BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ, CÁC LOẠI THỨC ĂN ĐẾN TỶ LỆ SỐNG, THỜI GIAN BIẾN THÁI VÀ TĂNG TRƯỞNG CỦA ẤU TRÙNG GIAI ĐOẠN ZOEA KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
GIAI ĐOẠN ZOEA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ, CÁC LOẠI THỨC ĂN ĐẾN TỶ LỆ SỐNG, THỜI GIAN BIẾN THÁI VÀ
TĂNG TRƯỞNG CỦA ẤU TRÙNG
GIAI ĐOẠN ZOEA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Sinh viên thực hiện: Trần Khánh Hòa Lớp: 49K2 - KS NTTS Người hướng dẫn: ThS Nguyễn Đình Vinh
Vinh - 5/2012
Trang 3Tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới Ban Chủ Nhiệm cùng các thầy,
cô giáo khoa Nông - Lâm - Ngư, trường Đại học Vinh đã giảng dạy cho tôi những kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong những năm tôi ngồi trên ghế giảng đường đại học
Tôi cũng xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của ban lãnh đạo, cùng các công nhân viên trong chi nhánh Công ty cổ phần Chăn nuôi C.P Việt Nam tại Bình Định
đã tạo điều kiện tốt cho tôi được thực tập trong thời gian qua
Xin gửi lời cảm ơn tới các bạn sinh viên lớp 49K2 - NTTS, khoa Nông - Lâm - Ngư, trường Đại học Vinh đã luôn bên cạnh giúp đỡ và quan tâm chia sẽ những khó khăn trong những năm qua Chúc các bạn hạnh phúc và thành công trong
sự nghiệp
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đặc biệt và kính trọng đến gia đình tôi, đó là
bố, mẹ những người đã sinh thành và nuôi nấng tôi nên người, hai em gái của tôi đã giúp đỡ và động viên tôi trong thời gian qua
Vinh, tháng 05 năm 2012
Sinh viên
Trần Khánh Hòa
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Khả năng thích nghi của tôm he chân trắng với một số
yếu tố môi trường Bảng 1.2 Thời gian phát triển phôi tôm he chân trắng
Bảng 1.3 Tốc độ phát triển phụ thuộc vào mật độ thả
Bảng 2.1 Phương pháp xác định các yếu tố môi trường
Bảng 3.1 Các yếu tố môi trường trong thời gian thí nghiệm
Bảng 3.2 Tỷ lệ sống theo giai đoạn của ấu trùng Zoea tôm he Chân
Trắng thí nghiệm 1 Bảng 3.3 Thời gian biến thái của ấu trùng tôm he giai đoạn Zoea
trong thí nghiệm 1 Bảng 3.4 Tăng trưởng chiều dài toàn thân của ấu trùng Zoea trong
thí nghiệm 1 Bảng 3.5 Tỷ lệ sống theo giai đoạn của ấu trùng Zoea tôm he Chân
Trắng thí nghiệm 2 Bảng 3.6 Thời gian biến thái của ấu trùng tôm he giai đoạn Zoea
trong thí nghiệm 2 Bảng 3.7 Tăng trưởng chiều dài toàn thân của ấu trùng Zoea trong
thí nghiệm 2
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Hình thái tôm he Chân Trắng trưởng thành
Hình 1.2 Vòng đời của tôm he chân trắng (FAO, 2004)
Hình 1.10 Ấu trùng Pots Larvae
Hình 2.1 Sơ đồ khối nghiên cứu
Hình 3.1 Tỷ lệ sống tích lũy của ấu trùng Zoea tôm he Chân Trắng
ở các nghiệm thức thức ăn khác nhau trong thí nghiệm 1 Hình 3.2 Thời gian biến thái của ấu trùng tôm he Chân Trắng trong
thí nghiệm 1 Hình 3.3 Tăng trưởng về chiều dài toàn thân của ấu trùng Zoea
trong thí nghiệm 1 Hình 3.4 Tỷ lệ sống tích lũy của ấu trùng Zoea tôm he Chân Trắng
ở các nghiệm thức thức ăn khác nhau trong thí nghiệm 2 Hình 3.5 Thời gian biến thái của ấu trùng tôm he Chân Trắng trong
thí nghiệm 2 HÌnh 3.6 Tăng trưởng về chiều dài toàn thân của ấu trùng Zoea
Trang 7trong thí nghiệm 2
Trang 8MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Một số đặc điểm sinh học của tôm he Chân Trắng (Penaeus vannamei) 3
1.1.1 Hệ thống phân loại 3
1.1.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo 3
1.1.3 Phân bố 4
1.1.4 Tập tính sống 4
1.1.5 Tính ăn 5
1.1.6 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển 6
1.1.7 Nhu cầu dinh dưỡng của tôm he Chân Trắng ( P.vannamei) 13
1.2 Lịch sử phát triển nghề sản xuất giống tôm he Chân Trắng 15
1.2.1 Trên thế giới 16
1.2.2 Tại Việt Nam 17
1.3 Tình hình nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ, thức ăn đến tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng và thời gian biến thái của ấu trùng tôm he Chân Trắng 21
1.3.1 Tình hình nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống, tốc dộ tăng trưởng và thời gian biến thái của ấu trùng tôm he Chân Trắng 21
1.3.2 Tình hình nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng và thời gian biến thái của ấu trùng tôm he Chân Trắng 23
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Đối tượng nghiên cứu 25
2.2 Vật liệu và thiết bị nghiên cứu 25
2.3 Nội dung nghiên cứu 25
2.3.1 Thí nghiệm 1 25
2.3.2 Thí nghiệm 2 25
2.4 Phương pháp nghiên cứu 26
2.4.1 Sơ đồ khối nghiên cứu 26
2.4.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 27
Trang 92.4.3 Phương pháp thu thập số liệu 28
2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 29
2.5 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 29
2.5.1 Thời gian nghiên cứu 29
2.5.2 Địa điểm nghiên cứu 29
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
3.1 Kết quả quản lý các yếu tố môi trường thí nghiệm 30
3.2 Ảnh hưởng của các loại thức ăn đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái và tốc độ tăng trưởng của ấu trùng Zoea tôm he chân trắng 32
3.2.1 Ảnh hưởng của các loại thức ăn đến tỷ lệ sống của ấu trùng Zoea tôm he chân trắng 32
3.2.2 Ảnh hưởng của các loại thức ăn đến thời gian biến thái của ấu trùng Zoea tôm he Chân Trắng 34
3.2.3 Ảnh hưởng của các loại thức ăn đến tốc độ tăng trưởng của ấu trùng Zoea tôm he Chân Trắng 36
3.3 Ảnh hưởng của mật độ đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái và tốc độ tăng trưởng của ấu trùng Zoea tôm he Chân Trắng 37
3.3.1 Ảnh hưởng của mật độ đến tỷ lệ sống của ấu trùng Zoea tôm he chân trắng 38
3.3.2 Ảnh hưởng của mật độ đến thời gian biến thái của ấu trùng Zoea tôm he chân trắng 40
3.3.3 Ảnh hưởng của mật độ đến tốc độ tăng trưởng của ấu trùng Zoea tôm he chân trắng 41
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
Trang 10MỞ ĐẦU
Nước ta có tiềm năng lớn về thuỷ sản, thể hiện ở đường bờ biển kéo dài suốt chiều dài lãnh thổ từ Bắc vào Nam, với 3260 km Hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, tính trung bình cứ 100 km2 diện tích tự nhiên có 1 km bờ biển và gần 30
km bờ biển có một cửa sông lạch tạo nên khoảng 1,7 ha mặt nước nuôi trồng thủy sản, là môi trường thuận lợi cho ngành này phát triển Bên cạnh đó, vùng nội thuỷ
và lãnh hải rộng 226.000 km2, vùng biển đặc quyền kinh tế rộng 1 triệu km2 với hơn
4000 hòn đảo, tạo nên 12 vịnh, đầm phá với tổng diện tích 1.160 km2
được che chắn tốt dễ trú đậu tàu thuyền
Tôm he Chân Trắng (P.Vannamei) là đối tượng nuôi mới của nghề nuôi tôm
