1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của tôm he chân trắng (penaeus vannamei) giai đoạn pl10 tại công ty thủy sản vina ninh hải ninh thuận

103 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN ĐẾN TỶ LỆ SỐNG VÀ TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG CỦA TÔM HE CHÂN TRẮNG Penaeus vannamei GIAI ĐOẠN PL1 ĐẾN PL10 TẠI CÔNG TY THỦY SẢN

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ DUNG

ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN ĐẾN TỶ LỆ SỐNG VÀ TỐC ĐỘ

TĂNG TRƯỞNG CỦA TÔM HE CHÂN TRẮNG (Penaeus

vannamei) GIAI ĐOẠN PL1 ĐẾN PL10 TẠI CÔNG TY THỦY SẢN

VINA NINH HẢI - NINH THUẬN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH KỸ SƯ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

VINH - 5/2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN ĐẾN TỶ LỆ SỐNG VÀ TỐC ĐỘ

TĂNG TRƯỞNG CỦA TÔM HE CHÂN TRẮNG (Penaeus

vannamei) GIAI ĐOẠN PL1 ĐẾN PL10 TẠI CÔNG TY THỦY SẢN

VINA NINH HẢI - NINH THUẬN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH KỸ SƯ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

Người thực hiện : Nguyễn Thi Dung

Người hướng dẫn : Ths.Trương Thị Thành Vinh

VINH – 2012

Trang 3

Tôi xin chân thành cảm ơn các bác, các cô, các anh, các chị tại cơ sở đã quan tâm tạo mọi điều kiện và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập và làm đề tài tốt nghiệp tại Công ty TNHH sản xuất và ứng dụng công nghệ thủy sản ViNa

Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, lãnh đạo trường Đại học Vinh, Ban chủ nhiệm khoa Nông Lâm Ngư, tổ bộ môn Nuôi trồng thủy sản đã tạo điều kiện giúp đỡ về mọi mặt cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường, truyền dạy cho tôi những kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong 4 năm qua

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt khoá học

Vinh, tháng 5/2012

Nguyễn Thị Dung

Trang 4

ii

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Một số đặc điểm sinh học của tôm He chân trắng 3

1.1.1 Hệ thống phân loại 3

1.1.2 Đặc điểm phân bố 3

1.1.3 Đặc điểm sinh học sinh sản của tôm He chân trắng 3

1.1.4 Đặc điểm các giai đoạn phát triển của ấu trùng tôm He 7

1.1.5 Vòng đời của tôm He chân trắng ngoài tự nhiên 10

1.1.6 Đặc điểm và nhu cầu dinh dưỡng của tôm He chân trắng 10

1.1.7 Đặc điểm sinh trưởng 14

1.2 Tình hình sản xuất giống tôm He chân trắng trên thế giới và Việt Nam 15

1.2.1 Trên thế giới 15

1.2.2 Tình hình sản xuất giống tôm He chân trắng ở Việt Nam 17

1.3 Tình hình sử dụng Artemia và thức ăn tổng hợp trong sản xuất giống THCT 22

1.3.1 Vài nét về đặc điểm, vai trò và giá trị dinh dưỡng của Artemia và thức ăn tổng hợp 22

1.3.2 Tình hình sử dụng Artemia và thức ăn tổng hợp trong sản xuất giống THCT 28

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

2.1 Đối tượng nghiên cứu 31

2.2 Vật liệu, thiết bị sử dụng trong nghiên cứu 31

2.3 Nội dung nghiên cứu 31

Trang 5

iii

2.4 Phương pháp nghiên cứu 31

2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 31

2.4.2 Phương pháp xác định các chỉ tiêu nghiên cứu 34

2.5 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 37

2.6 Phương pháp xử lý số liệu 37

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38

3.1 Kết quả theo dõi diễn biến các yếu tố môi trường 38

3.2 Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống của tôm thẻ chân trắng giai đoạn PL1- PL10 44

3.2.1 Tỷ lệ sống theo giai đoạn 44

3.2.2 Tỷ lệ sống tích lũy 46

3.3 Ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởng của tôm thẻ chân trắng giai đoạn PL1-PL10 46

3.3.1 Tăng trưởng về chiều dài 46

3.3.2 Tăng trưởng về khối lượng 54

3.4 Đánh giá hiệu quả kinh tế khi sử dụng các loại thức ăn khác nhau trong ương nuôi THCT giai đoạn PL1 - PL10 58

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60

KẾT LUẬN 60

KIẾN NGHỊ 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

Trang 7

v

DANH MỤC BẢNG

Trang Bảng 1.1 Các đặc điểm phân biệt ấu trùng giai đoạn Zoea 9 Bảng 1.2 Tình hình sản xuất giống tôm He chân trắng ở một số nước châu Á

Bảng 1.3 Tình hình sản xuất tôm giống tại Việt Nam 19 Bảng 1.4 Kích thước, trọng lượng khô của cá thể và hàm lượng năng lượng của nauplius Artemia ở giai đoạn Instar I từ các nguồn bào xác khác nhau nở

Bảng 1.5 Thành phần dinh dưỡng (% trọng lượng khô) và năng lượng thô

Bảng 3.1 Diễn biến các yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm 38 Bảng 3.2 Tỷ lệ sống theo giai đoạn của tôm trong quá trình thí nghiệm 44 Bảng 3.3 Tỷ lệ sống tích lũy của tôm trong quá trình thí nghiệm 46 Bảng 3.4 Chiều dài thân trung bình của tôm trong quá trình thí nghiệm 49 Bảng 3.5 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài thân của tôm 52 Bảng 3.6 Tốc độ tăng trưởng tương đối về chiều dài thân của tô 53 Bảng 3.7 Khối lượng trung bình tôm trong quá trính thí nghiệm 54 Bảng 3.8 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng của tôm 56 Bảng 3.9 Tốc độ tăng trưởng tương đối về khối lượng của tôm 57 Bảng 3.10 Bảng hạch toán kinh tế bình quân của các nghiệm thức 59

Trang 8

vi

DANH MỤC HÌNH

Trang

Hình1.2 Trứng của tôm He chân trắng mới thụ tinh 5

Hình 1.4 Các giai đoạn phát triển của ấu trùng THCT 7 Hình 1.5 Vòng đời tôm He chân trắng ngoài tự nhiên 10 Hình 1.6 Sự phát triển của một bào xác Artemia từ khi ấp trong nước biển

Hình 3.1 Sự biến động nhiệt độ trong quá trình thí nghiệm 39 Hình 3.2 Diễn biến độ mặn trong quá trình thí nghiệm 41 Hình 3.3 Sự biến động hàm lượng NH3 trong quá trình thí nghiệm 42 Hình 3.4 Kết quả theo dõi độ kiềm trong quá trình thí nghiệm 43

Hình 3.6 Tỷ lệ sống tích lũy của tôm trong quá trình thí nghiệm 48 Hình 3.7 Tăng trưởng về chiều dài thân trung bình 51 Hình 3.8 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài của tôm 53 Hình 3.9 Tăng trưởng về khối lượng trung bình của tôm 55 Hình 3.10 Tốc độ tăng trưởng tương đối về khối lượng của tôm 58

Trang 9

1

MỞ ĐẦU

Ngành thủy sản nói chung, nghề nuôi tôm ở Việt Nam nói riêng những năm gần đây phát triển mạnh mẽ, giải quyết một phần tình trạng thiếu việc làm, tăng thu nhập cho nhiều hộ ngư dân ven biển, tăng nguồn ngoại tệ lớn thông qua xuất khẩu Theo thống kê của bộ thủy sản, diện tích nuôi tôm không ngừng tăng lên, từ 295.000 ha năm 1998 đã tăng lên 448.996 ha, sản lượng 198.184 tấn năm 2001 Năm 2003 diện tích tôm nuôi đạt 553.693 ha, sản lượng 205.000 tấn Năm 2005, diện tích và sản lượng tôm nuôi là 604,479

ha, 324,680 tấn Năm 2006, với 1.050.000 ha diện tích nuôi trồng thuỷ sản, tổng sản lượng ước đạt 3.695.500 tấn, trong đó sản lượng tôm đạt 354.600 tấn Tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản năm 2006 đạt 3.364 triệu USD trong đó giá trị xuất khẩu đạt trên 1.7 tỷ USD (khoảng 51% tổng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản) [16]

Trong những năm gần đây tôm He chân trắng (Penaeus vannamei) là

loài được nuôi rộng khắp ở nhiều vùng trên thế giới Ở Việt Nam diện tích và sản lượng tôm He chân trắng ngày càng tăng Sản lượng giống năm 2004 là

500 triệu postlarvae) [16] THCT với nhiều ưu điểm như: Tốc độ tăng trưởng nhanh, chu kỳ nuôi ngắn và có sức chịu đựng tốt với các biến động môi trường Thực tế sản xuất hiện nay cho thấy, do nghề nuôi tôm thương phẩm phát triển rất nhanh, nên yêu cầu về số lượng con giống hàng năm cũng tăng nhanh THCT là đối tượng mang lại hiệu quả kinh tế cao, ít gặp rủi ro Song

để có một vụ nuôi thành công thì một điều không thể thiếu là đàn tôm giống khỏe mạnh và sạch bệnh Vì vậy hiện nay vấn đề con giống đang được nhiều người đặc biệt quan tâm

Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ sống và chất lượng ấu trùng, hậu ấu trùng trong giai đoạn ương nuôi, trong đó thức ăn là một trong những

Trang 10

2

vấn đề then chốt Đã có rất nhiều nghiên cứu để tìm ra loại thức ăn phù hợp

cho ấu trùng và đang được sử dụng phổ biến hiện nay như tảo, Artemia, và

các loại thức ăn tổng hợp Tuy nhiên việc sử dụng loại thức ăn nào và phối trộn với nhau ra sao để cung cấp cho từng giai đoạn phát triển của tôm nhằm tạo ra con giống tốt, tỷ lệ sống cao, hạn chế dịch bệnh cũng như thỏa mãn các yếu tố về giá thành luôn là bài toán cần giải quyết tại các cơ sở sản xuất giống hiện nay

