáp xác, côn trùng, nhuyễn thể, các mảnh cá vụn, các loài tảo, mùn bã hữu cơ và cát mịn

Tôm càng xanh xác định thức ăn bằng mùi và màu sắc

Tôm tìm thức ăn bằng cơ quan xúc giác (râu), khi tìm được thức ăn, chúng dùng chân ngực thứ nhất kẹp gắp thức ăn đưa vào miệng

Trong thời gian ấp trứng tôm có thể nhịn ăn vài ba ngày

Hình dạng và mùi vị thức ăn đóng vai trò quan trọng trong việc hướng tôm đến bắt mồi Điều này rất quan trọng trong việc chế biến thức ăn cho tôm

Tôm thường bắt mồi nhiều vào chiều tối và sáng sớm Tôm thường bò trên mặt đáy ao, dùng càng nhỏ đưa mồi vào miệng Đặc tính của tôm càng xanh nếu không đủ thức ăn, chúng hay ăn thịt lẫn nhau khi lột xác, đây là đặc tính của loài Khi nuôi tôm thương phẩm phải lưu ý đến đặc tính này và áp dụng các biện pháp kỹ thuật để hạn chế tôm ăn thịt lẫn nhau

Trang 17

Tôm càng xanh trưởng thành là loài ăn tầng đáy, chúng sử dụng nhiều loại động vật khác nhau để làm thức ăn từ nhuyễn thể, giáp xác đến tơ sợi và

kể cả chất hữu cơ thối rữa, và tôm cũng ăn thức ăn viên công nghiệp Tôm tìm thức ăn bằng cơ quan xúc giác, chúng dùng râu quét ngang, dọc phía trước hướng di chuyển Khi tìm gặp thức ăn chúng dùng chân ngực thứ nhất kẹp lấy thức ăn, đưa chân hàm và từ từ đưa vào miệng Tôm có hàm trên và hàm dưới cấu tạo bằng chất kitin nên nghiền được các loại thức ăn cứng như nhuyễn thể, Trong quá trình tìm thức ăn tôm có tính tranh giành cao, cá thể nhỏ thường tránh xa đàn hay khi tìm được một miếng thức ăn thì di chuyển đi nơi khác, trong khi đó con lớn vẫn chiếm chỗ và đánh đuổi tôm nhỏ Ngoài ra, tôm còn ăn đồng loại khi chúng yếu (ví dụ như mới lột) hay khi thiếu thức ăn

1.1.4 Đặc điếm dinh dưỡng của tôm càng xanh

Tôm càng xanh là loài giáp xác bậc cao nhưng được ghép vào loại động vật đáy, là loài ăn tạp, tính chọn lọc không cao, chúng ăn các dạng chất hữu

cơ đang phân hủy, động vật, thực vật Chúng xác định thức ăn trước hết là nhờ màu sắc và mùi (Nguyễn Việt Thắng, 1993) Trong quá trình hoạt động bắt mồi tôm càng xanh có hiện tượng tranh giành thức ăn Đồng thời cũng ưa

ăn đồng loại với những cá thể vừa lột xác Hiện tượng này đặc biệt tăng cao khi thức ăn cung cấp cho tôm không đủ Còn đối với việc lựa chọn thức ăn thì tôm càng xanh thiên về động vật (Nguyễn Việt Thắng, 1993)

Chất đạm: Là thành phần quan trọng trong thành phần thức ăn của tôm

cá, là thành phần cơ bản để tạo nên cơ và cơ quan nội quan, nó chiếm khoảng 65÷75% trong thành phần sinh hóa của tôm; Mức đạm tối ưu là 27÷35%

(Trần Thị Thanh Hiền và cs., 2004) Đối với ấu trùng thì nhu cầu đạm tăng

cao hơn Thiếu đạm làm tôm chậm phát triển, giảm khả năng chống chịu bệnh tật Ngược lại nếu thừa đạm thì đạm sẽ chuyển dạng năng lượng dự trữ hoặc

bị thải ra ngoài, điều đó làm ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất Nhu cầu đạm của tôm thay đổi rất lớn theo giai đoạn phát triển Ngoài đạm thì thành phần acid amin trong chất đạm hiện cũng đang được quan tâm nghiên cứu đặc biệt

Trang 18

là Arginine, Histidine, Lysine, Isoleusine, Valine, Methionine, Phenylalanine, Threonine và Tryptophan Do đó tỷ lệ sống và hệ số chuyển hóa thức ăn của tôm phụ thuộc vào nguồn đạm chế biến thức ăn Nguồn đạm từ cá bột, bột đậu nành ly trích dầu giúp tôm con tăng trưởng tốt Đối với tôm Post larvae thì tỷ lệ giữa đạm động vật và thực vật tốt nhất là 3:1 (Nguyễn Thanh Phương

và cs., 2003)

Trần Thị Thanh Hiền, (2004) cho rằng, đối với tôm mẹ, chất đạm rất cần thiết cho quá trình tích lũy chất dinh dưỡng và chuyển hóa vào tế bào trứng Ở giai đoạn này thức ăn cung cấp cho tôm mẹ cần có hàm lượng đạm khoảng 40÷45% Nguồn cung cấp đạm chủ yếu là từ bột tôm, bột cá cao đạm và bột đậu nành

Chất béo: Là yếu tố thứ hai được quan tâm nghiên cứu Chất béo giữ

vai trò quan trọng trong sinh trưởng cũng như trong sinh sản của tôm Chất béo có trong thức ăn là nguồn cung cấp năng lượng và những acid béo cần thiết cho sự sinh trưởng bình thường và sự tồn tại của động vật Đối với chất béo, tỷ lệ giữa các acid béo cao phân tử n-3 và n-6 là rất quan trọng Tôm càng xanh không thể tự tổng hợp acid béo cao phân tử không no, vì thế việc

bổ sung vào trong thức ăn các loại dầu cá, dầu mực là rất cần thiết Ngoài ra hàm lượng Cholesterol 0,5÷1% cũng rất cần thiết cho tôm con (Trần Thị

Thanh Hiền và cs., 2004)

Yêu cầu về chất béo của tôm càng xanh là từ 6÷7,5% và thay đổi theo

sự phát triển của tôm Ở giai đoạn ấu trùng, do tôm sống trong môi trường nước lợ, nên giống như tôm biển, thức ăn cho tôm ở giai đoạn này cần được

bổ sung dầu mực, dầu cá Trong giai đoạn tôm thịt thì bổ sung dầu mực hoặc dầu cá kết hợp với dầu đậu nành tỷ lệ 1:1 Hàm lượng chất béo không nên

vượt quá 10% khối lượng thức ăn (Trần Thị Thanh Hiền và cs., 2004)

Chất béo đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển buồng trứng của tôm càng xanh thông qua tuyến gan tụy Trong giai đoạn này chất béo có vai trò cung cấp các acid béo cần thiết cho tế bào trứng Do đó chúng có ảnh hưởng đến sức sinh sản và tỷ lệ nở của trứng Thành phần acid béo trong tế

Trang 19

bào trứng chịu ảnh hưởng rõ bởi thành phần aicd béo được cung cấp từ thức

ăn Hàm lượng chất béo cần bổ sung vào thức ăn cho tôm bố mẹ khoảng 8÷10%, với tỷ lệ dầu mực và dầu bắp hoặc dầu đậu nành là 2:1 (Nguyễn

Thanh Phương và cs., 2003)

Chất bột đường: Là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu cho động

vật, nó được xem là nguồn cung cấp năng lượng rẻ tiền nhất Carbohyrate có vai trò quan trọng, là tiền đề cho trao đổi chất, giúp cho quá trình hấp thụ các acid amin Tôm càng xanh có men tiêu hóa chất bột đường hoạt động mạnh hơn so với các loài tôm biển Ngoài ra, chúng còn có thể sử dụng chất bột đường dạng cao phân tử dạng phức hợp tốt hơn so với đường đơn Thức ăn có chứa hàm lượng bột đường cao đến 40% vẫn cho kết quả tốt về sự tăng

trưởng của tôm (Trần Thị Thanh Hiền và cs., 2004) Điều này làm cho thức ăn

của tôm càng xanh rẻ tiền hơn tôm biển

Vitamin và chất khoáng: Hiện nay các vitamin đã được sử dụng trong

các thí nghiệm về dinh dưỡng cũng như sản xuất thức ăn công nghiệp cho

tôm Vitamin giữ vai trò quan trọng trong dinh dưỡng Lightner et al (1979)

đã cho biết, một vài loài tôm thuộc họ Penaeid không có khả năng tổng hợp

Vitamin C (Trần Thị Thanh Hiền và cs., 2004) Vitamin C có vai trò quan

trọng trong quá trình trao đổi chất của giáp xác, đặc biệt là giai đoạn ấu trùng

Theo Merchie et al (1995) Việc bổ sung Vitamin C vào thức ăn cho ấu trùng

giáp xác ở các trại sản xuất giống là rất cần thiết cho việc làm tăng tỷ lệ sống, rút ngằn thời gian biến thái và khả năng chịu đựng của ấu trùng (Trần Thị

