1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của mật độ đến thời gian biến thái và tỷ lệ sống của ấu trùng tôm thẻ chân trắng (penaeus vannamei) giai đoạn mysis tại công ty tnhh thông thuận tuy phong bình thuận

64 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh Hưởng Của Mật Độ Đến Thời Gian Biến Thái Và Tỷ Lệ Sống Của Ấu Trùng Tôm Thẻ Chân Trắng (Penaeus Vannamei) Giai Đoạn Mysis
Tác giả Nguyễn Thị Thảo
Người hướng dẫn Cô Trương Thị Thành Vinh, Kỹ Sư Lê Hoài Phương
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Kỹ Sư Nuôi Trồng Thủy Sản
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2012
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH NGUYỄN THỊ THẢO NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ ĐẾN THỜI GIAN BIẾN THÁI VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA ẤU TRÙNG TÔM THẺ CHÂN TRẮNG Penaeus vannamei GIAI

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ THẢO

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ ĐẾN THỜI GIAN BIẾN THÁI VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA ẤU

TRÙNG TÔM THẺ CHÂN TRẮNG (Penaeus vannamei)

GIAI ĐOẠN MYSIS TẠI CÔNG TY TNHH THÔNG

THUẬN – TUY PHONG – BÌNH THUẬN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KỸ SƯ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

VINH - 2012

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành đề tài tốt nghiệp này, trong quá trình học tập và thực hiện đề tài tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ của quý báu Với tất cả sự trân trọng và lòng chân thành tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:

Quý thầy cô giáo trong khoa Nông Lâm Ngư đã cung cấp cho tôi những kiến thức cơ bản trong thời gian qua, đặc biệt là cô Trương Thị Thành Vinh, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi với tất cả tinh thần trách nhiệm và lòng nhiệt huyết từ khâu định hướng chọn đề tài đến quá trình thực hiện nghiên cứu và viết khóa luận

Và kỹ sư Lê Hoài Phương người đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi trong việc thực hiện nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn các anh chị tại Công ty TNHH Thông Thuận, Vĩnh Tân - Tuy Phong - Bình Thuận, cùng bạn bè đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập tại công ty

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn gia đình, người thân và bạn bè

đã động viên giúp đỡ tôi về mặt tinh thần cũng như vật chất trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn !

Vinh, tháng 4 năm 2012

Nguyễn Thị Thảo

Trang 3

MỤC LỤC

Trang 5

MỞ ĐẦU

Ngành nuôi trồng thủy sản của nước ta đang ngày càng phát triển mạnh

và trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của quốc gia, ngành không chỉ mang lại nguồn thu ngoại tệ lớn cho đất nước nhờ xuất khẩu mà còn góp phần đáng kể vào công tác xóa đói giảm nghèo, làm thay đổi đời sống và điều kiện kinh tế của cộng đồng dân cư các vùng miền núi và ven biển

Tôm thẻ (Penaeidae) là nhóm đối tượng nuôi chiếm tỷ lệ khá lớn trong thành phần loài các đối tượng thuỷ sản nuôi hiện nay Theo thống kê của FAO (2004), trên thế giới có khoảng 343 loài tôm có giá trị kinh tế, trong đó có 110 loài thuộc họ tôm thẻ Hiện nay có khoảng 50 loài giáp xác có giá trị thương phẩm đang dược nuôi ở hơn 70 quốc gia và chỉ có khoảng 20 loài giáp xác được xem là đối tượng nuôi chính, trong đố là các loài thuộc họ Penaeidae chiếm tỷ trọng cao cả về sản lượng lẫn giá trị

Trong những năm gần đây tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei) là

loài được nuôi rộng khắp ở nhiều vùng trên thế giới Tôm thẻ chân trắng có nhiều ưu điểm như: tốc độ tăng trưởng nhanh, chu kỳ nuôi ngắn và có sức chịu đựng tốt với các biến động môi trường Thực tế sản xuất hiện nay cho thấy, do tốc độ nghề nuôi tôm thương phẩm phát triển rất nhanh, nên yêu cầu về số lượng con giống hàng năm cũng tăng lên đáng kể

Trước nhu cầu cấp thiết đó, hàng loạt trại sản xuất giống tôm đã ra đời nhằm cung cấp con giống cho thị trường.Nhưng để tạo ra được con giống tốt, tỷ lệ sống cao, hạn chế xẩy ra dịch bệnh, thời gian biến thái ngắn, thu được lợi nhuận cao thì việc tìm ra mật độ ương nuôi phù hợp với từng giai đoạn phát triển của ấu trùng là một trong những khâu quan trọng, quyết định sự thành bại của sản xuất và góp phần xây dựng quy trình sản xuất giống nhân tạo tôm thẻ ở nước ta ngày càng hoàn thiện hơn

Mật độ ương có quan hệ chặt chẽ tới kỹ thuật ương, thể tích ương, thể tích nuôi và chất lượng con giống mật độ quá cao hay quá thấp đều không tốt Mật độ thấp sẽ lãng phí thức ăn, công chăm sóc, ngược lại mật độ cao thì

Trang 6

ấu trùng phát triển chậm, khó quản lý môi trường do thức ăn và chất thải, dẫn đến kéo dài thời gian biến thái và ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ sống của ấu trùng

Xuất phát từ vấn đề trên, nhằm mục đích tìm hiểu quy trình sản xuất giống tôm he chân trắng trong điều kiện Việt Nam, được sự phân công của

khoa Nông- Lâm-Ngư, Trường Đại học Vinh tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên

cứu ảnh hưởng của mật độ đến thời gian biến thái và tỷ lệ sống của ấu

trùng tôm thẻ chân trăng (Penaeus vannamei) giai đoạn Mysis tại cônh ty TNHH Thông Thuận – Tuy Phong – Bình Thuận”

Mục tiêu của đề tài:

Xác định mật độ ương nuôi phù hợp nhằm rút ngắn thời gian biến thái

và nâng cao tỷ lệ sống trong quá trình ương nuôi ấu trùng Mysis tôm thẻ chân

trắng (Penaeus vannamei) tại công ty TNHH Thông Thuận - Vĩnh Tân - Tuy

Phong - Bình Thuận góp phần hoàn thiện quy trình sản xuất giống đối tượng này tại đây

Trang 7

Loài : Penaeus vannamei Boone, 1931

Hình 1.1: Tôm thẻ Chân Trắng (Penaeus vannamei)