Trước thực tế đó, được sự đồng ý của khoa Nông Lâm Ngư, bộ môn thủy sản và sự giúp đỡ của công ty TNHH thủy sản ViNa, tôi tiến hành thực

hiện đề tài “Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của tôm He chân trắng (Penaeus vannamei) giai đoạn PL1 đến PL10 tại công ty thủy sản Vina Ninh Hải - Ninh Thuận”

Mục tiêu đề tài

Tìm ra công thức thức ăn phù hợp nâng cao tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng và chất lượng tôm He chân trắng giai đoạn PL1 đến PL10 Từ đó góp phần hoàn thiện quy trình sản xuất giống tôm He chân trắng

Trang 11

Loài : Penaeus vannamei Boone,1931

Hình 1.1 Tôm He chân trắng (Penaeus vannamei)

Tên tiếng Anh: white leg shrimp

Tên địa phương: tôm he, tôm thẻ chân trắng

1.1.2 Đặc điểm phân bố

Trên thế giới tôm He chân trắng phân bố chủ yếu ở vùng nước ven bờ

phía Đông Thái Bình Dương từ phía bắc Peru đến phía nam Mehico Chúng

phân bố tập trung ở vùng ven bờ của Ecuador Hiện nay tôm He chân trắng đã

di giống ra nhiều vùng biển cả bờ tây lẫn bờ đông của châu Mỹ, Trung Quốc,

Đài Loan, Malayxia, Indonexia, Việt Nam, [12]

1.1.3 Đặc điểm sinh học sinh sản của tôm He chân trắng

* Bãi đẻ, mùa vụ sinh sản

Trang 12

4

Trong tự nhiên, quanh năm đều bắt được tôm mẹ ôm trứng Ở bắc Equado mùa đẻ rộ vào tháng 4 - 5, ở Peru mùa đẻ chủ yếu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau [6] Tôm He chân trắng thuộc loại hình sinh sản túi chứa tinh

nở khác với loại hình túi chứa tinh kín như tôm Sú và tôm he Nhật Bản Tôm trưởng thành giao hợp, sinh đẻ trong những vùng biển có độ sâu 70 mét với nhiệt độ 26 – 28oC, độ mặn khá cao (35‰) Trứng nở ra ấu trùng và vẫn loanh quanh ở khu vực sâu này Tới giai đoạn Potlarvae, chúng bơi vào gần

bờ và sinh sống ở đáy những vùng cửa sông cạn Nơi đây điều kiện môi trường rất khác biệt: Thức ăn nhiều hơn, độ mặn thấp hơn, nhiệt độ cao hơn Sau 1 vài tháng, tôm con trưởng thành, chúng bơi ngược ra biển và tiếp diễn cuộc sống giao hợp, sinh sản làm chọn chu kỳ

* Cơ quan sinh dục

Cơ quan sinh dục của con đực gồm 2 ống dẫn tinh, 2 tinh hoàn màu trắng sữa nằm ở phần đầu ngực và ống dẫn đổ ra ở gốc chân bò số 5, cơ quan sinh dục ngoài có Petasma

Cơ quan sinh dục trong của con cái là đôi buồng trứng gồm 2 dải nằm trên mặt lưng, kéo dài từ hốc mắt tới đốt bụng thứ 6, cơ quan sinh sản ngoài là Thelycum, là nơi chứa túi tinh sau khi giao vĩ

* Sức sinh sản

- Buồng trứng của tôm cái thành thục màu hồng Trứng sau khi đẻ có màu đậu xanh Số lượng trứng tùy theo kích cỡ của tôm mẹ, tôm mẹ có khối lượng từ 35 g, lượng trứng 100.000 - 250.000 hạt, trứng có đường kính 0,22

mm, sự phát triển của trứng sau khi đẻ đến giai đoạn đầu tiên của Nauplius diễn ra trong khoảng 14 giờ [8]

* Sự phát triển của buồng trứng

Trang 13

Giai đoạn 2 (thành thục sớm): Buồng trứng phát triển tăng về thể tích

và trọng lượng, có thể nhìn thấy xuyên qua vỏ mặt lưng

Giai đoạn 3 (thành thục cuối): Buồng trứng nhìn xuyên qua giáp đầu ngực thấy rõ ràng, nhìn thấy một dải từ trên xuống, màu tối bắt đầu lan rộng

Ở đốt bụng 1 bắt đầu lớn lên, phình ra

Giai đoạn 4 (chín mùi): Trứng đã được tích lũy đầy đủ vật chất, buồng trứng có màu xanh đậm, hạt trứng có màu xanh Buồng trứng ở đốt bụng 1 và

2 lan rộng ra hai bên, dải buồng trứng dày hơn

Giai đoạn 5 (đẻ rồi): Đã đẻ hoàn toàn, quan sát ở mặt lưng chỉ thấy buồng trứng chỉ còn vết dài Nếu giải phẫu thấy một vùng hơi vàng nhạt, đôi khi phần trước hoặc phần sau của trứng vẫn còn (không đẻ hoặc chỉ đẻ một phần)

Hình1.2 Trứng của tôm He chân trắng mới thụ tinh

Trang 14

1800 và giao vĩ ở tư thế đầu nối đuôi Thời gian giao vĩ xảy ra tương đối nhanh khoảng 3 - 7 phút [4]

Tôm cái được gắn túi tinh trước khi đẻ vài giờ hoặc trước đó vài ngày (lột xác  thành thục  giao vỹ  đẻ) Túi tinh được dính vào thelycum của con cái, không được bảo vệ chắc chắn nên dễ bị rơi rớt và tôm có thể giao vĩ trở lại

Hình 1.3 Hoạt động giao vĩ

- Hoạt động đẻ trứng:

Tôm cái đẻ trứng chủ yếu vào thời gian 9 giờ tối đến 3 giờ sáng Thời gian bắt đầu đẻ cho tới khi kết thúc chỉ mất 1-2 phút [12] Trứng sau khi đẻ có màu vỏ đậu xanh Các chùm tinh của tôm đực cũng được tái sinh nhiều lần Sau khi đẻ xong trứng trải qua các giai đoạn ấu trùng, tới poslarvae bơi vào gần bờ sông, sau vài tháng tôm con trưởng thành và bơi ra biển rồi giao vĩ

Trang 15

7

tiếp Sau mỗi lần đẻ hết trứng, buồng trứng lại phát dục tiếp Con đẻ nhiều nhất 10 lần/năm, thường sau khi đẻ 3 - 4 ngày thì lột vỏ [12]

1.1.4 Đặc điểm các giai đoạn phát triển của ấu trùng tôm He

Trứng sau khi được thụ tinh sẽ xẩy ra quá trình phân cắt, phát triển phôi

và nở thành ấu trùng Nauplius Ấu trùng tôm He chân trắng lớn lên nhờ vào quá trình lột xác và biến thái qua nhiều giai đoạn khác nhau để trở thành hậu

ấu trùng postlarvae Căn cứ vào đặc điểm cấu tạo hình thái ngoài và tập tính bắt mồi người ta chia ấu trùng tôm He chân trắng thành bốn giai đoạn: Nauplius, Protozoea(Zoea), Mysis, Post Larvea, và mỗi giai đoạn ấu trùng lại

ao gồm nhiều giai đoạn phụ

Hình 1.4 Các giai đoạn phát triển của ấu trùng THCT

* Giai đoạn Nauplius (N)

Ấu trùng N có hình dạng giống quả lê, có 3 đôi phụ bộ (râu A1, hàm lớn, râu A2) và một điểm mắt Ấu trùng N bơi lội bằng ba đôi phần phụ, vận động theo kiểu zic zac không định hướng và không liên tục Chúng chưa ăn thức ăn bên ngoài mà tự dưỡng bằng noãn hoàng

Trang 16

8

Ấu trùng N trải qua 6 lần lột xác để tăng trưởng chủ yếu về chiều dài, các phần phụ và nội quan Mỗi lần lột xác tương ứng với một giai đoạn phụ (6 giai đoạn), sau lần lột xác cuối cùng sẽ kết thúc giai đoạn N và chuyển sang giai đoạn ấu trùng Zoea Công thức gai đuôi là đặc điểm quan trọng để phân biệt các giai đoạn phụ của ấu trùng N [10]

* Giai đoạn Zoea (Z)

Sau khi kết thúc giai đoạn N ấu trùng chuyển sang giai đoạn Zoea

Hệ tiêu hoá đã hình thành tương đối hoàn chỉnh, màng ruột dao động theo kiểu hình sin nên thức ăn được đẩy dọc theo ống tiêu hoá, một phần nhỏ thức

ăn được tiêu hoá và hấp thụ qua màng ruột, phần lớn còn lại được thải ra ngoài qua hậu môn tạo thành đuôi phân, vì lý do này nên ấu trùng Z có tập tính ăn liên tục Ngoài ra trong giai đoạn này ấu trùng có tập tính hướng quang rất mạnh nên chúng ta phải chú ý hạn chế tối đa ánh sáng chiếu vào bể ương bằng cách che bạt đen kín ở bể ương

Giai đoạn ấu trùng Z được phân chia thành 3 giai đoạn phụ: Zoea1 (Z1), Zoea2 (Z2), Zoea3 (Z3)

- Z1 thay đổi hẳn về hình thái so với Nauplius Cơ thể Z1 kéo dài chia làm 2 phần: Phần đầu có vỏ giáp đính lỏng lẻo,phần sau gồm có 5 đốt ngực và bụng chưa phân đốt có chạc đuôi Z1 chưa có chủy đầu, mắt đã có sự phân chia rõ nhưng dính sát nhau tạo thành một khối, chưa có cuống mắt

- Z2 có chủy đầu, hai mắt có cuống mắt tách rời nhau, phần bụng đã chia thành 4 đốt

