BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH ========== ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ CÔNG THỨC THỨC ĂN ĐẾN TỶ LỆ SỐNG, THỜI GIAN BIẾN THÁI VÀ TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG CỦA ẤU TRÙNG TÔM HE CHÂN TRẮNG
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
==========
ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ CÔNG THỨC
THỨC ĂN ĐẾN TỶ LỆ SỐNG, THỜI GIAN BIẾN THÁI
VÀ TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG CỦA ẤU TRÙNG
TÔM HE CHÂN TRẮNG (Penaeus vannamei)
GIAI ĐOẠN MYSIS
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Người thực hiện: Bùi Văn Hòa
Người hướng dẫn: ThS Trương Thị Thành Vinh
Trang 24 năm qua
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến giảng viên hướng dẫn Th.s Trương Thị Thành Vinh, kỹ sư Hồ Văn Tài là những người đã trực tiếp chỉ bảo, định hướng, chỉnh sửa và từng bước giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện, hoàn thành khóa luận
Đồng thời tôi xin gửi lời cảm ơn đến ban lãnh đạo, cán bộ công nhân viên Công ty cổ phần chăn nuôi C.P Việt Nam - chi nhánh Ninh Thuận đã tạo điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập vừa qua
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè là những người luôn bên cạnh tôi, động viên góp ý và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập
và hoàn thiện khóa luận
Vinh, tháng 5 năm 2012
Sinh viên
Bùi Văn Hòa
Trang 3XKTS Xuất khẩu thủy sản
CTTA Công thức thức ăn
TB Trung bình
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Các thiết bị và dụng cụ theo dõi các yếu tố môi trường 27Bảng 3.1 Sự biến động các yếu tố môi trường trong thời gian thí nghiệm 31Bảng 3.2 Kết quả so sánh tỷ lệ sống của ấu trùng giai đoạn Z3 - M1 ở
các công thức thí nghiệm 34Bảng 3.3 Kết quả so sánh tỷ lệ sống của ấu trùng giai đoạn M1 - M2 ở
các công thức thí nghiệm 35Bảng 3.4 Kết quả so sánh tỷ lệ sống của ấu trùng giai đoạn M2 - M3 ở
các công thức thí nghiệm 36Bảng 3.5 Kết quả so sánh tỷ lệ sống của ấu trùng giai đoạn M3 - PL1 ở
các công thức thí nghiệm 36Bảng 3.6 Kết quả so sánh tỷ lệ sống tích lũy ấu trùng tôm ở các công
thức thí nghiệm 37Bảng 3.7 Kết quả so sánh thời gian biến thái của ấu trùng giai đoạn
M1 - M2 ở các công thức thí nghiệm 40Bảng 3.8 Kết quả so sánh thời gian biến thái của ấu trùng giai đoạn
M2 - M3 ở các công thức thí nghiệm 41Bảng 3.9 Kết quả so sánh thời gian biến thái của ấu trùng giai đoạn
M3 - PL1 ở các công thức thí nghiệm 41Bảng 3.10 Kết quả so sánh về chiều dài toàn thân của ấu trùng giai
đoạn M1 ở các công thức thí nghiệm 44Bảng 3.11 Kết quả so sánh về chiều dài toàn thân của ấu trùng giai
đoạn M2 ở các công thức thí nghiệm 44Bảng 3.12 Kết quả so sánh về chiều dài toàn thân của ấu trùng giai
đoạn M3 ở các công thức thí nghiệm 45 Bảng 3.13 Kết quả so sánh về chiều dài toàn thân của ấu trùng giai
đoạn PL1 ở các công thức thí nghiệm 47 Bảng 3.14 So sánh tốc độ tăng trưởng tuyệt đối và tương đối về chiều
dài toàn thân của ấu trùng M giữa các công thức thí nghiệm 48
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Hình thái ngoài của tôm he chân trắng 3
Hình 1.2 Ấu trùng giai đoạn Zoea 1 8
Hình 1.3 Ấu trùng giai đoạn Zoea 2 8
Hình 1.4 Ấu trùng giai đoạn Zoea 3 9
Hình 1.5 Ấu trùng giai đoạn Mysis 1 10
Hình 1.6 Ấu trùng giai đoạn Mysis 2 10
Hình 1.7 Ấu trùng giai đoạn Mysis 3 10
Hình 1.8 Ấu trùng giai đoạn PL 11
Hình 3.1 Tỷ lệ sống của ấu trùng trong quá trình thí nghiệm 37
Hình 3.2 Tỷ lệ sống tích lũy của ấu trùng M ở các công thức thí nghiệm 38
Hình 3.3 Tổng thời gian biến thái của ấu trùng M ở các công thức thí nghiệm 42
Hình 3.4 Sự tăng trưởng về chiều dài toàn thân của ấu trùng giữa các công thức 46
Hình 3.5 So sánh tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài toàn thân của ấu trùng M ở các công thức thí nghiệm 48
Hình 3.6 So sánh tốc độ tăng trưởng tương đối chiều dài toàn thân của ấu trùng M giữa các công thức thí nghiệm 49
Trang 6MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
MỤC LỤC v
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Đặc điểm sinh học của tôm he chân trắng 3
1.1.1 Hệ thống phân loại 3
1.1.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo 3
1.1.3 Vòng đời tôm he chân trắng ngoài tự nhiên 5
1.1.4 Các giai đoạn phát triển của ấu trùng tôm he chân trắng 5
1.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng 11
1.1.6 Đặc điểm sinh trưởng, phát triển và lột xác 12
1.1.7 Đặc điểm sinh sản 12
1.1.8 Nhu cầu dinh dưỡng 13
1.2 Tình hình sản xuất giống tôm he chân trắng trên Thế giới và Việt Nam 16
1.2.1 Trên thế giới 16
1.2.2 Ở Việt Nam 18
1.3 Tình hình nghiên cứu và sử dụng các loại thức ăn khác nhau cho ấu trùng tôm he Chân Trắng giai đoạn Mysis 22
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Đối tượng nghiên cứu 25
2.2 Vật liệu nghiên cứu 25
Trang 72.3 Nội dung nghiên cứu 25
2.4 Phương pháp nghiên cứu 26
2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 26
2.4.2 Phương pháp xác định các chỉ tiêu nghiên cứu 27
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 30
2.5 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 30
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31
3.1 Kết quả theo dõi các yếu tố môi trường 31
3.2 Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống của ấu trùng tôm he chân trắng giai đoạn Mysis 34
3.3 Ảnh hưởng của thức ăn đến thời gian biến thái của ấu trùng tôm he chân trắng giai đoạn Mysis 40
3.4 Ảnh hưởng của thức ăn đến sự tăng trưởng chiều dài toàn thân của ấu trùng tôm he chân trắng trong quá trình thí nghiệm 43
3.4.1 Sự tăng trưởng chiều dài toàn thân của ấu trùng tôm he chân trắng giai đoạn Mysis 43
3.4.2 Tăng trưởng tuyệt đối và tương đối của ấu trùng tôm he chân trắng giai đoạn M 47
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51 PHỤ LỤCa
Trang 8MỞ ĐẦU
Việt Nam với diện tích đất liền 329.297 km2, vùng biển rộng hơn 1 triệu km2 và có bờ biển dài hơn 3.260 km, rất thuận lợi cho việc đánh bắt và nuôi trồng thủy sản Ngành thủy sản nói chung, nghề nuôi tôm ở Việt Nam nói riêng những năm gần đây phát triển mạnh mẽ, giải quyết một phần tình trạng thiếu việc làm, tăng thu nhập cho nhiều hộ nông ngư dân ven biển, tăng nguồn ngoại tệ lớn thông qua xuất khẩu Nghề nuôi trồng thủy sản đã đưa XKTS Việt Nam vào top 10 nước có giá trị XKTS hàng đầu thế giới với giá trị xuất khẩu năm 2010 đạt 4,940 tỷ USD (Bộ NN&PTNT, báo cáo tháng 12/2010) Theo Bộ NN&PTNT, dự kiến năm 2012 cả nước phấn đấu đạt tổng sản lượng thủy sản 5,35 triệu tấn, trong đó khai thác hải sản đạt khoảng 2,2 triệu tấn, nuôi trồng thủy sản đạt 3,15 triệu tấn và tổng kim ngạch xuất khẩu đạt từ 6,3-6,5 tỷ USD Đóng góp đáng kể vào thành quả trên phải kể đến nghề nuôi tôm