Tên tiếng Anh: white leg shrimp

Tên địa phương: tôm he, tôm thẻ chân trắng

1.1.2 Đặc điểm phân bố

Tôm thẻ chân trắng là loài phân bố rộng xuất hiện từ Châu Mỹ chủ yếu

ở Tây Bộ Thái Bình Dương từ ven biển Mêxicô đến miền trung Pêru nhiều nhất là ở Êcuado

Tôm có đặc tính thích nghi tốt trong môi trường khắc nghiệt hơn một số loài tôm khác Chính vì thế chúng không những phát triển rộng rãi ở Châu Mỹ

mà còn phát triển ở Trung Quốc, Đài Loan, Malaysia, Indonesia, Việt Nam, trích từ [1]

Trang 8

Ở Việt Nam, tôm He chân trắng là loài mới du nhập vào và được nuôi chủ yếu ở đồng bằng Sông Cửu Long

Ngoài tự nhiên giai đoạn ấu trùng và ấu niên của tôm sống trôi nổi ở vùng cửa sông ven biển, giai đoạn trưởng thành chuyển xuống sống đáy và di chuyển ra vùng khơi

1.1.3 Hình thái cấu tạo

Quan sát hình thể bên ngoài của tôm He chân trắng ta thấy chủy như một lưỡi kiếm cứng có răng cưa ở mặt lưng và phía bụng thường có 2 đến 3 đôi khi 5 đến 6 răng cưa ở phía bụng

- Có một đôi ăngten là cơ quan khứu giác và giữ thăng bằng cơ thể

- Ba cặp chân hàm có tác dụng giúp tôm bắt mồi và bơi lội

- 5 cặp chân bụng dùng để bơi

- Telson có một cặp chân đuôi giúp tôm lên cao xuống thấp cũng như nhảy xa

- Cơ quan sinh dục đực là Petasma và cơ quan sinh dục cái là Thelycum

- Vỏ giáp có gai, gân và râu rất rõ không có gai mắt và đuôi

1.1.4 Đặc điểm sinh học sinh sản của tôm thẻ chân trắng

* Bãi đẻ, mùa vụ sinh sản

Trong thiên nhiên, tôm trưởng thành, giao hợp, sinh đẻ trong những vùng biển có độ sâu 70 mét với nhiệt độ 26-28 độ C, độ mặn khá cao (35‰) Trứng nở ra ấu trùng và vẫn loanh quanh ở khu vực sâu này Tới giai đoạn Potlarvae, chúng bơi vào gần bờ và sinh sống ở đáy những vùng cửa sông cạn Nơi đây điều kiện môi trường rất khác biệt: Thức ăn nhiều hơn, độ mặn thấp hơn, nhiệt độ cao hơn, Sau 1 vài tháng, tôm con trưởng thành, chúng bơi ngược ra biển và tiếp diễn cuộc sống giao hợp, sinh sản làm chọn chu kỳ [15]

Tùy vào nhiệt độ nước mà mùa vụ sinh sản của tôm cũng thay đổi theo từng khu vực Ở phía bắc Ecuador, tôm thẻ chân trắng sinh sản từ tháng 3 đến

Trang 9

tháng 8, tập trung vào tháng 4, 5 Ở Peru, tôm sinh sản chủ yếu từ tháng 12 đến tháng 4 [7]

* Sức sinh sản

Số lượng trứng tùy theo kích cỡ của tôm mẹ, tôm mẹ có khối lượng từ 35g, lượng trứng 100.000–250.000 hạt, trứng có đường kính 0,22 mm, sự phát triển của trứng sau khi đẻ đến giai đoạn đầu tiên của Nauplius diễn ra trong khoảng 14 giờ [7]

* Sự phát triển của buồng trứng

Theo Alaxa và Primavera (1979), quá trình phát triển của buồng trứng được chia thành 5 giai đoạn như sau:

 Giai đoạn 1 (chưa thành thục): Buồng trứng dạng sợi mảnh nằm trên ruột trong suốt, nhìn xuyên qua vỏ lưng thì không thấy được, không màu

 Giai đoạn 2 (thành thục sớm): Buồng trứng phát triển tăng về thể tích

và trọng lượng, có thể nhìn thấy xuyên qua vỏ mặt lưng

 Giai đoạn 3 (thành thục cuối): Buồng trứng nhìn xuyên qua giáp đầu ngực thấy rõ ràng, nhìn thấy một dải từ trên xuống, màu tối bắt đầu lan rộng

Ở đốt bụng 1 bắt đầu lớn lên, phình ra

 Giai đoạn 4 (chín mùi): Trứng đã được tích lũy đầy đủ vật chất, buồng trứng có màu xanh đậm, hạt trứng có màu xanh Buồng trứng ở đốt bụng 1 và 2 lan rộng ra hai bên, dải buồng trứng dày hơn

 Giai đoạn 5 (đẻ rồi): Đã đẻ hoàn toàn, quan sát ở mặt lưng chỉ thấy buồng trứng chỉ còn vết dài Nếu giải phẫu thấy một vùng hơi vàng nhạt, đôi khi phần trước hoặc phần sau của trứng vẫn còn (không đẻ hoặc chỉ đẻ một phần)

Mặc dù việc phân chia các giai đoạn phát triển buồng trứng có khác nhau nhưng các tác giả đều đi đến kết luận rằng: “Sự biến đổi màu sắc của buồng trứng tôm he Penaeidae được xem như là chỉ số thành thục của chúng” [5]

Trang 10

Hình 1.2: Các giai đoạn buồng trứng của tôm thẻ chân trắng

* Hoạt động giao vĩ và đẻ trứng

Tôm thẻ chân trắng là loài có thelycum hở Sự giao vĩ chủ yếu xảy ra vào ban đêm Ban đầu, một hoặc nhiều con đực cùng đuổi theo con cái ở phía sau, con đực dùng chủy và râu đẩy nhẹ dưới đuôi con cái, sau đó tôm đực lật ngửa thân và ôm con cái theo hướng đầu nối đầu, đuôi nối đuôi hoặc xoay

1800 và giao vĩ ở tư thế đầu nối đuôi Thời gian giao vĩ xảy ra tương đối nhanh khoảng 3–7 phút

Tôm cái được gắn túi tinh trước khi đẻ vài giờ hoặc trước đó vài ngày (lột xác  thành thục  giao vỹ  đẻ) Túi tinh được dính vào thelycum của con cái, không được bảo vệ chắc chắn nên dễ bị rơi rớt và tôm có thể giao vĩ trở lại [14]

