BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH DƯƠNG THỊ HOA ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN ĐẾN TỶ LÊ SỐNG, THỜI GIAN BIẾN THÁI VÀ TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG CỦA ẤU TRÙNG TÔM THẺ CHÂN TRẮNG Penaeus vanname
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
DƯƠNG THỊ HOA
ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN ĐẾN TỶ LÊ SỐNG, THỜI GIAN BIẾN THÁI VÀ TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG CỦA ẤU TRÙNG TÔM THẺ CHÂN TRẮNG ( Penaeus vannamei) GIAI ĐOẠN ZOEA TẠI
CÔNG TY CHĂN NUÔI CP VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
VINH - 2012
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa học, đồng thời để hoàn thành được bản khóa luận tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của nhiều đơn vị, cá nhân và tổ chức
Trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo hướng dẫn Th.s Trần Thị Kim Anh và Th.s Trương Thị Thành Vinh, là người đã tận tình hướng dẫn
và giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này
Tiếp đến tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo, lãnh đạo trường Đại học Vinh, Ban chủ nhiệm khoa Nông Lâm Ngư, tổ bộ môn Nuôi trồng thủy sản đã tạo điều kiện giúp đỡ về mọi mặt cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường, truyền dạy cho tôi những kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong hơn 4 năm qua
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới lãnh đạo công ty cổ phần chăn nuôi CP.Việt Nam và các anh chị trong công ty đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về cơ
sở vật chất cũng như hướng dẫn tôi trong thời gian thực tập
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, các anh chị đã luôn
cổ vũ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Vinh, Tháng 5 năm 2012
Dương Thị Hoa
Trang 3MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Một số đặc điểm sinh học của tôm thẻ chân trắng 3
1.1.1 Hệ thống phân loại 3
1.1.2 Đặc điểm hình thái 4
1.1.3 Đặc điểm phân bố 4
1.1.4 Đặc điểm sinh học sinh sản của tôm thẻ chân trắng 5
1.1.5 Đặc điểm của các giai đoạn phát triển ấu trùng tôm thẻ 7
1.1.6 Đặc điểm dinh dưỡng 10
1.2 Tình hình nghiên cứu sản xuất giống tôm thẻ chân trắng Penaeus vannamei trên thế giới và Việt Nam 12
1.2.1 Tình hình sản xuất giống tôm thẻ chân trắng trên thế giới 12
1.2.2 Tình hình sản xuất giống thẻ chân trắng ở Việt Nam 15
1.3 Tình hình nghiên cứu sử dụng một số loại thức ăn trong sản xuất giống tôm thẻ chân trắng 19
1.3.1 Tảo Thalassiosira pseudonana 22
1.3.2 Tảo Chaetoceros sp 24
1.4 Đặc điểm tự nhiên tại Phù Mỹ - Bình Định 27
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU….… 28
2.1 Đối tượng nghiên cứu 28
2.2 Vật liệu nghiên cứu 28
2.3 Nội dung của đề tài 28
2.4 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 28
2.5 Phương pháp nghiên cứu 28
Trang 42.51 Phương pháp bố trí thí nghiệm 28
2.5.2 Phương pháp xác định một số chỉ tiêu nghiên cứu 31
2.5.3 Phương pháp xử lý số liệu 33
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34
3.1 Kết quả theo dõi các yếu tố môi trường 34
3.2 Ảnh hưởng của các công thức thức ăn lên tỷ lệ sống của ấu trùng tôm thẻ chân trắng 39
3.3 Ảnh hưởng của các công thức thức ăn lên thời gian biến thái của ấu trùng tôm thẻ chân trắng 44
3.4 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởng ấu trùng tôm thẻ chân trắng giai đoạn Zoea 48
3.4.1 Sự tăng trưởng về chiều dài của ấu trùng Zoea 48
3.4.2 Tốc độ tăng trưởng về chiều dài của ấu trùng tôm thẻ chân trắng 51
3.4.3 Tăng trưởng về khối lượng của ấu trùng Zoea 53
3.4.4 Tốc độ tăng trưởng về khối lượng của ấu trùng tôm thẻ chân trắng 54
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TTCT : tôm thẻ chân trắng
CT : công thức CTTA : công thức thức ăn TLS : tỷ lệ sống
TGBT : thời gian biến thái TĐTT : tốc độ tăng trưởng
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Trang Bảng 1.1 Tình hình sản xuất giống tôm thẻ chân trắng ở một số nước
châu Á (năm 2002) 14Bảng 1.2 Tình hình sản xuất tôm giống tại Việt Nam 18 Bảng 1.3 Hàm lượng PUFA của một số loài tảo 24 Bảng 1.4 Thành phần dinh dưỡng của vi tảo tính theo khối lượng khô
tế bào 25 Bảng 3.1 Kết quả theo dõi một số yếu tố môi trường trong các bể thí
nghiệm 34 Bảng 3.2 Tỷ lệ sống theo giai đoạn của ấu trùng trong quá trình thí
nghiệm 39 Bảng 3.3 Tỷ lệ sống tích lũy của ấu trùng trong quá trình thí nghiệm 41 Bảng 3.4 Thời gian biến thái của ấu trùng Zoea trong thời gian thí
nghiệm 45 Bảng 3.5 Tăng trưởng trung bình về chiều dài thân tôm ở các CTTA 48 Bảng 3.6 Chiều dài trung bình (mm) của ấu trùng TTCT so sánh với
tôm Bạc 48
Bảng 3.7 TĐTT tuyệt đối ALG (mm/ngày) về chiều dài toàn thân 51 Bảng 3.8 TĐTT tương đối RLG (%/ngày) về chiều dài toàn thân 52 Bảng 3.9 Tăng trưởng trung bình về khối lượng ấu trùng Zoea ở các
CTTA 53 Bảng 3.10 TĐTT tuyệt đối ALG (10-5g/ấu trùng) về khối lượng 54
Bảng 3.11 TĐTT tương đối RLG (%/ngày) về khối lượng 55
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 1.1 Tôm thẻ chân trắng Penaeus vannamei (Boone, 1931) 3
Hình 1.2 Vòng đời tôm thẻ chân trắng ngoài tự nhiên 5
Hình 1.3 Trứng của tôm thẻ chân trắng 7
Hình 1.4 Các giai đoạn phát triển ấu trùng tôm thẻ chân trắng 8
Hình 1.5 Hình ảnh tế bào tảo Thalassiosira pseudonana 22
Hình 1.6 Các pha phát triển của tảo 23
Hình 1.7 Hình ảnh tảo Chaetoceros sp 24
Hình 3.1 Sự biến động hàm lượng NH3 trong quá trình thí nghiệm 37
Hình 3.2 Diễn biến yếu tố độ kiềm trong các bể thí nghiệm 38
Hình 3.3 Tỷ lệ sống theo giai đoạn của ấu trùng ở các CTTA 40
Hình 3.4 Tỷ lệ sống tích lũy của ấu trùng Zoea trong quá trình thí nghiệm 42
Hình 3.5 Thời gian biến thái của ấu trùng Zoea ở các CTTA 45
Hình 3.6 Tổng thời gian biến thái của của ấu trùng Zoea ở các CTTA 47
Hình 3.7 Tăng trưởng trung bình về chiều dài ấu trùng tôm ở các CTTA và tôm Sú 50
Hình 3.8 Tăng trưởng trung bình về khối lượng ấu trùng tôm ở các CTTA 53
Trang 8MỞ ĐẦU
Tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei) là loài nuôi phổ biến trên thế
giới với sản lượng đạt trên 2,85 triệu tấn năm 2010 Năm 1997 tôm thẻ chân trắng (TTCT) chỉ chiếm 10% tổng sản lượng tôm thế giới, nhưng đến năm