Thanh Hiền và cs., 2004)

D’Abramo et al (1994) cho biết, khi bổ sung lượng Vitamin C lớn hơn

50 mg/kg thức ăn cho tôm càng xanh ở giai đoạn ấu trùng (7,5±2,4mg) sẽ cải

thiện được tỷ lệ sống của tôm (Trần Thị Thanh Hiền và cs., 2004) Khi thức

ăn thiếu hụt Vitamin C sẽ làm giảm khả năng tổng hợp collagen của tôm

(Hunter et al., 1979) (trích dẫn bởi Trần Thị Thanh Hiền và cs., 2004) Theo

Dabrowski, (1992) đối với giai đoạn ấu trùng của nhiều loài thủy sản, việc bổ

Trang 20

sung Vitamin C vào thức ăn sẽ tăng sự phát triển xương, tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng cũng như khả năng chịu đựng của ấu trùng; Hàm lượng vitamin C cần thiết cho tôm càng xanh ở giai đoạn giống là khoảng 2000 mg/kg thức ăn

chế biến (Trần Thị Thanh Hiền và cs., 2008)

Nguyễn Thanh Phương và cs (2003) cho rằng nhu cầu về khoáng cho giáp xác từ 2÷19,5% tính theo trọng lượng khô, trong đó tỉ lệ hàm lượng Ca:P

là 0,76:1 đến 4:1 Biddle (1977) khi nghiên cứu về thành phần bột cá làm thức

ăn của tôm càng xanh cho biết, với mức 3÷5,3% Ca, Ca và P có tỷ lệ 1,76:1 là

có ý nghĩa trong sinh trưởng của tôm (Trần Thị Thanh Hiền và cs., 2004)

Đối với ấu trùng tôm càng xanh, dinh dưỡng là một trong những vấn đề quan trọng nhất trong quá trình ương nuôi Ấu trùng tôm càng xanh có nhu cầu đạm động vật giáp xác rất cao Chính vì thế mà nhiều tác giả coi ấu

trùng Artemia là thức ăn cơ bản, lượng ấu trùng Artemia cho ăn quyết định sự sống sót của ấu trùng Theo Ling, (1969) khi thay thế thức ăn Artemia bằng

Moina hoặc Daphania kết hợp với trứng cá, trứng gà, thịt nhuyễn thể cũng

cho kết quả nhưng tỷ lệ sống thấp (Nguyễn Thanh Phương và cs., 2003)

Trong trường hợp không sử dụng Artemia mà chỉ sử dụng các loại thức

ăn khác như trứng cá, lòng đỏ trứng gà hay thức ăn chế biến để ương nuôi ấu trùng tôm càng xanh thì tỷ lệ sống thấp, chỉ đạt từ 2÷8% (Nguyễn Việt Thắng, 1993) Ở Việt Nam từ 1982÷1983 đã thử dùng thức ăn chế biến nội địa để ương ấu trùng tôm đã cho kết quả tỷ lệ sống đạt từ 2÷10% (Nguyễn Việt Thắng, 1995)

Qua nhiều nghiên cứu khác nhau: Ling, Fujimura (1974), Aquacop

(1983) đã đi đến kết luận: Ấu trùng Artemia là thức ăn nền và nên bổ sung

thức ăn chế biến Sự thay thế một phần thức ăn hỗn hợp chế biến không chỉ làm giảm giá thành con giống mà còn do nhu cầu của ấu trùng trong công nghệ sinh sản (Nguyễn Việt Thắng, 1995)

Trang 21

1.1.5 Đặc diểm sinh trưởng

Là một loài thuộc lớp giáp xác, tôm càng xanh phải trải qua 11 lần lột xác và biến thái để phát triển thành hậu ấu trùng Thời gian giữa hai lần lột xác của tôm phụ thuộc vào: Nhiệt độ, kích cỡ, giới tính, thức ăn và điều kiện sinh lý của chúng

Cũng như các loài giáp xác khác, sự tăng trưởng về chiều dài và khối lượng từng cá thể tôm không tăng liên tục mà theo hình bậc thang Sư tăng trưởng này phụ thuộc vào giai đoạn, giới tính, môi trường, mật độ nuôi và thành phần thức ăn của tôm Tôm nhỏ có tốc độ tăng trưởng tương đối (%/ngày) nhanh hơn tôm lớn Tôm đực lớn nhanh hơn tôm cái, đặc biệt là về giai đoạn sau Trong điều kiện nuôi, tôm có thể đạt 35÷40g và 70÷100g tương đương trong thời gian 6 và sau 8 tháng (Nguyễn Thanh Phương, 2003)

Trong quá trình lớn lên, tôm phải trải qua nhiều lần lột xác Thời gian

để tôm hoàn tất lột xác diễn ra rất nhanh, thường sau khi lột xác 3÷5 giờ thì lớp vỏ mới sẽ cứng lại Chu kỳ lột vỏ là thời gian giữa 2 lần lột xác liên tiếp nhau tùy thuộc vào kích cỡ, tình trạng sinh lý, điều kiện dinh dưỡng, điều kiện môi trường, Giai đoạn nhỏ tôm đực và tôm cái tăng trưởng tương đương nhau, nhưng khi thành thục và sinh sản thì con cái tăng trưởng giảm, vì nguồn dinh dưỡng tập trung cho sự phát triển buồng trứng, do đó con đực trưởng thành có kích thước lớn hơn con cái cùng tuổi Trong điều kiện nuôi, tôm bắt đầu phân đàn mạnh từ tháng thứ 3 trở đi Một hiện tượng thường thấy trong nuôi tôm càng xanh là sự phân đàn khá rõ kể cả trong cùng một nhóm giới tính Kích thước của tôm có thể đạt 40÷50 g trong thời gian 4÷5 tháng nuôi Kích cỡ tôm lớn nhất tìm thấy ở Ấn Độ là 470 g, Thái Lan là 470 g và Việt Nam là 434 g

Để sinh trưởng, cũng như các loài giáp xác khác, tôm càng xanh đều phải lột vỏ theo chu kỳ của nó, quá trình này được gọi là sự lột xác và tiếp theo sau đó là sự gia tăng đột ngột về kích thước và khối lượng Khi tôm đã trưởng thành, còn có dạng lột xác sinh sản (xảy ra ở con cái)

Trang 22

Chu kỳ lột xác của tôm tùy thuộc vào giai đoạn sinh trưởng, tình trạng sinh lý, điều kiện dinh dưỡng, điều kiện môi trường, Sự lột xác của tôm càng xanh tuân theo qui luật chung của tôm là tôm nhỏ chu kỳ lột xác ngắn hơn tôm lớn Chu kỳ lột xác của tôm càng xanh được thể hiện ở Bảng 1.1

Bảng 1.1 Chu kỳ lột xác của tôm càng xanh

0,05÷0,5 2÷5 6÷10 11÷15 16÷20 21÷25 26÷35 36÷60

(Nguồn: Sandifer và Smith, 1985, trích bởi Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2004)

Cơ chế lột xác của tôm càng xanh giống như các loài giáp xác chân đốt khác Khi tôm tích lũy đầy đủ chất dinh dưỡng, năng lượng và tới chu kỳ lột xác thì lúc đó lớp vỏ mới hình thành dần dưới lớp vỏ cũ, lớp này rất mỏng, mềm và co giãn được Khi lớp vỏ mới này phát triển đầy đủ thì tôm tìm nơi vắng và giàu oxy để lột vỏ Khi lớp vỏ cũ lột đi, vỏ mới còn mềm và co giãn được và dưới áp lực của khối mô cơ lâu ngày bị ép bởi lớp vỏ cũ, cơ thể tôm bấy giờ giãn nở, lớn lên nhiều và khác hẳn với lúc trước lột xác Lớp vỏ mới cứng dần sau 3÷6 giờ và tôm sẽ hoạt động lại bình thường sau đó

Quá trình lột vỏ của tôm thực hiện rất nhanh chỉ trong vòng 3÷5 phút Khởi đầu tôm ngưng hết mọi hoạt động bên ngoài, uốn cong mình gây nên áp lực ngày càng tăng phá vở lớp màng giữa giáp đầu ngực và vỏ tạo nên một khoang hở ngang lưng Tôm lúc này co mình thành hình chữ U, áp lực bên trong cơ thể tăng lên và dần dần tôm thoát toàn bộ cơ thể qua khoang hở ở lưng Sau mỗi lần lột xác, cơ thể tôm tăng lên 9÷15% về khối lượng thân

