Cá Chim vây vàng Trachinotus blochii - Lacepède, 1801 sống ở biển là đối tượng nuôi mới, hiện nay khi đã chủ động được nguồn giống bằng phương pháp sinh sản nhân tạo, Cá Chim vây vàng l
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
- -
PHẠM THỊ HÀ
ĐIỀU TRA VÀ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ
NHIỄM KÍ SINH TRÙNG KÍ SINH TRÊN CÁ CHIM
VÂY VÀNG (Trachinotus blochii - Lacepède, 1801)
NUÔI THƯƠNG PHẨM TẠI NGHỆ AN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
- -
ĐIỀU TRA VÀ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ
NHIỄM KÍ SINH TRÙNG KÍ SINH TRÊN CÁ CHIM
VÂY VÀNG (Trachinotus blochii - Lacepède, 1801)
NUÔI THƯƠNG PHẨM TẠI NGHỆ AN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Người thực hiện : Phạm Thị Hà
Người hướng dẫn : ThS Nguyễn Đình Vinh
ThS Nguyễn Thị Thanh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới Th.S Nguyễn Đình Vinh và Th.S Nguyễn Thị Thanh là những người đã hướng dẫn tận tình tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn
Trong quá trình học tập tại trường Đại học Vinh, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban giám hiệu trường Đại học Vinh, các thầy cô giáo khoa Nông lâm ngư, tổ bộ môn nuôi trồng thủy sản đã truyền đạt kiến thức cho bản thân trong suốt những năm học vừa qua
Trong quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp, cán bộ và công nhân viên Phân viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản Bắc Trung Bộ, các thầy cô giáo ở phòng thí nghiệm trường Đại học Vinh cơ sở 2 đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành bài luận văn này Tôi xin bày tỏ lòng biết
ơn sâu sắc, lời cảm ơn chân thành đến sự giúp đỡ quý báu đó
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè và tập thể lớp 49K2 NTTS những người luôn bên cạnh động viên, ủng hộ và góp ý cho tôi trong suốt quá trình thực tập và thực hiện đề tài
-Vinh, tháng 5 năm 2012
Sinh viên
Phạm Thị Hà
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC HÌNH v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC VIẾT TẮT vii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Đặc điểm sinh học của cá Chim trắng vây vàng (Trachinotus blochii - Lacepède, 1801) 3
1.1.1 Vị trí phân loại 3
1.1.2 Đặc điểm về hình thái 4
1.1.3 Đặc điểm phân bố 4
1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng 6
1.1.5 Đặc điểm sinh sản 7
1.1.6 Đặc điểm sinh trưởng của cá 8
1.2 Tình hình phát triển nuôi và sản xuất giống cá Chim vây vàng trên thế giới 9
1.2.1 Tình hình phát triển nuôi cá Chim vây vàng trên thế giới 9
1.2.2 Tình hình nghiên cứu công nghệ sản xuất giống cá Chim vây vàng trên thế giới 10
1.3 Tình hình phát triển nuôi và nghiên cứu sản xuất giống cá Chim vây vàng ở Việt Nam 11
1.3.1 Tình hình phát triển nuôi cá Chim vây vàng ở Việt Nam 11
1.3.2 Tình hình nghiên cứu sản xuất giống cá Chim vây vàng ở Việt Nam 11
Trang 51.4 Tình hình nghiên cứu bệnh ký sinh trùng ở cá trên thế giới và
Việt Nam 12
1.4.1 Tình hình nghiên cứu bệnh kí sinh trùng ở cá trên thế giới 12
1.4.2 Tình hình nghiên cứu bệnh kí sinh trùng ở cá tại Việt Nam 14
1.5 Ảnh hưởng của bệnh ký sinh trùng tới ngành thủy sản 18
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Đối tượng nghiên cứu 20
2.2 Vật liệu và thiết bị nghiên cứu 20
2.3 Nội dung nghiên cứu 20
2.4 Phương pháp nghiên cứu 21
2.4.1 Sơ đồ khối nghiên cứu 21
2.4.2 Sơ đồ định loại kí sinh trùng 22
2.4.3 Phương pháp thu mẫu 22
2.4.4 Phương pháp điều tra kí sinh trùng 23
2.4.5 Phương pháp thu thập số liệu 23
2.4.6 Phương pháp xử lý số liệu 25
2.5 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 25
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26
3.1 Sự biến động của các yếu tố môi trường 26
3.2 Kết quả thu mẫu cá 27
3.3 Kết quả nghiên cứu về thành phần giống, loài KST trên cá Chim vây vàng 29
3.3.1 Loài Caligus sp 30
3.3.2 Trùng bánh xe Trichodina jadranica Raabe,1958 32
3.3.3 Giun tròn Iheringascaris inquies (Linton,1901) 34
3.3.4 Trùng lông Cryptocarion irritans 36
3.3.5 Đĩa cá Piscicola fasciata 37
Trang 63.3.6 Trùng loa kèn Epistilis sp 39
3.4 Mức độ nhiễm ký sinh trùng ngoại ký sinh trên cá 40
3.4.1 Kết quả xác định ký sinh trùng ngoại ký sinh trên cá Chim vây vàng 40
3.4.2 Mức độ nhiễm KST ngoại ký sinh trên cá cơ quan kiểm tra 41
3.5 Điều tra bệnh kí sinh trùng gây ra tại khu vực nuôi cá Chim trắng vây vàng tại Nghệ An 46
3.5.1 Kết quả điều tra 46
3.5.2 Một số phương pháp phòng và trị bệnh 48
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Cá Chim trắng vây vàng 3
Hình 1.2 Bản đồ phân bố cá Chim vây vàng 6
Hình 3.1 Loài Caligus sp kí sinh trên da cá Chim trắng vây vàng 31
Hình 3.2 Loài Trichodina jadranica 32
Hình 3.3 Tiêu bản soi tươi soi được ở cá Chim vây vàng 33
Hình 3.4 Giun tròn Iheringascaris inquies kí sinh trên da cá Chim vây vàng 35
Hình 3.5 Loài Cryptocarion irritans 36
Hình 3.6 Đĩa cá Piscicola fasciata 38
Hình 3.7 Trùng loa kèn Epistilis sp 39
Hình 3.8 Tỉ lệ nhiễm kí sinh trùng ngoại kí sinh trên cá Chim nuôi thương phẩm 41
Hình 3.9 Tỷ lệ nhiễm KST ngoại kí sinh trên các cơ quan của cá Chim vây vàng 43
Hình 3.10 Cường độ nhiễm kí sinh trùng ngoại kí sinh ở các cơ quan của cá Chim vây vàng 45
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3 1 Các chỉ tiêu môi trường trong thời gian nghiên cứu 26
Bảng 3.2 Khối lượng và kích cỡ trung bình mẫu cá thu 28
Bảng 3.3 Thành phần loài ký sinh trùng ngoại kí sinh trên cá Chim vây vàng 30
Bảng 3.4 Danh sách các loài ký sinh trùng trên cá Chim vây vàng 40