2010 đã chiếm trên 85% [20] Ở Việt Nam giá trị xuất khẩu của riêng tôm chân trắng năm 2010 đã đạt 414,6 triệu USD, tăng gấp rưỡi so với năm 2009, bằng 20% giá trị xuất khẩu tôm nói chung và bằng 8% tổng giá trị xuất khẩu tất cả các sản phẩm thủy sản Diện tích nuôi TTCT cũng liên tục tăng, năm
2002, diện tích nuôi TTCT của cả nước là 1.710 ha, sản lượng 10.000 tấn Đến năm 2007 diện tích nuôi đạt 4.000 ha với sản lượng đạt 30.000 tấn, năm
2008, diện tích nuôi đã lên đến khoảng 8.000 ha, năm 2009 là 14.500 ha và đến năm 2010 đã tăng trên 25.300 ha [18] Như vậy cho đến nay thời gian cho phép thả nuôi đại trà TTCT trên cả nước chỉ mới hơn 3 năm nhưng nó đã góp phần không nhỏ trong việc ổn định nguồn cung cấp nguyên liệu cho chế biến, duy trì và đẩy mạnh giá trị xuất khẩu tôm nói riêng và kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước nói chung
Với lợi thế dễ thích nghi các vùng sinh thái, tăng trưởng nhanh, thời vụ nuôi ngắn, có thể nuôi thâm canh với mật độ cao lên tới 140 - 180 con/m2 và
có khả năng tăng vụ, TTCT được người nuôi lựa chọn là đối tượng nuôi chủ lực thay thế tôm sú thường xuyên bị thua lỗ do dịch bệnh Tuy nhiên sự phát triển của nghề còn phụ thuộc rất lớn vào nhiều yếu tố khác như chất lượng con giống, nguồn thức ăn, khả năng áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và kiểm soát dịch bệnh [20]
Trong đó thức ăn là một yếu tố quan trọng quyết định rất lớn đến sự sinh trưởng và phát triển và năng suất tôm nuôi Trong sản xuất giống TTCT
để tạo ra con giống tốt, đạt tỷ lệ sống cao, thời gian chuyển giai đoạn nhanh, hạn chế xẩy ra dịch bệnh thì việc nghiên cứu tìm ra chế độ ăn thích hợp cho
Trang 9từng giai đoạn của ấu trùng là một trong những khâu quan trọng quyết định sự thành bại của sản xuất giống nhân tạo TTCT ở Việt Nam
Trước thực tế đó, được sự đồng ý của khoa Nông Lâm Ngư, bộ môn thủy sản và sự giúp đỡ của công ty chăn nuôi CP Việt Nam, tôi tiến hành thực
hiện đề tài: “Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái và tốc độ tăng trưởg của ấu trùng tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei) giai đoạn Zoea tại công ty chăn nuôi CP Việt Nam”
Mục tiêu của đề tài:
Xác định thức ăn phù hợp để rút ngắn thời gian biến thái, nâng cao tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của ấu trùng Zoea góp phần hoàn thiện quy trình sản xuất giống nhân tạo tôm thẻ chân trắng tại cơ sở
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số đặc điểm sinh học của tôm thẻ chân trắng
1.1.1 Hệ thống phân loại
Tôm thẻ chân trắng có hệ thống phân loại như sau:
Ngành: chân khớp Arthropoda
Lớp: Giáp xác Crustacea
Bộ: Mười chân Decapoda
Bộ phụ Bơi lội: Macrurala Natantia
Họ: Tôm he Penaeidae, 1805
Giống: Tôm he Penaeus (Fabricius, 1978)
Loài: Tôm nhiệt đới Penaeus vannamei, Boone 1931
- Tên tiếng Anh : White Leg shrimp
- Tên khoa học : Penaeus vannamei (Boone, 1931)
- Tên của FAO : Camaron patiblanco
- Tên Việt Nam : Tôm Thẻ Chân Trắng
Hình 1.1 Tôm thẻ chân trắng Penaeus vannamei (Boone, 1931)
Trang 111.1.2 Đặc điểm hình thái
Cơ thể TTCT chia làm hai phần: đầu ngực (Cephalothorax) và phần bụng (Abdomen)
Phần đầu ngực có 14 đôi phần phụ bao gồm:
+ Chủy tôm gồm có 2 răng cưa ở bụng và 8 - 9 răng cưa ở lưng
+ 1 đôi mắt kép có cuống mắt
+ 2 đôi râu: Anten 1(A1) và Anten 2(A2) A1 ngắn, đốt 1 lớn và có hốc mắt, hai nhánh ngắn A2 có nhánh ngoài biến thành vẩy râu (Antennal scale), nhánh trong kéo dài Hai đôi râu này giữ chức năng khứu giác và giữ thăng bằng
+ 3 đôi hàm: đôi hàm lớn, đôi hàm nhỏ 1 và đôi hàm nhỏ 2
+ 3 đôi chân hàm (Maxilliped) có chức năng giữ mồi, ăn mồi và hỗ trợ hoạt động bơi lội của tôm
+ 5 đôi chân bò hay chân ngực (walking legs), giúp cho tôm bò trên mặt đáy
Ở tôm cái, giữa gốc chân ngực 4 và 5 có thelycum (cơ quan sinh dục ngoài, nơi nhận và giữ túi tinh từ con đực chuyển sang)
Phần bụng có 7 đốt: 5 đốt đầu, mỗi đốt mang một đôi chân bơi hay còn gọi là chân bụng (Pleopds hay Swimming legs) Mỗi chân bụng có một đốt chung bên trong Đốt ngoài chia làm hai nhánh: nhánh trong và nhánh ngoài, đốt bụng thứ 7 biến thành telson hợp với đôi chân đuôi phân thành nhánh tạo thành đuôi giúp cho tôm chuyển động lên xuống và búng nhảy Ở tôm đực, hai nhánh trong của đôi chân bụng 2 biến thành đôi phụ bộ đực - là bộ phận sinh dục bên ngoài của tôm [6]
1.1.3 Đặc điểm phân bố
Tôm thẻ chân trắng là một loài ngoài tự nhiên sống ở vùng biển có đáy cát, ở độ sâu từ 0,5 - 72m Giai đoạn ấu trùng tôm có thể sống ở độ mặn 25 -
Trang 1235‰, nhiệt độ 27 - 310C, nhưng thích nghi tốt nhất ở độ mặn 28 - 33‰, nhiệt
độ 28 - 300
C, pH 7,7 - 8,2, nồng độ NH3 < 0,1mg/l, độ kiềm thích hợp cho giai đoạn này là từ 120 - 150mg/l [6] Tuy nhiên sự phân bố của tôm thẻ cũng thay đổi tùy từng giai đoạn phát triển Giai đoạn ấu trùng và Potslarvae 5 tôm sống trôi nổi ở tầng mặt và ở tầng giữa, từ cuối giai đoạn Potslarvae tôm bắt đầu chuyển sang sống đáy Độ sâu tối đa bắt gặp tôm thẻ phân bố là 180m Hiện nay, loài tôm này được phân bố ở châu Mỹ La Tinh, Đài loan, Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam và một số nước khác trên thế giới
Vòng đời của tôm thẻ chân trắng ngoài tự nhiên
Hình 1.2 Vòng đời tôm thẻ chân trắng ngoài tự nhiên
1.1.4 Đặc điểm sinh học sinh sản của tôm thẻ chân trắng
Bãi đẻ, mùa vụ sinh sản
Trong tự nhiên, tôm thẻ trưởng thành, sinh sản ở trong những vùng biển có độ sâu 70 mét với nhiệt độ 26 - 28 0
C, độ mặn khá cao (35‰) Trứng
nở ra ấu trùng và vẫn loanh quanh ở khu vực sâu này Tới giai đoạn larvae, chúng bơi vào gần bờ và sinh sống ở đáy những vùng cửa sông cạn
Trang 13Post-Nơi đây điều kiện môi trường rất khác biệt: thức ăn nhiều hơn, độ mặn thấp hơn, nhiệt độ cao hơn, Sau 1 vài tháng, tôm con trưởng thành, chúng bơi ngược ra biển và tiếp diễn cuộc sống giao hợp, sinh sản làm trọn chu kỳ
Tùy vào nhiệt độ nước mà mùa vụ sinh sản của tôm cũng thay đổi theo từng khu vực Ở biển quanh năm đều bắt được tôm mẹ ôm trứng Ở bắc Ecuador mùa đẻ rộ vào tháng 4 - 5, ở Peru mùa đẻ chủ yếu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Tôm thẻ chân trắng thuộc loại hình sinh sản túi chứa tinh hở khác với loại hình túi chứa tinh kín như tôm Sú và tôm he Nhật Bản
Cơ quan sinh dục
Cơ quan sinh dục của con đực gồm 2 ống dẫn tinh, 2 tinh hoàn màu trắng sữa nằm ở phần đầu ngực và ống dẫn đổ ra ở gốc chân bò số 5, cơ quan sinh dục ngoài có Petasma