Hình 1.3: Hoạt động giao vĩ

Trang 11

* Hoạt động đẻ trứng của tôm thẻ chân trắng

Trong thiên nhiên tôm trưởng thành, giao vĩ, sinh sản trong những vùng biển có độ sâu 70 m với nhiệt độ 26–280C, độ mặn khá cao khoảng 35‰ [15]

Tôm cái đẻ trứng chủ yếu vào thời gian 9 giờ tối đến 3 giờ sáng Thời gian bắt đầu đẻ cho tới khi kết thúc chỉ mất 1-2 phút Trứng sau khi đẻ có màu

vỏ đậu xanh Các chùm tinh của tôm đực cũng được tái sinh nhiều lần Sau khi đẻ xong trứng trải qua các giai đoạn ấu trùng, tới poslarvae bơi vào gần bờ sông, sau vài tháng tôm con trưởng thành và bơi ra biển rồi giao vĩ tiếp

Sau mỗi lần đẻ hết trứng, buồng trứng lại phát dục tiếp Con đẻ nhiều nhất 10 lần/năm, thường sau khi đẻ 3-4 ngày thì lột vỏ

1.1.5 Đặc điểm phát triển của các giai đoạn ấu trùng tôm thẻ

Trứng sau khi được thụ tinh sẽ xẩy ra quá trình phân cắt, phát triển phôi và nở thành ấu trùng Nauplius Ấu trùng tôm thẻ lớn lên nhờ vào quá trình lột xác

và biến thái qua nhiều giai đoạn khác nhau để trở thành hậu ấu trùng postlarvae Trong vòng đời phát triển, mỗi giai đoạn chúng có những đặc điểm về hình thái, dinh dưỡng và thích nghi điều kiện môi trường khác nhau Căn cứ vào những đặc điểm đó cũng như sự thay đổi hình thái bên ngoài mà người ta phân chia sự phát triển của ấu trùng tôm thẻ thành các giai đoạn khác

nhau, cụ thể như sau:

- Giai đoạn Nauplius (N)

Ấu trùng N có hình dạng giống quả lê, có 3 đôi phụ bộ (râu A1, hàm lớn, râu A2) và một điểm mắt Ấu trùng N bơi lội bằng ba đôi phần phụ, vận động theo kiểu zic zac không định hướng và không liên tục Chúng chưa ăn thức ăn bên ngoài mà tự dưỡng bằng noãn hoàng

Trang 12

Hình 1.4 Nauplius 5

Ấu trùng N trải qua 6 lần lột xác để tăng trưởng chủ yếu về chiều dài, các phần phụ và nội quan Mỗi lần lột xác tương ứng với một giai đoạn phụ (6 giai đoạn), sau lần lột xác cuối cùng sẽ kết thúc giai đoạn N và chuyển sang giai đoạn ấu trùng Zoea Công thức gai đuôi là đặc điểm quan trọng để phân biệt các giai đoạn phụ của ấu trùng N [15]

* Giai đoạn Zoea (Z)

Sau khi kết thúc giai đoạn N ấu trùng chuyển sang giai đoạn Z Đặc điểm thay đổi lớn nhất ở giai đoạn này chính là việc ấu trùng bắt đầu sử dụng thức ăn bên ngoài Do tập tính sống trôi nỗi, bắt mồi thụ động bằng các phụ

bộ, giai đoạn này chúng ăn lọc cho nên chúng ăn tất cả những gì vừa cữa miệng Hệ tiêu hoá đã hình thành tương đối hoàn chỉnh, màng ruột dao động theo kiểu hình sin nên thức ăn được đẩy dọc theo ống tiêu hoá, một phần nhỏ thức ăn được tiêu hoá và hấp thụ qua màng ruột, phần lớn còn lại được thải ra ngoài qua hậu môn tạo thành đuôi phân, vì lý do này nên ấu trùng Z có tập tính ăn liên tục Ngoài khả năng ăn lọc ấu trùng Z vẫn có khản năng bắt mồi

và ăn được các động vật nổi kích thước nhỏ (Nauplius Artemia, luân trùng, ) đặc biệt cuối giai đoạn Z2 và Z3, do đó trong sản xuất giống nhân tạo cần cho ăn nhiều lần trong ngày [4,15]

Trang 13

Giai đoạn ấu trùng Z được phân chia thành 3 giai đoạn phụ: Zoea1 (Z1), Zoea2 (Z2), Zoea3 (Z3) [15]

- Z1 thay đổi hẳn về hình thái so với

Nauplius Cơ thể Z1 kéo dài chia làm 2 phần: Phần

đầu có vỏ giáp đính lỏng lẻo, phần sau gồm có 5 đốt

ngực và bụng chưa phân đốt có chạc đuôi Z1 chưa

có chủy đầu, mắt đã có sự phân chia rõ nhưng dính

sát nhau tạo thành một khối, chưa có cuống mắt

- Z2 có chủy đầu, hai mắt có cuống mắt tách

rời nhau, phần bụng đã chia thành 4 đốt

- Z3 đã có phần đầu và phần ngực kết hợp tạo

thành phần đầu ngực và được che phủ bởi bởi giáp

đầu ngực Ở mặt bụng cuối phần đầu ngực xuất

hiện mầm 5 đôi chân ngực Phần bụng có 7 đốt bao

Trang 14

Bảng 1.1: Các đặc điểm phân biệt ấu trùng giai đoạn Zoea

 Giai đoạn Mysis (M)

Ấu trùng giai đoạn này thường có hình dạng khá đặc biệt, thân cong gập lại do ưu tiên phát triển phần đầu ngực để hoàn thiện các giai đoạn phụ nên phần đầu ngực nặng hơn phần thân, chính vì điều đó mà ấu trùng chúc đầu xuống dưới tạo nên hiện tượng treo mình trong nước Ấu trùng M bơi lội kiểu búng ngược, vận động chủ yếu bởi 5 đôi chân bò [15]

Thức ăn ở giai đoạn này thiên về động vật phù du kích cỡ nhỏ, các mảnh vụn hữu cơ trong nước, chúng có tập tính bắt mồi chủ động Tuy nhiên chúng vẫn có thể ăn tảo silic, đặc biệt là ở giai đoạn phụ M1 và M2 [15]