ở nước ta, bên cạnh tôm Sú là đối tượng truyền thống có lịch sử phát triển lâu đời nhất Tuy nhiên hiện nay nghề nuôi tôm Sú đang gặp nhiều khó khăn như: phân bố hẹp, dễ mắc bệnh, giá thành bấp bênh, thời gian nuôi kéo dài 3 – 4 tháng, có khi lên đến 6 tháng, giá thành thức ăn lại cao….Trong khi đó tôm he Chân Trắng là đối tượng nuôi mới có nhiều ưu điểm hơn hẳn với tôm Sú do năng suất cao, sức đề kháng tốt và thời gian quay vòng nhanh; giá tôm thẻ nguyên liệu đang có chiều hướng tăng cao… là đối tượng giúp xoá đói giảm nghèo và làm giàu cho nhân dân
Do đó quy mô sản xuất giống và nuôi thương phẩm đối tượng này đang ngày càng được mở rộng
Trong giai đoạn ương nuôi ấu trùng của quy trình sản xuất giống tôm he Chân Trắng thường gặp rủi ro, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ sống và chất lượng ấu trùng, đặc biệt ở giai đoạn Zoea Các loại thức ăn được sử dụng để ương nuôi ấu trùng tôm he Chân Trắng hiện nay là tảo, artemia và thức ăn tổng hợp Nhưng có nhiều công thức phối hợp giữa các loại thức ăn với nhau Mỗi công thức thức ăn và mật độ ương nuôi khác nhau cho kết quả khác nhau, cụ thể là tỷ lệ sống, thời gian biến thái và tốc độ tăng trưởng của ấu trùng Do đó việc tìm ra công thức thức ăn phối trộn và mật độ ương nuôi phù hợp với từng giai đoạn phát triển của ấu trùng là một trong những khâu quan trọng, quyết định sự thành bại của sản xuất và góp phần xây dựng quy trình sản xuất giống nhân tạo tôm he Chân Trắng ở nước ta ngày càng hoàn thiện hơn
Trang 11Xuất phát từ yêu cầu đó nên chúng tôi đã tiến hành đề tài: "Ảnh hưởng của
mật độ, các loại thức ăn đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái và tăng trưởng của ấu trùng tôm he Chân Trắng (Penaeus vannamei) giai đoạn Zoea"
Mục tiêu đề tài
Tìm ra loại thức ăn, mật độ thích hợp để ương nuôi ấu trùng tôm he Chân Trắng giai đoạn Zoea
Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái và tăng trưởng của ấu trùng tôm he Chân Trắng giai đoạn Zoea
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các mật độ ương nuôi khác nhau đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái và tăng trưởng của ấu trùng tôm he Chân Trắng giai đoạn Zoea
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số đặc điểm sinh học của tôm he Chân Trắng (Penaeus vannamei)
Tên tiếng anh: White leg shrimp
Tên tiếng việt: Tôm he Chân Trắng hay tôm Chân Trắng
1.1.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo
Hình 1.1 Hình thái tôm he Chân Trắng trưởng thành
Tôm có màu trắng đục, trên thân không có đốm vằn, vỏ tôm trắng mỏng, nhìn vào cơ thể có thể thấy rõ đường ruột và các đốm nhỏ dày đặc từ lưng xuống bụng Các chân bò có màu trắng ngà, chân bơi có màu vàng nhạt Các vành chân đuôi có màu đỏ nhạt và xanh Râu tôm có màu đỏ và chiều dài gấp 1,5 lần chiều dài
Trang 13thân Tôm cái có Thelycum dạng hở Chiều dài của những cá thể lớn có thể đạt tới
23 cm [5]
Vỏ đầu ngực có những gai gân và gai râu rất rõ, không có gai mắt và gai đuôi, không có rãnh sau mắt, đường gờ sau chuỳ khá dài đôi khi từ mép sau vỏ đầu ngực Gờ bên chuỳ ngắn, chỉ kéo dài tới gai thượng vị Có 6 đốt bụng, ở đốt mang trứng, rãnh bụng rất hẹp hoặc không có Telsson (gai đuôi) không phân nhánh Xúc biện của hàm dưới thứ nhất thon dài và thường có 3- 4 hàng, phần cuối của xúc biện
có hình roi Gai gốc (basial) và gai ischial nằm ở đốt thứ nhất chân ngực [3]
1.1.3 Phân bố
Tôm he Chân Trắng (Penaeus vannamei hay Litopennaeus vannamei Boone,
1931) có nguồn gốc từ ven biển Tây Thái Bình Dương thuộc Châu Mỹ Latinh, từ phía Nam Peru đến phía Bắc Mêhicô Trên thế giới tôm he Chân Trắng phân bố nhiều ở vùng biển Ecuado Tại vùng Esmieraldes, quanh năm đều bắt được tôm cái mang trứng Chính vì vậy tôm he Chân Trắng nuôi nhiều ở các nước Nam Mỹ [10]
Đây là loài có tính thích nghi rộng, không những phát triển rộng rãi ở Châu
Mỹ mà còn phát triển ở Trung Quốc, Đài Loan, Malaysia, Indonexia, Việt Nam…(Thái Bá Hồ - Ngô Trọng Lư, 2004)
1.1.4 Tập tính sống
Tôm He Chân Trắng sống ở vùng biển tự nhiên có các đặc điểm sau:
Đáy cát, độ sâu từ 0 – 72 m, nhiệt độ ổn định từ 25 – 320C, độ mặn từ 28 –
340/00, pH từ 7,7 – 8,3 Tôm trưởng thành phần lớn sống ở ven biển gần bờ, tôm con
ưa sống ở các khu vực cửa sông giàu sinh vật làm thức ăn Ban ngày tôm vùi mình trong bùn, ban đêm mới bò đi kiếm ăn Chúng lột xác về ban đêm, khoảng 20 ngày lột xác một lần [6]
Tôm he Chân Trắng thích bơi thành hàng, dọc theo bờ ao hoặc giữa ao Về đêm nếu có động mạnh chúng sẽ đồng loạt búng lên khỏi mặt nước Ngoài ra còn hay khui đáy ao và bờ ao để tìm mồi, làm cho nước thường hay bị đục [1]
Tôm he Chân Trắng có sự thích nghi rất mạnh đối với sự thay đổi đột ngột của môi trường sống, lên mặt nước khá lâu mà vẫn không chết
Trang 14Bảng 1.1 Khả năng thích nghi của tôm he Chân Trắng với một số yếu tố môi
Trang 15tôm he Chân Trắng (trong khi tôm sú khoảng 38 – 40%, tôm he Nhật Bản khoảng 60%), trong khẩu phần có mực tươi được tôm rất ưa chuộng [1]
Tảo là thức ăn tự nhiên không thể thiếu cho ấu trùng tôm, đặc biệt quan trọng
ở giai đoạn Zoea, Mysis Đây là giai đoạn khó khăn nhất trong trong công nghệ sản xuất giống tôm He Chân Trắng, ở giai đoạn này tỷ lệ ấu trùng chết thường rất cao
và thậm chí ấu trùng không thể chuyển sang được giai đoạn sau [2]
1.1.6 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển
Một cách tổng quát có thể chia vòng đời tôm he Chân Trắng thành năm thời kỳ: thời kỳ phát triển phôi, thời kỳ ấu trùng phù du, hậu ấu trùng phù du, tiền trưởng thành và trưởng thành
Hình 1.2 Vòng đời của tôm he Chân Trắng (FAO, 2004)
- Thời kỳ phát triển phôi:
Khởi đầu thời kỳ phát triển phôi bắt đầu tính từ khi tôm mẹ rải trứng ra môi trường nước, đồng thời với quá trình thụ tinh cho đến khi trứng nở thành ấu trùng Nauplius
Trang 16Bảng 1.2 Thời gian phát triển phôi tôm he Chân Trắng
Như vậy thời gian kết thúc giai đoạn phôi phụ thuộc nhiều vào nhiệt độ
nước nuôi, nhiệt độ càng cao trong khoảng thích hợp thì thời gian kết thúc giai đoạn phôi càng ngắn
- Thời kỳ ấu trùng phù du:
Căn cứ vào đặc điểm cấu tạo hình thái ngoài và tập tính bắt mồi thì người ta chia ấu trùng của tôm He Chân Trắng thành bốn giai đoạn gồm: Nauplius (N), Zoea (Z), Mysis (M), Post Larvae (P) và trong mỗi giai đoạn ấu trùng N, Z, M, P lại bao gồm nhiều giai đoạn phụ
+ Nauplius: Nauplius là giai đoạn đầu tiên của ấu trùng, dinh dưỡng bằng
