Trước những yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng trong và ngoài nước đối với mặt hàng thực phẩm thuỷ sản là “An toàn - chất lượng” nên đòi hỏi người nuôi phải tăng cường biện phá
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
CHÂN TRẮNG (Litopennaeus vannamei) TẠI CÔNG TY
CHĂN NUÔI CP, HẢI LĂNG- QUẢNG TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
HIỆU QUẢ SỬ DỤNG HAI LOẠI CHẾ PHẨM SINH HỌC BIO PLUS VÀ PH FIXER TRONG QUY NUÔI TÔM THẺ
CHÂN TRẮNG (Litopennaeus vannamei) TẠI CÔNG TY
CHĂN NUÔI CP, HẢI LĂNG- QUẢNG TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
NGƯỜI THƯC HIỆN : Trần Khương Duy
Lớp : 49k2-NTTS
NGƯỜI HƯỚNG DẪN : TH.S.NGUYỄN THỨC TUẤN
VINH - 2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực của bản thân thì tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ quý báu của các cá nhân, đơn vị và tổ chức
Đầu tiên tôi xin được gửi lời cảm ơn đến trường đại học Vinh nói chung và khoa nông lâm ngư nói riêng, đã truyền đạt những kỹ năng cũng như thông tin kiến thức để tôi hoàn thành tốt quá trình thực tập và giúp tôi tự tin hơn sau khi rời xa cánh cổng đại học
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo Nguyễn Thức Tuấn
đã tận tâm giúp đỡ và chỉ bảo tôi trong nhũng năm tháng học đại học và nhất là trong đợt thực tập vừa qua
Ngoài ra tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn đến ban lãnh đạo, các anh kỹ sư, các bác công nhân trong công ty cổ phần chăn nuôi C.P Quảng Trị đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt ba tháng thực tâp
Cuối cùng tôi xin dược gửi lời cảm ơn đến bố mẹ, anh chị, bạn bè cùng tất
cả mọi người đã luôn bên cạnh động viên, tạo diều kiện tôi hoàn thành tốt con đường hướng nghiệp của mình
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 5 năm 2012 Trần Khương Duy
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Giải thích
NTTS Nuôi trồng thủy sản
FCR Hệ số chuyển đổi thức ăn TLS Tỷ lệ sống
NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1.Hình thái, cấu tạo tôm thẻ chân trắng (P.vannamei)………5
Hình 1.2 Vòng đời của tôm……… …….5
Hình 1.3 Biểu đồ sản lượng tôm thẻ chân trắng trên thế giới……… 8
Hình 3.1 Biểu đồ biến động oxy buổi sáng 30
Hình 3.2 Biểu đồ biến động oxy buổi chiều 30
Hình 3.3 Biểu đồ biểu diễn sự biến động pH trong ao nuôi buổi sáng 31
Hình 3.4 Biểu đồ biểu diễn sự biến động pH trong ao nuôi buổi chiều 32
Hình 3.5 Diễn biến độ trong trong ao nuôi 34
Hình 3.6 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ sống của tôm 35
Hình 3.7 Đồ thị thể hiện sự tăng trưởng trung bình về khối lượng 37
Hình 3.8 Đồ thị thể hiện sự tăng trưởng bình quân về khối lượng tôm 39
Hình 3.9 Tốc độ tăng trưởng tương đối khối lượng (%/ngày) 40
Hình 3.10 Đồ thị tăng trưởng chiều dài trung bình của tôm 42
Hình 3.11 Đồ thị tăng trưởng bình quân về chiều dài tôm 43
Hình 3.12 Đồ thị tăng trưởng tương đối theo chiều dài tôm 44
Hình 3.13 Đồ thị biểu diễn sự phân đàn của tôm 45
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Bảng 1.1 Sản lượng tôm thẻ chân trắng ở một số nước trên giới 8 Bảng 1.2 Diện tích và sản lượng nuôi tôm thẻ chân trắng Việt Nam…… 10 Bảng 1.3 Hiệu quả sử dụng thức ăn bổ sung ấu trùng tôm thẻ chân trắng 15 Bảng 1.4 Năng suất ao nuôi cá có xử lý chế phẩm vi sinh 15 Bảng 3.1 Diễn biến các yếu tố môi trường ở các ao thí nghiệm 29 Bảng 3.2 Sự tăng trưởng về khối lượng của tôm nuôi theo thời gian thí nghiệm… 36 Bảng 3.3 Tăng trưởng khối lượng của các công thức thí nghiệm theo thời gian nuôi 37 Bảng 3.4 Bảng tăng trưởng bình quân về khối lượng tôm nuôi (g/ngày) qua các giai đoạn nuôi 38 Bảng 3.5 Tăng trưởng tương đối khối lượng (%/ngày) qua các giai đoạn nuôi…….40 Bảng 3.6 Tăng trưởng chiều dài thân tôm 41 Bảng 3.7 Tăng trưởng chiều dài bình quân của tôm qua các giai đoạn nuôi 42 Bảng 3.8 Tăng trưởng tương đối theo chiều dài tôm qua các giai đoạn nuôi 43 Bảng 3.9 % CV theo khối lượng của tôm nuôi 45 Bảng 3.10 Kết quả sản xuất của các công thức thí nghiệm 46 Bảng 3.11 Hiệu quả sản xuất 47
Trang 7MỞ ĐẦU
Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi thích hợp cho việc mở rộng và phát triển ngành nuôi trồng thuỷ sản Với diện tích mặt nước lớn, tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng, ngành nuôi trồng thuỷ sản đã trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân, trong đó nghề nuôi tôm chiếm khoảng 70% sản lượng xuất khẩu
Với xu thế phát triển chung của thế giới về nuôi trồng và xuất khẩu thuỷ sản thì Việt Nam đã nhanh chóng hoà nhập vào nhịp độ phát triển này Không những thế thuỷ sản đang là mối quan tâm hàng đầu của các cấp nhà nước, ban ngành lãnh đạo các tỉnh, thành phố và đặc biệt là người trực tiếp nuôi trồng Bởi vì lợi nhuận từ ngành nuôi nói chung và từ nghề nuôi tôm nói riêng ngày càng hấp dẫn
Tôm thẻ chân trắng có giá trị dinh dưỡng cao, dễ nuôi và lớn nhanh; thời gian nuôi ngắn, cho năng suất cao và được người tiêu dùng ở các thị trường lớn như Nhật, Hoa Kỳ, EU ưa chuộng Bên cạnh đó, giá trị về kinh tế của tôm thẻ chân trắng cũng rất cao, mạng lại nhiều lợi nhuận cho người nuôi Với điều kiện về vị trí địa lý và diện tích mặt nước sẵn có, Việt Nam rất thuận lợi cho phát triển của đối tượng này
Tuy nhiên do lợi nhuận cao mà nghề nuôi tôm phát triển một cách ồ ạt, thiếu quy hoạch dẫn đến ô nhiễm môi trường và dịch bệnh bùng phát nhiều nơi làm cho sản lượng tôm giảm sút, gây thiệt hại lớn về kinh tế cho người nuôi trồng Trước những yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng trong và ngoài nước đối với mặt hàng thực phẩm thuỷ sản là “An toàn - chất lượng” nên đòi hỏi người nuôi phải tăng cường biện pháp phòng bệnh cho các mô hình nuôi của mình để hạn chế dư lượng các hoá chất và kháng sinh cấm sử dụng trong sản phẩm thuỷ sản vượt quá giới hạn cho phép theo quy định của thị trường quốc tế Một trong những biện pháp cần được khuyến cáo trong việc phòng ngừa bệnh trong các ao nuôi thuỷ sản là sử dụng các chế phẩm sinh học để cải thiện chất lượng nước nhằm nâng cao khả năng phòng bệnh cho tôm
Chế phẩm vi sinh đươc sử dụng rất rộng rãi và phổ biến trong quy trình nuôi
Trang 8hiệu quả là một vấn đề các hộ nuôi quan tâm Chính vì thế tôi chọn chuyên đề:
“Hiệu quả sử dụng hai loại chế phẩm sinh học Bio Plus và Ph Fixer trong quy trình nuôi tôm thẻ chân trắng (Litopennaeus vannamei) tại công ty cổ phần chăn nuôi CP, Hải Lăng- Quảng Trị”