Cơ quan sinh dục trong của con cái là đôi buồng trứng gồm 2 dải nằm trên mặt lưng, kéo dài từ hốc mắt tới đốt bụng thứ 6, cơ quan sinh sản ngoài là Thelycum, là nơi chứa túi tinh sau khi giao vĩ
Sức sinh sản
Sức sinh sản của tôm phụ thuộc vào kích thước, khối lượng tôm mẹ Tôm mẹ có khối lượng từ 35g, lượng trứng 100.000 - 250.000 hạt, trứng có đường kính 0,22 mm Ngoài ra tôm thành thục trong tự nhiên và tôm nuôi trong ao đầm cũng có sức sinh sản khác nhau Tôm thẻ chân trắng có thể đẻ rải rác quanh năm nhưng tập trung vào tháng 3 đến tháng 5 và đầu tháng 7 đến tháng 8 Tôm thẻ chân trắng có thể đẻ từ 200.000 - 1.000.000 trứng Sự phát triển của trứng sau khi đẻ đến giai đoạn đầu tiên của Nauplius diễn ra trong khoảng 12 - 14 giờ
Hoạt động đẻ trứng của tôm thẻ chân trắng:
Trong thiên nhiên tôm trưởng thành, giao vĩ, sinh sản trong những vùng biển có độ sâu 70 m với nhiệt độ 26 - 280C, độ mặn khá cao khoảng 35‰
Trang 14Tôm cái đẻ trứng chủ yếu vào thời gian 21 giờ tối đến 3 giờ sáng Thời gian bắt đầu đẻ cho tới khi kết thúc chỉ mất 1 - 2 phút Trứng sau khi đẻ có màu vỏ đậu xanh Các chùm tinh của tôm đực cũng được tái sinh nhiều lần Sau khi đẻ xong trứng trải qua các giai đoạn ấu trùng, tới Post-larvae bơi vào gần bờ sông, sau vài tháng tôm con trưởng thành và bơi ra biển rồi giao vĩ tiếp Trứng tôm cái đã thành thục nhưng không được thụ tinh vẫn có thể đẻ trứng nhưng ấp trứng không nở
Hình 1.3 Trứng của tôm thẻ chân trắng
1.1.5 Đặc điểm của các giai đoạn phát triển ấu trùng tôm thẻ
Căn cứ vào đặc điểm cấu tạo hình thái ngoài và tập tính bắt mồi người
ta chia ấu trùng TTCT thành bốn giai đoạn: Nauplius, Zoea, Mysis, larvea, và mỗi giai đoạn ấu trùng lại bao gồm nhiều giai đoạn phụ [1]
Post- Giai đoạn Nauplius (N)
Ấu trùng Nauplius trải qua 6 lần lột xác và 6 giai đoạn phụ Là giai đoạn đầu tiên của ấu trùng phù du, dinh dưỡng bằng noãn hoàng mà không sử dụng thức ăn bên ngoài Có hình dạng rất khác bố mẹ: ấu trùng hình quả lê có
ba đôi phần phụ và một điểm mắt Cuối N6 hệ tiêu hóa bắt đầu hoạt động, Bơi
Trang 15lội bằng 3 đôi phần phụ, vận động theo kiểu zíc zắc, không định hướng và không liện tục
Giai đoạn Zoea
Sau lần lột xác thứ 5 ấu trùng Nauplius chuyển sang giai đoạn Zoea, thay đổi hẳn về hình thái.Đặc điểm thay đổi lớn nhất ở giai đoạn này chính là việc ấu trùng bắt đầu sử dụng thức ăn bên ngoài, cử động rất yếu ớt, bơi lội chậm và ngữa bụng Do tập tính sống trôi nổi, bắt mồi thụ động bằng các phụ
bộ, giai đoạn này chúng ăn lọc cho nên chúng ăn tất cả những gì vừa cở miệng Hệ tiêu hoá đã hình thành tương đối hoàn chỉnh, màng ruột dao động theo kiểu hình sin nên thức ăn được đẩy dọc theo ống tiêu hoá, một phần nhỏ thức ăn được tiêu hoá và hấp thụ qua màng ruột, phần lớn còn lại được thải ra ngoài qua hậu môn tạo thành đuôi phân, vì lý do này nên ấu trùng Zoea có tập tính ăn liên tục, do đó trong sản xuất giống nhân tạo cần cho ăn nhiều lần trong ngày
Hình 1.4 Các giai đoạn phát triển ấu trùng tôm thẻ chân trắng
Trang 16Thời gian mỗi giai đoạn phụ của Zoea phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường, điều kiện dinh dưỡng cũng như thể trạng của ấu trùng Trong đó điều kiện môi trường được coi là yếu tố quan trọng nhất Nếu nhiệt độ từ 28 - 290C thời gian mỗi giai đoạn phụ khoảng 30 - 36 giờ Nhiệt độ từ 26 - 280C thời gian mỗi giai đoạn phụ khoảng 42 - 48 giờ và nếu nhiệt độ dưới 260C thời gian cho mỗi giai đoạn là 52 giờ Ngoài ra trong giai đoạn này ấu trùng có tập tính hướng quang rất mạnh nên chúng ta phải chú ý hạn chế tối đa ánh sáng chiếu vào bể ương bằng cách che bạt đen kín ở bể ương [6].
Giai đoạn Zoea có 3 giai đoạn phụ: Zoea1 (Z1), Zoea2 (Z2), Zoea3 (Z3)
- Zoea1 (Z1)
+ Cơ thể kéo dài, chia làm hai phần: phần đầu có vỏ giáp lỏng lẻo và một phần bụng chưa phân đốt có chạc đuôi Có thể phân biệt bằng mắt thường hai giai đoạn N5 và Z1
+ Mắt đã xuất hiện nhưng chưa vươn cao lên khỏi Carapace
+ Những đặc điểm khác: Ống tiêu hóa chạy từ miệng đến hậu môn Có thể nhìn thấy thức ăn khi ấu trùng đang ăn
+ Chiều dài thân khoảng 1 mm, chiều rộng khoảng 0,49 mm
- Zoea 2 (Z2)
+ Chiều dài khoảng 1,9 mm Chủy (Rostrum): đã xuất hiện
+ Hai mắt xuất hiện hoàn chỉnh, đã vượt ra khỏi đầu ngực (Carapace)
- Zoea 3 (Z3)
+ Chiều dài cơ thể khoảng 2,7mm
Sau khi hoàn tất giai đoạn Z3, ấu trùng trở thành Mysis Giai đoạn này đặc trưng bởi sự thay đổi đặc tính của ấu trùng đó là hiện tượng bơi búng ngược về phía sau với đầu chúc xuống dươi, vận động bằng chân bò
Giai đoạn Mysis
Trang 17Ấu trùng M bơi lội kiểu búng ngược, vận động chủ yếu bởi 5 đôi chân
bò Mysis bắt mồi chủ động, thức ăn chủ yếu là động vật nổi Tuy nhiên chúng vẫn có thể ăn tảo silic, đặc biệt là ở giai đoạn phụ M1 và M2
Giai đoạn Postlarvae (PL)
+ Có hình dạng của loài nhưng sắc tố chưa hoàn thiện
+ Bơi thẳng, có định hướng về phía trước, bơi lội chủ yếu nhờ 5 đôi chân bụng
+ Hoạt động nhanh nhẹn, bắt mồi chủ động, thức ăn chủ yếu là động vật nổi Thời gian giữa 2 lần lần lột xác phụ thuộc nhiệt độ nước và đặc điểm loài
1.1.6 Đặc điểm dinh dưỡng
Thức ăn
Trong thiên nhiên thức ăn của TTCT thay đổi theo từng giai đoạn phát triển và có liên quan mật thiết đến sinh vật phù du và sinh vật đáy Giai đoạn còn nhỏ ăn động vật, thực vật phù du Giai đoạn lớn hơn tôm ăn chủ yếu là động vật phù du Tôm có thể ăn thịt lẫn nhau khi lột xác hoặc thiếu thức ăn
+ Giai đoạn Nauplius
Tôm dinh dưỡng bằng noãn hoàng dự trữ, chưa ăn thức ăn ngoài Đến cuối N6 hệ tiêu hóa bắt đầu có sự chuyển động nhu động
+ Giai đoạn Zoea
Ấu trùng Zoea thiên về ăn lọc, ăn mồi liên tục, thức ăn là thực vật nổi,
chủ yếu là tảo như: Skeletonema costatum, Chaetoceros, Cossinodiscus,
Nitzschia, Thalassiosrira pseudonana Ở giai đoạn này ấu trùng ăn mồi liên
tục, thức ăn trong ruột không ngắt quảng, đuôi phân dài cho nên mật độ thức
ăn trong môi trường nước phải đạt mật độ đủ cho Zoea có thể lọc mồi liên tục suốt giai đoạn này Mật độ thức ăn tăng dần từ Z1 đến Z3 Ngoài hình thức ăn lọc là chủ yếu, ở giai đoạn này ấu trùng còn có khả năng bắt mồi chủ động
Trang 18Khả năng này tăng dần từ Z1 đến Z3 đặc biệt là cuối Z3 trở đi Thức ăn của
ấu trùng Zoea chủ yếu là các loại tảo (Thalassiosira sp, Chaetoceros sp), hoặc
các loài tảo lục Hiện nay trong ương nuôi ấu trùng tôm thẻ chân trắng, giai
đoạn Zoea người ta thường sử dụng thêm tảo khô Spirulina sp kết hợp với thức ăn tổng hợp, tảo tươi và Artemia
+ Giai đoạn Mysis