noãn hoàng mà không sử dụng thức ăn bên ngoài Giai đoạn Nauplius có hình dạng rất khác với tôm trưởng thành: Ấu trùng có dạng hình quả lê với ba đôi phụ bộ và một điểm mắt Đôi phần phụ thứ nhất không phân nhánh là mầm của đôi râu 1, hai đôi phần phụ thứ 2 và thứ 3 phân 2 nhánh là mầm của đôi râu 2 và đôi hàm 1 Trên phần phụ có nhiều lông cứng, ở giai đoạn N1 lông cứng trên phần phụ trơn Từ giai đoạn N2 trở lên lông cứng có nhiều lông nhỏ dạng lông chim Mặt bụng bắt đầu xuất hiện các mấu lồi là mầm của đôi hàm 2, đôi hàm 3, châm hàm 1, 2, 3 sau này Riêng giai đoạn N6 thì phần sau cơ thể kéo dài: Chiều dài khoảng 0,61 mm, chiều rộng khoảng 0,20 mm và mỗi nhánh đuôi mang 7 gai đuôi Có sự khác nhau rõ ràng về hiện tượng phân đốt giữa râu thứ nhất và râu thứ hai Có thể nhìn thấy từ mặt lưng
sụ phát triển của vỏ ngoài của vỏ đầu ngực (Carapace) [2]
Trang 17
Hình 1.3 Ấu trùng Nauplius
Thời gian cần thiết để kết thúc giai đoạn Nauplius tỷ lệ nghịch với yếu tố nhiệt độ nước Ở nhiệt độ thích hợp (29 - 30oC), sau khoảng 35 – 45 giờ, ấu trùng chuyển sang giai đoạn Zoea
+ Zoea (Z): Z là giai đoạn đầu tiên sử dụng thức ăn bên ngoài của ấu trùng
Từ Nauplius 6 đã hình thành mầm cơ quan tiêu hóa Lần lột xác cuối cùng của Nauplius 6 sẽ giúp cho cơ quan tiêu hóa hình thành tương đối hoàn chỉnh để ấu trùng Z có thể ăn được thức ăn bên ngoài Giai đoạn Z có 3 giai đoạn phụ (Z1 – Z3) thay đổi hẳn về hình thái so với N Ấu trùng Z bơi lội nhờ hai đôi râu (đôi 1 phân đốt đôi 2 phân nhánh kép) và 3 đôi chân hàm phân nhánh Chúng bơi lội liên tục có định hướng về phía trước, ấu trùng Z bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài Thức ăn chủ yếu
là thực vật nổi với hình thức chủ yếu là ăn lọc Ở giai đoạn này, ấu trùng ăn mồi liên tục, ruột luôn đầy thức ăn và thải phân liên tục tạo thành đuôi phân kéo dài ở phía sau- đây là đặc điểm để nhận biết giai đoạn này Vì vậy khi nuôi ấu trùng Z, thức ăn cần được cung cấp đạt mật độ thích hợp, đảm bảo cho việc lọc thức ăn của ấu trùng Ngoài hình thức ăn lọc, ấu trùng Z vẫn có khả năng bắt mồi và ăn được các động vật nổi có kích thước nhỏ ( Nauplius của Artemia, luân trùng ) đặc biệt vào cuối giai đoạn này-Z3 Mỗi giai đoạn phụ của ấu trùng Z thường kéo dài khoảng 30- 40h, trung bình 36h ở nhiệt độ 28-29°C
Zoea 1 (Z1)
Giai đoạn nay chiều dài thân khoảng 1 mm, chiều rộng khoảng 0,49 mm Cơ thể có một sự thay đổi căn bản xuất hiện từ giai đoạn N5 Cơ thể ấu trùng từ đây bắt
Trang 18đầu chia làm hai phần rõ rệt Phần đầu (Carapace hay là Thorax) và phần bụng (Abdomen) Có thể phân biệt bằng mắt thường hai giai đoạn N5 và Z1
Mắt đã xuất hiện nhưng chưa vươn cao lên khỏi Carapace
Những đặc điểm khác: Ống tiêu hoá chạy từ miệng tới hậu môn, có thể nhìn thấy thức ăn khi ấu trùng đang ăn [2]
Hình 1.4 Ấu trùng Zoea 1
Zoea 2 (Z2)
Giai đoạn này cơ thể có chiều dài khoảng 1,9 mm Có hai mắt xuất hiện hoàn chỉnh, đã vượt ra khỏi vỏ đầu ngực (Carapace) Chuỷ (Rostrum) đã xuất hiện [4] Phần bụng đã chia thành 4 đốt
Hình 1.5 Ấu trùng Zoea 2
Zoea 3 (Z3)
Giai đoạn này chiều dài cơ thể khoảng 2,7 mm, có những đặc điểm khác để phân biệt đó là: Phát triển một đôi nhánh chân đuôi (Uropods), các gai (Spine) đã xuất hiện trên mỗi đoạn bụng (Abdominal somites) [2] Phần bụng 7 đốt bao gồm 6 đốt bụng và 1 chạc đuôi, đốt bụng 6 dài có mầm chân đuôi
Trang 19Hình 1.6 Ấu trùng Zoea 3
+ Mysis:
Sau khi hoàn tất giai đoạn Z3 thì ấu trùng chuyển sang giai đoạn Mysis Giai đoạn này được đặc trưng bởi sự thay đổi đặc tính của ấu trùng đó là hiện tượng bơi búng ngược về phía sau với đầu chúc xuống dưới, vận động bằng chân bò
Thức ăn ở giai đoạn này thiên về động vật phù du kích cỡ nhỏ, các mảnh vụn hữu cơ trong nước, chúng có tập tính bắt mồi chủ động trong sản xuất giống nhân tạo hiện nay thường sử dụng hai loại thức ăn chính cho M là thức ăn tổng hợp + thức ăn tươi sống là N của Artemia, một số nơi có cho ăn thêm tảo tươi, tảo khô trong thức ăn tổng hợp
Dựa vào hình thái ngoài, người ta chia giai đoạn Mysis thành ba giai đoạn phụ tương ứng với ba lần lột xác (M1, M2, M3) với các đặc điểm như sau:
Mysis 1 (M1)
Giai đoạn này ấu trùng có chiều dài cơ thể khoảng 3,4 mm Cơ thể đã có hình dạng của tôm trưởng thành Các cặp chân bụng (Pleopods) bắt đầu nhú ra ở 5 đốt đoạn bụng Đuôi với quạt đuôi (Telson) xuất hiện Các gai (Spines) thu nhỏ lại rất nhiều ở phần Furcae so với giai đoạn Z3 [2]
Hình 1.7 Ấu trùng Mysis 1
Trang 20 Mysis 2 (M2)
Giai đoạn này ấu trùng có chiều dài cơ thể khoảng 4,0 mm Chân bụng đã trồi ra nhưng chưa xuất hiện các đoạn nhỏ (Segment) Quạt đuôi (Telson) có vết lõm vào ở cuối quạt đuôi thì nông hơn so với giai đoạn M1[2]
Hình 1.8 Ấu trùng Mysis 2
Mysis 3 (M3)
Giai đoạn này ấu trùng có chiều dài cơ thể khoảng 4,4 mm Chân bụng dài hơn và đã phân chia thành khúc nhỏ Quạt đuôi thì chỗ lõm vào ở cuối quạt đuôi không còn thấy xuất hiện như trong giai đoạn M2 Ở giai đoạn này xuất hiện răng trên chủy đầu tiên (First dorsal spine on rostrum)[2]
Hình 1.9 Ấu trùng Mysis 3
+ Postlarvae:
Sau giai đoạn Mysis là giai đoạn Post Larvae Ở giai đoạn này các phần phụ bơi lội phát triển hoàn chỉnh, chân bơi phân thành hai đốt: đốt ngoài cùng dạng hình mái chèo Đốt ngoài cùng của chân bò chẻ làm hai nhánh uốn cong, hoạt động như cái kim, giúp bắt giữ thức ăn Ấu trùng bơi lội dễ dàng trong nước để tìm kiếm thức
ăn
Trang 21Hình thái của Post Larvae rất giống với tôm trưởng thành chỉ khác ở độ lớn Post Larvae phát triển thành tôn ấu niên, có khuynh hướng di chuyển sang vùng nước cạn, cửa sông hay những vùng có độ mặn thấp [2]
Hình 1.10 Ấu trùng Pots Larvae
- Thời kì tiền trưởng thành:
Trong suốt quá trình di cư tìm kiếm thức ăn theo hướng độ mặn giảm, tôm he Chân Trắng không ngừng tích lũy vật chất lột xác lớn lên theo chiều dài, khối lượng ngày một hoàn thiện hơn về cơ quan sinh sản Khi đạt được khối lượng và kích thước nhất định tôm he Chân Trắng có quá trình đi ngược lại (từ độ mặn thấp tới độ mặn cao) để chuẩn bị cho quá trình giao vỹ và đẻ trứng Thời kỳ này được đặc trưng bởi sự chín sinh dục nghĩa là con cái đã có trứng trong buồng trứng và con đực có tinh trùng trong túi tinh
- Thời kỳ trưởng thành:
Điểm đặc trưng của thời kỳ này là tuyến sinh dục chín mùi hoàn toàn Thời
kỳ này tôm he Chân Trắng đã di cư ra biển sâu nơi có độ mặn cao và ổn định, nước trong để chuẩn bị đẻ trứng Trong quá trình di cư tôm chân trắng bắt cặp giao vỹ
Tôm chân trắng sinh tưởng nhanh thời gian đầu, đặc biệt trước khi đạt đến trọng lượng 20 grs Trong điều kiện nuôi ở 27-29oC, với mật độ nuôi khoảng 80-
100 con/m2 tỷ lệ phát triển đạt khoảng 3 grs/tuần, sau đó khi tôm đạt đến độ lớn 50 con/ m2 tỷ lệ phát triển giảm hẳn xuống 1grs/tuần
