BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH TRẦN THỊ THANH MAI ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI THỨC ĂN ĐẾN TỶ LỆ SỐNG, THỜI GIAN BIẾN THÁI VÀ TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG CỦA ẤU TRÙNG MYSIS TÔM THẺ CHÂ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN THỊ THANH MAI
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI THỨC ĂN ĐẾN TỶ LỆ SỐNG, THỜI GIAN BIẾN THÁI VÀ TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG CỦA ẤU TRÙNG
MYSIS TÔM THẺ CHÂN TRẮNG (Penaeus
vannamei)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
VINH - 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI THỨC ĂN ĐẾN TỶ LỆ SỐNG, THỜI GIAN BIẾN THÁI VÀ TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG CỦA ẤU TRÙNG
MYSIS TÔM THẺ CHÂN TRẮNG (Penaeus
vannamei)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Sinh viên thực hiện: Trần Thị Thanh Mai
Lớp: 49K2 - NTTS Giáo viên hướng dẫn: TS Trần Ngọc Hùng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành khóa luận này, tôi đã nhận được sự giúp
đỡ, quan tâm quý báu của nhiều tập thể và cá nhân
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo, TS Trần Ngọc Hùng người đã trực tiếp hướng dẫn và tạo mọi điều kiện tốt cho tôi trong quá trình thực tập đến khi hoàn thành đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn các bác, các cô, các anh, các chị tại cơ sở
đã quan tâm tạo mọi điều kiện và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập và làm đề tài tốt nghiệp tại Công ty TNHH thuỷ sản Thông Thuận Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, lãnh đạo trường Đại học Vinh, Ban chủ nhiệm khoa Nông Lâm Ngư, tổ bộ môn Nuôi trồng thủy sản đã tạo điều kiện giúp đỡ về mọi mặt cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường, truyền dạy cho tôi những kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong hơn 4 năm qua
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt khoá học
Vinh, tháng 5 năm 2012
Trần Thị Thanh Mai
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH vi
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Một số đặc điểm của tôm thẻ chân trắng 3
1.1.1 Hệ thống phân loại 3
1.1.2 Đặc điểm phân bố 3
1.1.3 Đặc điểm sinh học sinh sản của tôm thẻ chân trắng 4
1.1.4 Đặc điểm phát triển của các giai đoạn ấu trùng tôm thẻ 7
1.1.5 Nhu cầu dinh dưỡng của tôm thẻ chân trắng 12
1.2 Sơ lược về Lịch sử về phát triển nghề nuôi tôm 13
1.2.1 Sơ lược về lịch sử phát triển nghề nuôi tôm trên thế giới 13
1.2.2 Sơ lược về lịch sử phát triển nghề nuôi tôm ở Việt Nam 16
1.3 Tình hình nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống và thời gian biến thái của ấu trùng mysis tôm thẻ 19
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Đối tượng nghiên cứu 20
2.2 Vật liệu nghiên cứu 20
2.3 Phương pháp nghiên cứu 21
2.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 22
2.3.2 Phương pháp xác định các yếu tố môi trường 25
2.3.3 Phương pháp xác định thời gian biến thái 25
Trang 52.3.4 Phương pháp xác định tỷ lệ sống 25
2.3.5 Phương pháp xác định tốc độ tăng trưởng 26
2.3.6 Phương pháp đánh giá chất lượng tôm giống:Error! Bookmark not defined. 2.3.7 Phương pháp xử lý số liệu 27
2.4 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 27
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
3.1 Kết quả theo dõi các yếu tố môi trường 28
3.2 Ảnh hưởng của các loại thức ăn đến tỷ lệ sống ấu trùng tôm He chân trắng giai đoạn Mysis trong quá trình thí nghiệm 30
3.3 Ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau thời gian biến thái của ấu trùng tôm He chân trắng giai đoạn Mysis trong quá trình thí nghiệm 35
3.4 Ảnh hưởng của các loại thức ăn lên sự tăng trưởng chiều dài toàn thân của ấu trùng trong quá trình thí nghiệm 39
3.4.1 Sự tăng trưởng chiều dài toàn thân của ấu trùng tôm He chân trắng giai đoạn Mysis 39
3.4.2 Tăng trưởng tuyệt đối và tương đối của ấu trùng tôm He chân trắng giai đoạn Mysis 40
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
PHỤ LỤC 48
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Các đặc điểm phân biệt ấu trùng giai đoạn Zoea 10
Bảng 1.2 Tình hình sản xuất tôm giống tại Việt Nam 18