Mục tiêu nghiên cứu
Ngiên cứu nhằm xác định loại chế phẩm sinh học phù hợp, hiệu quả trong quản lý môi trường nuôi tôm thẻ chân trắng tại công ty cổ phần chăn nuôi CP, Hải Lăng- Quảng Trị
Trang 9Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đặc điểm sinh học của tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei)
Họ tôm he: Penacidae
Giống tôm he: Penaeus
Loài: Litopenaeus vannamei (Boone, 1931)
Tên tiếng anh: White Leg shrimp
Tên tiếng Việt: Tôm thẻ chân trắng
Trang 101.1.2 Phân bố, tập tính sinh sống
Tôm thẻ chân trắng tôm thẻ chân trắng là loài tôm biển, có nguồn gốc vùng biển xích đạo Đông Thái Bình Dương, từ Mexico đến Peru Là loại tôm quý, có nhu cầu cao trên thị trường, được nuôi phổ biến ở khu vực châu Mỹ La Tinh Phân bố trong các thuỷ vực từ 40 độ vĩ Bắc đến 40 độ vĩ Nam [10]
Ấu trùng và tôm con của loài tôm thẻ chân trắng phân bố tập trung ở cửa sông, ven bờ, nơi giàu sinh vật thức ăn, do tác động cơ học của thuỷ triều Tôm trưởng thành phân bố ngoài khơi và có tập tính di cư sinh sản theo đàn Ban ngày tôm sống vùi trong bùn, ban đêm mới bò đi kiếm ăn Tôm thẻ chân trắng có sự thích nghi rất tốt đối với sự thay đổi đột ngột của môi trường sống Lên khỏi mặt nước khá lâu vẫn không chết Các thử nghiệm cho thấy:
Thích nghi tốt với ngưỡng oxy thấp: Gói tôm con cỡ 2-7cm trong một khăn ướt (độ ẩm trên 80%, nhiệt độ 270C), để sau 24 giờ vẫn sống 100%, sức chịu đựng hàm lượng oxy thấp nhất là 1,2 mg/l Tôm càng lớn sức chịu đựng oxy thấp càng kém: Với cỡ 2 - 4cm là 2,0 mg/l, cỡ dưới 2cm là 1,05 mg/l
Thích nghi tốt với thay đổi độ mặn: cỡ tôm 1- 6cm đang sống ở độ mặn 20‰ trong bể ương, khi chuyển vào các ao nuôi chúng có thể sống trong phạm vi 5 - 50‰, thích hợp nhất là 10 - 40‰, khi dưới 5‰ hoặc trên 50‰ tôm bắt đầu chết dần, những con tôm cỡ 5cm có sức chịu đựng tốt hơn cỡ tôm nhỏ hơn 2cm
Thích nghi với nhiệt độ nước: Tôm sống tự nhiên ở biển có nhiệt độ nước ổn định từ 25 - 320C, vẫn thích nghi được khi nhiệt độ thay đổi lớn Đang sống ở bể ương, nhiệt độ nước là 150C, thả vào ao, bể có nhiệt độ 12 - 280C chúng vẫn sống 100%, dưới 90C thì tôm chết dần Tăng dần lên 410C, cỡ tôm dưới 4cm và trên 4cm đều chỉ chịu được tối đa là 12 giờ rồi chết hết Nuôi trong phòng thí nghiệm rất ít thấy chúng ăn thịt lẫn nhau Có thể nuôi với mật độ rất dày nhưng tỷ lệ ăn thịt lẫn nhau rất thấp
1.1.3 Hình thái và cấu tạo
Cũng giống như một số loài tôm he khác, cấu tạo của tôm thẻ chân trắng gồm các bộ phận sau:
Trang 11
Hình 1 Hình ảnh tôm chân trắng (P.vannamei)
Hình 1.1 Hình thái, cấu tạo tôm thẻ chân trắng (P.vannamei)
Chuỷ có 2 - 4 (đôi khi có 5 - 6) răng cưa ở phía bụng Vỏ giáp có gai gân và gai râu rất rõ, không có gai mắt và gai đuôi, không có rãnh sau mắt, không có rãnh tim mang Có 6 đốt bụng, 3 đôi mang trứng, rãnh bụng rất hẹp hoặc không có, gai đuôi không phân nhánh Râu không có gai phụ và chiều dài râu ngắn hơn nhiều so với vỏ giáp Con đực khi thành thục có bộ phận giao phối đực cân đối, nửa mở, không có màng che Không có hiện tượng phóng tinh, có gân bụng ngắn Túi chứa tinh hoàn chỉnh, bao gồm ống chứa đầy tinh dịch và có cấu trúc gắn kết riêng biệt với sự sinh sản cũng như với các chất kết dính [4]
1.1.4 Chu kỳ sống
Quá trình phát triển tôm thẻ chân trắng từ trứng đến giai đoạn Postlarvae trải
qua 6 giai đoạn Nauplius kéo dài 1,5 ngày; 3 giai đoạn Zoea kéo dài khoảng 5 ngày
và 3 giai đoạn Mysis kéo dài khoảng 3 ngày Trứng nở thành ấu trùng Nauplius sau 14-15 giờ Tuy nhiên thời gian biến đổi qua các giai đoạn ấu trùng phụ thuộc vào nhiệt độ nước [4]
Trưởng thành
Trang 121.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng
TTCT là loài tôm ăn tạp giống như các loại tôm he khác, thức ăn của nó cũng cần các thành phần: protein, lipid, glucid, vitamin và muối khoáng… Khả năng chuyển hóa thức ăn của TTCT rất cao, trong điều kiện nuôi lớn bình thường, lượng thức ăn chỉ cần bằng 5% thể trọng tôm (thức ăn ướt) Thức ăn cho TTCT cần hàm lượng đạm 35-38% trong khi đó tôm sú cần 40% protein [7]
Giai đoạn ấu trùng: Do tập tính sống trôi nổi bắt mồi thụ động bằng các đôi phụ
bộ nên thức ăn phải phù hợp với cỡ miệng Thức ăn mà ấu trùng sử dụng trong thuỷ
vực tự nhiên là các loài tảo khuê (Skeletonema, Cheatoceros ), luân trùng (Brachionus
plicatilis), vật chất hữu cơ có nguồn gốc động và thực vật (Microplankton và Microdetritus) Ngoài ra trong sản xuất giống nhân tạo, các loại thức ăn như: ấu trùng
Artemia, thịt tôm, thịt cá, mực, lòng đỏ trứng gà, thức ăn công nghiệp
Giai đoạn tiền trưởng thành: Trong thuỷ vực tự nhiên tôm tiền trưởng thành
sử dụng các loại thức ăn như giáp xác nhỏ (ấu trùng Ostracoda, Copepoda, Mysidacca), các loài nhuyễn thể (mollues) và giun nhiều tơ (Polychaeta) Khi ương tôm bột lên tôm giống, thức ăn có thể phối hợp từ nhiều nguồn nguyên liệu khác nhau Nhu cầu dinh dưỡng về đạm, đường, mỡ thay đổi tuỳ theo giai đoạn phát triển của tôm Lượng đạm thô cần cho tôm giống từ 30-35% và tôm thịt từ 25-30%
Giai đoạn tôm trưởng thành: Giai đoạn này tôm sử dụng các loại thức ăn như
giáp xác sống đáy (Benthic crustacean), hai mảnh vỏ (Bivalvia), giun nhiều tơ và các loại ấu trùng của động vật đáy [11]
1.1.6 Đặc điểm sinh trưởng
Tôm chân trắng sinh trưởng và phát triển thông qua quá trình lột xác, chu kỳ lột xác phụ thuộc vào từng giai đoạn phát triển của người tôm nuôi
Giai đoạn Chiều dài Độ dày
Trang 13Khác với sinh trưởng mang tính liên tục ở cá, sinh trưởng của tôm mang tính giai đoạn, đặc trưng bởi sự gia tăng đột ngột về kích thước và khối lượng Tôm muốn tăng kích thước phải tiến hành lột xác và quá trình này thường tùy thuộc vào dinh dưỡng, môi trường nước và cả giai đoạn phát triển của cá thể Tôm còn nhỏ khi thay vỏ cần vài giờ, tôm lớn cần 1 - 2 ngày, lớn hơn cần 6 -7 ngày, tôm cái thường lớn nhanh hơn tôm đực Nuôi 60 ngày có thể đạt đến thương phẩm, nhưng người ta thường thu hoạch 100 - 120 ngày đạt cỡ tôm trung bình 17g [7]
1.2 Tình hình nuôi tôm thẻ chân trắng
1.2.1 Tình hình nuôi tôm thẻ chân trắng trên thế giới
Nghề nuôi tôm thế giới đặc biệt là các quốc gia thuộc Châu Á trong những năm gần đây phát triển rất mạnh và đạt kết quả rất cao Đài Loan, Philippins, Thái Lan là những nước nổi tiếng về công nghệ này, từ mô hình nuôi theo lối cổ truyền với năng suất khoảng vài trăn kg/ha/năm họ đã đưa năng suất lên đến khoảng 10 -