Ở rất nhiều trang trại, người nuôi nhận thấy tôm cái phát triển nhanh hơn tôm đực trong cùng thời gian nuôi, tỷ lệ chênh lệch này khoảng 9:10 hoặc 9,5:10 Ngoài
ra cũng như một số loài tôm he khác vào mùa hè tôm he Chân Trắng phát triển nhanh hơn mùa đông
Trang 22Một điều quan trọng nữa cần lưu ý cho người nuôi là tốc độ tăng trưởng của tôm he chân trắng phụ thuộc lớn vào vào mật độ thả giống, với các mật độ thả giống khác nhau từ 30-100 con/m2 người nuôi sẽ không quan sát được sự khác biệt về tốc
độ phát triển trong tháng nuôi đầu tiên nhưng kể từ tháng thứ 2 trở đi người ta dễ dàng nhận thấy độ lớn của đàn tôm nuôi thả ở mật độ cao khoảng 100 con/m2 chậm hơn nhiều so với đàn tôm thả ở mật độ 30-50 con/m2
1.1.7 Nhu cầu dinh dưỡng của tôm he Chân Trắng ( P.vannamei)
a) Nhu cầu về Protein
Protein là thành phần dinh dưỡng quan trọng trong thức ăn của tôm, là là vật chất hữu cơ chủ yếu xây dựng nên các tổ chức mô của động vật và các chất có hoạt tính sinh học cao như là enzyme, hormon và các sản phẩm khác Nhu cầu protein thay đổi tùy theo giai đoạn phát triển của tôm Hàm lượng Protein trong thức ăn của giai đoạn ấu trùng tôm tốt nhất ≥ 40 % Postlarvae yêu cầu tỉ lệ 40% protein trong thức ăn, cao hơn các giai đoạn sau
Tôm Chân Trắng không cần khẩu phần ăn có lượng protein cao như tôm sú Theo nghiên cứu của Colvin and Brand (1977) là 30%, Kureshy and Davis (2002) là 32% Trong đó, thức ăn có lượng protein 35% được coi như là thích hợp hơn cả, trong đó khẩu phần ăn có thêm mực tươi rất được tôm ưa chuộng Men tiêu hoá protein của tôm chủ yếu ở dạng trypsine, không có pepsine (Vonk, 1970) Ngoài ra trong dạ dày tôm có 85% số vi khuẩn tạo thành chitinase Ngoài việc cung cấp dinh dưỡng, quan trọng nhất là giúp tôm có khả năng tiêu hoá chitinase một phức hợp của protein
Thức ăn thiếu Protein sẽ làm cho động vật chậm lớn, tôm dễ bị nhiễm trùng đường ruột, đường hô hấp dễ bị nhiễm bệnh [10] Còn nếu thừa Protein thì chỉ 1
Trang 23phần Protein sẽ được sử dụng để tổng hợp nên các Protein mới trong cơ thể, phần còn lại sẽ được chuyển hóa thành năng lượng hoặc bài tiết ra ngoài, gây lãng phí làm giảm hiệu quả nuôi, gây ô nhiễm môi trường nuôi
b) Nhu cầu Lipid
Lipid là hợp phần cấu tạo quan trọng của các màng sinh học, là nguồn cung cấp năng lượng, cung cấp các vitamin hòa tan trong mỡ (như A, D, E, K ), các acid béo cần thiết cho quá trình sinh trưởng và phát triển của động vật thủy sản Nhiều nghiên cứu cho thấy lipid có ảnh hưởng đến sinh trưởng của tôm, đặc biệt là giai đoạn ấu trùng và tôm giống [10]
Cùng với Hydratcacbon thì chất béo tạo ra năng lượng Nếu năng lượng của thức ăn quá thấp thì tôm sẽ sử dụng nguồn năng lượng từ các dưỡng chất khác, như protein để thoả mãn nhu cầu về năng lượng, làm nâng cao chi phí thức ăn Nếu năng lượng trong thức ăn quá cao thì sẽ làm giảm sự hấp thu thức ăn và chất đạm tiêu hoá không đủ để tôm phát triển
Thành phần lipid có trong thức ăn tôm khoảng 6-7,5%, không nên quá 10% Với hàm lượng lipid trong thức ăn >10% sẽ dẫn đến giảm tốc độ sinh trưởng, tăng
tỷ lệ tử vong, có thể do nguyên nhân mất thăng bằng và thiếu dinh dưỡng (Akiyama, 1992)
c) Carbohydrate
Hydratcacbon là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu cho cơ thể (khoảng 60% năng lượng cho hoạt động sống của động vật) Tuy khả năng sản sinh ra nhiệt lượng của hydratcacbon kém hơn so với lipid, song hydratcacbon lại có ưu thế hoà tan được, vì vậy quá trình tiêu hoá hấp thu dễ dàng
Ở giáp xác có nhiều men tiêu hoá hydratcacbon như: amylaza, maltaza, kitinaza, cellulaza (Kooiman, 1964), nhờ đó giáp xác có thể tiêu hoá một thành phần cellulose nên chúng có thể ăn thực vật và rong tảo
Thức ăn nhiều xơ sẽ đưa kết quả xấu vì cơ quan ruột, dạ dày của tôm ngắn, thức ăn nhanh chóng đi qua và thời gian tiêu hoá bị hạn chế Nhưng chất xơ đóng vai trò là chất nền cho quá trình lên men của vi sinh vật sống trong ống tiêu hoá, vì vậy trong thức ăn tôm người ta thường bổ sung khoảng 5% bột cỏ hoặc rong biển Ngoài vai trò là chất nền trong chất xơ tồn tại một lượng nước nhất định, chính
Trang 24lượng nước này có tác dụng duy trì dịch ruột làm tăng quá trình hấp thu chất dinh dưỡng
d) Vitamin
Vitamin là những chất hữu cơ có bản chất hóa học khác nhau, cơ thể động vật không thể tự tổng hợp được, có nhu cầu một lượng nhỏ trong thức ăn để đảm bảo sự sinh trưởng và phát triển bình thường Hầu hết vitamin có vai trò như một co-enzyme hoặc các tác nhân hỗ trợ các enzyme thực hiện các phản ứng sinh hóa trong cơ thể [7]
Nhu cầu vitamin ở tôm tùy thuộc vào kích cỡ, tuổi, tốc độ sinh trưởng, điều kiện dinh dưỡng, nhu cầu từng loại vitamin thực tế cho từng loài tôm, cho từng giai đoạn vẫn chưa được biết nhiều Vì thế trong thức ăn, lượng vitamin bổ sung thường vượt qua nhu cầu thực tế của tôm nhằm bù đắp lượng mất đi do hòa tan trong nước,
do phân hủy trong quá trình sản xuất thức ăn và bảo quản
e) Chất khoáng
Chất khoáng là yếu tố tạo hình (đặc biệt là vỏ) giúp tôm tăng sức đề kháng đối với sự biến động của môi trường và sự nhiễm trùng [10] Giống như các động vật thủy sinh khác, tôm có thể hấp thụ và bài tiết chất khoáng trực tiếp từ môi trường nước thông qua mang và bề mặt cơ thể Vì vậy, nhu cầu chất khoáng ở tôm phụ thuộc nhiều vào hàm lượng chất khoáng có trong môi truờng tôm đang sống
1.2 Lịch sử phát triển nghề sản xuất giống tôm he Chân Trắng
Trên thế giới, sản lượng tôm Chân Trắng đứng hàng thứ hai sau tôm sú nhưng ở châu Mỹ sản lượng tôm Chân Trắng đứng hàng đầu, đạt 86.000 tấn (1990), 132.000 tấn (1992), 191.000 tấn (1998) và đạt gần 200.000 tấn năm 1999.[6] Ecuador coi nuôi tôm Chân Trắng là ngành sản xuất lớn, sản lượng tôm nuôi chiếm 95% tổng sản lượng của khu vực châu Mỹ, năm 1991 là 103.000 tấn Năm 1993, do gặp dịch bệnh hội chứng Taura (Taura Symdrome Virus) sản lượng giảm còn 1/3, sau 2-3 năm khôi phục lại đạt 120.000 tấn (1998), 130.000 tấn (1999) rồi lại gặp đại dịch bệnh đốm trắng còn 35.000 tấn (2000)
Một số nước như Mexico, Panama, Eelize, Peru, Colombia… cũng có tình hình phát triển tương tự Ecuador Sau khi được nhiều nước Châu Mỹ nuôi nhân tạo thành công và có hiệu quả cao, tôm Chân Trắng được di giống sang Hawaii Từ đây
Trang 25tôm Chân Trắng lan sang Châu Á, Đông Nam Á Nhiều nước Đông Nam Á đã nhập tôm chân trắng để nuôi như: Philippin, Inđônêsia, Malaixia, Thái Lan, Việt Nam với hy vọng đa dạng hóa các sản phẩm tôm xuất khẩu để nhằm tránh tình trạng chỉ trông cậy phần lớn vào tôm sú hiện nay Tôm Chân Trắng được nhập khẩu vào Châu