Gồm 3 giai đoạn phụ Mysis 1 (M1), Mysis 2 (M2), Mysis 3 (M3), mỗi giai đoạn kéo dài 24 giờ, tổng tất cả là 3 ngày rồi trở thành Post–larvae Chân đuôi của M phát triển dài bằng mấu đuôi, nhánh ngoài của ăng ten 2 bắt đầu dẹp để hình thành vẩy râu, cơ thể cong gập, sống trôi nổi [15]

- M1: Dài 2,4–3,4mm Đầu M1 chưa co mầm chân bụng, cuối M1 mầm chân bụng bắt đầu được hình thành

Hình 1.8: Mysis 1

Trang 15

- M2: Dài 2,9–3,9mm Phần bụng bớt cong, mầm chân bụng có 1 đốt

Trang 16

1.1.6 Nhu cầu dinh dưỡng của tôm thẻ chân trắng

Tôm thẻ chân trắng là loài ăn tạp, giống như những loài tôm thẻ khác, thức ăn của tôm thẻ chân trắng cũng cần một tỷ lệ thích hợp các thành phần dinh dưỡng như protein, lipid, glucid, vitamin, muối khoáng…

1.1.6.1 Nhu cầu về Protein

Nhu cầu protein thay đổi tùy theo giai đoạn phát triển của tôm, Postlarvae yêu cầu tỉ lệ 40% protein trong thức ăn, cao hơn các giai đoạn sau Tôm chân trắng không cần khẩu phần ăn có lượng protein cao như tôm sú Theo nghiên cứu của Colvin and Brand (1977) là 30%, Kureshy and Davis (2002) là 32% Trong đó, thức ăn có lượng protein 35% được coi như là thích hợp hơn cả, trong đó khẩu phần ăn có thêm mực tươi rất được tôm ưa chuộng

Men tiêu hoá protein của tôm chủ yếu ở dạng trypsine, không có pepsine (Vonk, 1970) Ngoài ra trong dạ dày tôm có 85% số vi khuẩn tạo thành chitinase Ngoài việc cung cấp dinh dưỡng, quan trọng nhất là giúp tôm

có khả năng tiêu hoá chitinase một phức hợp của protein

Protein là thành phần quan trọng trong thức ăn của tôm Nhu cầu

protein của tôm thẻ chân trắng thấp hơn các loài ăn thiên về động vật như P

japonicus, P monodon Hàm lượng protein tốt nhất trong thức ăn ở giai

đoạn ấu trùng tôm là >40%

Theo Lee và ctv (1984) khả năng hoạt động của các enzym tiêu hóa

protein ở (P vannamei) tăng khi hàm lượng và chất lượng protein trong thức ăn tăng Le Moullae và ctv 1994 chứng minh rằng trong ấu trùng tôm P

vannamei hoạt động của trupsin tăng nhưng hoạt động của chymotrupsin

giảm khi tăng năng lượng protein trong thức ăn (Guilloume, 1997)

1.1.6.2 Nhu cầu lipid

Thành phần lipid có trong thức ăn tôm khoảng 6 – 7 % không nên quá 10% Với hàm lượng lipid trong thức ăn lớn hơn 10% sẽ dẫn đến giảm tốc độ sinh trưởng, tăng tỷ lệ tử vong (Akiyama, 1992)

Axit béo

Trang 17

Ở tôm Thẻ nói chung và tôm thẻ chân trắng nói riêng có 4 loại axit béo không thay thế đó là: linoleic, linolenic, eicosapentaenoic và

decosahexaenoic Các axit béo không thay thế có nhiều nhất trong

phospholipid Và hàm lượng axit béo cần thiết nên có trong thức ăn của tôm thể hiện ở bảng 1.1 (Akiyama, 1992)

Bảng 1.2 Hàm lượng axit béo cần có trong thức ăn tôm

Cholesterol: chúng là thành phần cần thiết phải có trong thức ăn vì nhiều sterol và các hợp chất cần thiết như hormone lột xác, hormone sinh sản, vitamin D, axit mật được tổng hợp từ cholesterol Cholesterol cũng là nhân tố cấu thành màng, kết hợp và vận chuyển axit béo Chính vì thế trong ương nuôi ấu trùng hàm lượng cholesterol trong thức ăn chiếm 0,4% lipid trong thức ăn

1.1.6.3 Nhu cầu Carbohydrate

Hydratcacbon là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu cho cơ thể (khoảng 60% năng lượng cho hoạt động sống của động vật) Tuy khả năng sản sinh ra nhiệt lượng của hydratcacbon kém hơn so với lipid, song hydratcacbon lại có ưu thế hoà tan được, vì vậy quá trình tiêu hoá hấp thu dễ dàng

Trang 18

Ở giáp xác có nhiều men tiêu hoá hydratcacbon như: amylaza, maltaza, kitinaza, cellulaza (Kooiman, 1964), nhờ đó giáp xác có thể tiêu hoá một thành phần cellulose nên chúng có thể ăn thực vật và rong tảo

Thức ăn nhiều xơ sẽ đưa kết quả xấu vì cơ quan ruột, dạ dày của tôm ngắn, thức ăn nhanh chóng đi qua và thời gian tiêu hoá bị hạn chế Nhưng chất xơ đóng vai trò là chất nền cho quá trình lên men của vi sinh vật sống trong ống tiêu hoá, vì vậy trong thức ăn tôm người ta thường bổ sung khoảng 5% bột cỏ hoặc rong biển Ngoài vai trò là chất nền trong chất xơ tồn tại một lượng nước nhất định, chính lượng nước này có tác dụng duy trì dịch ruột làm tăng quá trình hấp thu chất dinh dưỡng

1.1.6.4 Nhu cầu về Vitamin

Nhu cầu về vitamin ở tôm tùy thuộc vào kích cỡ, tuổi, tốc độ sinh trưởng, điều kiện dinh dưỡng và có quan hệ các thành phần dinh dưỡng khác Nhu cầu từng loài vitamin thực tế cho từng loài tôm, cho từng giai đoạn vẫn chưa được biết nhiều Vì thế trong thức ăn lượng vitamin bổ sung thường vượt quá nhu cầu thực tế của tôm nhằm bù đắp lượng mất đi do hòa tan trong nước, do thủy phân trong quá trình sản xuất thức ăn và bảo quản Hơn nữa lượng VTM trong các thành phần nguyên liệu rất biến đổi, nếu phân tích từng thành phần hoặc từng nhóm thành phần sẽ rất tốn kém Vì vậy cách đơn giản hơn là bổ sung quá mức lượng VTM