Trước kia, đối tượng nuôi chủ lực trong nghề nuôi tôm phải kể đến là tôm sú Tuy nhiên, gần đây nhiều diện tích nuôi tôm sú xảy ra dịch bệnh gây thiệt hại rất lớn cho người nuôi.Thay thế vào đó là con tôm he chân trắng với nhiều ưu điểm hơn hẳn so với con tôm sú: ít bị nhiễm bệnh, tốc độ tăng trưởng nhanh, cho năng suất cao…và bước đầu mang lại hiệu quả kinh tế Vì vậy, diện tích và sản lượng nuôi tôm không ngừng được tăng lên kéo theo nhu cầu về con giống
Theo thống kê của Viện III, cả nước hiện có trên 500 trại sản xuất giống tôm he chân trắng, mỗi năm sản xuất khoảng 10 tỷ con giống Tuy nhiên, với diện tích nuôi thả như hiện nay, mỗi năm Việt Nam cần khoảng
50 tỷ con giống Như vậy, nguồn tôm giống chân trắng sản xuất tại Việt Nam mới chỉ đáp ứng rất ít so với nhu cầu thực tế Mặt khác, tôm giống chất
Trang 9lượng cao, sạch bệnh được sản xuất theo đúng quy trình và quy định hiện nay còn quá ít, chỉ chiếm khoảng 10 - 15% so với lượng tôm giống sản xuất trên thị trường
Để có một vụ nuôi thành công cần một điều không thể thiếu là đàn tôm giống khỏe mạnh và sạch bệnh Trong giai đoạn ương nuôi ấu trùng của quy trình sản xuất giống tôm he chân trắng, thường gặp rủi ro, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ sống và chất lượng ấu trùng Các nhà nghiên cứu thủy sản đã nghiên cứu rất nhiều để tìm ra loại thức ăn phù hợp nhất cho ấu trùng tôm he chân trắng Các loại thức ăn được sử dụng để ương nuôi hiện nay là tảo, artemia và thức ăn tổng hợp Nhưng có nhiều công thức phối hợp giữa các loại thức ăn với nhau Mỗi công thức khác nhau cho kết quả khác nhau, cụ thể
là tỷ lệ sống, thời gian biến thái và tốc độ tăng trưởng của ấu trùng
Trước thực tế đó, được sự đồng ý của khoa Nông Lâm Ngư, bộ môn Nuôi trồng thủy sản và sự giúp đỡ của Công ty C.P Việt Nam, tôi tiến hành
thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng của một số công thức thức ăn đến tỷ lệ sống,
thời gian biến thái và tốc độ tăng trưởng của ấu trùng tôm he chân trắng
(Penaeus vannamei) giai đoạn Mysis ”
Mục tiêu của đề tài:
Xác định được loại thức ăn thích hợp nhằm rút ngắn thời gian biến thái, nâng cao tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng đồng thời tạo ra đàn con giống chất lượng cao trong thời gian ngắn, góp phần hoàn thiện quy trình sản xuất giống tôm he chân trắng tại Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đặc điểm sinh học của tôm he chân trắng
1.1.1 Hệ thống phân loại
Ngành: (chân khớp) Arthropoda
Lớp: (Giáp xác) Crustacea Bộ: (Mười chân) Decapoda
Bộ phụ: (Bơi) Natantia
Họ: (Tôm he) Penaeidae
Giống: (Tôm he) Penaeus
Loài: Penaeus vannamei , Boone 1931
Tên tiếng Anh : WhiteLeg shrimp
Tên khoa học : Penaeus vannamei (Boone, 1931)
Tên thường gọi : Tôm bạc Thái Bình Dương, tôm bạc bờ Tây châu Mỹ, Camaron blanco, Langostino
Tên của FAO : Camaron patiblanco
Tên Việt Nam : Tôm he Chân Trắng
1.1.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo
Hình 1.1 Hình thái ngoài của tôm he chân trắng
Cơ thể tôm chia thành 2 phần: Phần đầu ngực (Cephalothorax) và phần bụng (Abdomen)
Trang 11Chủy là phần kéo dài tiếp với bụng thường có 2 - 4 (đôi khi có 5 - 6) răng cưa ở phía bụng, những răng cưa đó vừa phải, vượt cuống râu (ở con non), có khi dài tới đốt râu thứ hai
Vỏ giáp có những gai gân và gai râu rất rõ, không có gai mắt và gai đuôi (telson), không có rãnh sau mắt, đường gờ sau chủy khá dài, đôi khi dài tới mép sau cánh của vỏ giáp Gờ và rãnh chủy ngắn chỉ kéo dài tới gai thượng vị Không có gờ trán, gờ vỏ giáp ngắn thường kéo dài tới 2/3 khoảng cách giữa gai gân và ổ mắt Rãnh giữa ổ và gốc sâu rõ ràng, rãnh gan và rãnh đầu ngực rõ, không có rãnh tim mang
Tôm có 6 đốt bụng, 3 đốt mang trứng, rãnh bụng rất hẹp hoặc không
có, gai đuôi không phân nhánh
Râu không có gai phụ và chiều dài râu ngắn hơn nhiều so với vỏ giáp Xúc biện của hàm thứ nhất thon dài và thường có 3 - 4 hàng, phần cuối của xúc biện có hình roi
Con đực khi thành thục có bộ phận giao phối cân đối, nửa mở, không
có màng che, không có hiện tượng phóng tinh, có gân bụng ngắn Túi chứa tinh hoàn chỉnh bao gồm ống chứa đầy tinh dịch và có cấu trúc gắn kết riêng biệt với các chất kết dính Khi thành thục con cái có túi “thụ tinh mở” và đốt sinh dục 14 gợn lên thành mấu lồi, thành lỗ hoặc khe rãnh
* Phân bố và thích nghi
Tôm phân bố chủ yếu ở Đông Thái Bình Dương, châu Mỹ, Từ ven biển Mexico đến miền Trung Peru, nhiều nhất ở gần Equado Chúng sống ở vùng biển tự nhiên có các đặc điểm: đáy cát, độ sâu 0 - 72 m; nhiệt độ nước ổn định
từ 25 - 320C, độ mặn từ 28 - 340
/00, pH từ 7,7 - 8,3 [11]
Tôm he chân trắng thích nghi cao đối với sự thay đổi đột ngột của môi trường, lên khổi mặt nước khá lâu vẫn không chết Các thử nghiệm cho thấy [11]: Gói tôm con cỡ 2 - 7cm trong một khăn ướt (độ ẩm trên 80%, nhiệt độ
Trang 12270C) để sau 24 giờ vẫn sống 100%, sức chịu đựng hàm lượng oxy thấp nhất
là 1,2 mg/l Tôm càng lớn thì sức chịu đựng oxy càng kém: cỡ 2 - 4 cm là 2,0 mg/l; cỡ dưới 2 cm là 1,05 mg/l
Thích nghi tốt với sự thay đổi độ mặn: cỡ tôm 1 - 6 cm đang sống ở độ mặn 200
/00 khi chuyển vào các ao nuôi chúng có thể sống trong phạm vi 5 -
có nhiệt độ nước 12 - 180C chúng vẫn sống 100%, dưới 90C thì tôm chết dần, tăng dần lên 410C, cỡ tôm dưới 4 cm và trên 4 cm đều chỉ chịu được tối đa là
12 giờ rồi chết hết
1.1.3 Vòng đời tôm he chân trắng ngoài tự nhiên
Ở thời kỳ ấu niên và thiếu niên tôm he chân trắng sống ở vùng cửa sông Ở giai đoạn sắp trưởng thành và trưởng thành, khi tôm có thể tham gia sinh sản lần đầu thì chúng sống ở vùng triều ở độ sâu khoảng 7- 20m nước Đối với những con trưởng thành và sản phẩm sinh dục đã chín hoàn toàn thì chúng di chuyển ra vùng biển khơi ở độ sâu khoảng 70m nước và tham gia sinh sản tại đây
Trứng và ấu trùng Mysis sống và phát triển tại vùng biển khơi theo dòng nước trôi dạt vào bờ Khi đến vùng triều thì ấu trùng đã chuyển sang giai đoạn Postlarvae và tiếp tục theo thủy triều trôi dạt vào vào vùng cửa sông, phát triển thành ấu niên và tiếp tục vòng đời của chúng
1.1.4 Các giai đoạn phát triển của ấu trùng tôm he chân trắng
Ấu trùng tôm he chân trắng trải qua nhiều lần lột xác và biến thái Căn
cứ vào đặc điểm cấu tạo hình thái ngoài và tập tính bắt mồi, bơi lội người ta