- Z3 đã có phần đầu và phần ngực kết hợp tạo thành phần đầu ngực và được che phủ bởi bởi giáp đầu ngực Ở mặt bụng cuối phần đầu ngực xuất hiện mầm 5 đôi chân ngực Phần bụng có 7 đốt bao gồm 6 đốt bụng và 1 chạc đuôi, đốt bụng 6 dài có mầm chân đuôi Mỗi giai đoạn phụ của ấu trùng Zoea thường kéo dài khoảng 30 - 40 giờ, trung bình khoảng 36 giờ ở nhiệt độ 28 -

Trang 17

9

29oC Các giai đoạn phụ của ấu trùng Zoea có thể được phân biệt qua bảng số

liệu sau:

Bảng 1.1 Các đặc điểm phân biệt ấu trùng giai đoạn Zoea [10]

Số đốt bụng Chưa phân đốt 4 đốt 7 đốt

* Giai đoạn Mysis (M)

Gồm 3 giai đoạn phụ Mysis 1 (M1), Mysis 2 (M2), Mysis 3 (M3), mỗi

giai đoạn kéo dài 24 giờ, tổng tất cả là 3 ngày rồi trở thành Postlarvae Chân

đuôi của M phát triển dài bằng mấu đuôi, nhánh ngoài của ăng ten 2 bắt đầu

dẹp để hình thành vẩy râu, cơ thể cong gập Mysis sống trôi nổi và có đặc tính

đầu chúc xuống dưới

Ấu trùng M bơi lội kiểu búng ngược, vận động chủ yếu bởi 5 đôi chân

bò Mysis bắt mồi chủ động, thức ăn chủ yếu là động vật nổi Tuy nhiên

chúng vẫn có thể ăn tảo silic, đặc biệt là ở giai đoạn phụ M1 và M2

- M1: Dài 2,4–3,4mm Đầu M1 chưa có mầm chân bụng, cuối M1 mầm

chân bụng bắt đầu được hình thành

- M2: Dài 2,9–3,9mm Phần bụng bớt cong, mầm chân bụng có 1 đốt

- M3: Dài 3,7–4,5mm Mầm chân bụng có 2 đốt, chủy có răng cưa

* Giai đoạn postlarvae (PL)

Hậu ấu trùng PL của tôm đã có hình dạng của loài nhưng sắc tố chưa

hoàn thiện, nhánh trong ăng ten 2 chưa kéo dài PL bơi thẳng có định hướng

về phía trước bơi lội bằng 5 đôi chân bụng Cơ quan tiêu hóa, phát triển hoàn

Trang 18

10

chỉnh thức ăn chủ yếu là ấu trùng của các loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ, Nauplius Copepoda, Nauplius Artemia [10]

1.1.5 Vòng đời của tôm He chân trắng ngoài tự nhiên

Hình 1.5 Vòng đời tôm He chân trắng ngoài tự nhiên

Sự phân bố của tôm he nói chung và tôm He chân trắng nói riêng có sự thay đổi theo giai đoạn phát triển Giai đoạn ấu trùng N, Z, M và PL nhỏ tôm sống trôi nỗi ở tầng mặt và tầng giữa, từ cuối giai đoạn PL5 tôm bắt đầu chuyển xuống sống đáy Độ sâu tối đa bắt gặp tôm he phân bố là 180m [9]

1.1.6 Đặc điểm và nhu cầu dinh dưỡng của tôm He chân trắng

 Đặc điểm dinh dưỡng

Trong thiên nhiên thức ăn của tôm thay đổi theo từng giai đoạn phát triển và có liên quan mật thiết đến sinh vật phù du và sinh vật đáy Tôm chân trắng là động vật ăn tạp Trường đại học Hải Dương Hawaii - Mỹ cho rằng nhóm sinh vật sản xuất sơ cấp tự nhiên trong ao nuôi như tảo, vi khuẩn là nguồn dinh dưỡng rất quan trọng cho tôm He chân trắng, nó giúp tôm tăng trưởng nhanh, kể cả trong điều kiện nuôi thâm canh

+ Giai đoạn Nauplius

Tôm dinh dưỡng bằng noãn hoàng dự trữ, chưa ăn thức ăn ngoài Đến cuối N6 hệ tiêu hóa bắt đầu có sự thay đổi

Trang 19

11

+ Giai đoạn zoea

Đặc điểm thay đổi lớn nhất ở giai đoạn này chính là việc ấu trùng bắt đầu sử dụng thức ăn bên ngoài Do tập tính sống trôi nỗi, bắt mồi thụ động bằng các phụ bộ, giai đoạn này chúng ăn lọc cho nên chúng ăn tất cả những gì vừa cỡ miệng Ấu trùng Zoea thiên về ăn lọc, ăn mồi liên tục, thức ăn là thực

vật nổi, chủ yếu là tảo Silic như: Thalassiosira sp, Chaetoceros sp, Skeletonema costatum, Ở giai đoạn này ấu trùng ăn mồi liên tục, thức ăn

trong ruột không ngắt quãng, đuôi phân dài cho nên mật độ thức ăn trong môi trường nước phải đạt mật độ đủ cho Zoea có thể lọc mồi liên tục suốt giai đoạn này do đó trong sản xuất giống nhân tạo cần cho ăn nhiều lần trong ngày Mật độ thức ăn tăng dần từ Z1 đến Z3 Ngoài hình thức ăn lọc là chủ yếu, ở giai đoạn này ấu trùng còn có khả năng bắt mồi chủ động Khả năng này tăng dần từ Z1 đến Z3 đặc biệt là cuối Z3 trở đi

+ Giai đoạn Mysis

Tôm bắt mồi chủ động Thức ăn chủ yếu là động vật nổi như luân trùng, ấu trùng Nauplius Copepoda, Nauplius artemia, ấu trùng động vật thân mền Tuy nhiên, thực tế sản xuất cho thấy ấu trùng Mysis vẫn có khả năng

ăn được tảo Silic

+ Giai đoạn Postlarvae

Tôm bắt mồi chủ động Thức ăn chủ yếu là động vật nổi như: Artemia, Copepoda, ấu trùng của giáp xác, ấu trùng của động vật thân mềm, Cần chú

ý ở giai đoạn này, tôm thích ăn mồi sống nên trong sản xuất nếu cho ăn thiếu thức ăn, Postlarvae sẽ ăn thịt lẫn nhau

+ Thời kỳ ấu niên đến trưởng thành

Từ thời kỳ ấu niên, Tôm He thể hiện tính ăn của loài (ăn tạp, thiên về

ăn động vật) Thức ăn của tôm là các động vật khác như giáp xác, động vật thân mềm, giun nhiều tơ, cá nhỏ

Trang 20

12

Trong sản xuất giống nhân tạo ấu trùng tôm He còn được cho ăn các loại thức ăn nhân tạo tự chế biến như lòng đỏ trứng, sữa đậu nành, thịt tôm, thịt hầu và các loại thức ăn nhân tạo sản xuất công nghiệp thường gọi là thức

Men tiêu hoá protein của tôm chủ yếu ở dạng trypsine, không có pepsine (Vonk, 1970) Ngoài ra trong dạ dày tôm có 85% số vi khuẩn tạo thành chitinase Ngoài việc cung cấp dinh dưỡng, quan trọng nhất là giúp tôm

có khả năng tiêu hoá chitinase một phức hợp của protein [25]

+ Hydratcacbon

Hydratcacbon là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu cho cơ thể (khoảng 60% năng lượng cho hoạt động sống của động vật) Tuy khả năng sản sinh ra nhiệt lượng của hydratcacbon kém hơn so với lipid, song hydratcacbon lại có ưu thế hoà tan được, vì vậy quá trình tiêu hoá hấp thu dễ dàng

Ở giáp xác có nhiều men tiêu hoá hydratcacbon như: amylaza, maltaza, kitinaza, cellulaza (Kooiman, 1964), nhờ đó giáp xác có thể tiêu hoá một thành phần cellulose nên chúng có thể ăn thực vật và rong tảo

Trang 21

13

Thức ăn nhiều xơ sẽ đưa kết quả xấu vì cơ quan ruột, dạ dày của tôm ngắn, thức ăn nhanh chóng đi qua và thời gian tiêu hoá bị hạn chế Nhưng chất xơ đóng vai trò là chất nền cho quá trình lên men của vi sinh vật sống trong ống tiêu hoá, vì vậy trong thức ăn tôm người ta thường bổ sung khoảng 5% bột cỏ hoặc rong biển Ngoài vai trò là chất nền trong chất xơ tồn tại một lượng nước nhất định, chính lượng nước này có tác dụng duy trì dịch ruột làm tăng quá trình hấp thu chất dinh dưỡng

+ Lipid

Cùng với Hydratcacbon thì chất béo tạo ra năng lượng Nếu năng lượng của thức ăn quá thấp thì tôm sẽ sử dụng nguồn năng lượng từ các dưỡng chất khác, như protein để thoả mãn nhu cầu về năng lượng, làm nâng cao chi phí thức ăn Nếu năng lượng trong thức ăn quá cao thì sẽ làm giảm sự hấp thu thức ăn và chất đạm tiêu hoá không đủ để tôm phát triển

Thành phần lipid có trong thức ăn tôm khoảng 6% - 7,5% không nên quá 10% Với hàm lượng lipid trong thức ăn >10% sẽ dẫn đến giảm tốc độ sinh trưởng, tăng tỉ lệ tử vong [7]

+ Vitamin

Vitamin là nhóm chất hữu cơ mà động vật yêu cầu số lượng rất ít so với các chất dinh dưỡng khác nhưng cần thiết cho sự sinh trưởng, phát triển bình thường của cơ thể và duy trì cuộc sống của nó, cơ thể động vật có nhu cầu một lượng nhỏ trong thức ăn để đảm bảo sự sinh trưởng và phát triển bình thường

Nhu cầu vitamin ở tôm tùy thuộc vào kích cỡ, tuổi, tốc độ sinh trưởng, điều kiện dinh dưỡng, nhu cầu từng loại vitamin thực tế cho từng loài tôm, cho từng giai đoạn vẫn chưa được biết nhiều Vì thế trong thức ăn, lượng vitamin bổ sung thường vượt qua nhu cầu thực tế của tôm nhằm bù đắp lượng