Trang 23

1.1.6 Đặc điểm sinh học sinh sản của tôm càng xanh

Phân biệt giới tính

Dựa vào hình thái ngoài có thể phân biệt được tôm càng xanh đực và cái một cách dễ dàng Ở tôm trưởng thành, tôm đực thường có kích thước lớn hơn tôm cái cùng tuổi Đầu ngực tôm đực to hơn và khoang bụng hẹp hơn so với con cái Bên cạnh đó, đôi càng thứ hai dài, thô và to hơn Tôm đực trưởng thành thường có đôi càng màu xanh dương đậm Các gốc chân ngực của tôm đực cũng được xếp khít nhau hơn so với tôm cái, cạnh đốt gốc của đôi chân ngực thứ 5 có 2 lỗ sinh dục đực Ngoài ra, tôm đực còn có nhánh phụ đực nằm kế nhánh trong của chân bụng thứ hai và điểm cứng ở giữa mặt bụng của đốt bụng thứ nhất

Tôm cái thường có kích thước nhỏ hơn tôm đực, có phần đầu ngực và đôi càng thon nhỏ Ba tấm bụng đầu tiên ở tôm cái rộng và dài tạo thành khoang bụng làm buồng ấp trứng Quá trình nở rộng của các tấm bụng này khi tôm tham gia sinh sản lần đầu tiên và đây chính là đặc điểm quan trọng của tôm cái Lỗ sinh dục của con cái nằm ở phần ức, ngay gốc đôi chân ngực thứ 3, có dạng tam giác Trên các đốt giữa của các chân bơi còn có nhiều lông tơ hình thành ở thời kỳ lột xác tiền giao vĩ có tác dụng cho trứng bám vào (Nguyễn Thanh Phương, 2003)

Buồng trứng của con cái nằm trên mặt lưng của phần đầu ngực, giữa dạ dày và gan tụy Khi buồng trứng thành thục sẽ có màu vàng và có thể nhìn thấy qua giáp đầu ngực, trải dài từ sau mắt đến đốt đầu của phần bụng Ống dẫn trứng nối từ buồng trứng ở trước tim chạy dọc hai bên về phía bụng đổ về túi chứa tinh ở đốt gốc của chân ngực thứ ba (Nguyễn Thanh Phương, 2003)

Thành thục, giao vĩ, đẻ và ấp trứng

Trong tự nhiên cũng như trong điều kiện nhân tạo, tôm thành thục và giao vĩ xảy ra hầu như quanh năm Mùa đẻ rộ của tôm càng xanh ở đồng bằng Nam Bộ tập trung từ tháng 4÷6 và từ tháng 8÷10 (Nguyễn Việt Thắng, 1993, Phạm Văn Tình, 1996; Nguyễn Thị Thanh Thủy, 2005) Tôm càng xanh cái

Trang 24

thành thục lần đầu tiên ở khoảng 3÷3,5 tháng kể từ hậu ấu trùng 10÷15 ngày (PL10-15) Kích cỡ tôm nhỏ nhất đạt thành thục từ 10÷13cm và 7,5g (Nguyễn Việt Thắng, 1993) Tuy nhiên tuổi thành thục và kích cỡ thành thục của tôm còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như môi trường và thức ăn Trong quá trình thành thục, buồng trứng trải qua 4 giai đoạn phát triển trong vòng 14÷20 ngày Đặc điểm của các giai đoạn phát triển như sau:

- Giai đoạn 1: Chưa thành thục Buồng trứng nhỏ, trong suốt, nắm ở vùng chót sau của khoang giáp đầu ngực Trứng có hình cầu với nhân rõ ràng

và nguyên sinh chất trong suốt Đường kính trứng đạt 0,064÷0,128mm

- Giai đoạn II: Chớm thành thục Buồng trứng chiếm khoảng 1/4÷1/2 chiều dài của khoang giáp đầu ngực và có màu vàng Trứng hơi ngà ngà do có noãn hoàng trong nguyên sinh chất Nhân không thấy rõ Trứng có đường kính 0,191÷0,447mm

- Giai đoạn III: Thành thục Buồng trứng phát triển hơn và chiếm hơn 3/4 chiều dài khoang đầu ngực, có màu vàng cam Trứng có đường kính 0,3192÷ 0,545mm

- Giai đoan IV: Chín muồi Buồng trứng chiếm toàn bộ khoang giáp đầu ngực Đường kính trứng 0,4468÷0,766mm

Khi buồng trứng đạt giai đoạn IV, tôm cái lột xác tiền giao vĩ Quá trình lột xác tiền giao vĩ của tôm cái sẽ tiết ra chất dẫn dụ có tác dụng kích thích tôm đực tìm đến Sau khi tôm lột xác 1÷22 giờ, thường 3÷6 giờ, tôm bắt đầu giao vĩ Toàn bộ quá trình tiếp xúc và giao vĩ xảy ra trong vòng 20÷35 phút Sau khi giao vĩ 2÷5 giờ, có khi 6÷24 giờ, tôm cái bắt đầu đẻ trứng (Nguyễn Thanh Phương, 2003)

Tôm thường đẻ trứng vào ban đêm Tôm cái thường di chuyển từ tầng đáy lên tầng giữa hay tầng mặt để đẻ Trong quá trình đẻ trứng, trứng được thụ tinh khi đi ngang túi chứa tinh Trứng sẽ lần lượt dính thành từng chùm vào các lông tơ của các đôi chân bụng thứ tư, thứ ba, thứ hai và thứ nhất Thời gian đẻ trứng của tôm càng xanh là khoảng 10÷60 phút và thông thường từ

Trang 25

15÷25 phút Những tôm cái thành thục chín muồi nhưng không được giao vĩ vẫn đẻ trứng trong vòng 24 giờ sau khi lột xác Những trứng này do không được thụ tinh nên sẽ rụng sau 1÷2 ngày (FAO, 1985)

Trong quá trình ấp trứng, tôm cái thường dùng chân bụng quạt nước, tạo dòng nước, cung cấp dưỡng khí cho trứng, thời gian ấp cho đến khi nở có thể 15÷23 ngày, phụ thuộc vào nhiệt độ nước

Sức sinh sản

Tuổi thành thục của tôm càng xanh thường là khoảng 180÷270 ngày tuổi, tuy nhiên thời gian thành thục tùy thuộc vào nhiều yếu tố môi trường, đặc biệt là nhiệt độ và dinh dưỡng Buồng trứng của tôm phát triển ở phần đầu ngực trải qua 5 giai đoạn phát triển của buồng trứng, dao động trong khoảng 18÷20 ngày Khi buồng trứng phát triển đến giai đoạn V (full) tôm lột xác (lột xác tiền giao vĩ), sau lột xác thời gian thích hợp cho tôm giao vĩ là 3÷6 giờ, khoảng 2÷5 giờ sau khi giao vĩ tôm đẻ trứng, nếu tôm cái không được giao vĩ, trứng vẫn rụng và rơi ra khỏi khoang chứa trứng sau 1÷2 ngày Tùy vào kích cỡ

và khối lượng của tôm cũng như chất lượng và số lần tham gia sinh sản của tôm mà sức sinh sản của chúng có thể thay đổi từ 7.000÷503.000 trứng Trung bình, sức sinh sản tương đối của tôm khoảng 500÷1.000 trứng/g khối lượng tôm Sau khi trứng thụ tinh, trứng được ấp trong khoảng 19÷21 ngày ở nhiệt độ khoảng 28o

Trang 26

Nghiên cứu sự biến động về sức sinh sản tương đối của tôm theo các nguồn và kích cỡ khác nhau của Nguyễn Thanh Phương và ctv (2006) cho thấy, số lượng trứng trên mỗi gam tôm mẹ dao động từ 961÷1.094 trứng, số trứng theo các nhóm kích cỡ khác nhau trong cùng một nguồn tôm khác biệt không có ý nghĩa thống kê, tuy nhiên số trứng của tôm tự nhiên cao hơn có ý nghĩa so với nguồn tôm mẹ từ ao nuôi thương phẩm và nguồn tôm mẹ nuôi vỗ

ở cùng một nhóm kích cỡ

Khi chọn tôm mẹ cho sinh sản các tác giả đã thống nhất trong giới hạn

kích thước nhất định được thể hiện thông qua Bảng 1.2

Bảng 1.2 Các chỉ tiêu về kích cỡ tôm mẹ tuyển chọn cho sinh sản

(Phạm Hữu Lai, 1998)

Khả năng tái phát dục:

Tôm cái có thể tái phát dục trong 16÷45 ngày, vài trường hợp cá biệt thời gian tái phát dục ngắn chỉ sau 7 ngày Tôm cành xanh có thể tái phát dục 4÷6 lần trong vòng đời

1.1.7 Phát triển của phôi, ấu trùng và hậu ấu trùng của tôm càng xanh 1.1.7.1 Phát triển phôi

Theo Nguyễn Thanh Phương và cs (2003) trứng mới được tôm đẻ ra có hình elip, kích cỡ khoảng 0,6÷0,7mm Trứng thụ tinh bắt đầu phân cắt nhân đầu tiên sau 4 giờ và hoàn thành sự phân chia sau 24 giờ Quá trình giảm phân xảy ra khi nhân phân cắt lần thứ ba Ở các giai đoạn phân cắt đầu tiên, nhân nằm sâu