Tôm bắt mồi chủ động Thức ăn chủ yếu là động vật nổi như luân
trùng, ấu trùng Nauplius Copepoda, Nauplius Artemia, ấu trùng động vật thân
mềm Tuy nhiên, thực tế sản xuất cho thấy ấu trùng Mysis vẫn có khả năng
ăn được tảo Silic
+ Giai đoạn Postlarvae
Tôm bắt mồi chủ động Thức ăn chủ yếu là động vật nổi như: Artemia,
Copepoda, ấu trùng của giáp xác, ấu trùng của động vật thân mềm, Cần chú
ý ở giai đoạn này, tôm thích ăn mồi sống nên trong sản xuất nếu cho ăn thiếu
Artemia, Post-larvae sẽ ăn thịt lẫn nhau
+ Thời kỳ ấu niên đến trưởng thành
Từ thời kỳ ấu niên, tôm thẻ thể hiện tính ăn của loài (ăn tạp, thiên về ăn động vật) Thức ăn của tôm là các động vật khác như giáp xác, động vật thân mềm, giun nhiều tơ, cá nhỏ
Trong sản xuất giống nhân tạo ấu trùng tôm thẻ còn được cho ăn các loại thức ăn nhân tạo tự chế biến như lòng đỏ trứng, sữa đậu nành, thịt tôm, thịt hầu và các loại thức ăn nhân tạo sản xuất công nghiệp thường gọi là thức
ăn tổng hợp Trong sản xuất giống nhân tạo người ta còn bổ sung thêm các thức ăn nhân tạo Tuy nhiên, xét về mặt dinh dưỡng, hiện nay chưa có loài thức ăn nhân tạo nào có thể thay thế thức ăn tươi sống như: một số loài tảo và Artemia, luân trùng Hiện nay, ở các trại sản xuất giống tôm như công ty chăn
nuôi CP.Việt Nam đang sử dụng thức ăn tươi sống là tảo Chaetoceros sp,
Trang 19Thalassiosira pseudonana, Artemia cho giai đoạn Nauplius, Zoea, Mysis,
đồng thời bổ sung thức ăn nhân tạo các giai đoạn Postlarvae [13]
Tỷ lệ protein thích hợp
Protein là thành phần dinh dưỡng quan trọng trong thức ăn của tôm, là nguyên liệu tạo các mô và các sản phẩm khác trong cơ thể và còn là chất xúc tác, thực hiện chức năng vận chuyển, bảo vệ…Nhu cầu protein thay đổi tùy theo giai đoạn phát triển của tôm Tôm chân trắng không cần khẩu phần ăn có lượng protein cao như tôm sú Theo nghiên cứu của Colvin and Brand (1977)
là 30%, Kureshy and Davis (2002) là 32% Trong đó, thức ăn có lượng protein 35% được coi như là thích hợp hơn cả
Protein cung cấp cho tôm từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó giai đoạn
ấu trùng TTCT thì nguồn protein được cung cấp chủ yếu từ tảo, artemia, thức
ăn tổng hợp…
1.2 Tình hình nghiên cứu sản xuất giống tôm thẻ chân trắng Penaeus
vannamei trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình sản xuất giống tôm thẻ chân trắng trên thế giới
Người tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu và sản xuất nhân tạo giống tôm sú là tiến sỹ người Nhật Bản Monosaku Fujinaga Năm 1933 trong một hội nghị khoa học ở Mehico về sinh học và nuôi tôm ông đã công bố công
trình nghiên cứu về sản xuất nhân tạo P Japonicus Trong những thí nghiệm
ban đầu do thiếu hiểu biết về đặc điểm dinh dưỡng của ấu trùng tôm nên chúng chỉ tồn tại được ở giai đoạn Zoea và chỉ có khoảng 10% chuyển sang giai đoạn Mysis [4]
Đến năm 1942, với việc khám phá ra tảo silic Skeletonema costatum,
chaetoceros làm thức ăn rất tốt cho ấu trùng ở giai đoạn Zoea đã nâng cao tỷ
lệ sống của ấu trùng ở giai đoạn này lên đến 30% Phương pháp nuôi tảo khuê cho ấu trùng tôm của Fujinaga được gọi là “phương pháp nuôi cùng bể” và
Trang 20sau đó phương pháp này được Loosanoff áp dụng nuôi ấu trùng hai mảnh vỏ
Từ đó nhiều nghiên cứu đã được thực hiện trên các đối tượng khác nhau:
Penaeus monodon, Penaeus merguiensis, Penaeus indicus, Penaeus vannamei, các quy trình nước xanh lớn, quy trình Gevaston dần được hoàn
thiện và được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất
Đến năm 1946 Fujinaga đã nghiên cứu và tìm ra ấu trùng Nauplius của
Artemia làm thức ăn rất tốt cho giai đoạn Mysis Sau gần 18 năm nghiên cứu
và thí nghiệm đến năm 1946 quy trình sản xuất giống và ương nuôi ấu trùng tôm he Nhật Bản mới được hoàn chỉnh Đây là cơ sở cho các công trình nghiên cứu và ứng dụng kết quả này để hoàn chỉnh quy trình sản xuất và ương
nuôi ấu trùng các loài tôm thuộc họ tôm He Nhật Bản (P Japonicus) [4]
Năm 1963, nhà nghiên cứu Hary cook (người Mỹ) cùng với sự cộng tác
của Fujinaga đã cho đẻ và ương nuôi thành công các đối tượng P Setiferat và
P Ortecus đồng thời xây dựng thành công quy trình bể nhỏ ở Mỹ, sau đó
được cải tiến và nhân rộng ở các nước khác như Philippin, Đài Loan, Thái Lan, Cũng từ đây trên thế giới đã nghiên cứu và sản xuất thành công nhiều đối tượng khác nhau (gần 20 loài thuộc giống penaeus và 7 loài thuộc giống
Metapenaeus như P Monodon, P Semiculcatus, P Merguiensis, P
Trước đây thông tin về các đợt dịch bệnh (đặc biệt là hội chứng Taura) làm sản lượng giảm sút nghiêm trọng ở các quốc gia châu Mỹ, gây tâm lý e
Trang 21ngại cho các nhà quản lý quốc gia có ý định nhập nội thử nghiệm và phát triển nghề nuôi TTCT
Bảng 1.1 Tình hình sản xuất giống tôm thẻ chân trắng ở một số nước
châu Á (năm 2002)
Nước và lãnh
thổ
Số trại giống THCT
Số trại tôm giống khác
Tổng sản lượng tôm giống PL (triệu con/tháng)
Tổng sản lượng THCT giống (triệu con /tháng)
để tạo ra những dòng tôm có đặc tính tốt hơn, tốc độ sinh trưởng cao, khả năng kháng bệnh tốt hơn Bằng biện pháp này, nước Mỹ đã thuần hoá những nguồn tôm giống không có tác nhân gây bệnh đặc hữu (Specific Pathogen - SPF)
và tôm giống có sức đề kháng tác nhân gây bệnh đặc hữu (Specific Pathogen
Trang 22Resistart - SPR) ở quy mô thương mại Điều này mở ra triển vọng cho việc duy trì và phát triển nghề nuôi tôm thẻ chân trắng nói riêng và nghề tôm biển nói chung ở các vùng sinh thái trên thế giới [4]
Tôm thẻ chân trắng P vannamei được nuôi nhiều nhất ở châu Mỹ La
Tinh Số lượng trại sản xuất tôm giống đứng đầu trên thế giới, với hơn
3500 trại TTCT có sản lượng đáng kể, đứng thứ 2 sau tôm Sú Từ những năm 70 - 80 của thế kỷ trước TTCT được nuôi ở Hawaii, phía nam CaroliaTaxas và phia nam Brazil Trong suốt 20 - 25 năm qua TTCT trở thành đối tượng nuôi chính ở Châu Mỹ La Tinh, Bắc và Trung Mỹ từ Mỹ đến Brazil
Tôm thẻ chân trắng được nhập nuôi và đạt sản lượng đáng kể ở Trung Quốc từ những năm 1990 Có một lý do để nhập và di giống loài tôm này, cụ thể là tôm giống bị nhiễm tác nhân gây bệnh đặc chủng (SPF), khả năng tránh được khả năng gây hại của bệnh đốm trắng (WSSV) cao hơn tôm Sú
(P.monodon), ít sản phẩm trên thị trường thế giới (chủ yếu ở Mỹ) do sản
lượng ở Mỹ La Tinh giảm, là loài dễ nuôi và sản xuất giống nhân tạo Tại một