Bảng 3.5 Tỷ lệ nhiễm kí sinh trùng ngoại kí sinh trên các cơ quan 42
Bảng 3.6 Cường độ nhiễm kí sinh trùng ngoại kí sinh trên các cơ quan 44
Bảng 3.7 Loại hình nuôi ở các hộ chọn để điều tra 46
Bảng 3.8 Bảng điều tra các bệnh cá Chim trắng vây vàng tại Nghệ An 47
Trang 10MỞ ĐẦU
Trong những năm qua, nghề nuôi biển phát triển mạnh mẽ ở nhiều nước trên thế giới, theo FAO 2009, sản lượng năm 2007 đạt 19.340.030 tấn, chiếm 38,4 % tổng sản lượng thuỷ sản nuôi trồng Trong 10 năm (1998 – 2007) sản lượng tăng gấp 1,9 lần [24] Việt Nam là một nước có tiềm năng phát triển nuôi biển, theo quyết định số 1690/QĐ-TTg năm 2010 của thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt chiến lược phát triển thuỷ sản Việt Nam đến năm 2020 nuôi biển sẽ trở thành một lĩnh vực sản xuất quy
mô công nghiệp tạo khối lượng sản phẩm lớn phục vụ xuất khẩu, du lịch và tiêu thụ nội địa [7]
Cá Chim vây vàng (Trachinotus blochii - Lacepède, 1801) sống ở
biển là đối tượng nuôi mới, hiện nay khi đã chủ động được nguồn giống bằng phương pháp sinh sản nhân tạo, Cá Chim vây vàng là đối tượng nuôi mới và có triển vọng phát triển rất tốt, có giá trị kinh tế cao, sinh trưởng nhanh, sức kháng bệnh tốt, cho năng suất cao, có thể nuôi rộng rãi ở các vùng ven biển và nhu cầu thị trường trong, ngoài nước rất lớn [2]
Cùng với sự phát triển nhanh của nghề nuôi biển kèm theo đó là sự tăng nhanh về diện tích nuôi và đa dạng đối tượng nuôi thì vấn đề về dịch bệnh trên cá biển đã bắt đầu xuất hiện như bệnh do ký sinh trùng (KST), bệnh
do nấm, bệnh do vi khuẩn và bệnh do vi rút
Bệnh KST xảy ra tuy chưa phổ biến và gây thiệt hại chưa nhiều trên
cá Chim trắng vây vàng nuôi ở Việt Nam Tuy nhiên, việc nghiên cứu sự có mặt của các tác nhân gây bệnh là cần thiết để góp phần vào việc đưa ra các giải pháp kiểm soát kịp thời trước mắt cũng như sự phát triển bền vững trong tương lai
Trang 11Xuất phát từ ý nghĩa khoa học và thực tiễn trên, được sự đồng ý của khoa Nông Lâm Ngư và Phân viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản Bắc Trung
Bộ chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài “Điều tra và đánh giá mức độ
nhiễm ký sinh trùng ngoại ký sinh trên cá Chim vây vàng (Trachinotus blochii - Lacepède, 1801) nuôi thương phẩm tại Nghệ An”
Mục tiêu nghiên cứu:
- Nghiên cứu mức độ nhiễm ký sinh trùng ngoại ký sinh trên cá
Chim vây vàng(Tranchinotus blochii -Lacepède, 1801) nuôi thương phẩm
tại Nghệ An
- Điều tra bệnh kí sinh trùng ngoại kí sinh gây ra trên cá Chim vây
vàng tại các vùng nuôi, vùng đánh bắt xung quanh khu vực nghiên cứu và
đề xuất một số giải pháp kỹ thuật nhằm hạn chế nhiễm bệnh ký sinh trùng
ngoại ký sinh trên cá
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đặc điểm sinh học của cá Chim trắng vây vàng (Trachinotus blochii - Lacepède, 1801)
Loài: Trachinotus blochii (Lacepède, 1801)
Tên tiếng Anh:Snuhnose pompano
Tên tiếng Việt: cá Chim vây vàng, cá sòng mũi hếch
Hình1.1 Cá Chim trắng vây vàng (Trachilotus blochii – Lacepède,1801)
Trang 131.1.2 Đặc điểm về hình thái
Miệng nhỏ xiên, xương hàm trên lồi, và dưới có răng nhỏ, lưỡi không có răng, rìa phía trước xương nắp mang hình cung tương đối lớn, trên đường bên vảy không có gờ vây lưng thứ một hưóng về phía trước gai bằng và có 5 đến 6 gai ngắn, cá giống giữa các gai có màng liền nhau có dạng hình như lưỡi liềm, vây hậu môn có một gai và 17 đến 18 tia vây phía trước có hai gai ngắn, cá có dạng hình như lưỡi liềm, còn vây ngực hình như tương đối ngắn vây đuôi hình trăng lưỡi liềm Ruột uốn cong 3 lần (chiều dài ruột/chiều dài cá = 0,8), lưng màu tro bạc, mình không có vằn đen, vây lưng màu ánh bạc, vây đuôi màu tro
Cá có thân hình hơi dẹt, hình trứng ở chính giữa lưng hình cung, màu sắc sáng bạc, nhưng thông thường được phủ lớp vàng cam, đặc biệt đối với
cá thể có kích thước lớn hơn Trên đường bên vẩy sắp xếp khoảng 135-136 cái, chiều dài so với chiều cao đầu 3,5- 4 lần, cuống đuôi ngắn và dẹp, đầu nhỏ chiều cao đầu lớn hơn chiều dài, môi tù về phía trước Lỗ mũi mỗi bên hai cái gần nhau, lỗ mũi trước nhỏ hình tròn, lỗ mũi sau to hình bầu dục Vây hậu môn màu cam tối và mép thùy đuôi có màu hơi nâu, đầu tròn ở phía trước, vây lưng đầu tiên có 6 gai, vây thứ hai có 1 gai và 18 đến 20 tia vây, vây hậu môn chia ra 2 mỗi bên 1 gai và 18 đến 20 tia vây, vây đuôi phân thùy rất sâu miệng nhỏ xiên, xương hàm trên lồi ra, hàm trên và hàm dưới có răng nhỏ hình lông và răng phía sau dần thoái hóa
1.1.3 Đặc điểm phân bố
Cá Chim vây vàng là loài cá biển, phân bố ở vùng nước ấm, thuộc vùng biển Ấn Độ Dương từ bờ biển Đỏ Nam Phi đến miền Nam Australia Chúng sinh sống thành những nhóm nhỏ ở những nơi có rạn đá và san hô,
Trang 14vùng nước cạn ven bờ với độ sâu 2m đến 20m (Lieske.E&R, Myers 1994) Theo Borut Forlan (2004), ở giai đoạn nhỏ Juvenile thường phân bố ở vùng đáy cát hoặc cát pha bùn gần cửa sông Ở giai đoạn này chúng thường tập trung thành từng nhóm và sống đơn lẻ khi trưởng thành ( Bianchi, G,1985)
Cá Chim vây vàng thuộc loài cá rộng muối, chúng có thể sống ở mức
độ độ mặn từ 3ppt đến 33ppt Ở dưới mức độ mặn 20ppt cá sinh trưởng nhanh, trong điều kiện độ mặn cao, tốc độ sinh trưởng của cá chậm hơn Allen và Avault (1970) quan sát thấy cá Chim giống có thể sống ở độ mặn 5ppt ở nhiệt độ 220
C -270C và độ mặn ban đầu 32ppt đến 33ppt, cá Chim giống có thể chịu đựng độ mặn thấp 2ppt và cao tới 45ppt Bên cạnh đó thí nghiệm của Moe et al (1968) chỉ ra rằng cá Chim có thể thích nghi nước ngọt bằng cách thuần hóa từ từ, sự thay đổi độ mặn đột ngột có thể gây chết