Trang 27

trong trứng Tuy nhiên, từ giai đoạn phôi vị trở đi, nhân chuyển ra mặt ngoài hơn Đĩa mầm xuất hiện ở mặt bụng của phôi vào ngày thứ hai Quá trình phôi vị hoá xảy ra sau khi hình thành bì Một dãy mầm hình chữ V xuất hiện và phân biệt phôi bì, chiếm phần lớn bề mặt bụng và đó là vị trí của phôi đang phát triển Ngày thứ ba, vùng phôi được hình thành và phôi phát triển sang giai đoạn phôi Nauplius

Sau 80 giờ, các phụ bộ của Nauplius bắt đầu phát triển Ngày thứ năm, hình thành phụ bộ đầu và các nhú đuôi Ngày thứ bảy, điểm mắt bắt đầu phát triển và nhú đuôi trở thành gai đuôi Từ ngày thứ tám, bắt đầu hình thành giáp đầu ngực, mắt có sắc tố, ruột hình thành và tim bắt đầu đập Ngày thứ mười hai, phôi nằm dọc theo theo trứng và ấu trùng phát triển đến khi nở

Theo sự phát triển của phôi, trứng dần dần chuyển từ màu vàng nhạt sang vàng cam, sau đó có màu xám và khi sắp nở trứng có màu xám đen Sự thay đổi màu sắc này tương ứng với quá trình tiêu hết noãn hoàng (màu vàng)

và hình thành phôi với mắt màu đen Sau 17 - 23 ngày, trứng sẽ nở và quá

trình nở hoàn thành sau 4÷6 giờ (Nguyễn Thanh Phương và cs, 2003) Khi nở,

tôm mẹ cử động chân bụng liên tục để thải ấu trùng ra ngoài

1.1.7.2 Phát triển của ấu trùng

Ấu trùng mới nở ra sống phù du, có tính hướng quang mạnh và cần nước

lợ (độ mặn 6÷16‰) để sống và phát triển; ấu trùng sẽ chết sau 3÷4 ngày nếu

không sống được trong nước lợ (Nguyễn Thanh Phương và cs., 2003) Ấu trùng

bơi lội chủ động, bụng ngửa và đuôi ở phía trước, chúng bơi lội gần sát mặt nước thành từng đám Ấu trùng ăn liên tục Thức ăn bao gồm các loài động vật phù

du, giun nhỏ, ấu trùng của các loài động vật thủy sinh Ấu trùng của tôm trải qua

11 lần lột xác và biến thái để hình thành hậu ấu trùng

Trang 28

Hình 1.4 Đặc điểm các giai đoạn ấu trùng của tôm cành xanh

(Nguồn: www.fao.org/DOCREP/005/Y4100E/y4100e11.htm)

Trang 29

Bảng 1.3 Đặc điểm các giai đoạn biến thái của ấu trùng tôm càng xanh

(Nguyễn Thanh Phương và cs., 2003)

Giai đoạn Ngày tuổi

có 2 nhánh, có lông tơ

phụ trong

có tập tính như tôm lớn

1.1.7.3 Sự phát triển của hậu ấu trùng

Giai đoạn hậu ấu trùng (PL), tôm có hình dạng và tập tính sống giống như tôm lớn Chúng bắt đầu sống đáy, bám vào nền, vật bám hay cây cỏ PL bắt mồi chủ động Thức ăn của PL bao gồm các loại côn trùng thủy sinh, giun nước, các miếng nhỏ nhuyễn thể như ốc, sò, mực, tôm, cá, xác bã động thực vật Giai đoạn hậu ấu trùng (18÷30 mm) có thể được nhận biết thông qua những sọc ngang trên carapace Đây là đặc điểm đặc trưng của loài (Nguyễn

Thanh Phương và cs., 2003)

Trang 30

1.1.7.4 Ương nuôi ấu trùng

- Cho tôm nở

Tôm trứng chọn cho nở phải khỏe mạnh, không bị thương tích, không

có dấu hiệu bệnh (đốm đen, đốm nâu, đóng rong, ), có khối lượng tốt nhất là 50÷80 g và trứng có màu xám đen Nên chọn đủ số lượng tôm trứng có màu sắc tương tự nhau để cho nở đồng loạt Có thể xử lý tôm mẹ trước khi cho nở bằng formaline 20÷25 mg/l (tính cho formol nguyên chất) trong 30 phút, sau

đó thay nước Tôm sau khi xử lý xong được cho vào bể nở Bể nhỏ 50 lít có thể thả 2÷3 con tôm trứng Bể lớn thì thả nhiều hơn Cần sục khí liên tục cho

bể nở Tốt nhất, nước bể nở nên có độ mặn khoảng 5÷7‰ để tránh gây sốc cho tôm mẹ, trứng tôm cũng như ấu trùng ít bị sốc khi chuyển vào bể ương với độ mặn cao 12‰ Nếu chọn tôm tốt, trứng sẽ nở ngay đêm đó

- Thu và bố trí ấu trùng vào bể ương

Sau khi ấu trùng nở, thu ấu trùng vào buổi sáng Ngừng sục khí bể, che tối bể, chừa một góc để có ánh sáng hoặc dùng đèn để tập trung ấu trùng lại một góc để hút ra bằng ống hút Ấu trùng khỏe sẽ có tính hướng quang mạnh

và tập trung nơi chiếu sáng, ấu trùng kích cỡ lớn, màu trong sáng và hoạt động tích cực Ấu trùng thu được nên xử lý với Formol 200 ppm trong 30 giây, sau đó, bố trí vào bể ương đã được chuẩn bị sẵn Bể ương ấu trùng có mức nước tùy vào qui trình ương với khoảng 0,8÷1m đối với hệ thống nước trong hở và nước trong kín; và khoảng 0,6÷0,7 m đối với hệ thống nước xanh cải tiến để tảo phát triển Nước ương có độ mặn 10÷12‰ Sục khí liên tục và vừa phải cho bể ương với số lượng 3÷4 đá bọt/m2

mặt bể Đối với mô hình nước xanh cải tiến, cần bổ sung tảo (tảo Chlorella thuần hoặc nước xanh từ bể nuôi cá rô phi) trước khi bố trí ấu trùng với mật độ khoảng 0,5÷1 triệu tế bào/ml để nước có màu xanh nhạt Mật độ ấu trùng bố trí nên trong khoảng 50÷60 con/lít đối với mô hình nước trong kín và nước xanh cải tiến; và 100÷150 con/lít đối với mô hình nước trong hở Qui trình nước trong hở cũng

có thể bố trí với mật độ cao 300÷500 ấu trùng/lít để ương trong 10÷15 ngày

Trang 31

đầu (đạt giai đoạn V-VII) thì san thưa ương với mật độ 60÷100 ấu trùng/lít (Ang, 1987 &1995; Reddy, 2000b; Correia và ctv, 2000; New, 2002; Phương

và ctv, 2003)

- Chăm sóc, cho ăn

Trong ương ấu trùng tôm càng xanh, có thể cho ấu trùng ăn bằng các loại Artemia, Moina, thịt cá, thịt mực, Artemia tiền trưởng thành, trùng chỉ (giun đỏ), thức ăn chế biến, thức ăn nhân tạo, Tuy nhiên, thức ăn thường được sử dụng nhất là ấu trùng Artemia và thức ăn chế biến

+ Cho ấu trùng ăn Artemia:

Ngày đầu tiên không cần cho ấu trùng ăn Từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 5, ấu trùng được cho ăn bằng Artermia mới nở, ít nhất 2 lần mỗi ngày vào lúc sáng và chiều Mật độ cho ăn trung bình mỗi lần là 1÷2 Artemia/ml nước Từ ngày thứ 5, mỗi ngày cho ấu trùng ăn Artemia 1 lần vào chiều tối, ban ngày cho ăn thức ăn chế biến 4 lần/ngày Lượng Artemia cho ăn tăng dần lên 2÷4 con/ml về giai đoạn cuối Tuy nhiên, tùy qui trình ương, nếu mật độ ương cao thì lượng Artemia cho

ăn có thể tăng lên đến 5÷10 con/ml ở giai đoạn ấu trùng IX-XI Đối với qui trình nước xanh cải tiến, Artemia sau khi cho nở nên thu cả ấu trùng và vỏ trứng đem

xử lý với formol 100 mg/l trong vài phút, sau đó cho vào các bể ương Vỏ Artemia có vai trò quan trọng như giá thể trong bể