Á vì người ta nhận thấy một số loại tôm bản địa chủ yếu hiện đang được nuôi cho năng suất thấp, mức độ tăng trưởng chậm và có khả năng mang bệnh Việc khoanh vùng nuôi tôm Chân Trắng khép kín và sự phát triển của các dòng giống tôm Chân Trắng chọn lọc và thuần hóa đã đưa tôm Chân Trắng trở thành đối tượng quan tâm lớn của ngành nuôi tôm thời kỳ hiện nay Trên phạm vi toàn cầu, tôm Chân Trắng đang chiếm tới 2/3 tổng sản lượng tôm nuôi toàn thế giới Ở châu Á, trong giai đoạn
từ 2001-2006, tôm sú chỉ duy trì ở một sản lượng nhất định, thì tôm he Chân Trắng nhảy vọt lên 1,5-1,6 triệu tấn (năm 2006) và đạt 1,8 triệu tấn (năm 2009) Đặc biệt, việc gia tăng nhanh sản lượng tôm he Chân Trắng là do các nước đã sản xuất được tôm bố mẹ sạch bệnh và áp dụng các biện pháp khoa học công nghệ nâng cao năng suất, chất lượng tôm
1.2.1 Trên thế giới
Người tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu và sản xuất nhân tạo giống tôm
là tiến sỹ người Nhật Bản Monosaku – Fujinaga Năm 1933 trong một hội nghị khoa học ở Mexico về sinh học và nuôi tôm ông đã công bố công trình nghiên cứu
về sản xuất nhân tạo P Japonicus, tạo tiền đề cho sự phát triển mạnh mẽ của nghề
nuôi tôm hiện nay
Trong những thí nghiệm ban đầu do thiếu hiểu biết về đặc điểm dinh dưỡng của ấu trùng tôm nên chỉ tồn tại được ở giai đoạn Z và chỉ có khoảng 10% chuyển sang giai đoạn M Mãi tới gần 10 năm sau (1942), với việc khám phá ra tảo silic
Skeletonema costatum, Chaetoceros làm thức ăn rất tốt cho ấu trùng ở giai đoạn Z
đã nâng cao tỷ lệ sống của ấu trùng ở giai đoạn này lên đến 30% Đến năm 1946 Fujinaga đã nghiên cứu và tìm ra ấu trùng N của Artemia làm thức ăn rất tốt cho giai đoạn M Sau gần 18 năm nghiên cứu và thí nghiệm đến năm 1946 quy trình sản xuất giống và ương nuôi ấu trùng tôm he Nhật Bản mới được hoàn chỉnh Đây là cơ
sở, nền tảng cho các công trình nghiên cứu và ứng dụng kết quả này để hoàn chỉnh
Trang 26quy trình sản xuất và ương nuôi ấu trùng các loài tôm thuộc họ tôm he Nhật Bản
(P.Japonicus)
Năm 1963, nhà nghiên cứu Hary Cook (người Mỹ) cùng với sự cộng tác của
Fujinaga đã cho đẻ và ương nuôi thành công các đối tượng P.Setiferat và P.Ortecus
đồng thời xây dựng thành công quy trình bể nhỏ ở Mỹ, sau đó được cải tiến và nhân rộng ở các nước khác như Philippin, Đài Loan, Thái Lan Cũng từ đây trên thế giới
đã nghiên cứu và sản xuất thành công nhiều đối tượng khác nhau (gần 20 loài thuộc
giống Penaeus và 7 loài thuộc giống Metapenaeus như P.Monodon, P.Semiculcatus,
P.Merguiensis, P.orientalis, M.ensis)
Việc sinh sản nhân tạo giống tôm he Chân Trắng thành công lần đầu tiên vào năm 1973 ở Florida từ nguồn tôm bố mẹ tự nhiên khai thác ở Panama đã dẫn tới quá trình phát triển nhanh chóng của loài tôm này ở Trung, Nam Mỹ và Hawaii từ năm
1976 Sản lượng năm 1998 đạt đỉnh 193.000 tấn, sau đó giảm dần vì dịch bệnh đốm trắng Việc di giống loài này ở Châu Á sau đó đã làm sản lượng tăng vọt tới 1,386 triệu tấn năm 2004, trong đó Trung Quốc đóng góp 700.000 tấn, Thái Lan 400.000 tấn, Indonexia 300.000 tấn Sản lượng của Việt Nam năm 2004 được FAO ghi nhận
là 50.000 tấn Hawaii trở thành trung tâm nghiên cứu thuần hóa tôm he Chân Trắng, sản xuất giống sạch bệnh - kháng bệnh (SPF/SPR) và cải thiện tốc độ tăng trưởng
Tuy nghề sản xuất tôm giống phát triển nhanh về số lượng trại cũng như quy
mô trại sản xuất, nhưng sản lượng P hàng năm vẫn còn hạn chế Sản lượng P sản xuất ra hàng năm còn hạn chế là do nhiều nguyên nhân, trong đó ấu trùng được ương nuôi với mật độ cao dẫn đến chất lượng môi trường không đảm bảo ảnh hưởng đến sức khoẻ và tỷ lệ sống của ấu trùng là một trong những nguyên nhân chính Theo kết quả nghiên cứu của Lighter, 1983 trong các bệnh do vi khuẩn gây
ra, nguy hiểm nhất thường là tác nhân gây bệnh thuộc nhóm Vibrio spp Chính vì
vậy hiện nay vấn đề kiểm soát dịch bệnh đang là bài toán nan giải của nghề sản xuất tôm trên thế giới
1.2.2 Tại Việt Nam
Tôm he Chân Trắng di nhập vào Việt Nam từ nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ khác nhau như: Mỹ, Đài Loan, Trung Quốc, Thái Lan Từ năm 1996–1997 đã có
dự án xin nhập giống tôm he Chân Trắng về nuôi tại Bạc Liêu, nhưng mãi đến năm
Trang 272001-2002 Bộ Thủy sản (cũ) mới cho 3 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là Công ty Duyên Hải (Bạc Liêu), Công ty Việt Mỹ (Quảng Ninh) và Công ty Asia Hawaii (Phú Yên) được nhập con giống để nuôi thử Từ đó đến nay, nghề nuôi tô he Chân Trắng tại Việt Nam phát triển mạnh mẽ và chiếm lĩnh một phần không nhỏ thị trường xuất khẩu Hiện nay nhiều cơ sở sản xuất tôm giống đã chuyển hướng sang tôm he Chân Trắng Do nuôi tôm he Chân Trắng thả giống mật độ rất cao nên nhu cầu tôm giống là khá lớn
Hiện nay tôm he Chân Trắng đang là đối tượng nuôi chính trong nghề NTTS nước mặn lợ nước ta, nó chiếm giá trị lớn về giá trị xuất khẩu Hầu hết các tỉnh thành phố ven biển từ Bắc tới Nam đều có nghề nuôi tôm he Chân Trắng Chính sự phát triển của công nghệ sản xuất nhân tạo giống tôm he Chân Trắng đã quyết định đến sự phát triển nuôi tôm công nghiệp ở nước ta Diện tích nuôi tôm he Chân Trắng liên tục tăng cao trong mấy năm qua Theo thống kê của Bộ NN&PTNT, diện tích nuôi tôm he Chân Trắng của cả nước năm 2002 là 1.710 ha đạt sản lượng 10.000 tấn, năm 2007: 4.000 ha, sản lượng 30.000 tấn; năm 2008 diện tích nuôi 8.000 ha; năm 2009: 14.500 ha Năm 2010 diện tích nuôi đối tượng này gần 25.300
ha, đạt sản lượng 135.000 tấn (tăng 50% so với năm 2009), đem lại 414,6 triệu USD giá trị XK, bằng 20% giá trị XK tôm nói chung và bằng 8% tổng giá trị XK tất cả các sản phẩm thuỷ sản trong năm; trong đó diện tích nuôi tôm Sú bằng 623.000 ha, sản lượng 330.000 tấn, đem lại 1.439 triệu USD, có thể thấy tôm he Chân Trắng được nuôi tập trung hơn, do đó hiệu quả sử dụng đất cao hơn nhiều so với tôm Sú [19] Sự tăng trưởng liên tục cả diện tích nuôi, sản lượng và giá trị xuất khẩu chứng
tỏ tôm he Chân Trắng đã có chỗ đứng vững chắc trong cơ cấu giống thuỷ sản nuôi ở Việt Nam
Đối với nghề nuôi tôm thì con giống là vấn đề cấp thiết hiện nay Nguồn tôm
bố mẹ sử dụng cho sản xuất giống tôm he Chân Trắng ở Việt Nam chủ yếu du nhập
từ Thái Lan, Trung Quốc và Malaysia (khoảng 80%), còn lượng tôm giống nhập từ Hawaii (Mỹ) chỉ chiếm khoảng 20% Do khối lượng tôm không chủ động nguồn giống, không kiểm soát được đầu vào nên chất lượng con giống đang là thách thức chính cho nghề nuôi tôm he Chân Trắng ở Việt Nam Khác với con tôm Sú, việc sinh sản nhân tạo tôm he Chân Trắng ở Việt Nam khó khăn hơn nhiều do nguồn