1.1.6.5 Nhu cầu về khoáng

Giống như các động vật thuỷ sinh khác, tôm có thể hấp thụ và bài tiết chất khoáng trực tiếp từ môi trường nước thông qua mang và bề mặt cơ thể

Vì vậy nhu cầu khoáng ở tôm phụ thuộc nhiều vào hàm lượng chất khoáng có trong môi trường tôm đang sống

Dinh dưỡng thiếu hoặc không cân đối đều ảnh hưởng tới sinh trưởng và sức khoẻ tôm nuôi Khả năng chuyển hoá thức ăn của tôm chân trắng rất cao, tôm he chân trắng có nhu cầu protein khoảng 35 – 37 %

Trang 19

1.2 Tình hìnhsản xuất giống tôm thẻ chân trắng trên thế giới và ở Việt Nam

1.2.1 Trên thế giới

Trong mấy chục năm vừa qua nghề nuôi tôm biển phát triển rất mạnh

mẽ, có nhiều loài tôm được đưa vào nuôi đại trà nhưng đa số vẫn là các loài tôm he (penaeidae) Hiện nay nghề nuôi tôm đã đạt được nhiều thành tựu trong các lĩnh vực nghiên cứu, sản xuất và thương mại

Người tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu và sản xuất nhân tạo giống tôm sú là tiến sỹ người Nhật Bản Monosaku Fujinaga Năm 1933 trong một hội nghị khoa học ở Mehico về sinh học và nuôi tôm ông đã công bố công trình nghiên cứu về sản xuất nhân tạo P Japonicus Trong những thí nghiệm ban đầu do thiếu hiểu biết về đặc điểm dinh dưỡng của ấu trùng tôm nên chúng chỉ tồn tại được ở giai đoạn Z và chỉ có khoảng 10% chuyển sang giai đoạn M[20]

Mãi tới gần 10 năm sau (1942), với việc khám phá ra tảo silic

Skeletonema costatum, Chaetoceros làm thức ăn rất tốt cho ấu trùng ở giai

đoạn Z đã nâng cao tỷ lệ sống của ấu trùng ở giai đoạn này lên đến 30% Phương pháp nuôi tảo khuê cho ấu trùng tôm của Fujinaga được gọi là

“Phương pháp nuôi cùng bể” và sau đó phương pháp này được Loosanoff áp dụng nuôi ấu trùng hai mảnh vỏ Từ đó nhiều nghiên cứu đã được thực hiện

trên các đối tượng khác nhau: Penaeus monodon, Penaeus merguiensis,

Penaeus indicus, Penaeus vannamei, các quy trình nước xanh lớn, quy

trình Gevaston dần được hoàn thiện và được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất Đến năm 1946 Fujinaga đã nghiên cứu và tìm ra ấu trùng N của Artemia làm thức ăn rất tốt cho giai đoạn M Sau gần 18 năm nghiên cứu và thí nghiệm đến năm 1946 quy trình sản xuất giống và ương nuôi ấu trùng tôm

he Nhật Bản mới được hoàn chỉnh Đây là cơ sở, nền tảng cho các công trình nghiên cứu và ứng dụng kết quả này để hoàn chỉnh quy trình sản xuất và ương

nuôi ấu trùng các loài tôm thuộc họ tôm he Nhật Bản (P Japonicus) [20]

Trang 20

Năm 1963, nhà nghiên cứu Hary cook (người Mỹ) cùng với sự cộng

tác của Fujinaga đã cho đẻ và ương nuôi thành công các đối tượng P Setiferat

và P Ortecus đồng thời xây dựng thành công quy trình bể nhỏ ở Mỹ, sau đó

được cải tiến và nhân rộng ở các nước khác như Philippin, Đài Loan, Thái Lan, Cũng từ đây trên thế giới đã nghiên cứu và sản xuất thành công nhiều đối tượng khác nhau (gần 20 loài thuộc giống penaeus và 7 loài thuộc giống

Metapenaeus như P Monodon, P Semiculcatus, P Merguiensis, P

Trước đây thông tin về các đợt dịch bệnh (đặc biệt là hội chứng Taura) làm sản lượng giảm sút nghiêm trọng ở các quốc gia châu Mỹ, gây tâm lý e ngại cho các nhà quản lý quốc gia có ý định nhập nội thử nghiệm và phát triển nghề tôm thẻ chân trắng

Tuy nhiên với khả năng có thể kết hợp nuôi thương phẩm với sản xuất tôm bố mẹ trong một ao nuôi quy mô lớn, cho phép thuần hoá và chọn giống

để tạo ra những dòng tôm có đặc tính tốt hơn, tốc độ sinh trưởng cao, khả năng kháng bệnh tốt hơn Bằng biện pháp này, nước Mỹ đã thuần hoá tạo ra những nguồn tôm giống không có tác nhân gây bệnh đặc hữu (Specific Pathogen

- SPF) và tôm giống có sức đề kháng tác nhân gây bệnh đặc hữu (Specific Pathogen Resist - SPR) ở quy mô thương mại Điều này mở ra triển vọng cho việc duy trì và phát triển nghề nuôi tôm thẻ chân trắng nói riêng và nghề tôm biển nói chung ở các vùng sinh thái trên thế giới

Trên thế giới sản lượng tôm Thẻ chân trắng đứng hàng thứ hai sau tôm

Sú nhưng ở Châu Mỹ sản lượng tôm Thẻ chân trắng đứng hàng đầu đạt

Trang 21

86.000 tấn năm 1990, 190.000 tấn năm 1998, năm 1999 đạt 200.000 tấn Ecuador coi tôm chân trắng là ngành sản xuất lớn sản lượng tôm nuôi chiếm 95% sản lượng ở khu vực châu mỹ Một số nước như: Mexico, Panama, Eelizi, Peru, Colombia nghề nuôi tôm Thẻ chân trắng cũng khá phát triển

Ở Châu Á, năm 2006 tôm Thẻ chân trắng đạt sản lượng 1,6 triệu tấn và đạt 1,8 triệu tấn năm 2009 Ở Thái Lan nuôi tôm Thẻ chân trắng đã đạt đến năng suất 25 –30 tấn/ha/vụ