+ Cho ấu trùng ăn thức ăn chế biến

Tùy từng trại mà có thể chế biến thức ăn với các thành phần khác nhau như trứng, sữa, thịt tôm, mực, sò huyết, gan và các hỗn hợp vitamin, khoáng Các công thức thức ăn chế biền được trình bày ở Bảng 1.4 Công thức ở Bảng 1.4 đã được xây dựng bởi Khoa Thủy sản - Đại học Cần Thơ dựa trên nền công thức của Ang (1995) và hiện được áp dụng phổ biến ở các trại giống ở Đồng Bằng Sông Cửu Long Các nguyên liệu này được trộn đều và hấp cách thủy, sau đó, ép thức ăn qua sàng với kích cỡ mắt lưới khác nhau là 300 μm, 500 μm và 700 μm để tạo hạt thức

ăn có cỡ thích hợp cho từng giai đoạn của tôm (Bảng 1.5)

Trang 32

Cho ấu trùng ăn thức ăn chế biến vào ban ngày, 3÷4 lần/ngày Khi cho

ăn, nên ngưng sục khí để ấu trùng tập trung lên mặt nước rồi rải thức ăn từ từ xung quanh bể nơi ấu trùng tập trung để ấu trùng bắt mồi hiệu quả và tránh làm dơ nước Lượng cho ăn tùy vào khả năng bắt mồi của ấu trùng Sau khi ấu trùng ăn hết thức ăn thì mới sục khí trở lại Thời gian cho ấu trùng ăn mỗi lần mất khoảng 15÷30 phút Tùy vào qui trình ương nuôi và cách cho ăn mà lượng thức ăn chế biến và lượng Artemia sử dụng để sản xuất 1 triệu tôm bột

sẽ khác nhau (AQUACOP, 1983; New và Shingholka, 1985; Thắng, 1995; Correia và ctv, 2000; Valenti và Daniels, 2000) Trong mô hình nước xanh cải tiến, lượng thức ăn cần để sản xuất 1 triệu tôm bột có thể chỉ cần khoảng 20

kg thức ăn chế biến dạng ẩm và 2÷4 kg trứng Artemia (Hải và ctv, 2002)

Bảng 1.4 Công thức thức ăn chế biến cho ấu trùng tôm

(Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2003)

Bảng 1.5 Kích cỡ thức ăn cho các giai đoạn ấu trùng (Ang, 1995)

Trang 33

- Quản lý môi trường nước ương ấu trùng

Tùy từng qui trình ương nuôi ấu trùng khác nhau mà các phương pháp quản lý nước cũng rất khác nhau (AQUACOP, 1983; New và Shingholka, 1985; Ang, 1995; Thắng, 1995; Correia và ctv, 2000; Valenti và Daniels, 2000; New, 2002; Phương và ctv, 2003)

+ Thay nước và hút cặn

Đối với mô hình nước trong-hở, cần thay nước bể ương hàng ngày 30÷50% tùy giai đoạn bằng nước trong sạch Hàng ngày, cần hút cặn đáy bể sau khi cho tôm

ăn và trước khi thay nước Cần chú ý nhiệt độ, độ mặn giữa nước cấp và nước trong

bể ương, tránh chênh lệch lớn sẽ ảnh hưởng đến ấu trùng

Đối với hệ thống nước trong-tuần hoàn, từ ngày thứ 4 sau khi ương ấu trùng, nên cho nước luân chuyển giữa bể ương và bể lọc sinh học Tỷ lệ nước luân chuyển khoảng 100÷400% thể tích bể ương/ngày Hệ thống bể ương cần được hút cặn 2 lần mỗi ngày

Trong qui trình nước xanh, phải thay nước mới thường xuyên, nhất là khi nước dơ hay khi tảo tàn Sau đó, bổ sung tảo mới Trong quá trình nuôi cũng thường xuyên hút cặn để loại bỏ tảo chết và lắng ở đáy bể

Đối với qui trình nước xanh cải tiến, cơ bản, không phải thay nước, thêm tảo hay hút cặn trong suốt thời gian ương Điều này sẽ không làm xáo động đáy bể, để tảo đáy phát triển sẽ có vai trò như lọc sinh học

Mức nước bể ương nên duy trì 0,8÷1m đối với hệ thống nước trong hở

và nước trong tuần hoàn; và 0,6÷0,7m đối với hệ thống nước xanh và nước xanh cải tiến

+ Quản lý các yếu tố môi trường nước

Nhiệt độ nước là yếu tố quan trọng cần được quản lý tốt trong phạm vi 26÷31oC Vào ban đêm, mùa lạnh hay mùa mưa nhiều, trại nên được giữ kín

Bố trí các dụng cụ nâng nhiệt bằng điện hay nước nóng cho bể ương Ban ngày hay mùa nóng, cần giữ trại thoáng và mái nhà không được làm hoàn

Trang 34

toàn bằng tôn trong suốt Cần theo dõi nhiệt độ hàng ngày lúc sáng và chiều

để kịp thời xử lý

Độ mặn nước ương nên được duy trì trong phạm vi 12±2‰ Trong quá trình thay nước, nhất là đối với qui trình nước trong hở thì cần phải thận trọng, tránh nước mới có độ mặn chênh lệch lớn với nước ương làm sốc ấu trùng Đối với mô hình nước xanh cải tiến và mô hình nước trong tuần hoàn

do không thay nước, vì thế độ mặn có thể tăng cao dần và vượt 14‰ về cuối chu kỳ ương, nhất là vào những tháng nóng Trường hợp này cần phải cấp thêm nước ngọt để điều chỉnh độ mặn xuống 10÷12‰

Nước bể ương ấu trùng nên có pH trong khoảng 7÷8,5 pH không nên vượt quá 9 Trong qui trình nước xanh và nước xanh cải tiến, khi mật độ tảo quá cao có thể ảnh hưởng đến biến động lớn pH trong ngày Cần sục khí mạnh hay thay bớt nước khi nước quá xanh

Ánh sáng cần thiết cho sự phát triển của ấu trùng tôm càng xanh Tuy nhiên, không nên ương ấu trùng dưới ánh nắng trực tiếp Đối với hệ thống nước trong, chỉ cần ánh sáng yếu, nhưng đối với mô hình nước xanh và nước xanh cải tiến cần ánh sánh mạnh hơn cho tảo phát triển Cường độ ánh sáng thích hợp là 6.000÷18.000 lux, chu kỳ chiếu sáng hàng ngày 10÷12 giờ Mái che có các tấm tôn sáng và tối xen kẽ nhau sẽ thích hợp cho ương ấu trùng

Oxy nên được duy trì trên 5 mg/l, tốt nhất là gần đạt mức bảo hòa Trung bình, mỗi 1 m3 bể ương cần khoảng 4 viên đá bọt với tốc độ thổi khí vừa phải, vừa đảm bảo oxy, vừa giải phóng khí độc, vừa giúp phân bố ấu trùng và Artemia đều trong bể

Thường xuyên theo dõi các yếu tố đạm hàng ngày và đảm bảo nitrite dưới 0,1 mg/l, nitrate dưới 20 mg/l, đạm a-môn (N-NH4+) dưới 1,5 mg/l, N-

NH3 dưới 0,1 mg/l Đối với mô hình nước trong-hở, thay nước mỗi ngày là biện pháp giữ nước ương sạch Đối với mô hình nước trong-tuần hoàn, bể lọc sinh học hoạt động tốt sẽ ổn định được hàm lượng đạm trong phạm vi thích hợp Trong mô hình nước xanh cải tiến, tảo và các vi khuẩn phát triển trong

Trang 35

nước, trên vỏ Artemia và trên thành bể sẽ là yếu tố quan trọng trong việc hấp thu và tự ổn định nồng độ đạm

Trong qui trình nước xanh cải tiến, sau khi bổ sung tảo vào bể ương với mật độ khoảng 0,5÷1 triệu tế bào/ml, cơ bản không phải bổ sung thêm tảo trong suốt thời gian ương Tảo phát triển tự nhiên trong bể trong thời gian ương nuôi và có thể đạt đến 5÷10 triệu tế bào/ml và duy trì màu xanh đến cuối chu kỳ ương Tuy nhiên, cũng có trường hợp tảo Chlorella sẽ suy tàn, đồng thời tảo Khuê sẽ phát triển, vì thế màu nước xanh sẽ dần chuyển thành màu vàng nâu Cũng có trường hợp, sau khi tảo Chlorella suy tàn thì hệ tảo đáy sẽ phát triển Tuy nhiên, dù tảo Chlorella, tảo Khuê hay tảo đáy phát triển, chúng cũng có vai trò quan trọng như là một hệ thống lọc sinh học

1.1.7.5 Yêu cầu về môi trường sống của ấu trùng

- Nhiệt độ:

Theo Nguyễn Thanh Phương và cs (2003), nhiệt độ thích hợp cho hầu

hết các giai đoạn của tôm dao động trong khoảng 26÷310C, tốt nhất là 28÷300C; Nhiệt độ thấp dưới 13 0