Trang 28tôm bố mẹ phải nhập từ Hawaii (Mỹ) hoặc Thái Lan Do việc tạo ra đàn tôm bố mẹ yêu cầu quy trình kỹ thuật rất cao nên chỉ có một số công ty nước ngoài với trang bị
kỹ thuật hiện đại, quy trình kiểm soát chất lượng nghiêm ngặt mới có điều kiện sản xuất ra đàn tôm giống sạch bệnh, chất lượng cao Ở nước ta hiện nay có Công ty cổ phần Chăn nuôi CP Việt Nam, Công ty TNHH Việt Úc… là có thể sản xuất tôm giống tôm he Chân Trắng mà vẫn không đủ cung cấp
Theo thống kê của Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III, năm 2010, cả nước có 490 trại sản xuất giống tôm he Chân Trắng, mỗi năm, sản xuất được khoảng 10 tỷ con giống Tuy nhiên, với diện tích nuôi thả như hiện nay, mỗi năm, Việt Nam cần khoảng 20 - 25 tỷ con giống; đến năm 2012, dự báo nhu cầu con giống lên tới khoảng 50 tỷ con Như vậy, nguồn tôm giống sản xuất tại Việt Nam mới chỉ đáp ứng được rất ít so với nhu cầu thực tế Mặt khác, hiện nay, tôm giống chất lượng cao, sạch bệnh được sản xuất theo đúng quy trình và quy định còn quá ít, chỉ chiếm khoảng 10-15% so với lượng tôm giống sản xuất trên thị trường Tôm giống có nguồn gốc không rõ ràng, không qua kiểm dịch, theo đường tiểu ngạch tràn vào Việt Nam với giá rất rẻ, chỉ bằng 60-70% so với giá tôm giống có nguồn gốc từ Hawaii Bên cạnh đó, các trại sản xuất tôm Sú giống tại các tỉnh miền Trung, trong đó có Khánh Hòa, không còn hiệu quả nên đã chuyển sang sản xuất giống tôm
he Chân Trắng; nhưng tôm bố mẹ chủ yếu được tuyển chọn từ tôm nuôi thương phẩm; tôm giống không rõ nguồn gốc nên đã gây rất nhiều khó khăn cho các cơ sở sản xuất giống tôm sạch bệnh
Để phục vụ sản xuất giống và phát triển nghề nuôi tôm thẻ Chân Trắng, yêu cầu đặt ra cho các cơ quan nghiên cứu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
là làm sao phải tạo ra nguồn tôm he Chân Trắng bố mẹ trong nước và đưa ra được quy trình sản xuất tôm giống hiệu quả nhằm đưa vào sản xuất đại trà, giúp nghề nuôi tôm thẻ Chân Trắng phát triển bền vững Trong những năm qua, một số công trình nghiên cứu khoa học đã và đang được triển khai Và kết quả đạt được là năm
2009 Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III ở Nha Trang, thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tạo ra được đàn tôm bố mẹ (F1) có nguồn gốc từ Hawaii và đã tạo ra được đàn giống tôm he Chân Trắng có chất lượng cao với tên gọi F1-V3-VN
Trang 29Được sự cho phép của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc triển khai sản xuất giống tôm he Chân Trắng, đến nay, Viện III đã tạo ra được 6.000 cặp tôm bố mẹ F1-V3-VN Tuy nhiên, Viện chỉ cho 2.850 cặp sinh sản với 1,831 tỷ N được tạo ra và Viện triển khai nuôi thử nghiệm 102 triệu N tại 24 hộ ở các tỉnh miền Trung có diện tích 27,2 ha với 59 ao nuôi, lượng tôm he Chân Trắng thả là 34,1 triệu con Và toàn bộ diện tích tôm F1-V3-VN nuôi thử nghiệm đã cho thu hoạch Qua theo dõi trong thời gian nuôi thành thục và cho đẻ của tôm thì tỷ lệ sống đạt gần 94% và trong số 59 ao nuôi tôm thả giống F1-V3-VN thì chỉ có 5 ao phát hiện bệnh (chiếm 10,75%) Như vậy, Việt Nam đã có giống nội, góp phần chủ động nguồn giống
Theo Chi cục Nuôi trồng thủy sản Quảng Nam, hiện nay trên địa bàn tỉnh có
30 cơ sở cung cấp tôm he giống nhưng chủ yếu là ươm nuôi và lưu giữ Nhiều chủ
cơ sở mong muốn, các cơ quan chức năng cần giúp đỡ, tạo điều kiện cho các trại sản xuất tôm giống ở Quảng Nam tiếp cận với quy trình công nghệ sản xuất con giống sạch bệnh để có thể tạo ra con giống có giá bán hợp lý Mới đây, được sự tư vấn, hỗ trợ kỹ thuật của Trung tâm Quốc gia giống hải sản miền Trung (Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III), Chi cục Nuôi trồng thủy sản Quảng Nam đã xây dựng đề tài “Tiếp nhận và ứng dụng quy trình sản xuất giống tôm he chân trắng” Đây là lần đầu tiên tại Quảng Nam tiến hành thử nghiệm cho sinh sản nhân tạo tôm he Chân Trắng một cách đồng bộ từ giai đoạn nuôi thành thục tôm bố mẹ đến lúc tạo ra đàn tôm post sạch bệnh, có chất lượng phù hợp với điều kiện tự nhiên của Quảng Nam Hy vọng rằng trong một tương lai không xa, người nuôi tôm sẽ được cung cấp giống tôm he Chân Trắng sạch bệnh, chất lượng cao với giá thành hợp lý mang thương hiệu Quảng Nam [7]
Tại Nghệ An, các cơ sở sản xuất giống tôm he Chân Trắng được đưa vào sản xuất cung cấp giống trên địa bàn các huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu Quỳnh Lưu có
4 cơ sở sản xuất giống tôm he Chân Trắng, trong đó có công ty cổ phần chăn nuôi
CP Việt Nam đóng trên địa bàn đã cung cấp tôm giống chất lượng tốt trên địa bàn tỉnh và các tỉnh phía Bắc Từ năm 2003, huyện Nghi Lộc nuôi với diện tích nuôi từ
2 – 3 ha, tính đến tháng 9/2006, có 47 đơn vị và cá nhân nuôi tôm he Chân Trắng với tổng diện tích 24 ha tăng 80% so với năm 2003 là 15 ha, còn lại phân bố rải rác
Trang 30tại một số địa điểm ở Quỳnh Lưu, Diễn Châu và thành phố Vinh Mật độ thả từ 40 –
100 con/m2, năng xuất 2 – 15 tấn/ha
1.3 Tình hình nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ, thức ăn đến tỷ lệ sống, tăng trưởng và thời gian biến thái của ấu trùng tôm he Chân Trắng
1.3.1 Tình hình nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống, tăng trưởng và thời gian biến thái của ấu trùng tôm he Chân Trắng
Ở tôm he, sự tăng lên về kích thước có dạng bậc thang, thể hiện sinh trưởng không liên tục Kích thước giữa hai lần lột xác không tăng hoặc tăng không đáng kể
và tăng vọt sau mỗi lần lột xác, trong khi đó sự tăng trưởng về khối lượng có tính liên tục tục hơn Tôm he tăng trưởng ương đối nhanh Tốc độ tăng trưởng phụ thuộc vào từng loài, từng giai đoạn phát triển, giới tính, điều kiện môi trường dinh dưỡng [9]
Thức ăn là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của
ấu trùng tôm Qua các kết quả nghiên cứu trong thời gian gần đây đều cho thấy thức
ăn luôn tỷ lệ thuận với tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng Thức ăn ảnh hưởng lớn đến thời gian biến thái và tỷ lệ sống của ấu trùng Khi sử dụng thức ăn phù hợp thời gian biến thái sẽ ngắn và tỷ lệ sống càng cao
Việc theo dõi thời gian biến thái của ấu trùng tôm he Chân Trắng là một việc làm rất quan trọng, giúp cho người nuôi biết cách để điều chỉnh lượng thức ăn và cách phối trộn thức ăn phù hợp Thời gian biến thái của ấu trùng phụ thuộc rất lớn vào nhiệt độ nước, dinh dưỡng, sức khoẻ ấu trùng và chất lượng môi trường bể ương nuôi
Ấu trùng Z bắt đầu ăn thức ăn ngoài, thức ăn chủ yếu là thực vật nổi với hình thức ăn lọc Hiện nay thức ăn sử dụng để nuôi ấu trùng Z chủ yếu là loại vi tảo