Trang 13chia các giai đoạn phát triển của ấu trùng tôm He chân trắng thành bốn giai đoạn: Nauplius, Protozoea (Zoea), Mysis, Postlarvea, và mỗi giai đoạn ấu trùng bao gồm nhiều giai đoạn phụ
*Giai đoạn Nauplius (N)
Trứng sau khi được thụ tinh khoảng 14 - 16 giờ nở thành N, N không
cử động được trong khoảng 30 phút, sau đó bắt đầu bơi và rất dễ bị lôi cuốn bởi ánh sáng [11]
Ấu trùng N trải qua 5 lần lột xác và 5 giai đoạn phụ Đây là giai đoạn đầu tiên của ấu trùng phù du, dinh dưỡng bằng noãn hoàng, chưa sử dụng thức ăn bên ngoài Có hình dạng rất khác bố mẹ: ấu trùng hình quả lê có ba đôi phần phụ và một điểm mắt Đôi phần phụ thứ nhất không phân nhánh là mầm của đôi râu một Hai đôi phần phụ thứ 2, thứ 3 phân nhánh, là mầm của đôi râu 2 và đôi hàm 1 Trên phần phụ có nhiều lông cứng, ở giai đoạn N1
lông cứng trơn Từ N2 trở đi, lông cứng có nhiều lông nhỏ dạng lông chim Trên chạc đuôi có các gai đuôi Bắt đầu từ N3, mặt bụng xuất hiện các mấu lồi
là mầm của các đôi hàm 2, hàm 3, chân hàm 1,2,3 sau này Giai đoạn N4, N5; chiều dài khoảng 0,61 mm, chiều rộng khoảng 0,20 mm, mỗi nhánh mang 7 gai đuôi Có sự khác nhau rõ ràng về hiện tượng phân bố giữa đôi râu thứ nhất
và đôi râu thứ hai Có thể nhìn thấy từ mặt lưng sự phát triển vỏ ngoài của vỏ đầu ngực (Carapace) Cuối N5 hệ tiêu hóa bắt đầu hoạt động N bơi lội bằng 3 đôi phần phụ, vận động theo kiểu dích zắc, không định hướng và không liện tục [9]
Theo kết quả nghiên cứu của trường đại học Hawaii - Hoa Kỳ [11]:
N1 có chiều dài khoảng 0,4 mm, độ dày khoảng 0,2 mm
N2 có chiều dài khoảng 0,45 mm, độ dày khoảng 0,2 mm
N3 có chiều dài khoảng 0,49 mm, độ dày khoảng 0,2 mm
N4 có chiều dài khoảng 0,55 mm, độ dày khoảng 0,2 mm
Trang 14N5 có chiều dài khoảng 0,61 mm, độ dày khoảng 0,2 mm
* Giai đoạn Zoea (Z)
Sau lần lột xác thứ 5 ấu trùng Nauplius chuyển sang giai đoạn Z, thay đổi hẳn về hình thái Chúng bơi lội liên tục và có định hướng về phía trước
Ấu trùng bắt đầu sử dụng thức ăn bên ngoài, thức ăn chủ yếu là thực vật nổi với hình thức ăn lọc nên chúng ăn tất cả những gì vừa cỡ miệng Ở giai đoạn này, ấu trùng ăn mồi liên tục, ruột luôn đầy thức ăn và thải phân liên tục tạo thành đuôi phân kéo dài phía sau do hệ tiêu hoá đã hình thành tương đối hoàn chỉnh, màng ruột dao động theo kiểu hình sin nên thức ăn được đẩy dọc theo ống tiêu hoá, một phần nhỏ thức ăn được tiêu hoá và hấp thụ qua màng ruột, phần lớn còn lại được thải ra ngoài qua hậu môn [9]
Thức ăn của ấu trùng Z là thực vật nổi, chủ yếu là các loại tảo Silic
như: Skeletonema costatum, thalassiosira sp, chaetoceros sp, hoặc các loài
tảo lục Tuy nhiên hiện nay trong ương nuôi ấu trùng tôm He chân trắng, giai
đoạn Zoea người ta thường sử dụng tảo khô Spirulina sp kết hợp với thức ăn tổng hợp, tảo tươi và artemia Ngoài ra, ấu trùng còn có khả năng bắt mồi chủ
động, khả năng này tăng dần từ Z1 - Z3, đặc biệt từ cuối Z2 trở đi Ấu trùng Z
có khả năng ăn một số động vật nổi kích thước nhỏ như: Luân trùng, Nauplius của Copepoda, Nauplius của Artemia….[11]
Giai đoạn ấu trùng Zoea được phân chia thành 3 giai đoạn phụ: Z1, Z2, Z3 Để phân biệt các giai đoạn phụ chúng ta căn cứ vào hình dạng bên ngoài như chuỷ đầu và đuôi phân, cuối giai đoạn Zoea ấu trùng dài khoảng 2,2 mm [10] Thời gian mỗi giai đoạn phụ của Zoea phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường, điều kiện dinh dưỡng cũng như thể trạng của ấu trùng trong đó nhiệt
độ môi trường được coi là yếu tố quan trọng nhất Nếu nhiệt độ từ 28 - 29o
C thời gian mỗi giai đoạn phụ khoảng 30 - 42h, trung bình 36h Nhiệt độ từ 26 -
28oC thời gian mỗi giai đoạn phụ khoảng 42 - 48h và nếu nhiệt độ dưới 26oC
Trang 15thời gian cho mỗi giai đoạn là 52h Theo một số kết quả nghiên cứu khác nhiệt độ từ 27 - 29 oC thời gian biến thái từ 105 - 120h [6].
Giai đoạn Zoea có 3 giai đoạn phụ: Zoea1 (Z1), Zoea 2 (Z2), Zoea 3 (Z3) Sau khoảng 108 - 120h sẽ chuyển sang giai đoạn Mysis [11]
- Zoea1
Hình 1.2 Ấu trùng giai đoạn Zoea 1
+ Cơ thể kéo dài, chia làm hai phần rõ rệt: phần đầu có vỏ giáp lỏng lẻo, phần sau gồm 5 đốt ngực và 1 phần bụng chưa phân đốt có chạc đuôi Z1
chưa có chủy đầu, mắt đã có sự phân chia rõ nhưng dính sát nhau tạo thành một khối và chưa có cuống mắt [9]
+ Phần đầu và phần bụng có thể phân biệt bằng mắt thường 2 giai đoạn
N5 và Z1 Ống tiêu hóa chạy từ miệng đến hậu môn Có thể nhìn thấy thức ăn khi ấu trùng đang ăn Chiều dài thân khoảng 1 mm, chiều rộng khoảng 0,49
mm [11]
- Zoea (Z2)
Hình 1.3 Ấu trùng giai đoạn Zoea 2
Trang 16+ Xuất hiện chủy đầu, hai mắt kép có cuống mắt tách rời, phần bụng đã chia thành 4 đốt [9] Chiều dài khoảng 1,9 mm [11]
- Zoea 3 (Z3)
Hình 1.4 Ấu trùng giai đoạn Zoea 3
+ Z3 đã có phần đầu và phần ngực kết hợp thành phần đầu ngực và được che phu bởi giáp đầu ngực Ở mặt bụng cuối phần đầu ngực xuất hiện mầm 5 đôi chân ngực, phần bụng có 7 đốt bao gồm 6 đốt bụng và 1 chạc đuôi, đốt bụng 6 dài và có mầm chân đuôi [9]
+ Chiều dài cơ thể khoảng 2,7 mm [11]
* Giai đoạn Mysis (M)
Cuối giai đoạn Z3, ấu trùng lột xác trở thành Mysis Ấu trùng M sống trôi nổi, có đặc tính treo mình trong nước, đầu chúc xuống dưới, bơi lội kiểu búng ngược, vận động chủ yếu nhờ vào 5 đôi chân bò Mysis bắt mồi chủ động, thức ăn chủ yếu là động vật nổi như: luân trùng (Brachionus plicatilis),
N - Copepoda, N - Artemia, ấu trùng động vật Tuy nhiên chúng vẫn có thể
ăn tảo silic, đặc biệt là giai đoạn M1, M2 Khi bơi ngược đầu M dùng 5 cặp chân bơi dưới bụng tạo ra những dòng nước nhỏ đẩy khuê tảo vào miệng và đẩy động vật phù du về phía cặp chân đi để tóm lấy dễ dàng hơn [11]
Thời kỳ này ấu trùng trải qua 3 giai đoạn phụ: M1, M2, M3 Mỗi giai đoạn kéo dài 24h, tất cả là 3 ngày rồi trở thành Postlarvae [11]
- Mysis 1(M1)
Trang 17Hình 1.5 Ấu trùng giai đoạn Mysis 1
+ Chiều dài khoảng 3,4 mm Cơ thể đã có hình dạng của tôm trưởng thành Các cặp chân bụng (Pleopods) bắt đầu nhú ra ở 5 khúc đoạn bụng, xuất hiện đuôi và quạt đuôi, các gai thu nhỏ lại, 5 đôi chân bơi bắt đầu xuất hiện Đầu M1 chưa có mầm chân bụng, cuối M1 mầm chân bụng bắt đầu hình thành [9]
- Mysis 2 (M2)
Hình 1.6 Ấu trùng giai đoạn Mysis 2
+ Chiều dài khoảng 4,0 mm Chân bụng đã trồi ra nhưng chưa xuất hiện các đoạn nhỏ (Segment), vết lõm vào ở cuối quạt đuôi thì nông hơn so với giai đoạn M1 Mầm chân bụng có một đốt [9]
- Mysis 3 (M3)
Hình 1.7 Ấu trùng giai đoạn Mysis 3
Trang 18+ Chiều dài khoảng 4,4 mm Chân bụng dài hơn và đã phân chia thành khúc nhỏ Xuất hiện răng trên chủy đầu tiên [11] Mầm chân bụng có 2 đốt [9].