số nước các chủ trang trại muốn nhậpTTCT chính vì họ nuôi chúng là loài có sức đề kháng cao đối với bệnh đốm trắng Tuy nhiên một số người nhận ra sai lầm khi coi chúng là đối tượng nuôi an toàn
1.2.2 Tình hình sản xuất giống thẻ chân trắng ở Việt Nam
Bộ Nông nghiệp - Phát triển nông thôn đã chính thức cho phép nuôi thâm canh TTCT ở các tỉnh Nam bộ măc dù đã được nuôi thử nghiệm từ những năm 1990 Sản xuất con giống chất lượng cao và sạch bệnh là xu thế đang được quan tâm hiện nay Để đạt được đều đó cần thực hiện 2 yêu cầu Một là chọn con giống có nguồn gốc tốt, sạch bệnh; hai là cơ sở sản xuất phải kiểm soát chặt chẽ an toàn sinh học và có biện pháp ngăn ngừa dịch bệnh
Trang 23Việc chọn thức ăn chất lượng cao là hết sức quan trọng vì thức ăn có tác động lớn nhất đến môi trường nuôi và sự phát sinh các loại bệnh
Theo tổng kết của hội khoa học và kỹ thuật về nuôi tôm lần thứ nhất năm 1987 cho biết: Từ năm 1971 trạm nghiên cứu NTTS nước lợ (nay thuộc
viện NCNTTS I) và trường đại học thủy sản đã cho đẻ thành công tôm he P
merguiensis và tôm M ensis tại Quý kim (Hải Phòng) và Cái Dặm (Quảng
Ninh) nhưng trong giai đoạn ương nuôi ấu trùng còn gặp nhiều khó khăn nên chỉ phát triển đến giai đoạn Zoea, một số ít phát triển tới giai đoạn Mysis rồi chết Sau đó vào năm 1974, với sự giúp đỡ của chuyên gia người Nhật Bản là Macno Kasumi, trạm nghiên cứu đã sản xuất được 65.000 con Postlarve loài
P orientalis ở các bể 10m3 và 1,5 triệu Postlarve loài P merguiensis ở bể
200m3 theo kiểu Nhật Bản
Cùng với việc cho tôm đẻ thành công trạm NCNTTS nước lợ còn thành công trong việc nuôi Brachionus và tự sản xuất cho ấu trùng tôm Sự thành công của việc nghiên cứu gây nuôi thức ăn cho ấu trùng tôm là một trong những nguyên nhân trực tiếp đưa đến việc hoàn thành việc cho sinh sản một
số giống tôm vào những năm 1975 - 1977
TTCT lần đầu tiên được nhập từ Đài Loan vào nuôi thử ở Bạc Liêu từ tháng 1/2001 Sau đó tôm bố mẹ được nhập từ Đài Loan, Hawaii và Trung Quốc Đây là loài tôm ngoại lai duy nhất nhập vào Việt Nam, tôm được nuôi
ở nhiều địa phương, có nơi dân nuôi tự phát, có nơi tỉnh cho công ty TNHH thuê đất sản xuất giống để nuôi tôm thịt
Năm 2006, tình hình sản xuất giống tôm cơ bản đã đáp ứng đủ nhu cầu
về lượng, cả nước đã sản xuất được 25 tỷ tôm giống Tuy nhiên về chất lượng tôm giống vẫn chưa được kiểm soát và quản lý tốt, chưa xây dựng được thương hiệu giống thủy sản của từng vùng, công tác đăng ký chất lượng cũng như kiểm soát chất lượng tôm giống lưu thông trên thị trường chưa được tốt
Trang 24Hiện nay khu vực ĐBSCL đang được coi là vựa tôm lớn của cả nước nhưng thực trạng về chất lượng tôm giống ở đây đang trong tình trạng báo động Xét nghiệm trên 7000 mẫu tôm tại trung tâm giống thủy sản Bạc Liêu cho thấy tỷ lệ tôm giống mắc các bệnh nguy hiểm khá cao, có trên 3000 mẫu tôm (khoảng 50%) bị nhiễm vi rus MBV (bệnh còi) và virus bệnh đầu vàng, riêng tỷ lệ tôm giống nhiễm bệnh đốm trắng chiếm 7 - 9%[20]
Trên địa bàn cả nước hiện có 16 trại giống TTCT Sản lượng tôm giống năm 2004 đạt gần 500 triệu PL Một số địa phương đã nhập tôm từ Trung Quốc về nuôi Tại các tỉnh phía Bắc chỉ có hai tỉnh có trại giống: Quảng Ninh
và Hà Tĩnh, tổng sản lượng tôm giống đạt 371 triệu con Công ty công nghệ Việt Mỹ nhập 4.323 cặp tôm bố mẹ sạch bệnh và sản xuất được 271 triệu con giống Công ty đầu tư phát triển Hạ Long (Quảng Ninh) nhập tôm bố mẹ, công nghệ sản xuất tôm giống và thuê chuyên gia từ Hawaii từ năm 2002 Năm 2003 sản xuât 50 triệu tôm giống, năm 2004 sản xuất 120 triệu con Hiện nay công ty có 10.000 cặp tôm bố mẹ để sản xuất giống năm 2005
Tại Nghệ An, các cơ sở sản xuất giống tôm thẻ chân trắng được đưa vào sản xuất cung cấp giống trên địa bàn các huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu Quỳnh Lưu có 4 cơ sở sản xuất giống tôm thẻ chân trắng, trong đó có công ty
cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam đóng trên địa bàn đã cung cấp tôm giống chất lượng tốt trên địa bàn tỉnh và các tỉnh phía Bắc Từ năm 2003, huyện Nghi Lộc đã có phong trào nuôi TTCT, tính đến tháng 9/2006, có 47 đơn vị
và cá nhân nuôi tôm thẻ chân trắng với tổng diện tích 24 ha tăng 80% so với năm 2003 là 15 ha, còn lại phân bố rải rác tại một số địa điểm ở Quỳnh Lưu, Diễn Châu và ven thành phố Vinh Mật độ thả từ 40 - 100 con/m2, năng xuất
2 - 15 tấn/ha
Tại Bà Rịa - Vũng Tàu có 1 trại giống 40 bể 15m3/bể của công ty Việt
Mỹ, hiện có 300 tôm bố mẹ Tại Khánh Hòa, năm 2004 có hai trại sản xuất
Trang 25giống tôm He chân trắng, song điều kiện sản xuất của hai trại này không đảm bảo an toàn vệ sinh thú y nên đã bị sở thủy sản Khánh Hòa ra quyết định chỉ hoạt động Từ năm 2005 đến nay Khánh Hòa chỉ có trại sản xuất giống của viện nghiên cứu NTTS III hoạt động
Bảng 1.2 Tình hình sản xuất tôm giống tại Việt Nam Năm
(Nguồn: Bộ Thủy Sản, 2004) Với số lượng trại được xây dựng rất lớn và nhiều với quy trình ngày một hoàn thiện hơn nhưng vẫn không đáp ứng được nhu cầu về con giống ngày càng cao của người dân Để nỗi lo của người dân về đàn tôm giống sạch bệnh, có tỉ lệ sống cao và tăng trưởng nhanh thì cần nhiều hơn nữa việc nghiên cứu để hoàn thiện hơn quy trình sản xuất giống Để nghề nuôi tôm là một nghề thế mạnh thì cần sự quan tâm, đầu tư nhiều hơn nữa của các cấp
Theo thống kê của ngành thủy sản, năm 2008 cả nước đạt sản lượng 50.000 tấn tôm thẻ chân trắng Năm 2009 sản lượng tăng lên gấp 10 lần Do
đó, nhu cầu con giống hiện nay là rất lớn và ngày càng tăng Miền trung là khu vực có các điều kiện thích hợp cho tôm thẻ chân trắng phát triển Vùng sản xuất tôm giống lớn nhất ở miền trung và cũng lớn nhất cả nước là Tuy Phong - Bình Thuận, Cà Ná, Cam Ranh, Phan Rang, Ninh Tịnh - Ninh Thuận, Ninh Hòa, Nha Trang - Khánh Hòa Các trại sản xuất tôm giống mọc chi chít nhau theo bờ biển 3 - 4 năm trở lại đây, con tôm sú rớt giá, hoạt động của vùng sản xuất tôm giống này cũng không còn sôi động như trước Khi tôm thẻ
Trang 26chân trắng xuất hiện vào năm 2007, 2008, việc sản xuất tôm giống được hồi sinh trở lại [20]
1.3 Tình hình nghiên cứu sử dụng một số loại thức ăn trong sản xuất
giống tôm thẻ chân trắng
Ở tôm thẻ, sự tăng lên về kích thước có dạng bậc thang, thể hiện sinh trưởng không liên tục Kích thước giữa hai lần lột xác không tăng hoặc tăng không đáng kể và tăng vọt sau mỗi lần lột xác, trong khi đó sự tăng trưởng về khối lượng có tính liên tục tục hơn Tôm thẻ tăng trưởng tương đối nhanh Tốc độ tăng trưởng phụ thuộc vào từng loài, từng giai đoạn phát triển, giới tính, điều kiện môi trường dinh dưỡng [11]