Skeletonema costatum, Chaetoceros sp, Thalassiosira sp hoặc các loài tảo lục,
Artemia, đây là thức ăn thích hợp nhất và thuận tiện cho người sử dụng Tuy nhiên hiện nay trong ương nuôi ấu trùng tôm he Chân Trắng, giai đoạn Z người ta thường
sử dụng tảo khô Spirulina sp kết hợp với thức ăn tươi sống, tảo tươi
Tảo là thức ăn tự nhiên không thể thiếu cho ấu trùng tôm, đặc biệt quan trọng
ở giai đoạn Zoea Đây là giai đoạn khó khăn nhất trong trong công nghệ sản xuất giống tôm he Chân Trắng, tỷ lệ chết rất cao và thậm chí ấu trùng không thể vượt
Trang 31qua được để chuyển sang giai đoạn sau Trong những năm gần đây các nước Châu
Mỹ La Tinh thường gọi hiện tượng này là hội chứng Z (Zoea Syndrome) do tỷ lệ chết quá cao ở giai đoạn này Biểu hiện thường thấy là các giai đoạn Nauplius phát triển bình thường, chuyển sang giai đoạn Z1 ăn kém hoặc không ăn và lắng đáy Hiện tượng này phổ biến và đã được các nhà khoa học nghiên cứu nhằm hiểu được nguyên nhân và cách khắc phục
Qua nghiên cứu chỉ ra hội chứng Z chính là việc không giải quyết được thức
ăn phù hợp cho giai đoạn bắt đầu ăn thức ăn ngoài của ấu trùng tôm Hầu như các loài tảo biển có thể làm thức ăn cho ấu trùng tôm, tuy nhiên sự lựa chọn loại nào thường tập trung vào tiêu chí là kích cỡ vi tảo để phù hợp với các giai đoạn của ấu trùng tôm và hàm lượng acid béo không no HUFA có cao hay không Hàm lượng HUFA có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển ban đầu hệ thần kinh của tôm, chính nó là tiền thân của nhiều hợp chất sinh học (ví dụ Protaglandins), sau này chi phối các hoạt động phát triển và sinh sản của tôm
Tại Nhật Bản việc nuôi tảo Silic Skeletonema ssp và chatoceros ssp làm thức
ăn khởi đầu cho một điều kiện tiên quyết đối với việc nuôi ấu trùng tôm từ Nauplius đến Post larvae và Fujinaga là người đầu tiên thành công trong nuôi tảo
Skeletonema costatum sử dụng làm thức ăn cho tôm [9]
Vi tảo là nguồn thức ăn quan trọng để nuôi luân trùng, nuôi ấu trùng của các loài thuỷ sản.Trong môi trường nuôi thuỷ, hải sản tảo vừa là nguồn thức ăn, vừa có vai trò điều hoà các khí hoà tan, cân bằng độ đục cần thiết và ổn định pH môi trường Tuy nhiên mỗi loài vi tảo có vai trò nhất định và riêng biệt đối với mỗi loài thuỷ sản nuôi trồng Có loài tảo có lợi nhưng cũng có loài tảo mang độc tố gây hại cho vật nuôi Các nhóm tảo quan trọng được nghiên cứu nhiều trong những năm qua thuộc nhóm tảo lam, tảo lục, tảo silic Theo Nguyễn Văn Tuyên (2002), hằng năm, sản phẩm của quang hợp tạo ra khoảng 200 tỷ tấn chất hữu cơ, trong đó 170 -
180 tỷ tấn được tạo ra do tảo Do nhu cầu thức ăn cho ấu trùng một số loài hải sản nên công nghệ nuôi tảo silic khá phát triển [9]
Ở nước ta từ những năm đầu thập kỷ 70, việc sản xuất các loài hải sản quí mới bắt đầu được quan tâm Do đó việc nuôi tảo cũng được chú ý, mục tiêu là tìm loài thích hợp với điều kiện Việt Nam để cho sinh khối nhanh phục vụ công tác
Trang 32giống Tảo Chaetoceros calcitrans được nuôi sinh khối trên môi trường TT3 ( Viện
Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 3) ở các mật độ 2 x 105 tb/ml, 4 x 105 tb/ml, 6 x
105 tb/ml, 8 x 105 tb/ml, 106 tb/ml, mật độ tối ưu là 6x105tb/ml Các môi trường
Liao, TT3, f2 được sử dụng để nuôi tảo Chaetoceros calcitrans, tảo sinh trưởng và phát triển tốt trên hai môi trường TT3 và f2 Sử dụng tảo Chaetoceros calcitrans bổ
sung làm thức ăn tươi cho ấu trùng tôm he Chân trắng giai đoạn Nauplius đến Mysis 3 nâng cao được chất lượng và tỷ lệ sống của ấu trùng từ 42% lên 76% [9]
Tại Việt Nam: Trước đây, người nuôi tôm sử dụng thức ăn tổng hợp gồm các vitamin, khoáng chất, tảo, chất miễn dịch, artemia Tảo tươi là thành phần thức ăn bắt buộc trong giai đoạn Zoea 1 đến Zoea 2 và được duy trì cho đến cuối giai đoại Mysis Để có được loại thức ăn tổng hợp này phải nuôi cấy tảo tươi khó đạt chuẩn
ổn định và dễ làm tôm nhiễm bệnh từ môi trường nuôi cấy tảo
Tháng 1/2004, kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hải Âu Có thấy ở giai đoạn Zoea dùng thức ăn làm tảo tươi, tảo khô kết hợp với thức ăn tổng hợp cho tỷ lệ sống cao (80 – 93%) [4] Tác giả nghiên cứu của Hồ Hữu Danh khi ương nuôi ấu trùng Zoea với sự kết hợp các loại thức ăn như trên cho tỷ lệ sống đạt từ (65 – 90%) [4]
1.3.2 Tình hình nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến tỷ lệ sống, tăng trưởng và thời gian biến thái của ấu trùng tôm he Chân Trắng
Mật độ ương nuôi ấu trùng nói lên khoảng cách về không gian giữa các cá thể, có quan hệ chặt chẽ với kỹ thuật ương nuôi, thể tích bể, tốc độ sinh trưởng, phát triển và chất lượng của ấu trùng Mật độ ương quá cao hay quá thấp đều không tốt Nuôi với mật độ thấp, lãng phí thức ăn, thể tích bể và tốn công chăm sóc Nuôi với mật độ quá cao, khó quản lý môi trường do các sản phẩm trao đổi chất và các chất thải, thải ra nhiều sẽ làm ô nhiễm môi trường nước nuôi, dẫn đến ấu trùng phát triển
chậm, thời gian nuôi kéo dài
Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Đào Văn Trí và Nguyễn Thành Vũ (Số 12/ 2005 đăng trên tạp chí thủy sản) cho thấy: Khi ương nuôi ấu trùng tôm ở các mật độ 100-200 N/L thì mật độ 100N/L cho tỷ lệ sống cao nhất (65,35%), tiếp đến
là mật độ 125N /L (61,42%), 150N/ L (55,43%), và thấp nhất là mật độ 200N/L (39,68)
Trang 33Theo Hồ Hữu Danh nghiên cứu cũng cho thấy ương ấu trùng ở mật độ 75 Nauplius/L cho kết quả về tỷ lệ sống cao nhất và thời gian biến thái thấp nhất [4]
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Hải Âu khi ương nuôi ấu trùng tôm ở các mật độ 75-100 Nauplius/l cho thấy mật độ 75 Nauplius/l cho thời gian biến thái ngắn hơn và tỷ lệ sống cao hơn (toàn bộ giai đoạn zoea là 121 giờ và tỷ lệ sống đạt 65-90%) [2]
Trang 34Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Ấu trùng tôm he Chân Trắng (Penaeus vannamei) giai đoạn zoea
2.2 Vật liệu và thiết bị nghiên cứu
b) Vật liệu
- Thức ăn tươi sống: Tảo Thalassiosira weissflogii và Artemia
- Thức ăn khô : Tảo khô Spirunila
- Vitamin C : Được bổ sung vào thức ăn hàng ngày (1g/m3)
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Thí nghiệm 1
Đánh giá ảnh hưởng của các loại thức ăn đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái
và tăng trưởng của ấu trùng tôm he Chân Trắng (Penaeus vannamei) giai đoạn zoea
2.3.2 Thí nghiệm 2
Đánh giá ảnh hưởng của mật độ ương nuôi đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái
và tăng trưởng của ấu trùng tôm he Chân Trắng (Penaeus vannamei) giai đoạn zoea