Giai đoạn Postlarvae (PL)
Hình 1.8 Ấu trùng giai đoạn PL
+ Hậu ấu trùng có hình dạng của loài nhưng sắc tố chưa hoàn thiện, bơi thẳng, có định hướng về phía trước, bơi lội chủ yếu nhờ 5 đôi chân bụng PL hoạt động nhanh nhẹn, bắt mồi chủ động, thức ăn chủ yếu là động vật nổi như: luân trùng, Artemia, Copepoda, ấu trùng của giáp xác khác, ấu trùng của động vật thân mềm
+ Tuổi PL được tính theo ngày Đầu giai đoạn, PL sống trôi nổi, từ PL3
hoặc PL5 trở đi chúng chuyển sang sống đáy
1.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng
Tôm he chân trắng là ăn tạp nhưng thiên về thức ăn động vật Thức ăn của tôm là các động vật khác như giáp xác, động vật thân mềm, giun nhiều tơ,
cá nhỏ và một số loài rong tảo, mùn bã hữu cơ, xác động vật và thực vật chết, thảm và hạt thực vật mục nát, thảm thực vật đáy….[9] Nhưng những nghiên cứu khoa học gần đây sau khi phân tích thức ăn trong ruột tôm cho thấy trong
tự nhiên tôm là loài động vật ăn thịt sống, các loài giáp xác nhỏ, các nhóm
giáp xác chân đều Amphipods và giun nhiều tơ Polychates
Giống như các loài tôm he khác, thức ăn của nó cũng cần các thành phần: Protein, lipid, gluxid, vitamin,muối khoáng…Khả năng chuyển hóa
Trang 19thức ăn của tôm thẻ chân trắng rất cao, trong điều kiện nuôi lớn bình thường, lượng cho ăn chỉ cần bằng 5% thể trọng tôm (thức ăn ướt) Trong thời kỳ tôm sinh sản và đặc biệt là giữa và cuối giai đoạn phát dục của buồng trứng thì nhu cầu về lượng thức ăn hàng ngày tăng lên gấp 3-5 lần Thức ăn cần hàm lượng protein 35% là thích hợp, trong khi đó với tôm Sú cần 40% protein, tôm He Nhật Bản cần 60% protein [9]
1.1.6 Đặc điểm sinh trưởng, phát triển và lột xác
Ở tôm he nói riêng, giáp xác nói chung sự tăng trưởng lên về kích thước có dạng bậc thang, thể hiện sự sinh trưởng không liên tục Kích thước
cơ thể giữa 2 lần lột xác hầu như không tăng hoặc tăng không đáng kể và sẽ tăng vọt sau mỗi lần lột xác, trong khi đó sự tăng trưởng về khối lượng có tính liên tục hơn
Tôm he chân trắng có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh Tốc độ tăng trưởng tùy thuộc giai đoạn phát triển, giới tính và điều kiện môi trường, dinh dưỡng…
Tôm con có tốc độ tăng trưởng nhanh, càng về sau tốc độ tăng trưởng kích thước giảm dần [9] Tôm nhỏ thay vỏ vài giờ, tôm lớn cần 1 - 2 ngày Tốc độ lớn thời gian đầu 3 g/tuần lễ (mật độ nuôi 100 con/m2) tới cỡ 30 g lớn chậm dần (1 g/tuần lễ) Tôm cái thường lớn nhanh hơn tôm đực Nuôi 60 ngày có thể đạt cỡ thương phẩm (23 cm) Trong điều kiện sinh thái tự nhiên, nhiêt độ nước 30 - 320C, độ mặn 20 - 400
/00 từ tôm bột đền thu hoạch mất 180 ngày, cỡ tôm trung binh 40 g chiều dài từ 4 cm tăng lên tới 14 cm [11]
1.1.7 Đặc điểm sinh sản
* Cơ quan sinh dục
Cơ quan sinh dục của con đực gồm 2 ống dẫn tinh, 2 tinh hoàn màu trắng sữa nằm ở phần đầu ngực và ống dẫn đổ ra ở gốc chân bò số 5, cơ quan sinh dục ngoài có Petasma
Trang 20Cơ quan sinh dục trong của con cái là đôi buồng trứng gồm 2 dải nằm trên mặt lưng, kéo dài từ hốc mắt tới đốt bụng thứ 6, cơ quan sinh sản ngoài là Thelycum, là nơi chứa túi tinh sau khi giao vĩ
* Mùa vụ sinh sản
Ở biển quanh năm đều bắt được tôm mẹ ôm trứng Ở bắc Equado mùa
đẻ rộ vào tháng 4 - 5, ở Peru mùa đẻ chủ yếu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Tôm He chân trắng thuộc loại hình sinh sản túi chứa tinh mở khác với loại hình túi chứa tinh kín như tôm Sú và tôm he Nhật Bản [11]
cm có lượng chứa trứng (sưc sinh sản tuyệt đối) là 10 - 15 vạn trứng [1] Sau mỗi lần đẻ hết trứng buồng trứng tôm lai phát dục tiếp, thời gian giữa 2 lần
đẻ cách nhau 2 - 3 ngày (đầu vụ chỉ độ 50h) Con đẻ nhiều nhất lên tới 10 lần/năm, thường sau khi đẻ 3 - 4 lần thì có một lần lột vỏ [11]
* Ấp nở
Trứng thụ tinh có đường kính 28 mm, ấp nở ở nhiệt độ nước 28 - 310C,
độ mặn 29‰, sau 12 ngày thì nở thành ấu trùng Ấu trùng tôm lột xác sau 12 lần (khoảng 12 ngày) và trở thành tôm bột Poslarvea
1.1.8 Nhu cầu dinh dưỡng
Trang 21- Protein
Protein là thành phần dinh dưỡng quan trọng trong thức ăn của tôm, là nguyên liệu tạo các mô và các sản phẩm khác trong cơ thể và còn là chất xúc tác, thực hiện chức năng vận chuyển, bảo vệ…Nhu cầu protein thay đổi tùy theo giai đoạn phát triển của tôm Postlarvae yêu cầu tỉ lệ 40% protein trong thức ăn, cao hơn các giai đoạn sau
Tôm chân trắng không cần khẩu phần ăn có lượng protein cao như tôm
sú Theo nghiên cứu của Colvin and Brand (1977) là 30%, Kureshy and Davis (2002) là 32% Trong đó, thức ăn có lượng protein 35% được coi như là thích hợp hơn cả, trong đó khẩu phần ăn có thêm mực tươi rất được tôm ưa chuộng
- Hydratcacbon
Hydratcacbon là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu cho cơ thể (khoảng 60% năng lượng cho hoạt động sống của động vật) Tuy khả năng sản sinh ra nhiệt lượng của hydratcacbon kém hơn so với lipid, song hydratcacbon lại có ưu thế hoà tan được, vì vậy quá trình tiêu hoá hấp thu dễ dàng
Ở giáp xác có nhiều men tiêu hoá hydratcacbon như: amylaza, maltaza, kitinaza, cellulaza (Kooiman, 1964), nhờ đó giáp xác có thể tiêu hoá một thành phần cellulose nên chúng có thể ăn thực vật và rong tảo
Thức ăn nhiều xơ sẽ đưa kết quả xấu vì cơ quan ruột, dạ dày của tôm ngắn, thức ăn nhanh chóng đi qua và thời gian tiêu hoá bị hạn chế Nhưng chất xơ đóng vai trò là chất nền cho quá trình lên men của vi sinh vật sống trong ống tiêu hoá, vì vậy trong thức ăn tôm người ta thường bổ sung khoảng 5% bột cỏ hoặc rong biển Ngoài vai trò là chất nền trong chất xơ tồn tại một lượng nước nhất định, chính lượng nước này có tác dụng duy trì dịch ruột làm tăng quá trình hấp thu chất dinh dưỡng [15]
- Lipid
Trang 22Cùng với Hydratcacbon thì chất béo tạo ra năng lượng Nếu năng lượng của thức ăn quá thấp thì tôm sẽ sử dụng nguồn năng lượng từ các dưỡng chất khác, như protein để thoả mãn nhu cầu về năng lượng, làm nâng cao chi phí thức ăn Nếu năng lượng trong thức ăn quá cao thì sẽ làm giảm sự hấp thu thức