Bảng 2.1 Các thiết bị và dụng cụ theo dõi các yếu tố môi trường 25
Bảng 3.1 Các yếu tố môi trường trong quá trình ương nuôi 28
Bảng 3.2 Kết quả so sánh tỷ lệ sống của ấu trùng giai đoạn M1 ở các công thức thức ăn 31
Bảng 3.3 Kết quả so sánh tỷ lệ sống của ấu trùng giai đoạn M2 ở các công thức thức ăn 31
Bảng 3.4 Kết quả so sánh tỷ lệ sống của ấu trùng giai đoạn M3 ở các công thức thức ăn 32
Bảng 3.5 Kết quả so sánh về thời gian biến thái của ấu trùng giai đoạn M1-M2 ở các công thức thức ăn 35
Bảng 3.6 Kết quả so sánh về thời gian biến thái của ấu trùng giai đoạn M2 ở các công thức thức ăn 36
Bảng 3.7 Kết quả so sánh về thời gian biến thái của ấu trùng M3 ở các công thức thức ăn 36
Bảng 3.8 Kết quả so sánh về chiều dài toàn thân của ấu trùng giai đoạn M1 - M2 ở các công thức thức ăn 39
Bảng 3.9 Kết quả so sánh về chiều dài toàn thân của ấu trùng giai đoạn M2 - M3 ở các công thức thức ăn 40
Bảng 3.10 Kết quả so sánh về chiều dài toàn thân của ấu trùng giai đoạn M3 - P1 ở các công thức thức ăn 40
Bảng 3.11 So sánh tốc độ tăng trưởng tuyệt đối và tương đối về chiều dài toàn thân của ấu trùng M giữa các công thức thức ăn 42
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Tôm thẻ Chân Trắng 3
Hình 1.2: Các giai đoạn buồng trứng của tôm thẻ chân trắng 5
Hình 1.3: Hoạt động giao vĩ 6
Hình 1.4 Ấu trùng giai đoạn Nauplius 7
Hình 1.5: Zoea 1 9
Hình 1.6: Zoea 2 9
Hình 1.7: Zoea 3 9
Hình 1.8: Mysis 1 11
Hình 1.9: Mysis 2 11
Hình 1.10: Mysis 3 11
Hình 1.11: Postlarvae 12
Hình 2.1 Sơ đồ khối nghiên cứu 22
Hình 2.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 24
Hình 3.1 Tỷ lệ sống giai đoạn của ấu trùng trong quá trình thí nghiệm 31
Hình 3.2 Tỷ lệ sống tích lũy của ấu trùng M ở các công thức thức ăn 33
Hình 3.3 Thời gian biến thái của của ấu trùng M ở các công thức thức ăn 37
Hình 3.4 Sự tăng trưởng trung bình về chiều dài toàn thân của ấu trùng giữa các công thức 41
Hình 3.5 So sánh tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài toàn thân của ấu trùng M ở các lô thí nghiệm 43
Hình 3.6 So sánh tốc độ tăng trưởng tương đối chiều dài toàn thân của ấu trùng M giữa các công thức thức ăn 44
Trang 9MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây tôm Thẻ chân trắng là đối tượng được nuôi rộng khắp ở nhiều vùng trên thế giới Tuy là đối tượng mới được du nhập vào Việt Nam từ năm 2001-2002 và mãi đến năm 2008 mới được nuôi phổ biến trên cả nước, nhưng sản phẩm THCT đã đóng góp ngày càng quan trọng cho XKTS Việt Nam Theo thống kê của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn (Bộ NN & PTNT), diện tích nuôi THCT năm 2010 gần 25.300 ha, sản lượng 135.000 tấn, đem lại 414,6 triệu USD giá trị xuất khẩu (XK), tăng 50%
so với năm 2009
Với nhiều ưu điểm như: Tốc độ tăng trưởng nhanh, chu kỳ nuôi ngắn
và có sức chịu đựng tốt với các biến động môi trường thế nên diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng đã không ngừng mở rộng Trước tình hình nghề nuôi tôm thương phẩm phát triển nhanh chóng thì đồng thời đặt ra yêu cầu về
số lượng con giống hàng năm phải đủ lớn
Để đáp ứng được nhu cầu con giống cho thị trường, hàng loạt trại sản xuất giống tôm đã ra đời Nhưng để tạo ra được con giống tốt, tỷ lệ sống cao, hạn chế xẩy ra dịch bệnh, thời gian biến thái ngắn, thu được lợi nhuận cao thì việc tìm ra công thức thức ăn phù hợp với từng giai đoạn phát triển của ấu trùng là một trong những khâu quan trọng, quyết định sự thành bại của sản xuất và góp phần xây dựng quy trình sản xuất giống nhân tạo tôm Thẻ chân trắng ở nước ta ngày càng hoàn thiện hơn
Xuất phát từ vấn đề trên, và được sự đồng ý của giáo viên hướng dẫn
và khoa Nông - Lâm -Ngư Trường Đại học Vinh nên tôi thực hiện đề tài:
“Ảnh hưởng của các loại thức ăn đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái và tốc
độ tăng trưởng, của ấu trùng Mysis tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei)”
Trang 10Mục tiêu của đề tài:
Xác định công thức thức ăn ương nuôi phù hợp cho tốc độ tăng trưởng,
sự biến thái và góp phần nâng cao tỷ lệ sống trong quá trình ương nuôi ấu
trùng Mysis tôm Thẻ chân trắng (Penaeus vannamei)
Trang 11Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số đặc điểm của tôm Thẻ chân trắng