Trang 22

1.1.7 Đặc điểm sinh trưởng

Ở tôm he nói riêng, giáp xác nói chung sự tăng trưởng lên về kích thước có dạng bậc thang, thể hiện sự sinh trưởng không liện tục

THCT tăng trưởng nhanh thời gian đầu, đặc biệt khi đạt đến trọng lượng 20grs Trong điều kiện nuôi ở nhiệt độ ở nhiệt độ 27 - 29oC, với mật độ khoảng 80 - 100 con /m2 tỷ lệ phát triển đạt khoảng 3grs/ tuần sau đó khi tôm

đã đạt đến độ lớn 50 con /m2

tỷ lệ phát triển giảm xuống còn 1grm/tuần [9]

Ở các vùng nuôi tôm, người nuôi nhận thấy tôm cái phát triển nhanh hơn tôm đực trong cùng thời gian nuôi, tỷ lệ chênh lệch này khoảng 9 : 10 hoặc 9,5 : 10 [9]

Trang 23

15

1.2 Tình hình sản xuất giống tôm He chân trắng trên thế giới và Việt Nam

1.2.1 Trên thế giới

Trong mấy chục năm vừa qua nghề nuôi tôm biển phát triển rất mạnh

mẽ, có nhiều loài tôm được đưa vào nuôi đại trà nhưng đa số vẫn là các loài tôm he Hiện nay nghề nuôi tôm đã đạt được nhiều thành tựu trong các lĩnh vực nghiên cứu, sản xuất và thương mại

Người tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu và sản xuất nhân tạo giống tôm sú là tiến sỹ người Nhật Bản Monosaku Fujinaga Năm 1933 trong một hội nghị khoa học ở Mehico về sinh học và nuôi tôm ông đã công bố

công trình nghiên cứu về sản xuất nhân tạo P Japonicus Trong những thí

nghiệm ban đầu do thiếu hiểu biết về đặc điểm dinh dưỡng của ấu trùng tôm nên chúng chỉ tồn tại được ở giai đoạn Z và chỉ có khoảng 10% chuyển sang giai đoạn M [20]

Mãi tới gần 10 năm sau (1942), với việc khám phá ra tảo silic

Skeletonema costatum, Chaetoceros làm thức ăn rất tốt cho ấu trùng ở giai

đoạn Z đã nâng cao tỷ lệ sống của ấu trùng ở giai đoạn này lên đến 30% Phương pháp nuôi tảo khuê cho ấu trùng tôm của Fujinaga được gọi là

“Phương pháp nuôi cùng bể” và sau đó phương pháp này được Loosanoff áp dụng nuôi ấu trùng hai mảnh vỏ Từ đó nhiều nghiên cứu đã được thực hiện

trên các đối tượng khác nhau: Penaeus monodon, Penaeus merguiensis, Penaeus indicus, Penaeus vannamei, các quy trình nước xanh lớn, quy

trình Gevaston dần được hoàn thiện và được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất

Đến năm 1946 Fujinaga đã nghiên cứu và tìm ra ấu trùng N của

Artemia làm thức ăn rất tốt cho giai đoạn M Sau gần 18 năm nghiên cứu và

thí nghiệm đến năm 1946 quy trình sản xuất giống và ương nuôi ấu trùng tôm

He Nhật Bản mới được hoàn chỉnh Đây là cơ sở, nền tảng cho các công trình

Trang 24

16

nghiên cứu và ứng dụng kết quả này để hoàn chỉnh quy trình sản xuất và ương

nuôi ấu trùng các loài tôm thuộc họ tôm he Nhật Bản (P.Japonicus) [23]

Năm 1963, nhà nghiên cứu Hary cook (người Mỹ) cùng với sự cộng

tác của Fujinaga đã cho đẻ và ương nuôi thành công các đối tượng P Setiferat

và P Ortecus đồng thời xây dựng thành công quy trình bể nhỏ ở Mỹ, sau đó

được cải tiến và nhân rộng ở các nước khác như Philippin, Đài Loan, Thái Lan, Cũng từ đây trên thế giới đã nghiên cứu và sản xuất thành công nhiều

đối tượng khác nhau (gần 20 loài thuộc giống penaeus và 7 loài thuộc giống Metapenaeus như P.Monodon, P Semiculcatus, P.Merguiensis, P.orientalis,

M ensis) [10]

Hiện nay tôm He chân trắng (P.vannamei) được nuôi nhiều nhất ở châu

Mỹ La Tinh với số lượng trại sản xuất tôm giống đứng đầu trên thế giới (hơn

3500 trại) Tôm He chân trắng có sản lượng đáng kể, đứng thứ 2 sau tôm Sú

Từ những năm 70 - 80 của thế kỷ trước tôm He chân trắng được nuôi ở Hawaii, phía nam CaroliaTaxas và phía nam Brazil Trong suốt 20 - 25 năm qua tôm He chân trắng trở thành đối tượng nuôi chính ở Châu Mỹ La Tinh, Bắc và Trung Mỹ từ Mỹ đến Brazil [12]

Tôm He chân trắng được nhập nuôi và đạt sản lượng đáng kể ở Trung Quốc từ những năm 1990 Có một lý do để nhập và di giống loài tôm này, cụ thể là tôm giống bị nhiễm tác nhân gây bệnh đặc chủng (SPF), khả năng tránh

được tác nhân gây bệnh đốm trắng (WSSV) cao hơn tôm Sú (P.monodon), ít

sản phẩm trên thị trường thế giới (chủ yếu ở Mỹ) do sản lượng ở Mỹ La Tinh giảm, là loài dễ nuôi và có thể sản xuất giống nhân tạo Tại một số nước các chủ trang trại muốn nhập THCT chính vì họ thấy chúng là loài có sức đề kháng cao đối với bệnh đốm trắng

Trang 25

Số trại tôm giống khác

Tổng sản lượng tôm giống (triệu con/tháng)

Tổng sản lượng THCT giống (triệu con/tháng)

1.2.2 Tình hình sản xuất giống tôm He chân trắng ở Việt Nam

Ở Việt Nam nghề nuôi tôm đã xuất hiện hơn 100 năm qua nhưng chỉ mới thực sự phát triển từ những năm 90 của thế kỷ XX và từ thời điểm đó Việt Nam mới bắt đầu trở thành một trong những quốc gia có sản lượng tôm nuôi cao trong khu vực và trên thế giới Nuôi tôm là nghề có từ lâu đời nhưng chỉ là nuôi với hình thức nuôi quảng canh cổ truyền và bán thâm canh Còn nuôi thâm canh có quy mô thì chỉ mới phát triển khoảng hơn chục năm trở lại đây, khi mà sản xuất tôm bột giống đạt đến số lượng thương phẩm Bộ Nông nghiệp - Phát triển nông thôn đã chính thức cho phép chuyển đổi sang nuôi tôm thẻ chân trắng Sản xuất con giống chất lượng cao và sạch bệnh là xu thế

Trang 26

18

đang được quan tâm hiện nay Để đạt được đều đó cần thực hiện 2 yêu cầu Một là chọn con giống có nguồn gốc tốt, sạch bệnh; hai là cơ sở sản xuất phải kiểm soát chặt chẽ an toàn sinh học và có biện pháp ngăn ngừa dịch bệnh Việc chọn thức ăn chất lượng cao là hết sức quan trọng vì thức ăn có tác động lớn nhất đến môi trường nuôi và sự phát sinh các loại bệnh

Hiện nay THCT đang là đối tượng nuôi chính trong nghề NTTS nước mặn lợ nước ta, nó chiếm tỷ trọng lớn về giá trị xuất khẩu Hầu hết các tỉnh thành phố ven biển từ Bắc tới Nam đều có nghề nuôi THCT Chính sự phát triển của công nghệ sản xuất nhân tạo giống THCT đã quyết định đến sự phát triển nuôi tôm công nghiệp ở nước ta

THCT lần đầu tiên được nhập từ Đài Loan vào nuôi thử ở Bạc Liêu từ tháng 1/2001 Sau đó tôm bố mẹ được nhập từ Đài Loan, Hawaii và Trung Quốc Đây là loài tôm ngoại lai duy nhất nhập vào Việt Nam, tôm được nuôi

ở nhiều địa phương, có nơi dân nuôi tự phát, có nới tỉnh cho công ty TNHH thuê đất sản xuất giống để nuôi tôm thịt [2]

Theo tổng kết của hội khoa học và kỹ thuật về nuôi tôm lần thứ nhất năm 1987 cho biết: Từ năm 1971 trạm nghiên cứu NTTS nước lợ (nay thuộc

viện NCNTTS I) và trường đại học thủy sản đã cho đẻ thành công tôm he P merguiensis và tôm M ensis tại Quý kim (Hải Phòng) và Cái Dặm (Quảng

Ninh) nhưng trong giai đoạn ương nuôi ấu trùng còn gặp nhiều khó khăn nên chỉ phát triển đến giai đoạn Zoea, một số ít phát triển tới giai đoạn Mysis rồi chết Sau đó vào năm 1974, với sự giúp đỡ của chuyên gia người Nhật Bản là Macno Kasumi, trạm nghiên cứu đã sản xuất được 65.000 con Postlarve loài

P orientalis ở các bể 10m3 và 1,5 triệu Postlarve loài P merguiensis ở bể

200m3 theo kiểu Nhật Bản [16]

Cùng với việc cho tôm đẻ thành công trạm NCNTTS nước lợ còn thành

công trong việc nuôi Brachionus và tự sản xuất cho ấu trùng tôm Sự thành

Trang 27

19

công của việc nghiên cứu gây nuôi thức ăn cho ấu trùng tôm là một trong những nguyên nhân trực tiếp đưa đến việc hoàn thành việc cho sinh sản một

số giống tôm vào những năm 1975 - 1977 [15]