Theo FAO sản lượng tôm Thẻ chân trắng năm 2007 chiếm khoảng 80% tổng sản lượng tôm nuôi Trong đó có 85% sản lượng tập trung ở các nước Đông Nam Á như Thái Lan, Trung Quốc, Indonexia, Malayxia, Philippine Bảng 1.3 Sản lượng tôm Thẻ chân trắng ở một số nước Châu Á (tấn/ năm)

Theo tổng kết của Hội Khoa học và Kỹ thuật về nuôi tôm lần thứ nhất năm 1987 cho biết: Từ năm 1971 trạm nghiên cứu NTTS nước lợ (nay thuộc

viện NCNTTS I) và trường ĐHTS đã cho đẻ thành công tôm he P

merguiensis và tôm M ensis tại Quý Kim (Hải Phòng) và Cái Dặm (Quảng

Trang 22

Ninh) nhưng trong giai đoạn ương nuôi ấu trùng còn gặp nhiều khó khăn nên chỉ phát triển đến giai đoạn Z, một số ít phát triển tới giai đoạn M rồi chết Sau đó vào năm 1974, với sự giúp đỡ của chuyên gia người Nhật Bản là

Macno Kasumi, Trạm Nghiên cứu đã sản xuất được 65.000 con PL loài P

orientalis ở các bể 10m3 và 1,5 triệu PL loài P merguiensis ở bể 200m3 theo kiểu Nhật Bản

Cùng với việc cho tôm đẻ thành công trạm NCNTTS nước lợ còn thành công trong việc nuôi Brachionus và tự sản xuất cho ấu trùng tôm Sự thành công của việc nghiên cứu gây nuôi thức ăn cho ấu trùng tôm là một trong những nguyên nhân trực tiếp đưa đến việc hoàn thành việc cho sinh sản một số giống tôm vào những năm 1975–1977

Với sự nổ lực của mình cùng sự giúp đỡ của các chuyên gia tổ chức FAO

và Viện NCTS nước lợ Hải Phòng, trong 6 năm (1976–1982), Trạm tôm giống

Quy Nhơn đã bắt đầu cho đẻ và ương nuôi thành công đối tượng P merguiensis

và P monodon

Năm 1983 Trại thực nghiệm Cửa Bé, trường ĐHTS Nha Trang đã cho

đẻ thành công đối tượng P merguiensis và P monodon đây là thành công

bước đầu của các nhà nghiên cứu và sản xuất tôm giống tại Việt Nam

Năm 1986 cả nước đã sản xuất được 3,3 triệu PL các loại tôm he và mới xây dựng các trại sản xuất tôm giống có quy mô lớn như: Quý Kim Quy Nhơn, Vũng Tàu

Hiện nay nghề sản xuất tôm giống ở nước ta đang đứng trước nhiều cơ hội và thử thách mới: Với diện tích đưa vào nuôi hơn 500.000 ha, hàng năm Việt Nam cần khoảng 25–30 tỷ tôm PL (Bộ trưởng Tạ Quang Ngọc thông báo 892/TS–VP ngày 9/4/04) Tuy nhiên theo nguồn tin của World Fish (Agra Europe, 2002) thì ước tính gần đây chỉ có 10% tôm giống ở khu vực Miền Trung đạt tiêu chuẩn và vấn đề tôm giống chất lượng thấp đang được xem là nguyên nhân chết hàng loạt tại các tỉnh ĐBSCL

Trang 23

Năm 2006, tình hình sản xuất giống tôm cơ bản đã đáp ứng đủ nhu cầu

về lượng, cả nước đã sản xuất được 25 tỷ tôm giống Tuy nhiên về chất lượng tôm giống vẫn chưa được kiểm soát và quản lý tốt, chưa xây dựng được thương hiệu giống TS của từng vùng, công tác đăng ký chất lượng cũng như

kiểm soát chất lượng tôm giống lưu thông trên thị trường chưa được tốt

Bảng 1.2 Tình hình sản xuất tôm giống tại Việt Nam

có trên 3000 mẫu tôm (khoảng 50%) bị nhiễm virus MBV (bệnh còi) và virus bệnh đầu vàng, riêng tỷ lệ tôm giống nhiễm bệnh đốm trắng chiếm 7–9 %

Hiện nay với số lượng trại được xây dựng rất lớn và nhiều với quy trình ngày một hoàn thiện hơn nhưng vẫn không đáp ứng được nhu cầu về con giống ngày càng cao của người dân Để nỗi lo của người dân về đàn tôm giống sạch bệnh, có tỉ lệ sống cao và tăng trưởng nhanh thì cần nhiều hơn nữa việc nghiên cứu để hoàn thiện hơn quy trình sản xuất giống Để nghề nuôi tôm là một nghề thế mạnh thì cần sự quan tâm, đầu tư nhiều hơn nữa của các cấp

1.3 Một số nghiên cứu về mật độ ương nuôi ấu trùng tôm thẻ chân trắng

Qua các kết quả nghiên cứu trong thời gian gần đây đều cho thấy trong cùng điều kiện nuôi như nhau thì mật độ nuôi tôm luôn tỷ lệ nghịch với thời gian biến thái và tỷ lệ sống của ấu trùng Nghiên cứu của tác giả Đào Văn Trí

và Nguyễn Thành Vũ năm 2005 cho thấy: trong điều kiện độ mặn 28 - 32‰, nhiệt độ nước 27 - 300

C và pH 7,5 – 8,2 thì tăng trưởng của ấu trùng tôn ương

Trang 24

ở các mật độ khác nhau có khác nhau Mật độ càng cao, tốc độ tăng trưởng cử

ấu trùng càng thấp

Hiện nay, cũng đã có rất nhiều nghiên cứu thử nghiệm các mật độ ương

ấu trùng ở các giai đoạn khác nhau trong quy trình ương nuôi tôm thẻ chân trắng nhằm mục đích nâng cao tỷ lệ sống cũng như rút ngắn thời gian biến thái và tăng tốc độ tăng trưởng, nâng cao hiệu quả kinh tế Mỗi cơ sở sản xuất giống lựa chọn được các đối tượng ương nuôi khác nhau và có quy trình chăm sóc phù hợp được xem là một trong những bí quyết thành công của họ Đến nay số lượng các baó cáo công bố về thử nghiệm mật độ ương ấu trùng tôm thẻ chân trắng chủ yếu tập trung nhiều ở giai đoạn Zoae, một số ít ở giai đoạn Nauplius và rrats ít các thử nghiệm oqr giai đoạn Mysis Tháng 11/2004 theo kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hải Âu [1] khi ương nuôi ấu trùng tôm