1.1.1 Hệ thống phân loại
Ngành : Arthropoda
Lớp: Crustace
Bộ: Decapoda Họ: Penaeidea Giống: Penaeius
Loài: Penaeus vannamei Boone, 1931
Hình 1.1: Tôm Thẻ Chân Trắng Tên tiếng Anh: white leg shrimp
Tên địa phương: tôm he, tôm Thẻ chân trắng
1.1.2 Đặc điểm phân bố
Trên thế giới tôm Thẻ chân trắng phân bố chủ yếu ở vùng nước ven bờ
phía Đông Thái Bình Dương từ phía bắc Peru đến phía nam Mehico Tôm
Thẻ phân bố tập trung ở vùng ven bờ của Ecuador Hiện nay tôm Thẻ chân
Trang 12trắng đã di giống ra nhiều vùng biển cả bờ tây lẫn bờ đông của châu Mỹ, Trung Quốc, Đài Loan, Malayxia, Indonexia, Việt Nam, [3]
Chúng có thể sống được ở nước mặn, nước ngọt, nước lợ Trong tự nhiên, giai đoạn ấu trùng và ấu niên sống trôi nổi ở vùng của sông ven biển, giai đoạn trưởng thành chúng chuyển sang sống đáy và di chuyển ra vùng biển khơi [13]
1.1.3 Đặc điểm sinh học sinh sản của tôm Thẻ chân trắng
* Bãi đẻ, mùa vụ sinh sản
Trong thiên nhiên, tôm trưởng thành, giao hợp, sinh đẻ trong những vùng biển có độ sâu 70 mét với nhiệt độ 26-280
C, độ mặn khá cao (35‰) Trứng nở ra ấu trùng và vẫn loanh quanh ở khu vực sâu này Tới giai đoạn Potlarvae, chúng bơi vào gần bờ và sinh sống ở đáy những vùng cửa sông cạn Nơi đây điều kiện môi trường rất khác biệt: Thức ăn nhiều hơn, độ mặn thấp hơn, nhiệt độ cao hơn, Sau 1 vài tháng, tôm con trưởng thành, chúng bơi ngược ra biển và tiếp diễn cuộc sống giao hợp, sinh sản làm chọn chu kỳ [9]
Do nhiệt độ nước ở mỗi khu vực khác nhau nên mùa vụ sinh sản của tôm cũng thay đổi theo từng khu vực Ở phía bắc Ecuador, tôm thẻ chân trắng sinh sản từ tháng 3 đến tháng 8, tập trung vào tháng 4, tháng 5 Ở Peru, tôm sinh sản chủ yếu từ tháng 12 đến tháng 4
* Sức sinh sản
Số lượng trứng tùy theo kích cỡ của tôm mẹ, tôm mẹ có khối lượng từ 35g, lượng trứng 100.000-250.000 hạt, trứng có đường kính 0,22 mm, sự phát triển của trứng sau khi đẻ đến giai đoạn đầu tiên của Nauplius diễn ra trong khoảng 14 giờ [3]
* Sự phát triển của buồng trứng
Theo Alaxa và Primavera (1979), quá trình phát triển của buồng trứng được chia thành 5 giai đoạn như sau:
Trang 13Giai đoạn 1 (chưa thành thục): Buồng trứng dạng sợi mảnh nằm trên ruột trong suốt, nhìn xuyên qua vỏ lưng thì không thấy được, không màu
Giai đoạn 2 (thành thục sớm): Buồng trứng phát triển tăng về thể tích
và trọng lượng, có thể nhìn thấy xuyên qua vỏ mặt lưng
Giai đoạn 3 (thành thục cuối): Buồng trứng nhìn xuyên qua giáp đầu ngực thấy rõ ràng, nhìn thấy một dải từ trên xuống, màu tối bắt đầu lan rộng
Ở đốt bụng 1 bắt đầu lớn lên, phình ra
Giai đoạn 4 (chín mùi): Trứng đã được tích lũy đầy đủ vật chất, buồng trứng có màu xanh đậm, hạt trứng có màu xanh Buồng trứng ở đốt bụng 1 và 2 lan rộng ra hai bên, dải buồng trứng dày hơn
Giai đoạn 5 (đẻ rồi): Đã đẻ hoàn toàn, quan sát ở mặt lưng chỉ thấy buồng trứng chỉ còn vết dài Nếu giải phẫu thấy một vùng hơi vàng nhạt, đôi khi phần trước hoặc phần sau của trứng vẫn còn (không đẻ hoặc chỉ đẻ một phần)
Mặc dù việc phân chia các giai đoạn phát triển buồng trứng có khác nhau nhưng các tác giả đều đi đến kết luận rằng: “Sự biến đổi màu sắc của buồng trứng tôm Thẻ Penaeidae được xem như là chỉ số thành thục của chúng” [2]
Hình 1.2: Các giai đoạn buồng trứng của tôm Thẻ chân trắng
Trang 14 Hoạt động giao vĩ
Tôm Thẻ chân trắng là loài có thelycum hở Tôm đực và tôm cái tìm nhau giao phối, sau khi mặt trời lặn Ban đầu, một hoặc nhiều con đực cùng đuổi theo con cái ở phía sau, con đực dùng chủy và râu đẩy nhẹ dưới đuôi con cái, sau đó tôm đực lật ngửa thân và ôm con cái theo hướng đầu nối đầu, đuôi nối đuôi hoặc xoay 1800 và giao vĩ ở tư thế đầu nối đuôi Tôm đực phóng các chùm tinh từ cơ quan giao cấu petasma, cho dính vào chân bò thứ 3, thứ 5 của con cái, có khi dính lên cả thân con cái Thời gian giao vĩ xảy ra tương đối nhanh khoảng 3-7 phút
Tôm cái được gắn túi tinh trước khi đẻ vài giờ hoặc trước đó vài ngày (lột xác thành thục giao vỹ đẻ) Túi tinh được dính vào thelycum của con cái, không được bảo vệ chắc chắn nên dễ bị rơi rớt và tôm có thể giao vĩ trở lại [8]
Hình 1.3: Hoạt động giao vĩ
* Hoạt động đẻ trứng của tôm thẻ chân trắng