Năm 1983 Trại thực nghiệm Cửa Bé, trường ĐHTS Nha Trang đã

cho đẻ thành công đối tượng P merguiensis và P monodon đây là thành công

bước đầu của các nhà nghiên cứu và sản xuất tôm giống tại Việt Nam

Năm 1986 cả nước đã sản xuất được 3,3 triệu PL các loại tôm he và mới xây dựng các trại sản xuất tôm giống có quy mô lớn như: Quý Kim Quy Nhơn, Vũng Tàu [4]

Năm 2006, tình hình sản xuất giống tôm cơ bản đã đáp ứng đủ nhu cầu

về lượng, cả nước đã sản xuất được 25 tỷ tôm giống Tuy nhiên về chất lượng tôm giống vẫn chưa được kiểm soát và quản lý tốt, chưa xây dựng được thương hiệu giống TS của từng vùng, công tác đăng ký chất lượng cũng như kiểm soát chất lượng tôm giống lưu thông trên thị trường chưa được tốt [8]

Bảng 1.3 Tình hình sản xuất tôm giống tại Việt Nam Chỉ tiêu

Cà Ná, Cam Ranh, Phan Rang, Ninh Tịnh, Ninh Hòa, Nha Trang thuộc tỉnh

Trang 28

20

Khánh Hòa Các trại sản xuất tôm giống mọc chi chít nhau theo bờ biển 3 - 4 năm trở lại đây, con tôm sú rớt giá, hoạt động của vùng sản xuất tôm giống này cũng không còn sôi động như trước Khi THCT xuất hiện vào năm 2007,

2008 việc sản xuất tôm giống được hồi sinh trở lại [16]

Theo Tổng cục thủy sản, tính đến hết tháng 12/2011 cả nước có 1.848 trại sản xuất giống tôm sú và 2.566 trại sản xuất giống THCT So với năm

2010, số cơ sở sản xuất giống tôm nước lợ giảm đáng kể (bằng 76%), nhưng sản lượng đạt hơn 50,5 tỷ con (bằng 113% năm 2010 và vượt 5% kế hoạch năm) Tính đến năm 2011 cả nước có 5 tỉnh đạt sản lượng tôm giống lớn bao gồm: Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh Hòa, Bạc Liêu, Cà Mau Ở Ninh Thuận, trong những năm qua nghề sản xuất giống thủy sản nói chung và tôm giống nói riêng không ngừng phát triển cả về số lượng và chất lượng Nếu như năm 1986, toàn tỉnh chỉ mới có 32 trại sản xuất với sản lượng 200 - 300 triệu giống/năm, thì đến nay đã có hơn 400 cơ sở, với hơn 1.400 trại sản xuất giống thủy sản, hàng năm sản xuất 10 - 15 tỷ con giống (chủ yếu tôm sú và TTCT) phục vụ nhu cầu nuôi đa dạng của người sản xuất [16]

Hiện nay tôm giống Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội và thử thách lớn Với diện tích đưa vào nuôi hơn 500.000 ha, hàng năm Việt Nam cần khoảng 25 30 tỷ tôm PL (Bộ trưởng Tạ Quang Ngọc thông báo 892/TS -

VP ngày 9/4/04) [8] Tuy nhiên theo nguồn tin của World Fish (Agra Europe, 2002) thì ước tính gần đây chỉ có 10% tôm giống ở khu vực Miền Trung đạt tiêu chuẩn và vấn đề tôm giống chất lượng thấp đang được xem là nguyên nhân chết hàng loạt tại các tỉnh ĐBSCL ĐBSCL được coi là vựa tôm lớn của

cả nước nhưng về chất lượng tôm giống ở đây đang trong tình trạng báo động Xét nghiệm trên 7000 mẫu tôm tại trung tâm giống thủy sản Bạc Liêu cho thấy tỷ lệ tôm giống mắc các bệnh nguy hiểm khá cao, có trên 3000 mẫu tôm

Trang 29

21

(khoảng 50%) bị nhiễm vi rus MBV(bệnh còi) và virus bệnh đầu vàng, riêng

tỷ lệ tôm giống nhiễm bệnh đốm trắng chiếm 7 - 9 % [17]

Theo thống kê của nghành thủy sản, sản lượng tôm giống năm 2004 đạt gần 500 triệu PL Một số địa phương đã nhập tôm từ Trung Quốc về nuôi Tại các tỉnh phía Bắc có hai tỉnh có trại giống: Quảng Ninh và Hà Tĩnh, tổng sản lượng tôm giống đạt 371 triệu con Công ty công nghệ Việt Mỹ nhập 4.323 cặp tôm bố mẹ sạch bệnh và sản xuất được 271 triệu con giống Công ty đầu

tư phát triển Hạ Long (Quảng Ninh) nhập tôm bố mẹ, công nghệ sản xuất tôm giống và thuê chuyên gia từ Hawaii từ năm 2002 Năm 2003 sản xuât 50 triệu tôm giống, năm 2004 sản xuất 120 triệu con Hiện nay công ty có 10.000 cặp tôm bố mẹ để sản xuất giống năm 2005 [19]

Tại Nghệ An, các cơ sở sản xuất giống THCT được đưa vào sản xuất cung cấp giống trên địa bàn các huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu Quỳnh Lưu có

4 cơ sở sản xuất giống tôm He chân trắng, trong đó có chi nhánh của công ty TNHH sản xuất và ứng dụng công nghệ thủy sản ViNa đóng trên địa bàn đã cung cấp tôm giống chất lượng tốt trên địa bàn tỉnh và các tỉnh phía Bắc Từ năm 2003, huyện Nghi Lộc với diện tích nuôi từ 2 - 3 ha, tính đến tháng 9/2006, có 47 đơn vị và cá nhân nuôi tôm He chân trắng với tổng diện tích 24

ha tăng 80% so với năm 2003 là 15 ha, còn lại phân bố rải rác tại một số địa điểm ở Quỳnh Lưu, Diễn Châu và thành phố Vinh Mật độ thả từ 40 - 100 con/m2, năng suất 2 - 15 tấn/ha [15]

Tại Bà Rịa - Vũng Tàu có 1 trại giống 40 bể 15m3/bể của công ty Việt

Mỹ, hiện có 300 tôm bố mẹ Tại Khánh Hòa, năm 2004 có hai trại sản xuất giống tôm He chân trắng, song điều kiện sản xuất của hai trại này không đảm bảo an toàn vệ sinh thú y nên đã bị sở thủy sản Khánh Hòa ra quyết định đình chỉ hoạt động Từ năm 2005 đến nay Khánh Hòa chỉ có trại sản xuất giống của viện nghiên cứu NTTS III hoạt động [21]

Trang 30

Artemia là tên khoa học của một loài giáp xác có tính rộng muối (từ vài

phần ngàn đến 250‰) Chúng thường sống ở biển tự nhiên hoặc được nuôi trong ruộng muối Hàng năm trên thị trường thế giới có khoảng 2000 tấn trứng bào xác khô được bán ra quanh năm với nhiều nguồn khác nhau như: mỹ, Tây Ban Nha, Brazin, Canada, Trung Quốc, Thái Lan và Việt

Nam (Vĩnh Châu, Phan Thiết) [11]

Trong số các thức ăn sống dùng để nuôi ấu trùng cá và thủy sản có vỏ

thì các nauplius của Artemia (tôm đồng muối) là thức ăn được dùng rất phổ biến Hàng năm có trên 2000 tấn bào xác Artemia khô được buôn bán trên

toàn thế giới để cho nở tại trại giống thành các nauplius có kích thước 0,4

mm Mặc dù Artemia đã được con người biết đến từ hàng thế kỷ nay, nhưng

công dụng của chúng để làm thức ăn nuôi ấu trùng của các sinh vật chỉ mới bắt đầu từ những năm 1930, khi một số nhà nghiên cứu thấy rằng nó là thức

ăn tuyệt vời cho các ấu trùng cá mới nở Đến năm 1940, do Artemia đã có giá

trị cao, một ngành công nghiệp mới đã được thiết lập Trong năm 1960, việc cung cấp thương mại từ một số nơi ở Bắc Mỹ xem ra vô cùng to lớn Tuy nhiên, với việc mở rộng sản xuất NTTS trong những năm 1970, nhu cầu về

bào xác của Artemia đã nhanh chóng vượt quá mức cung cấp Hiện nay Artemia đang được sản xuất và khai thác trên khắp năm châu lục [17]

Bằng cách tạo vỏ bằng phương pháp sinh học những khối lượng các sản phẩm hạt và các sản phẩm được nhũ tương hóa giàu các axit không no ở

các metanauplius của Artemia, chất lượng dinh dưỡng của Artemia có thể

điều chỉnh thêm để phù hợp với các nhu cầu của các sinh vật ăn mồi sống

Trang 31

23

Việc áp dụng phương pháp tạo vỏ sinh học còn được gọi là làm giàu hoặc làm

tăng trọng Artemia, đã có ảnh hưởng tốt đến việc nuôi ấu trùng, không những

đến tỷ lệ sống, sinh trưởng và biến thái thành công của nhiều loại cá và giáp xác, mà còn cả về mặt chất lượng, thí dụ giảm hiện tượng dị tật, sự hình thành sắc tố được cải thiện và giảm được stress

Việc sử dụng trực tiếp các bào xác Artemia đã khử vỏ là thức ăn thích

hợp đối với nuôi các loài ấu trùng khác nhau như ấu trùng các loài cá chép

(Cyprinus carpiro), tôm biển, cua biển, cá măng Khi ấp trong nước biển bào

xác có hình lõm lòng chảo sẽ trương ra và trở thành hình cầu trong vòng từ 1 đến 2 giờ Sau khi ngậm nước 12 đến 20 giờ, vỏ bào xác (kể cả màng biểu bì ngoài) sẽ vỡ ra (giai đoạn vỡ và phôi được bao bọc có thể nhìn thấy được) Sau đó phôi tách rời khỏi vỏ và treo lơ lửng ở phía dưới vỏ rỗng (màng nở còn có thể dính với vỏ) Qua màng nở trong suốt có thể theo dõi sự phân hóa của các tiền nauplius thành các nauplius ở giai đoạn Instsar I, và các nauplius này bắt đầu chuyển động các chân phụ của chúng Ngay sau đó màng bị vỡ, các ấu trùng bơi tự do (đầu ra trước) được sinh ra [15]