C hay trên 38 0C đều gây chết tôm; Khi nhiệt độ ngoài khoảng 22÷330C hoạt động, sinh trưởng và sinh sản của tôm sẽ

bị suy giảm Nhiệt độ cao sẽ làm cho tôm sớm thành thục

- pH:

pH có ảnh hưởng rất lớn đến ấu trùng, nếu pH tăng cao hoặc hạ thấp đều kéo theo sự gia tăng của các khí độc Mức pH tối ưu cho ấu trùng tôm càng xanh nằm trong khoảng 7,0÷8,5 (Nguyễn Thanh Phương và cs, 2003)

- Độ mặn:

Theo Nguyễn Thanh Phương và cs (2003) giai đoạn ấu trùng cần độ mặn 6÷16‰, tốt nhất là 10÷12‰; Các giai đoạn tôm lớn hơn cần độ mặn thấp dưới 6‰ Tôm lớn cần sống trong nước ngọt để sinh trưởng tốt nhất Tuy nhiên, chúng có thể chịu được độ mặn đến 25‰; Ở độ mặn 30‰ hay trên 30‰ tôm giống chết rất nhanh do quá trình áp suất thẩm thấu bị phá vỡ hoàn toàn; Khả năng chịu đựng độ mặn của tôm còn tùy thuộc vào nhiệt độ nước;

Trang 36

Ở độ mặn 2÷3‰ tôm lớn tương đối nhanh hơn so với ở 0‰ và nhanh hơn nhiều so với 15‰; Trong nuôi tôm, độ mặn tốt nhất không quá 10‰ (Nguyễn

Thanh Phương và cv., 2003)

- Ánh sáng:

Vừa phải, cường độ thích hợp nhất là 400 lux Ánh sáng cao sẽ ức chế hoạt động của tôm, do vậy ban ngày có ánh sáng cao tôm xuống đáy thủy vực trú ẩn, ban đêm hoạt động tìm mồi tích cực Tôm không ưa ánh sáng có cường độ cao nhưng lại có tính hướng quang vào ban đêm, khi có luồng sáng thì tôm

sẽ tập trung lại, tôm lớn có tính hướng quang kém hơn tôm nhỏ

- Oxy:

Nhu cầu oxy của tôm tùy thuộc vào nhiều yếu tố như giai đoạn của tôm, nhiệt độ, độ mặn, đối với tôm con, oxy tối thiểu phải trên 2,1 mg/l ở nhiệt độ 230C, trên 2,9 mg/l ở 28 0C và 4,7 mg/l ở 33 0C, tôm lớn cần nhiều oxy hơn tôm nhỏ Trong sản xuất giống, oxy được duy trì trên 5 mg/l

(Nguyễn Thanh Phương và cs., 2003)

- Độ cứng nước:

Tôm cần các loại chất khoáng như canxi, magie cho quá trình hình thành vỏ mới và lột xác Tuy nhiên khi độ cứng của nước cao hơn 30ppm sẽ làm cho tôm chậm lớn, dễ bệnh do nguyên sinh động vật bám, bệnh mềm vỏ Độ cứng nước thích hợp cho ương ấu trùng trong khoảng 50÷150ppm Đối với ấu trùng, độ cứng thích hợp dưới 50ppm có thể gây hiện tượng mềm vỏ

(Nguyễn Thanh Phương và cs., 2003)

- Đạm:

Dạng đạm đầu tiên được bài tiết ra bởi tôm và các loại giáp xác nói chung là amonia vốn rất độc Thông qua quá trình chuyển hóa của vi khuẩn, amonia sẽ chuyển thành dạng nitrite cũng độc cho tôm, sau đó được chuyển thành dạng đạm nitrate không độc Tùy theo pH và nhiệt độ, amonia sẽ tồn tại nhiều hay ít dưới dạng khí NH3 Nồng độ NH3 tăng khi pH và nhiệt độ cùng

Trang 37

tăng Trong sản xuất giống, hàm lượng đạm nên được duy trì ở mức dưới 0,1 mg/lít đối với đạm nitrite và dưới 1 mg/lít đối với đạm amon

- Nồng độ NH 3 và NO 2:

Các hợp chất nitơ hoà tan trong nước như NH3 và NO2 là các thông số đánh giá chất lượng nước rất quan trọng trong nuôi trồng thủy sản nói chung

và ương ấu trùng tôm càng xanh nói riêng

Chất lượng nước trong bể ương rất dễ bị biến đổi do sản phẩm bài tiết của ấu trùng, Artemia và do sự phân hủy của thức ăn thừa Một vài biến đổi rất có hại cho ấu trùng, nguy hiểm nhất là sự tăng amonia chưa ion hoá (NH3), chất này làm tăng pH và nitrite

Ngưỡng sinh lý của một số hợp chất nitơ đối với ấu trùng tôm càng xanh trong môi trường ương: NH4+ là 0,005÷1 mg/lít, NO2 là 0,002÷0,350 mg/lít,

NO3 là 0,5÷3,5 mg/lít Không nên lấy nước có hàm lượng nitrite và nitrate cao hơn 0,1 ppm (Nguyễn Thị Thanh Thủy, 2002)

1.1.7.6 Các ưu và khuyết điểm của các qui trình ương tôm càng xanh

Trong lịch sử sản xuất giống tôm càng xanh, có ba hệ thống nuôi thường áp dụng trên thế giới, đó là hệ thống nước trong hở, hệ thống nước trong kín và hệ thống nước xanh Hệ thống “nước xanh cải tiến” còn tương đối mới nhưng cũng cho thấy rất triển vọng Mỗi hệ thống những thuận lợi và khó khăn riêng

- Ương tôm càng xanh theo hệ thống nước trong hở (open-water system)

Qui trình nước trong hở được khởi xướng đầu tiên bởi Ling năm 1969

và được hoàn thiện bởi Aquacop từ năm 1977 (Nguyễn Thanh Phương

và cs., 2003) Qui trình này được ứng dụng rộng rãi ở nhiều nước Đây cũng

là qui trình được ứng dụng chủ yếu ở nước ta trước đây Nguyên tắc của qui trình này là đảm bảo môi trường nước luôn trong sạch bằng cách thay nước hàng ngày Đặc điểm quan trọng của qui trình này là ương với mật độ cao, nước được thay và hút cặn hằng ngày Ưu điểm của qui trình này là cho năng

Trang 38

suất rất cao nhưng tốn nhiều nước biển để thay nước, do đó cần phải đặt ở những nơi gần biển Hơn nữa cũng tốn nhiều công lao động và chi phí khác

- Ương tôm càng xanh trong hệ thống nước trong kín (close-water system)

Qui trình này do một số tác giả như Sanditer (1977), Menasveta (1980), Singholka (1980) nghiên cứu và căn bản được hoàn chỉnh đưa vào sản xuất

đại trà năm 1984 (Nguyễn Thanh Phương vàcsv., (2003) Hiện nay hệ thống

này được ứng dụng ở nhiều nơi Nguyên tắc hoạt động của quy trình này là ổn định môi trường nước ương nhờ hệ thống lọc sinh học Đặc điểm cơ bản của

hệ thống này là dùng bể lọc sinh học để lọc nước thải ra từ bể ương và tái sử dụng Ưu điểm của qui trình là đơn giản khi vận hành, tiết kiệm được nước và lao động nhưng quy trình đòi hỏi kỹ thuật cao, đầu tư lớn, thiết bị phải đồng bộ, phức tạp khi lắp đặt, khi xảy ra sư cố khó xử lý, ví dụ như khi bệnh xuất hiện một bể trong hệ thống lọc sinh học sẽ dễ lây sang các bể khác trong cùng một hệ thống lọc do đó phải kiểm soát dịch trong toàn hệ thống lọc và chấp nhận rủi ro cho cả hệ thống

- Ương tôm càng xanh trong hệ thống nước xanh (Green water system)

Qui trình này được bắt đầu áp dụng từ năm 1966 do Fujimura khởi

xướng và đã hoàn thiện năm 1974 (Nguyễn Thanh Phương và cs., 2003) Qui

trình này đã được ứng dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia Nguyên tắc của quy trình này là dùng tảo để ổn định môi trường nước ương Đặc điểm chính của

quy trình này là phải thường xuyên bổ xung tảo Chlorella thuần vào bể ương

để duy trì màu nước xanh trong bể Ưu điểm là hạn chế thay nước so với mô hình nước trong hở, môi trường nước ổn định nhờ có tảo, nhưng qui trình này ương với mật độ thấp hơn quy trình nước trong, kỹ thuật gây nuôi tảo thuần khá tốn kém Tảo thuần cho vào bể ương thường không bền và phải bổ sung liên tục

- Ương tôm càng xanh trong hệ thống nước xanh cải tiến (modifier

static green water system)