Trong thiên nhiên tôm trưởng thành, giao vĩ, sinh sản trong những vùng biển có độ sâu 70 m với nhiệt độ 26-280C, độ mặn khá cao khoảng 35‰ [9]
Tôm cái đẻ trứng chủ yếu vào thời gian 9 giờ tối đến 3 giờ sáng Thời gian bắt đầu đẻ cho tới khi kết thúc chỉ mất 1-2 phút Trứng sau khi đẻ có màu
Trang 15vỏ đậu xanh Sau mỗi lần đẻ hết trứng, buồng trứng lại phát dục tiếp Con đẻ nhiều nhất 10 lần/năm, thường sau khi đẻ 3-4 ngày thì lột vỏ
1.1.4 Đặc điểm phát triển của các giai đoạn ấu trùng tôm Thẻ chân trắng Sau khi trứng được thụ tinh sẽ xẩy ra quá trình phân cắt, phát triển
phôi và nở thành ấu trùng Nauplius Ấu trùng tôm Thẻ lớn lên cũng như các loài giáp xác khác đó là nhờ vào quá trình lột xác và biến thái qua nhiều giai đoạn khác nhau để trở thành hậu ấu trùng postlarvae Trong vòng đời phát triển, mỗi giai đoạn chúng có những đặc điểm về hình thái, dinh dưỡng và thích nghi điều kiện môi trường khác nhau Căn cứ vào những đặc điểm đó cũng như sự thay đổi hình thái bên ngoài mà người ta phân chia sự phát triển
của ấu trùng tôm thẻ thành các giai đoạn khác nhau, cụ thể như sau:
- Giai đoạn Nauplius (N)
Ấu trùng N có hình dạng giống quả lê, có 3 đôi phụ bộ (râu A1, hàm lớn, râu A2) và một điểm mắt Ấu trùng N bơi lội bằng ba đôi phần phụ, vận động theo kiểu ziczac không định hướng và không liên tục Chúng chưa ăn thức ăn bên ngoài mà tự dưỡng bằng noãn hoàng
Hình 1.4 Ấu trùng giai đoạn Nauplius
Trang 16Ấu trùng N trải qua 6 lần lột xác để tăng trưởng chủ yếu về chiều dài, các phần phụ và nội quan Mỗi lần lột xác tương ứng với một giai đoạn phụ (6 giai đoạn), sau lần lột xác cuối cùng sẽ kết thúc giai đoạn N và chuyển sang giai đoạn ấu trùng Zoea Công thức gai đuôi là đặc điểm quan trọng để phân biệt các giai đoạn phụ của ấu trùng N [9] Thời gian biến thái của ấu trùng từ
N1 đến Z1 tuỳ thuộc vào điều kiện nhiệt độ môi trường cũng như sức khoẻ của
ấu trùng Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Chung, 2004 thời gian chuyển giai đoạn là 44 giờ
* Giai đoạn Zoea (Z)
Sau khi kết thúc giai đoạn N ấu trùng chuyển sang giai đoạn Z Đặc điểm thay đổi lớn nhất ở giai đoạn này chính là việc ấu trùng bắt đầu sử dụng thức ăn bên ngoài Do tập tính sống trôi nỗi, bắt mồi thụ động bằng các phụ
bộ, giai đoạn này chúng ăn lọc cho nên chúng ăn tất cả những gì vừa cữa miệng Hệ tiêu hoá đã hình thành tương đối hoàn chỉnh, màng ruột dao động theo kiểu hình sin nên thức ăn được đẩy dọc theo ống tiêu hoá, một phần nhỏ thức ăn được tiêu hoá và hấp thụ qua màng ruột, phần lớn còn lại được thải ra ngoài qua hậu môn tạo thành đuôi phân, vì lý do này nên ấu trùng Z có tập tính ăn liên tục Ngoài khả năng ăn lọc ấu trùng Z vẫn có khả năng bắt mồi và
ăn được các động vật nổi kích thước nhỏ (Nauplius Artemia, luân trùng, ) đặc biệt cuối giai đoạn Z2 và Z3, do đó trong sản xuất giống nhân tạo cần cho
ăn nhiều lần trong ngày [1,9]
Giai đoạn ấu trùng Z được phân chia thành 3 giai đoạn phụ: Zoea1 (Z1), Zoea2 (Z2), Zoea3 (Z3) [12]
- Z1 thay đổi hẳn về hình thái so với Nauplius Cơ thể Z1 kéo dài chia làm 2 phần: Phần đầu có vỏ giáp đính lỏng lẻo, phần sau gồm có 5 đốt ngực và bụng chưa phân đốt có chạc đuôi Z1 chưa có chủy đầu, mắt đã có sự phân chia
rõ nhưng dính sát nhau tạo thành một khối, chưa có cuống mắt
Trang 17Hình 1.7: Zoea 3
Trang 18Thời gian mỗi giai đoạn phụ của Z phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường, điều kiện dinh dưỡng cũng như thể trạng của ấu trùng trong đó điều kiện môi trường được coi là yếu tố quan trọng nhất Nếu nhiệt độ từ 28 - 290C thời gian mỗi giai đoạn phụ khoảng 30 - 36 giờ Nhiệt độ từ 26 - 280C thời gian mỗi giai đoạn phụ khoảng 42 - 48 giờ và nếu nhiệt độ dưới 260C thời gian cho mỗi giai đoạn là 52 giờ [12] Các giai đoạn phụ của ấu trùng Zoea có thể được phân biệt qua bảng số liệu sau:
Bảng 1.1: Các đặc điểm phân biệt ấu trùng giai đoạn Zoea
Số đốt bụng Chưa phân đốt 4 đốt 7 đốt
Giai đoạn Mysis (M)
Ấu trùng giai đoạn này thường có hình dạng khá đặc biệt, thân cong gập lại do ưu tiên phát triển phần đầu ngực để hoàn thiện các giai đoạn phụ nên phần đầu ngực nặng hơn phần thân, chính vì điều đó mà ấu trùng chúc đầu xuống dưới tạo nên hiện tượng treo mình trong nước Ấu trùng M bơi lội kiểu búng ngược, vận động chủ yếu bởi 5 đôi chân bò [9]
Gồm 3 giai đoạn phụ Mysis 1 (M1), Mysis 2 (M2), Mysis 3 (M3), mỗi giai đoạn kéo dài 24 giờ, tổng tất cả là 3 ngày rồi trở thành Post-larvae Chân đuôi của M phát triển dài bằng mấu đuôi, nhánh ngoài của ăng ten 2 bắt đầu dẹp để hình thành vẩy râu, cơ thể cong gập, sống trôi nổi [9]
- M1: Dài 2,4-3,4mm Đầu M1 chưa có mầm chân bụng, cuối M1 mầm chân bụng bắt đầu được hình thành
Trang 19Hình 1.8: Mysis 1
- M2: Dài 2,9-3,9mm Phần bụng bớt cong, mầm chân bụng có 1 đốt
Hình 1.9: Mysis 2
- M3: Dài 3,7-4,5mm.Mầm chân bụng có 2 đốt, chủy có răng cưa
Hình 1.10: Mysis 3 Thức ăn ở giai đoạn M thiên về động vật phù du kích cỡ nhỏ, các mảnh vụn hữu cơ trong nước, chúng có tập tính bắt mồi chủ động trong sản xuất giống nhân tạo hiện nay thường sử dụng hai loại thức ăn chính cho M là TĂTH + thức ăn tươi, tươi sống là N của Artemia và hàu, một số nơi có cho ăn thêm tảo tươi, tảo khô trong TĂTH
Trang 20 Giai đoạn postlarvae (PL)
Hình 1.11: Postlarvae Hậu ấu trùng PL của tôm đã có hình dạng của loài nhưng sắc tố chưa hoàn thiện, nhánh trong ăng ten 2 chưa kéo dài PL bơi thẳng có định hướng về phía trước bơi lội bằng 5 đôi chân bụng Cơ quan tiêu hóa, phát triển hoàn chỉnh thức ăn chủ yếu là ấu trùng của các loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ, Nauplius Copepoda, Nauplius Artemia, [9]
Đặc biệt ở giai đoạn này chúng có thể ăn thịt nhau khi đói do đó trong ương nuôi ấu trùng cần cung cấp thức ăn đầy đủ cũng như duy trì độ trong của nước ở mức thích hợp từ 20 - 40 cm để hạn chế tình trạng hao hụt Tuổi của PL được tính theo ngày còn thời gian lột xác phụ thuộc vào nhiệt độ, nếu
độ dưới 270C thì 2 ngày lột xác một lần [10]
1.1.5 Nhu cầu dinh dưỡng của tôm Thẻ chân trắng
Tôm thẻ chân trắng là loại tôm ăn tạp Giống như các loài tôm he khác, thức ăn của nó cần các thành phần như: protein, lipid, glucid, vitamin và muối khoáng, Thiếu hay không cân đối các chất trên đều ảnh hưởng tới sức khỏe
và tốc độ lớn của tôm Hệ số chuyển hóa thức ăn của tôm thẻ chân trắng rất cao, trong điều kiện nuôi lớn bình thường lượng thức ăn chỉ cần bằng 5% khối lượng tôm (thức ăn ướt) Trong thời kỳ tôm sinh sản đặc biệt là giữa và cuối giai đoạn phát dục của buồng trứng thì nhu cầu về lượng thức ăn lên gấp 3-5
Trang 21lần Tôm Thẻ chân trắng không cần lượng protein nhiều như tôm sú, 35% protein được coi là thích hợp hơn cả, nếu thức ăn thêm mực tươi tôm rất được
ưa chuộng [10,13]
1.2 Sơ lược về Lịch sử về phát triển nghề nuôi tôm
1.2.1 Sơ lược về lịch sử phát triển nghề nuôi tôm trên thế giới
Bước đột phá đầu tiên trong công nghệ nuôi tôm diễn ra ở Nhật Bản vào cuối những năm 1930 Tuy nhiên, khí hậu và các loài tôm của nước này không phù hợp với sản xuất quy mô nhỏ Năm 1970, công nghệ của Nhật Bản
đã được chuyển giao sang các nước khác ở châu Á và châu Mỹ [19]
Trong mấy chục năm vừa qua nghề nuôi tôm biển phát triển rất mạnh
mẽ, có nhiều loài tôm được đưa vào nuôi đại trà nhưng đa số vẫn là các loài tôm he (penaeidae) Hiện nay nghề nuôi tôm đã đạt được nhiều thành tựu trong các lĩnh vực nghiên cứu, sản xuất và thương mại
Tiến sỹ Fujinaga được xem là cha đẻ của nghề nuôi tôm và Nhật Bản trở thành điểm khởi đầu cho sự phát triển của ngành tôm Những tiến bộ đầu tiên diễn ra theo hướng hoàn thành vòng đời của tôm nuôi trong tình trạng nuôi nhốt vào năm 1934, khi Tiến sỹ Motosaku Fujinaga, Nhật Bản thành công trong việc kích thích sinh sản cho tôm he Nhật Bản (Penaeus japonicus)
từ ấp nở trứng và ương nuôi ấu trùng từ giai đoạn Nauplius sang Mysis nhờ
Skeletonema costatum, Chaetoceros làm thức ăn rất tốt cho ấu trùng ở giai
đoạn Z đã nâng cao tỷ lệ sống của ấu trùng ở giai đoạn này lên đến 30% Phương pháp nuôi tảo khuê cho ấu trùng tôm của Fujinaga được gọi là
Trang 22“Phương pháp nuôi cùng bể” và sau đó phương pháp này được Loosanoff áp dụng nuôi ấu trùng hai mảnh vỏ Từ đó nhiều nghiên cứu đã được thực hiện
trên các đối tượng khác nhau: Penaeus monodon, Penaeus merguiensis,
Penaeus indicus, Penaeus vannamei, các quy trình nước xanh lớn, quy
trình Gevaston dần được hoàn thiện và được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất Đến năm 1946 Fujinaga đã nghiên cứu và tìm ra ấu trùng N của Artemia làm thức ăn rất tốt cho giai đoạn M Sau gần 18 năm nghiên cứu và thí nghiệm đến năm 1946 quy trình sản xuất giống và ương nuôi ấu trùng tôm
he Nhật Bản mới được hoàn chỉnh Đây là cơ sở, nền tảng cho các công trình nghiên cứu và ứng dụng kết quả này để hoàn chỉnh quy trình sản xuất và ương
nuôi ấu trùng các loài tôm thuộc họ tôm he Nhật Bản (P Japonicus) [16]
Những năm 1960, làn sóng phát triển thứ hai của ngành tôm bắt đầu trỗi dậy khi các nhà khoa học cố gắng chuyển giao các phương pháp của Tiến
sỹ Fujinaga sang các khu vực khác và nhiều loài khác Địa điểm chuyển giao ban đầu là Mỹ và Đài Loan
Năm 1963, nhà nghiên cứu Hary cook (người Mỹ) cùng với sự cộng
tác của Fujinaga đã cho đẻ và ương nuôi thành công các đối tượng P Setiferat
và P Ortecus đồng thời xây dựng thành công quy trình bể nhỏ ở Mỹ, sau đó
được cải tiến và nhân rộng ở các nước khác như Philippin, Đài Loan, Thái Lan, Cũng từ đây trên thế giới đã nghiên cứu và sản xuất thành công nhiều đối tượng khác nhau (gần 20 loài thuộc giống penaeus và 7 loài thuộc giống
Metapenaeus như P Monodon, P Semiculcatus, P Merguiensis, P
Trang 23năm cần có ít nhất 96.000 tôm đẻ trứng để cung cấp cho các trại giống này sản xuất ra trên 54 tỷ ấu trùng tôm cung cấp cho thị trường nuôi tôm thịt [11]
Tuy nhiên trong những năm 1990, dịch bệnh Hội chứng đốm trắng lan rộng trên toàn cầu, do đó việc xem xét lại các biện pháp vệ sinh và an toàn sinh học là điều cần thiết Đúng lúc đó, Hiệp hội Nuôi tôm biển Mỹ đã phát triển ra một dòng tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) sạch bệnh mới
và giới thiệu sang châu Á Loại tôm sạch bệnh này được nuôi trong ao và cho năng suất cao Nông dân nhanh chóng chuyển từ tôm sú tự nhiên, mang nhiều bệnh sang nuôi TTCT, sạch bệnh Đồng thời, thay đổi phương pháp sản xuất
để giảm nguy cơ dịch bệnh bằng cách giảm thay nước, khử trùng nước và không sử dụng sinh vật tự nhiên làm thức ăn [19]
Trước đây thông tin về các đợt dịch bệnh (đặc biệt là hội chứng Taura) làm sản lượng giảm sút nghiêm trọng ở các quốc gia châu Mỹ, gây tâm lý e ngại cho các nhà quản lý quốc gia có ý định nhập nội thử nghiệm và phát triển nghề tôm thẻ chân trắng
Song với khả năng có thể kết hợp nuôi thương phẩm với sản xuất tôm
bố mẹ trong một ao nuôi quy mô lớn, cho phép thuần hoá và chọn giống để tạo ra những dòng tôm có đặc tính tốt hơn, tốc độ sinh trưởng cao, khả năng kháng bệnh tốt hơn Bằng biện pháp này, nước Mỹ đã thuần hoá tạo ra những nguồn tôm giống không có tác nhân gây bệnh đặc hữu (Specific Pathogen - SPF)
và tôm giống có sức đề kháng tác nhân gây bệnh đặc hữu (Specific Pathogen Resist - SPR) ở quy mô thương mại Điều này mở ra triển vọng cho việc duy trì
và phát triển nghề nuôi tôm thẻ chân trắng nói riêng và nghề tôm biển nói chung
ở các vùng sinh thái trên thế giới [17]
Xu hướng chuyển đổi đối tượng nuôi từ tôm Sú qua nuôi TTCT trên toàn thế giới hiện nay đặt ra vấn đề lớn về con giống Việc sinh sản nhân tạo giống THCT thành công lần đầu tiên vào năm 1973 ở Florida từ nguồn tôm bố mẹ
Trang 24tự nhiên khai thác ở Panama đã dẫn tới quá trình phát triển nhanh chóng của loài tôm này ở Trung, Nam Mỹ và Hawaii từ năm 1976 Sản lượng năm 1998 đạt đỉnh 193.000 tấn, sau đó giảm dần vì dịch bệnh đốm trắng Việc di giống loài này ở Châu Á sau đó đã làm sản lượng tăng vọt tới 1,386 triệu tấn năm
2004, trong đó Trung Quốc đóng góp 700.000 tấn, Thái Lan 400.000 tấn, Indonexia 300.000 tấn Sản lượng của Việt Nam năm 2004 được FAO ghi nhận là 50.000 tấn [18]
Để duy trì khả năng cạnh tranh nghề nuôi tôm trên khắp thế giới không ngừng phát triển Các nhà sản xuất phải liên tục nâng cao năng suất và hiệu quả trong mọi quá trình của chuỗi cung ứng, bao gồm cả vấn đề về sức khỏe, trại giống, chăn nuôi, quản lý ao, xây dựng nguồn cấp dữ liệu, hệ thống thông tin, chế biến và giấy chứng nhận thực hành để quảng bá người mua
1.2.2 Sơ lược về lịch sử phát triển nghề nuôi tôm ở Việt Nam
Ở Việt Nam nghề nuôi tôm đã xuất hiện hơn 100 năm qua nhưng chỉ mới thực sự phát triển từ những năm 90 của thế kỷ XX và từ thời điểm đó Việt Nam mới bắt đầu trở thành một trong những quốc gia có sản lượng tôm nuôi cao trong khu vực và trên thế giới Nuôi tôm là nghề có từ lâu đời nhưng chỉ là nuôi với hình thức nuôi quảng canh cổ truyền và bán thâm canh Còn nuôi thâm canh có quy mô thì chỉ mới phát triển khoảng hơn chục năm trở lại đây, khi mà sản xuất tôm bột giống đạt đến số lượng thương phẩm