Hình 1.6 Sự phát triển của một bào xác Artemia từ khi ấp trong

nước biển đến khi nở ra các nauplius

Trang 32

24

Hiện nay trên thế giới có rất nhiều dòng Artemia đang được sử dụng

được sản xuất từ các nguồn khác nhau ở Châu Mỹ, Châu Á, Ôxtrâylia và

Châu Âu Nhiều dòng có thể được phân biệt dựa trên cơ sở các đặc điểm sinh học của chúng Hiệu quả dinh dưỡng của một sinh vật thức ăn chủ yếu được xác định bởi khả năng tiêu hóa của nó, nghĩa là bởi kích thước và hình dạng

của nó Các dẫn liệu về thống kê sinh vật của nauplius từ các dòng Artemia

khác nhau được nêu ở bảng 1.4

Bảng 1.4 Kích thước, trọng lượng khô của cá thể và hàm lượng

năng lượng của nauplius Artemia ở giai đoạn Instar I từ các nguồn bào xác

khác nhau nở trong các điều kiện tiêu chuẩn

dài (x10

-3

mm)

Trọng lượng khô (g)

Năng lượng (10 - 3

Hồ Aibi, CHND Trung Hoa 515 4,55

Yuncheng, CHND Trung Hoa 460 2,03

Trang 33

25

Trăng và Bạc Liêu (quen gọi là trứng Vĩnh Châu), kế tiếp là nguồn trứng từ

Mỹ, biến động từ 5 - 11mg/g trứng, các nguồn trứng khác có hàm lượng thấp,

có loại chỉ đạt 2,3mg/g trứng [15]

Chất lượng dinh dưỡng của Artemia ở các giai đoạn

Theo nghiên cứu của Sargent, 1989; Olsen và ctv, 1993; Kanazawa,

1993; Dhert và Sorgeloos, 1995 Artemia là loại thức ăn giàu dinh dưỡng và

giàu lượng acid béo không bão hòa (HUFA) Trong thành phần axit béo

không no có chứa EPA, DHA,hai loại này được coi là axit béo thiêt yếu có tác động đến tỷ lệ sống và sự phát triển của tôm, cá biển Chất dinh dưỡng của

chúng theo các giai đoạn bào xác, N-Artemia, Artemia bung dù(trước giai đoạn Instar I) có những biến đổi như sau:

- Các axit béo: Phổ axit béo của các bào xác và nauplius gần giống nhau, mặc dầu có thể sự khác nhau ở các hàm lượng lipid, thành phần axit béo

và hàm lượng năng lượng của các dòng khác nhau

- Các axit amin tự do: Tỷ lệ giữa các axit amin tự do và hàm lượng

protein nói chung là cao hơn ở các nauplius ở giai đoạn Instar I so với các bào xác, mặc dầu có thể có những biến đổi lớn từ dòng này sang dòng kia Điều này có thể gây hậu quả về thức ăn khi sử dụng các bào xác đã khử vỏ, vì các

ấu trùng cá biển sử dụng nhóm axit amin tự do rộng như là chất nền năng

lượng trong những ngày đầu tiên sau khi nở

- Vitamin C: (axti ascoobic) được coi là một chất dinh dưỡng chủ yếu trong thời gian nuôi ấu trùng

- Các carotenoid: Mô hình carotenoid và cụ thể hơn là các hàm lượng

cantaxantin cho thấy sự khác biệt về chất lượng giữa các bào xác và các

nauplius Ở các bào xác Artemia người ta thấy có cấu hình đều bất thường

trong khi ở các nauplius đang phát triển, cấu hình này được biến đổi thành

cantaxantin lệch ổn định hơn

Trang 34

26

Các nauplius ở giai đoạn Instar I phát triển hoàn toàn dựa vào các dự trữ năng lượng nên chúng cần được thu hoạch và cho ấu trùng cá ăn, giáp xác

ăn ở dạng còn nhiều năng lượng nhất (ngay sau khi nở càng sớm càng

tốt) [15] Nauplius của Artemia ở giai đoạn phát triển đầu tiên không thể tự

kiếm được thức ăn, vì vậy nó tiêu thụ năng lượng dự trữ bản thân Vấn đề quan trọng là cần cho sinh vật ăn mồi sống ăn các nauplius ở giai đoạn Intsar I hơn cho chúng ăn các meta - nauplius ở giai đoạn Instar II đang bị đói vì những meta - nauplius này tiêu thụ đến 25 - 30% dự trữ năng lượng

của chúng trong 24 giờ sau khi nở [7] Do đó, nếu cho ấu trùng cá ăn Artemia

giai đoạn bung dù (trước khi nở thành Instar I) thì chất lượng dinh dưỡng

sẽ cao nhất, năng lượng dự trữ chưa bị tiêu thụ do chúng chưa có khả năng

vận động

Hình 1.7 Artemia giai đoạn bung dù

Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại TATH cho ương nuôi tôm giống như Lansy, Fripark, TNT, Flakes, N0, N1…thành phần dinh dưỡng của

thức ăn tổng hợp cũng thay đổi theo từng loại Trong khi giá thành Artemia

ngày càng tăng thì việc sản xuất TATH đã giải quyết được một phần nhu cầu

của các cơ sở sản xuất giống So với Artemia TATH có khá nhiều ưu điểm:

Thành phần dinh dưỡng và nguồn cung cấp và chất lượng thức ăn luôn chủ động và ổn định Mặt khác việc sử dụng TATH có thể giảm bớt chi phí cho việc bổ sung các loại thuốc bổ giúp tôm nâng cao sức đề kháng và tiêu hoá tốt

Trang 35

Bảng 1.5 Thành phần dinh dưỡng (% trọng lượng khô) và năng lượng

thô (J/mg) trong Artemia và thức ăn tổng hợp

K.lượng khô tiểu phần (µg) 4.00 2.35

Artemia là loại thức ăn giàu dinh dưỡng và giàu lượng acid béo không

bão hòa (HUFA) Khả năng tiêu thụ các chất dinh dưỡng lơ lửng trong nước của artemia còn giúp chuyển hóa những chất dinh dưỡng đặc biệt ấu trùng tôm, cá Công dụng của sự chuyển hóa sinh học (bioencapsulation) này đóng một vai trò quyết định trong việc duy trì tỷ lệ sống của ấu trùng, sự tăng

Trang 36

cỡ nhỏ phù hợp với ấu trùng tôm, hàm lượng dinh dưỡng cao, chứa nhiều

đạm, axit béo không no và dễ tiêu hóa Hơn nữa việc sử dụng Artemia còn rất

thuận tiện, chúng dễ bảo quản và bán sẵn trên thị trường Vì vậy, trong số những nguồn thức ăn tươi sống sử dụng trong ngành chăn nuôi thuỷ sản, ấu

trùng Artemia được sử dụng rất rộng rãi Dòng AF (Artemia franciscana,

Vĩnh Châu - Việt nam) đang được sử dụng hiện nay có kích thước nhỏ, hàm

lượng dinh dưỡng cao, dễ sử dụng và bảo quản Đặc biệt, Artemia ở giai đoạn

mới nở (còn gọi là artemia bung dù) có kích thước nhỏ, hàm lượng dinh dưỡng cao do chưa bị tiêu hao năng lượng trong quá trình phát triển có khả năng dùng làm thức ăn cho ấu trùng tôm cá ngay từ giai đoạn đầu

Hiện nay, việc sử dụng Artemia bung dù làm thức ăn cho giai đoạn

đầu của ấu trùng các loài thủy sản đã được tiến hành khá phổ biến trên tôm,

cua Tuy nhiên, việc sử dụng Artemia ở giai đoạn bung dù còn bị hạn chế về

mặt dinh dưỡng do chưa làm giàu được nên việc phối hợp cho ăn thức ăn sống với thức ăn tổng hợp từ giai đoạn phát triển sớm có thể khắc phục hạn chế dinh dưỡng làm tăng mức tăng trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng so với việc chỉ sử dụng thức ăn sống Việc phối hợp nhằm mục đích làm cải tiến và ổn định điều kiện dinh dưỡng của ấu trùng và nó là điều kiện đầu tiên cho ấu trùng chấp nhận thức ăn tổng hợp khi thức ăn sống không còn ưu thế, kết quả làm rút ngắn giai đoạn ương Đã có một số nghiên cứu về việc kết hợp các loại thức ăn này và và đã đem lại kết quả khả quan Kết quả nghiên cứu thử nghiệm phối hợp thức ăn sống và thức ăn tổng hợp đối với ấu trùng cá bơn (Halibut) của các tác giả G.Rosenlund, J.Stoss, C.Talbot (1997) cho thấy có

Trang 37

29

sự sai khác về mặt thống kê (P<0.001) của khối lượng cơ thể cuối thí nghiệm

giữa công thức có phối hợp thức ăn sống là Artemia và thức ăn công nghiệp

so với công thức chỉ cho ăn Artemia Kết quả cho thấy công thức kết hợp có

tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng cao hơn [1] Điều này cho thấy thức ăn công nghiệp đã bước đầu phát huy được những ưu điểm vốn có Hiện nay việc sử dụng TATH trong ương nuôi THCT đang ngày càng phổ biến hầu hết các cơ

sở sản xuất giống đều sử dụng TATH Đồng thời TATH cũng ngày càng được cải tiến cả về số lượng lẫn chất lượng