ở các mật độ 60–80 Z3 /l thì cho thấy ở mật độ 60 Z3/l cho thời gian biến thái ngắn hơn và đạt tỷ lệ sống cao nhất Khi ương nuôi ấu trùng tôm ở các mật độ 80–160 Z3 /l thì mật độ 80 Z3 /l cho tỷ lệ sống cao nhất (65,35%), tiếp đến là mật độ 100 Z3 /l (61,42 %), 120 Z3/l (55,43 %), và thấp nhất là mật độ 160Z3/l (39,68 %) Tháng 8 năm 2006 qua kết quả nghiên cứu của Hồ Hữu Danh [2] khi ương ấu trùng ở mật độ 35–50 vạn N/5m3

(tức là 75–100 N/l) thì thấy ở mật độ 75 N/l cho thời gian biến thái ngắn nhất và tỷ lệ sống cao nhất Năm

2001 qua kết quả nghiên cứu của Hồ Thị Đông [6], khi ương ấu trùng tôm thẻ chân trắng từ giai đoạn Nauplus đến Mysis ở mật độ 200 – 300 con/l thì ở mật

độ 200 con/l cho thời gian biến thái ngắn nhất (164 giờ) và thời gian sống cao nhất (76,11%), còn ở mật độ 300 con/l thì thời gian biến thái là dài nhất (190 giờ) và tỷ lệ sống thấp nhất (62,52%)

Tương tự qua kết quả nghiên cứu của Lê Năng Thành (2011) [12], khi ương ấu trùng tôm thẻ chân trắng từ giai đoạn Z1 đến PL1 ở mật độ 300 – 450 con/l thì thấy ở mật độ 300 con/l cho thời gian biến thái ngắn nhất (92,33 giờ)

và tỷ lệ sống cao nhất (57,56%) còn ở mật độ 450 con/l thì thời gian biến thái

là dài nhất (112,83 giờ) và tỷ lệ sống thấp nhất (38,99%)

Trang 25

Như vậy, việc xác định mật độ nuôi phù hợp là một trong những yếu tố quan trọng quyết định nên hiệu quả của mỗi vụ sản xuất giống, do đó chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu về vấn đề này cũng với mong muốn tìm được mật độ nuôi phù hợp, góp phần hoàn thiện quy trình

Trang 26

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Ấu trùng tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei) giai đoạn Mysis

2.2 Vật liệu, thiết bị, dụng cụ sử dụng trong nghiên cứu

- Các loại thức ăn:

+ Thức ăn tổng hợp: Tảo khô Spirulina, TNT ( Shimp Larval Feed )

+ Thức ăn tươi sống: Tảo Chaetoceros calcitrans Nauplius Artemia, Artemia bung dù

- Trang thiết bị sử dụng trong nghiên cứu

+ Hệ thống bể lọc, bể ương nuôi ấu trùng, bể nuôi cấy tảo, bể chứa lắng và các trang thiết bị phụ trợ khác phục vụ cho quá trình sản xuất giống

+ Các thiết bị phục vụ cho thí nghiệm như: Kính hiển vi, ly xem tôm, khúc xạ kế, nhiệt kế thuỷ ngân, máy đo pH, test kiềm, test NH4+/NH3,

2.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.3.1 Địa điểm nghiên cứu

Công ty TNHH Thông Thuận - Vĩnh Tân - Tuy Phong - Bình Thuận

2.3.2 Thời gian nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu từ 1/2/2012 – 30/42012

2.4 Nội dung nghiên cứu

- Theo dõi các yếu tố môi trương trong bể thông qua các chỉ tiêu: nhiệt độ, độ

mặn, pH, NH3/NH4

- Ảnh hưởng của mật độ ương lên tỷ lệ sống của ấu trùng mysis tôm thẻ chân trắng

- Ảnh hưởng của mật độ ương lên thời gian biến thái của ấu trùng mysis

2.5 Phương pháp nghiên cứu

2.5.1 Bố trí thí nghiệm

Trang 27

* Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí ở mức 1 nhân tố, bố trí theo

kiểu ngẫu nhiên hoàn toàn và được lặp lại 3 lần

* Thí nghiệm ương nuôi ấu trùng tôm thẻ chân trắng ở các mật độ khác nhau:

- mđ1 = 100 Z3/l

- mđ2 = 150 Z3/l

- mđ3 = 200 Z3/l

* Điều kiện thí nghiệm:

- Nguồn nước mặn được bơm trực tiếp từ biển qua bể lắng, bể xử lý nước Nước trước khi vào bể nuôi phải được xử lý và kiểm tra chặt chẽ (dư lượng Clo,

độ kiềm, pH, độ mặn, )

- Nguồn Nauplius: Trong mỗi đợt thí nghiệm ở các công thức sử dụng Nauplius cùng một nguồn Nauplius lấy từ đàn tôm bố mẹ được tuyển chọn

kỹ và cho đẻ tại trại tôm giống của Công ty TNHH Thông Thuận

- Bể xi măng có thể tích 4m3 nước, hình vuông Bề mặt trong của bể được phủ bởi lớp sơn chống thấm có chất lượng đảm bảo

- Điều kiện môi trường: Nhiệt độ 28–32oC, độ mặn 30‰, pH = 7,8– 8,2

* Chăm sóc, quản lí

- Chế độ cho ăn: Ngày cho ăn 12 lần mỗi lần cách nhau 2 giờ đồng hồ

- Chế độ siphong, thay nước: Cuối giai đoạn Z3 bắt đầu mới tiến hành siphong, thay nước Lượng nước thay là khoảng 20–25% thể tích nước trong

bể, siphong hàng ngày vào buổi sáng trước khi thay nước

- Sục khí 24/24 Điều chỉnh sục khí phù hợp không để ấu trùng lắng đáy

- Bể ương nuôi được đặt trong nhà có mái che và có hệ thống nâng hạ nhiệt

Trang 28

Hình 2.1 Sơ đồ thí nghiệm

2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu

a Phương pháp xác định các yếu tố môi trường

Yếu tố Thời điểm đo Thời gian

- Theo dõi các yếu tố môi trường

- Xác định thời gian biến thái

Trang 29

b Phương pháp xác định thời gian biến thái của ấu trùng Mysis tôm thẻ chân trắng

- Xác định thời gian biến thái: Quan sát bể ương nuôi ấu trùng thường xuyên Theo dõi và xác định thời điểm xuất hiện ấu trùng giai đoạn trước đến thời điểm xuất hiện ấu trùng ở giai đoạn sau, từ đó tính được tổng thời gian chuyển giai đoạn