15 tấn/ha/năm trong mô hình nuôi thâm canh thậm chí đến 30 tấn/ha/năm
Riêng về nhu cầu tôm theo tài liệu thống kê của Food and Agri - Cuiture Oraganization, thuộc liên hợp quốc thì hàng năm con người đã thu hoạch trên 2.5 triệu tấn vừa tôm khai thác trên biển vừa tôm nuôi trồng các ao hồ…Nhưng vẫn chưa thoả mãn thực phẩm loại này cho con người Trong khi đó tài nguyên tôm khai thác ở ngoài biển đã ở mức bảo hoà khoảng 2 triệu tấn không thể khai thác hơn được nửa Vì thế, người ta phải chuyển sang ngành nuôi tôm để đáp ứng nhu cầu Các vùng nhiệt đới đã được thiên nhiên ưu đãi về ngành này với khí hậu đặc biệt là nóng quanh năm, nhờ khí hậu này mà hàng năm thu về số ngoại tệ rất đáng kể nhờ ngành nuôi tôm Các quốc gia Châu Á với điều kiện tự nhiên ưu đãi và ứng dụng nhanh các kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất nên sản lượng tôm sản xuất chiếm 80% sản lượng toàn cầu
1.2.2 Tình hình nuôi tôm thẻ chân trắng tại các nước Châu Mỹ
Tôm thẻ chân trắng là một trong 3 loại tôm được nuôi phổ biến nhất trên thế giới Sản lượng tôm thẻ chân trắng chỉ đứng sau sản lượng tôm sú và là đối tượng nuôi chính trong các loại tôm chiếm 70% (Wedner và Rosenberry, 1992) Các quốc gia Châu Mỹ như Equado, Mêhico, Panama…là những nước nuôi tôm thẻ chân
Trang 14Bảng 1.1 Sản lượng tôm thẻ chân trắng ở một số nước trên giới
Quốc gia
Năm
2007 (tấn/năm)
2008 (tấn/năm)
2009 (tấn/năm)
2010 (tấn/năm)
2011 (tấn/năm)
Tôm thẻ chân trắng được thế giới công nhận là một trong ba loài tôm he nuôi
có nhiều ưu điểm, có thể nuôi theo nhiều hình thức như bán thâm canh, thâm canh
và nuôi công nghiệp trong các ao đầm nước mặn lợ
Trang 15Hiện nay, nghề nuôi tôm thẻ chân trắng được phát triển mạnh ở khu vực châu Á (chiếm 87% sản lượng tôm nuôi trên thế giới), đứng đầu là Trung Quốc
Trung Quốc dẫn đầu về số lượng sản xuất khoảng 300,000 tấn năm 2003, từ
đó tới năm nay con số này còn cao hơn nhiều Sản lượng của Thái Lan được 120,000 tấn, Việt Nam và Indonesia mỗi nước chỉ có 30,000 tấn.Trung Quốc cũng
là nước châu Á quan tâm tôm thẻ chân trắng sớm nhất
1.2.2 Tình hình nuôi tôm thẻ chân trắng ở Việt Nam
Việt Nam là một trong những nước đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á du nhập giống tôm thẻ chân trắng, nhưng lại là nước phát triển nuôi loài này chậm so với nhiều nước trong khu vực Từ năm 1996 - 1997, một việt kiều Mỹ là ông Trần Kia đã lập dự án xin nhập giống tôm thẻ chân trắng về nuôi tại Bạc Liêu, nhưng mãi đến năm 2001 - 2002 Bộ Thủy sản mới cho 3 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là công ty Duyên Hải (Bạc Liêu), Công ty Việt Mỹ (Quảng Ninh) và Công ty Asia Hawaii (Phú Yên) được nhập con giống SPF để nuôi thử nghiệm
Từ năm 2002, do bị thiệt hại trong nuôi tôm sú, nhiều địa phương ở phía Bắc và miền Trung đã chuyển sang nuôi tôm thẻ chân trắng và thu được kết quả tốt Nhưng phải đến đầu năm 2008, với Chỉ thị số 228 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT ngày 25/1/2008, đối tượng này mới được phép đưa vào nuôi ở các tỉnh phía Nam trong các vùng quy hoạch và theo những điều kiện nhất định
Theo thống kê của Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản, từ cuối năm 2000, tỉnh Ninh Thuận thành công với mô hình nuôi tôm trên cát Với vài ha lúc đầu, chỉ sau 2 năm, diện tích nuôi tôm tăng lên 200 ha, dẫn đầu cả nước về diện tích nuôi Từ sự thành công của Ninh Thuận, hàng loạt các tỉnh duyên hải miền Trung đều kêu gọi được những dự án lớn đầu tư vào nuôi tôm trên cát Trong đó nổi lên là
dự án đầu tư hơn 2.200 ha để nuôi tôm trên cát của công ty Việt Mỹ tại Quảng T`rị
và dự án 2.000 ha nuôi tôm trên cát tại Lệ Thủy (Quảng Bình).`
Cũng trong thời gian đó, Bộ Thủy Sản (nay là Bộ NN&PTNT) đã khuyến cáo người dân không nên phát triển rộng diện tích tôm thẻ chân trắng vì lo sợ sự phát triển thiếu bền vững, phần khác do nhiều doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất
khẩu chưa quan tâm đến mặt hàng này
Trang 16Từ năm 2006, Bộ Thủy Sản (trước đây) đã cho phép nuôi tôm thẻ chân trắng
bổ sung tại các tỉnh, thành phố từ Quảng Ninh đến Bình Thuận nhưng vẫn cấm nuôi đối tượng này ở các tỉnh, thành phố khu vực ĐBSCL vì lo không kiểm soát được dịch bệnh, để lây lan sang các đối tượng nuôi khác
Bảng 1.2 Diện tích và sản lượng nuôi tôm thẻ chân trắng Việt Nam
Sản lượng (tấn) 10000 30000 50000 89500 135000
Nguồn: www.dostquangtri.gov.vn
Ngành nuôi tôm Việt Nam dự báo sẽ cho ra sản lượng 403.600 tấn vào năm
2011, tăng 12,8% và năm 2012 tăng trưởng hơn 10%
Tuy nhiên, trong bối cảnh thị trường thế giới đang có nhiều biến động, xu thế tiêu dùng các nước chuyển sang tiêu thụ tôm thẻ chân trắng của Thái Lan, Trung Quốc, sản phẩm tôm sú nuôi của Việt Nam bị cạnh tranh mạnh trên thị trường thế giới Ở trong nước diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng bị nhiễm bệnh ngày càng nhiều, hiệu quả sản xuất thấp
Do vậy, ngày 25/1/2008, Bộ NN&PTNT đã ban hành Chỉ thị số BNN&PTNT cho phép nuôi TTCT tại vùng ĐBSCL nhằm đa dạng hóa sản phẩm thủy sản xuất khẩu, giảm bớt áp lực cạnh tranh, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của các nước trong khu vực và trên thế giới Từ một số mô hình nuôi thành công, hiện tôm thẻ chân trắng đang ngày càng được các hộ nuôi thủy sản quan tâm và phát triển
228/CT-Ở Việt Nam, tôm giống bố mẹ CPF-Turbo đã được nhập từ Charoen Pokphand Foods (CPF) để sản xuất ở các trại giống C.P ở Ninh Thuận, Bình Thuận, Bình Định, Nghệ An và Bến Tre từ tháng 8/2008 Các kết quả thu nhận được từ trại nuôi tôm thương phẩm ở Ninh Lộc (Ninh Hòa, Khánh Hòa) cho đợt thả nuôi tôm thẻ chân trắng CPF-Turbo đầu tiên tại Việt Nam trên 3 ao nuôi cho phép khẳng định được ở Việt Nam đã có thể nuôi tôm thẻ chân trắng đạt kích cỡ 40 con/kg trong thời
Trang 17gian chưa đến 4 tháng và giống tôm thẻ chân trắng CPF-Turbo rất thích nghi với điều kiện nuôi ở Việt Nam
Mặc dù mới được phép nuôi trên địa bàn cả nước 3 năm, sản phẩm tôm thẻ chân trắng đã đóng góp ngày càng quan trọng cho XK thủy sản Việt Nam Giá trị
XK của riêng tôm thẻ chân trắng năm 2010 đã đạt 414,6 triệu USD, tăng gấp rưỡi