cá hàng loạt Những biến đổi độ mặn mà thay đổi trong môi trường nhân tạo trừ khi quá và nhanh thì sẽ không gây hại cá Chim
Ở mức nhiệt độ từ 160C đế 360C cá vẫn phát triển bình thường nhưng sinh trưởng tốt nhất trong khoảng 220C đến 280C (Cheng S.C,1990) Moe
et al (1968) đã nghiên cứu ảnh hưởng độ mặn đến cá Chim Florida (Tranchilonus Canolinus) đã chỉ ra rằng cá Chim bắt đầu thể hiện dấu hiệu stress ở 12ppt đến 33ppt Ở 100
C và 33ppt cá Chim hầu hết đều chết Như vậy sự chịu đựng nhiệt độ dường như chịu ảnh hưởng của độ mặn bởi vì khi tăng hay giảm độ mặn từ 33ppt đều gây nên sự giảm khoảng nhiệt độ
mà cá có thể chịu đựng ( Kumpf,1971)
Trang 15Hình1.2 Bản đồ phân bố cá Chim vây vàng (những điểm màu vàng) 1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng
Dinh dưỡng và thức ăn của cá phụ thuộc vào nơi sống và phân bố của chúng ở giai đoạn ấu trùng và cá nhỏ, chúng phân bố ở vùng nước cạn ven bờ nên thức ăn tự nhiên là động vật nổi và động vật đáy Đến giai đoạn trưởng thành cá di chuyển dần ra vùng nước sâu, xa bờ, sinh sống ở các vùng rạn đá san hô thức ăn của chúng là các loài nhuyễn thể và động vật không xương sống khác (Bianchi.G.1985)
Các nghiên cứu về dinh dưỡng chỉ mới tập trung trên cá Chim giống Florida pompano đã xác định được cho ăn thức ăn với 34% protein có thể tiêu hóa và các mức lipip 4% hoặc 8% đã thể hiện sự phát triển tăng so với các loài cá ăn thức ăn có mức lipip cao hơn hoặc thấp hơn (Wiliams et al 1985) Cá Chim giống ăn thức ăn với 8% lipip biểu hiện sự phát triển tăng
và năng suất cho ăn tăng khi cho ăn các mức protein tăng (Lazo et al 1998) Hiện nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu dinh dưỡng cho cá Chim vây vàng được công bố Loại thức ăn được sử dụng để nuôi thương phẩm loại
Trang 16cá này là các loại cá tạp văm nhỏ hoặc xay và sử dụng thức ăn công nghiệp của cá da trơn, thức ăn viên của cá da trơn, cá Hồi hoặc hỗn hợp dùng cả hai, thức ăn cá Hồi 40% protein bổ sung cá tạp được chứng minh hiệu quả hơn so với thức ăn cá tạp trộn với đậu nành (Tatum.1972)
Nghiên cứu của Lan và nnk (2007) đã tiến hành trên hai loại thức ăn đối với cá Chim vây vàng tại Hải Nam, Trung Quốc thí nghiệm được tiến hành trên 4 loại lồng chìm 100m3
mỗi loại thức ăn thường lặp lại trên hai lồng với số lượng 9600 cá trên 1 lồng, mục đích của thí nghiệm nhằm so sánh sự sinh trưởng và FCR của cá ăn thức ăn chuẩn ASA-IM43/12, chứa 45% protein được cung cấp bởi bột cá với một loại thức ăn khác có giá trị dinh dưỡng tương đương nhưng bột đậu nành và hàm lượng protein đậu nành là hàm lượng protein chính, còn bột cá chỉ cung cấp 16% protein Kết quả cho thấy không có sự sai khác về sinh trưởng và tỉ lệ sống của cá Chim vây vàng khi sử dụng hai loại thức ăn trên Cá Chim vây vàng ăn thức ăn ASA-IM 43/12 tăng từ 19g tới 608g trong 146 ngày với tỉ lệ sống >99% trong khi cá ăn thức ăn đậu nành 43/12 tăng từ 26g tới 610g trong 146 ngày với tỉ lệ sống > 99% Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) Trung bình tương ứng là 2,51:1 và 2,59:1
1.1.5 Đặc điểm sinh sản
Cũng giống như các đối tượng cá nhiệt đới khác, cá Chim vây vàng bắt đầu mùa vụ sinh sản vào đầu mùa hè từ tháng 4 đến tháng 5 và duy trì tới mùa thu đến tháng 9 hằng năm Trong tự nhiên cá tham gia sinh sản lần đầu tiên từ 3 đến 4 năm tuổi, chúng chỉ sinh sản một lần trong năm Cá Chim vây vàng sinh sản ở độ mặn cao 33 - 55‰ mỗi cá thể có sức sinh sản thường từ 40 - 60 vạn trứng Trứng sau khi phóng thích ra môi trường ngoài, thụ tinh và nổi theo môi trường nước và nở thành ấu trùng (Phương Vĩnh Cường, 1996)
Trang 17Cá Chim trắng vây vàng đẻ không theo tuần trăng, con cái thường lớn hơn con đực Trong điều kiện nuôi nhốt, cá không sinh sản tự nhiên mà phải sử dụng hormon sinh dục để kích thích sinh sản (Nur Muflich Juniyannto và nnk, 2008) Theo báo cáo kết quả tiếp nhận của trường Cao đẳng thủy sản (2008) cho thấy cá Chim vây vàng nuôi vỗ trong điều kiện oxy hòa tan dao động từ 5-7mg/l, pH từ 7,6 -8,4, độ mặn từ 27-30 ‰, nhiệt
độ nước 270
C - 330C, thức ăn là tôm mực, cá tạp và bổ sung vitamin E với lượng 100-150 mg/kg thức ăn Cho cá ăn 2 lần/ngày, với khẩu phần ăn 8-10% khối lượng đàn cá Kết quả cho thấy, đàn cá thành thục đạt tỷ lệ trung bình 84,7%, báo cáo cũng chỉ ra rằng, cá Chim vây vàng có thể nuôi tái phát dục được trong điều kiện nhân tạo nếu chúng được chăm sóc và quản
lý tốt Điều này khác với kết luận trước đây của (Phương Vĩnh Cường, 1996) trong khi tác giả này cho rằng cá Chim vây vàng chỉ thành thục 1 lần trong năm
1.1.6 Đặc điểm sinh trưởng của cá
Chiều dài của ấu trùng cá Chim vây vàng mới nở 1 ngày là 2,77mm,
noãn hoàng dài trung bình 0,55-1mm có 1 giọt dầu cos chiều dài 0,2mm đến 0,325mm nằm phía trước noãn hoàng làm cho cá mới nở nổi đầu theo chiều thẳng đứng hay khoảng 450
C so với mặt phẳng nằm ngang Lúc đầu
sự hình thành sắc tố không đồng loạt, mắt ống tiêu hóa, huyệt và vây đuôi trong suốt ba ngày sau khi nở, và hàm bắt đầu cử động, luân trùng (lotife)
đã được làm giàu làm thức ăn cho ấu trùng cá Chim vây vàng cung cấp vào
bể ương từ cuối ngày thứ hai sau khi cá nở Quan sát thấy rằng chỉ những
cá hương khỏe mạnh giai đoạn 20 đến 30 ngày tuổi mới bơi lội tự động Ở giai đoạn 30 đến 60 ngày tuổi chiều dài trung bình của cá 2-5cm giai đoạn này cá đã gần hoàn thiện các cơ quan vây lưng gai và tia vây