Trang 352.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Sơ đồ khối nghiên cứu
Hình 2.1 Sơ đồ khối nghiên cứu
Ấu trùng tôm he Chân Trắng giai đoạn Zoea
Trang 362.4.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu ngẫu nhiên hoàn toàn, một nhân tố và được lặp 3 lần Các yếu tố phi thí nghiệm được quản lý đồng nhất
* Thí nghiệm 1: Thí nghiệm về thức ăn
Thí nghiệm được bố trí trong các thùng nhựa thể tích 40 lít và được tiến hành khi ấu trùng ở cuối giai đoạn N6 đến đầu giai đoạn M1 Ấu trùng được nuôi trong
điều kiện độ mặn 28 – 31 ppt, pH 7,5 – 8,5, nhiệt độ dao động từ 29 - 32oC với mật
độ 200 Nau/l Thí nghiệm về thức ăn gồm các nghiệm thức (NT) sau:
NT 1: Tảo khô (Spirunila)+ Artemia
NT 2: Tảo Thalassiosira weissflogii + Artemia
NT 3: Tảo khô(Spirunila) + tảo Thalassiosira weissflogii + Artemia
Liều lượng cho ăn ở các NT:
NT1: 20 - 25g tảo khô cho 1 triệu ấu trùng Zoea, từ đó tính lượng tảo cho phù hợp với số tôm thí nghiệm Mỗi ngày cho ăn tảo 3– 5 lần
NT2: Giai đoạn Zoae 1 cho ăn duy trì mật độ tảo trong nước là 25 - 30x103/ml, giai đoạn Zoae 2 cho ăn duy trì mật độ tảo trong nước từ 30- 45x103TB/ml, giai đoạn Zoae 3 cho ăn duy trì mật độ tảo trong nước từ 45 - 50x103TB/ml Mỗi ngày cho ăn tảo 4-6 lần
NT3: Lượng tảo tươi cho ăn: Giai đoạn Zoae 1 cho ăn duy trì mật độ tảo trong nước là 15 - 20x103/ml, giai đoạn Zoae 2 cho ăn duy trì mật độ tảo trong nước
từ 25- 30x103TB/ml, giai đoạn Zoae 3 cho ăn duy trì mật độ tảo trong nước từ 35 - 40x103TB/ml Mỗi ngày cho ăn tảo 4-6 lần Lượng tảo khô: 15 – 20g tảo khô cho 1 triệu ấu trùng Zoea, từ đó tính lượng tảo cho phù hợp với số tôm thí nghiệm Cho ăn tảo khô sau 30 phút mới cho ăn tảo tươi (hoặc ngược lại), cho tảo 4-6 lần/ngày
Ngoài ra cả 3 NT đều cho lượng Ar và Cmix như nhau, mỗi con ấu trùng Z cho ăn 1 con Ar và bổ sung Cmix 1 gam/m3
nước, ngày cho 2 - 3 lần Ar+Cmix
* Thí nghiệm 2: Thí nghiệm về mật độ
Ấu trùng được nuôi với điều kiện như trên, sử dụng thức ăn là tảo tươi
Thalassiosira weissflogii và tảo khô (có bổ sung Artemia và Cmix) theo kết quả của
thí nghiệm 1 để ấu trùng sinh trưởng tốt nhất Thí nghiệm 2 gồm các nghiệm thức sau:
Trang 372.4.3 Phương pháp thu thập số liệu
*) Phương pháp xác định các yếu tố môi trường
Bảng 2.1 Phương pháp xác định các yếu tố môi trường
Các yếu tố môi
pH Test so màu 2 lần/ ngày ( 7h và 14h )
NH4/NH3 Test so màu 1 lần/ ngày 7h
*) Phương pháp xác định thời gian biến thái
Xác định thời gian biến thái: Theo dõi và xác định thời điểm xuất hiện ấu trùng giai đoạn trước đến thời điểm xuất hiện ấu trùng ở giai đoạn sau, từ đó tính được tổng thời gian chuyển giai đoạn
*) Phương pháp xác định tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng
- Xác định tỷ lệ sống
Xác định tỷ lệ sống bằng cách định lượng ấu trùng sau mỗi lần chuyển giai đoạn bằng phương pháp thể tích
Trang 38+ Cách thu mẫu: Dùng cốc đếm có thể tích 100 ml, lấy mẫu ở 5 điểm khác nhau trong thùng, thường lấy ở vị trí có sục khí thì ấu trùng sẽ phân bố đều hơn Từ
đó ta tính được số ấu trùng sống ở giai đoạn sau
+ Thời điểm thu mẫu: thường xuyên quan sát thùng nuôi (khi cho ăn, vệ sinh thùng, ) và khi quan sát thấy toàn bộ ấu trùng chuyển sang giai đoạn mới (giai đoạn Z1, Z2, Z3) thì ta tiến hành thu mẫu để định lượng ấu trùng và tính tỷ lệ sống qua các giai đoạn đó Mỗi thùng đếm 5 lần sau đó lấy giá trị trung bình để độ chính xác cao hơn
1
N
N TLS
Trong đó: N1 số ấu trùng đếm được khi lấy mẫu
N2 số ấu trùng ban đầu
Tỷ lệ sống theo giai đoạn:
% 100 2
1
M
M TLS
Trong đó: M1 số ấu trùng đếm ở giai đoạn sau
M2 số ấu trùng đếm được ở giai đoạn trước đó
2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu
Toàn bộ số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học và sử dụng phần mềm Microsoft Excel 2003 và phần mềm SPSS 16.0
2.5 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.5.1 Thời gian nghiên cứu
Từ ngày 1/02/2012 đến 15/05/2012
2.5.2 Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được thực hiện tại chi nhánh Bình Định 3 thôn Xuân Thạnh, xã Mỹ
An, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định
Trang 39Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Kết quả quản lý các yếu tố môi trường thí nghiệm
Các yếu tố môi trường như: nhiệt độ, pH, độ kiềm, độ mặn là những yếu tố
có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, khả năng sinh trưởng, phát triển và tỷ lệ sống của ấu trùng tôm trong quá trình ương nuôi Chính vì thế những yếu tố này cần được kiểm tra và theo dõi hàng ngày trong quá trình ương nuôi để có các biện pháp
xử lý kịp thời Đối với ấu trùng tôm trong quá trình ương nuôi thì trong mỗi giai đoạn phát triển của nó cần có những ngưỡng nhiệt độ, pH, độ kiềm, độ mặn riêng thích hợp cho sự sinh trưởng, phát triển và tỷ lệ sống của ấu trùng tôm trong quá trình ương nuôi
Qua theo dõi sự biến động của các yếu tố môi trường trong quá trình ương nuôi ở trong các công thức thức thí nghiệm, tôi thu được các kết quả như sau:
Bảng 3.1 Các yếu tố môi trường trong thời gian thí nghiệm
SD TB
Max Min
SD TB
4 , 8 9 ,
160140
07,7150
31 30
50 , 0 5 , 30
NT2 29 31,4
73,017,30
3,81,
160 150
47 , 4 152
5,3030
27,02,30
NT3 29,5 31
54,023,30
4 , 8
170 150
37 , 8 158
5 , 30 5 , 29
42 , 0 9 , 29
4 , 8 9 ,
160 140
37 , 8 152
305,29
27,08,29
MĐ2 29,5 31,3
62,02,30
4 , 8
170 150
07 , 7 160
5,3030
25,030
Trang 40MĐ3 29,0 31,5
79,02,30
3 , 8 9 ,
160 150
48 , 5 156
315,29
67,03,30
pH
Theo Nguyễn Trọng Nho (1994), pH từ 7,5 - 8,5 là khoảng sống tối ưu cho tôm thẻ, đây cũng là khoảng quy định của TCVN, 2005 Từ bảng 3.1, ta thấy pH giữa các công thức trong quá trình nghiên cứu có sự sai khác nhưng không đáng kể, biến động trong khoảng 7,9 - 8,4 Như vậy, pH nằm trong khoảng tối ưu cho sự phát triển của ấu trùng Zoea
Từ bảng 3.1 ta thấy rằng: Độ kiềm có sự biến động nhưng không đáng kể, dao động trong khoảng 140 – 170 mg/L; nằm trong ngưỡng cho phép.Và chính độ kiềm cao nhưng trong khoảng thích hợp đã góp phần làm cho pH ổn định Theo [15] khả năng thích nghi của tôm he Chân Trắng với độ kiềm từ 100 – 250 mg/L, do
đó kết quả về quản lý độ kiềm của thí nghiệm nằm trong khoảng thích hợp không ảnh hưởng đến sự sinh trưởng phát triển của ấu trùng tôm
Độ mặn
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Hải Âu và Nguyễn Trọng Nho (2004) thì độ mặn để ấu trùng Zoea, Mysis của tôm He Chân Trắng sinh trưởng, phát triển tốt và đạt tỷ lệ sống cao trong quá trình ương nuôi biến thiên trong khoảng từ 27- 330/00 Từ bảng 3.1, cho thấy: Độ mặn trong các bể nghiên cứu biến động từ 30-