ăn và chất đạm tiêu hoá không đủ để tôm phát triển
Thành phần lipid có trong thức ăn tôm khoảng 6% - 7,5% không nên quá 10%, Với hàm lượng lipid trong thức ăn >10% sẽ dẫn đến giảm tốc độ sinh trưởng, tăng tỉ lệ tử vong [2]
- Vitamin
Vitamin là nhóm chất hữu cơ mà động vật yêu cầu số lượng rất ít so với các chất dinh dưỡng khác nhưng cần thiết cho sự sinh trưởng, phát triển bình thường của cơ thể và duy trì cuộc sống của nó, cơ thể động vật có nhu cầu một lượng nhỏ trong thức ăn để đảm bảo sự sinh trưởng và phát triển bình thường
Nhu cầu vitamin ở tôm tùy thuộc vào kích cỡ, tuổi, tốc độ sinh trưởng, điều kiện dinh dưỡng, nhu cầu từng loại vitamin thực tế cho từng loài tôm, cho từng giai đoạn vẫn chưa được biết nhiều Vì thế trong thức ăn, lượng vitamin bổ sung thường vượt qua nhu cầu thực tế của tôm nhằm bù đắp lượng mất đi do hòa tan trong nước, do phân hủy trong quá trình sản xuất thức ăn và bảo quản
Vitamin nhóm B, C và E được cho là cần thiết phải cho vào thức ăn, Vitamin D, C khi dùng với số lượng nhiều đã cho thấy phản ứng đối kháng, dẫn đến bệnh thừa vitamin Trong thành phần các premix vitamin dùng cho tôm luôn có vitamin A và K [2]
Trang 231.2 Tình hình sản xuất giống tôm he chân trắng trên Thế giới và Việt Nam
1.2.1 Trên thế giới
Tôm he chân trắng (Penaeus vannamei) xuất hiện lần đầu tiên ở bang
Florida (Mỹ) vào năm 1973 sau đó được các nhà khoa học đưa vào nuôi thử nghiệm cách ly để phục vụ công tác nghiên cứu Sau ba năm nuôi thí điểm, loại vật nuôi mới này đã thành thục và được phép nuôi tại Panama vào năm
1976 [19]
Bắt đầu từ thời điểm này, người ta chứng kiến một làn sóng du nhập và phát triển tôm he chân trắng rất quy mô tại các quốc gia Nam và Trung Mỹ Đặc biệt tại Hawaii, thuộc lãnh thổ Mỹ, tôm he chân trắng phát triển tốt đến những năm 1980 sau đó phát triển mạnh khắp khu vực châu Mỹ Latinh
Cũng trong thời gian này, nhiều quốc gia châu Á cũng cho du nhập tôm thẻ vào nuôi và nhanh chóng trở thành một đối tượng nuôi trồng mới cho năng suất và hiệu quả cao Theo số liệu không chính thức của Tổ chức Lương nông Liên Hợp quốc (FAO) thì tổng sản lượng tôm he chân trắng tại châu lục này đã đạt xấp xỉ 1.116.000 tấn vào năm 2004, nâng tổng sản lượng toàn cầu lên con số 1.386.000 tấn Trong đó Trung Quốc, lãnh thổ Đài Loan và Thái Lan là những vùng nuôi tôm he lớn nhất do phù hợp với các điều kiện nuôi trồng tôm he chân trắng
Theo thống kê của FAO năm 2004, các quốc gia sản xuất nhiều tôm thẻ nhất gồm Trung Quốc (700.000 tấn), Thái Lan (400.000 tấn), Indonesia (300.000 tấn) và Việt Nam (50.000 tấn) Kế đến là những quốc gia ở các châu lục khác như Mỹ, Brazil, Ecuador, Mexico, Venezuela, Honduras, Guatemala, Nicaragua, Belize, Peru, Colombia, Costa Rica, Panama, El Salvador, Ấn Độ, Philippines, Campuchia, Suriname, Saint Kitts, Jamaica, Cuba, Cộng hòa Dominica và Bahamas [19]
Trước tình hình dịch bệnh do virus Taura của các loài tôm he chân trắng bùng phát vào những năm 1992 tại nước Ecuador, các nước Châu Mỹ và
Trang 24Châu Á đã khiến tỷ lệ tôm chết rất cao, gây tổn thất lớn cho nghành thủy sản các nước này Vì vậy, Chương trình Nuôi tôm biển của Hoa Kỳ (viết tắt là USMSFP) do Bộ Nông nghiệp Mỹ tài trợ đã giao cho Viện Hải dương học thực hiện đề tài chọn giống tôm he chân trắng kháng virus gây hội chứng Taura từ nguồn tôm sạch bệnh (SPF) Việc nghiên cứu và chọn giống thực sự bắt đầu từ năm 1995 Sau 7 năm, khoảng 700.000 con tôm đã được chuyển giao cho nông dân Mỹ và các nhà sản xuất tôm giống, cùng một lượng nhỏ tôm được gửi đến các viện nghiên cứu Mỹ
Sau khi xuất hiện dòng tôm này đã có nhiều đóng góp nghiên cứu của các tác giả tiêu biểu như:
Năm 1992, tác giả Bray và Lawrence đã nghiên cứu và phân chia các giai đoạn phát triển của tôm he
Tác giả Akijama, năm 1992 đã nghiên cứu nhu cầu protein của các loài
thuộc nhóm ăn thực vật như Penaus vannamei thấp hơn nhóm ăn thiên về
động vật
Năm 1994, tác giả Le Mollae đã chứng minh răng trong ấu trùng tôm
Penaus vannamei hoạt động của enzym trypsin tăng nhưng hoạt động của
chymotrypsin giảm, khi tăng hàm lượng protein trong thức ăn
Theo Shiau, 1997, hàm lượng Cellulose không ảnh hưởng tới khả năng
tiêu hóa protein của các loài Penaus vannamei nhưng ảnh hưởng tơi một số loài tôm khác.Chứng tỏ khả năng tiêu hóa của loài Penaus vannamei rất tốt
Ở Đông Nam Á, Thái Lan, tiếp theo là Inđônễia cũng cho phép nuôi tôm he chân trắng từ đầu năm 2000, nhưng chỉ bằng tôm giống SPF/SPR Các nước khác trong khu vực Đông Nam Á và Nam Á lức đầu đều tiếp cận khá dè dặt với loài nuôi này, chẳng hạn Campuchia, Ấn Độ, Malaixia, Mianma, Philipin đều chỉ cho nuôi thử nghiệm, do lo ngại lan truyền mầm bệnh mới, chủ yếu là virus hội chứng Taura (TSV), lên các đối tượng bản địa [16]
Trang 25Thái Lan là nước đi đầu khu vực Đông Nam Á về nuôi tôm he chân trắng, sản lượng hiện lên tới khoảng 500.000 tấn mỗi năm Nước này cũng đi đầu trong nghiên cứu tự sản xuất giống tôm he chân trắng sạch bệnh, kháng bệnh và cải thiện tốc độ tăng trưởng để đáp ứng nhu cầu nuôi trong nước và
XK Thậm chí, họ đã có bộ giống tôm he chân trắng cho các vùng nuôi có những điều kiện tự nhiên khác nhau [16]
1.2.2 Ở Việt Nam
Tôm he chân trắng được di nhập vào Việt Nam năm 2001 từ nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ khác nhau như: Mỹ, Đài Loan, Trung Quốc, Thái Lan Từ đó đến nay, nghề nuôi tôm he chân trắng tại Việt Nam phát triển mạnh mẽ và chiếm lĩnh một phần không nhỏ thị trường xuất khẩu Theo Vụ Nuôi trồng thủy sản, trước năm 2005, diện tích nuôi tôm he chân trắng của Việt Nam không đáng kể; đến năm 2010, diện tích nuôi tôm he chân trắng đã lên đến 21.000 ha, tăng 30% so với năm trước Tôm he chân trắng đã trở thành đối tượng nuôi phổ biến tại các tỉnh miền Trung [18]