Trang 18Cá Chim vây vàng có cơ thể tương đối to, sau 24 tháng nuôi chiều dài
có thể đạt 45 – 60cm Cá sinh trưởng trong điều kiện nuôi bình thường một năm kích thước thương phẩm có thể đạt 0,5 – 0,7kg [19]
1.2 Tình hình phát triển nuôi và sản xuất giống cá Chim vây vàng trên thế giới
1.2.1 Tình hình phát triển nuôi cá Chim vây vàng trên thế giới
Cá Chim vây vàng (Trachinotus blochii Lacepède, 1801) phân bố
rộng ở vùng biển Ấn Độ Dương, từ biển đỏ, Nam Phi đến miền nam Australia, vùng biển nhiệt đới và á nhiệt đới, cá phân bố tự nhiên ở 69 nước trên thế giới trong đó có Việt Nam [2] Cá Chim vây vàng là một trong những đối tượng nuôi quan trọng ở các nước như Hồng Kông, Singapore, Đài Loan, Trung Quốc, Malaysia [33] và gần đây là đối tượng đang được lựa chọn nuôi tại Indonesia [2] Thị trường tiêu thụ sản phẩm chủ yếu là Hồng Kông, Singapore, Đài Loan với giá bán cá phi lê xuất khẩu vào thị trường này từ 25 – 35 USD/kg [33]
Cá Chim vây vàng được nuôi bằng nhiều hình thức khác nhau như nuôi trong ao đất, nuôi trong lồng, nuôi ghép với tôm [21]
Trong những năm qua nghề nuôi tôm ở Đài Loan gặp nhiều khó khăn
do dịch bệnh bùng phát, người dân nuôi tôm đã chuyển sang nuôi cá Chim vây vàng trong ao có nồng độ muối thấp và đạt hiệu quả cao Hằng năm, nước này sản xuất 10 triệu con giống để phục vụ cho việc nuôi thâm canh trong ao đất [33]
Trong những thập kỷ gần đây, nghề nuôi thương phẩm cá chim vây vàng đang phát triển nhanh, do đây là loài cá có chất lượng thịt thơm ngon, tốc độ tăng trưởng nhanh và có hình dáng hấp dẫn Hơn nữa, nó cũng đang được xác định là đối tượng thay thế cho con tôm vốn bị thất bại do dịch bệnh bùng phát [47]
Trang 191.2.2 Tình hình nghiên cứu công nghệ sản xuất giống cá Chim vây vàng trên thế giới
Theo Nur Muflich Juniyanto và nnk (2008), khi sử dụng kết hợp HCG
250 IU/kg và Fibrogen 50 IU/kg cá cái thành thục với tỷ lệ đực/cái là 1:1, liều tiêm cho cá đực bằng 1/2 liều tiêm cho cá cái và tiêm 2 lần/ 2 ngày thì cá thường đẻ trứng sau khi tiêm lần thứ 2 từ 12 - 24 giờ với tỷ lệ nở đạt 60 - 70%
và đường kính trứng thụ tinh khi trương nước là 0,8 - 0,88mm [29]
Năm 1989, Đài Loan bắt đầu cho thử nghiệm sinh sản nhân tạo cá Chim vây vàng, qua 5 lần cho tiêm kích dục tố trong đó 4 lần cho đẻ trứng thụ tinh thành công thu được trên 900 vạn trứng trong đó có 500 vạn trứng được thụ tinh Qua nhiều hình thức thực nghiệm ương nuôi với thức ăn ban đầu là rotifer, copepoda, thức ăn tổng hợp thu được 38,6 vạn giống kích cỡ
2 - 3 cm [14], đây là lần đầu tiên cho sinh sản nhân tạo cá Chim vây vàng thành công Năm 1997, nước này đã có 20 trại sản xuất giống cá Chim vây vàng và sản xuất được 38 triệu con giống
Năm 1993, Trung Quốc cho sinh sản nhân tạo thành công cá Chim vây vàng trên quy mô nhỏ, đến năm 1998 đã cho sinh sản nhân tạo thành công cá Chim vây vàng trên quy mô lớn và hiện nay đã đưa đối tượng này vào sản xuất đại trà
Theo Trương Bang Kiệt (2001), thử nghiệm ương nuôi cá giống Thời
kỳ đầu, cá sinh trưởng chậm Cá có kích thước chiều dài 2,6cm; khối lượng 0,52g thì sau 192 ngày nuôi chiều dài đạt 9,9cm và khối lượng đạt 20,53g Bình quân ngày khối lượng tăng 0,6g và hệ số tăng trưởng trung bình ngày
là 1,04% Trong điều kiện nhân tạo, cá 1 ngày tuổi có chiều dài 0,2cm thì sau 30 – 35 ngày ương chiều dài đạt 3,4cm
Theo Nur Muflich Juniyanto (2008), cá Chim vây vàng ở giai đoạn
cá bột được ương ở mật độ 20 con/lít Đến thời điểm cuối của quá trình ương (35 ngày), mật độ cá giảm còn 0,5 con/lít và kích cỡ cá đạt từ 3,4 - 3,5
cm
Trang 20Hiện nay, trung tâm biển Batam (Indonexia) đã cho sinh sản nhân tạo thành công cá Chim vây vàng với tỷ lệ nở 65 - 75%, ương nuôi từ lúc mới
nở đến 22 ngày tuổi tỷ lệ sống đạt 20 - 25%, vì thế nước này đã chủ động nguồn giống [29]
1.3 Tình hình phát triển nuôi và nghiên cứu sản xuất giống cá
Chim vây vàng ở Việt Nam
1.3.1 Tình hình phát triển nuôi cá Chim vây vàng ở Việt Nam
Ở Việt Nam, cá Chim vây vàng được tìm thấy ở Vịnh Bắc Bộ, miền Trung và miền Nam Hiện nay, cá Chim vây vàng được nuôi ở một số nơi như Quảng Ninh, Hải Phòng, Nghệ An, Khánh Hoà và Cà Mau [2]
Năm 2003, cá Chim vây vàng giai đoạn cá hương được Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I nhập từ Đài Loan nuôi thành cá giống [11]
Năm 2004, trong khuôn khổ dự án NORAD, Phân Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản Bắc Trung Bộ tiến hành nhập cá Chim vây vàng giai đoạn cá hương về nuôi Cá tạp được sử dụng làm thức ăn, khối lượng trung bình của cá sau 6 tháng nuôi đạt 545g/con và sau 9 tháng nuôi đạt 722g [17] Năm 2005, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I đã thực hiện đề tài
“Nghiên cứu đặc điểm sinh học, kỹ thuật nuôi thương phẩm và tạo đàn cá hậu
bị của 5 loài cá biển kinh tế” trong đó có cá Chim vây vàng Proconco được
sử dụng làm thức ăn và với cá thả có khối lượng 22g thì sau 6 tháng nuôi khối lượng đạt 450g [11]
1.3.2 Tình hình nghiên cứu sản xuất giống cá Chim vây vàng ở Việt Nam
Nhằm đa dạng hóa đối tượng nuôi, góp phần tăng sản lượng cá nuôi cho toàn Ngành cũng như chủ động được nguồn giống cho người nuôi, năm
2006 Trung tâm Khuyến nông Quốc gia đã phối hợp với Trường Cao đẳng Thủy sản và Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I thực hiện dự án nhập công nghệ sản xuất nhân tạo cá chim vây vàng do Trung tâm chuyển giao
Trang 21công nghệ Trường Đại học Trung Sơn Trung Quốc chuyển giao Kết quả
dự án sau 2 năm thực hiện cho thấy, tỷ lệ sống từ cá hương lên giống đạt 50