Thức ăn là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của ấu trùng tôm Qua các kết quả nghiên cứu trong thời gian gần đây đều cho thấy thức ăn luôn tỷ lệ thuận với tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng
Trong sản xuất tôm giống thì chế độ dinh dưỡng có ý nghĩa quyết định lớn nhất trong quá trình sản xuất Mỗi giai đoạn của ấu trùng cần một chế độ
dinh dưỡng khác nhau phù hợp với tính ăn của chúng Tảo, Artemia và thức
ăn tổng hợp được coi là những loại thức ăn chủ chủ yếu được sử dụng trong sản xuất tôm bởi chúng có hàm lượng chất dinh dưỡng cao, khi cho ăn lại ít gây ô nhiễm môi trường nước bể nuôi và ít bị phân hủy giữ môi trường nước nuôi được trong sạch giúp ấu trùng sống và phát triển tốt hơn Vì vậy đã có rất nhiều nghiên cứu của nhiều tổ chức và cá nhân ở Việt Nam và trên thế giới nghiên cứu về thức ăn cho ấu trùng tôm
Vi tảo là thức ăn tự nhiên không thể thiếu cho ấu trùng tôm, đặc biệt quan trọng ở giai đoạn Zoea Đây là giai đoạn khó khăn nhất trong trong công nghệ sản xuất giống TTCT, tỷ lệ chết rất cao và thậm chí ấu trùng không thể vượt qua được để chuyển sang giai đoạn sau
Trang 27Trong những năm gần đây các nước Châu Mỹ La Tinh thường gọi hiện tượng này là hội chứng Zoea (Zoea Syndrome) do tỷ lệ chết quá cao ở giai đoạn này Biểu hiện thường thấy là các giai đoạn Nauplius phát triển bình thường, chuyển sang giai đoạn Zoea 1 ăn kém hoặc không ăn và lắng đáy Hiện tượng này phổ biến và đã được các nhà khoa học nghiên cứu nhằm hiểu được nguyên nhân và cách khắc phục
Qua nghiên cứu chỉ ra hội chứng Zoea chính là việc không giải quyết được thức ăn phù hợp cho giai đoạn bắt đầu ăn thức ăn ngoài của ấu trùng tôm Hầu như các loại tảo biển đều có thể làm thức ăn cho ấu trùng tôm Tuy nhiên sự lựa chọn loài tảo thường tập trung vào các tiêu chí là kích cở vi tảo
để phù hợp bới các giai đoạn của tôm và hàm lượng acid béo không no HUFA
có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển ban đầu hệ thần kinh của tôm chi phối các hoạt động phát triển và sinh sản của tôm
Vi tảo được chọn nuôi cấy vì thế bao gồm các giống sau đây:
Chatoceros, Thalassisira, Skeletonema, Chlorella Trong đó Ischrysis aff, Thalassisira, Chatoceros gracilis (tảo khuê đơn bào ở biển) được xem là thức
ăn tốt nhất cho tôm thẻ chân trắng [4]
Tại Nhật Bản việc nuôi tảo Silic Skeletonema sp và chatoceros sp làm
thức ăn khởi đầu là một điều kiện tiên quyết đối với việc nuôi ấu trùng tôm từ Nauplius đến Post-larvae và Fujinaga là người đầu tiên thành công trong nuôi
tảo Skeletonema costatum sử dụng làm thức ăn cho tôm Penaeus japonic [4] Vào năm 1942, Nhật cũng phân lập và nuôi thành công tảo Skeletonema
costatum để làm thức ăn cho ấu trùng tôm Từ đó có nhiều công trình nghiên
cứu, nuôi thành công các loài thuộc chi này
Qua kết quả nghiên cứu của một số tác giả đều phản ánh vai trò của thức ăn tổng hợp Cũng năm 1942 người Đức đã sự khám phá ra tảo khuê
Skeletonema costaum và chaetoceros sp kết hợp với thức ăn tổng hợp để
Trang 28ương nuôi ấu trùng ở giai đoạn Zoea nên đã nâng cao tỷ lệ sống của ấu trùng lên 30% [7]
Tại Việt Nam trước đây, người nuôi tôm sử dụng thức ăn tổng hợp gồm
các vitamin, khoáng chất, tảo, chất miễn dịch, Artemia Tảo tươi là thành
phần thức ăn bắt buộc trong giai đoạn Zoae 1 đến Zoae 2 và được duy trì cho đến cuối giai đoại Mysis Để có được loại thức ăn tổng hợp này phải nuôi cấy tảo tươi khó đạt chuẩn ổn định và dễ làm tôm nhiễm bệnh từ môi trường nuôi cấy tảo Do đó người ta đã nghiên cứu và sản xuất những loại thức ăn đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng, tăng sức đề kháng cũng như ngăn ngừa và điều trị những bệnh thường gặp ở tôm Dòng thức ăn V8 có nguồn gốc từ Mỹ và gần đây được phát triển bởi công ty Diên Khánh, 71 Nguyễn Minh Hoàng, P.12,
Q Tân Bình, Tp.HCM , đáp ứng được những yêu cầu này [13]
Từ những năm 2001, tập đoàn CP Việt Nam đã đưa loài tảo này nuôi thử nghiệm làm thức ăn tươi sống cho ấu trùng tôm Sú tại khu vực Ninh Thuận Nhận thấy chúng phát triển rất tốt, rất phù hợp với điều kiện nhiệt độ
và độ mặn của vùng biển Ninh Thuận nên từ đó đến nay chúng được nuôi rộng rãi trong tất cả các trại sản xuất giống của công ty Cùng với các loài tảo
khác như Chaetoceros sp, Skeletonema costatum, Thalassiosira weissflogii thì tảo Thalassiosira pseudonana là một trong những loại thức ăn tươi sống
không thể thay thế cho ấu trùng Zoea TTCT Và cho tới nay thì sự kết hợp
giữa vi tảo biển, Artemia và thức ăn tổng hợp vẫn là bí quyết thành công của
tập đoàn CP.Việt Nam
Như vậy theo các nghiên cứu thì rõ ràng thức ăn ảnh hưởng rất lớn đến thời gian biến thái và tỷ lệ sống của ấu trùng Khi sử dụng thức ăn phù hợp thời gian biến thái sẽ ngắn, tỷ lệ sống càng cao và đồng thời cho tốc độ tăng trưởng nhanh
Trang 291.3.1 Tảo Thalassiosira pseudonana
Tảo Thalassiosira pseudonana tồn tại ở dạng đơn bào, chủ yếu sống
đơn độc, đôi khi các tế bào liên kết với nhau thành tập đoàn dạng bản hoặc trong khối chất nhầy Tế bào có dạng hình trụ, kích thước từ 6 - 20µm x 8 -
15µm Tảo cát T pseudonana được bao bọc trong lớp vỏ hình hộp có thành tế
bào rất cứng tạo thành chủ yếu từ silic đioxit Mặt vỏ hình chữ nhật và có đường kính dài hơn trục vỏ tế bào Đai vỏ không đều, mép đai có 2 - 28 mấu nhỏ, một mấu có dạng hình môi để liên kết với tế bào bên cạnh Thể sắc tố nhiều, nhỏ, hình hạt [15].
Hình 1.5 Hình ảnh tế bào tảo Thalassiosira pseudonana Tảo Thalassiosira pseudonana có giá trị dinh dưỡng rất cao hàm lượng
protein dao động từ 6 - 52 %; carbohydrate từ 5 - 23 % và lipid từ 7 - 23 %
Hàm lượng acid béo không no (EPA + DHA) của T pseudonana khá cao đạt
7,2 mg/ml tế bào [14] Tuy vậy, hàm lượng lipid và acid béo có trong tảo còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện môi trường, chế độ chiếu sáng, nhiệt độ, dinh
dưỡng, độ mặn, và cả vào giai đoạn phát triển của chúng
Mặt khác ở nước ta hiện nay, việc sử dụng loài tảo này đang còn rất hạn chế Nguyên nhân chính là do đây là loài mới, giống tảo có nguồn gốc
Trang 30nhập ngoại nên phương pháp lưu giữ giống thuần cũng như quy trình công nghệ nuôi chưa thích hợp với điều kiện khí hậu ở Việt Nam.