so với năm 2009, bằng 20% giá trị XK tôm nói chung và bằng 8% tổng giá trị XK tất cả các sản phẩm thủy sản trong năm Thị phần của một loài như vậy là không hề nhỏ Ở đây chưa nói đến một sản lượng đáng kể tôm thẻ chân trắng tiêu thụ nội địa và XK tiểu ngạch Sự tăng trưởng liên tục cả diện tích nuôi, sản lượng và giá trị XK chứng tỏ tôm thẻ chân trắng đã có chỗ đứng vững chắc trong cơ cấu giống thủy sản nuôi ở Việt Nam
Trên những thuận lợi đó thì hiện nay nuôi tôm thẻ chân trắng đang gặp khó khăn nữa đó là tình hình dịch bệnh xảy ra ở nhiều nơi Tôm nuôi ở nhiều nơi bị chết hàng loạt Tình hình dịch bệnh của tôm thẻ: một số vùng nuôi tôm thẻ chân trắng như Ninh Hòa và Cam Ranh (tỉnh Khánh Hòa) với tổng số diện tích lên đến 170 ha Bệnh đốm trắng, đỏ thân cũng rải rác xuất hiện ở một số vùng nuôi tại các tỉnh và làm thiệt hại ở một số vùng như: Triệu Phong (tỉnh Quảng Trị) 3ha; Thăng Bình 1, Duy Xuyên, Tam Kỳ (tỉnh Quảng Nam) 14 ha; Đức Phổ, Mộ Đức (tỉnh Quảng Ngãi) 15 ha Phù Mỹ, Hoài Nhơn (tỉnh Bình Định) 7 ha; Tuy An, Đông Hòa (tỉnh Phú Yên) 336 ha; Ninh Phước, Thuận Nam (tỉnh Ninh Thuận) 29,4 ha
Ngoài ra một số vùng nuôi tôm thẻ bắt đầu xuất hiện dịch bênh do môi trường, theo thống kê cho thây ở các vùng nuôi Phù Cát, Phù Mỹ (tỉnh Bình Định)
đã có 20 ha diện tích tôm thẻ chân trắng bị bệnh do môi trường
Tại Bến Tre, dịch bệnh đốm trắng trên tôm sú, tôm thẻ chân trắng gây thiệt hại 208 ha thâm canh và bán thâm canh; xảy ra nhiều nhất ở huyện Bình Đại: 174
ha, tôm chết tập trung từ 20 - 65 ngày tuổi Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình hình dịch bệnh như hiện nay Một nguyên nhân không thể không nhắc đến là người nuôi không chủ động được nguồn nước “chuẩn” để nuôi tôm thẻ chân trắng Khi ao nuôi bị bệnh người nuôi xả thẳng ra môi trường mà không qua xử lý, khi cấp nước lại lấy nguồn nước nơi đã thải ra Chính điều này đã làm cho dịch bệnh lây lan ra
Trang 18* Tình hình nuôi tôm ở Quảng Trị
Nằm trong vùng Duyên Hải Miền Trung, tỉnh Quảng Trị có bờ biển dài 75km, ven bờ là dải cát trắng mịn, phía trong là những cồn cát cao, một số rạn đá ngầm ven bờ có tác dụng chắn sóng, vừa là nơi cư trú cho những loài hải sản với vùng đất cát khoảng 34,732 ha Đây là tiềm lực lớn tạo điều kiện cho phát triển tôm thẻ chân trắng nói chung và nghề nuôi tôm nói riêng
Thời gian gần đây, phong trào nuôi tôm tôm thẻ chân trắng ở các xã ven biển thuộc các huyện Vĩnh Linh, Gia Linh, Triệu Phong và Hải Lăng phát triển khá mạnh Chính lợi nhuận cao sau mỗi vụ nuôi tôm đó khiến nhiều ngư dân gác ngư
cụ, bán tàu thuyền, đào hồ nuôi tôm Chỉ tính riêng ở xã Triệu Lăng (huyện Triệu Phong), đến nay đã có hơn 53ha nuôi tôm với 277 hộ dân tham gia, ngay cả những
hộ nghèo cũng vay tiền rồi cùng nhau chung vốn đào hồ nuôi tôm
Theo thống kê, toàn huyện Hải Lăng hiện có 75ha mặt nước nuôi tôm thẻ chân trắng Những vụ gần đây, các hộ nuôi tôm thu lái khá cao, bình quân mỗi ha thu được vài chục đến vài trăm triệu đồng Tuy nhiên, lo ngại nhất là nhiều hộ dân
đã chặt phá cả rừng trồng, rừng phòng hộ để đào hồ nuôi tôm
Tôm thẻ chân trắng được đưa vào nuôi trên vùng đất cát Quảng Trị (năm 2004) với dự án của công ty Việt Mỹ Từ đó, diện tích và sản lượng tăng lên đáng
kể Năm 2009, tổng diện tích nuôi tôm trong toàn tỉnh là khoảng 461 ha, trong đó diện tích ở vùng cát ven biển là 201 ha, còn lại là vùng ven sông Tổng sản lượng tôm đạt 3.400 tấn (giá trung bình từ 60.000 - 110.000 đồng tùy thời điểm), năng suất đạt trung bình khoảng 10 tấn/ha/vụ, cá biệt có hộ đạt 20 tấn/ha/vụ cho lãi
khoảng 1 tỷ đồng/ha/vụ
Trong thời gian qua, với thành công bước đầu trong việc nuôi tôm thẻ chân trắng trên đất cát không chỉ giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo cho một bộ phận dân cư vùng bãi ngang ven biển mà còn làm giàu cho nhiều hộ nuôi đối tượng này Hiện tại người nuôi tôm đang phải đối mặt với những khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm Hầu hết viêc tiêu thụ sản phẩm thông qua tư thương nên bị ép giá Do
đó, trong thời gian tới ngành thủy sản cần phối hợp với các cơ quan chức năng liên quan có những giải pháp hợp lý để phát triển nghề nuôi tôm thẻ chân trắng bền vững, hiệu quả
Trang 19Tuy nhiên, một thực tế đặt ra ở đây nữa là nếu chỉ thấy hiệu quả trước mắt mà không có sự quản lý, định hướng phát triển nuôi tôm trên cát ồ ạt như hiện nay thì tất yếu sẽ dẫn đến ảnh hưởng khôn lường như tình trạng sa mạc hóa do tình trạng khai thác nguồn nước ngầm quá mức, tình trạng lây lan dịch bệnh
Trên địa bàn tỉnh Quảng Trị đã xảy ra một số dịch bệnh đối với tôm thẻ chân trắng như bệnh đốm trắng đã xuất hiện tại vùng cát ven biển xã Triệu An (Triệu Phong), Đông Lễ, Đông Giang (TP Đông Hà) với diện tích khoảng 20 ha, gây thiệt hại khá nặng Ngoài ra, bệnh đỏ thân xuất hiện cũng gây thiệt hại trên khoảng diện tích 15 ha của người dân Dịch bệnh diễn biến ngày càng phức tạp, rất khó ngăn ngừa
1.3 Tình hình nghiên cứu và sử dụng chế phẩm sinh học
1.3.1 Trên thế giới
Mục đích sử dụng vi khuẩn có lợi và enzim trong nông nghiệp, có tác dụng nâng cao cộng đồng vi khuẩn trong đất và nước làm tăng số lượng vi khuẩn có khả năng phân hủy cellulo, vi khuẩn Nitơ hoá (NH3, NH4 ), vi khuẩn Nitơrat hoá (NO3-)
và vi khuẩn Sulfit hoá (H2S) và một số vi khuẩn đặc biệt khác Ý tưởng nghiên cứu cải thiện chất lượng đất và nước là sự khởi xướng từ các nhà khoa học của Liên Xô
cũ Các nhà Xô Viết khẳng định rằng: Cung cấp các loại vi khuẩn có khả năng cố định đạm, khoáng hoá Phosphoris tăng dinh dưỡng cho đất, giúp tăng năng suất mùa màng (Cooper, 1959; Brawn, 1974) Cũng có những nghiên cứu của các nhà khoa học ở các quốc gia khác nhau về vấn đề này, nhưng chưa thành công, mà chỉ
bổ sung ít cho sự có lợi nhưng năng suất mùa màng tăng không đáng kể
Từ những năm 1960 trở lại đây, ngành công nghệ sinh học hiện đại phát triển mạnh mẽ và phân ra làm nhiều ngành khác nhau: Công nghệ sinh học môi trường, công nghệ sinh học vi sinh vật, công nghệ sinh học enzim,
Chế phẩm sinh học lần đầu tiên được Fuller (1989) định nghĩa như sau: Là thành phần thức ăn có cấu tạo từ vi khuẩn sống, có tác động hữu ích lên vật chủ qua việc làm cải thiện sự cân bằng vi khuẩn đường ruột của nó Từ chế phẩm sinh học (Probiotics) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp bao gồm 2 từ Pro có nghĩa là dành cho
và Biosis có nghĩa là sự sống