- 62,5%, sản xuất được 165.040 con cá giống cỡ 4 - 6cm Báo cáo đã chỉ ra rằng, cá Chim vây vàng có thể nuôi tái phát dục được trong điều kiện nhân tạo nếu chúng được chăm sóc và quản lý tốt Điều này khác với kết luận trước đây của Phương Vĩnh Cường (1996) trong khi tác giả này cho rằng cá Chim vây vàng chỉ thành thục 1 lần trong năm [2]
Năm 2008 và 2009, Phân viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản Bắc Trung Bộ thuộc Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản I đã cho sinh sản thành công cá Chim vây vàng với sản lượng tương ứng 1 vạn (2008) và 20 vạn (2009) Thực tế sản xuất cho thấy, cá Chim vây vàng sinh sản vào mùa hè khi nhiệt độ nước khoảng 280C nhưng mùa vụ sinh sản tương đối ngắn, kéo dài
khoảng 2 tháng (tháng 5 và 6)
Năm 2009 – 2011, tỉnh Khánh Hòa thực hiện đề tài “Thử nghiệm sản
xuất giống cá Chim vây vàng (Trachinotus blochii Lacepede, 1801) tại
Khánh Hòa do PGS.TS Lại Văn Hùng (Trường Đại học Nha Trang) làm chủ nhiệm [14]
1.4 Tình hình nghiên cứu bệnh ký sinh trùng ở cá trên thế giới và Việt Nam
1.4.1 Tình hình nghiên cứu bệnh kí sinh trùng ở cá trên thế giới
Trên thế giới, việc nghiên cứu về bệnh ký sinh trùng trên cá đã bắt đầu từ thế kỷ XVIII và Liên Xô cũ là cái nôi đầu tiên của ngành ký sinh trùng học Với “Phương pháp nghiên cứu ký sinh trùng trên cá” xuất bản năm 1929, viện sỹ V.A Dogiel (1882-1955) thuộc Viện Hàn Lâm khoa học Liên Xô đã mở ra một hướng phát triển mới cho nghiên cứu về các khu hệ
ký sinh trùng trên cá và các loại bệnh do chúng gây ra Đến năm 1962, Bychosky đã xuất bản cuốn sách phân loại ký sinh trùng cá nước ngọt Liên
Xô, trong đó ông đã miêu tả 1221 loài ký sinh trùng phát hiện được Về sau
Trang 22Bauer O.N và Gussev A.V đã cho tái bản bảng phân loại ký sinh trùng cá nước ngọt Liên Xô và các tác giả có bổ sung hơn 2000 loài cho khu hệ ký sinh trùng cá nước ngọt Cho đến nay tài liệu này vẫn được sử dụng ở nhiều nước trên thế giới [6]
Tại Trung Quốc, Chen Chin Leu và ctv đã tiến hành kiểm tra ký sinh trùng trên loài cá nước ngọt ở tỉnh Hồ Bắc vào những năm 1973-
1975 Kết quả nghiên cứu đã phát hiện 382 loài ký sinh trùng, trong đó có
159 loài nguyên sinh động vật (Protozoa), 117 loài sán lá đơn chủ (Monogenea), 33 loài sán lá song chủ (Trematoda), 10 loài sán dây (Cestoidea), 2 loài đỉa (Huridinea), 29 loài giáp xác (Crustacea) và một loài nhuyễn thể (Molusca) [17]
Ở Ấn Độ, năm 1965 Paperna I.L đã công bố 116 loài ký sinh trùng trên cá nước ngọt, trong đó có 20 loài sán lá đơn chủ, 13 loài sán lá song chủ, 43 dạng ấu trùng sán lá song chủ, 17 loại sán dây, 15 loại giun tròn và
1 loại giun đầu móc Nghiên cứu trên 37 loài cá nước ngọt ở Ấn Độ, Gussev A.V (1976) đã phát hiện 37 loài cá nhiễm ký sinh trùng thuộc lớp sán lá đơn chủ, phân loại được 57 loài, trong đó có 40 loài mới đối với khoa học và chủ yếu thuộc giống Dactylogyrus Cá bị nhiễm sán lá đơn chủ không chỉ một loài mà có khi gặp tới 10 - 12 loài sán trên một loài cá (Gussev A.V, 1976) [10]
Philipin, Vaslequez C.C và Tubangui M.A là những tác giả có công lao lớn góp phần làm phong phú khu hệ ký sinh trùng cá Năm 1947, các tác giả đã nghiên cứu và công bố về một số loài ký sinh trùng mới thuộc lớp sán lá đơn chủ, sán lá song chủ, giun tròn và giun đầu móc ký sinh trên
cá (Arthur J.R, 1996) Theo trích dẫn của Phan Văn Út (2006) [13], Vaslequez C.C và Carmen C.V đã xuất bản cuốn sách “Sán lá song chủ (Trematoda) ký sinh ở cá nuôi ở Philipin” năm 1975, trong đó đã mô tả 73 loài thuộc 50 giống, 21 họ sán lá song chủ ký sinh trên 27 họ cá
Trang 23Tại Thái Lan, nghiên cứu ký sinh trùng trên 149 con cá Chẽm (Lates calcarifer) nuôi tại Băng Cốc và Songkla, Leong Tak Seng (1994) đã phát hiện 2 loài thuộc Protozoa, 2 loài thuộc Monogenea, 6 loài thuộc Trematoda, 1 loài thuộc Cestoidea, 2 loài thuộc Nematoda, 2 loài Isopoda,
1 loài Copepoda và 1 loài Branchiura [1]
Tại Trung Quốc, theo một điều tra bệnh KST trên cá Song nuôi tại Quảng Đông phát hiện thấy sự nhiễm nặng một vài loài KST trong đó
từ 10-50% (Zhang.H,2001)[3]
Trong khi đó Wong và Leong (1990) [1] khi nghiên cứu bệnh kí sinh trùng ở cá Song ( E.Malabaticus) các tác giả đã tìm thấy16 loài Kí sinh trùng ở cá Song nuôi và 11 loài kí sinh trùng ở cá Song tự nhiên Kết quả nghiên cứu còn cho thấy mức độ nhiễm kí sinh trùng ở cá Song nuôi gấp 3 lần ở cá tự nhiên, trong đó loài Pseudohabdosynochus epinepheli là phổ biến nhất Tỷ lệ cá Song nuôi nhiễm KST là 97.2% cá Song tự nhiên nhiễm
77% trong khi đó tỷ lệ nhiễm do Trematoda loài Prosorhynchus Patificus ở
cá nuôi là 81%, cá tự nhiên là 72%
Trên đối tượng cá nuôi, Leong Tak Seng (2001) cho rằng bệnh kí sinh trùng là bệnh rất khó phòng trị và các loài cá được nuôi trong lồng, trong môi trường rộng lớn rất khó có thể trị bệnh tốt cũng như không thể triệt tận gốc các loài kí sinh trùng Do vậy cá nuôi lồng thường nhiễm với
tỷ lệ cao[24] Tỷ lệ nhiễm cao nhất là các loài thuộc lớp sán lá đơn chủ
monticelli[24]
1.4.2 Tình hình nghiên cứu bệnh kí sinh trùng ở cá tại Việt Nam
Nhà khoa học Việt Nam đầu tiên nghiên cứu có quy mô và đầy đủ nhất về ký sinh trùng trên cá là tiến sỹ Hà Ký Từ những năm 1960-1968, tác giả đã tiến hành điều tra ký sinh trùng trên 16 loài cá nước ngọt ở miền
Trang 24Bắc Việt Nam, mô tả 120 loài thuộc 48 giống, 37 họ, 26 bộ, 10 lớp, với 42 loài, 1 giống, 1 họ mới đối với 10 lớp, với 42 loài, 1 giống, 1 họ mới đối với khoa học, trong đó 42 loài sán lá đơn chủ , 8 loài sán lá song chủ, 4 loài sán dây [1]