Sự phát triển của tảo nuôi trong điều kiện vô trùng đặc trưng bởi 5 pha (Trích Lavens, P; Sorgeloos, P eds.) [17]:
Hình 1.6 Các pha phát triển của tảo Trong thực tế, công việc nuôi dừng lại do một số nguyên nhân khác nhau, bao gồm sự cạn kiệt các chất dinh dưỡng, thiếu oxy, nhiệt độ quá cao,
pH thay đổi hoặc nhiểm bẩn Mấu chốt của thành công trong sản xuất tảo là duy trì tảo ở pha sinh trưởng theo hàm mũ Khi thời gian nuôi vượt quá 3 pha thì giá trị dinh dưỡng của của tảo sản xuất sẽ thấp do tính tiêu hóa giảm, thiếu các thành phần dinh dưỡng và có thể sản sinh ra các chất chuyển hóa độc hại Giá trị dinh dưỡng của tảo có thể bị thay đổi rất lớn ở các pha phát triển và dưới các điều kiện nuôi khác nhau [14] Kết quả nghiên cứu của Brown và Ctv (1989) chỉ ra rằng tảo phát triển đến cuối pha logarit thường chứa 30 - 40
% protein, 10 - 20 % lipit và 5 - 10 % carbohydrat
Vi tảo được coi là có giá trị dinh dưỡng tốt cho các đối tượng nuôi nếu hàmlượng FUFA (DHA + EPA) dao động từ 1 - 20 mg/ml tế bào Hàm lượng
1 Pha gia tốc dương
2 Pha logarit
3 Pha gia tốc âm
4 Pha cân bằng
5 Pha tàn lụi
Trang 31trung bình của các acid béo không no có trong một số loài tảo được thể hiện ở bảng 1.3:
Bảng 1.3 Hàm lượng PUFA của một số loài tảo
Loài (mg/ml tế bào) DHA + EPA
Chaetoceros calcitrans
Pavlova lutheri
Thailassiosira pseudonana
Chroomonas salina Chaetoceros gracilis Isochrysis sp clone T-ISO
Skeletonema costatum
Nannochloris atomus
Tetraselmis suecica
17.8 10.1
7.2
3.9 3.2 2.0 0.8 0.3 0.2
(Nguồn: Nguyễn Thị Xuân Thu, Nguyễn Thị Bích Ngọc, 2004)[10] 1.3.2 Tảo Chaetoceros sp
Tảo Chaetoceros sp là một loài vi tảo thuộc tảo Silic được nhập từ Úc,
đang được sử dụng cho nhiều đối tượng thủy sản nuôi nước mặn như tôm, cua, động vật thân mềm
Hình 1.7 Hình ảnh tảo Chaetoceros sp
Đây là loài tảo làm thức ăn tiên quyết cho ấu trùng tôm giai đoạn Zoea đến giai đoạn Postlarvae (Fujinaga) Kích thước tảo từ 3 - 15μm phù hợp với
Trang 32kích cỡ miệng của ấu trùng tôm giai đoạn đầu Thành phần của vi tảo bao gồm: Protein, carbonhydrate, lipid và các chất khoáng Thành phần sinh hóa
tương đối tính tỉ lệ trọng lượng khô của vi tảo Chaetoceros sp được xác định
như sau: protein chiếm 20% - 30%, lipid chiếm 5% - 10% và hydrocacbon chiếm 12% - 20% (Baraskop, 1972) Những thành phần này tạo nên 90 - 95% trọng lượng khô của vi tảo Trong đó, hàm lượng proptein chiếm khoảng 33% (Brown và ctv, 1989) quyết định giá trị dinh dưỡng của vi tảo Phần còn lại là các acid nucleic chiếm 5 - 10% [16] Hàm lượng acid béo không no mạch đơn chiếm 2 - 40% và acid béo không no mạch dài (PUFA) chiếm 20 - 59% (L.V.Thịnh, 1999) Acid béo có vai trò rất quan trọng đối với ấu trùng
giáp xác, động vật thân mềm, cá biển,… Ngoài ra, tảo Chaetoceros sp còn
chứa thành phần Omega 3 (EPA và DHA) không thể thiếu cho ấu trùng Nauplius
Bảng 1.4 Thành phần dinh dưỡng của vi tảo tính theo khối lượng khô tế bào
Protein 30 ÷ 55% Thành phần amino acid tương tự
protein của trứng gà (albumin) Hydratecacbon 10 ÷ 30% Chủ yếu là các polysaccharide,
Lipid 10 ÷ 25% Các acid béo 20 ÷ 40% lipid tổng số,
phospholipid: 10% lipid tổng số Khoáng 10 ÷ 40% Phospho, canxi, natri, silic (tảo khuê)
(Brown và ctv, 1989 trích từ: Lavens, P; Sorgeloos, P (eds.), 1996) [14]
Tuy nhiên thành phần này thay đổi khác nhau phụ thuộc vào từng loài tảo nuôi và điều kiện nuôi (cường độ ánh sáng, nhiệt độ, chu kỳ chiếu sáng, bước sóng, chế độ dinh dưỡng trong từng môi trường nuôi) và thời gian thu hoạch ở các giai đoạn tăng trưởng khác nhau Thời gian lưu giữ càng lâu thì dinh dưỡng trong tế bào tảo càng giảm
Trang 33Một vấn đề thường xảy ra trong các trại sản xuất giống hiện nay là hiện
tượng tảo tàn trong bể nuôi Đặc biệt tảo Chaetoceros sp lại có pha sinh
trưởng ngắn, sau khi cấp vào bể nuôi nếu không kiểm soát tốt mật độ, dinh dưỡng cũng như các yếu tố môi trường thì nó sẽ nhanh chóng bị tàn lụi và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe ấu trùng Đây là vấn đề khó khăn mà người
nuôi gặp phải khi sử dụng tảo Chaetoceros sp để ương nuôi ấu trùng Zoea
Thực tế cho thấy nhu cầu dinh dưỡng của mỗi đối tượng là khác nhau Do
đó tùy đối tượng nuôi và giai đoạn nuôi cụ thể để lựa chọn loài tảo nuôi phù hợp Trong vài thập niên qua, do nhu cầu sản xuất giống các đối tượng có giá trị kinh tế đang phát triển rầm rộ Nhu cầu về thức ăn tươi sống đã được đặt lên hàng đầu Đa số các loài tảo nuôi đều có giá trị dinh dưỡng cao, kích thước phù hợp với các loài ấu trùng Chính vì những ưu điểm đó mà tảo được nuôi rộng rãi trong các trại sản xuất giống và có những đóng góp nhất định vào thành công của các trại sản xuất giống nhân tạo
Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng của các động vật cho ăn bằng hỗn hợp các loài tảo khác nhau thường cao hơn các động vật chỉ cho ăn một loài tảo Một loài tảo cá biệt có thể thiếu một vài chất dinh dưỡng, trong khi loài tảo khác
có thể chứa chất dinh dưỡng đó và thiếu chất dinh dưỡng khác Do đó, hỗn hợp hai loài tảo sẽ cung cấp cho động vật thủy sản một lượng đầy đủ các chất dinh dưỡng Tuy nhiên việc kết hợp các loài tảo làm thức ăn phải được hợp lý
cả về tỷ lệ và thành phần thích ứng với nhu cầu dinh dưỡng từng đối tượng nuôi cụ thể thì mới đem lại hiệu quả cao Tại công ty cổ phần CP Việt Nam - chi nhánh Bình Định III thức ăn cho ấu trùng Zoea là sự kết hợp hỗn hợp hai
loài tảo Chaetoceros sp và Thalassiosira pseudonana, Artemia và thức ăn
tổng hợp
Trang 341.4 Đặc điểm tự nhiên tại Phù Mỹ - Bình Định
Vùng đất Phù Mỹ với nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi: nằm sát biển, vùng biển lại khá sâu, nước biển khá sạch, ít chịu ảnh hưởng của nguồn nước thải nội địa, độ mặn cao và ổn định dao động từ 29 - 33 ‰, pH nước luôn nằm trong khoảng từ 7,5 - 8,5, khí hậu lại khá ôn hòa, là điều kiện tốt cho sự phát triển của sản xuất giống thủy sản, mà đối tượng được chú trọng là tôm thẻ chân trắng Vốn là một thế mạnh trong phát triển kinh tế của địa phương nên từ nhiều năm nay ngành thuỷ sản đã được huyện Phù Mỹ, Bình Định chú trọng đầu tư, phát triển Mặc dù vậy, hiện tại chính lĩnh vực này lại đang phải đối mặt với những khó khăn về cơ sở hạ tầng, về vốn, giống, dịch bệnh, môi trường
Công ty chăn nuôi CP Việt Nam chi nhánh Bình Định là khu vực sản xuất giống có diên tích khoảng 30ha, được đưa vào sản xuất từ năm 2007 cho đến nay Trong quá trình phát triển công ty đang dần hoàn thiện và phát triển Với một nguồn lực lớn mạnh về con người cũng như trang thiết bị kỹ thuật, hàng năm công ty đã sản xuất được khoảng 3.500 triệu con giống, đáp ứng nhu cầu của người nuôi khu vực miền Trung và nhiều tỉnh khác trong nước