Trang 20Chế phẩm sinh học đã được sử dụng rộng rãi trong các ao nuôi trồng thủy sản Phần lớn các chế phẩm sinh học là các vi khuẩn sống có lợi hay còn gọi là chế phẩm vi sinh, các chiết xuất từ thực vật, các vitamin, chất kích thích miễn dịch, …
chúng đựơc sử dụng nhằm giảm thiểu tảo lam (Cyanobacteria), giảm thấp nhất các
NO3, NO2-, NH3, PO43-, tăng hàm lượng oxy hoà tan, tăng khả năng phân huỷ các vật chất hữu cơ (Boyd et al., 1998) , giảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao tốc độ sinh trưởng và phát triển từ đó làm tăng năng suất tôm ao nuôi
* Chế phẩm vi sinh
Các chế phẩm vi sinh đang được sử dụng nhiều trên thế giới, thành phần chính của
các loại chế phẩm này là các chủng vi khuẩn có lợi như: Nitrobactersp, Pseudomonas,
Enterobacter, Cenllulomonas, Rhodospeudomonas và các vi khuẩn quang hợp cũng
đang được sử dụng như các vi khuẩn có lợi (Boyd, 1990) Các vi khuẩn này tham gia vào quá trình chuyển hoá vật chất trong ao nuôi, làm sạch ao nuôi tạo môi trường thuận lợi cho đối tượng nuôi sinh trưởng và phát triển Nhờ khả năng sinh sản và phát triển nhanh chóng mà chúng sẽ cạnh tranh thức ăn và chỗ ở làm hạn chế các sinh vật có hại trong ao nuôi
Ngoài ra một số chế phẩm sinh học có thể được sử dụng là thức ăn bổ sung cho tôm nuôi có tác dụng hạn chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh đường ruột, với thành phần là những enzim giúp tôm tiêu hoá thức ăn tốt nâng cao khả năng sử dụng thức ăn, tăng hiệu quả sản xuất
Trong các chủng vi khuẩn có lợi thì chủng Bacillus được ứng dụng nhiều
nhất Đã có nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới về hiệu quả của việc sử dụng chế phẩm vi sinh trong nuôi trồng thuỷ sản được thực hiện Rengpipat
et al.,1998 khi ngiên cứu sử dụng Bacillus S11 để làm sạch môi trường ao nuôi thấy
rằng hàm lượng NH4+ trong ao nuôi chỉ khoảng 0,5 mg/l trong khi đó ao không xử
lý NH4+ đạt 1,67 mg/l
Bên cạnh đó chế phẩm sinh học cũng được sử dụng như một thức ăn bổ sung nhằm tăng khả năng tiêu hoá thức ăn, tăng tỷ lệ sống và tăng tốc độ sinh trưởng
Theo nghiên cứu so sánh sử dụng thức ăn bổ sung cho tôm thẻ chân trắng
(Penaeus vanamei) ở giai đoạn Postlave là Bacillus S11 và Artermia của Rengpipat
Trang 21et al.,1998 nhận thấy rằng tôm sử dụng chế phẩm Bacillus S11 có tốc độ sinh trưởng
và phát triển nhanh hơn
Bảng 1.3 Hiệu quả sử dụng thức ăn bổ sung ấu trùng tôm thẻ chân trắng
Chủng Bacillus spp cũng được nghiên cứu dùng xử lý cho ao nuôi cá thuộc cá
da trơn Thí nghiệm cho thấy: Không có sự sai khác cacbon ở đáy và NO2- giữa ao
có xử lý chế phẩm vi sinh và ao không xử lý Nhưng lại có sự sai khác nhau về năng suất nuôi
Bảng 1.4 Năng suất ao nuôi cá có xử lý chế phẩm vi sinh
Các chỉ tiêu Xử lý Bacillus spp Không xử lí
Tỷ lệ thả (con/ha)
Số lượngsống sót đến thu hoạch (con/ha)
Khối lượng trung bình cá thu hoạch (g)
Năng suất (kg/ha)
15.000
8425 - 2850
400 - 41
3301 - 838 1,82 - 0,36
Nguồn: Boydetal, (1998)
Sử dụng chế phẩm vi sinh có tác dụng nâng cao tỷ lệ sống, khả năng miễn
nhiễm với bệnh tật, sau 2 tuần sử dụng Bacillus S11 làm thức ăn bổ sung cho tôm
Sú thấy tỷ lệ sống đạt 89%, ao nuôi không sử dụng chế phẩm sinh học tỷ lệ sống đạt
85% (Rengpipat, 1998) Khi tôm thẻ chõn trắng (Penaeus vanamei) bị nhiễm khuẩn
Vibrio harveyi, sử dụng chế phẩm sinh học nhận thấy tỷ lệ sống sót là 40% so với
13% không sử dụng chế phẩm sinh học
Việc nghiên cứu sử dụng chế phẩm sinh học để phòng bệnh cho đối tượng nuôi trồng thủy sản đặc biệt là tôm biển được các nhà khoa học tập trung nghiên cứu khoảng hơn 10 năm trở lại đây Các nhà nghiên cứu đã tìm ra các dòng vi khuẩn có lợi như dòng vi khuẩn GI có khả năng sản xuất ra các chất kháng sinh hoặc chất chống vi khuẩn có hạn chế mầm bệnh (Rengpipat et al., 1998) Do khả
Trang 22năng sinh sản nhanh chóng của các vi khuẩn vô hại chúng sẽ cạnh tranh và làm giảm sự phát triển các loại vi khuẩn gây bệnh, tiết ra men chống độc tố bệnh
1.3.2 Tại Việt Nam
Hòa cùng với xu hướng chung của thế giới thì việc nghiên cứu và ứng dụng chế phẩm sinh học vào các lĩnh vực, đặc biệt là trong nuôi trồng thủy sản bước đầu
đã đạt được nhiều thành công, giải quyết được bài toán khó của ngành thủy sản Việt Nam là việc sử dụng nhiều hóa chất, lạm dụng kháng sinh dẫn đến việc tồn dư kháng sinh trong sản phẩm dẫn đến thủy sản của Việt Nam khó khăn trong tiếp cận,mở rộng phát triển những thị trường lớn, đầy tiềm năng nhưng khó tính trong vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm
Vấn đề sử dụng chế phẩm sinh học trong nuôi trồng thủy sản đang được các trường đại học, viện nghiên cứu, trung tâm khoa học quan tâm nghiên cứu
Năm 2002 tại Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I một số đề tài liên quan đến tình hình sử dụng chế phẩm sinh học đã được thực hiện như: Bùi Quang Tề
(2002) Bùi Quang Tề (2002) Bàn về việc lựa chọn các chất thay thế các hoá chất,
kháng sinh và chế phẩm sinh học cấm dùng trong nuôi trồng thuỷ sản, Bắc Ninh,
ngày 21/12/2002.] thực hiện đề tài: "Nghiên cứu lựa chọn bước đầu các chất thay thế, một số hoá chất, kháng sinh và chế phẩm sinh học trong nuôi trồng thủy sản"
Năm 2003 Bùi Quang Tề Bùi Quang Tề (2003) Kỹ thuật nuôi tôm Phục vụ cho đề
tài KC-06-20NN, Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I, tháng 2/ 2003.] tiến hành nuôi tôm sạch tại Thạch Hà (Hà Tĩnh) và Quý Kim (Hải Phòng) Mai Văn Tài
(2003) Mai Văn Tài (2003) Điều tra đáng giá các loại thuốc, hoá chất và chế
phẩm sinh học dùng trong nuôi trồng nuôi trồng thuỷ sản nhằm đề xuất giải pháp hợp lý Thuyết minh đề tài, Viện Nuôi trồng Thuỷ sản I, 2003] thực hiện đề tài:
"Điều tra đánh giá các loại thuốc, hoá chất và chế phẩm sinh học dùng trong nuôi trồng thủy sản nhằm đề xuất giải pháp quản lý" Trong hội nghị phát triển nuôi tôm trên cát tại Ninh Thuận (2002) vấn đề sử dụng chế phẩm sinh học trong nuôi tôm Sú thương phẩm cũng được đề cập Hội nghị nêu ra hiệu quả, thành phần và tác dụng chủ yếu của chế phẩm sinh học đến môi trường và sinh trưởng của tôm Gần đây, tại hội thảo toàn quốc bảo vệ môi trường và nguồn lợi thủy sản tại Hải Phòng năm
2005, Nguyễn Văn Năm Nguyễn Văn Năm và CTV (2005) Kết quả nghiên cứu
Trang 23thử nghiệm làm sạch nền đáy và phòng bệnh tôm nuôi Công nghiệp BIO-DW Kỷ