Theo tổng kết của Hội Khoa học và Kỹ thuật về nuôi tôm lần thứ nhất năm 1987 cho biết: Từ năm 1971 trạm nghiên cứu NTTS nước lợ (nay thuộc
viện NCNTTS I) và trường ĐHTS đã cho đẻ thành công tôm he P
merguiensis và tôm M ensis tại Quý Kim (Hải Phòng) và Cái Dặm (Quảng
Ninh) nhưng trong giai đoạn ương nuôi ấu trùng còn gặp nhiều khó khăn nên chỉ phát triển đến giai đoạn Z, một số ít phát triển tới giai đoạn M rồi chết Sau đó vào năm 1974, với sự giúp đỡ của chuyên gia người Nhật Bản là
Trang 25Macno Kasumi, Trạm Nghiên cứu đã sản xuất được 65.000 con PL loài P
orientalis ở các bể 10m3 và 1,5 triệu PL loài P merguiensis ở bể 200m3 theo kiểu Nhật Bản [1]
Cùng với việc cho tôm đẻ thành công trạm NCNTTS nước lợ còn thành công trong việc nuôi Brachionus và tự sản xuất cho ấu trùng tôm Sự thành công của việc nghiên cứu gây nuôi thức ăn cho ấu trùng tôm là một trong những nguyên nhân trực tiếp đưa đến việc hoàn thành việc cho sinh sản một số giống tôm vào những năm 1975-1977
Với sự nổ lực của mình cùng sự giúp đỡ của các chuyên gia tổ chức FAO
và Viện NCTS nước lợ Hải Phòng, trong 6 năm (1976-1982), Trạm tôm giống
Quy Nhơn đã bắt đầu cho đẻ và ương nuôi thành công đối tượng P merguiensis
và P monodon [1]
Năm 1983 Trại thực nghiệm Cửa Bé, trường ĐHTS Nha Trang đã cho
đẻ thành công đối tượng P merguiensis và P monodon đây là thành công
bước đầu của các nhà nghiên cứu và sản xuất tôm giống tại Việt Nam
Năm 1986 cả nước đã sản xuất được 3,3 triệu PL các loại tôm he và mới xây dựng các trại sản xuất tôm giống có quy mô lớn như: Quý Kim Quy Nhơn, Vũng Tàu
Hiện nay nghề sản xuất tôm giống ở nước ta đang đứng trước nhiều cơ hội và thử thách mới: Với diện tích đưa vào nuôi hơn 500.000 ha, hàng năm Việt Nam cần khoảng 25-30 tỷ tôm PL (Bộ trưởng Tạ Quang Ngọc thông báo 892/TS-VP ngày 9/4/04) Tuy nhiên theo nguồn tin của World Fish (Agra Europe, 2002) thì ước tính gần đây chỉ có 10% tôm giống ở khu vực Miền Trung đạt tiêu chuẩn và vấn đề tôm giống chất lượng thấp đang được xem là nguyên nhân chết hàng loạt tại các tỉnh ĐBSCL
Năm 2006, tình hình sản xuất giống tôm cơ bản đã đáp ứng đủ nhu cầu
về lượng, cả nước đã sản xuất được 25 tỷ tôm giống Tuy nhiên về chất lượng
Trang 26tôm giống vẫn chưa được kiểm soát và quản lý tốt, chưa xây dựng được thương hiệu giống TS của từng vùng, công tác đăng ký chất lượng cũng như
kiểm soát chất lượng tôm giống lưu thông trên thị trường chưa được tốt [12]
Bảng 1.2 Tình hình sản xuất tôm giống tại Việt Nam
Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III (gọi tắt là Viện III) thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tạo ra được đàn tôm bố mẹ (F1) có nguồn gốc từ Hawaii và đã tạo ra được đàn giống tôm Thẻ chân trắng có chất lượng cao với tên gọi F1-V3-VN và đưa vào sản xuất đại trà từ năm 2008 Hiện mỗi năm Viện sản xuất khoảng 300 triệu con giống cho thị trường, tức là tăng gấp 10 lần so với năm 2008 [18]
Bộ NN&PTNT có chủ trương cho phát triển nuôi tôm thẻ chân trắng Theo đó, với các tỉnh Nam bộ phải có quy hoạch vùng nuôi và có hệ thống thủy lợi, cơ sở hạ tầng đảm bảo cho nuôi thâm canh Các tỉnh ven biển từ
Trang 27Bình Thuận tới Quảng Ninh được nuôi trong vùng nuôi tôm của địa phương Năm 2002, diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng của cả nước là 1.710 ha, sản lượng 10.000 tấn Năm 2007 diện tích nuôi đạt 4.000 ha, sản lượng đạt 30.000 tấn Năm 2008, diện tích nuôi khoảng 8.000 ha; năm 2009 tăng lên 14.500 ha
và đến năm 2010 đã tăng lên trên 25.300 ha Các tỉnh miền Trung và miền Bắc chiếm 17.960 ha, bằng 72% diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng của cả nước Năm 2010, diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng đạt gần 25.000 héc ta, tăng 30% so với 2009, sản lượng đạt 135.000 tấn (tăng 50% so với năm 2009
là 89.500 tấn) Xuất khẩu tôm chân trắng cả năm 2010 đạt 62.400 tấn, trị giá gần 414,6 triệu đô la, chiếm gần 20% tổng giá trị xuất khẩu tôm)