Trang 35Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Ấu trùng tôm thẻ chân trắng Penaeus vannamei (Boone, 1931) giai
đoạn Zoea
2.2 Vật liệu nghiên cứu
+ Các loại thức ăn: tảo tươi (Thalassiosira pseudonana và Chaetoceros
sp), thức ăn tổng hợp (TĂTH) và Artemia
+ Các chế phẩm sinh học, hóa chất sử dụng trong ương nuôi
+ Bể compozis 500l và các thiết bị phụ trợ khác phục vụ cho quá trình ương nuôi ấu trùng
+ Các thiết bị, dụng cụ xác định các yếu tố môi trường như: khúc xạ kế, test đo môi trường: độ kiềm, pH, NH3, NO2-, máy đo độ mặn, máy đo nhiệt độ…
2.3 Nội dung của đề tài
- Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống của ấu trùng tôm
thẻ chân trắng (Penaeus vannamei) giai đoạn Zoea
- Ảnh hưởng của thức ăn đến thời gian biến thái của ấu trùng tôm thẻ
chân trắng (Penaeus vannamei) giai đoạn Zoea
- Ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởg của ấu trùng tôm thẻ
chân trắng (Penaeus vannamei) giai đoạn Zoea
2.4 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: 01/03/2012 - 30/4/2012
- Địa điểm nghiên cứu: cơ sở sản xuất giống công ty cổ phần chăn nuôi
CP Việt Nam - chi nhánh Bình Định III - xã Mỹ An - Phù Mỹ - Bình Định
2.5 Phương pháp nghiên cứu
2.51 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Trang 36- Bố trí thí nghiệm gồm 3 công thức
+ Công thức 1 (CT1) : tảo Thalassiosira pseudonana + Artemia + TĂTH + Công thức 2 (CT2) : tảo Chaetoceros sp + Artemia + TĂTH
+ Công thức 3 (CT3) : Cho ăn kết hợp 2 loài tảo trong quá trình nuôi
(cho ăn tảo Chaetoceros sp từ đầu giai đoạn Zoea 1 đến hết Zoea 1 Sau đó cho ăn tảo Thalassiosira pseudonana kết hợp Artemia và thức ăn tổng hợp TNT1)
- Mỗi công thức được lặp lại 3 lần, các yếu tố phi thí nghiệm được khống chế như nhau giữa các công thức thí nghiệm Thí nghiệm được bố trí theo mức một nhân tố kiểu ngẫu nhiên hoàn toàn
- Tỷ lệ phối trộn như sau:
+ CT1: cho ăn tảo Thalassiosira pseudonana với mật độ ban đầu là 2,0 x
104 - 2,5 x 104 TB/ml ở giai đoạn Z1 Giai đoạn Z2 trở đi cho ăn bổ sung 4 - 5 con Artemia/ 1 con tôm + thức ăn tổng hợp TNT1
+ CT2: cho ăn tảo Chaetoceros sp với mật độ ban đầu là 2,5 x 104 - 3,0 x
104 TB/ml ở giai đoạn Z1 Giai đoạn Z2 trở đi cho ăn bổ sung thức ăn tổng hợp TNT1+ 4 - 5 con Artemia/ 1 con tôm
+ CT3: giai đoạn Zoea 1 cho ăn tảo Chaetoceros sp với mật độ ban đầu
2,5 x 104 - 3,0 x 104 TB/ml, các giai đoạn sau cho ăn tảo Thalassiosira
pseudonana với mật độ ban đầu của giai đoạn Z2 là 2,0 x 104 - 2,5 x 104 TB/ml Giai đoạn Z2 trở đi cho ăn bổ sung thức ăn tổng hợp TNT1+ 4 - 5 con Artemia/ 1 con tôm
Trang 37 Sơ đồ khối nghiên cứu:
Tiến hành:
- Chuẩn bị dụng cụ: bể composis 500l, sục khí, nước nuôi, test các yếu tố môi trường: pH, độ kiềm, test NH3, đo độ mặn, nhiệt kế,…
- Thả mỗi bể nuôi với mật độ Nauplius là 150 N/lít
- Hàng ngày cho ăn và vệ sinh ở các bể nuôi Giai đoạn Z3 cấp thêm nước
- Kết thúc mỗi giai đoạn là tiến hành đo kích thước tôm, tính thời gian biến thái, tỷ lệ sống của các bể thí nghiệm và của các CT thí nghiệm
Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống, thời gian biến thái và tốc độ tăng
trưởg của ấu trùng tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei) giai đoạn Zoea
tại công ty chăn nuôi CP Việt Nam
Bể 1 Bể 2 Bể 3 Bể 4 Bể 5 Bể 6 Bể 7 Bể 8 Bể 9
- Theo dõi diễn biến của các yếu tố môi trường
- Xác định tỷ lệ sống
- Xác định thời gian biến thái
- Xác định tốc độ tăng trưởng chiều dài, khối lượng
Kết quả nghiên cứu
Kết luận, kiến nghị
Trang 38- Chế độ cho ăn: ngày ăn 8 lần, mỗi lần cách nhau 3 giờ
- Chế độ chăm sóc và quản lý như nhau: Các bể được che bạt đen trong quá trình ương nuôi do giai đoạn này tôm có đặc tính hướng quang mạnh
Điều kiện thí nghiệm:
- Dùng bể compozis 500l để thí nghiệm
- Điều kiện môi trường ở các bể tương đối giống nhau: Nhiệt độ: 29 - 320C,
Độ mặn: 30 - 33‰, pH: 7,8 - 8,4
2.5.2 Phương pháp xác định một số chỉ tiêu nghiên cứu
Phương pháp xác định các yếu tố môi trường
- Đo nhiệt độ bằng máy Warter proof thang chia độ từ - 500C đến 2000
C, 2 lần/ngày
- Đo pH: xác định bằng test so màu, 2 lần/ngày
- Độ mặn: bằng khúc xạ kế với độ chính xác ± 0,5‰
- Khí NH4+/NH3: test so màu, đo 1 lần/ngày
- Đo độ kiềm: Test độ kiềm, đo 1 lần/ngày
Nhiệt độ (t0
C) Warter proof 2 lần/ngày(8h và 16h)
Phương pháp tính tỷ lệ sống
- Cách thu mẫu: dùng cốc thủy tinh lấy thể tích V = 200 ml, lấy ở 5 điểm của
bể ương, tính 3 lần từ đó tính được ấu trùng sống
- Công thức tính tỷ lệ sống (T s ):
+ Tỷ lệ sống theo giai đoạn
Trang 39M2
M (%) = — x 100
M1 Trong đó : M1 là số ấu trùng ở giai đoạn trước
M2 là số ấu trùng đếm được ở giai đoạn sau
+ Tỷ lệ sống tích lũy
T2
Ts (%) = — x 100
T1 Trong đó: T1 là số ấu trùng thả ban đầu (con)
T2 làsố ấu trùng sống ở giai đoạn sau (con)
- Định lượng ấu trùng:
m
A = — x V
v Trong đó A: tổng số ấu trùng trong bể (con/m3
) m: Số lượng ấu trùng trung bình trong mẫu
v = 200 ml
V: thể tích nước trong bể (5m3)
Phương pháp xác định thời gian biến thái
Phương pháp xác định thời gian biến thái của ấu trùng tôm thẻ chân trắng
Cách tính: tính thời gian kể từ bắt đầu của giai đoạn này đến khi bắt đầu chuyển qua giai đoạn tiếp theo (tính theo giờ) Thời điểm được xác định khi
có 50% số lượng ấu trùng chuyển sang giai đoạn khác
- Công thức tính: Tbt = T2 - T1
Trong đó: Tbt: Thời gian biến thái ( giờ )
T1: Thời gian xuất hiện ấu trùng giai đoạn trước ( giờ ) T2: Thời gian xuất hiện ấu trùng giai đoạn sau ( giờ )
Phương pháp xác định tốc độ tăng trưởng
- Tăng trưởng về chiều dài:
Trang 40Cách đo: Vớt ngẫu nhiên mỗi bể 10 con/lần, mỗi công thức đo 30 con
Đo chiều dài toàn thân của 30 con tôm (mm) bằng thước đo chiều dài với mức chia nhỏ nhất là mm và đo dưới kính hiển vi nổi
+ Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài toàn thân:
L2 - L1 ALG (mm/ngày) =
∆t + Tốc độ tăng trưởng tương đối theo chiều dài toàn thân
Ln(L2) - Ln(L1) RLG (%/ngày) = x 100
∆t Trong đó: L1, L2 (mm) là chiều dài của tôm tại thời điểm t1, t2
∆t (ngày) là khoảng thời gian giữa lần đo trước và lần đo sau
- Tăng trưởng về khối lượng:
Được xác định bằng cân điện tử Monobioc(incide) PS602-S với mức chia nhỏ nhất là 0.01g Mỗi lần thu khoảng 200 ấu trùng để kiểm tra
+ Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng:
W2 - W1 AWR (10-5g/ngày) =
∆t + Tốc độ tăng trưởng tương đối về khối lượng
Ln(W2) - Ln(W1) RWR (%/ngày) = x 100
∆t Trong đó: W1, W2 (10-5g) là chiều dài của tôm tại thời điểm t1, t2
2.5.3 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0 và phần mềm Microsoft Exell