Như vậy, thức ăn là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của ấu trùng tôm Qua các kết quả nghiên cứu trong thời gian gần đây đều cho thấy thức ăn luôn tỷ lệ thuận với tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng Trong sản xuất tôm giống thì chế độ dinh dưỡng là một trong những yếu tố quyết định lớn Mỗi giai đoạn của ấu trùng cần một chế độ dinh dưỡng khác

nhau phù hợp với tính ăn của chúng Tảo, Artemia được coi là những thức ăn

chủ yếu được sử dụng trong sản xuất tôm bởi chúng có hàm lượng chất dinh dưỡng cao, khi cho ăn lại ít gây ô nhiễm môi trường nước bể nuôi và ít bị phân hủy giữ môi trường nước nuôi được trong sạch giúp ấu trùng sống và phát triển tốt hơn Ở giai đoạn Postlavae tôm bắt mồi chủ động Thức ăn chủ

yếu là động vật nổi như: Artemia, Copepoda, ấu trùng của giáp xác, ấu trùng

của động vật thân mềm, Cần chú ý ở giai đoạn này, tôm thích ăn mồi sống

nên trong sản xuất nếu cho ăn thiếu N- Artemia, Postlarvae sẽ ăn thịt lẫn

nhau Ấu trùng Artemia là thức ăn quan trọng trong sản xuất tôm giống đặc

biệt ở giai đoạn postlavae Tuy nhiên việc sử dụng Artemia còn có vấn đề bất cập vì giá thành Artemia khá cao Trước thực tế đó, đòi hỏi cần có nhiều

nghiên cứu về sản xuất thức ăn và phối hợp các loại thức ăn sao cho vừa đáp ứng đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng của tôm vừa đảm bảo yêu cầu về giá thành Đây là vấn đề đang được nhiều người sản xuất đặc biệt quan tâm

Trang 38

30

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Tôm He chân trắng (Penaeus vannamei, Boone

1931) giai đoạn đầu PL1 đến cuối PL10)

2.2 Vật liệu, thiết bị sử dụng trong nghiên cứu

+ Các loại thức ăn:

- Artemia Vĩnh Châu và Artemia Red Havest

- Thức ăn tổng hợp bao gồm N0, Lansy post, Fripark, Flakes đỏ

+ Các chế phẩm sinh học, hóa chất sử dụng trong ương nuôi

+ Hệ thống bể lọc nước, bể ximăng 4m3

và các thiết bị phụ trợ khác phục vụ cho quá trình ương nuôi ấu trùng

+ Các thiết bị, dụng cụ xác định các yếu tố môi trường như: tỷ trọng kế, nhiệt kế, test đo môi trường: độ kiềm, pH, NH3, NO2-, máy đo độ mặn

Các dụng cụ khác như kính hiển vi điện tử có thước đo, cân điện tử

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống của tôm He chân trắng giai đoạn PL1- PL10

- Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởng của tôm He chân trắng giai đoạn PL1- PL10

- Đánh giá hiệu quả kinh tế khi sử dụng các loại thức ăn khác nhau

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm

 Sơ đồ khối nghiên cứu:

Trang 39

31

 Bố trí thí nghiệm

- Thí nghiệm được nghiên cứu trên tôm He chân trắng giai đoạn PL1 đến PL10 Thí nghiệm được tiến hành trong 3 đợt, mỗi đợt 3 bể, mỗi công thức 1 bể

- Thí nghiệm được bắt đầu tiến hành khi 50% ấu trùng chuyển sang giai đoạn PL1

- Xác định TĐTT về chiều dài và khối lượng

- Đánh giá hiệu quả kinh tế

Kết luận và kiến nghị

Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của tôm He

chân trắng (Penaeus vannamei) giai đoạn PL1 đến PL10 tại công ty thủy sản

Vina Ninh Hải Ninh Thuận

Kết quả nghiên cứu

Trang 40

32

- Số công thức thí nghiệm: 3 công thức

Công thức 1: Cho ăn 100% artemia

Công thức 2: Cho ăn thức ăn tổng hợp: 40%N0 + 25% Lansyport + 20% Fripark + 15%Flakes đỏ

Công thức 3: Cho ăn kết hợp cả 2 loại thức ăn với tỷ lệ: 40%Atermia + 30%N0 + 15% Lansyport + 10% Fripark + 5%Flakes đỏ

Số lần lặp lại: 3 lần/công thức

- Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp ngẫu nhiên hoàn toàn một nhân tố trong 9 bể gồm 3 công thức, mỗi công thức lặp lại 3 lần

* Điều kiện thí nghiệm:

- Nguồn nước mặn được bơm trực tiếp từ biển qua bể lắng, bể xử lý nước Nước trước khi vào bể nuôi phải được xử lý và kiểm tra chặt chẽ (dư lượng Clo, độ kiềm, pH, độ mặn, )

- Bể xi măng có thể tích 4m3 nước, hình vuông Bề mặt trong của bể được phủ bởi lớp sơn chống thấm có chất lượng đảm bảo

đèn chiếu sáng, sàng lưới 125 µm, xô, chậu, hóa chất Chlorine (thuốc tẩy)

Khối lượng cần ấp = [Số lượng AT tôm x Số lượng AT Artemia cần cho 1 At tôm]/ [Số At Artemia đã nở/ 1gr trứng bào xác khô]

Trước khi ấp tiên hành khử trùng vỏ trứng để làm giảm mầm bệnh (nấm, vi khuẩn) cho ấu trùng tôm, làm tăng tỷ lệ nở của trứng bào xác