yếu hội thảo toàn quốc bảo vệ môi trường và nguồn lợi thuỷ sản NXB Nông Nghiệp, 2005, tr 147-150 đã báo cáo thử nghiệm chế phẩm làm sạch nền đáy và phòng bệnh tôm nuôi công nghiệp Bio - DW tại Quý Kim và Đình Vũ (Hải Phòng), thử nghiệm đã cho những thành công nhất định Mới đây nhất, Nguyễn La Anh
(2006) Nguyễn La Anh (2006) Nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học trong xử
lý môi trường nuôi tôm công nghiệp năng suất cao Bộ khoa học và công nghệ viện
công nghiệp thực phẩm.(Đề tài nghiên cứu cấp Bộ) ] thực hiện đề tài: "Nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học trong xử lý môi trường ao nuôi tôm công nghiệp năng suất cao" và đã sản xuất được chế phẩm sinh học Biodanta và cho thử nghiệm thành công ở một số nơi như Tĩnh Gia (Thanh Hoá), Quý Kim (Hải Phòng)
Trung tâm nghiên cứu thuỷ sản 3 (Bộ Thuỷ sản) đã ứng dụng thành công EM trong xử lý hồ nuôi tôm sú ở Việt Nam Chế phẩm EM làm cho tổng số nhóm vi sinh vật có lợi trong hồ luôn cao hơn so với nhóm vi sinh vật không có lợi từ 2 - 7 lần, chỉ số N-NH3 ở mức thấp (dưới 0,02mg/l), các chỉ số môi trường như pH và màu tảo ổn định trong thời gian dài
Nghiên cứu của Lê Đình Duẩn và cộng tác viên (2007), “Nuôi thử nghiệm tôm sú bằng chế phẩm sinh học” đã cho kết quả rất khả quan, các chế phẩm sinh học không những làm tăng khả năng phân giải các chất hữu cơ, làm sạch, và ổn định môi trường nước mà còn tăng năng suất gấp gần 2 lần so với đối chứng
Theo Vũ Thị Thứ và cộng tác viên (2004) “Thử nghiệm men vi sinh Biochie
để xử lý nước nuôi tôm sú giống và tôm thịt” ,Đồ Sơn, Hải Phòng và Hà Nội cho kết quả khá tốt thông qua môi trường được cải thiện, đặc biệt rất có hiệu quả đối với nuôi tôm giống như giảm chu kỳ thay nước và giảm mùi hôi Tác dụng của chế phẩm lên sự tăng trưởng rất khả quan là tôm phát triển đồng đều, tăng tỉ lệ sống và tăng trưởng nhanh
Mô hình nuôi tôm sú bằng chế phẩm vi sinh (ES-01 và BS-01 của Trung tâm nghiên cứu ứng dụng sinh học phục vụ nuôi trồng thủy sản Sóc Trăng) góp phần đưa năng suất tôm nuôi nhiều trang trại đạt tới 12 tấn/ha/vụ Nhiều hộ nuôi tôm có xử lý chế phẩm vi sinh cho thấy môi trường nước luôn ổn định, tôm phát
Trang 24triển nhanh khắc phục được nhiều khó khăn về thời tiết, môi trường, chi phí đầu tư, dịch bệnh, tăng năng suất
Theo thống kê của Chi cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản (2002), ở Việt Nam có khoảng 152 loại thuốc thú y thủy sản có thành phần là chế phẩm sinh học của 66 công ty sản xuất thuốc thú y thủy sản [1] Các công ty này tập trung chủ yếu ở Nha Trang, Cần Thơ, Bình Dương, Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh Có hơn 150 loại chế phẩm sinh học làm sạch môi trường và làm thức ăn bổ sung với khoảng 40 công ty liên doanh mặt hàng này[6] Một số chế sinh học đang phổ biến trên thị trường Việt Nam:
- Super vs, PH fixer, CP Bioplus, Hi_Pro, PR 300N, BIO 1, BIO 2, Aquabac, Aroenzym, Envi-bacillus, Sanabee plus, Pro oneaquasafe-50, CP Bio dream, Zymetin, (Thái Lan)
- Power back, Ecomarin, Epicin, BRF2, Ecotreat, Biobac M, Bioking BM (Mỹ)
-Protexin, Bio-great, Envi-Restorer SAQ (Anh)
* Vai trò và cơ chế tác dụng của chế phẩm sinh học
- Thành phần của chế phẩm sinh học
Theo nghiên cứu của Phạm văn Tình (2003) , cho biết thành phần của các loại chế phẩm sinh học thường có các nhóm vi sinh sau:
Nitrosomonas sp: Có tác dụng phân hủy amoniac thành nitrite
Nitrobacter sp: Có tác dụng phân hủy nitrite thành nitrate
Bacillus sp: Cạnh tranh sử dụng hết thức ăn của tảo, nguyên sinh động vật, các vi
khuẩn và vibrio có hại, làm giảm sự phát triển của nguyên sinh động vật
Lactobacillus lacts, Lactobacillus helveticus sp, Pseudomonas putid, Sachromyces crevisiae, Bacteridaes sp, Steptocoocus sp, cellulomonas sp…là những vi
khuẩn kị khí không bắt buộc, enzym của chúng tiết ra có thể hoà tan các chất hữu cơ, đạm, chất béo, tinh bột, khống chế sự phát triển của động vật phù du, ổn định pH, cải thiện chất lượng nước
Proteaza, Lipase, Amylase, Hemi-cellulase: Kích thích hệ tiêu hoá
Bêta-1,3/1,6 glucans: Kích thích hệ miễn dịch, tăng cường sức đề kháng
Chế phẩm sinh học được sử dụng liên tục trong ao nuôi sẽ tạo ra sự khác biệt đáng kể về chất lượng nước và khống chế nguồn bệnh lây lan Chế phẩm sinh học
Trang 25có tác dụng tốt trong một hệ thống khép kín, lượng nước thay đổi không vượt quá 20% đối với ao nuôi và không vượt quá 40% đối với bể giống
- Tác dụng của chế phẩm sinh học trong quản lý môi trường ao nuôi
+ Giảm amoniac (NH3)
Trong ao nuôi tôm luôn xuất hiện Amonium (NH4) và Amonia (NH3) Chúng tồn tại nhiều hay ít phụ thuộc vào giá trị pH Nồng độ và độc tính của NH3 tỷ lệ thuận với pH, khi NH3 có nồng độ lớn hơn 0,1 mg/l sẽ có hại cho tôm nuôi Vì thế, cần duy trì hàm lượng NH3 thấp hơn giá trị này [3] Ao nuôi tôm vào các tháng thứ
3 và thứ 4, NH3 có xu hướng tăng cao do tích tụ nhiều các chất hữu cơ, do đó cần thiết phải sử dụng chế phẩm sinh học để làm giảm giá trị của NH3
Tác dụng của 2 loại vi khuẩn Nitrosomonas sp và Nitrobacter sp trong quá
trình làm giảm hàm lượng Amonia như sau:
Một số vi sinh như Bacillus spp chúng sử dụng trực tiếp các chất hữu cơ trong
ao, một số khác lại khử Nitrate thành Nitơ phân tử và thoát ra ngoài dưới dạng khí, làm giảm thức ăn của tảo, hạn chế sự phát triển về mật độ tảo trong ao
+ Giảm các mầm bệnh
Các vi khuẩn trong chế phẩm sinh học chủ yếu là Bacillus spp khi cho xuống
ao chúng phát triển với số lượng lớn, cạnh tranh hết thức ăn của nguyên sinh động
vật, các vi khuẩn và Vibrio sp có hại, ngăn cản sự phát triển của chúng Từ đó làm giảm nguyên nhân gây bệnh cho tôm, giảm các loài vi sinh vật như Vibrio spp,
Aeromonas spp và các loại virut khác như: Virut gây bệnh đốm trắng, bệnh đầu
vàng
+ Các vai trò khác của chế phẩm sinh học
Trang 26Giảm các độc tố trong ao xuống mức thấp nhất (chủ yếu là H2S, NH3), giảm mùi hôi của nước
Cải thiện màu nước, ổn định pH, cân bằng hệ sinh thái trong ao
Phân huỷ tối đa các chất hữu cơ, giảm độ nhớt của nước, phòng tảo nở hoa và hấp thu nguồn tảo chết trong ao
Cạnh tranh thức ăn làm giảm lượng vi khuẩn có hại trong ao, diệt trực tiếp các loài vi khuẩn, virut gây bệnh, phòng bệnh, giảm thiểu hiện tượng gây bệnh tôm nuôi
Tăng sự hoà tan oxy trong ao
Kích thích tiêu hoá, giúp tôm hấp thụ thức ăn tốt, giảm hệ số tiêu thụ thức ăn Kích thích hệ miễn dịch, đề kháng bệnh, giảm sốc khi môi trường thay đổi