Trang 39

Qui trình nước xanh cải tiến được Ang đề xướng năm 1986 trên cơ sở cải tiến mô hình nước xanh cải tiến trước đó (Nguyễn Thanh Phương

và cs., 2003) Nguyên tắc của quy trình này là cho phép vi sinh vật và tảo phát triển tự nhiên trong bể ương để tự ổn định môi trường nước Vỏ Artemia được

cho trực tiếp để làm giá thể cho các vi sinh vật phát triển Ưu điểm quan trọng nhất của qui trình là không phải thay nước, không siphon, không vệ sinh bể, không bổ sung thêm tảo trong suốt quá trình ương (tảo chỉ cho vào bể ương một lần đầu trước khi thả ấu trùng), hệ thống đơn giản, chi phí thấp, dễ áp dụng cho nhiều đối tượng và nhiều nơi kể cả những nơi xa biển, đặc biệt quy trình này có thể áp dụng với quy mô nông hộ

1.2 Sơ lược về lịch sử phát triển nuôi của tôm càng xanh

1.2.1 Sơ lược về lịch sử phát triển nuôi của tôm càng xanh trên thế giới

Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy tôm càng xanh phân bố ở tất cả các thủy vực nước ngọt (đầm, hồ, ao, sông) và các thủy vực nước lợ của nhiều vùng trên thế giới (Nguyễn Việt Thắng, 2003) Môi trường sống của tôm càng xanh đa dạng trong thủy vực nước trong cũng như nước đục (FAO, 1985) Tôm càng xanh phân bố chủ yếu ở Đông Nam Á và một khu vực khá hẹp của Đông Bắc Á, giới hạn từ Ấn Độ đến phía Đông của Úc và đảo Solomon (Arrigon, 1994) như: Thái Lan (De Man, 1879; Lanchester, 1879; Rabanal và Soesaton, 1985), Ấn Độ (Hurbest, 1792; Rabanal và Soesaton, 198), Miến Điện (Handerson, 1893), Singapore, Nhật Bản (Vonmartens 1868), Hồng Kông (Thomson,1937), Philippine, (Castro De Elera, 1895), Indonesia (De Man,1879), Australia (J Roux, 1933) và Việt Nam (Rabanal và Soesaton, 1985) và khu vực Tây Nam Thái Bình Dương, chủ yếu ở các khu vực từ châu

Úc đến New Guinea (Nguyễn Việt Thắng, 2003)

Ling (1969) đã phát hiện ra đặc điểm sinh thái và sinh sản của tôm càng xanh; Ling làm thí nghiệm ở Penany (Malaysia) đã thành công trong việc sản xuất giống tôm càng xanh, khép kín chu trình sản xuất giống từ ấu trùng lên trưởng thành, kết quả thu được rất khả quan nhờ sự khám phá ra là trong giai

Ngày đăng: 16/09/2021, 16:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Đức Can (1987), Tình hình nuôi tôm càng xanh ở Việt Nam và kỹ thuật nuôi tôm từ giống tự nhiên. Tóm tắt công trình nghiên cứu KH kỷ niệm 10 năm thành lập Viện NTTS II 1979-1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Tình hình nuôi tôm càng xanh ở Việt Nam và kỹ thuật nuôi tôm từ giống tự nhiên
Tác giả: Trần Đức Can
Năm: 1987
3. Phan Hữu Đức và Đoàn Văn Tiến (1985), Một vài đặc điểm sinh học tôm càng xanh ở Đồng bằng Nam Bộ. Báo cáo tổng kết 5 năm nghiên cứu của Viện NCNTTS II (1981-1985) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài đặc điểm sinh học tôm càng xanh ở Đồng bằng Nam Bộ
Tác giả: Phan Hữu Đức và Đoàn Văn Tiến
Năm: 1985
4. Phan Hữu Đức và Đoàn Văn Tiến (1989), Đặc điểm hình thái, sinh học và tiềm năng khai thác tôm càng xanh. Tóm tắt công trình nghiên cứu KH kỷ niệm 10 năm thành lập Viện NCNTTS II Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm hình thái, sinh học và tiềm năng khai thác tôm càng xanh
Tác giả: Phan Hữu Đức và Đoàn Văn Tiến
Năm: 1989
5. Trần Ngọc Hải, Nguyễn Thanh Phương, Trương Ngọc Nghĩa (1999), Bài giảng kỹ thuật sản xuất giống thủy sản nước lợ. Trường ĐH Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng kỹ thuật sản xuất giống thủy sản nước lợ
Tác giả: Trần Ngọc Hải, Nguyễn Thanh Phương, Trương Ngọc Nghĩa
Năm: 1999
6. Nguyễn Thanh Phương, Trần Ngọc Hải, Trần Thị Thanh Hiền và Marcy N, Wilder (2003), Nguyên lý kỹ thuật sản xuất giống tôm càng xanh.NXB Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên lý kỹ thuật sản xuất giống tôm càng xanh
Tác giả: Nguyễn Thanh Phương, Trần Ngọc Hải, Trần Thị Thanh Hiền và Marcy N, Wilder
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2003
7. Nguyễn Bá Quốc (2007), Thực nghiệm nuôi tôm càng xanh với mật độ khác nhau trong ruộng lúa luân canh tại huyện Tam Nông tỉnh Đồng Tháp. Khoa Thủy sản-Trường ĐH Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực nghiệm nuôi tôm càng xanh với mật độ khác nhau trong ruộng lúa luân canh tại huyện Tam Nông tỉnh Đồng Tháp
Tác giả: Nguyễn Bá Quốc
Năm: 2007
8. Nguyễn Thị Thanh (2004), Bài giảng quản lý chất lượng nước trong ao NTTS, Khoa Nông – Lâm – Ngư, Trường ĐH Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng quản lý chất lượng nước trong ao NTTS
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh
Năm: 2004
9. Phạm Văn Tình (2004), Kỹ thuật nuôi tôm càng xanh. NXB Nông Nghiệp, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi tôm càng xanh
Tác giả: Phạm Văn Tình
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2004
10. Nguyễn Việt Thắng (1993), Một số đặc điểm sinh học và ứng dụng quy trình sản xuất giống tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) ở đồng bằng Nam Bộ. Luận án PTS Nông Nghiệp, Trường ĐH Thủy sản Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm sinh học và ứng dụng quy trình sản xuất giống tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) ở đồng bằng Nam Bộ
Tác giả: Nguyễn Việt Thắng
Năm: 1993
11. Nguyễn Việt Thắng (1989), Kết quả nghiên cứu sản xuất giống tôm càng xanh giống. Sinh học tôm và kỹ thuật nuôi tôm ở Việt Nam. NXB Nông Nghiệp, Tạp chí Thủy sản, 1988 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh học tôm và kỹ thuật nuôi tôm ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Việt Thắng
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 1989
12. Nguyễn Thị Thanh Thủy (2002), Kỹ thuật sản xuất giống tôm càng xanh. Viện Hải dương học Nha Trang. NXB Nông Nghiệp TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật sản xuất giống tôm càng xanh
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Thủy
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp TP.HCM
Năm: 2002
13. Nguyễn Thức Tuấn, Bài giảng kỹ thuật nuôi giáp xác, Khoa Nông Lâm Ngư, Trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng kỹ thuật nuôi giáp xác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2. Cấu tạo tôm càng xanh (Foster và Wickins,1972) - Ảnh hưởng của mật độ và thức ăn đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh (macrobrachium rosenbergii) nuôi tại trung tâm quốc gia giống thủy sản nước ngọt nam bộ
Hình 1.2. Cấu tạo tôm càng xanh (Foster và Wickins,1972) (Trang 14)
Các phụ bộ có hình dạng, kích cỡ và chức năng khác nhau với hai đôi râu có chức năng xúc giác, một đôi hàm lớn, hai đôi hàm nhỏ và ba đôi chân  hàm có chức năng giữ và nghiền mồi, năm đôi chân ngực có chức năng để bò,  năm đôi chân bụng để bơi và một đ - Ảnh hưởng của mật độ và thức ăn đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh (macrobrachium rosenbergii) nuôi tại trung tâm quốc gia giống thủy sản nước ngọt nam bộ
c phụ bộ có hình dạng, kích cỡ và chức năng khác nhau với hai đôi râu có chức năng xúc giác, một đôi hàm lớn, hai đôi hàm nhỏ và ba đôi chân hàm có chức năng giữ và nghiền mồi, năm đôi chân ngực có chức năng để bò, năm đôi chân bụng để bơi và một đ (Trang 15)
Hình 1.4. Đặc điểm các giai đoạn ấu trùng của tôm cành xanh (Nguồn: www.fao.org/DOCREP/005/Y4100E/y4100e11.htm)  - Ảnh hưởng của mật độ và thức ăn đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh (macrobrachium rosenbergii) nuôi tại trung tâm quốc gia giống thủy sản nước ngọt nam bộ
Hình 1.4. Đặc điểm các giai đoạn ấu trùng của tôm cành xanh (Nguồn: www.fao.org/DOCREP/005/Y4100E/y4100e11.htm) (Trang 28)
Giai đoạn hậu ấu trùng (PL), tôm có hình dạng và tập tính sống giống như tôm lớn. Chúng bắt đầu sống đáy, bám vào nền, vật bám hay cây cỏ - Ảnh hưởng của mật độ và thức ăn đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh (macrobrachium rosenbergii) nuôi tại trung tâm quốc gia giống thủy sản nước ngọt nam bộ
iai đoạn hậu ấu trùng (PL), tôm có hình dạng và tập tính sống giống như tôm lớn. Chúng bắt đầu sống đáy, bám vào nền, vật bám hay cây cỏ (Trang 29)
Các kết quả thu được trên Bảng 3.3. và Hình 3.1 cho thấy, tại CTTĂ1 tỷ lệ sống của ấu trùng ở các mật độ khác nhau là khác nhau, trong 3 mật độ  thì MĐ1 có tỷ lệ sống của ấu trùng cao nhất (50,62 %), hai mật độ còn lại có  tỷ lệ sống của ấu trùng  - Ảnh hưởng của mật độ và thức ăn đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh (macrobrachium rosenbergii) nuôi tại trung tâm quốc gia giống thủy sản nước ngọt nam bộ
c kết quả thu được trên Bảng 3.3. và Hình 3.1 cho thấy, tại CTTĂ1 tỷ lệ sống của ấu trùng ở các mật độ khác nhau là khác nhau, trong 3 mật độ thì MĐ1 có tỷ lệ sống của ấu trùng cao nhất (50,62 %), hai mật độ còn lại có tỷ lệ sống của ấu trùng (Trang 54)
Hình 3.1. Ảnh hưởng của mật độ tại CTTĂ1 lên tỷ lệ sống của ấu trùng tôm càng xanh  - Ảnh hưởng của mật độ và thức ăn đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh (macrobrachium rosenbergii) nuôi tại trung tâm quốc gia giống thủy sản nước ngọt nam bộ
Hình 3.1. Ảnh hưởng của mật độ tại CTTĂ1 lên tỷ lệ sống của ấu trùng tôm càng xanh (Trang 54)
Hình 3.2. Ảnh hưởng của mật độ tại CTTĂ1 lên thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh  - Ảnh hưởng của mật độ và thức ăn đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh (macrobrachium rosenbergii) nuôi tại trung tâm quốc gia giống thủy sản nước ngọt nam bộ
Hình 3.2. Ảnh hưởng của mật độ tại CTTĂ1 lên thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh (Trang 55)
Hình 3.3. Ảnh hưởng của mật độ tại CTTĂ2 lên tỷ lệ sống của ấu trùng tôm càng xanh  - Ảnh hưởng của mật độ và thức ăn đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh (macrobrachium rosenbergii) nuôi tại trung tâm quốc gia giống thủy sản nước ngọt nam bộ
Hình 3.3. Ảnh hưởng của mật độ tại CTTĂ2 lên tỷ lệ sống của ấu trùng tôm càng xanh (Trang 56)
Hình 3.4. Ảnh hưởng của mật độ tại CTTĂ2 lên thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh  - Ảnh hưởng của mật độ và thức ăn đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh (macrobrachium rosenbergii) nuôi tại trung tâm quốc gia giống thủy sản nước ngọt nam bộ
Hình 3.4. Ảnh hưởng của mật độ tại CTTĂ2 lên thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh (Trang 58)
Qua các kết quả thu được trên Bảng 3.7 và Hình 3.5 cho ta thấy, khi ương  nuôi  ấu  trùng  tôm  càng  xanh  MĐ1  sử  dụng  hai  CTTĂ  khác  nhau:  Ở  cuối các giai đoạn ngày chuyển post và ngày kết thúc chuyển post thì CTTĂ2  đều cho tỷ lệ sống cao hơn - Ảnh hưởng của mật độ và thức ăn đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh (macrobrachium rosenbergii) nuôi tại trung tâm quốc gia giống thủy sản nước ngọt nam bộ
ua các kết quả thu được trên Bảng 3.7 và Hình 3.5 cho ta thấy, khi ương nuôi ấu trùng tôm càng xanh MĐ1 sử dụng hai CTTĂ khác nhau: Ở cuối các giai đoạn ngày chuyển post và ngày kết thúc chuyển post thì CTTĂ2 đều cho tỷ lệ sống cao hơn (Trang 59)
3.3.2. Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống và thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh tại mật độ 2 - Ảnh hưởng của mật độ và thức ăn đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh (macrobrachium rosenbergii) nuôi tại trung tâm quốc gia giống thủy sản nước ngọt nam bộ
3.3.2. Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống và thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh tại mật độ 2 (Trang 60)
Hình 3.7. Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống của ấu trùng tôm càng xanh tại MĐ2  - Ảnh hưởng của mật độ và thức ăn đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh (macrobrachium rosenbergii) nuôi tại trung tâm quốc gia giống thủy sản nước ngọt nam bộ
Hình 3.7. Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống của ấu trùng tôm càng xanh tại MĐ2 (Trang 61)
Hình 3.8. Ảnh hưởng của thức ăn đến thời gian biến tháicủa ấu trùng tôm càng xanh tại mật độ 2  - Ảnh hưởng của mật độ và thức ăn đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh (macrobrachium rosenbergii) nuôi tại trung tâm quốc gia giống thủy sản nước ngọt nam bộ
Hình 3.8. Ảnh hưởng của thức ăn đến thời gian biến tháicủa ấu trùng tôm càng xanh tại mật độ 2 (Trang 62)
Qua các kết quả thu được trên Bảng 3.11 và Hình 3.9, với CTTĂ2 tỷ lệ sống của ấu trùng cao hơn so với tỷ lệ sống của ấu trùng ở CTTĂ1 (CTTĂ1:  38,81%, CTTĂ2: 45,06%) - Ảnh hưởng của mật độ và thức ăn đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh (macrobrachium rosenbergii) nuôi tại trung tâm quốc gia giống thủy sản nước ngọt nam bộ
ua các kết quả thu được trên Bảng 3.11 và Hình 3.9, với CTTĂ2 tỷ lệ sống của ấu trùng cao hơn so với tỷ lệ sống của ấu trùng ở CTTĂ1 (CTTĂ1: 38,81%, CTTĂ2: 45,06%) (Trang 63)
Hình 3.10. Ảnh hưởng của thức ăn đến thời gian biến tháicủa ấu trùng tôm càng xanh tại MĐ3  - Ảnh hưởng của mật độ và thức ăn đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh (macrobrachium rosenbergii) nuôi tại trung tâm quốc gia giống thủy sản nước ngọt nam bộ
Hình 3.10. Ảnh hưởng của thức ăn đến thời gian biến tháicủa ấu trùng tôm càng xanh tại MĐ3 (Trang 64)
Qua các kết quả thu được trên Bảng 3.12 và Hình 3.10 với CTTĂ2 thời gian biến thái của ấu trùng ngắn hơn so với thời gian biến thái của ấu trùng ở  CTTĂ1 (CTTĂ1: 31,33 ngày, CTTĂ2: 28,67 ngày) - Ảnh hưởng của mật độ và thức ăn đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh (macrobrachium rosenbergii) nuôi tại trung tâm quốc gia giống thủy sản nước ngọt nam bộ
ua các kết quả thu được trên Bảng 3.12 và Hình 3.10 với CTTĂ2 thời gian biến thái của ấu trùng ngắn hơn so với thời gian biến thái của ấu trùng ở CTTĂ1 (CTTĂ1: 31,33 ngày, CTTĂ2: 28,67 ngày) (Trang 64)
Các kết quả thu được trên Bảng 3.13 và Hình 3.11 cho thấy, khi sử dụng CTTĂ1 và  CTTĂ2   phối hợp với các  mật độ ương nuôi khác nhau thì có ảnh  hưởng khác nhau lên tỷ lệ sống và thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh - Ảnh hưởng của mật độ và thức ăn đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh (macrobrachium rosenbergii) nuôi tại trung tâm quốc gia giống thủy sản nước ngọt nam bộ
c kết quả thu được trên Bảng 3.13 và Hình 3.11 cho thấy, khi sử dụng CTTĂ1 và CTTĂ2 phối hợp với các mật độ ương nuôi khác nhau thì có ảnh hưởng khác nhau lên tỷ lệ sống và thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh (Trang 65)
Hình 3.11. Ảnh hưởng của công thức thức ăn và mật độ lên tỷ lệ sống của ấu trùng tôm càng xanh  - Ảnh hưởng của mật độ và thức ăn đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh (macrobrachium rosenbergii) nuôi tại trung tâm quốc gia giống thủy sản nước ngọt nam bộ
Hình 3.11. Ảnh hưởng của công thức thức ăn và mật độ lên tỷ lệ sống của ấu trùng tôm càng xanh (Trang 66)
Hình 3.12. Ảnh hưởng của công thức thức ăn và mật độ lên thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh  - Ảnh hưởng của mật độ và thức ăn đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh (macrobrachium rosenbergii) nuôi tại trung tâm quốc gia giống thủy sản nước ngọt nam bộ
Hình 3.12. Ảnh hưởng của công thức thức ăn và mật độ lên thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh (Trang 67)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w