Đến năm 1984, hai nhà ký sinh trùng học người Hungari là Moravec
F và O.Sey đã tiến hành nghiên cứu giun tròn ký sinh trên 22 loài cá nước ngọt ở khu vực sông Hồng Kết quả nghiên cứu tìm thấy 24 loài giun tròn
ký sinh thuộc phân họ Camallanoidea và Habronematoidea, trong đó có 5 loài mới được phát hiện và công bố vào thời điểm đó [21]
Ở khu vực miền Trung và Tây Nguyên, Nguyễn Thị Muội và Đỗ Thị Hòa đã phát hiện được 57 loài ký sinh trùng trên 20 loài cá nước ngọt [13] Điều tra thành phần giống loài ký sinh trùng trên cá vùng biển Phú Khánh, các tác giả đã phát hiện được 80 loài ký sinh trùng thuộc 55 giống, 17 bộ, 6 lớp: Monogenea, Trematoda, Cestoidea, Nematoda, Acanthophala và Crustacea Trong 80 loài này có 46 loài sán, 18 loài giun tròn, 7 loài giun đầu móc và 9 loài giáp [4]
Tại An Giang, Nguyễn Thị Thu Hằng và ctv đã tiến hành khảo sát sự
nhiễm ký sinh trùng trên cá Tra (Pangasianodon hypophthalmus) nuôi
thâm canh Kết quả kiểm tra ký sinh trùng trên 329 mẫu cá tra ở các vị trí nuôi khác nhau: ao, bè, đăng quầng đã định loại được 19 loại ký sinh trùng thuộc 4 ngành Trong đó có 13 loài thuộc nhóm ngoại ký sinh và 6 loài thuộc nhóm nội ký sinh Kết quả cũng cho thấy sự xuất hiện ký sinh trùng theo mùa [2]
Tại khu vực miền Nam, Bùi Quang Tề và ctv đã tiến hành điều tra nghiên cứu khu hệ ký sinh trùng trên 41 loài cá nước ngọt có giá trị kinh tế tại khu vực đồng bằng Sông Cửu Long Đây là công trình nghiên cứu có quy mô lớn kéo dài 12 năm (1984-1996) Kết quả nghiên cứu đã phát hiện được 157 loài ký sinh trùng, thuộc 70 giống, 46 họ, 27 bộ, 12 lớp, 8 ngành
Trang 25Trong số 157 loài ký sinh trùng phát hiện được có 121 loài lần đầu tiên phát hiện ở Việt Nam Theo tác giả, thành phần loài ký sinh trùng ký sinh trên cá nước ngọt tại vùng đồng bằng sông Cửu Long khá phong phú Nhiều nhất là lớp sán lá đơn chủ gặp 49 loài, lớp sán lá song chủ gặp 14 loài và lớp sán dây gặp 11 loài Trong đó trên cá Chim trắng vây vàng đã
phát hiện được 6 loài KST Cornudiscoides modayensis, Lystocesstus
achaesens, Polyoncho bothrium parva, Orientocreadium siluri, Ấu trùng Contracaecum spiculgerum, Palisentisophiocephali, gây bệnh [10]
Theo kết quả tổng hợp của Bùi Quang Tề (2008) [12] từ các công trình nghiên cứu của một số tác giả trong và ngoài nước, cho đến nay ở Việt Nam đã điều tra nghiên cứu khu hệ ký sinh trùng trên 179 loài cá nước ngọt, nước lợ và nước mặn Tổng hợp có 592 loài ký sinh trùng (nước ngọt
380 loài, nước lợ và nước mặn 212 loài) đã được phát hiện Trong số này, các tác giả đã phân loại được 81 loài ký sinh ở cá nước ngọt và 43 loài ký sinh ở cá nước mặn, 14 giống và 1 họ mới đối với khoa học Thành phần giống loài ký sinh trùng ở Việt Nam rất phong phú và đa dạng, đặc biệt là giống loài sán Chỉ tính riêng trên cá nước ngọt, lớp sán lá đơn chủ Monogenea gặp 103 loài thuộc 16 họ, 17 giống, còn lớp sán lá song chủ Trematoda gặp 50 loài thuộc 19 họ, 39 giống [6]
Công trình nghiên cứu:“Thành phần kí sinh trùng kí sinh trên một số loài cá biển có giá trị kinh tế tại Phú Khánh( Khánh Hòa)” của Nguyễn Thị Muội và Đỗ Thị Hòa (1978-1980) Công trình này đã phát hiện được 80 loài kí sinh trùng kí sinh trên cá biển [2]
Trong những năm gần đây, nghề nuôi cá biển ở Việt Nam đã bắt đầu phát triển tại Hải Phòng, Quảng Ninh, Khánh Hòa và Vũng Tàu với các đối tượng nuôi chính như cá Song, cá Giò, cá Hồng, từ đó nảy sinh nhiều vấn
đề về dịch bệnh rất khó kiểm soát
Trang 26Khi kiểm tra KST trên 3 loài cá Song nuôi lồng tại vịnh Hạ Long,
Bùi Quang Tề đã xác định được 13 loài kí sinh trùng trong đó Benedenia
thuộc lớp sán lá đơn chủ có tỷ lệ nhiễm cao 95%.[10]
Kết quả nghiên cứu của Bùi Quang Tề và ctv (1998), trên 3 loài cá Song mỡ, cá Song sáu sọc, cá Song chuối nuôi lồng trên vịnh Hạ Long đã xác định được 13 loài kí sinh trùng thuộc 12 giống,11 họ,7 bộ, 4 lớp, 3 ngành Cá Song mỡ gặp 12 loài kí sinh trùng, cá Song sáu sọc gặp 10 loài kí sinh trùng,
cá Song chuối gặp 9 loài kí sinh trùng Trong đó nhóm sán lá đơn chủ và nhóm kí sinh đơn bào có tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm cao Lớp sán lá đơn
chủ đáng chú ý nhất là Pseudohabdosynochus epinepheli, Lycloplectanum,
Diplectanum hargisi, Haliotrma sp, kí sinh ở mang tỷ lệ nhiễm rất cao
71,4% - 95,8%, tiếp đến sán lá song chủ Brosorhynchus epinepheli,
tương đối cao từ 25-35%, còn lại kí sinh đơn bào và giáp xác có tỷ lệ nhiễm thấp[10]…ngoài ra còn có những nghiên cứu khác của Bùi Quang Tề trên
cá Song nuôi lồng tại Vân Đồn( Quảng Ninh), Cát Bà (Hải Phòng) Tuy tác giả không đưa ra con số cụ thể về tỷ lệ cá chết và mức độ thiệt hại kinh tế
do KST gây ra nhưng đã cho biết cá nuôi lồng bị nhiễm KST với cường độ nhiễm và tỷ lệ cao.[1]
Nguyễn Thị Hằng (2003) qua điều tra bệnh trên cá nuôi cho biết cá chết do tác nhân là KST cao, trung bình chiếm 10,6 - 20% trong tổng số cá nuôi Tỷ lệ cá chết ở Cát Bà cao hơn so với cá nuôi ở Quảng Ninh, tỷ lệ này thấp hơn so với cá Song nuôi tại Quảng Đông ( Trung Quốc) được tác giả Zhang Haifa thông báo (13,1 - 30%) cao hơn nhiều so với cá Song nuôi ở Thái Lan (6,4%).[1]
Trang 271.5 Ảnh hưởng của bệnh ký sinh trùng tới ngành thủy sản
Nhiều loài KST là nguyên nhân gây bệnh nguy hiểm cho cá ở giai đoạn sớm (cá hương, cá giống) Nguyên nhân gây bệnh cho cá do KST đã được nhiều tác giả trên thế giới thông báo Nhiều loài KST đã gây thiệt hại cho nghề nuôi cá như nhóm đơn bào ngoại ký sinh, sán lá đơn chủ (monogenea), giun sán và giáp xác (crustacea) [10]