Những năm gần đây, diện tích nuôi tôm he chân trắng tại Việt Nam phát triển mạnh, đặc biệt ở miền Trung Tuy nhiên, nguồn tôm bố mẹ sử dụng cho sản xuất giống tôm he chân trắng ở Việt Nam chủ yếu nhập từ Thái Lan, Trung Quốc và Malaysia (khoảng 80%), còn lượng tôm giống nhập từ Hawaii (Mỹ) chỉ chiếm khoảng 20% Do không chủ động nguồn giống, không kiểm soát được đầu vào nên chất lượng con giống đang là thách thức chính cho công nghệ nuôi tôm he chân trắng ở Việt Nam
Để phục vụ sản xuất giống và phát triển nghề nuôi tôm he chân trắng, những năm qua, nhiều công trình nghiên cứu khoa học đã triển khai như: Quy trình nuôi vỗ tôm bố mẹ và cho sinh sản nhân tạo; nghiên cứu sản xuất tôm he chân trắng bố mẹ chất lượng và sạch bệnh có nguồn gốc từ Hawaii phục vụ sản xuất giống nhân tạo; ứng dụng công nghệ sinh học sản xuất giống tôm thẻ
Trang 26chân trắng sạch bệnh [18]; Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn đến khả năng thành thục đến tôm bố mẹ; Nghiên cứu ảnh hưởng các yếu tố môi trường đến
sự thành thục của tôm bố mẹ; Nghiên cứu ảnh hưởng của các thang nhiệt độ,
độ mặn đến thời gian biến thái và tỷ lệ sống của ấu trùng; Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn, mật độ…
Tuy nhiên, trong lĩnh vực di truyền chọn tạo đàn tôm he chân trắng bố
mẹ chất lượng cao, khả năng kháng bệnh tốt trong điều kiện nuôi ở Việt Nam thì chưa có một công trình nghiên cứu nào thực hiện thành công
Hiện nay, Viện III đã sản xuất thành công giống tôm he chân trắng có nguồn gốc từ Hawaii, bước đầu sản xuất con giống chất lượng cao với tên gọi F1-V3-VN Tôm giống F1-V3-VN có khả năng sinh sản ở điều kiện miền Trung tương đối ổn định, mỗi lần đẻ từ 200.000 - 230.000 trứng, trong khi đó tôm nhập trực tiếp từ Hawaii đẻ từ 170.000 - 190.000 trứng, tỷ lệ nở và tỷ lệ thụ tinh của tôm F1-V3-VN cũng cao hơn so với đối chứng Không chỉ vậy, thời gian đẻ lần đầu sau khi cắt mắt của giống tôm cũng sớm hơn [21]
Góp phần vào thành công của ngành tôm Việt Nam phải nhắc đến những đóng góp không nhỏ của các tỉnh sản xuất tôm giống lớn như Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh Hòa Tuy nhiên, hiện còn khá nhiều bất cập trong việc sản xuất tôm giống chất lượng cao và sạch bệnh
Bình Thuận là tỉnh có nhiều tiềm năng và lợi thế đối với nghề sản xuất tôm giống Tính đến cuối 2011, toàn tỉnh có 152 cơ sở sản xuất tôm giống, với 611 trại, tổng thể bể ương là 12.719m3 Trong đó, sản xuất giống tôm sú
là 91 cơ sở (340 trại); Tôm he chân trắng là 61 cơ sở (271 trại) Năm 2011, sản lượng tôm giống xuất trại đạt 12 tỷ con, tăng 30% so với cùng kỳ năm
2010 và đạt 150% kế hoạch năm [20]
Ở Ninh Thuận nghề sản xuất giống thủy sản nói chung và tôm giống nói riêng ở Ninh Thuận không ngừng phát triển cả về số lượng và chất lượng
Trang 27Nếu như năm 1986, toàn tỉnh chỉ mới có 32 trại sản xuất với sản lượng 200 -
300 triệu giống/năm, thì đến nay đã có hơn 400 cơ sở, với hơn 1.400 trại sản xuất giống thủy sản, hàng năm sản xuất 10 - 15 tỷ con giống (chủ yếu tôm sú
và tôm he chân trắng) phục vụ nhu cầu nuôi đa dạng của người sản xuất Sự phát triển nghề sản xuất tôm giống ở Ninh Thuận đã và đang góp phần tích cực cho nghề nuôi tôm Việt Nam, cũng như góp phần vào sự phát triển kinh
tế biển Ninh Thuận [20]
Khánh Hòa được xem như “cái nôi” của phong trào nuôi tôm, bởi đây
là vùng cung ứng tôm giống đầu tiên cho cả nước Theo báo cáo của Sở NN&PTNT Khánh Hòa, trên địa bàn tỉnh hiện có 226 trại sản xuất giống tôm
sú, năng lực sản xuất đạt 1,5 tỷ con /năm; 11 cơ sở được phép sản xuất giống tôm he chân trắng, năng lực sản xuất 2,5 tỷ con/năm, phục vụ nhu cầu sản xuất tôm sú, tôm he chân trắng thương phẩm trên quy mô toàn quốc Sản lượng xuất ra thị trường ngoại tỉnh đạt từ 3,5 - 4 tỷ con giống mỗi năm Tuy nhiên, năm 2011, toàn tỉnh chỉ sản xuất được trên 1,2 tỷ con tôm giống, bằng 1/3 năng lực sản xuất của các trại [20]
Tại Nghệ An, các cơ sở sản xuất giống tôm he chân trắng được đưa vào sản xuất cung cấp giống trên địa bàn các huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu Quỳnh Lưu có 4 cơ sở sản xuất giống tôm he chân trắng, trong đó có công ty
cổ phần chăn nuôi CP việt Nam đóng trên địa bàn đã cung cấp tôm giống chất lượng tốt trên địa bàn tỉnh và các tỉnh phía Bắc Từ năm 2003, huyện Nghi Lộc nuôi với diện tích nuôi từ 2 - 3, tính đến tháng 9/2006, có 47 đơn vị và cá nhân nuôi tôm he chân trắng với tổng diện tích 24 ha tăng 80% so với năm
2003 là 15 ha, còn lại phân bố rải rác tại một số địa điểm ở Quỳnh Lưu, Diễn Châu và thành phố Vinh Mật độ thả từ 40 - 100 con/m2, năng xuất 2 - 15 tấn/ha [17]
Theo thống kê của Bộ NN&PTNT, diện tích nuôi tôm he chân trắng năm 2010 là 25.000 ha, sản lượng 135.000 tấn, đem lại 414,6 triệu
Trang 28USD giá trị XK; trong khi đó diện tích nuôi tôm sú bằng 613.000 ha, sản lượng 330.000 tấn, đem lại 1.439 triệu USD, có thể thấy tôm thẻ chân trắng được nuôi tập trung hơn, do đó hiệu quả sử dụng đất cao hơn nhiều so với tôm sú [16]
Mặc dù mới được phép nuôi trên địa bàn cả nước 3 năm, sản phẩm tôm
he chân trắng đã đóng góp ngày càng quan trọng cho xuất khẩu thủy sản Việt Nam Tháng 7-2011, kim ngạch xuất khẩu tôm thẻ tăng tới 43% so với cùng kỳ năm trước, đưa kim ngạch bảy tháng đầu năm tăng 64,3% so với cùng kỳ Trong khi đó, kim ngạch xuất khẩu tôm sú tháng 7-2011 lại giảm 14% so với cùng kỳ và kim ngạch xuất khẩu bảy tháng chỉ tăng 21,1% Kết quả trên cho thấy cơ cấu xuất khẩu tôm đã có sự thay đổi đáng kể Nếu như bảy tháng đầu năm 2010, tỷ trọng xuất khẩu tôm sú và tôm he chân trắng lần lượt chiếm 64,8% và 21,1% tổng kim ngạch xuất khẩu tôm thì bảy tháng đầu năm nay, tỷ lệ tương ứng là 62,0% và 27,4% Đáng chú ý, trong khi tỷ trọng xuất khẩu tôm he chân trắng sang các thị trường lớn như Mỹ, Nhật, Đức đã tăng lên mạnh mẽ thì tỷ trọng tôm sú lại giảm Cụ thể, tỷ trọng xuất khẩu tôm