- Công thức tính: Tbt = T2 –T1

Trong đó: Tbt: Thời gian biến thái (giờ)

T1: Thời gian xuất hiện ấu trùng giai đoạn trước (giờ)

T2: Thời gian xuất hiện ấu trùng giai đoạn sau (giờ)

c Phương pháp xác định tỷ lệ sống của ấu trùng trong quá trình ương nuôi

Xác định tỷ lệ sống bằng cách định lượng ấu trùng sau mỗi lần chuyển giai đoạn bằng phương pháp thể tích

* Phương pháp lấy mẫu: Dùng cốc 100ml lấy mẫu đại diện trong bể

ương nuôi ấu trùng Lấy 3 lần ở 5vị trí khác nhau trong bể

* Thời điểm thu mẫu: Thường xuyên quan sát bể ương (khi cho ăn, thay

nước, siphong, ) và khi quan sát thấy ấu trùng bắt đầu có hiện tượng chuyển sang giai đoạn sau (cuối các giai đoạn M1, M2, M3) thì tiến hành thu mẫu để định lượng ấu trùng và tính tỷ lệ sống qua các giai đoạn đó Mỗi bể đếm ít nhất 5 lần sau đó lấy giá trị trung bình để độ chính xác cao hơn

N2 : Số ấu trùng đếm được khi lấy mẫu

N1 : Số ấu trùng ban đầu

Trang 30

- Tỷ lệ sống theo giai đoạn:

M2

TLS = * 100%

M1

Trong đó:

M2 : Số ấu trùng đếm ở giai đoạn sau

M1 : Số ấu trùng đếm ở giai đoạn trước

* Định lượng số ấu trùng trong bể như sau

Ấu trùng được định lượng bằng cách dùng ống hút lấy mẫu tại 5 điểm trong

bể Định lượng ấu trùng có trong 1 lít tại 5 điểm lấy mẫu, lấy mẫu 3 lần, sử dụng phương pháp tính trung bình cộng, ta có được lượng ấu trùng trung bình

có trong 1 lít

Xác định thể tích nước trong thùng ương, tính lượng ấu trùng trong thùng theo công thức:

AT = AM × V Trong đó: AT: Tổng lượng ấu trùng có trong bể (con)

AM: Tổng lượng ấu trùng có trong 1 lít (con)

V: Thể tích nước của bể ương ấu trùng (lít)

2.6 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

Số liệu được xử lí theo phương pháp thống kê sinh học trên Excell 2003 hoặc SPSS 16.0

Trang 31

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Diễn biến các yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm

Các yếu tố nhiệt độ, pH, độ mặn là những yếu tố có tác động trực tiếp

đến đời sống sinh trưởng, phát triển và tỷ lệ sống của ấu trùng tôm Trong thời

gian thí nghiệm qua theo dõi, phân tích chúng tôi thu được số liệu về các

thông số môi trường như sau:

3.1.1 Nhiệt độ nước trong quá trình thí nghiệm

Bảng 3.1 Yếu tố nhiệt độ trong quá trình thí nghiệm

M1-M2 30.5  0,5 30.33  0,57 30.68  0,54 30.5  0,5 30.66  0,28 30.83  0,28 M2-M3 30.66  0,76 29.33  0,28 30.16  0,28 29.5  0,5 30.16  1,04 29.5  0,5 M3-PL1 30.33  0,57 30.66  0,57 29.66  0,76 29.68  0,54 30.33  0,57 30.16  0,76

Trong mỗi đợt bố trí thí nghiệm các bể ương nuôi được bố trí một cách ngẫu

nhiên và cùng được cung cấp nước từ một bể lọc và trong cùng một thời gian

Trong mỗi đợt thí nghiệm nhiệt độ ương nuôi giữa các bể có sự biến động không

đáng kể, do tất cả các bể nuôi đều có hệ thống nâng nhiệt Biên độ dao động giữa

các ngày nhỏ, không gây ảnh hưởng nhiều đến các hoạt động của ấu trùng tôm

giữa các công thức

Qua các số liệu trên Bảng 3.1 chúng tôi nhận thấy trong thời gian tiến hành

đề tài nhiệt độ môi trường bể ương nuôi có sự khác nhau ở các đợt đo, các mật độ

Nhiệt độ giao động trong khoảng 29–310C vào buổi sáng và từ 30–32 vào buổi

chiều

Theo Nguyễn Thành Vũ, Đào Văn Trí (2001), nghiên cứu cho thấy

khoảng nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của ấu trùng tôm thẻ nằm trong

khoảng 28–320

C [16]

Trang 32

So sánh với kết quả thu được, chúng tôi nhận thấy nhiệt độ nước trong thời gian tiến hành nghiên cứu nằm trong khoảng thích ứng cao cho sự sinh trưởng, phát triển của ấu trùng tôm thẻ chân trắng

Tuy nhiên chúng tôi thấy ở mật độ 2 nhiệt độ biến động nhiều hơn mật

độ 1 Yếu tố nhiệt độ trong mật độ 1 ổn định hơn

3.1.2 Diễn biến pH trong quá trình thí nghiệm

Bảng 3.2 Diễn biến pH trong thí nghiệm

đó ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất pH ảnh hưởng gián tiếp thông qua sự ảnh hưởng của các yếu tố môi trường (khí đôc, tảo, nước…) khi pH thấp sẽ làm tăng tính độc của H2S, làm giảm sự phát triển của tảo, pH cao sẽ làm tăng tính độc của NH3

Ngoài ra, nó còn phản ánh tình trạng ổn định cũng như mức độ nhiễm bẩn của bể ương nuôi Vì bể ương nuôi được bố trí trong nhà nên sự biến động của pH nước chủ yếu do sự phân hủy các sản phẩm thải của ấu trùng và lượng thức ăn dư thừa Nếu trong môi trường bể ương nuôi có hệ sinh vật ổn định thì vật chất sẽ được phân giải tạo ra các vật chất vô cơ khoáng hóa Trong giai đoạn ấu trùng, cơ thể còn non yếu nên rất nhạy cảm với sự biến động của pH, do đó việc khống chế, kiểm soát được pH trong nước thích hợp, biên độ giao động nhỏ thì sẽ có lợi cho ấu trùng

Ngày đăng: 16/09/2021, 16:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w