O.N.Bauer (1969, 1977), cho biết 1 con cá mè 2 tuổi có 10.647 cá thể Dactylogyrus, ở cá chép cỡ 3,0 - 4,5 cm, cường độ nhiễm 20 - 30 trùng/1con cá và đã làm cho cá chết [10]
Bệnh Argulas là bệnh phổ biến của cá ở nhiều nước trên thế giới Theo O.N.Bauer (1977) Argulus ký sinh làm cho cá Hồi cỡ 0,7 - 1,0 kg chết khi cường độ nhiễm 100 - 200 cá thể /1 con cá Tỉnh Triết Giang - Trung Quốc, 1955 cá mè trắng 2 - 3 tuổi nuôi ở mặt nước lớn đã bị chết nhiều do bị nhiễm Argulus Ở Ucraina, năm 1960 bệnh rận cá làm chết gần 1triệu con, 3 triệu con khác bị thương và chết dần [10]
Theo Hà Ký (1961) Lernaeosis và Daclogyrosis ở cá mè hoa giai đoạn cá hương trong một ao nhiễm bệnh 100%, khi cường độ nhiễm 210 -
325 cá thể/1 con cá, cá bị chết 75% Bệnh đã làm chết 3 vạn cá hương mè hoa và trắm cỏ Trung Quốc mới nhập vào nước ta ở trại cá Nhật Tân [10]
Tháng 5/1969 hàng loạt cá mè trắng cỡ 12 - 15 cm ở hợp tác xã Tứ Hiệp - Hà Nội đã bị chết do Lernea ký sinh Năm 1982, trong 100 ao nuôi
cá của tỉnh Đắc Lắc, Bình Định cá mè, cá trắm cỏ bị nhiễm Lernaea với tỷ
lệ từ 70 - 80% và cường độ 5 - 20 cá thể/1 con cá, thậm chí 80 cá thể / con
cá Ở miền Trung, Dactyloygrus ký sinh làm chết hàng loạt cá vàng, gây tổn thương cho một số cơ sở nuôi cá cảnh [10]
Năm 1979, cá Chép của một số hồ nuôi cá ở Hà Nội đã bị nhiễm
Gyrodactylus với tỷ lệ nhiễm ở da và mang 100%, cường độ nhiễm 20 - 30
trùng/thị trường kính hiển vi (TTKHV), có lamen đếm được 1125 trùng,
Trang 28bệnh đã gây chết hàng loạt cá Chép cỡ khác nhau Từ năm 1975 - 1984,
Myxobolosis, Thelohanellosis thường xuyên gây bệnh cho cá Chép Hungari
nhập nội nuôi ở Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1, Trại cá Lạng Giang
- Bắc Giang, Trại cá Tiền Phong - Quảng Ninh Bệnh đã làm nắp mang của
cá Chép giống và gây chết cá hàng loạt [10]
Cuối năm 1996 đầu năm 1997 đầm nước lợ ở Yên Hưng, Quảng
Ninh rộng 324ha đã bị đĩa (Piscicola) ký sinh làm chết khoảng 20-25 tấn
cá Rô phi
Tháng 6/1998 hơn hai tạ cá Trắm Cỏ hương, đưa từ trạm thủy sản hồ Núi Cốc ra nuôi lồng ở ngoài hồ, sau 3 ngày cá chết hầu hết, nguyên nhân
chính là do cá bị nhiễm ấu trùng Centrocestus formosanus ở mang với TLN
100%, bào nang ký sinh dày đặc trên tơ mang cá [10]
Trang 29Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- KST ngoại KS trên cá Chim vây vàng (Trachinotus blochii -
Lacepède, 1801)
- Cá Chim vây vàng (Tranchinotus blochii- Lacepède, 1801) nuôi
trong ao đất
2.2 Vật liệu và thiết bị nghiên cứu
- Bộ giải phẩu: dùi, kéo các loại, panh các loại, dao
- Khay, cốc thủy tinh 100ml, 200ml, 500ml
- Cân điện tử , thước palmen đo độ chính xác 1 cm
- Đĩa Petri, lam kính, lamen, pipet, ống eppendop
- Kính hiển vi có gắn thước đo mm
- Pesin
- Dung dịch axit HCl
- Muối Nacl tinh khiết
- Nước cất, nước muối sinh lí 0,85%
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Xác định thành phần giống loài KST ngoại kí sinh trên cá Chim vây vàng nuôi thương phẩm
- Xác định tỷ lệ nhiễm kí sinh trùng ngoại kí sinh trên cá Chim vây vàng
Trang 30- Điều tra bệnh kí sinh trùng đã xảy ra trên cá Chim vây vàng ở cá khu vực nuôi xung quanh vùng nghiên cứu
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Sơ đồ khối nghiên cứu
Định loại
KST
Liên hệ thu thập thông tin
Xác định các yếu tố môi trường
CÁ CHIM VÂY VÀNG
(Trachinotus blochii - Lacepède, 1801)
Trang 312.4.2 Sơ đồ định loại kí sinh trùng
2.4.3 Phương pháp thu mẫu
- Phương pháp thu mẫu cá
+ Số lần thu mẫu: Định kì 5 ngày thu mẫu/lần
+ Số mẫu thu: 10 con/lần × 15 lần = 150 con
+ Lần 1: 20/2/2012, Lần 2: 25/2/2012, Lần 3: 1/3/2012, Lần 4: 5/3/2012, Lần 5: 10/3/2012, Lần 6: 15/3/2012, Lần 7: 20/3/2012, Lần 8: 25/3/2012, Lần 9: 30/3/2012, Lần 10: 4/4/2012, Lần 11: 9/4/2012, Lần 12: 14/4/2012, Lần 13: 19/4/2012, Lần 14: 24/4/2012, Lần 15: 29/2/2012,
Mẫu cá nghiên cứu
Đo chiều dài thân và cân khối
Trang 32+ Cá sử dụng để nghiên cứu là cá sống hoặc mới chết còn tươi, mẫu cá thu ngẫu nhiên từ các ao nuôi thương phẩm
+ Mẫu cá bệnh được thu khi có các dấu hiệu cá yếu nổi thành đàn trên mặt nước, bơi lờ đờ
- Phương pháp thu mẫu kí sinh trùng ngoại kí sinh
+ Cân đo kích thước của từng cá thể cá và ghi chép lại Mỗi mẫu cá
được đo chiều dài L1 từ đầu đến cuống đuôi còn L2 là chiều dài toàn bộ cơ thể + Mỗi con cá được tiến hành nghiên cứu ở các bộ phận khác nhau bao gồm các vây như vây bụng, vây đuôi, vây lưng, vây ngực, vây hậu môn, và mang, da, hốc mắt, đầu
+ Cạo nhớt ở các bộ phận cần nghiên cứu cho lên lam kính nhỏ thêm nước cất, mang lên kính hiển vi quan sát từ vật nhỏ nhất đến vật lớn nhất rồi nhận dạng kí sinh trùng nếu có
2.4.4 Phương pháp điều tra kí sinh trùng
+ Cập nhật địa chỉ và liên hệ với các hộ nuôi cá Chim vây vàng tại
2.4.5 Phương pháp thu thập số liệu
- Phương pháp xác định các yếu tố môi trường
+ Định kì kiểm tra các yếu tố môi trường thu thập trên ao khi tiến
hành thu mẫu
+ Nhiệt độ nước đo: Bằng nhiệt kế bách phân, độ chính xác 1◦C + PH đo bằng pH test Kit (CP - Thái Lan)
Trang 33+ Độ trong đo bằng đĩa Sechi
+ Oxy hòa tan (mg/l) dùng test DO
+ Amoniac(mg/l)NH3: Dùng test so màu
- Các công thức tính
Phương pháp đo ký sinh trùng
KST có kích thước lớn thì đo chiều dài bằng thước kẹp hay thước nhựa Còn KST có kích thước nhỏ hơn hay một số cơ quan, bộ phận của cơ
thể KST thì đo bằng kính giải phẩu hay kính hiển vi có trắc vi thị kính
Tổng số cá kiểm tra
Phương pháp tính cường độ nhiễm trung bình (CĐNTB)