he chân trắng sang Mỹ sáu tháng đầu năm 2011 đã tăng từ mức 21,1% của cùng kỳ năm trước lên 30,7%; tương tự, Nhật Bản là 24,1% so với 16,7%, Đức là 30,6% so với 27,7% Trong khi đó, xuất khẩu tôm sú sang một số thị trường ít bị ảnh hưởng bởi suy thoái như Trung Quốc, Hàn Quốc, Canada, Hồng Kông vẫn được duy trì tương đối tốt Thị phần của một loài như vậy
là không hề nhỏ Ở đây chưa nói đến một sản lượng đáng kể tôm he chân trắng tiêu thụ nội địa và xuất khẩu tiểu ngạch Sự tăng trưởng liên tục cả diện tích nuôi, sản lượng và giá trị xuất khẩu chứng tỏ tôm he chân trắng đã có chỗ đứng vững chắc trong cơ cấu giống thủy sản nuôi ở Việt Nam
Với tốc độ phát triển hiện nay, nếu các hạn chế được quan tâm khắc phục nhanh, đặc biệt là vấn đề tạo nguồn giống tôm he chân trắng tại chỗ,
Trang 29thích hợp với điều kiện môi trường, sinh thái của Việt Nam, tôm he chân trắng hoàn toàn có cơ hội đuổi kịp và sánh vai cùng tôm sú, tạo nên cỗ xe
“song tôm” làm đầu tàu cho xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong 3-4 năm tới
1.3 Tình hình nghiên cứu và sử dụng các loại thức ăn khác nhau cho ấu trùng tôm he Chân Trắng giai đoạn Mysis
Tôm he chân trắng là đối tượng mới du nhập và nuôi ở Việt Nam, nên
việc xác định loại thức ăn thích hợp trong ương nuôi ấu trùng cần được đi sâu nghiên cứu, đánh giá nhằm xác định được loại thức ăn, công thức thức ăn phù hợp cho quá trình ương nuôi Do đó việc lựa chọn loại thức ăn (tươi sống, chế biến, tổng hợp…) phù hợp với kích cỡ và đặc tính tiêu hóa cũng như đảm bảo hàm lượng chất dinh dưỡng là vấn đề then chốt quyết định sự tăng trưởng, tỷ
lệ sống của ấu trùng cũng như quyết định sự thành công của mô hình nuôi hay đợt sản xuất
Thức ăn là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của ấu trùng tôm Qua các kết quả nghiên cứu trong thời gian gần đây đều cho thấy thức ăn luôn tỷ lệ thuận với tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng và tỷ
lệ nghịch với thời gian biến thái
Ấu trùng Mysis sống trôi nổi, có đặc tính treo mình trong nước, đầu chúc xuống dưới, bơi lội kiểu búng ngược, vận động chủ yếu nhờ vào 5 đôi chân bò Mysis bắt mồi chủ động, thức ăn chủ yếu là động vật nổi như: luân trùng (Brachionus plicatilis), N - Copepoda, N - Artemia, ấu trùng động vật Tuy nhiên chúng vẫn có thể ăn tảo silic, đặc biệt là giai đoạn M1, M2 Khi bơi ngược đầu M dùng 5 cặp chân bơi dưới bụng tạo ra những dòng nước nhỏ đẩy khuê tảo vào miệng và đẩy động vật phù du về phía cặp chân đi để tóm lấy dễ dàng hơn
Ngoài các loại tảo sử dụng trong sản xuất giống thì còn sử dụng Artemia như là một nguồn thức ăn tự nhiên quan trọng Vì Artemia là loại có
Trang 30kích thước phù hợp, hàm lượng HUFA cao HUFA có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển ban đầu hệ thần kinh tôm, nó là tiền thân cho các hợp chất sinh học, hàm lượng acid béo mạch cao nối đôi có trong Artemia sinh khối đóng vai trò quan trọng trong ương nuôi ấu trùng tôm
Artemia bắt đầu cho ăn khi ấu trùng đạt đến giai đoạn Mysis 1 hay ngay cả Z2 - Z3 Nhiều nghiên cứu đã cho thấy rằng, thành phần dinh dưỡng của những nguồn Artemia khác nhau và ngay cả những đợt sản xuất khác nhau là khác nhau Amat nghiên cứu ảnh hưởng nguồn Artemia khác nhau lên ấu trùng của một số loài tôm biển đã cho thấy rằng kết quả tốt nhất ở tôm
ăn Artemia có thành phần HUFA cao nhất
Mặc dù Artemia có giá trị dinh dưỡng rất cao và có một số loài có thể dựa vào nguồn thức ăn là Artemia đơn độc, song trong sản xuất giống, việc
bổ sung các nguồn thức ăn nhân tạo hay làm giàu Artemia là điều rất cần thiết và rất phổ biến
Cùng với Artemia thì Tảo và TĂTH là hai loại thức ăn không thể thiếu trong sản xuất giống tôm bởi chúng có hàm lượng chất dinh dưỡng cao, khi cho ăn lại ít gây ô nhiễm môi trường nước bể nuôi và ít bị phân hủy giữ môi trường nước nuôi được trong sạch giúp ấu trùng sống và phát triển tốt hơn
Vi tảo là thức ăn tự nhiên cho ấu trùng tôm, đặc biệt quan trọng ở giai đoạn Z và M Hầu như các loài tảo biển có thể làm thức ăn cho ấu trùng tôm, tuy nhiên sự lựa chọn loại nào thường tập trung vào tiêu chí là kích cỡ vi tảo
để phù hợp với các giai đoạn của ấu trùng tôm và hàm lượng acid béo không
no HUFA có cao hay không Hàm lượng HUFA có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển ban đầu hệ thần kinh của tôm, chính nó là tiền thân của nhiều hợp chất sinh học (ví dụ Protaglandin), sau này chi phối các hoạt động phát triển và sinh sản của tôm
Trang 31Vi tảo được chọn nuôi cấy vì thế bao gồm các giống sau đây:
Chatoceros, Thalassiosira, Skeletonema, Chlorella trong đó Ischrysis aff Thalassisira, Chatoceros gracilis (tảo khuê đơn bào ở biển) được xem là thức
ăn tôt nhất cho tôm he chân trắng
Tại Nhật Bản việc nuôi tảo Silic Skeletonema sspvà chatoceros ssp làm
thức ăn khởi đầu cho một điều kiện tiên quyết đối với việc nuôi ấu trùng tôm
từ Nauplius đến Post larvae và Fujinaga là người đầu tiên thành công trong
nuôi tảo Skeletonema costatum sử dụng làm thức ăn cho tôm Penaeus
japonica [10]
Tại Việt Nam: Trước đây, người nuôi tôm sử dụng thức ăn tổng hợp gồm các vitamin, khoáng chất, tảo, chất miễn dịch, artemia Tảo tươi là thành phần thức ăn bắt buộc trong giai đoạn Zoae 1 đến Zoae 2 và được duy trì cho đến cuối giai đoại Mysis Để có được loại thức ăn tổng hợp này phải nuôi cấy tảo tươi khó đạt chuẩn ổn định và dễ làm tôm nhiễm bệnh từ môi trường nuôi cấy tảo Do đó người ta đã nghiên cứu và sản xuất những loại thức ăn đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng, tăng sức đề kháng cũng như ngăn ngừa và điều trị nhựng bệnh thường gặp ở tôm Dòng thức ăn V8 có nguồn gốc từ Mỹ và gần đây được phát triển bởi công ty Diên Khánh,71 Nguyễn Minh Hoàng, P.12, Q Tân Bình, Tp.HCM, đáp ứng được những yêu cầu này [12]
Kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hải Âu (2004) cho thấy ở giai đoạn Zoea dùng thức ăn là tảo tươi, tảo khô kết hợp với thức ăn tổng hợp cho
tỷ lệ sống cao 80 - 93% [7] Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Hồ Hữu Danh thì khi ương nuôi ấu trùng Zoea với sự kết hợp thức ăn như trên cho tỷ