Sau đó tiến hành ngâm lượng trứng cần ấp trong nước ngọt khoảng 1

giờ để trứng hút nước Tiếp theo ngâm vào dung dịch thuốc tẩy (Chlorine),

Ngày đăng: 16/09/2021, 16:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Trần Minh Anh (1996), Đặc điểm sinh học và kỹ thuật nuôi tôm He, NXB TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm sinh học và kỹ thuật nuôi tôm He
Tác giả: Trần Minh Anh
Nhà XB: NXB TP. Hồ Chí Minh
Năm: 1996
3. Nguyễn Hải Âu (2004), Tìm hiểu kỹ thuật sản xuất nhân tạo tôm He chân trắng tạ Phú Yên, luận văn tốt nghiệp Đại học thủy sản Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu kỹ thuật sản xuất nhân tạo tôm He chân trắng tạ Phú Yên
Tác giả: Nguyễn Hải Âu
Năm: 2004
4. Tôn Thất Chất (1998), Bài giảng kỹ thuật nuôi giáp xác, trường Đại học nông - lâm Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng kỹ thuật nuôi giáp xác
Tác giả: Tôn Thất Chất
Năm: 1998
5. Hồ Hữu Danh, Tìm hiểu quy trình kỹ thuật ương nuôi ấu trùng Larvae tôm He chân trắng, chuyên đề tốt nghiệp nuôi trồng thủy sản, khoa nông - lâm - ngư, trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu quy trình kỹ thuật ương nuôi ấu trùng Larvae tôm He chân trắng
6. Lục Minh Diệp (2009), Giáo trình kỹ thuật nuôi giáp xác, Đại học thủy sản Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kỹ thuật nuôi giáp xác
Tác giả: Lục Minh Diệp
Năm: 2009
7. Mai Đình Dũng (2007), Ứng dụng quy trình nuôi tôm thẻ chân trắng, mật độ 100 con/m 2 , Phan Kỳ Nam - Kỳ Anh - Hà Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng quy trình nuôi tôm thẻ chân trắng, mật độ 100 con/m"2
Tác giả: Mai Đình Dũng
Năm: 2007
8. Nguyễn Trọng Nho - Ts.Tạ Khắc Thường - Ths. Lục Minh diệp, Kỹ thuật nuôi giáp xác, NXB nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi giáp xác
Nhà XB: NXB nông nghiệp
10. Nguyễn Thị Thanh (2004), Bài giảng quản lý chất lượng nước trong ao NTTS, Khoa Nông – Lâm – Ngư, Trường ĐH Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng quản lý chất lượng nước trong ao NTTS
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh
Năm: 2004
11. Trần Thị Thảo - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ban đầu và một số yếu tố sinh thái đến sự sinh trưởng của quần thể tảo Thalassiosira sp. và thử nghiệm nuôi thu sinh khối ngoài trời”- , khóa luận tốt nghiệp Đại học Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ban đầu và một số yếu tố sinh thái đến sự sinh trưởng của quần thể tảo Thalassiosira sp. và thử nghiệm nuôi thu sinh khối ngoài trời”-
12. Nguyễn Thức Tuấn, Bài giảng kỹ thuật nuôi giáp xác, khoa nông - lâm - ngư, trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng kỹ thuật nuôi giáp xác
13. Lê Chí Viễn (1996), Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của tảo Skeletonema, luận án phó tiến sĩ, viện nghiên cứu hải sản Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của tảo Skeletonema
Tác giả: Lê Chí Viễn
Năm: 1996
15. Bộ Thủy sản, Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch 2006, 15/6/2006. Các bài báo và trang web Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch 2006
16. Cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, 13/7/2011, Để tôm thẻ chân trắng phát triển tốt, Agriviet.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để tôm thẻ chân trắng phát triển tốt
17. Diễn đàn cổng thông tin điện tử tỉnh Cà Mau, 10/2008, Kỹ thuật nuôi tôm thẻ chân trắng ở miền Tây, Camau.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi tôm thẻ chân trắng ở miền Tây
18. Diễn đàn và bình luận - SGGP 27/11/2001. kỹ thuật nuôi tôm thẻ chân trắng – white shrim, vietlinh.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: kỹ thuật nuôi tôm thẻ chân trắng – white shrim
19. Nguyễn Duy (1998), Tôm biển, tôm giống- yêu cầu kỹ thuật, fisternet.gov.vn 20. Tap chí thương mại thủy sản (2005), Nuôi tôm chân trắng ở Việt Nam,Vietfish.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôm biển, tôm giống- yêu cầu kỹ thuật, "fisternet.gov.vn 20. Tap chí thương mại thủy sản (2005), "Nuôi tôm chân trắng ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Duy (1998), Tôm biển, tôm giống- yêu cầu kỹ thuật, fisternet.gov.vn 20. Tap chí thương mại thủy sản
Năm: 2005
23. Thành Công (2011), Tôm thẻ chân trắng nhiều điểm mạnh cần nhìn nhận, báo Tiền Giang 21/08/2011.II. Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôm thẻ chân trắng nhiều điểm mạnh cần nhìn nhận
Tác giả: Thành Công
Năm: 2011
25. Global Aquaculture, Advocate, 1 – 2/2011, Hằng Vân dịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Global Aquaculture, Advocate, 1 – 2/2011
1. Nguyễn Thi Ngọc Anh(2006), Sử dụng sinh khối Artemia trong ương nuôi các loài thủy sản nước lợ, luận văn thạc sĩ, Đại học Cần Thơ Khác
9. Nguyễn Xuân Quang, Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau đến sự tăng trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng tôm he Chân Trắng Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.3. Hoạt động giao vĩ - Hoạt động đẻ trứng:  - Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của tôm he chân trắng (penaeus vannamei) giai đoạn pl10 tại công ty thủy sản vina ninh hải   ninh thuận
Hình 1.3. Hoạt động giao vĩ - Hoạt động đẻ trứng: (Trang 14)
Hình 1.4. Các giai đoạn phát triển của ấu trùng THCT  * Giai đoạn Nauplius (N) - Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của tôm he chân trắng (penaeus vannamei) giai đoạn pl10 tại công ty thủy sản vina ninh hải   ninh thuận
Hình 1.4. Các giai đoạn phát triển của ấu trùng THCT * Giai đoạn Nauplius (N) (Trang 15)
Hình 1.5. Vòng đời tôm He chân trắng ngoài tự nhiên - Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của tôm he chân trắng (penaeus vannamei) giai đoạn pl10 tại công ty thủy sản vina ninh hải   ninh thuận
Hình 1.5. Vòng đời tôm He chân trắng ngoài tự nhiên (Trang 18)
Bảng 1.2. Tình hình sản xuất giống tôm He chân trắng ở một số nước châu Á (năm 2002) [11]  - Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của tôm he chân trắng (penaeus vannamei) giai đoạn pl10 tại công ty thủy sản vina ninh hải   ninh thuận
Bảng 1.2. Tình hình sản xuất giống tôm He chân trắng ở một số nước châu Á (năm 2002) [11] (Trang 25)
Hình 1.6. Sự phát triển của một bào xác Artemia từ khi ấp trong nước biển đến khi nở ra các nauplius  - Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của tôm he chân trắng (penaeus vannamei) giai đoạn pl10 tại công ty thủy sản vina ninh hải   ninh thuận
Hình 1.6. Sự phát triển của một bào xác Artemia từ khi ấp trong nước biển đến khi nở ra các nauplius (Trang 31)
Bảng 1.4. Kích thước, trọng lượng khô của cá thể và hàm lượng năng lượng của nauplius Artemia ở giai đoạn Instar I từ các nguồn bào xác  khác nhau nở trong các điều kiện tiêu chuẩn  - Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của tôm he chân trắng (penaeus vannamei) giai đoạn pl10 tại công ty thủy sản vina ninh hải   ninh thuận
Bảng 1.4. Kích thước, trọng lượng khô của cá thể và hàm lượng năng lượng của nauplius Artemia ở giai đoạn Instar I từ các nguồn bào xác khác nhau nở trong các điều kiện tiêu chuẩn (Trang 32)
Hình 1.7. Artemia giai đoạn bung dù - Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của tôm he chân trắng (penaeus vannamei) giai đoạn pl10 tại công ty thủy sản vina ninh hải   ninh thuận
Hình 1.7. Artemia giai đoạn bung dù (Trang 34)
qua bảng sau: - Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của tôm he chân trắng (penaeus vannamei) giai đoạn pl10 tại công ty thủy sản vina ninh hải   ninh thuận
qua bảng sau: (Trang 35)
Qua các số liệu trên bảng 3.1, tôi nhận thấy trong thời gian tiến hành đề tài nhiệt độ môi trường bể ương nuôi có sự khác nhau ở các CTTA - Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của tôm he chân trắng (penaeus vannamei) giai đoạn pl10 tại công ty thủy sản vina ninh hải   ninh thuận
ua các số liệu trên bảng 3.1, tôi nhận thấy trong thời gian tiến hành đề tài nhiệt độ môi trường bể ương nuôi có sự khác nhau ở các CTTA (Trang 45)
Bảng 3.1. Diễn biến các yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm - Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của tôm he chân trắng (penaeus vannamei) giai đoạn pl10 tại công ty thủy sản vina ninh hải   ninh thuận
Bảng 3.1. Diễn biến các yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm (Trang 45)
Hình 3.1. Sự biến động nhiệt độ trong quá trình thí nghiệm - Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của tôm he chân trắng (penaeus vannamei) giai đoạn pl10 tại công ty thủy sản vina ninh hải   ninh thuận
Hình 3.1. Sự biến động nhiệt độ trong quá trình thí nghiệm (Trang 46)
Hình 3.2. Diễn biến độ mặn trong quá trình thí nghiệm - Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của tôm he chân trắng (penaeus vannamei) giai đoạn pl10 tại công ty thủy sản vina ninh hải   ninh thuận
Hình 3.2. Diễn biến độ mặn trong quá trình thí nghiệm (Trang 48)
Hình 3.3. Sự biến động hàm lượng NH3 trong quá trình thí nghiệm Nhìn chung, hàm lượng NH 3  trong quá trình thí nghiệm giao động từ 0 -  0.1 - Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của tôm he chân trắng (penaeus vannamei) giai đoạn pl10 tại công ty thủy sản vina ninh hải   ninh thuận
Hình 3.3. Sự biến động hàm lượng NH3 trong quá trình thí nghiệm Nhìn chung, hàm lượng NH 3 trong quá trình thí nghiệm giao động từ 0 - 0.1 (Trang 49)
Hình 3.4. Kết quả theo dõi độ kiềm trong quá trình thí nghiệm Từ hình 3.4  ta thấy rằng: độ kiềm giao động trong khoảng 120  - 140  mg/l - Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của tôm he chân trắng (penaeus vannamei) giai đoạn pl10 tại công ty thủy sản vina ninh hải   ninh thuận
Hình 3.4. Kết quả theo dõi độ kiềm trong quá trình thí nghiệm Từ hình 3.4 ta thấy rằng: độ kiềm giao động trong khoảng 120 - 140 mg/l (Trang 50)
Hình 3.5. Tỷ lệ sống của tôm theo giai đoạn - Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của tôm he chân trắng (penaeus vannamei) giai đoạn pl10 tại công ty thủy sản vina ninh hải   ninh thuận
Hình 3.5. Tỷ lệ sống của tôm theo giai đoạn (Trang 52)
Bảng 3.3. Tỷ lệ sống tích lũy của tôm trong quá trình thí nghiệm - Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của tôm he chân trắng (penaeus vannamei) giai đoạn pl10 tại công ty thủy sản vina ninh hải   ninh thuận
Bảng 3.3. Tỷ lệ sống tích lũy của tôm trong quá trình thí nghiệm (Trang 53)
Hình 3.6. Tỷ lệ sống tích lũy của tôm trong quá trình thí nghiệm Quan sát biểu đồ ta thấy kết thúc thí nghiệm tỷ lệ sống ở CT1 và CT3  tương đương nhau và đạt cao hơn CT2 - Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của tôm he chân trắng (penaeus vannamei) giai đoạn pl10 tại công ty thủy sản vina ninh hải   ninh thuận
Hình 3.6. Tỷ lệ sống tích lũy của tôm trong quá trình thí nghiệm Quan sát biểu đồ ta thấy kết thúc thí nghiệm tỷ lệ sống ở CT1 và CT3 tương đương nhau và đạt cao hơn CT2 (Trang 55)
Hình 3.7. Tăng trưởng về chiều dài thân trung bình - Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của tôm he chân trắng (penaeus vannamei) giai đoạn pl10 tại công ty thủy sản vina ninh hải   ninh thuận
Hình 3.7. Tăng trưởng về chiều dài thân trung bình (Trang 57)
Bảng 3.5. Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài thân của tôm - Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của tôm he chân trắng (penaeus vannamei) giai đoạn pl10 tại công ty thủy sản vina ninh hải   ninh thuận
Bảng 3.5. Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài thân của tôm (Trang 59)
Hình 3.8. Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài của tôm - Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của tôm he chân trắng (penaeus vannamei) giai đoạn pl10 tại công ty thủy sản vina ninh hải   ninh thuận
Hình 3.8. Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài của tôm (Trang 60)
Hình 3.9. Tăng trưởng về khối lượng trung bình của tôm - Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của tôm he chân trắng (penaeus vannamei) giai đoạn pl10 tại công ty thủy sản vina ninh hải   ninh thuận
Hình 3.9. Tăng trưởng về khối lượng trung bình của tôm (Trang 62)
Hình 3.10. Tốc độ tăng trưởng tương đối về khối lượng của tôm - Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của tôm he chân trắng (penaeus vannamei) giai đoạn pl10 tại công ty thủy sản vina ninh hải   ninh thuận
Hình 3.10. Tốc độ tăng trưởng tương đối về khối lượng của tôm (Trang 65)
Bảng 3.10. Bảng hạch toán kinh tế bình quân của các nghiệm thức - Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của tôm he chân trắng (penaeus vannamei) giai đoạn pl10 tại công ty thủy sản vina ninh hải   ninh thuận
Bảng 3.10. Bảng hạch toán kinh tế bình quân của các nghiệm thức (Trang 66)
PHỤ LỤC 2. MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG QUÁ TRÌNH THỰC TẬP - Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của tôm he chân trắng (penaeus vannamei) giai đoạn pl10 tại công ty thủy sản vina ninh hải   ninh thuận
2. MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG QUÁ TRÌNH THỰC TẬP (Trang 72)
Hình ảnh Artemia - Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của tôm he chân trắng (penaeus vannamei) giai đoạn pl10 tại công ty thủy sản vina ninh hải   ninh thuận
nh ảnh Artemia (Trang 73)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w