- Đối với KST có kích thước lớn ta đếm toàn bộ số KST trên cơ thể
Số lam kính kiểm tra có KST
Trang 34- Đối với KST có kích thước rất nhỏ không thể đếm hết tất cả các lam kính được thì ta đếm trên thị trường kính (TTK) và tính theo công thức
Tổng số trùng trên các TTK CĐNTB (Trùng/TTK) =
Số TTK kiểm tra có KST
2.4.6 Phương pháp xử lý số liệu
Toàn bộ số liệu thu được sau khi phân loại được xử lý trên phần mềm Microsoft Excel
2.5 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Phòng thí nghiệm tại Cơ sở 2 - Trường Đại Học Vinh
- Địa điểm thu mẫu: Trại nuôi cá Nghi Hợp thuộc Phân viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản Bắc Trung Bộ
- Địa điểm điều tra bệnh KST trên cá Chim trắng vây vàng tại vùng đánh bắt cá ngoài tự nhiên tại thuộc huyện Quỳnh Lưu, xã Nghi Hương và Nghi Xá - huyện Nghi Lộc
- Địa điểm phân tích mẫu: Phòng thí nghiệm Bệnh động vật thủy sản – Trung tâm thực hành thí nghiệm, Trường Đại học Vinh (cơ sở 2)
- Thời gian nghiên cứu: Từ 2/2012 - 5/2012
Trang 35Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Sự biến động của các yếu tố môi trường
Ở mức nhiệt độ từ 160C đến 360C cá Chim vây vàng phát triển bình thường nhưng sinh trưởng tốt nhất trong khoảng 220C đến 280
C (Cheng S.C,1990) Moe et al (1968) đã nghiên cứu ảnh hưởng độ mặn đến cá Chim
Florida (Tranchilonus Canolinus) đã chỉ ra rằng cá Chim bắt đầu thể hiện
dấu hiệu stress ở 12‰ đến 33‰ Ở dưới 100
C và 33‰ cá Chim hầu hết đều chết Như vậy sự chịu đựng nhiệt độ dường như chịu ảnh hưởng của độ mặn bởi vì khi tăng hay giảm độ mặn từ 33‰ đều gây nên sự giảm khoảng nhiệt độ mà cá có thể chịu đựng ( Kumpf,1971) Các chỉ tiêu môi trường
mà cá Chim vây vàng sống và phát triển tốt đó là nhiệt độ = 260
DO (mg/l)
NH3 (mg/l)
Trang 36trong thời gian này thường xuất hiện những đợt không khí lạnh bất ngờ làm cho nhiệt độ nước trong ao thu mẫu cá thay đổi đột ngột, hiện tượng
cá chết rãi rác nhiều Vì thời gian kiểm tra các yếu tố môi trường định kì theo thời gian thu mẫu cá nên việc kiểm soát môi trường chưa chặt chẽ rõ ràng về sự thay đổi đột ngột của nhiệt độ Bắt đầu từ ngày 20/3/2012 đến 28/4/2012 thì nhìn chung thời tiết nằm trong giới hạn cho phép về nhiệt
độ để phát triển của cá Chim vây vàng, thời gian sau này sự ảnh hưởng của nhiệt độ không đáng kể cá không có hiện tượng chết và nổi đầu lên bờ như giai đoạn đầu
Các yếu tố khác như DO, NH3, pH, độ mặn vẫn ở trong khoảng thích hợp cho cá Chim vây vàng phát triển, chỉ có giai đoạn đầu vào ngày 20/2/2012 kiểm tra thấy pH thấp chỉ ở khoảng pH= 6,5, nhưng về sau thì
pH tương đối ổn định ở mức phát triển tốt của cá
3.2 Kết quả thu mẫu cá
Sau khi chúng tôi kiểm tra tổng 150 mẫu cá Chim vây vàng, mẫu cá được tiến hành thu 15 đợt và mỗi đợt thu 10 cá thể, mà kiểm tra thấy 75 mẫu
cá có nhiễm kí sinh trùng ngoại kí sinh, số còn lại kết luận là cá bị strees do môi trường nuôi nên cá yếu và chết
Chúng tôi đã tiến hành cân khối lượng, đo chiều dài thân và chiều dài toàn thân của 150 mẫu cá thu được, trong quá trình thu chúng tôi tiến hành thu mẫu cá một cách ngẫu nhiên nên kích cỡ và khối lượng cá cũng thu được ngẫu nhiên không theo quy luật chọn lựa con lớn con bé
Mỗi lần thu cá 10 con và có 15 lần thu mẫu cá, số liệu của mỗi lần là giá trị trung bình của 10 mẫu cá Chim vây vàng, bao gồm giá trị trung bình của khối lượng, giá trị trung bình của chiều dài thân và giá trị trung bình của chiều dài toàn thân Kết quả được thể hiện ở bảng dưới đây:
Trang 37Bảng 3.2 Khối lượng và kích cỡ trung bình mẫu cá thu
Số lần thu mẫu Khối lượng
Qua bảng ta thấy chiều dài và khối lượng khi kiểm tra các mẫu cá có sự
khác biệt về số liệu đó là sự tăng dần trong thời gian nghiên cứu, khối lượng trung bình lớn nhất của cá là 29,02(g) vào lần đo thứ 15, còn khoảng cách giữa cá lần đo không có sự tăng dần thứ tự như lần đo thứ 8 giá trị trung bình
Trang 38là 24,79(g) và lần đo thứ 12 khối lượng trung bình là 24,84(g), điều này chứng tỏ cá nuôi ở trong ao có sự tăng trưởng không đồng đều, chiều dài thân của cá cũng tăng dần tỷ lệ thuận với khối lượng cá
Sự chênh lệch về kích cỡ cá nghiên cứu là do trong quá trình nghiên cứu thì mẫu được thu một cách ngẫu nhiên, không lựa chọn, số lượng mẫu không nhiều ở mỗi lần thu 10 con/lần, mục đích của đề tài muốn nghiên cứu tổng thể tất cả các giai đoạn từ cá giống, cá thương phẩm cho đến giai đoạn cá xuất bán
3.3 Kết quả nghiên cứu về thành phần giống, loài KST trên cá Chim vây vàng
Qua thu mẫu chúng tôi đã tiến hành thu mẫu và phân tích KST ở 150 con cá Chim vây vàng nuôi thương phẩm, trong quá trình nghiên cứu thì chỉ có 75 mẫu cá nhiễm kí sinh trùng ngoại kí sinh Quan sát mẫu KST sống và đối chiếu với các tài liệu tham khảo thì chúng tôi đã gặp được 6 loài kí sinh trùng ngoại kí sinh đó là:
- Ba loài thuộc động vật đơn bào ( trùng bánh xe Trichodina
jadranica Raabe,1958, trùng loa kèn Epistilis sp, trùng lông Cryptocarion irritans)
- Một loài thuộc ngành giun đốt ( đĩa cá Piscicola fasciata)
- Một loài thuộc ngành giun tròn (Iheringascarisinquies
Linton,1901)
- Một loài thuộc lớp giáp xác chân chèo kí sinh ( rận cá Caligus sp)
Kết quả được thể hiện ở bảng 3.3 :
Trang 39Bảng 3.3 Thành phần loài ký sinh trùng ngoại kí sinh
trên cá Chim vây vàng
TT
Ký sinh trùng Cơ quan ký sinh
mắt, đầu
Trang 40Hình 3.1 Loài Caligus sp kí sinh trên da cá Chim trắng vây vàng
+ Cấu tạo của Caligus cũng chia thành 3 phần là đầu, ngực và bụng,
nhưng phần đầu và ngực gắn lại với nhau thành phần đầu ngực