Hạn chế sử dụng các thuốc kháng sinh hoá chất
Giảm thay nước trong quá trình nuôi
* Cơ chế hoạt động của chế phẩm sinh học
Chế phẩm sinh học làm việc theo những quá trình sau:
- Khống chế sinh học: Những dòng vi khuẩn có ích tác động đối kháng lên dòng vi khuẩn gây hại
- Tạo ra sự sống: Các vi khuẩn có lợi sẽ phát triển mạnh trong ao
Sơ đồ chuyển hóa hợp chất Nitơ nhờ vi sinh vật
Nitrat (NO 3-)
Nitrit (NO 2-)
Chất hữu
cơ
Amoniac
NH4+
Chất thải của tôm
Thay nước Xói mòn đất
TA dư thừa
Heterotrophin bacteria
Gây hại tôm cá
Nitrobacter ba ter
Không có
hại cho tôm
cá
Trang 27- Xử lý sinh học: Phân huỷ các chất hữu cơ trong nước bởi các vi khuẩn có lợi và men
1.4 Hiệu quả của chế phẩm sinh học trong ao nuôi
Các chế phẩm vi sinh đang được sử dụng nhiều trên thế giới, thành phần chính của các loại chế phẩm này là các chủng vi khuẩn có lợi như: Nitrobacter sp, Pseudomonas, Enterobacter, Cenllulomonas, Rhodospeudomonas và các vi khuẩn quang hợp cũng đang được sử dụng như các vi khuẩn có lợi (Boyd, 1990) Boyd E
C (1990) Water quality in ponds for aquculture Alabama Agricultural Expriment
Station, Auburn University, Alabama.] Các vi khuẩn này tham gia vào quá trình chuyển hoá vật chất trong ao nuôi, làm sạch ao nuôi tạo môi trường thuận lợi cho đối tượng nuôi sinh trưởng và phát triển Nhờ khả năng sinh sản và phát triển nhanh chóng mà chúng sẽ cạnh tranh thức ăn và chỗ ở làm hạn chế các sinh vật có hại trong ao nuôi
Trong các chủng vi khuẩn có lợi thì chủng Bacillus được ứng dụng nhiều nhất Đã có nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới về hiệu quả của việc sử dụng chế phẩm vi sinh trong nuôi trồng thuỷ sản được thực hiện Rengpipat
et al.,1998 Rengpipat S, (1998) Probiotics in aquaculture: A case study of
probiotic for lavae in the Black Tiger Shirmp (Penaeus monodon) In Flegel T W
(editer) Advances in shimp biotechnology National Center for Genetic Enginrrring and Biotechnology, Bangkok, Thailand.] khi ngiên cứu sử dụng Bacillus S11 để làm sạch môi trường ao nuôi thấy rằng hàm lượng NH4+ trong ao nuôi chỉ khoảng 0,5 mg/l trong khi đó ao không xử lý NH4+ đạt 1,67 mg/l
Bên cạnh đó chế phẩm sinh học cũng được sử dụng như một thức ăn bổ sung nhằm tăng khả năng tiêu hoá thức ăn, tăng tỷ lệ và tăng tốc độ sinh trưởng
Sử dụng chế phẩm vi sinh có tác dụng nâng cao tỷ lệ sống, khả năng miễn nhiễm với bệnh tật, sau 2 tuần sử dụng Bacillus S11 làm thức ăn bổ sung cho tôm
Sú thấy tỷ lệ sống đạt 89%, ao nuôi không sử dụng chế phẩm sinh học tỷ lệ sống đạt 85% (Rengpipat, 1998) Khi tôm Sú (Penaeus monodon) bị nhiễm khuẩn Vibrio harveyi, sử dụng chế phẩm sinh học nhận thấy tỷ lệ sống sót là 40% so với 13% không sử dụng chế phẩm sinh học
Trang 28Việc nghiên cứu sử dụng chế phẩm sinh học để phòng bệnh cho đối tượng nuôi trồng thủy sản đặc biệt là tôm biển được các nhà khoa học tập trung nghiên cứu khoảng hơn 10 năm trở lại đây Các nhà nghiên cứu đã tìm ra các dòng vi khuẩn có lợi như dòng vi khuẩn GI có khả năng sản xuất ra các chất kháng sinh hoặc chất chống vi khuẩn có hạn chế mầm bệnh (Rengpipat et al., 1998) Do khả năng sinh sản nhanh chóng của các vi khuẩn vô hại chúng sẽ cạnh tranh và làm giảm sự phát triển các loại vi khuẩn gây bệnh, tiết ra men chống độc tố bệnh
Đặc điểm 2 loại chế phẩm sinh học Ph fixer và Bio plus:
*Ph fixer
-Thành phần: Bacillus laterosposrus ≥ 109 cfu/g
Môi trường nuôi cấy vi khuẩn và chất mang
-Công dụng
+Có khả năng làm giảm chất hữu cơ tốt, khống chees và chống lại vi khuẩn vibrio gây bệnh
+Giúp phục hồi trạng thái cân bằng của vi sinh vật
+Ổn định môi trường nước
+Duy trì môi trường thiên nhiên thích hợp cho môi trường ao nuôi
-Phương pháp sử dụng:
+Chuẩn bị ao: sau khi đã dùng hóa chất để diệt mầm bệnh dùng 6 kg ph fixer/ha/ ngày, dùng liên tục 21 ngày trước khi thả tôm
+Trong quá trình nuôi:
Trộn 1kg ph fixer/ha/ 10 lit nước khuấy đều, từ 5 đến 10 phút sau đó tạt khắp ao hoặc trước máy quạt nước vào giữa trưa
+Sau khi thả tôm: dùng 6 kg ph fixer/ ha/ tuần để quản lý độ pH
* C.P bioplus
-Thành phần
Bacillus subtilis ≥109 cfu/kg
Bacillus licheniformis ≥109 cfu/kg
Bacillus megaterium ≥109 cfu/kg
Trang 30Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Phạm vi nghiên cứu 2.1.1 Thời gian, địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu từ ngày 9 tháng 1 năm 2012 đến ngày 10 tháng 5 năm 2012 Địa điểm nghiên cứu tại tại công ty CP chăn nuôi CP ở Hải Ba -Hải Lăng - Quảng Trị
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei)
2.1.3 Vật liệu nghiên cứu
Ao thí nghiệm: Ao hình vuông, có diện tích 5000m2, đáy phủ bạt, bờ ao rộng 3m, sâu 2m
Thành phần: Bacillus subtilis ≥ 109 cfu/ml
Bacillus licheniformis ≥ 109 cfu/ml Bacillus megaterium ≥ 109 cfu/ml
2.2 Nội dung nghiên cứu
Đánh giá hiệu quả sử dụng chế phẩm sinh học Bio plus và Ph fixer trong qui
trình nuôi tôm thẻ chân trắng thông qua các chỉ tiêu:
- Đánh giá hiệu quả của việc sử dụng chế phẩm sinh học Bio plus va Ph fixer
trong quản lý môi trường ao nuôi
Hiệu quả sản xuất mà hai loại chế phẩm sinh học đạt được trong quá trình sử dụng Đánh giá hiệu quả sử dụng hai loai chế phẩm sinh học Bio plus và Ph fixer lên
sự phát triển của tôm thẻ chân trắng
2.3 Phương pháp nghiên cứu 2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
- Thu thập số liệu sơ cấp: Các số liệu, thông tin được thu thập trực tiếp tại hiện trường bằng phương pháp trực quan, điều tra và tham khảo ý kiến
- Thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập số liệu thứ cấp thông qua các tài liệu, sách báo, tạp chí, kết quả nghiên cứu và báo cáo của các cơ quan chức năng
Trang 312.3.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Việc bố trí các lô thí nghiệm phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
- Thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên, một công thức được lặp lại 3 lần
- Các yếu tố phi thí nghiệm được quản lý tương đồng đồng giữa các ao thí nghiệm
- Diện tích ao 5000m2, nguồn giống của công ty sản xuất giống Ninh Thuận
post 10, thả mật độ 120 con/m2
- Quản lý, chăm sóc thì tùy vào các giai đoạn khác nhau mà có chế độ chăm
sóc hợp lý nhưng phải giống nhau giữa các công thức thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên trên 6 ao, chia 2 nghiệm thức và lặp
Trang 32+Trong quá trình nuôi:
Trộn 1kg ph fixer/ha/ 10 lit nước khuấy đều, từ 5 đến 10 phút sau đó tạt khắp
ao hoặc trước máy quạt nước vào giữa trưa
+Sau khi thả tôm: dùng 6 kg ph fixer/ ha/ tuần để quản lý đọ ph
2.3.2.3 Quy trình nuôi
Sau khi thu hoạch xong thì ta tiến hành vệ sinh ao nuôi, hút bùn, phơi ao khoảng 1 - 8 ngày
Tiến hành kiểm tra và sửa chữa hệ thống an toàn sinh học, lưới ngăn chim, bạt cua còng, dụng cụ lấy nước, chậu rửa tay chân và chuẩn bị các dung cụ nuôi đầy đủ
Sau đó ta tiến hành bơm nước biển vào trong ao xử lý qua hệ thống dẫn nước của công ty Sau khi đưa nước vào ta tiến hành xử lý nước theo tiêu chuẩn khoảng 2,3 ngày rồi cấp nước vào ao nuôi qua hệ thống lưới lọc Ao nuôi công ty có diện tích 5000m2
, dựa vào diện tích ao nuôi mà ta tiến hành dùng hóa chất để xử lý cho phù hợp, tránh dư thừa không cần thiết Sau khi xử lý nước được 2,3 ngày thi ta tiến hành kéo vật chủ trung gian, nếu gặp vật chủ trung gian thì ta phải tiến hành xử lý nước lại
Sau khi xử lý ao xong thì chúng ta lên men vi sinh và thức ăn tự nhiên nhằm gây màu nước và tạo thức ăn tự nhiên cho tôm Thời gian chuẩn bị ao thường là 26 ngày
Trang 33Sau khi chuẩn bị ao xong thì ta tiến hành thả giống xuống ao Hiện nay ở công ty thương thả tôm giống thuộc loại post 8, thả với mật độ 120 c0n/m2
Trước khi nhận tôm giống thì chúng ta tiến hành kiểm tra tôm và nhận tôm
để cho tôm thích ứng với môi trường gần như môi trường trong ao nuôi,giúp cho tôm tránh bị sốc, tang tỷ lệ sống
Sau khi thả tôm xuông ao thì chúng ta cho tôm ăn Tôm tuổi từ ngày 1-30 ngày tuổi thi cho ăn, ở điều kiện bình thường thì pha trộn zymetin vào thức ăn, trộn zymetin 20 gr/1 Kg thức ăn bắt đầu khi tôm 1- 30 ngày Nếu trong trong điều kiện tôm chết dưới 30 ngày thì trộn kháng sinh và zymetin
Trộn thức ăn và thuốc kháng sinh 5ppm ( 5 gr/ 1 Kg thức ăn) liên tục 5 ngày, sau đó nghỉ 3 ngày không trộn thuốc, rồi trộn tiếp trộn zymetin 20 gr/ thức ăn 1 kg trong 2 ngày Luân phiên làm đến khi tôm đủ 30 ngày thì dùng máy cho thức ăn
Trong quá trình nuôi thì chúng ta phải thường xuyên kiểm tra các yếu tố môi trường để điều chỉnh các yếu tố môi trường sao cho phù hợp với đặc điểm phát triển của tôm Ngoài ra, chúng ta phai kiểm tra lượng ăn của tôm hằng ngày bằng cách kiểm tra vó tôm để điều chỉnh lượng thức ăn phù hợp, tránh dư thừa gây lãng phí và ảnh hương đến môi trường nuôi
Trong quá trình nuôi thì chúng ta phải xử lý bùn dưới đáy ao bằng cách hút bùn giữa ao 1-2 ngày 1 lần, mỗi lần 2-3 tiếng
Sau khoảng 2 tháng rưỡi thì tiến hành kiểm tra tôm để xác định thời gian thu hoạch Sau khi thu hoạch thì vệ sinh ao, sữa chữa dụng cụ để chuẩn bị tiếp cho vụ sau
2.3.3 Phương pháp theo dõi các yếu tố môi trường
Theo dõi các yếu tố môi trường trong ao nuôi được tiến hành như sau:
3 Độ mặn(‰) Khúc xạ kế (±1) 7h và 13h 3 ngày đo lần
4 DO(mgO2/L) Máy đo O2 (±0,1) 7h và 13h Ngày 2 lần
5 Độ trong(cm) Đĩa Secchi, (±1) 7h và 13h 3 ngày đo lần
Trang 342.3.4 Phương pháp đánh giá các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển của tôm thẻ chân trắng
2.3.4.1 Phương pháp đánh giá tỷ lệ sống của tôm
S m
Trong đó:
m: số tôm thu được bằng chài (con)
S: diện tích mặt nước ao nuôi (m2)
s: diện tích chài (m2)
M: số tôm thả ban đầu (con)
2.3.4.2 Phương pháp theo dõi quá trình tăng trưởng của tôm
+ Tốc độ tăng trưởng:
Tốc độ tăng trưởng khối lượng (g/con/ngày)
Gw =
1 2
1 2
T T
W W
W1: Khối lượng tôm trung bình ở lần kiểm tra trước (g/con)
W2: Khối lượng tôm trung bình ở lần kiểm tra sau (g/con)
t = t2 - t1: Khoảng thời gian giữa 2 lần chài (ngày)
GW: Tốc độ tăng trưởng trung bình ngày
2.3.4.2 Phương pháp đánh giá sự đồng đều của tôm:
Trang 35Tổng khối lượng tôm thu hoạch (kg)
% CV = SD x 100
Wtb
Trong đó:
SD: Độ lệch tiêu chuẩn
Wtb: Khối lượng trung bình
2.3.4.2 Phương pháp theo dõi một số các yếu tố khác:
+ Khối lượng thức ăn cần thiết trong ngày:
Mta = F × W
Trong đó: Mta : Khối lượng thức ăn cần thiết trong ngày (kg)
F : Tỷ lệ cho ăn theo bảng hướng dẫn (%)
W : Tổng khối lượng tôm ước tính trong ao (kg)
+ Hệ số chuyển đổi thức ăn: ( FCR )
FCR =
+ Hiệu quả kinh tế
Lợi nhuận = Tổng thu – Tổng chi
Tổng thu = Tổng khối lượng tôm x đơn giá tại thời điểm thu hoạch
Tổng chi = Tiền con giống + thức ăn + thuốc, hóa chất + nhân công + khấu hao tài sản + chi phí khác
Trang 36Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Kết quả theo dõi diễn biến một số yếu tố môi trường trong ao nuôi
Môi trường nước là môi trường sống tất yếu của tôm, tất cả các yếu tố môi trường như : các yếu tố thủy lý, thủy hóa, thủy sinh đều ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng và phát triển của tôm thẻ chân trắng Mỗi loài đều có một giới hạn môi trường nhất định Sau đây là quá trình theo dõi các yếu tố môi trường trong thời gian nghiên cứu của tôi :
Gía trị các yếu tố môi trường trong quá trình nuôi được thể hiện qua bảng :
Bảng 3.1 Diễn biến các yếu tố môi trường ở các ao thí nghiệm
Min- Max X± δ
Min- Max X± δ
Min- Max X± δ
DO
4– 6,7 5,31 ± 0,68
4,8 – 8,6 6,28 ± 0,73
4 – 6,8 5,28 ± 0,64
4,5 – 7,9
6 ± 0,6
Độ kiềm
80 – 200 130,49 ± 37,25
80 -200 128,89 ± 31,78
Độ mặn 19 – 31
23,58 ± 3,5
18 – 30 23,51 ± 3,44
Độ trong 25 – 55
38,61 ± 9,29
28 – 57
40 ± 9,26
3.1.1 Sự biến động của hàm lượng Oxy hoà tan (DO) trong ao nuôi
Các nghiên cứu gần đây cho thấy 75 - 84% lượng ôxy hoà tan trong ao nuôi tôm thâm canh được tiêu thụ chính là các vật chất hữu cơ của nền đáy ao nuôi Trái lại, tôm nuôi tiêu thụ một lượng ôxy hoà tan trong nước rất thấp khoảng 2 - 4 %, còn lại khoảng 10 - 22 % lượng ôxy được tiêu thụ bởi các vật chất và sinh vật khác trong nước [4]
Trang 37Như ta đã biết thì hàm lượng thích hợp cho tôm he chân trắng phát triển lớn hơn 5 mg/l Dựa vào bảng số liệu oxy trên cho ta thấy oxy ở các tuần nuôi luôn lớn hơn 5 mg/l, thích hợp cho tôm phat triển Ở các tuần đầu ham lượng oxy luôn lớn hơn 6 mg/l, sau đó giảm dần theo thời gian nuôi
Hình 3.1 Biểu đồ biến động oxy buổi sáng
Hình 3.1 Biểu đồ biến động oxy buổi sáng
Hình 3.2 Biểu đồ biến động oxy buổi chiều
Qua đồ thị cho thấy hàm lượng oxy hoà tan trong quá trình nuôi ở các CT thí nghiệm nằm trong khoảng (4 – 8,6 mg/l) thích hợp cho tôm phát triển (Theo tiêu chuẩn ngành 28 TCN 171, 2001).Ở giai đoạn đầu, hàm lượng DO khá cao (>=6 mg/l) nhưng sau đó giảm dần theo thời gian nuôi