Khu vực ĐBSCL đang được coi là vựa tôm lớn của cả nước nhưng thực trạng về chất lượng tôm giống ở đây đang trong tình trạng báo động Từ đầu năm đến nay kết quả xét nghiệm trên 7000 mẫu tôm tại trung tâm giống TS Bạc Liêu cho thấy tỷ lệ tôm giống mắc các bệnh nguy hiểm khá cao, có trên
3000 mẫu tôm (khoảng 50%) bị nhiễm virus MBV (bệnh còi) và virus bệnh đầu vàng, riêng tỷ lệ tôm giống nhiễm bệnh đốm trắng chiếm 7-9 %
Hiện nay với số lượng trại được xây dựng rất lớn và nhiều với quy trình ngày một hoàn thiện hơn nhưng vẫn không đáp ứng được nhu cầu về con giống ngày càng cao của người dân Để nỗi lo của người dân về đàn tôm giống sạch bệnh, có tỉ lệ sống cao và tăng trưởng nhanh thì cần nhiều hơn nữa việc nghiên cứu để hoàn thiện hơn quy trình sản xuất giống Để nghề nuôi tôm là một nghề thế mạnh thì cần sự quan tâm, đầu tư nhiều hơn nữa của các cấp [19]
1.3 Tình hình nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống và thời gian biến thái của ấu trùng mysis tôm Thẻ chân trắng
Giai đoạn ấu trùng Mysis tôm Thẻ thức ăn chủ yếu là động vật phù
du Vi tảo là thức ăn tự nhiên cho ấu trùng tôm, đặc biệt quan trọng ở giai đoạn Z và M Hầu như các loài tảo biển có thể làm thức ăn cho ấu trùng tôm,
Trang 28tuy nhiên sự lựa chọn loại nào thường tập trung vào tiêu chí là kích cỡ vi tảo
để phù hợp với các giai đoạn của ấu trùng tôm và hàm lượng acid béo không
no HUFA có cao hay không Hàm lượng HUFA có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển ban đầu hệ thần kinh của tôm, chính nó là tiền thân của nhiều hợp chất sinh học (ví dụ Protaglandin), sau này chi phối các hoạt động phát triển và sinh sản của tôm [1]
Hiện nay thức ăn được sử dụng để nuôi ấu trùng Mysis có các loại như: TĂTH, Artemia, Tảo và nay có Hàu Hàu tươi nghiền nhỏ chưng lên đã được một số cơ sở sản xuất giống tôm thẻ sử dụng thay cho Tảo Bởi Hàu có hàm lượng chất dinh dưỡng cao, phù hợp với khả năng tiêu hóa của tôm thẻ, giảm thời gian cho ăn và chi phí so với trước đây sử dụng tảo giúp ấu trùng sống và phát triển tốt hơn Tuy nhiên vẫn chưa có nhiều nghiên cứu hàu làm thức ăn cho ấu trùng tôm Thẻ chân trắng
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu và vật liệu nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Ấu trùng tôm The chân trắng (Penaeus vannamei, Boone 1931) giai
đoạn Mysis
2.1.2 Vật liệu nghiên cứu
- Các loại thức ăn:
+ Thức ăn tươi sống: Artemia bung dù
+ Thức ăn tươi: Hàu tươi chưng chín
+ Thức ăn tổng hợp (TĂTH)
- Các chế phẩm sinh học, hóa chất sử dụng trong ương nuôi ấu trùng tôm: C-Mix, Super VS, Folmalin…
Trang 29- Hệ thống bể lọc nước, bể ương nuôi ấu trùng và các thiết bị phụ trợ khác phục vụ cho quá trình ương nuôi ấu trùng
- Các trang thiết bị, dụng cụ xác định các yếu tố môi trường như: khúc
xạ kế, test đo môi trường: độ kiềm, pH, máy đo độ mặn, nhiệt kế đo nhiệt độ…
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Ảnh hưởng của các loại thức ăn đến tỷ lệ sống của ấu trùng Mysis tôm Thẻ chân trắng
- Ảnh hưởng của các loại thức ăn đến thời gian biến thái của ấu trùng Mysis tôm Thẻ chân trắng
- Ảnh hưởng của các loại thức ăn đến tốc độ tăng trưởng của ấu trùng Mysis tôm Thẻ chân trắng
Sơ đồ khối nghiên cứu:
Tìm ra công thức thức ăn phù hợp
Ảnh hưởng của các công thức thức ăn đến tốc độ tăng trưởng,
tỷ lệ sống, thời gian biến thái của ấu trung Mysis tôm thẻ
Trang 30Hình 2.1 Sơ đồ khối nghiên cứu
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
* Kiểu bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp ngẫu
nhiên hoàn toàn một nhân tố trong 3 bể gồm 3 công thức, mỗi công thức lặp lại 3 lần
+ Công thức 1 (CT1): TĂTH + artemia + Hàu
+ Công thức 2 (CT2): TĂTH + artemia
Trang 31- CT3: TĂTH ngày 8 cữ
* Điều kiện thí nghiệm: - Bể thí nghiệm V = 6 m3
- Điều kiện môi trường: Nhiệt độ: 28 - 32oC, độ mặn: 27 - 30‰, pH: 7,5 - 8,5
* Điều kiện phi thí nghiệm: Các điều kiện phi thí nghiệm được quản lý
tương đồng giữa các công thức thí nghiệm
* Chế độ chăm sóc và quản lý
+ Chế độ cho ăn: Ngày cho ăn 8 lần mỗi lần cách nhau 3 giờ đồng hồ + Sục khí 24/24
Trang 32- Theo dõi các yếu tố môi trường
- Xác định tỷ lệ sống, thời gian biến thái
- Xác định tốc độ tăng trưởng chiều dài
Kết luận và đề xuất
B3 B2