lệ sống đạt từ 65 - 90% [1]
Tảo, Artemia và thức ăn tổng hợp là những loại thức ăn làm năng cao TLS và rút ngắn thời gian biến thái vì đã tạo được môi trường nhân tạo giống với môi trường ngoài tự nhiên
Trang 32Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Ấu trùng tôm he chân trắng ( Penaeus vannamei) giai đoạn Mysis (từ
cuối Zoea 3 đến đầu PL 1)
2.2 Vật liệu nghiên cứu
- Các loại thức ăn
+ Thức ăn tươi sống: Tảo Thalasiosira sp, Nauplius Artemia
+ Thức ăn tổng hợp: T1, T2
+ Vitamin C : Được bổ sung vào nguồn thức ăn hằng ngày
- Trang thiết bị và dụng cụ sử dụng trong quá trình nghiên cứu
+ Chế phẩm sinh học sử dụng trong quá trình ương nuôi: SuperVS, ViBrotech, C - Mix
+ Thùng nhựa có thể tích 40 lít
+ Hệ thống sục khí, cân, kính hiển vi, nguồn nước
+ Các trang thiết bị, dụng cụ xác định các yếu tố môi trường như: khúc xạ kế, test đo môi trường: độ kiềm, pH, máy đo độ mặn, nhiệt kế đo nhiệt độ…
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống ấu trùng tôm he
Chân Trắng giai đoạn Mysis
- Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn đến thời gian biến thái của ấu trùng tôm he chân trắng giai đoạn Mysis
- Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởng của ấu
trùng tôm he chân trắng giai đoạn Mysis
Trang 332.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
* Kiểu bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí theo kiểu ngẫu nhiên hoàn
toàn ở mức 1 nhân tố và được lặp lại 3 lần, với 3 công thức thức ăn như sau :
+ CT 1 : Tảo tươi + Artemia
+ CT 2 : Tảo tươi + Artemia + TĂTH
Trang 34* Điều kiện thí nghiệm :
+ Điều kiện môi trường: Nhiệt độ: 28 - 320
C, độ mặn: 26 - 330/00, pH: 7.5 - 8.5
+ Thùng thí nghiệm có thể tích 40 lít và được đặt trong nhà nuôi
+ Mật độ 150 ấu trùng/ lít
* Chế độ chăm sóc, quản lý :
+ Chế độ siphone, thay nước: Si phong hằng ngày vào buổi sáng trước khi thay nước, nước thay 10 - 15% trường hợp nước quá bẩn thì thay 50% và cấp nước lên dần vào cả buổi chiều, vệ sinh thùng mỗi khi thay nước
+ Sục khí 24/24 Điều chỉnh sục khí phù hợp không để ấu trùng lắng đáy + Chế độ cho ăn: ngày cho ăn 8 lần, mỗi lần cách nhau 3h
2.4.2 Phương pháp xác định các chỉ tiêu nghiên cứu
2.4.2.1 Phương pháp theo dõi các yếu tố môi trường
Bảng 2.1 Các thiết bị và dụng cụ theo dõi các yếu tố môi trường
Yếu tố môi trường Dụng cụ sử dụng Thời gian
Nhiệt độ Nhiệt kế 2 lần/ ngày,7h và 14h
Độ mặn Máy đo độ mặn 1 lần/ ngày, 7h
pH Test pH 2 lần/ ngày, 7h và 14h
Độ kiềm Test so màu 1 lần/ ngày, 7h
2.4.2.2 Phương pháp xác định tốc độ tăng trưởng
Chiều dài thân ấu trùng được xác định bằng trắc vi thị kính
Mỗi lần thu khoảng 30 ấu trùng/thùng để kiểm tra
- Xác định tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài thân tôm (mm/ngày)
Trang 35DLG L =
1 2
1 2
t t
t t L
L L
tb
tb tb
Trong đó :
DLGL : Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài thân tôm
LL : Tốc độ tăng trưởng tương đối về chiều dài thân tôm
Ltb2 : Chiều dài trung bình thân tôm được đo ở thời điểm t2
Ltb1 : Chiều dài trung bình thân tôm được đo ở thời điểm t1
t2 - t1 : Khoảng thời gian giữa 2 lần đo
2.4.2.3 Phương pháp xác định thời gian biến thái của ấu trùng
- Xác định thời gian biến thái: Theo dõi và xác định thời điểm ấu trùng chuyển 50% giai đoạn trước đến thời điểm ấu trùng chuyển 50% giai đoạn sau, từ đó tính được tổng thời gian chuyển giai đoạn
- Công thức tính: T = T2 - T1
Trong đó :
T: Thời gian biến thái của ấu trùng (giờ)
T1: Thời điểm ấu trùng chuyển 50 % giai đoạn trước (giờ)
T2: Thời điểm ấu trùng chuyển 50% giai đoạn sau (giờ)
*100
Trang 36Trong đó:
M1: số ấu trùng đếm được ở giai đoạn trước (con)
M2: số ấu trùng đếm được ở giai đoạn sau (con)
T1: số ấu trùng thả ban đầu (con)
T2: số ấu trùng đếm được ở giai đoạn sau (con)
- Xác định tỷ lệ sống bằng cách định lượng ấu trùng sau mỗi lần chuyển giai đoạn bằng phương pháp thể tích
Phương pháp định lượng ấu trùng trong thùng
- Cách thu mẫu: Dùng cốc đong 100 ml để lấy mẫu ở 5 vị trí trong thùng (mẫu được lấy ở những điểm có sục khí) Sau đó hoà loãng ra để đếm (khoảng
10 lần), đếm các mẫu dùng cốc đong 100 ml đó đếm rồi tính bình quân
Định lượng số ấu trùng trong thùng như sau: A= V
v
m
*
Trong đó:
A : Tổng số lượng ấu trùng trong thùng (con/V nước trong thùng)
m : Số lượng ấu trùng có trong thể tích v = 100ml
V : Thể tích nước trong thùng (30lít)
- Thời điểm thu mẫu: Thường xuyên quan sát trong thùng ương nuôi khi ấu trùng có hiện tượng chuyển sang giai đoạn sau được khoảng 50% thì tiến hành thu mẫu định lượng ấu trùng, xác định chiều dài, tỷ lệ sống và thời gian biến thái
- Xác định số lượng tảo
Để xác định mật độ tảo trước khi cho ấu trùng ăn dùng các phương pháp đếm tế bào tảo bằng buồng đếm hồng cầu có 2 ngăn đếm, mỗi ngăn đếm
Trang 37có hình vuông được chia làm 16 ô vuông lớn, mỗi ô vuông lớn được chia làm
16 ô vuông nhỏ, thể tích buồng đếm 0.1 mm3
Số lượng tế bào tảo được tích theo công thức
D = A * 10 4 * a
Trong đó :
D : Mật độ tế bào ( số lượng tế bào/ml)
A : Số tế bào trung bình trong 1 lớn qua các lần đếm
a : hệ số pha loãng dung dịch ( nếu có) Lamen được đặt trên buồng đếm sao cho khi nhìn nghiêng có sự giao thoa ánh sáng ở vị trí tiếp xúc giữa buồng đếm và lamen Dùng pipet hút tảo
đã được lắc đều trước và chấm vào cạnh của lamen tảo sẽ tràn lắng vào buồng đếm, đưa lên kính hiển vi và quan sát ở vật kính 40
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu
Toàn bộ số liệu thí nghiệm được xử lý thống kê trên phần mềm Microsoft Ecxeel 2003 và phần mềm SPSS 16.0.Sử dụng LSD0,005 Post Hoc trong phân tích một nhân tố (ANOVA) để xác định sự sai khác có ý nghĩa giữa các công thức thí nghiệm ( mức ý nghĩa α = 0,05)
2.5 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian : Từ ngày 01/02 - 20/04/2012
Địa điểm : Công ty cổ phần chăn nuôi C.P Việt Nam, xã An Hải, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận